Bài ca răn cờ bạc

Thảo luận trong 'Sách chữ Hán và Nôm - 喃與中文圖書' bắt đầu bởi Lee minh, 10/8/18.

  1. Lee minh

    Lee minh Lớp 2

    Chỉnh sửa cuối: 18/8/18
  2. Missfly82

    Missfly82 Mầm Non

    排歌⿰戒粦棋泊
    Bài ca răn cờ bạc

    [​IMG]


    Nhận xét về đặc tính chung của người Việt, trong "Việt Nam lược sử", sử gia Trần Trọng Kim cho rằng dân Việt Nam có tính máu mê cờ bạc. Học giả Đào Duy Anh trong "Việt Nam văn hóa sử cương" cũng nhận xét tương tự. Chuyện đỏ đen diễn ra khắp nơi, song nhiều nhất vẫn là ở Thăng Long - Hà Nội…
    Vua cũng mở sòng

    Lịch sử ghi chép nhiều ông vua các triều đại phong kiến Việt Nam là bậc minh quân song cũng không thiếu các ông vua sống xa hoa, ham cờ bạc, dung túng quan tham khiến quan liêm và dân chúng oán hờn.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link



    Phố Cầu Gỗ đầu thế kỷ XX.

    Trong số các ông vua ấy phải kể đến Trần Dụ Tông (1336-1369). Là ông vua thông tuệ, học vấn cao minh, Trần Dụ Tông chăm lo việc võ, sửa sang việc văn khiến thần dân đều phục. Đời Thiệu Phong (niên hiệu đầu tiên của Trần Dụ Tông) chính sự tốt đẹp nhưng càng về sau càng đổ đốn. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Trần Dụ Tông họp các nhà giàu ở làng Đình Bảng, làng Nga Đình ở Quốc Oai vào cung đánh bạc làm vui, một tiếng bạc đặt 300 quan, ba tiếng thì đặt gần 1.000 quan”. Để có tiền ăn chơi và đánh bạc, Dụ Tông cho đúc đồng “Thiệu Phong thông bảo”. Theo giá trị truyền thống vào thời đó, 1 lạng bạc = 1 quan = 10 tiền = 690 đồng. Như vậy, một tiếng đánh bạc của Dụ Tông tương đương với 300 lạng bạc. Nếu quy đổi 300 lạng bạc ra tiền đồng ngày hôm nay thì đó là một số tiền vô cùng lớn. Việc Dụ Tông làm bậy, biến cung đình tôn nghiêm thành chỗ chơi bạc đã đi ngược lại tâm đức của các vua Trần trước đó vốn nghiêm khắc với trò đỏ đen. Năm 1269, quan thượng phẩm Nguyễn Hưng tụ tập bọn nha lại đánh bạc trong tư dinh. Việc bị phát giác, vua Trần Anh Tông (1271-1314) sai vệ úy đánh chết Nguyễn Hưng còn bọn tòng phạm thì bị phạt nặng. Sách “Việt sử tiêu án” đã phê phán Trần Dụ Tông: “Làm vua một nước mà mở sòng bạc để lấy hồ thật đáng bỉ”. Còn “Đại Việt sử ký toàn thư” dẫn lời sử gia Phan Phu Tiên: “Dụ Tông công nhiên làm bậy, gọi những nhà giàu vào cung đánh bạc để rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy không thể ngăn cấm được nữa cuối cùng vì tệ đánh bạc mà mất nước”. Vì quá ham mê chơi bời và bài bạc nên Dụ Tông mất năm 34 tuổi. Sau khi ông mất, bão táp trong cung đình nhà Trần nổi lên vì bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ lên ngôi vua muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần nên đã giết Hoàng thái hậu và Cung Định Vương, Cung Tĩnh Vương sợ hãi phải trốn lên Đà Giang. Các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ rồi lên Đà Giang rước Cung Tĩnh Vương về làm vua (là Trần Nghệ Tông).

    Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi Đại Việt, Lê Lợi lên ngôi năm 1428, một năm sau nhức nhối vì tệ nạn đánh bạc từ kinh đô lan ra khắp nơi làm suy đồi đạo đức, Lê Thái Tổ đã ra chỉ dụ. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Ra lệnh cho các quan kinh đô và các lộ, huyện, xã rằng, kẻ nào du thủ du thực đánh cờ đánh bạc thì quan ty, dân binh bắt để trị tội. Kẻ đánh bạc thì chặt 5 ngón tay, đánh cờ chặt 1 ngón”. Đến đời vua Lê Nhân Tông (1441-1459), Lê Nhân Lập là con của Thiếu úy Lê Lan cùng bọn người xấu trong thành là Nguyễn Thọ Vực họp nhau đánh bạc, trộm cướp. Trước những việc làm bậy bạ, triều đình đã cho quân đến nhà Vực, dụ Lập và đồng bọn ra rồi chém thẳng tay khi bọn chúng đang đánh bạc ở nhà Vực. Đến triều Nguyễn, vua nào cũng ra chỉ dụ nhưng cờ bạc vẫn tràn lan trên các phố.

    Đỏ đen thời Pháp thuộc

    Trong “Phú tài bàn” Nguyễn Thiện Kế, một trong những lãnh tụ của nghĩa quân Bãi Sậy đã than về nạn đánh tài bàn: “Thím khách, cô tây, bác thông cậu ký, thầy giáo, thầy Nho, cụ tổng cụ lý; ông cả, bà lớn, bố cu, mẹ đĩ; đến cả sãi chùa, cùng đàn trẻ bé; rằng buồn ông chơi, thấy vui cháu ké”. Sau khi chiếm thành năm 1882, sang năm 1883, để có nguồn thu, chính quyền Pháp cho phép mở các cửa hàng bán thuốc phiện, tiệm hút và sòng bạc ở Hà Nội để thu thuế. Trúng thầu không ai khác ngoài Hoa thương. “Bài ca khuyên răn cờ bạc” xuất bản năm 1921 bằng chữ Nôm có câu:

    Bỏ tài bàn đố chữ đi thôi
    Tổ tôm sóc đĩa sợ rồi.


    Tài bàn, tổ tôm, sóc đĩa vốn là bài lá có từ lâu nhưng đố chữ là trò chơi lần đầu xuất hiện. Người Pháp gọi là “toóng sít bết” (Le jeu des 36 bêtes). Đố chữ chỉ có ở Hà Nội vì trò này cần phải biết chữ Hán lại phải nơi đông đúc để thu hút người chơi. Ở phố Hàng Buồm có một sòng đố chữ, chủ sòng là Hoa kiều tên Vầy, gốc Quảng Đông. Sáng ra, ông Vầy cho treo bảng viết một câu thơ Trung Hoa cổ có 7 chữ bằng mực trước cửa nhà nhưng bỏ trống một chữ. Bên cạnh treo bảng có 36 chữ để người chơi lựa chọn và điền vào chữ bỏ trống. Người chơi đặt bao nhiêu tùy thích, nếu trúng được gấp 36 lần. Và người chơi cũng không cần phải lên Hàng Buồm, gần như mỗi phố đều có một người “đại thu” (giống như đại lý cho chủ đề bây giờ). Kẻ không biết chữ nghĩa, thơ phú thì hóng hớt đặt tiền theo và vì nó bí mật nên đố chữ lôi kéo rất đông kẻ mũ cao áo dài. Buổi chiều, đến giờ đổ chữ, sòng đánh một hồi trống rồi mở cái cuốn chữ treo trước cửa. Và từ đây kết quả lan ra khắp thành phố, kẻ cười người tiếc vì đoán sát sàn sạt, lại có kẻ mếu máo cho số mình đen đủi nên đi cầu thánh, cầu tiên, ăn chay nằm mộng, lễ gốc đề gốc đa, lễ ma xó để mong đoán trúng chữ. Nhưng người chơi không biết chủ sòng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, họ thay đổi chữ nếu thấy nhiều kẻ đoán đúng và người chơi dù biết chữ đó không hợp cũng không thể kiện lên quan Pháp. Vì thế “Bài ca khuyên răn cờ bạc” khuyên dân Việt không nên chơi đố chữ vì trò này làm giàu cho Hoa thương. Khi đố chữ không còn thu hút nữa thì chủ sòng xoay sang trò đố con vật. Họ đưa ra bảng có tên 36 con vật ở dưới kèm theo câu thơ ngắn được phiên ra âm Việt. Ví dụ con gà họ ra thơ như sau:

    Không chồng mà đẻ mới ngoan
    Có chồng mà đẻ thế gian sự thường.


    Cách chơi cũng na ná như chơi đố chữ, ai đoán trúng được gấp 36 lần số tiền bỏ ra.

    Một trò khác cũng thu hút khá đông những người mê đen đỏ là sòng phán thán nôm na là sóc đĩa, hay còn gọi cách khác là chơi chẵn lẻ. Chủ sòng đồng thời cũng là nhà cầm cái hầu hết là Hoa thương, họ nộp thuế cho thành phố vì thế được phép mở cả ngày cả đêm. Phần thắng thường thuộc về nhà cái vì họ trường vốn. Tuy nhiên, rất nhiều người thích chơi tổ tôm, tài bàn nên xuất hiện khá nhiều nhà gá bạc lậu. Chủ nhà lo chỗ ngồi, nước thuốc, ăn uống, bảo đảm an toàn. Cứ mỗi ván ù thì người ù phải trả cho nhà cái một khoản tiền còn gọi là cắt hồ, vì thế mới có câu “Thứ nhất gột cá, thứ nhì gá bạc”.

    Thời Pháp thuộc, phố Mã Mây nổi tiếng là phố gá bạc, chủ gồm cả người Hoa lẫn người Việt. Họ nộp tiền cho cảnh sát để họ lờ đi. Khách chơi không chỉ người trong phố mà còn là các ông chánh tổng hay lý trưởng ở quê ra mua sắm cho làng ghé vào, cánh buôn nước mắm Nghệ An ra Hà Nội cũng có ông hết tiền về đành ở lại Hà Nội làm “bạt tê” (phu khuân vác) trong chợ Đồng Xuân. Ngày Quốc khánh Pháp (14-7), chính quyền cho đánh thỏa mái không phạt vì thế ở phố Mã Mây, bàn đánh bạc kê ra cả vỉa hè. Nhiều người thua bạc đã mất hết gia sản. Tờ “Hà Nội báo” năm 1936 có bài viết về ông Nguyễn Thành Khanh ở phố Cầu Gỗ phải gán nhà, vợ con phải ra sống gầm cầu Long Biên, còn ông quẫn lên nhảy cầu tự tử. Cũng có người thua bạc phải gán con gái làm lẽ cho các ông già. Lại có người gán cả vợ. Ngoài bãi sông Hồng, dân lao động nhập cư ít tiền nên chơi cò con nhưng khối kẻ nợ nhà cho vay lãi không giả được phải lao xuống sông Hồng. Vào nửa cuối những năm 30 thế kỷ XX, Khâm Thiên trở thành phố có sàn khiêu vũ và nhiều quán cô đầu. Cũng chính từ quán này xuất hiện trò chơi ăn tiền bằng bài Tây và người ta gọi là chơi KT (Khâm Thiên). Trò này chỉ lấy từ 9 đến K (quy ước chất cơ hơn rô, rô hơn tép, tép hơn bích). Trò mang tính sát phạt này thu hút thanh niên vì dễ chơi và thời gian mỗi ván rất nhanh.

    Cùng với thuốc phiện, cờ bạc làm sói mòn đạo đức, làm dân ta quên mình đang là dân nô lệ. Thế nên rất nhiều tờ báo tiến bộ, đặc biệt những tờ báo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã lên án âm mưu của chính quyền Pháp. Sau năm 1954, cờ bạc bị coi là tệ nạn xã hội nên bị chính quyền mới ra lệnh cấm.

    Nào những đứng anh hùng thục nữ,
    Bỏ tài bàn, đố chữ đi thôi.
    Tổ tôm, xóc đĩa sợ rồi
    Cải lương nay lại đua vui ít xì.
    5. Nay đương bữa tranh thi chung đỉnh,
    Ai lanh tay khéo tính thời nên.
    Ai mà đi chậm ngủ quên,
    Ắt là người phỗng tay trên chẳng còn.
    Chẳng trách kẻ phấn son ngu dại.
    10. Chỉ trách người áo giải tu mi.
    Cũng người bác lãm thư thi,
    Cũng người cách vật trí tri đại tài.
    Sao nỡ sợ cuộc đời vội bấy,
    Việc mở mang bỏ cả chẳng nhìn.
    15. Khôn gì lũ trẻ đàn em,
    Nỡ gieo gánh nặng hay hèn biết chi.
    Tài đâu đủ tranh thi khôn khéo.
    Hoá cho nên láu đáu một mình.
    Đường dài muôn dặm công trình,
    20. Càng đi càng chẳng thấy anh theo nào.
    Nếu anh bận ra vào sớm tối,
    Trông đàn con lễ bái nhà thờ.
    Hay anh còn lỡ việc nhà.
    Tính toan chưa kịp nên đà lại thôi.
    25. Dầu anh thôi cũng thời phải nghĩ,
    Lũ em ngu khó thấy thạnh cường,
    Chờ người chỉ nẻo đưa đường,
    Kìa thôn thương mãi, nọ làng bách công.
    Thời em cũng vui lòng mỏi gối.
    30. Cảm ơn anh chỉ lối mới nên.
    Ai ngờ anh bỏ kệ em,
    Nên hư hay dở chẳng thèm nói chi.
    Các anh cứ say lì cờ bạc,
    Chỉ giắt bài mở bát quanh năm.
    35. Tài bàn thua kể hàng trăm,
    Ít xì thua kể đến năm tám ngàn.
    Thua thái quá xui nên lắm tệ.
    Pháp luật kia chẳng kể vào đâu.
    Có quyền ép kẻ đen đầu.
    40. Không quyền liều lĩnh lừa nhau lấy tiền.
    Lúc ở ngoài như tiên đẹp đẽ.
    Lúc ngồi vào như thể mặt ma.
    Được thời vui vẻ cười xoà,
    Rung chân hút thuốc như là phỗng ông.
    45. Kẻ thua thái trong lòng tức giận.
    Mặt Phạm Nhan muốn cắn quẩn nhau.
    Gãi tai nghiêng cổ lả đầu,
    Trong mồm bẩm lẩm rủa nhầu khó nghe.
    Mới ngồi vào hả hê thân thiết,
    50. Lúc thua sâu ráo riết tận tình.
    Bất kỳ kẻ trọng người khinh,
    Cha con bạn hữu cũng rình lẫn nhau.
    Chẳng phép tắc đuôi đầu chi cả.
    Cứ nói năng loạn xạ chẳng kiêng.
    55. Quân bài là khúc ruột liền.
    Động vào cà tỏi cà riềng được ngay.
    Vợ con trong thò tay đánh ké,
    Thầy tớ ngoài gấp ghé chia bài.
    Thà rằng xuân nhật đua vui,
    60. Khi làm cũng có khi chơi kể gì.
    Nhưng cờ bạc suốt thì năm tháng,
    Khi ở nhà khi bạn rủ đi,
    Lại thêm xóc đĩa, ít xì,
    Rủ nhau đi sạn chơi thì đến đông.
    65. “Bài ca vợ khuyên chồng” đã nói,
    Mua mà xem thế thái nhân tình.
    Lại còn có việc thình lình,
    Quan mà bắt được tù hình thảm thay.
    Lại còn kẻ dại nay quá ngốc.
    70. Đem tiền cho thằng khách ăn không.
    Nhứt là những bạn má hồng,
    Nhớ tên đố chữ thuộc lòng chang chang.
    Ngày nào cũng ngồi bàn thơ nhảm
    Kêu đồng nhân rỗi tán tiếng thơ,
    75. Ở nhà công việc bỏ bê,
    Phước tông, tất đắc rồi thua hết tiền.
    Có hoa hột liền đem vạn bửu,
    Nhứt là thua ăn cháo cũng đành.
    Trẻ thời sanh thói ngoại tình,
    80. Già thì sanh thói tính quanh xử xằng.
    Xui công nợ kẻ Nam người Bắc,
    Hết ruộng nương lại mất cửa nhà.
    Làm cho xấu bọn đàn bà,
    Chồng con mất cậy mẹ cha mất nhờ.
    85. Nào những khách đào thơ liễu yếu,
    Phải đua khôn tranh khéo đời nay.
    Học hành buôn bán ra tay,
    Làm sao rỡ mặt cùng rày nước non.
    Để cha mẹ chồng con được cậy.
    90. Cuộc vinh hoa chen với người đời.
    Cửa nhà hưng thịnh thêm vui,
    Lắm người nhiều của rạng đời tiếng khen.
    Hơn là lẽ mê tiền cờ bạc,
    Không được ăn mà mất của nhà.
    95. Lại thêm mang tiếng xấu xa,
    Uổng công son phấn mặt hoa một đời.
    Sao cho bằng ngày trời thong thả,
    Hiệp sức chồng đua mở giàu sang,
    May ra công việc thạnh cường,
    100. Chen vai phú quí mở mang mọi nghề.
    Người trong nước cũng thời ân đội,
    Ai là không khen giỏi khen tài,
    Làm nên lệch đất nghiêng trời,
    Ai ai là chẳng khen người có công.
    105. Dẫu gái trai cũng trong trời đất,
    Phải làm cho khác mặt quần thoa.
    Trước mình vinh hiển cửa nhà,
    Sao cho cả bọn đàn bà thơm lây.


    Đầu thế kỷ trước có phong trào tranh thương với người Hoa. Những nhân vật cổ xuý có khi đứng chung thành nhóm như nhóm Minh Tân, nhóm Nông Cổ Mín Đàm, nhóm Lục Tỉnh Tân Văn, nhưng cũng có những người không đứng chung với ai hết, chỉ ý thức rằng để cái lợi thương mãi của nước mình cho người Hoa chi phối là việc vô lý nên viết bài, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp. Đây là một bài thuộc loại gián tiếp. Người viết thác lời phụ nữ khuyên mọi người tránh xa con đường cờ bạc. Cờ bạc là hành động đem tiền cho thằng khách nó ăn, bởi vì lúc đó chỉ có người Hoa là đủ điều kiện để mở sòng bạc mà thôi, bản thân mình thì không có thời giờ lo cho gia đình con cháu, không giúp chúng thấy được điều hay lẽ phải để giúp ích gia đình và tiến lên giúp ích xã hội. Tệ hại cờ bạc ai cũng biết nên tác giả chẳng nói nhiều, bài ngắn nhưng đủ ý, người đọc sẽ thấm khi đọc đi đọc lại. Chỉ cần phác thảo thái độ của người cờ bạc: vui vẻ thân thiện trước khi vào sòng ăn thua, sau đó khi thua sâu thì cà riềng cà tỏi gây sự, phụ nử trẻ thua thì ngoại tình, già thì gạt gẫm người chung quanh… Bao nhiêu đó cũng đủ chẳng cần nhiều hơn.

    Trong Nam, trước năm 1921 hơn một thập niên, bài văn ngăn ngắn nói về việc tranh thương với người Hoa xuất bản bằng quốc ngữ khá nhiều, ngoài Bắc, Bài ca răn cờ bạc lại được ấn hành bằng chữ Nôm, đó cũng là một chi tiết kỳ thú về văn học. Năm 1921, chữ Nôm đang thật sự đi vào đường tàn tạ nên bản nầy có vài ba chữ sử dụng không đúng tiêu chuẩn, âu đó cũng là quy luật. Bài này phiên âm từ bản Nôm Phúc An tàng bản in năm 1921, lưu trữ tại Hà Nội.
     
    bigcat and Lee minh like this.
  3. khiconmtv

    khiconmtv Cử nhân

    Hiện đại nhất chắc là Kiếp Đỏ Đen của Duy Mạnh...:lmao:
     
    Lee minh thích bài này.
  4. Lee minh

    Lee minh Lớp 2

    Khỉ con nói chuẩn luôn
    cute_smiley60cute_smiley60cute_smiley60
     

Chia sẻ trang này