Trà phiếm Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi Missfly82, 2/2/18.

  1. Missfly82

    Missfly82 Mầm Non

    Việc chữ Hán trong nhiều thế kỷ được dùng làm ngôn ngữ viết chắc chắn đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam, đến mức văn hóa Trung Hoa và Việt Nam, ở nhiều phương diện, không thể tự phân biệt. Cho đến trước khi chữ Nôm ra đời - một việc làm đánh dấu sự cố gắng đầu tiên nhằm văn tự hóa tiếng Việt - thì toàn bộ văn học Việt Nam đều dùng chữ Hán còn tiếng Việt bị giới hạn trong phạm vi nói năng. Hình thức mới của chữ viết dân tộc bắt nguồn từ chữ HánVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link này không bao giờ được coi trọng trong cung đình trừ thời kỳ ngắn ngủi dưới triều Hồ Quý Ly đầu thế kỷ 15 và dưới triều Quang Trung đầu thế kỷ 18.

    Hơn thế hình thức chữ viết này không bao giờ có thể đáp ứng được khát vọng của những người mong muốn xóa bỏ ranh giới phân chia giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết vì để có thể dùng được chữ Nôm trên thực tế phải biết chữ Hán. Mặc dù vậy hình thức chữ viết mới này đương nhiên rất được những người trong giới trí thức hoan nghênh. Họ dùng nó để làm thơ cũng như viết tiểu thuyết bằng thơ (truyện thơ) thường lấy cảm hứng từ văn học Trung Quốc. Hai hình thức chữ viết chủ yếu là của riêng các sĩ phu này dần dần bị thay thế bởi chữ quốc ngữ, thứ chữ viết xuất hiện vào thế kỷ 19 gắn với việc Pháp xâm lược quân sự Việt Nam. Chữ quốc ngữ xuất hiện không thể không vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của những người yêu nước phản đối lại việc chiếm đóng đất nước họ. Năm 1865 xuất hiện tờ báo quốc ngữ đầu tiên, tờ Gia Định Báo, ra hàng tháng do người Pháp lập ra, còn năm 1919 chính những kẻ đi xâm chiếm này đã chấm dứt chế độ khoa cử Hán Việt và đặt ra hệ thống giáo dục mới.

    Chúng tôi sẽ tìm hiểu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với văn học chữ Hán và chữ Nôm của Việt Nam, và sau đó đặc biệt chú ý đến ảnh hưởng đối với văn học bằng chữ La tin hóa (quốc ngữ) bởi vì nền văn học quốc ngữ này được đặc tả bằng trào lưu dịch tiểu thuyết Trung Quốc. Đáng chú ý hơn cả là mục đích của Pháp khi thay chữ Hán bằng chữ La tin hóa cốt để cắt đứt văn hóa Việt Nam ra khỏi văn hóa Trung Hoa.


    1. Tiểu thuyết chữ Hán của Việt Nam

    Việc dùng chữ Hán ở Giao Châu (nay là Việt Nam) có thể đi ngược về tận đời Hán. Đời Đường có những người Việt Nam sang học tại Trung Quốc và sau đó ở lại làm quan, nổi tiếng nhất là Khương Công Phụ từng làm đến Gián nghị đại phu trong triều đình Trung QuốcVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Năm 939 Việt Nam lần đầu tiên tuyên bố là một quốc gia độc lập nhưng vẫn chưa làm thay đổi được địa vị của chữ Hán, nó vẫn là thứ ngôn ngữ quan phương cũng như Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng chính thống. Và tiếp đó, qua các bản dịch chữ Hán, người Việt Nam được khai tâm về Phật giáo.

    Cũng như Trung Quốc trong thời kỳ này văn xuôi nói chung gắn với sử. Những đoạn văn xuôi sớm nhất là chỉ dụ do chính nhà vua viết, là bản tấu của các quan đại thần và lời bàn của các sĩ đại phu chứ không phải là các tác phẩm hư cấu. Có lẽ phải đến thế kỷ 13,14 mới xuất hiện các tác phẩm thuộc một thể loại mới: đó là những câu chuyện thuộc loại sử chịu ảnh hưởng của chí quái Lục triều và truyền kỳ đời Đường. Trong số đó văn bản cổ nhất hiện còn là Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên có niên đại 1329. Tác phẩm này gồm 27 truyền thuyết theo lối truyện kýVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Một tác phẩm nữa cùng loại là Lĩnh nam chích quái (1493) của Trần Thế Pháp. Bộ sưu tập những quan sát kỳ dị này nằm giữa sử và hư cấu. Dường như chỉ với Truyền kỳ mạn lục chúng ta mới đặt chân thật sự vào địa hạt của hư cấu lịch sử. Tác giả của nó là Nguyễn Dữ, sống vào đầu thế kỷ 16, xuất thân từ một gia đình có học. Bản thân ông đã đỗ kỳ thi Hội và từng làm tri huyện ở Thanh Toàn. Nhưng chán nản vì chính sự rối ren, buồn phiền vì vận nước ông đã quyết định về ở ẩn, lấy cớ là phải chăm sóc mẹ già. Đó chính là thời kỳ ông viết tác phẩm của mình dựa theo Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1347-1433)Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Trung Quốc, chúng ta đều biết Tiễn đăng tân thoại rất phổ biến ở Trung Quốc, tác phẩm mô phỏng đầu tiên là Tiễn đăng dư thoại của Lý Xương Kỳ xuất hiện vào năm 1420 và ngay sau đó còn có thêm nhiều tác phẩm khác mà Mịch đăng nhân thoại của Thiệu Cảnh Chiêm (1592)Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link nằm trong số đó. Chắc chắn loại tác phẩm “Tiễn đăng” này được đón chào không kém nồng nhiệt ở Việt Nam. Việc mô phỏng của Nguyễn Dữ cho chúng ta thấy rõ tác phẩm này đã nổi tiếng ngay đầu thế kỉ 16Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm sớm nhất hiện còn của tiểu thuyết phúng thích Việt Nam. Nó được tái bản vài lần và đáng chú ý là có một bản in thú vị với lời tựa viết năm 1783 có chú giải bằng chữ Nôm và những lời bình khác nhauVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Tác phẩm này được đánh giá rất cao trong giới học thuật, những người này đã coi tác giả của nó là người phát ngôn cho tầng lớp trí thức thời đại mình, thể hiện sự bất bình của họ đối với những rối ren xã hội và dự cảm được sự trỗi dậy của một tầng lớp xã hội mới ở Việt Nam thế kỷ 16. Nhờ vào sự thần kỳ để cho hồn ma chồn cáo biến thành văn nhân khuyên răn tầng lớp thống trị, biến thành người đẹp dùng miệng lưỡi đưa ra những lời giáo huấn Nho giáo có thể giúp tác giả phê phán được mà không bị phiền toái. Tác phẩm này có phần tục biên là Truyền kỳ tân phả do Đoàn Thị Điểm (1705-1748) viết. Bà làm nghề dạy học và cũng nổi tiếng với bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm do Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán (đầu thế kỷ 18).

    Cũng theo lối mô phỏng Trung Quốc, một số học giả đã viết tiểu thuyết văn xuôi lịch sử lấy bối cảnh là xã hội Việt Nam. Trong số đó có Hoàng việt xuân thu, đã được dịch ra quốc ngữ (Sài Gòn, 1971). Họ cũng viết loại văn xuôi ký sự. Sản phẩm văn chương này bị xem thường khá lâu và chỉ gần đây mới được các học giả chú ýVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.


    2. Truyện hay tiểu thuyết văn vần viết bằng chữ Nôm (Truyện Nôm - ND)

    Truyện Nôm rất phổ biến và cho đến đầu thế kỷ 20 được lưu truyền theo lối chép tay hoặc dưới dạng những cuốn sách khổ nhỏ khắc ván. Việc sử dụng rộng rãi chữ quốc ngữ khiến cho loại sách này mất dần. Mặc dù các bản quốc ngữ với phần chú giải của phần lớn những văn bản này đến nay vẫn có thể tìm được nhưng nguyên tác bằng chữ Nôm thì không dễ tìm. Hơn thế cũng chưa có một danh mục hệ thống của tất cả những tác phẩm văn chương này và phần lớn những bản in khắc hiện còn đều không có niên đại sớm hơn nửa sau thế kỷ 19, thậm chí có thể nói không thể tìm được những bản đầu tiên nữa, ngoài ra đa số những tiểu thuyết này đều khuyết danh, tình trạng này càng tăng thêm khó khăn cho việc xác định niên đạiVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Trong khi thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết văn vần ai cũng rõ là rơi vào thế kỷ 17 và 18, thì cội nguồn của thể loại, ngược lại, rất khó xác định và các nhà chuyên môn đôi khi có những quan điểm bất đồng về vấn đề này. Hình thức thơ thay đổi theo thời gian và ngôn ngữ có thể giúp xác định thời kỳ ra đời của các tác phẩm. Tiếp thu các hình thức dân ca các nhà thơ cách tân đã thay thế những nguyên tắc nghiêm ngặt của thể Hàn luậtVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link rất khó hiểu với công chúng bình dân và gây trở ngại cho việc biểu hiện những tình cảm phức tạp và sự việc tinh tế bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát. Đây là những thể thơ bình dị hơn rất nhiều, dễ ghép vần và không hạn định số lượng câu thơ. Chúng cho phép nhà thơ có thể diễn đạt những cảm xúc của mình tự do hơn và miêu tả sự việc phong phú đa dạng với độ dài tùy ý. Rất nhiều tiểu thuyết lớn của thế kỷ 18, 19 do vậy đã được sáng tác bằng các thể thơ này, một số tác phẩm dài đến vài ngàn câu thơ.

    Mặc dù hình thức thơ ca dần dần thoát khỏi sự mô phỏng Trung Quốc nhưng mối liên hệ giữa văn học Trung Quốc và loại văn học mới này của Việt Nam vẫn rất mật thiết. Vì phần lớn những truyện Nôm này đều bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa, đôi khi đó là những giai thoại trong sử biên niên Trung Hoa như truyện về Tô Vũ (Tô Công) thời Hán được phái đi sứ Hung Nô và đã bị đầy ở đó 19 năm hay như câu chuyện về công chúa Vương Chiêu Quân (Vương Tường) cũng vào đời Hán bị gả cho Hung Nô, hoặc có thể mượn từ truyền kỳ đời Đường như truyện về Viên thị là một con vượn trắng biến thành một cô gái đẹp khiến chàng Tôn Các phải lòng; hoặc có thể từ tạp kịch đời Minh Thanh, như chuyện tình Phan Sinh-Kiều Liên lấy từ Ngọc trâm ký của Cao Liêm đời Minh. Cuối cùng, những truyện thơ này còn có thể lấy cốt truyện từ thoại bản và tiểu thuyết Minh Thanh. Việc nghiên cứu đa diện những tác phẩm đặc biệt này giúp chúng ta có thể đặt mỗi tác phẩm Việt Nam trong mối liên hệ với cội nguồn Trung Hoa hoặc nguồn cảm hứng của tác giả. Chẳng hạn, ngày nay người ta biết rằng Cần chính điện học sĩ triều Nguyễn là Nguyễn Du (1765-1820) - tác giả của tuyệt tác văn chương cổ điển Việt Nam Kim Vân Kiều - trong thời gian đi sứ Trung Hoa từ 1813 đến 1814 đã tìm thấy nguồn cảm hứng trong Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết văn xuôi 28 hồi của một tác giả mà chúng ta chỉ còn biết với bút danh Thanh Tâm tài nhân. Niên đại ra đời của của tiểu thuyết này vẫn chưa rõ song chúng ta biết rằng nó được du nhập vào Nhật Bản năm 1754 và rất được hoan nghênhVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Có thể tác phẩm đã được sáng tác vào cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18. Chúng ta cũng không biết gì hơn về thời gian Nguyễn Du mô phỏng tác phẩm này. Tất nhiên ý kiến phổ biến cho rằng ông làm công việc này sau khi đi sứ về. Thời gian tác phẩm Trung Hoa này vào Việt Nam chưa được xác định chắc chắn mặc dù mọi người đều biết rằng tác phẩm đã được đọc ở Việt Nam trước khi Nguyễn Du cải tácVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Nhìn chung, có rất ít thông tin về sự lưu truyền của tiểu thuyết Trung Quốc ở Việt Nam. Có thể giả định rằng các di dân Trung Quốc, hoặc những người buôn sách đem theo chúng vào Việt Nam. Năm 1734 tập đoàn chúa Trịnh (phía Bắc Việt Nam hiện nay) ra một chỉ dụ yêu cầu các địa phương phải ra nhiều sách hơn và cấm đưa sách từ Trung Quốc sang. Biện pháp đó cho thấy có một số lượng sách trao đổi nhất định giữa hai nước. Hơn nữa, trong 40 năm cuối cùng của thế kỷ 19 ngay cả những tác phẩm chữ Nôm đôi khi còn được in tại Quảng Đông, nhất là ở thị trấn Phật Sơn. Nhiều sách trên trang bìa đã ghi tên và nơi xuất bản ở Trung Quốc cũng như tên nhà phát hành ở Sài Gòn.

    Những nghiên cứu gần đây về truyện thơ chứng tỏ rằng những truyện ra đời sớm nhất, xét theo hình thức vần luật, như Truyện Vương Tường nói về nỗi đau khổ của công chúa Vương Chiêu Quân và có người cho rằng ra đời vào thế kỷ 15 hoặc 16 không lấy cảm hứng trực tiếp từ một tiểu thuyết. Trong dẫn chứng vừa đưa ra tác giả khuyết danh Việt Nam lấy cảm hứng từ hai nguồn: một số tình tiết truyện trong Tây kinh tạp ký (thế kỷ 4) và đặc biệt là một tạp kịch Hán cung thu của Mã Chí Viễn đời Nguyên viết. Tương tự, Truyện Tô Công phụng sứ mà có người đã cho là ở thế kỷ 16 hoặc 17 thuật lại cuộc sống lưu đày của Tô Vũ ở xứ Hung Nô dường như lấy cảm hứng hoàn toàn qua tiểu sử Tô Vũ trong Hán thư. Truyện Lâm truyền kỳ ngộ (còn có tên là Bạch Viên Tôn Các truyện) gồm 150 khổ thơ thất ngôn bát cú và được giả định là ra đời từ thế kỷ 16 hoặc 17, rất có thể là truyện sớm nhất bắt nguồn trực tiếp từ một truyện truyền kỳ đời Đường nay được đưa vào một tập truyện đời Tống là Thái Bình Quảng ký (Tôn Các truyện, truyện 445). Truyện cải biên của Việt Nam giữ được sườn truyện Trung Hoa, chỉ thay đổi một số tên đất tên nhân vật, đặc biệt, truyện cho nữ nhân vật Viên thị mang lốt người là một cô gái héo hon vì thương nhớ người yêu Tôn Các đã không hề do dự khi xuống trần lần nữa để đoàn tụ hạnh phúc với chồng con. Hơn thế, cuốn tiểu thuyết này còn mở đầu cho các tiểu thuyết thơ trữ tình xuất hiện vào các thế kỷ tiếp sau. Do tầng lớp văn nhân Việt Nam có hứng thú rõ rệt với những tiểu thuyết tài tử giai nhân Trung Quốc; các nhà văn Việt Nam lại có sở trường miêu tả tình cảm, đặc biệt chú trọng kỹ xảo ngôn từ, cú pháp, và tu từ như những phương tiện bộc lộ tài năng cá nhân nên họ ít băn khoăn về việc vay mượn từ các tác phẩm khác: tất cả đều là bột cho họ gột thành hồ. Trên thực tế, cách suy nghĩ này cũng có sự tương đồng với các tác giả Trung Hoa. Nhiều tác phẩm của họ có chung đề tài. Đồng thời các tác giả Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo lý Khổng giáo cũng truy cầu mục tiêu “văn dĩ tải đạo”.

    Ở đây việc khảo sát tỉ mỉ toàn bộ những tiểu thuyết này là điều không còn phải nghi ngờ. Truyện đầu tiên mà chúng tôi xem xét là Hoa tiên truyện của Nguyễn Huy Tự (1743-1790) xuất thân từ một gia đình học vấn xuất chúng, bản thân ông từng đỗ kỳ thi Hội thi Đình. Tác phẩm có đôi chút không bình thường này của ông bắt nguồn từ một tiểu thuyết văn vần (ca bản - ND) khuyết danh sáng tác theo phong cách Quảng Đông Hoa tiên ký. Văn bản sớm nhất được biết đến của tác phẩm này có lời tựa ghi năm 1713. Truyện kể về mối tình của một cô gái là Dương Dao Tiên và một chàng trai là Lương Phương Châu văn võ song toàn. Bản Việt Nam theo thể thơ lục bát gồm khoảng 1800 câu thơ, về cơ bản vẫn giữ lại toàn bộ các nhân vật của nguyên tác. Tương tự, Nữ tú tài truyện của một tác giả khuyết danh, theo sát cốt truyện Nữ tú tài di hoa tiếp mộc trong tập Nhị khắc phách án kinh kỳ của Lăng Mông Sơ (1580-1644). Truyện kể về một cô gái dùng mũi tên kén một trong hai chàng trai làm chồng. Ví dụ cuối cùng là Ngọc Kiều Lê tân truyện của một tác giả người Việt gốc Hoa, Lý Văn Phức (1785-1849) giữ một chức quan cao đồng thời là một nhà văn lớn sáng tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Tác phẩm này cải biên theo Ngọc Kiều Lê một tiểu thuyết nổi tiếng trong loại sách tài tử giai nhânVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo suốt cuộc đời, các tác giả Việt Nam thiếu hứng thú đối với tiểu thuyết lịch sử và thậm chí với cả tiểu thuyết chí quái vốn rất được công chúng đô thị yêu chuộng. Hiện nay chỉ tìm thấy rất ít bản mô phỏng loại tiểu thuyết này, và thậm chí những bản này còn được viết theo một phong cách có phần không trang nhã khiến người ta có thể nghĩ rằng chúng không phải do các bậc đại danhviết ra mà do những nhà nho bình dân. Điều này có thể đúng với các bản mô phỏng Tây du ký, và Quân âm xuất thân Nam du ký là những tác phẩm lưu truyền rộng rãi. Dù là sáng tác khuyết danh, Tây du ký, có tên là Truyện Tây du, xét theo phong cách, có niên đại từ thế kỷ 18. Tác phẩm chỉ giữ lại một số tiết đoạn của nguyên tác nhưng lại theo sát lối trình bày sự kiện. Còn bản Quan âm xuất thân Nam du ký (có nhiều tên trong đó có một tên là Phật bà Quan âm truyện) để thích ứng với độc giả Việt Nam đã phải xa rời nguyên tác, đặc biệt bản cải biên thay đổi địa danh và biến Quan âm thành nữ thần Việt Nam. Ngoài ra còn có ít nhất một bản mô phỏng bộ tiểu thuyết lịch sử do Nguyễn Kiều thực hiện. Tác giả này chúng tôi chỉ có rất ít thông tin về ôngVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Tác phẩm của ông là Quân trung đối ca bắt nguồn từ Tùy Đường diễn nghĩaVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Thực tế, chúng ta không thể nói chắc rằng văn nhân Việt Nam không ưa thích tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc. Những tiểu thuyết này sau khi du nhập vào Việt Nam đã được các tác giả thế kỷ 17, 18 mô phỏng lại bằng chữ Nôm. Và có lẽ khảo sát phạm vi mô phỏng những tác phẩm đó là một việc cần làm. Dẫu sao, ở cuối phần trình bày sơ giản này chúng tôi không thể kết luận rằng tất cả các tiểu thuyết viết bằng chữ Nôm đều bắt nguồn từ Trung Hoa. Thực tế là có những tác phẩm khác, mà đại bộ phận là bình dân, không mắc nợ gì với nguồn văn hóa Trung HoaVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.


    3. Các bản dịch tiểu thuyết Trung Quốc sang chữ quốc ngữ

    Để đánh giá đầy đủ trào lưu dịch tiểu thuyết Trung Quốc rầm rộ sau khi chữ quốc ngữ trở nên thịnh hành, tác giả bài viết này đã lập một danh mục các bản dịch xuất bản thành sách (xin xem dưới đây) dựa theo thư mục đã in của Cordier và BoudetVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cũng như thư mục vi phim của bà C. Rageau bao gồm tất cả các tác phẩm bằng chữ quốc ngữ lưu giữ tại Thư viện quốc gia Pháp từ khi thiết lập hệ thống lưu trữ mang tính pháp lý năm 1922 cho đến 1954. Những tài liệu này được bổ sung bằng một tập tiếp theo gồm tất cả các sách vở có trước 1922 của Thư viện quốc giaVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Hơn thế, nhờ sự cộng tác với bà C. Salmon, tác giả bài này lại được tiếp xúc gián tiếp với các phiếu tư liệu của thư viện Pháp ghi các ấn phẩm xuất bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai và phiếu tư liệu của Viện nghiên cứu quốc gia về ngôn ngữ và văn minh phương Đông. Thư mục, gồm 316 bản dịch (không kể sách tái bản) này chỉ ghi những tác phẩm đã xác định được nguyên tác. Hiển nhiên con số ở đây là rất nhỏ so với thực tế. Tuy vậy tác giả tin rằng nó đại diện trung thực cho trào lưu dịch thuật bắt đầu dấy lên vào quãng 1905 và kéo dài cho đến khi Nhật chiếm đóng. Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo nên một đứt đoạn rất rõ rệt trong hoạt động xuất bản, song thư mục này không tiêu biểu lắm cho con số thực các bản dịch, bản in lại những ấn phẩm trước Chiến tranh thế giới thứ hai và các bản dịch mớiVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Để hiểu trào lưu dịch thuật đã bám rễ và trưởng thành như thế nào cần phải nhớ rằng việc dùng văn tự Latin hóa, mà không lâu sau đó đã được chính người Việt, như nhóm Đông kinh nghĩa thục chẳng hạn, cổ súy, khiến cho số lượng độc giả tăng lên nhanh chóngVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Đồng thời cũng cần nhớ rằng những sáng tác bằng chữ quốc ngữ lúc đó không nhiều. Báo chí, ngay từ khởi thủy đã phụ thuộc vào những phán quyết của người Pháp, đóng vai trò sống còn trong giai đoạn dịch thuật này. Nhiều tác phẩm dịch từ tiếng Pháp tiếng Anh xuất hiện đầu tiên trên báo. Điều này cũng có nghĩa là các nhà báo Việt Nam nói chung đóng vai trò dịch giả trong khi báo chí trở thành diễn đàn của văn học Việt Nam mới. Song song với tình hình đó sự phát triển của in ấn hiện đại đã có ảnh hưởng nhất định đến sự trưởng thành của xuất bản. Để khuyến khích thói quen đọc, các nhà xuất bản đã cho ra đời các tiểu thuyết các bản dịch từng kỳ bán hết ngay. Sự phát triển các dịch phẩm từ chữ Hán biểu hiện qua các con số ghi ngay trong các bản sách từ 1.000 đến 3.000 bản đã lý giải vì sao thường xuyên có sự tái bản, thậm chí xuất hiện cả những bản dịch mới.

    Phan Kế Bính (1875-1921), nhà nho đồng thời là nhà báoVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã giải thích rất rành mạch vì sao ông thấy cần phải dịch thật nhiều tác phẩm sang tiếng Việt. Bản thân ông đã dịch Tam quốc chí diễn nghĩa (Thư mục số 177) đầu tiên. Trong lời tựa ông nói: “Người An Nam chúng ta hiện nay đã có rất nhiều người học chữ quốc ngữ, thật là một việc đáng mừng! Trước kia đàn ông nước ta phải trải qua cố gắng gian khổ nhiều năm, tốn kém nhiều tiền của cha mẹ mới có thể đạt đến chỗ tay cầm sách ngâm ngợi bổng trầm mà thực ra chưa hẳn đã lĩnh hội được tinh thần sách. Nhưng hiện nay, chẳng kể nam giới, ngay cả nữ giới, thậm chí các cô gái và những đứa trẻ thơ ngây đều có thể cầm sách đọc, mà đọc một chữ hiểu một chữ, đọc một câu có thể hiểu ý vị trong đó, có thể nói là lĩnh hội được tinh thần của sách... Song đáng tiếc là chữ thì dễ đọc, người người đều hiểu nhưng biết tìm sách ở đâu mà đọc ? Đọc hết Cung oán ngâm khúc lại đọc Truyện Kiều, tất cả cộng lại cũng không quá mấy chục loại, người đọc nhanh chỉ ba ngày là hết sạch... Vì những nguyên nhân trên, chúng tôi mới quyết định xuất bản những tập sách này, gọi là sách nước ngoài dịch nôm, mỗi tuần ra một tập”.

    Những truyện đầu tiên bằng chữ quốc ngữ thường được phiên âm từ những văn bản bằng chữ Nôm ra đời vào những năm 1880. Còn đối với tiểu thuyết Trung Quốc dường như những bản dịch đầu tiên chỉ ra đời từ đầu thế kỷ này. Chúng tôi tìm thấy bản duy nhất năm 1905 (Thư mục số 299). Tác phẩm được gán cho một Phùng Hoàng Sang nào đó mà chúng tôi không biết gì về ông. Chúng tôi tìm thấy 9 dịch giả của những năm sau đó, trong số họ đáng chú ý có Trần Phong Sắc, giáo sư chữ Hán của trường Tân An (ở Đông Dương) và Nguyễn Chánh Sắt (1869-?) chủ bút báo Nông cổ mín đàm (ra mắt ở miền Nam năm 1990). Trong vòng ít năm xuất hiện rất nhiều bản dịch tiểu thuyết lịch sử lưu truyền rất rộng rãi, chẳng hạn sự phổ biến của Tam quốc chí diễn nghĩa có thể được xác định qua việc gần như đồng thời tác phẩm được dịch cả ở Hà Nội (Phan Kế Bính) và Sài Gòn (Nguyễn Liêm Phong và Nguyễn An Cư). Quả thật người Việt Nam rất giống người Trung Quốc trong việc sùng bái Quan Vũ, một trong những nhân vật chính của tiểu thuyết này. Đền thờ ông được lập ở nhiều nơi, nhiều gia đình có tượng Quan Vũ. Cuốn tiểu thuyết này cả về khung cảnh lẫn chân dung nhân vật đều để lại ấn tượng đặc biệt trong tâm trí người bình dân Việt Nam. Những nhân vật này quen thuộc với người Việt Nam đến mức trong lời ăn tiếng nói hàng ngày tên tuổi họ được dùng như những biểu trưng tính cáchVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Gần đây, học giả Việt Nam, ông Đặng Thai Mai, đã kể lại ấn tượng mạnh mẽ mà tác phẩm Tam quốc gây ra cho ông khi ông đọc nó lúc còn nhỏ: “ Ông tôi đã từng nói với các chú tôi Kim Thánh Thán giỏi bình tiểu thuyết, người ta bạc bẽo với ông ta. Nhưng tôi phát hiện những ông lớn vẫn thích đọc tiểu thuyết,cho nên tôi cũng xem tiểu thuyết”. Đầu tiên, tôi tiện tay tìm được Tam quốc, rất tuyệt, tôi hoàn toàn bị nó cuốn hút !... Nhớ một lần, đêm đã khuya, tôi vẫn đang đọc. Bà tôi tỉnh dậy cất sách đi, buộc tôi lên giường mới chịu đi ngủ... Tôi còn nhớ, lần thứ nhất tôi đọc đến đoạn Quan Vân Trường chết, tôi khóc đau đớn và bỏ sách mấy ngàyVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Chẳng riêng Tam quốc còn có những tiểu thuyết lịch sử và truyện tình tài tử giai nhân khác cũng được các tầng lớp dân chúng ưa thích. Điều tra kỹ các nhà xuất bản đã cho ra mắt các bản dịch này cho thấy họ trước hết là những viên chức của chính quyền thực dân và sau đó là thương nhân. Số trước gồm Nguyễn Hữu Sanh, viên chức thuộc hội nghiên cứu Đông Dương, Huỳnh Khắc Thuận và Đỗ Văn Hòa thư ký văn phòng chính phủ. Thương nhân gồm Huyền Trí Phú nhà buôn ở Mỹ Tho, Nguyễn Thành Ký buôn đá quý ở Tân An và Đinh Thái Sơn - còn gọi là Phát Toán, thợ sửa xe đạp kiêm buôn bán sách báo quốc ngữ ở Sài GònVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Thời kỳ đầu các nhà in cả miền Bắc lẫn miền Nam đều nằm trong tay người Pháp.

    Sự gia tăng dân số thành thị vào những năm 1920-1930 đã kéo theo việc bùng nổ công nghệ in ấn địa phương và sự ra đời của một thể loại văn chương mới là tiểu thuyết võ hiệp vào khoảng 1925. Một trong những dịch giả chủ chốt của tiểu thuyết võ hiệp là một Lý Ngọc Hưng nào đó, còn gọi là Hoa Nhân (nghĩa là người Hoa - ND). Việc dùng bút danh này chứng tỏ dịch giả là người gốc Trung Hoa. Những năm 1927 và 1941 ông đã dịch không dưới 16 tiểu thuyết võ hiệp (Thư mục số 62, 103, 124, 129, 155, 159, 173, 258, 263, 266, 278, 280, 300, 312). Niềm say mê tiểu thuyết võ hiệp này cũng giống như người Hoa ở các thành phố lớn của Trung Quốc. Tương tự, đến Chiến tranh thế giới thứ hai, nhu cầu đối với tiểu thuyết tình cảm, cả sách tài tử giai nhân mà độc giả vốn quen thuộc qua các ác phẩm cải biên bằng chữ Nôm lẫn tiểu thuyết bình dân theo kiểu “uyên ương hồ điệp” lan truyền đến Thượng Hải đầu thế kỷ 20. Đại diện nổi tiếng nhất của loại tiểu thuyết này Từ Chẩm Á. Ít nhất đã có 3 tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Việt (Thư mục số 277, 291 và 294). Trong số các dịch giả của thời kỳ này có Nguyễn Đỗ Mục (1866-khoảng1948), một nhà nho viết cho từ nhật báo Trung Bắc tân văn (ra năm 1913). Dịch phẩm của ông xuất bản trong những năm 1922 và 1935, gồm đủ các thể tài (Thư mục số 1, 10, 26, 46, 52, 257 199, 206, 270 và 302). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai theo phán đoán thì tiểu thuyết tình cảm nhường đường cho tiểu thuyết lịch sử vốn luôn thịnh hành và tiểu thuyết võ hiệp. Có thể tìm được những bản in lại một số tác phẩm trước kia của Nguyễn An Khương (Thư mục số 63) và của Nguyễn Chánh Sắt (Thư mục số 28), còn nói chung đều là các bản dịch mới hay chí ít thì cũng là những bản dịch trước đó được sửa sang rồi gắn cho những dịch giả mới. Chỉ cần nghiên cứu so sánh các bản khác nhau là có thể tìm được mối liên hệ giữa chúng. Ví như bản dịch sớm nhất đã được phát hiện (Thư mục số 299), là chuyện về viên tướng Nhạc Phi đời Tống, do Phụng Hoàng Sanh hợp tác với Nguyễn Chánh Sắt xuất bản năm 1928, lại đề tên ông là dịch giả duy nhất nhưng điều này không có nghĩa là ông không sử dụng bản dịch 1905 trước đó.

    Do đó có thể thấy rằng, vượt lên trên sự thay đổi về ngôn ngữ và chữ viết, người Việt Nam vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với văn chương Trung Quốc. Trước hết đó là nguồn cảm hứng sáng tác cho các tác giả viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Sau đó, khi chữ quốc ngữ đã thịnh hành, văn chương chữ Hán được coi là bộ phận của di sản văn hóa cần được giữ gìn cẩn trọng bằng các bản dịch. Việc rất nhiều bản tác phẩm Trung Quốc được dịch sang văn xuôi tiếng Việt đã ảnh hưởng rõ rệt đối với sự phát triển của tiếng Việt hiện đại giống như tác động của các bản dịch tác phẩm tiếng Pháp. Rõ ràng cần phải có sự nghiên cứu lịch đại ngôn ngữ dịch qua các bản dịch khác nhau. Tam quốcTam hạ Nam Đường là những tư liệu hàng đầu cho hướng nghiên cứu đó.



    4. Thư mục tạm thời các dịch phẩm tiểu thuyết bình dân Trung Quốc sang chữ quốc ngữ

    TT

    TÊN HÁN

    TÊN VIỆT

    TÁC GIẢ

    XUẤT BẢN

    1

    Ái chu tình hải

    Thuyền tình bể ái

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1926

    2

    Bát quái đạo

    Bát quái đạo

    Hải Bằng

    Hà Nội, 1938

    3

    Bát hiệp liên minh

    Bát hiệp liên minh

    Lương Giang

    Hà Nội, 1928

    4

    Bát tiên Đông du

    Bát tiên Đông du

    Trúc Lâm

    Hà Nội, 1929

    5

    Bạch hồ điệp

    Bạch hồ điệp

    Bích Ngọc

    Hà Nội, 1938

    6

    Bạch xà thanh xà

    Bạch xà thanh xà

    Cao Hải Đế

    Sài Gòn, 1915

    7

    Bạch xà thanh xà

    Bạch xà thanh xà

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1930


    8

    Bạch xà thanh xà

    Bạch xà thanh xà

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951

    9

    Bạch xà diễn nghĩa

    Bạch xà diễn nghĩa

    Đinh Văn Đẩu

    Sài Gòn, 1906

    10

    Bạch xà diễn nghĩa

    Bạch xà diễn nghĩa

    Đinh Văn Đẩu

    In lần thứ ba, 1917

    11

    Bách tử kim đan

    Bách tử kim đơn

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, lần thứ hai

    12

    Bao Công xuất thế

    Bao Công xuất thế

    Trần Hồng Loan

    Hà Nội,1950

    13

    Bao Công kỳ án

    Bao Công kỳ án

    Ngô Văn Triện (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1925


    14

    Bao Công kỳ án

    Bao Công kỳ án

    Ngô Văn Triện

    Hà Nội, 1927

    15

    Bao Công kỳ án

    Bao Công kỳ án

    Ngô Văn Triện

    In lại, 1928

    16

    Bao Công kỳ án

    Bao Công kỳ án

    Ngô Văn Triện

    In lần thứ tư, 1931

    17

    Bao Công kỳ án

    Bao Công kỳ án

    Trần Văn Bình

    Sài Gòn, 1954

    18

    Bao Công tra Quách Hòe án

    Bao Công tra Quách Hòe án

    Khuyết danh

    Hà Nội, 1936

    19

    Bao Công tra Quách Hòe án

    Bao Công tra Quách Hòe án

    Khuyết danh

    In lại, 1941

    20

    Bao Công chính sử nghĩa hiệp kỳ thư

    Bao Công chính sử nghĩa hiệp kỳ thư

    Nguyễn Xuân Mai (Thanh Khương)

    Hà Nội (trước 1942)

    21

    Bao Công nghĩa hiệp chính sử kỳ thư

    Bao Công nghĩa hiệp chính sử kỳ thư

    Nguyễn Xuân Mai (Thanh Khương)

    In lại, 1968


    22

    Bắc Tống toàn truyện

    Bắc Tống toàn truyện

    Nguyễn Kim Đĩnh

    Gia Định, 1930

    23

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Huỳnh Công Giác

    Sài Gòn, 1906

    24

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Nguyễn Văn Hiến

    Sài Gòn, 1929

    25

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Bắc Tống diễn nghĩa

    Nguyễn Văn Hiến

    Sài Gòn, 1951

    26

    Bắc du diễn nghĩa

    Bắc du diễn nghĩa

    Lê Duy Thiện


    Sài Gòn


    27

    Bắc du Chân Vũ truyện

    Bắc du Chơn Võ truyện

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1909

    28

    Bắc du Chân Vũ truyện

    Bắc du Trấn võ

    Nhật Quang


    Hà Nội, 1931

    29

    Bắc Du Chân Vũ truyện

    Bắc du Chơn Võ

    Lê Duy Thiện

    Sài Gòn, 1957

    30

    Tàn Đường diễn nghĩa

    Tàn Đường diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1906-1914

    31

    Tàn Đường diễn nghĩa

    Tàn Đường diễn nghĩa

    Trần Xuân

    Sài Gòn, 1928

    32

    Trường Giang quái nữ

    Trường Giang quái nữ

    Nguyễn Nam Thông

    Hà Nội, 1937

    33

    Song tiền cô ảnh

    Chiếc bóng song the

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1928

    34

    Đại bát nghĩa

    Đại bát nghĩa

    Tùng Nông

    Hà Nội, 1929

    35

    Đại hồng bào hải thụy

    Đại hồng bào hải thoại

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1907

    36

    Đại hồng bào hải thụy

    Đại hồng bào hải thoại

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1910

    37

    Đại hồng bào hải thoại

    Đại hồng bào hải thoại

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1952

    38

    Đại minh hồng vũ

    Đại minh hồng võ

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1911

    39

    Đại minh hồng vũ

    Đại minh hồng võ

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1953

    40

    Đại minh kỳ hiệp

    Đại minh kỳ hiệp

    Đào Khắc Hưng

    Hà Nội, 1928

    41

    Đại minh anh liệt

    Đại minh anh liệt

    Nguyễn Thúc Khiêm (Hoàng Sơn)

    Hà Nội, 1935

    42

    Đại bàng hiệp

    Đại bàng hiệp

    Mậu Ngữ

    Hà Nội, 1937

    43

    Đãng khấu chí

    Đãng khấu chí

    Du Trung Hòa

    Hà Nội, 1935

    44

    Đông Hán diễn nghĩa

    Đông Hớn diễn nghĩa

    Nguyễn Ân Linh, Hồ Văn Trung & Trần Văn Me

    Sài Gòn, 1907


    45

    Đông du bát tiên

    Đông du bát tiên

    Dương Mạnh Huy

    Sài Gòn, 1934

    46

    Đông du bát tiên

    Đông du bát tiên

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1957

    47

    Đông du bát tiên

    Đông du bát tiên

    Bát Quái

    Sài Gòn, 1968

    48

    Đông du bát tiên

    Đông du bát tiên

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1952

    49

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Châu liệt quốc

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn (1911)

    50

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Châu liệt quốc

    Nguyễn Công Kiêu

    Sài Gòn, 1914-19

    51

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Châu liệt quốc

    Trần Đình Nghi

    Sài Gòn, 1928

    52

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Châu liệt quốc

    Đào Trinh Nhất

    Sài Sòn, 1928

    53

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Châu liệt quốc

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1933

    54

    Đông Chu liệt quốc diễn nghĩa

    Đông Chu liệt quốc diễn nghĩa

    Hy Chương

    Hà Nội, 1935

    55

    Đông Chu liệt quốc

    Đông Chu liệt quốc

    Vũ Minh Trí


    Sài Gòn, 1953

    56

    Ân tình tiểu thuyết

    Ân tình tiểu thuyết

    Nguyễn Quang Sánh


    Nam Định, 1932

    57

    Nhị độ mai

    Nhị độ mai

    Nguyễn Văn Bân (Kim Giang)

    Hà Nội, 1929

    58

    Nhi nữ tạo anh hùng

    Nhi nữ tạo anh hùng

    Võ Lộ

    Sài Gòn, 1931

    59

    Nhi nữ tạo anh hùng

    Nhi nữ tạo anh hùng

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1935

    60

    Phản Đường hậu chinh Tây


    Phản Đường hậu chinh Tây


    Nguyễn Tân Chiểu

    Hà Nội, 1934

    61

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1906

    62

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    In lại, 1923

    63

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Lê Sum


    Sài Gòn, 1914-15

    64

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Trần Quang


    Sài Gòn, 1916

    65

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Hoàng Minh Tự

    Sài Gòn, 1934

    66

    Phản Đường diễn nghĩa

    Phản Đường diễn nghĩa

    Hoàng Minh Tự

    In lại, 1951

    67

    Phi kiếm kỳ hiệp

    Phi kiếm kỳ hiệp

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1939-40

    68

    Phi Long kiếm nhị nương tam hiệp

    Phi Long kiếm nhị nương tam hiệp


    Huyền Châu

    Hà Nội (1935)

    69

    Phi Long diễn nghĩa

    Phi Long diễn nghĩa

    Huỳnh Công Giác

    Sài Gòn, 1906-14

    70

    Phi Long diễn nghĩa

    Phi Long diễn nghĩa

    Trưởng Minh Chánh

    Sài Gòn, 1933

    71

    Phi tiên thiên bảo diễn nghĩa

    Phi tiên thiên bảo diễn nghĩa

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    Hà Nội, lần thứ hai

    72

    Phấn trang lâu diễn nghĩa

    Phấn trang lầu diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1908

    73

    Phấn trang lâu diễn nghĩa

    Phấn trang lầu diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    In lại, 1918

    74

    Phấn trang lâu diễn nghĩa

    Phấn trang lầu diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    In lại, 1952

    75

    Phong ba đình

    Phong ba đình

    Lê Xuân Khôi (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1938

    76

    Phong trần kiếm khách

    Phong trần kiếm khách

    Bát Quái


    Hà Nội, lần thứ hai

    77

    Phong trần tam kiếm

    Phong trần tam kiếm

    Vũ Như Hải


    Hà Nội, 1936

    78

    Phượng hoàng đao

    Phượng hoàng đao

    Lê Xuân Khôi (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1930

    79

    Phong kiếm xuân thu

    Phong kiếm xuân thu

    Trần Công Hiến

    Sài Gòn, 1917

    80

    Phong kiếm xuân thu

    Phong kiếm xuân thu

    Phan Như Tiệp


    Sài Gòn, 1930

    81

    Phong kiếm xuân thu

    Phong kiếm xuân thu

    Quảng Nghiêm


    Hà Nội,1935

    82

    Phong kiếm xuân thu

    Phong kiếm xuân thu

    Đinh Gia Hân (Cảnh Viêm)

    Hải Phòng, cùng năm

    83

    Phong thần diễn nghĩa

    Phong thần diễn nghĩa

    Trần Chánh Sắt


    Sài Gòn, 1906-07

    84

    Phong thần diễn nghĩa

    Phong thần diễn nghĩa

    Vũ Như Khôi


    Hà Nội, 1927

    85

    Phong thần diễn nghĩa

    Phong thần diễn nghĩa

    Vương Quốc Sung

    Hà Nội, cùng năm

    86

    Phùng Ngọc Tường tiểu sử

    Lịch sử Phùng Ngọc Tường

    Mai Sơn

    Hà Nội, 1929

    87

    Phong nguyệt hiệp nghĩa

    Hiệp nghĩa phong nguyệt

    Nguyễn Chánh Sắt (Bá Nghiêm)

    Hà Nội, 1928

    88

    Cam phượng trì

    Cam phượng trì

    Hiệp Hồn


    Hà Nội, 1928

    89

    Quảng Châu nữ hiệp đoàn

    Quảng Châu nữ hiệp đoàn

    Hận Nghi


    Hải Phòng, 1935

    90

    Khuê tú anh tài

    Khuê tú anh tài

    Ngô Văn Triện


    Hà Nội, 1928

    91

    Hợp Phố châu

    Hợp Phố châu

    Tùng Nông Vũ Kính (Đào Viên)

    Hà Nội, 1929


    92

    Hồng Quang đại hiệp

    Hồng Quang đại hiệp

    Thanh Đình

    Hà Nội, 1936

    93

    Hồng gia nữ hiệp

    Hồng gia nữ hiệp

    Lê Xuân Khôi

    (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1936

    94

    Hồng lâu mộng

    Hồng lâu mộng

    Nguyễn Đức Vân

    Hà Nội, 1963

    95

    Hồng nhan điên đảo

    Hồng nhan điên đảo

    Lạc Khổ


    Hà Nội, 1934

    96

    Hồng y nữ hiệp

    Hồng y nữ hiệp

    Lương Giang

    Hà Nội, 1928

    97

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1906

    98

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Danh Nho

    Sài Gòn, 1929

    99

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Hậu tam quốc diễn nghĩa

    Danh Nho

    Sài Gòn, 1954

    100

    Hậu Hán tam hợp bảo kiếm

    Hậu Hán tam hợp bửu kiếm

    Trần Công Danh

    Sài Gòn, 1906

    101

    Hậu Hán tam hợp bảo kiếm

    Hậu Hán tam hợp bửu kiếm

    Trần Công Danh

    In lại, 1917

    102

    Hậu Tây du

    Hậu Tây du

    Thanh Ngọc Duyên

    Hà Nội, 1924

    103

    Hậu anh hùng (Tục anh hùng náo tam môn giai)

    Hậu anh hùng (Tục anh hùng náo tam môn giai)


    Trần Phong Sắc


    Sài Gòn, 1951

    104

    Hậu anh hùng náo tam môn giai

    Hậu anh hùng náo tam môn giai

    Tô Chấn

    Sài Gòn, 1951

    105

    Hậu tái sinh duyên

    Hậu tái sinh duyên


    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1953

    106

    Hồ điệp hoa

    Hồ điệp hoa

    Nghiêm Xuân Lãn

    Hà Nội, 1928

    107

    Hoa hòa thượng

    Sư hổ mang

    Nguyễn Tử Siêu

    Hà Nội, 1935

    108

    Hỏa thiêu Hồng Liên tự

    Bọn võ hiệp đốt cháy chùa Hồng Liên

    Ngô Văn Triện (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1935

    109

    Gia đình chuyên chế chi minh giám

    Mảnh gương chuyên chế trong gia đình

    Ngô Văn Triện (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1927

    110

    Kiếm quang nữ hiệp

    Kiếm quang nữ hiệp

    Lê Xuân Khôi (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1936

    111

    Giang Đông tam hiệp

    Giang Đông tam hiệp


    Văn TuyềnVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Hải Phòng, cùng năm

    112

    Giang hồ hắc kiếm

    Giang hồ hắc kiếm

    Vũ Hầu

    Hà Nội, 1941

    113

    Giang hồ nữ kiếm hiệp

    Giang hồ nữ kiếm hiệp

    Lê Xuân Khôi (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1936-37

    114

    Giang hồ nữ hiệp

    Giang hồ nữ hiệp

    Nguyễn Chánh Sắt (Tân Châu)

    Sài Gòn, 1938-39

    115

    Giang hồ kỳ văn

    Giang hồ kỳ văn

    Bách Lữ

    Hải Phòng

    116

    Giang hồ nghĩa hiệp

    Giang hồ nghĩa hiệp

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    Hà Nội, 1928

    117

    Kim cổ kỳ quan

    Kim cổ kỳ quan

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1910-11

    118

    Kim cổ kỳ quan

    Kim cổ kỳ quan

    Trần Thanh Đạm

    Sài Gòn, 1957

    119

    Cân quắc anh hùng

    Cân quắc anh hùng

    Thành Ngọc Duyên

    Hà Nội, 1924

    120

    Giang Nam kiếm hiệp

    Giang Nam kiếm hiệp

    Đông Quang

    Hà Nội, 1936

    121

    Kim Lăng tam kiệt

    Kim Lăng tam kiệt

    Nguyễn Nam Thông (Đông Quang)

    Hà Nội, 1937

    122

    Kính hoa duyên

    Kính hoa duyên

    Nguyễn Xuân Lâm

    Hà Nội, 1928

    123

    Cứu khổ kiếm

    Gươm cứu khổ

    Nguyễn Tử Siêu

    Hà Nội, 1928

    124

    Cửu mỹ kỳ duyên

    Cửu mỹ kỳ duyên

    Phạm Quang Sáng

    Hà Nội, 1924

    125

    Cửu châu thần kiếm

    Cửu châu thần kiếm

    Châu Hưng


    Hà Nội, 1936

    126

    Không Đồng kỳ hiệp

    Không Đồng kỳ hiệp

    Trần Tuấn Khải


    Hà Nội, 1935

    127

    Côn Luân ngũ hiếm hiệp

    Côn Lôn ngũ kiếm khách

    Thạc Quân

    Hà Nội, 1936

    128

    Lý Tồn Hiếu diễn nghĩa

    Lý Tồn Hiếu diễn nghĩa

    Ngô Văn Triện (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1928

    129

    Lý Tồn Hiếu diễn nghĩa

    Lý Tồn Hiếu diễn nghĩa

    Ngô Văn Triện

    (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1934

    130

    Lê Nguyên Hồng tiểu sử

    Lịch sử Lê Nguyên Hồng

    Mai Sơn

    Hà Nội, 1929

    131


    Liêu trai chí dị


    Liêu trai chí dị

    Nguyễn Chánh Sắt

    (Tâm Chân)

    Sài Gòn, 1916-18

    132

    Liêu trai chí dị

    Liêu trai chí dị

    Huyền Mạc Đạo Nhơn

    Sài Gòn, 1933

    133

    Liêu trai chí dị

    Liêu trai chí dị

    Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà)

    Hà Nội, 1939

    134

    Liêu trai chí dị

    Liêu trai chí dị

    Nguyễn Hoạt


    Sài Gòn, 1959

    135

    Liệt nữ kiếm

    Liệt nữ kiếm

    Học Hải

    Hà Nội, 1923

    136

    Lĩnh Nam dật sự

    Lĩnh Nam dật sự

    Nguyễn Hữu Tiến

    Hà Nội, 1925

    137

    Lĩnh Nam dật sự

    Lĩnh Nam dật sự

    Bùi Đàn

    Sài Gòn, 1968

    138

    Lăng Vân kiếm khách

    Lăng Vân kiếm khách


    Lý Ngọc Hưng

    Hải Phòng, 1935-36

    139


    Lục kiếm đồng


    Lục kiếm đồng


    Lữ Văn Tuyền

    Hải Phòng, 1935-36

    140

    Song phượng tái sinh duyên

    Song phượng tái sinh duyên

    Tình Liễu


    Hà Nội, 1934

    141

    Long đồ công án

    Long đồ công án

    Nguyễn Ngọc Thơ

    Sài Gòn, 1906

    142

    Long đồ công án

    Long đồ công án

    Nguyễn Ngọc Thơ

    In lại, 1927

    143

    Long đồ công án

    Long đồ công án

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1916

    144

    Long hình quái khách

    Long hình quái khách

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1937

    145

    Lỗ Hoa nương

    Lỗ Hoa nương

    Vương Quốc Sung

    Hà Nội, cùng năm

    146

    Lục lâm bát kiếm

    Lục lâm bát kiếm

    Hải Bằng

    Hà Nội, 1939

    147

    Lục mẫu đơn

    Lục mẫu đơn

    Nguyễn Trọng Quyển

    Sài Gòn, 1908

    148

    Lục mẫu đơn

    Lục mẫu đơn

    Trần Văn Bình

    Sài Gòn, 1953

    149

    Lục dã tiên tung

    Lục giã tiên tung

    Nguyễn Khắc Hanh

    Hà Nội, 1931

    150

    La Thông tảo Bắc

    La Thông tảo Bắc

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1906

    151

    La Thông tảo Bắc

    La Thông tảo Bắc

    Trần Phong Sắc

    In lại, 1915

    152

    La Thông Tảo Bắc

    La Thông Tảo Bắc

    Vũ Hi Tô

    Hà Nội, 1926

    153

    La Thông tảo Bắc

    La Thông tảo Bắc

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1950

    154

    Ma phong kiếm khách

    Ma phong kiếm khách

    Kỹ Hà

    Hà Nội, 1936

    155

    Man hoang kiếm hiệp

    Man hoang kiếm hiệp

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1938

    156

    Mai Lương Ngọc diễn nghĩa

    Mai Lương Ngọc diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1909

    157

    Mai Lương Ngọc diễn nghĩa

    Mai Lương Ngọc diễn nghĩa

    Phạm Văn Cường

    Sài Gòn, 1927

    158

    Mộng trung duyên

    Mộng trung duyên

    Đinh Văn Đẩu

    Sài Gòn, 1907

    159

    Mộng trung duyên

    Mộng trung duyên

    Cảnh Chi

    Sài Gòn, 1926

    160

    Minh Thế Đức diễn nghĩa

    Minh Thế Đức diễn nghĩa

    Ngọc Liên Hoàng

    Hà Nội, 1921-22

    161

    Minh châu duyên

    Minh châu duyên

    Đinh Gia Hân

    Hải Phòng, 1927

    162

    Mộc Lan tòng quân

    Mộc Lan tòng quân

    Nguyễn Tứ Lãng

    Nam Định, 1929

    163

    Ma y nữ

    Ma y nữ

    Bát Quái

    Hà Nội, 1968

    164

    Nam du hoa quang

    Nam du huệ quang

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951

    165

    Nữ bá vương

    Nữ bá vương

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1937

    166

    Nữ báo phục thù

    Gái trả thù cha

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1925

    167

    Nữ quân tử diễn nghĩa

    Nữ quân tử diễn nghĩa

    Nguyễn Khắc Hạnh

    Hà Nội, 1923

    168

    Nữ anh hùng

    Gái anh hùng

    Khuyết danh

    Hà Nội, 1934

    169


    Nữ anh hùng


    Nữ anh hùng


    Nguyễn Văn Bân


    Hà Nội, in lần thứ hai (trước 1942)

    170

    Nữ hiệp hồng nương tử

    Nữ hiệp hồng nương tử

    T. Thanh Chúc


    Hà Nội, 1935

    171

    Phạ thê nhật ký

    Nhật ký sợ vợ

    Lạc Khổ

    Hà Nội, 1928

    172

    Bồng lai hiệp khách

    Bồng lai hiệp khách

    Lý Ngọc Hưng


    Hà Nội, 1936

    173

    Phiêu lưu hiệp sĩ

    Phiêu lưu hiệp sĩ

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    Hà Nội, 1937

    174

    Bình Sơn lãnh yến

    Bình Sơn lãnh yến

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1927

    175

    Bình Dương kỳ hiệp

    Bình Dương kỳ hiệp

    Đỗ Thủy

    Hà Nội, 1935

    176

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    Hà Nội, 1929-30

    177

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    In lần thứ hai, 1931

    178

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Thất quốc chí diễn nghĩa

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    In lần thứ ba, 1932

    179

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Nguyễn Văn Dược

    Sài Gòn, 1924


    180

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Phạm Văn Diễu

    Sài Gòn, 1931-32

    181

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Hy Chương

    Hà Nội, 1934

    182

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1935

    183

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Phạm Văn Diễu

    Sài Gòn, 1931-32


    184

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa

    Thất kiếm thập tam hiệp diễn nghĩa


    Phạm Văn Diễu

    In lại, 1951

    185

    Thất hiệp ngũ nghĩa

    Thất hiệp ngũ nghĩa

    Quảng Nguyên


    Hà Nội, 1934-35

    186

    Thất hiệp ngũ nghĩa

    Thất hiệp ngũ nghĩa

    Phạm Văn Diễu

    Sài Gòn, cùng năm

    187

    Càn Long hạ Giang Nam

    Càn Long hạ Giang Nam

    Huỳnh Trí Phú

    Sài Gòn, 1908-10

    188

    Càn Long hạ Giang Nam

    Càn Long hạ Giang Nam

    Sơn Nhân&Nhật

    Nam thư xã

    Hà Nội, 1933-34

    189

    Càn Long hạ Giang Nam

    Càn Long hạ Giang Nam

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1952

    190

    Tình hải phong ba

    Bể tình nổi sóng

    Nguyễn Tử Siêu

    Hà Nội, 1927

    191

    Thanh xà bạch xà

    Thanh xà bạch xà

    Tân Sơn

    Sài Gòn, 1935

    192

    Tình sử

    Tình sử

    Nguyễn Quang Oánh

    Hà Nội, 1931

    193

    Thanh thiên đại hiệp

    Thanh thiên đại hiệp

    Lý Ngọc Hưng


    Hà Nội, 1936

    194

    Quần anh kiếm hội

    Quần hùng kiếm hội

    Đỗ Văn Lâm (Thanh Đinh)

    Hà Nội, 1936

    195

    Quần anh kiệt diễn nghĩa

    Truyện quần anh kiệt

    Trịnh Hoài Nghĩa

    Sài Gòn, 1906-07

    196

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Nguyễn Liên Phong, Nguyễn An Cư

    Sài Gòn, 1907

    197

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Phan Kế Bính & Nguyễn Văn Vĩnh

    Hà Nội, 1909-1918

    198

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Phan Kế Bính & Nguyễn Văn Vĩnh

    In lần thứ tư, Sài Gòn, 1928

    199

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Phan Kế Bính & Nguyễn Văn Vĩnh

    Sài Gòn, 1949

    200

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Đinh Gia Hân (Cảnh Viêm) & Vũ Giáp

    Hải Phòng, 1928-30

    201

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Nghiêm Xuân Lâm

    Hà Nội, 1931-32

    202

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Hiền Lương

    Hà Nội, 1934-35

    203

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Vũ Hi Tô

    Hà Nội, 1937

    204

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Tam quốc chí diễn nghĩa

    Hồ Hải Lãng Nhân

    Paris, 1952

    205

    Tam hợp bảo kiếm

    Tam hợp bửu kiếm

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1954

    206

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1906

    207

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Phong Sắc

    In lần thứ hai, Sài Gòn, 1916

    208

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Phong Sắc

    In lần thứ ba, Sài Gòn, 1918

    209

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Phong Sắc

    In lại, Sài Gòn, 1928

    210

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Kim Đĩnh

    Gia Định, 1929

    211

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Trần Kim Đĩnh

    In lại, Sài Gòn, 1930

    212

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Quảng Nguyên


    Hà Nội, 1934

    213

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Vương Thọ Hoa (Tô Sinh)

    Hà Nội, 1937

    214

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Vũ Xuân Mai

    Hà Nội, cùng năm

    215

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Đinh Gia Hân (Cảnh Viêm)

    Hải Phòng, cùng năm

    216

    Tam hạ Nam Đường

    Tam hạ Nam Đường

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951

    217

    Sơn Đông kiếm khách

    Sơn Đông kiếm khách

    Lê Văn Giới (Thanh Đình)

    Hà Nội, 1937

    218

    Thiếu lâm trường hận

    Thiếu lâm trường hận

    Hải Bằng

    Hà Nội, 1937

    219

    Thiếu lâm nữ hiệp

    Thiếu lâm nữ hiệp

    Nghiêm Xuân Lâm

    Hà Nội, 1935

    220

    Thần long vũ kiếm

    Thần long vũ kiếm

    Lỗ Công Tài

    Hà Nội, 1937

    221

    Thần đồng xuất thế

    Thần đồng xuất thế

    Bát Quái

    Hà Nội, cùng năm

    222

    Nhị thập quả phụ chinh Tây

    Nhị thập quả phụ chinh Tây

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1918

    223

    Nhị thập quả phụ chinh Tây

    Nhị thập quả phụ chinh Tây

    Trần Phong Sắc

    In lần thứ hai, Sài Gòn, 1923

    224

    Thập quốc anh hùng

    Thập quốc anh hùng

    Hòe Đình

    Hà Nội, 1935

    225

    Thạch đầu hồn

    Thạch đầu hồn

    Trần Tuấn Khải


    Sài Gòn, 1933

    226

    Song phượng kỳ duyên

    Song phượng kỳ duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    Lần thứ hai, Hà Nội, 1922

    227

    Song phượng kỳ duyên

    Song phượng kỳ duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    Lần thứ ba, Hà Nội, 1924

    228

    Song phượng kỳ duyên

    Song phượng kỳ duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    In lại, 1928

    229





    230

    Song phượng kỳ duyên

    Song phượng kỳ duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    Lần thứ năm, 1931

    231

    Song phượng kỳ duyên

    Song phượng kỳ duyên

    Lan Hương

    Hà Nội, 1924

    232

    Song quang bảo kiếm

    Song quang bửu kiếm

    Dương Tấn Long

    Sài Gòn, 1934

    233

    Song mỹ lương duyên

    Song mỹ lương duyên

    Nghiêm Xuân Lâm

    Hà Nội, 1926

    234

    Song hiệp phá gian

    Song hiệp phá gian

    Nghiêm Xuân Lâm

    Hà Nội, 1927

    235

    Thủy hử diễn nghĩa

    Thủy hử diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1906-10

    236

    Thủy hử diễn nghĩa

    Thủy hử diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt


    Sài Gòn, 1911

    237

    Thủy hử diễn nghĩa

    Thủy hử diễn nghĩa

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1933

    238

    Thủy hử diễn nghĩa

    Thủy hử diễn nghĩa

    Võ Minh Trí


    Sài Gòn, 1953

    239

    Thuận Trị quá giang

    Thuận Trị quá giang

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1908

    240

    Thuận Trị quá giang

    Thuận Trị quá giang

    Trần Văn Bình

    Sài Gòn, 1951


    241

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1908-19

    242

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Phan Như Tiếp

    Sài Gòn, 1930

    243

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Thuyết Đường diễn nghĩa

    Dương Mạnh Húc

    Sài Gòn, 1930

    244

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1906

    245

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương

    In lại, 1914

    246

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Đào Phố

    Hà Nội, 1927

    247

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Tống Từ Vân diễn nghĩa

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1925

    248

    Tống Nhạc Phi

    Tống Nhạc Phi

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1934


    249

    Tùy Đường truyện

    Tùy Đường truyện

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1910

    250

    Tùy Đường diễn nghĩa

    Tùy Đường diễn nghĩa

    Nguyễn Gy

    Hà Nội, 1933

    251

    Đài Loan nữ kiếm khách

    Đài Loan nữ kiếm khách

    Đông Hương

    Hà N ội, 1936

    252

    Thái Ất thần đao

    Thái Ất thần đao

    Bằng Côn

    Hà Nội, 1939

    253

    Thiết hoa tiên sử

    Thiết hoa tiên sử

    Nguyễn Văn Bân (Kim Giang)

    Hà Nội, 1939

    254

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Vạn huê lầu diễn nghĩa

    Nguyễn Minh Bạch

    Sài Gòn, 1906-11

    255

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Vạn huê lầu diễn nghĩa

    Nguyễn An Khương và những người khác

    Lần thứ ba, 1915-17

    256

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Vạn huê lầu diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1917


    257

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, Sài Gòn, 1929

    258

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1933

    259

    Vạn hoa lâu diễn nghĩa

    Tống Định Thanh (Vạn Hoa Lầu)

    Đinh Gia Hân (Cảnh Viêm)

    Hà Nội, 1933

    260

    Vạn lý kỳ duyên

    Vạn lý kỳ duyên

    Chu Hồng Nguyên

    Hà Nội, 1942

    261

    Vạn niên thanh

    Vạn niên thanh

    Phùng Huy

    Hà Nội, 1923-28

    262

    Ngũ hổ bình Liêu

    Ngũ hổ bình Liêu

    Lê Xuân Lôi

    Hà Nội, 1930

    263

    Ngũ hổ bình Liêu

    Ngũ hổ bình Liêu

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1933

    264

    Ngũ hổ bình Nam

    Ngũ hổ bình Nam

    Trần Hữu Quang &Trần Quang Xuân

    Sài Gòn, 1907

    265

    Ngũ hổ bình Nam

    Ngũ hổ bình Nam

    Nguyễn Như Hoàng

    Sài Gòn, 1907-11

    266

    Ngũ hổ bình Nam

    Ngũ hổ bình Nam

    ?

    Gia Định, 1929

    267

    Ngũ hổ bình Nam

    Ngũ hổ bình Nam

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1934

    268

    Ngũ hổ bình Nam

    Ngũ hổ bình Nam

    Đinh Gia Lam

    Hải Phòng, 1934

    269

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1906

    270

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, 1914-16

    271

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, 1923

    272

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Nguyễn An Khương

    Sài Gòn, 1907

    273

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Nguyễn An Khương

    In lại, 1914

    274

    Ngũ hổ bình Tây

    Ngũ hổ bình Tây

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951

    275

    Ngũ hồ hiệp khách

    Ngũ hồ hiệp khách

    Thượng Văn

    Hà Nội, 1937

    276

    Ngũ hoa kiếm diễn nghĩa

    Ngũ hoa kiếm diễn nghĩa

    Nguyễn Tử Siêu

    Hà Nội, 1937

    277

    Ngũ kiếm triều vương

    Ngũ kiếm triều vương

    Đức Lưu Phương

    Hà Nội, 1940

    278

    Ngũ kiếm tiểu bát nghĩa

    Ngũ kiếm tiểu bát nghĩa

    Nguyễn Tử Lãng

    Nam Định, 1928

    279

    Ngũ nữ hưng Đường

    Ngũ nữ hưng Đường

    Đinh Gia Hân (Cảnh Viêm)

    Hà Nội, 1927

    280

    Ngũ nữ hưng Đường

    Ngũ nữ hưng Đường

    Trần Văn Liêm

    Sài Gòn, 1931

    281

    Ngô Việt xuân thu

    Ngô Việt xuân thu

    Ngô Tất Tố

    Sài Gòn, 1928

    282

    Ngũ Nhạc kỳ hiệp

    Ngũ Nhạc kỳ hiệp

    Hoàng Đạo Thăng

    Hà Nội, 1936

    283

    Võ Tắc Thiên tứ đại kỳ án

    Võ Tắc Thiên tứ đại kỳ án

    Nguyễn Khắc Hanh

    Hà Nội, 1927

    284

    Ngũ Tử Tư

    Ngũ Tử Tư

    Phi Tùng Tử

    Hà Nội, 1928

    285

    Tây Hán diễn nghĩa

    Tây Hớn diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, lần thứ hai, 1908

    286

    Tây Hán diễn nghĩa

    Tây Hớn diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, 1912-15

    287

    Tây Hán diễn nghĩa

    Tây Hớn diễn nghĩa

    Lê Xuân Lộc

    Hà Nội, 1931

    288

    Tây Hán diễn nghĩa

    Tây Hớn diễn nghĩa

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1952

    289

    Tây Thi truyện diễn nghĩa

    Tây Thi chuyện diễn nghĩa

    Đào Phổ

    Hà Nội, 1924

    290

    Tây du ký

    Tây du ký

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1914

    291

    Tây du ký

    Tây du ký

    Lạc Khổ

    Hà Nội, 1933-35

    292

    Tây du ký

    Tây du ký

    Nguyễn Công Kiêu

    Sài Gòn, 1917

    293

    Tây du diễn nghĩa

    Tây du diễn nghĩa

    Hoàng Minh Tư

    Bến Tre, 1935

    294

    Tây du diễn nghĩa

    Tây du diễn nghĩa

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951-52

    295

    Tiên kiếm

    Thanh kiếm tiên

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1935

    296

    Tiểu hồng bào hải thụy

    Tiểu hồng bào hải thụy

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1910-11

    297

    Tiểu hồng bào hải thụy

    Tiểu hồng bào hải thụy

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, 1930

    298

    Tiếu lâm tân thuyết

    Tiếu lâm tân thuyết

    Trần Quang Nhiễu

    Sài Gòn, 1908

    299

    Tiểu nữ hiệp

    Tiểu nữ hiệp

    Bích Ngọc

    Hà Nội, 1936

    300

    Tiểu ngũ nghĩa

    Tiểu ngũ nghĩa

    Phạm Văn Điêu

    Sài Gòn, 1930

    301

    Tiểu hiệp phục thù

    Tiểu hiệp phục thù

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1936

    302

    Tân nữ học sinh

    Tân nữ học sinh

    Song Động

    Hà Nội, 1929

    303

    Tân Tam quốc chí

    Tân Tam quốc chí

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1910

    304

    Tục Thất kiếm thập tam hiệp

    Tục Thất kiếm thập tam hiệp

    Lý Ngọc Hưng (Hoa Nhân)

    Hà Nội, 1928-29

    305

    Tục Thủy hử

    Tục Thủy hử

    Tân Hiên

    Hà Nội, 1935

    306

    Tục Tiểu ngũ nghĩa

    Tục Tiểu ngũ nghĩa

    Phạm Văn Điêu

    Sài Gòn, 1931

    307

    Tục Anh hùng náo tam môn giai

    Tục Anh hùng náo tam môn giai

    Vũ Đình Long

    Hà Nội, 1925

    308

    Tục Tái sinh duyên

    Tục Tái sinh duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1924

    309

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1907

    310

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây



    311

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Trần Phong Sắc

    In lần thứ hai, 1918


    312

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Nguyễn Dương Quan

    Sài Gòn, 1907

    313

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1914-18

    314

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Tiết Đinh Sơn chinh Tây

    Nguyễn Chánh Sắt

    Lần thứ ba, Sài Gòn, 1928

    315

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Trần Hữu Quang

    Sài Gòn, 1907

    316

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Trần Hữu Quang

    In lại, 1910-11

    317

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Trần Hữu Quang

    Lần thứ tư, 1918

    318

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Nguyễn Kim Đĩnh

    Gia Định, 1929

    319

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Tiết Nhân Quý chinh Đông

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1933

    320

    Tuyết Hồng lệ sử

    Tuyết Hồng lệ sử

    Nguyễn Quang Sánh

    Hà Nội, 1932

    321

    Yên hoa kỳ sử

    Yên hoa kỳ sử

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1931

    322

    Dương Văn Quảng bình Nam

    Dương Văn Quảng bình Nam

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1908

    323

    Giao trì hiệp nữ

    Giao trì hiệp nữ

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1939

    324

    Nhất Chi Mai đại hiệp sĩ

    Nhất Chi Mai đại hiệp sĩ

    Lê Xuân Khôi (Thạch Tâm)

    Hà Nội, 1936

    325

    Âm thanh kiếm

    Âm thanh kiếm

    Điệp Hùng

    Hà Nội, 1936

    326

    Ẩn hiệp sĩ

    Ẩn hiệp sĩ

    Ngươn Long

    Hà Nội, 1938

    327

    Anh liệt diễn nghĩa

    Anh liệt diễn nghĩa

    Nguyễn Tân Chiểu (Ninh Xuyên)

    Hà Nội, 1928

    328

    Anh hùng náo tam môn giai

    Anh hùng náo tam môn giai

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1907

    329

    Anh hùng náo tam môn giai

    Anh hùng náo tam môn giai

    Vũ Đình Lợi

    Hà Nội, 1924

    330

    Anh hùng náo tam môn giai

    Anh hùng náo tam môn giai

    Quảng Nguyên

    Hà Nội, 1935

    331

    Anh hùng náo tam môn giai

    Anh hùng náo tam môn giai

    Nguyễn Mân Châu

    Hà Nội, 1950

    332

    Anh hùng náo tam môn giai

    Anh hùng náo tam môn giai

    Tô Chẩn

    Sài Gòn, 1951

    333

    Vĩnh Khánh thăng bình

    Vĩnh Khánh thăng bình

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1910-11

    334

    Du long hý phượng (xem Chính Đức du Giang Nam)




    335

    Ngọc lê hồn

    Ngọc lê hồn

    Ngô Văn Triện (Trúc Khê)

    Hà Nội, 1930

    336

    Ngọc đường xuân

    Ngọc đường xuân

    Vũ Kính

    Hà Nội, 1929

    337

    Ngọc uyên ương

    Ngọc uyên ương

    Ngô Văn Triện

    Hà Nội, 1928

    338

    Dư chi thiếp

    Vợ lẽ của tôi

    Nguyễn Nam Thông

    Hà Nội, 1939

    339

    Oan hồn kiếm

    Oan hồn kiếm

    Bát Quái

    Hà Nội, 1939

    340

    Nguyên sử diễn nghĩa

    Nguyên sử diễn nghĩa

    Đào Xuân Trinh

    Hà Nội, 1935

    341


    Uyên ương kiếm


    Uyên ương kiếm

    Thanh Đình&Tuấn Lang

    Hà Nội, 1937

    342

    Nhạc Phi diễn nghĩa

    Nhạc Phi diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1928-29

    343

    Nhạc Phi diễn nghĩa

    Nhạc Phi diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    In lại, 1952

    344

    Nhạc Phi truyện

    Truyện Nhạc Phi

    Phụng Hoàng Sang

    Sài Gòn, 1905-09

    345

    Vân Thiên Lãnh

    Vân Thiên Lãnh

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1938

    346

    Tái sinh duyên

    Tái sinh duyên

    Trần Công Đông

    Sài Gòn, 1920

    347

    Tái sinh duyên

    Tái sinh duyên

    Nguyễn Đỗ Mục

    Hà Nội, 1923

    348

    Tái sinh duyên

    Tái sinh kỳ duyên diễn nghĩa

    Phạm Thị Phương

    ?, 1928

    349

    Tái sinh duyên

    Tái sinh kỳ duyên diễn nghĩa

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1929

    350

    Tái sinh duyên

    Tái sinh kỳ duyên diễn nghĩa

    Lê Duy Thiện

    Sài Gòn, 1930

    351

    Tái sinh duyên

    Tái sinh kỳ duyên diễn nghĩa

    Thanh Phong

    Sài Gòn, 1950

    352

    Chính Đức du Giang Nam (Du long hý phượng)

    Chánh Đức du Giang Nam

    Trần Phong Sắc

    Sài Gòn, 1907

    353

    Chính Đức du Giang Nam (Du long hý phượng)

    Chánh Đức du Giang Nam

    Trần Bá Thời (Vạn Phước)

    Sài Gòn, 1932

    354

    Chính Đức du Giang Nam (Du long hý phượng)

    Chánh Đức du Giang Nam

    Trần Văn Bình

    Sài Gòn, 1953

    355

    Chinh Tây diễn nghĩa

    Chinh Tây diễn nghĩa

    Vũ Hi Tô

    Hà Nội, 1923-24

    356

    Trung Hoa nữ phi tướng Trịnh Dục Tú

    Trung Hoa nữ phi tướng Trịnh Dục Tú

    Nguyễn Học Hải

    Hà Nội, 1927

    357

    Chung Nam huyết hận

    Chung Nam huyết hận

    Lý Ngọc Hưng

    Hà Nội, 1938

    358

    Chung Vô Diệm

    Chung Vô Diệm

    Nguyễn Chánh Sắt

    Sài Gòn, 1909-11

    359

    Chung Vô Diệm

    Chung Vô Diệm

    Đào Phổ & Đinh Gia Hân

    Hà Nội, 1934

    360

    Chu long kiếm

    Chu long kiếm

    Văn Tuyền*

    Hải Phòng, 1935

    361

    Tẩu mã xuân thu

    Tẩu mã xuân thu

    Đào Phổ

    Hà Nội, 1928




    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    1. Chữ Nôm do một hoặc nhiều chữ Hán tạo thành. Khi dùng một chữ Hán thì tác dụng duy nhất của chữ Hán là biểu âm. Khi tổ hợp nhiều chữ Hán thì một chữ trong đó là biểu âm, còn các chữ khác biểu ý. Ví dụ: chữ chợ thì chữ Hán phía trên (trợ) biểu đạt âm chợ, còn chữ ở dưới (thị) biểu đạt nghĩa. Về thời điểm ra đời của chữ Nôm, hiện còn nhiều thuyết khác nhau. Có điều, những tác phẩm chữ Nôm đầu tiên lại không còn lưu giữ được. Có người cho chữ Nôm ra đời vào thế kỷ 8, có người lại cho là thế kỷ 12. Song dù thế nào chăng nữa, chắc chắn chữ Nôm vào thế kỷ 13 đã được sử dụng rộng rãi.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Xem Tân Đường thư, quyển 152, Khương Công Phụ.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Về bản dịch không đầy đủ, xin xem “Receuil des puissance invisibles du pays de Việt” (“Việt điện u linh tập” của Lý Tế Xuyên) của Maurice Durand trong tờ Dân Việt Nam - Le Peuple Vietnamien, số 3, tháng 8.1949, tr.3-19.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Không có bản dịch đầy đủ tác phẩm này sang một ngôn ngữ phương Tây nào mà chỉ có tóm tắt các câu chuyện trong “Eine Novelllensammlung der fruhen Mig-zeit Das Chien-teng hsin-hua des Ch’u Yu”, Zeitschrift der Deutschen Morgenlandischen Gesellschaft, số 108 (năm 1958), tr.338-382.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Song Tiễn đăng tân thoại lại bị cấm ở Trung Quốc năm 1442, vì một viên quan đã phàn nàn rằng sau khi đọc xong tác phẩm này, nho sĩ xao lãng học hành.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Về ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại ở Triều Tiên và Nhật Bản, xin xem các bài nghiên cứu trước bài này.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Xin xem bản dịch Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) sang tiếng Pháp Vaste recuile de légends merveilleuses của Tiến sĩ Nguyễn Trần Huân, Paris, Gallimard, Đông phương tri thức, Danh tác tùng thư của UNESCO, 1962.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Đương thời có một trào lưu sôi nổi xuất bản các tiểu thuyết chữ Hán và tiểu thuyết văn xuôi do các nhà văn ở các nước láng giềng viết.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Thư mục các tác phẩm Hán Nôm lưu trữ tại các thư viện Pháp đang được biên soạn ở Trường Viễn Đông bác cổ Pháp theo đề nghị của ông Trần Khánh Hạo.

    Cách đây vài năm một hợp đồng đã được ký kết giữa Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) với Trường Viễn Đông bác cổ về việc biên soạn một thư mục di sản Hán Nôm. Công trình này đã được Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1993 với cái tên Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, 3 tập (Chú thích của ND).

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Hàn luật dùng những nguyên tắc của thi luật đời Đường.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Xem Hatanénaka Toshio, “Kim Vân Kiều” tại Trung Quốc, Việt Nam hòa Nhật Bản” (“Kim Vân Kiều” ở Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản), Đạm Giang chu báo (Tuần báo Đạm Giang), quyển 2, số 2 và quyển 3, số 1, Đài Bắc, tr.94-95.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Xin xem Mélanges sur Nguyễn Du réunis à loccasion du bi-centenaire de sa naissance (1975) (Tập văn kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du) do Maurice Durand chỉ đạo, EFEO xuất bản, Paris, 1966, tr.317 .

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Lý Văn Phức còn mô phỏng một tạp kịch đời Nguyên là Tây sương ký thành Truyện Tây sương.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Một số người cho rằng năm sinh của ông là 1694, lại cũng có người cho rằng ông sinh năm 1765.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Chi tiết hơn về truyện Nôm chịu ảnh hưởng Trung Quốc, xin xem Trần Quang Huy, Việt nam Nôm truyện dữ Trung Quốc tiểu thuyết quan hệ chi nghiên cứu. Đây là luận án in trên giấy nến, hiện lưu giữ tại Đại học quốc lập Đài Loan (1973, 2 quyển, 307 trang). Tác giả nghiên cứu khoảng 20 truyện Nôm Việt Nam dựa theo nguyên tác Trung Quốc. Trong luận văn này có một thư mục rất phong phú các tác phẩm Việt Nam, Trung Quốc, Pháp và Anh. Đáng tiếc là những tác phẩm Việt Nam nhắc đến trong thư mục đó lại chỉ là những ấn phẩm ở miền Nam Việt Nam trước đây.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Maurice Durand (Imagerie populaire vietnamiene - Truyền thuyết dân gian Việt Nam, do EFEO xuất bản, Paris, 1960, tr.35) đã dẫn Thạch Sanh truyện làm ví dụ. Có một số nhà bình luận Việt Nam cho rằng ở Campuchia cũng có câu chuyện này và nó bắt nguồn từ Tripitaka. Song cần lưu ý ở đây là nhân vật dũng sĩ này cũng xuất hiện ở Trung Quốc rất sớm. Chàng là hình tượng rất được rất được hoan nghênh trong kịch mục của tỉnh Triết Giang Trung Quốc (Phương Hải Như và Ngô Triệu Thiên đã cải biên thành vở kịch hiện đại Vân trung lạc tú hài- Hài thêu lạc trong mây, Triết Giang văn nghệ xã ấn hành, 1984, 58 trang). Đồng thời, nhiều truyền thuyết về nhân vật này cũng được lưu truyền rộng rãi trong các dân tộc thiểu số Vân Nam. Từ những ví dụ giản đơn này chúng ta thấy những cuộc thiên di văn học có thể phức tạp hơn chúng ta hình dung rất nhiều.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Henri Cordier, Bibliotheca Indosinica (Văn khố Đông Dương) có Tự điển về các tác phẩm của bán đảo Đông Dương, Paris, 1915, quyển 4, tr.2328-2382.

    P. Boudet & R. Bourgeoir, Bibliographi de lIndochine Francaise (Thư mục Đông Dương thời thuộc Pháp), Hà Nội, Nhà in quốc gia, quyển 3-4 (1) năm 1932-1934, quyển 4 (2) do bà Boudet xuất bản năm 1967, Paris, Adrien Maisonneuve.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Christiane Rageau, Catalogue du fonds indochinois de la Bibliothèque Nationale (Thư mục sách Đông Dương trong Thư viện quốc gia), quyển 1, sách Việt Nam in bằng chữ quốc ngữ, 1922-1954, Paris, Thư viện quốc gia, 1979.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Hiện có những bản dịch xuất bản trước đây tại Sài Gòn được tái bản ở Pháp và Mỹ.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Đây là một trường tư thục hoạt động dưới sự điều hành của các trí thức tiến bộ, như Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... Mục đích của nhà trường là truyền bá tri thức mới, và tiến hành những cải cách văn hóa xã hội. Đông Kinh nghĩa thục tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi (1907-1909) nhưng đã có những ảnh hưởng nhất định. Nhà trường có các phân hội tại nhiều thị trấn ở Bắc kỳ, xin xem Đào Trinh Nhất, Đông Kinh nghĩa thục, Hà Nội, Nhà xuất bản Mai Lĩnh, 1937.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Ông là bỉnh bút cho các tờ Đăng cổ tùng báo (1907) và Đông Dương tạp chí (1913).

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Chẳng hạn trong các thành ngữ sau đây: nóng như Trương Phi, đa nghi như Tào Tháo, và mưu lược như Gia Cát...

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Đặng Thai Mai, Trên đường học tập và nghiên cứu, Hà Nội, Văn học, 1969, tập 2, tr.191-192.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Xem Cordier, Đã dẫn, tr.2328-2382.





    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkThực tế đây là những sáng tác của một nhà văn Việt Nam là Phạm Cao Củng (sinh năm 1913, hiện sống tại Mỹ; tác giả của nhiều tiểu thuyết trinh thám xuất hiện vào những năm 30, 40 của thế kỷ 20), nhưng khi xuất bản lại đề là “dịch” để thỏa mãn thị hiếu chuộng truyện Tàu của độc giả lúc bấy giờ. Nhân đây xin bày tỏ lời cảm ơn đến PGS. TS. Phạm Tú Châu về đính chính này và những tư liệu của bà về Phạm Cao Củng (ND).


    .................................................................

    Theo Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu Á (từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20), Claudine Salmon biên soạn, Trần Hải Yến dịch. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004
     
    deltaduong, Lamani, vinhhoa and 3 others like this.
  2. deltaduong

    deltaduong Mầm non

    Bạn nào còn có các truyện của Lý Ngọc Hưng không:

    Giao trì hiệp nữ
    Bồng lai hiệp khách

    Bản scan, photo, ebook,...
     

Chia sẻ trang này