Đang dịch NC-17 Bewitching - Jill Barnett

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi lan anh vu, 25/4/17.

  1. lan anh vu

    lan anh vu Lớp 1

    Tên tác phẩm: Bewitching
    Tên tác giả: Jill Barnett
    Người dịch: lan anh vu
    Tình trạng: Đang dịch
    Phân loại: NC-17
    Giới thiệu: Alec, Công tước của Belmore, luôn làm những gì chàng muốn, và chàng đã quyết định kết hôn với một tiểu thư danh giá phù hợp với địa vị của chàng. Tuy nhiên vào đêm định mệnh đó chàng gặp một bà cụ đã cho chàng biết vận mệnh của chàng: Chàng sẽ không kết hôn với người mà chàng nghĩ sẽ cưới, mà cô gái tiếp theo chàng gặp mới là cô dâu của chàng. Dĩ nhiên chàng chỉ coi đó là một trò cười, cho đến khi chàng nhận được tin vị hôn thê hoàn hảo của chàng đã hủy hôn ước và người con gái tiếp theo mà chàng gặp, Joyous MacQuarrie, hóa ra lại là một phù thủy xinh đẹp đã hoàn toàn mê hoặc chàng...


    Ngày xửa ngày xưa . . .

    Đừng bỏ bùa tôi thêm nữa, khi nghệ thuật đã quá hoàn mỹ ở mọi phần.
    "Delight in Disorder," Robert Herrick

    Chương 1

    Có ma thuật trong không khí, nhưng chỉ vài người có thể thấy.

    Dưới cặp mắt người thường đó không là gì ngoài một cơn bão phô trương, dọa dẫm của xứ Scotland đang thổi như hơi thở của ma quỷ từ các vùng nước xoáy xám xịt của Vịnh Mull. Ánh chớp xé toạc trời đêm và sấm gầm lên. Mưa trút từ trên trời xuống, và biển đâm sầm vào những tảng đá granite khổng lồ bên bờ biển, bắn tung tóe lớp bọt trắng xóa lên vách đá nhọn nơi lâu đài Duart đang đứng đó.

    Suốt năm trăm năm trong lịch sử sáu trăm năm của nó, lâu đài là pháo đài của gia tộc MacLean và là nơi tiếp đón những người anh em của họ, gia tộc MacQuarrie. Nhưng trận chiến Culloden Moor đã thay đổi tất cả. Trong sáu mươi bảy năm đen tối và nặng nề đó, nhiều gia tộc đã đánh mất pháo đài bởi tính ngoan cố của người Scot. Nhà MacLean đã để mất pháo đài vào tay người Anh, Sassenach, người chẳng hề quan tâm tí nào tới tiềm năng rõ ràng của nơi này. Lâu đài giờ đứng đó, trống rỗng, tối tăm và hoang phế.

    Hoặc có vẻ như vậy.

    Bầu trời gầm lên và vỡ ra, và biển cả gào thét. Đối với những người bình thường đó chỉ là một cơn bão khác, nhưng với những người hiểu rõ, những người có đức tin cổ xưa, đó còn hơn một trận chiến giữa trời và đất.

    Các phù thủy đã thức tỉnh.

    Giờ đây, có các phù thủy, và có các phù thủy. Và người MacQuarrie.

    Đây là một câu chuyện buồn, về nhà MacQuarrie, một câu chuyện đã bắt đầu hàng trăm năm trước đêm nay. Một tổ tiên xa xưa của nhà MacQuarrie hiện tại được triệu tập đến lễ hội Đầu Xuân ở nơi mà nay là miền nam nước Anh. Ở đó, trên một đồng bằng rộng lớn, có một ngôi đền bằng đá đồ sộ là nơi các nữ phù thủy và nam phù thủy tụ họp để thể hiện sức mạnh của họ. Vào mùa xuân đặc biệt ấy, nam phù thủy của nhà MacQuarrie đã được chỉ định là sẽ có vinh dự làm những bông hoa mùa xuân quý giá nhất – hoa hồng – bừng nở. Những nam nữ phù thủy khác đã đi vào trung tâm của ngôi đền và sử dụng ma thuật để mang sự sống quay lại với trái đất đang chết lịm trong mùa đông lạnh lẽo.

    Hãy nhìn vào để thấy ngày đó, khi trong một khoảng khắc cỏ xanh vươn qua mặt đất ẩm ướt. Những bụi đinh hương, cây mao lương và bồ công anh rải một lớp vàng tươi trên màu xanh mơn mởn đã nảy mầm một cách kỳ diệu. Chẳng bao lâu sau các nhánh cây cằn cỗi của cây bạch dương được che phủ với những chiếc lá mùa xuân màu bạc và một lần nữa những cây gỗ trăn cao và thanh nhã lại xuất hiện. Cây sồi, cây tần bì và cây gỗ du thì cần nhiều hơn một câu thần chú, một cái gõ nhẹ của bàn tay hay cái búng tay chớp nhoáng của ma thuật phù thủy để quay lại với sự sống.

    Mùi hương của hoa nhài, hoa anh thảo, cúc vạn thọ và oải hương lấp đầy khí trời buổi sáng mát mẻ, và đột nhiên đã là mùa xuân. Chim chóc và côn trùng di chuyển thành đàn trên không trung và đậu trên những cành cây; giai điệu du dương của chim chiền chiện, tiếng vo ve của những chú ong và tiếng gọi của chim bồ câu mang âm nhạc đến vùng đất đã trải qua quá nhiều tháng lạnh giá, ảm đạm và yên lặng.

    Sau đó là đến lượt của MacQuarrie. Đám đông tách ra khi chàng đi tới trung tâm của ngôi đền đá. Căn phòng im lặng, yên tĩnh tới mức người ta có thể nghe được một cái chớp mắt, khi tất cả nữ phù thủy và nam phù thủy đều đang chờ đợi thời khắc đặc biệt. MacQuarrie đứng đó tập trung lặng yên một lúc lâu. Rồi chầm chậm chàng nâng hai bàn tay hướng về phía mái vòm đồ sộ và với một cái búng tay, giải phóng ma thuật của chàng.

    Hoa hồng không nở vào ngày hôm đó.

    Thay vào đó một tiếng nổ dữ dội, như chưa ai từng được thấy, đã thổi bay các vách tường và mái vòm của ngôi đền lên bầu trời. Khi bụi lắng xuống và không khí quang đãng hơn, các nữ và nam phù thủy nhấc mình khỏi mặt đất, ngôi đền đã không còn nữa. Không còn gì đứng đó ngoại trừ một vài vòm đá.

    Những con người hiện đại nhìn đầy kính sợ vào những tàn tích mà họ gọi là Stonehenge, nhưng đề cập tới cái tên Stonehenge với các phù thủy trên thế giới và cho đến ngày hôm nay họ vẫn lắc đầu chán nản và càu nhàu về sự hổ thẹn của MacQuarrie.

    Và bỗng thành ra là vào năm 1813 Dương lịch chỉ còn lại hai phù thủy ở Scotland – một MacLean và, trong tất cả mọi thứ, một MacQuarrie. Vì thế trong cái đêm náo nhiệt khi cơn bão tàn phá bờ biển của đảo Mull, khi mưa trút xuống những tàn tích đổ nát của một lâu đài từng một thời huy hoàng đứng trên mũi đá lởm chởm đó, khi những con người trên hòn đảo nhỏ xíu đó đang co mình bên lò sưởi và lắng nghe tiếng rền rĩ của bầu trời, MacLean và MacQuarrie làm phép thuật.

    ***


    Joyous Fiona MacQuarrie cúi xuống để nhặt những quyển sách nằm ngổn ngang trên sàn nhà của tòa tháp. Mười chiếc vòng vàng trượt xuống cổ tay của nàng, kêu leng keng như tiếng chuông xe trượt tuyết và vang vọng trong sự im lặng đến căng thẳng của căn phòng. Nàng thấy biết ơn tiếng ồn đó, nó cho nàng một khoảng khắc nghỉ ngơi quý báu khỏi cái nhìn sắc bén và mất kiên nhẫn từ dì của nàng, bà MacLean. Quay lưng lại với dì nàng, Joy túm lấy một cuốn sách khác, nhét nó dưới cánh tay khi nàng lẩm bẩm, “Đó chỉ là một chút xíu của một từ.” Nàng nhặt lên một cuốn sách khác, kèm theo là tiếng leng keng của những chiếc vòng, nhưng khi chúng đã ổn định trên cổ tay, nàng có thể nghe một âm thanh mới – một tiếng gõ kích độngvà khác biệt.

    Bước chân của dì nàng.

    Nàng liếc trộm dưới cánh tay duỗi ra của nàng và co rúm lại. Dì của nàng đang khoanh tay lại và lắc mái đầu màu vàng của bà trong sự phẫn nộ. Nhưng tệ hơn cả là Joy có thể thấy sự chuyển động trên môi của bà MacLean: dì của nàng lại đang đếm.

    Lồng ngực của Joy trầm xuống; nàng lại làm sai lần nữa. Thở dài thất bại, nàng lặng lẽ xếp các cuốn sách lên chiếc kệ gỗ sồi cổ xưa của họ và thả mình xuống cái ghế gỗ lung lay sau khi kéo nó lại gần hơn tới cái bànnằm giữa căn phòng tòa tháp. Nàng tựa cái cằm nhỏ nhắn lên bàn tay và đợi cho dì nàng đếm tới một trăm – ít nhất nàng hy vọng nó chỉ đến một trăm.

    Một con mèo mượt mà nhảy lên bàn, tự liếm bộ lông trắng như lớp tuyết dày vùng cao nguyên của nó vòng quanh ba cái giá nến bằng đồng thau đã xỉn màu đi vì thời gian gắn với những cây nến nhỏ đang bao phủ cái bàn gỗ sồi mòn vẹt với thứ ánh sáng vàng lập lòe lung linh. Khi con mèo uốn người dọc theo cái bàn, đuôi của nó tạo thành những cái bóng kì lạ ngang qua mặt bàn gỗ ghép. Bị mê hoặc bởi các hoa văn ấy, Joy cố gắng hình dung những chữ cái tưởng tượng từ các hình dạng tạo bởi đuôi mèo đó, tâm trí nàng thơ thẩn trong một chuyến du hành tưởng tượng quen thuộc. Đó là rắc rối của nàng. Nàng là một phù thủy có tâm trí luôn thơ thẩn.

    Con mèo, Gabriel, là hầu cận của dì nàng – một linh hồn hiện thân trong hình dạng động vật mà có bổn phận phục vụ, chăm sóc và cả bảo vệ phù thủy trong một số trường hợp. Nàng liếc về phía hầu cận của mình, Beelzebub, một chú chồn ecmin với bộ lông trắng như mùa đông ngoại trừ những đốm đen nhỏ xíu trên đuôi và các bàn chân của nó. Con vật với bộ lông trắng như tuyết bao phủ cái bụng phệ đồ sộ làm nó trông giống một con thỏ tròn trĩnh hơn một con chồn béo tốt. Vào lúc đó, cũng như ở hầu hết mọi lúc khác, chú ta đang ngủ ngon lành.

    Nàng thở dài. Beezle là động vật duy nhất bằng lòng làm hầu cận của nàng.

    Mèo giống như Gabriel là loài động vật kiêu hãnh và ngạo mạn, chúng tuyệt đối cự tuyệt trở thành đồng minh với một phù thủy chẳng thể điều khiển được ma thuật của nàng ta. Những con cú thì quá khôn ngoan để bắt mình liên minh với một người dớ dẩn như Joy. Và cóc, well, chúng ném một cái nhìn lên nàng, kêu ộp ộp rồi nhảy đi.

    Beezle mập mạp và già cả thở khò khè trong giấc ngủ. Joy nhìn những cái chân đen đang co giật của nó và tự nhắc nàng rằng ít nhất nàng còn có một hầu cận, cho dù chú ta chỉ là một con chồn. Như thể cảm nhận được suy nghĩ của nàng, chú ta hé mở một con mắt nâu lờ đờ ra và nhìn chăm chú vào nàng như là đang bình tĩnh chờ đợi thảm họa kế tiếp. Nàng với tới để gãi lên cái bụng lông của chú và nhanh chóng gõ lên cái ấm trà quả hồng lạnh.

    Gabriel rít lên và nhảy ra khỏi đường đi của nước trà bị đánh đổ. Beezle không di chuyển nhanh như vậy. Thực ra Beezle hiếm khi nào di chuyển. Nước trà gom lại thành dòng xung quanh chú. Cậu chàng chớp mắt hai lần, ngắm nước trà đang thấm lên bộ lông trắng của nó, và ném cho cô cái nhìn không khác gì của bà MacLean trước khi lắc mình và rắc những giọt trà ra khắp mọi hướng. Nó đi lạch bạch tới một chỗ khô ráo và nằm phịch xuống với một tiếng thịch nhẹ, rồi lăn mình, bốn chân giơ lên trời, ngửa cái bụng trắng và hồng mũm mĩm và nhìn chằm chằm vào cái trần nhà. Joy tự hỏi động vật có thể đếm hay không. Beezle mở miệng và thở ra một tiếng khò khè lớn, rồi một tiếng ngáy.

    Đếm trong giấc ngủ của chúng, nàng sửa lại, khi đang gõ nhịp những ngón tay xuống bàn.

    “Ta biết làm gì với cháu đây?” bà MacLean, đã dành đủ thời gian để đếm tới một trăm tận hai lần, cuối cùng cất tiếng nói. Dì nàng có thái độ nghiêm khắc, nhưng giọng nói của bà chứa sự kiên nhẫn từ tình cảm mà gần nhưlà tình yêu của một người mẹ.

    Thứ tình yêu đó làm hoàn cảnh của Joy thậm chí còn tệ hơn. Nàng thực sự muốn trau dồi kỹ năng ma thuật của nàng vì người dì kiên nhẫn của nàng cũng như vì lòng kiêu hãnh của chính bản thân nàng, và khổ sở vì nàng không thể làm một cách đúng đắn. Nàng lơ đãng vẽ một ngón tay qua lớp bụi trên bàn, rồi nhìn vào người dì và cũng là người hướng dẫn của nàng. “Một từ có thể thực sự tạo nên sự khác biệt như vậy ư?”

    “Mỗi từ đơn đều vô cùng quan trọng. Một câu thần chú cần phải chính xác. Một phần năng lượng đến từ giọng nói.” Bà MacLean hít một hơi thật sâu và siết hai tay đằng sau bà. “Phần còn lại phải tập luyện. Tập trung!” Bà đi vòng quanh căn phòng tròn, giọng nói mạnh mẽ của bà dội lại từ những bức tường đá như tiếng kèn túi ở vùng cao nguyên. Thình lình trong nháy mắt, bà dừng lại và nhìn xuống Joy. “Bây giờ chú ý. Quan sát ta.”

    Đứng bên trái Joy, bà nâng hai bàn tay thanh lịch lên cao, cho phép những sợi vàng thanh mảnh trên chiếc áo choàng lụa thêu của bà bắt lấy ánh nến và rực rỡ như sự lấp lánh của bụi tiên. Joy nín thở. Dì nàng đứng đó, cao ráo và vàng óng với bầu trời đêm làm phông nền qua cửa sổ tòa tháp, dì nàng trông như một nữ thần. Mái tóc dài thẳng đang đổ xuống trên lớp satin sáng xếp nếp qua hông đến sau đầu gối của bà có màu vàng đồng. Làn da của bà hoàn hảo như kem tươi và có vẻ trẻ trung trong ánh sáng dìu dịu của ngọn nến. Áo choàng của bà MacLean có màu trắng - không phải màu trắng toát của bông hay màu trắng ngà của lông cừu, mà cùng màu trắng như các vì sao chiếu sáng, tia chớp lóe lên, những viên kim cương lấp lánh và mặt trời rực sáng.

    Một cơn gió lạnh Scotland thổi qua phòng tháp, làm cho ngọn nến nhấp nháy. Mùi hắc của mỡ nóng hòa trộn với mùi của cơn mưa đêm và mùi muối của biển động lướt theo tiếng gió xào xạc đi qua căn phòng. Những cái bóng nhảy điệu jig trên những bức tường đá granite, và âm thanh của sóng đầm sầm vào những tảng đá sắc nhọn bên bờ biển ở phía dưới vang vọng lên trên, trộn lẫn với tiếng gọi thê lương của những con mòng biển đậu trong mái hiên tòa tháp. Sau đó, với một ánh chớp lóe lên đột ngột, tất cả trở nên… yên lặng.

    Giọng nói trầm trầm của bà MacLean vang lên, "Hãy đến!"

    Ma thuật rung động xuyên qua không khí – một thứ sống động, mạnh mẽ và đầy kiểm soát di chuyển về phía bức tường nơi những cuốn sách bọc da cũ kỹ nặng trịch đang nằm trên cái kệ gỗ sồi. Một cuốn sách màu nâu đồ sộ và rách nát từ từ trượt khỏi kệ, từng inch một, đi ra ngoài không trung, sau đó bay về phía bà MacLean. Nó trôi lơ lửng gần bà, chờ đợi cho tới khi bà chầm chậm hạ một cánh tay xuống. Cuốn sách đi theo di chuyển của bà, nhẹ nhàng nằm lên bàn như thể nó là một cái lông chim thay cho một tác phẩm ba nghìn trang.

    Joy hạ cằm lên bàn tay và thở dài. "Dì làm nó trông thật dễ dàng."

    "'Nó dễ dàng. Chỉ cần phải tập trung." Dì của nàng đặt lại cuốn sách lên kệ và quay sang Joy. "Bây giờ đến lượt cháu."

    Với sự bướng bỉnh thuần túy của người Scot trong đôi mắt màu xanh lục đậm của nàng, Joy hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại, và với tất cả cảm xúc mà một phù-thủy-hai-mươi-mốt-tuổi có thể thể tập hợp, nàng vung tay lên không trung. Những cái vòng tay của nàng bay qua căn phòng tháp như những con mòng biển bay liệng. Khi tiếng kêu đầu tiên của kim loại va vào đá vang lên, nàng nhăn mặt, rồi hé một con mắt xanh ra.

    "Quên cái vòng đi! Tập trung ... tập trung."

    Nàng cố gắng tập trung, nhưng không có gì xảy ra. Nàng nhắm mắt chặt hơn.

    "Hình dung sự di chuyển của cuốn sách, Joyous. Sử dụng trí tưởng tượng của cháu."

    Nàng nhớ lại cách dì nàng làm phép chỉ vài phút trước. Nàng co vai lại và nâng cái cằm quả quyết lên, làm mái tóc rối với nhiều sắc thái của màu nâu vàng như một dòng thác dày đổ xuống lắc lư gần đằng sau đùi nàng. Nàng mở mắt ra và vươn cao hơn. Hít một hơi thật sâu để lấy may, nàng ra lệnh “Hãy đến!”

    Cuốn sách run rẩy, di chuyển khoảng hai inch, rồi ngừng lại.

    "Tập trung!"

    "Hãy đến!" Joy xòe rộng ngón tay, cắn môi và từ từ kéo bàn tay về phía nàng, tưởng tượng trong đầu cuốn sách trôi về phía nàng, sau đó lơ lửng trong không khí.

    Cuốn sách trượt trên kệ, vừa đến tới mép kệ.

    “Hãy đến!” Joy kêu lên với giọng trầm như trong hang động Fingal. Nàng mở mắt, quyết tâm di chuyển cuốn sách đó, và búng ngón tay một cách chừng mực.

    May là nàng nhìn thấy nó bay tới và vội quay đầu xuống. “Ôi Chúa ơi!”

    Cuốn sách và cuốn tiếp theo rồi cuốn tiếp theo nữa bay vụt qua nàng như được mang đến từ cơn bão, rồi cuốn khác và cuốn khác nữa bị hút ra khỏi kệ sách với lực kéo mạnh như thủy triều. Với một tiếng răng rắc kinh dị cái kệ sách tách ra khỏi bức tường đá. Nó bay qua căn phòng, xoay tròn và tóe lửa, lượn vòng và lượn vòng, nhanh hơn và nhanh hơn nữa. Cái xô bằng thiếc có vết lõm xoay tròn bên trái Joy, rồi đập lên sàn nhà loảng xoảng. Cái chổi bay nhanh tới bên phải, ba thanh gỗ xoay nhanh như nghệ sĩ múa rồi ngã rầm một cái đâm sầm vào một cái bình, làm nó vỡ ra thành hàng nghìn mảnh.

    Đồ đạc đập vào tường, trầy trụa và rạn nứt. Những cây nến bay lên… lên… và lên nữa… Gió gào rít qua căn phòng, nạt nộ, huênh hoang và dồn dập. Theo bản năng Joy vòng tay ôm lấy đầu và khom người xuống. Cái ấm trà đánh trượt nàng. Nàng nghe thấy tiếng mèo rít lên, tiếng móng vuốt chạy lộp cộp từ nơi nào đó. Cái thùng đựng than đá ném những miếng than đen bay khắp phòng như những hòn đá trong một cuộc ném đá hành quyết. Rồi nàng nghe một tiếng càu nhàu vang lên – bà MacLean.

    “Ôi, chuột!” Joy lấy tay che miệng khi một trăm con chuột xám chạy lon ton vào căn phòng tháp, bò xuống những bức tường, nhảy lên từ đồ đạc bị hư hỏng, chạy loạn xạ.

    Gió từ từ thổi chậm lại, nhẹ dần cho đến khi chỉ còn là một tiếng xào xạc, và sau một lúc lâu không khí trở nên yên lặng. Âm thanh duy nhất còn lại trong căn phòng là tiếng bước chân nhốn nháo của những con chuột. Joy nghe thấy một tiếng đằng hắng phía sau nàng. Nàng đứng thẳng dậy và quay lại.

    Phủi đi lớp bụi than, bà MacLean với khuôn-mặt-đen xuất hiện từ bên dưới cái mà đã từng là cái-ngai-hai-trăm-năm-tuổi. Bà ném một cái nhìn hiểm ác lên những con chuột đang chạy lung tung qua căn phòng như vừa trải qua thiên tai và búng những ngón tay tao nhã làm tỏa ra một đám bụi than nhỏ. Những con chuột biến mất.

    Gabriel-đã-từng-có-màu-trắng, bị áp đảo bởi những con chuột về số lượng, kêu lên một tiếng rít khác và chạy vội như một quả bóng đen qua căn phòng tới dưới cái váy dơ bẩn của bà MacLean, làm gấu váy rung lên một lúc lâu và một ít bụi bồ hóng rắc lên sàn nhà bằng ván gỗ. Âm thanh duy nhất còn lại trong căn phòng là tiếng ngáy của Beezle. Nó nằm ườn ra trên bàn, chân giơ lên, bụng nhẹ nhàng nhô lên với mỗi tiếng thở khò khè.

    Cậu chàng ngủ trong toàn thời gian đó.

    Một cái nhìn căng thẳng và thất vọng từ dì nàng và Joy cảm thấy như đang chịu sức nặng của cả thế gian.

    “Cháu xin lỗi,” Nàng thì thầm, quay đôi mắt xanh hối lỗi về phía dì nàng.

    “Ta không thể để cháu ra ngoài thế giới, Joyous. Ta không thể.” Bà MacLean phủi bụi ở tay và xem xét tình trạng phá hoại. “Lương tâm ta không cho phép để cháu sống ở nước Anh một mình trong hai năm.”

    Dì nàng trông trầm tư trong giây lát trong khi bà gõ một ngón tay bị bôi đen bởi muội than lên môi bà.

    “Tất nhiên, để cháu sống ở đó có thể là những gì người Anh xứng đáng phải nhận sau trận CullodenMoor… ”

    Bà liếc quanh căn phòng lộn xộn với vẻ chán ghét, rồi lắc đầu. “Không, không. Người Anh đã phải chịu đựng một ông vua điên rồ và một hoàng tử nhiếp chính thích chơi đùa hơn cai trị.”

    “Nhưng-”

    “Không.” Bà MacLean nâng tay lên để làm Joy im lặng. “Dì biết cháu có ý tốt, nhưng tất cả những ý định tốt trên thế giới không thể kiểm soát … cái này.” Bà phẩy tay vào đống lộn xộn trong phòng, lắc đầu và tiếp tục, “Cháu cần sự bảo vệ, cháu yêu. Một ai đó để trông nom cháu.”

    Với những lời đó bà giơ hai tay lên không trung, búng ngón tay, và bất thình lình! căn phòng quay lại với trật tự hoàn hảo – những cái ghế đứng thẳng và ở đúng chỗ, tất cả những cái ghế đẩu và cái bàn và ấm trà đều ở vị trí thích hợp; cái bình còn nguyên vẹn, cái chổi và cái thùng đứng tựa vào bức tường phía Bắc, và tất cả những cuốn sách xếp thẳng hàng trên kệ như những người lính Anh cứng nhắc. Bà MacLean, đột nhiên trở nên tinh tươm, một lần nữa là một ảo ảnh về sự hoàn mỹ màu trắng tinh khiết và màu vàng lung linh.

    Joy biết là dì nàng đang nói thật: đó là Joyous Fiona MacQuarrie cần một ai đó ở xung quanh để dọn dẹp phía sau nàng, ai đó để giải cứu cho sự tàn phá do thứ ma thuật ngu ngốc của nàng tạo ra. Nhưng Joy đã sống với dì nàng trong mười lăm năm, và bây giờ nàng muốn có cơ hội để sống một mình, để chịu trách nhiệm với chính mình.

    Khi nàng ở một mình, có lẽ nàng có thể học được cách kiểm soát năng lực của nàng. Có lẽ nàng sẽ không cảm thấy quá căng thẳng và lo lắng vì không có ai để thất vọng ngoại trừ chính nàng. Nàng đã bị tổn thương sâu sắc vì thứ năng lực không đáng tin của nàng luôn làm những người người nàng muốn làm hài lòng phải thất vọng. Nàng đứng đó, thất bại, mặc cảm và khốn khổ, cảm thấy sự tuyệt vọng thấm qua người nàng. Nàng thấy đau đớn, nàng đã thất bại và giờ đây chẳng có hy vọng nào sẽ thành hiện thực.

    Với việc dì nàng rời đi vì một vị trí trong hội đồng ở Bắc Mỹ, Joy cuối cùng sẽ được ở một mình, một viễn cảnh nàng đã háo hức mong đợi. Lâu đài Duart đã được thuê bởi một nhóm bác sĩ ở Glasgow, những người dự định sử dụng nó để đón tiếp những người lính bị tàn phá và chán chường trở về từ cuộc chiến với nước Pháp của Napoleon.

    Joy sẽ đi tới nhà của bà ngoại nàng ở Surrey và sống một cách tương đối mờ nhạt trong hai năm. Nàng chắc chắn là đến lúc đó nàng có thể học hỏi các kỹ năng của nàng. Nàng lạc quan. Nàng chỉ cần thuyết phục bà MacLean. Bên cạnh đó, dì của nàng sẽ rời đi và bà sẽ không bao giờ biết nàng mắc một hay hai lỗi lầm. Và có một lập luận khác ủng hộ nàng “Nếu cái cháu cần là sự bảo vệ, thì sao không phải một người thân?”

    Một tiếng mèo kêu inh ỏi vang lên trong không khí. Gabriel vụt ra từ dưới gấu váy của bà MacLean và vụt chạy tới bên dưới cái tủ. Nó nấp trong bóng tối, đôi mắt xanh sắc bén là manh mối duy nhất về nơi nó ẩn mình.

    “Hầu cận của cháu,” Nàng chỉnh lại, ngay lúc Beezle co giật và khịt mũi trong giấc ngủ. “Không phải một hầu cận có nghĩa vụ bảo vệ phù thủy?”

    "Joyous, thứ duy nhất con chồn chậm chạp đó sẽ bảo vệ là thời gian ngủ của nó. Cháu dường như không thể tập trung-”

    “Đợi đã!” Joy dừng lại, đột nhiên thấy hy vọng. “Cháu có ý này!” Nàng vội vã chạy tới cái bàn Larkin nhỏ mòn vẹt, mở nó ra và lục lọi cho tới khi tìm thấy thứ nàng đang tìm kiếm. “Đây!” Nàng đi vòng quanh giữ một mẩu giấy, cây bút với cái hộp nhỏ màu đen đựng ngòi bút và một bình mực Ấn Độ lùn xủn. “Đầu tiên cháu sẽ viết câu thần chú xuống trước. Rồi cháu có thể thấy nó, trên tờ giấy trắng mực đen. Dì sẽ thấy, cháu biết sau đó cháu có thể tập trung mà, cháu biết mà. Làm ơn… cho cháu một cơ hội nữa.”

    Dì nàng quan sát nàng trong khoảng khắc quyết định một lúc lâu.

    “Làm ơn,” Joy thì thầm, hạ mắt và nín thở khi cầu nguyện trong đầu: Cho cháu một cơ hội cuối cùng đi, làm ơn… làm ơn…làm ơn…

    Bà MacLean nâng cằm nàng lên. “Một lần nữa.”

    Nụ cười tươi sáng đủ để làm rạng rỡ thêm ánh hồng của ngọn nến che phủ khuôn mặt nhợt nhạt của Joy. Đôi mắt xanh lục của nàng lóe lên sự háo hức, nàng vội vã đi tới bàn, ngồi xuống cái ghế đẩu, và nhúng ngòi bút vào trong mực. Mỉm cười, nàng ngẩng lên.

    Joyous Fiona MacQuarrie đã sẵn sàng.

    Nhưng nước Anh thì không.

     
    Chỉnh sửa cuối: 25/4/17
  2. lan anh vu

    lan anh vu Lớp 1

    Xấu, đẹp nào biết chắc đâu
    Màn sương, bụi bẩn mịt mờ khó phân

    —Macbeth, William Shakespeare
    (tạm dịch >///<)

    Chương 2

    Luân Đôn, tháng 12 năm 1813

    Chiếc xe ngựa màu đen thanh nhã chạy lọc cọc trên những con đường rải sỏi ẩm ướt, người xà ích có vẻ quên đi màn sương mù dày đặc bao phủ thành phố. Vượt qua một cái xe bò chở đồng nát phía trước Công viên Xanh, qua người lính gác với một nắm tay bị bíu chặt bởi một ả điếm say mèm vì rượu gin, qua những cái ghế kiệu chậm chạp và những người làm công còi cọc đang choán hết đường phố; người xà ích lao nhanh như chẳng để ý tới con đường đông đúc cũng như việc anh ta đang chạy trong thời tiết khắc nghiệt. Chiếc xe vụt qua như một ánh chớp màu đen vòng quanh góc phố nơi người thắp đèn đang nâng ngọn đuốc hình móc câu lên và thắp sáng ngọn đèn đường bằng sắt cuối cùng trên đường St. James. Nhanh hơn cả một tích tắc, chiếc xe ngựa thắng lại và một người hầu chế phục xanh lá mở cánh cửa gắn huy hiệu màu vàng và xanh trước khi bốn con ngựa kéo xe đang sùi bọt mép kịp ngừng lại.

    Alec Castlemaine, Công tước Belmore, đã đến câu lạc bộ của chàng.

    Khi đôi giày bóng loáng màu rượu sâm banh của chàng hạ xuống lề đường, đồng hồ ở cửa hàng gần đó điểm năm tiếng. Hôm nay là thứ Tư, và mỗi khi chàng ở trong thành phố, người ta có thể thấy Công tước Belmore ở White chính xác lúc năm giờ mỗi thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu.

    Đó là một nghi lễ. Một thói quen. Đó là phong cách của Công tước Belmore. Trên thực tế mới chỉ mùa trước Ngài Alvaney đã châm biếm rằng ông ta biết đồng hồ của mình bị chết khi nó chỉ ba giờ lúc Belmore bước vào câu lạc bộ. Tiệm bánh mì Haston lật ngược tấm biển và khóa cửa khi chiếc xe ngựa màu đen chạy lọc cọc qua, và nhiều cuộc cá cược đã được ghi lại trong cuốn sổ đánh cược của Boodle về lịch trình ở thành phố của Belmore. Nó có thể được đoán trước như trà của người Anh vậy.

    Ngày hôm nay Bá tước Downe và Tử tước Seymour đi kèm cùng Belmore. Richard Lennox, Bá tước Downe là một anh chàng bảnh trai, cao ráo có mái tóc vàng hoe và đôi mắt đen với trí tuệ sắc bén và cuối cùng là một cách nhìn cay nghiệt về thế giới; Neil Herndon, Tử tước Seymour thấp và gầy hơn với mái tóc sáng như đồng nửa xu mới. Một lần Downe đã nói rằng Seymour quá bồn chồn và lo lắng tới mức chàng ta có thể làm một người chết phải co quắp lại.

    Ba chàng trai đã làm bạn đồng hành gần hai mươi năm trong suốt hai mươi tám năm cuộc đời và cả Downe lẫn Seymour vẫn chưa thực sự hiểu điều gì tạo nên cách cư xử của Alec Castlemaine. Đó là một trong số những điều ít ỏi mà hai người từng đồng ý với nhau.

    Họ biết Alec có thể ném ra một cú móc phải chết người mà trông như là chẳng gắng sức gì hơn đập một con ruồi. Họ biết không có con ngựa nào còn sống mà Alec không thể điều khiển với kỹ năng ma quỷ thông thường của chàng. Và họ biết bất cứ khi nào Alec mong muốn thứ gì đó, chàng sẽ theo đuổi và chiếm được nó với vẻ nhàn nhã mà kiên quyết. Công tước Belmore chỉ cần búng ngón tay và cả thế giới phải giật mình.

    Nhiều người phụ nữ đã cố gắng và thất bại trong việc chiếm được trái tim của Alec Castlemaine. Tất cả những gì họ nhận được cho nỗ lực của họ, không cần biết can đảm đến đâu, là một cái liếc nhìn cao quí. Richard và Neil là hai người gần gũi nhất với Belmore, và ngay cả họ cũng không thể khơi gợi ra thứ gì từ chàng ngoài một tình bạn lạnh nhạt.

    Ngay sau khi gặp nhau ở Eton, Bá tước Downe đã gánh vác một thử thách là khơi nên một vài phản ứng cảm xúc từ Belmore, và qua nhiều năm Downe đã cố gắng hết sức để phá vỡ bộ mặt lãnh đạm của ông bạn này.

    Tối nay không phải ngoại lệ.

    Alec dặn dò người xà ích và quay đi, chỉ để thấy đường đi của chàng bị chặn bởi một mụ già trông không lớn hơn cả một thằng nhóc mười tuổi nhìn rất đáng chú ý. Cái mũ rơm hung đỏ lôi thôi to gấp đôi mái đầu bạc của mụ, cái váy nhung xám tả tơi và cái khăn choàng xanh dương khoác hờ trên đôi vai nhỏ hẹp. Mụ già mang theo một cái giỏ mây chứa đầy những bông hoa tươi, và một bàn tay xương xẩu giữ một bó hoa nhỏ hoàn hảo gồm hoa thường xuân Anh quốc và hoa violet tươi tắn.

    “Một bó hoa đáng yêu to quí cô của nài chứ, thưa nài.”

    “Đức ông,” chàng sửa lại với giọng lạnh lẽo được biết là đã làm đóng băng nhiều người đàn ông bất hạnh ngay trong chiếc giày của hắn ta.

    Mụ già, dù vậy, không di chuyển. Mụ chỉ nhìn chăm chú vào chàng với đôi mắt xám nhăn nheo.

    Chàng di chuyển để bước vòng qua mụ, nhưng mùi hương mới mẻ ngọt ngào của những đóa hoa đã làm chàng dừng bước. Chàng ngừng lại một chút làm thing, ngẫm nghĩ, rồi rút lấy bó hoa và ném cho mụ già đồng xu, dự định sẽ đưa hoa cho Juliet tại buổi khiêu vũ ở nhà Linleys tối nay. Chàng bắt đầu đi về phía cánh cửa khi cảm thấy một bàn tay xương xẩu nắm lấy cánh tay.

    “To tôi một silinh nữa, Tức ông, tôi sẽ nói to nài vận mệnh của nài.”

    Chẳng quan tâm tới một điều ngu xuẩn như vậy, Alec gạt mụ ta ra, nhưng Tử tước Seymour – người nổi tiếng là chàng trai trẻ tuổi mê tín nhất trên đất Anh- đã ngăn chàng lại.

    “Lờ bà ta như vậy là điềm xấu đấy, Belmore.”

    Bá tước Downe ngẫu nhiên tựa lưng lên cánh cửa của câu lạc bộ, chặn lối đi lại một cách hiệu quả và khoác cánh tay khỏe mạnh lên cánh tay bị thương đang quàng dây đeo. Sau khi nhìn Alec, anh ta đút tay vào túi và ném cho mụ phù thủy một đồng nửa curon. “Tốt nhất là lắng nghe bà ta đi,” Downe nói với nụ cười hoài nghi. “Không cần mang bất kì điềm xấu nào lên cái tên Belmore tôn kính.”

    Alec tặng cho bạn chàng một cái nhìn thờ ơ, khoanh tay lại và đứng đó như thể chàng chẳng quan tâm về tất cả những thứ ngu xuẩn mà mụ già nói. Nhưng thậm chí chàng cũng khó mà trông buồn chán khi mụ ta bắt đầu nói dớ dẩn về đời sống tình cảm của chàng. Downe, mặc dù vậy, đang thực hiện một nỗ lực kém cỏi trong việc kiềm chế sự vui vẻ của mình, và Neil có vẻ như đang nuốt lấy từng lời của mụ phù thủy.

    “Nài sẽ không cưới cô gái mà nài to là sẽ cưới, tức nài.”

    Người đàn bà ngu ngốc, Alec nghĩ. Lời tuyên bố sẽ được đăng trên báo sáng mai. Quí cô Juliet Elizabeth Spencer, con gái của Bá tước và Nữ Bá tước Worth, sẽ cưới Alec Gerald Castlemaine, Công tước Belmore. Chàng đã cầu hôn. Quí cô Juliet đã chấp thuận, và những chi tiết tiền bạc về hôn nhân của họ đã được thương lượng vào chính lúc đó. Sau đó, thử thách tìm hiểu của Alec đã kết thúc.

    “Ai là người cậu ta sẽ cưới?” Seymour hỏi, liếc qua liếc lại giữa Alec và mụ già với vẻ lo lắng.

    “Cô gái kế tiếp nài gặp,” mụ nói với đôi mắt lóe lên thứ ánh sáng lạ lùng. Mụ giơ một ngón tay lên và thêm vào, “Cô ấy sẽ tó vài bất ngờ dành to nài đấy.”

    “Ta sẽ không nghe thêm bất cứ điều gì nữa.” Alec đẩy Richard đang cười toe toét ra và giật tung cánh cửa. Nhưng chàng vẫn nghe được những lời cuối của mụ già vượt qua vai.

    “Nài sẽ không bao giờ buồn chán nữa, tức nài! Không bao giờ.”

    Bước qua sàn gỗ tiền sảnh, đôi giày của chàng tạo ra một loạt tiếng vang sắc nhọn, Alec kéo đôi găng tay làm từ da bê của chàng ra với một tiếng soạt rõ ràng và đưa chúng cùng với cái mũ cho Burke, quản gia của câu lạc bộ, người lần lượt trao chúng cho một trong mười hầu bàn đang đợi để đưa áo khoác của các khách quí tới phòng cất đồ nơi chúng được làm sạch và hong khô.

    “Chào buổi tối, thưa Đức ông,” Burke nói, giúp Alec cởi chiếc áo bành tô của chàng ra và đưa chúng cho một người hầu khác. “Ngài thấy thế nào ạ?”

    “Cậu ta bực mình,” Downe châm chọc, giũ áo khoác ra khỏi cánh tay bị thương và để Burke giúp cởi ra bên kia.

    “Tôi hiểu.” Burke đáp lại với tông giọng thể hiện rằng ông ta chẳng bao giờ thấy gì, nhưng vẫn nói điều thích hợp bởi vì đó là công việc của ông. Ông cầm lấy áo của những chàng trai khác, tiếp đón họ với cùng cách đối đãi nghiêm ngặt mà tất cả các thành viên dòng dõi quí tộc của câu lạc bộ được nhận.

    “Không hiểu sao tôi không nghĩ ông hiểu,” Downe lẳng lặng nói, cố gắng đi theo Alec khi chàng sải bước dài như vận động viên lên cầu thang bằng cẩm thạch Florentine đến phòng tiếp khách chính.

    Seymour bắt kịp Downe. Nhìn theo bóng lưng rộng lớn của Alec anh ta nói thầm, “Cậu nghĩ cậu ta sẽ làm gì với tiểu thư Juliet?”

    Downe dừng lại và nhìn vào Seymour như thể anh ta đã để trí não cùng với áo khoác ở lối vào câu lạc bộ. “Cậu đang nói về cái quái gì vậy?”

    “Lời thông cáo. Cậu với tôi thừa biết cậu ta là người tán thành nhiệt liệt với khuôn phép mà. Cậu ta sẽ làm gì khi đám cưới không tiến hành, đặc biệt là sau khi kế hoạch của cậu ta đã đăng đầy trên các tờ báo?”

    “Đừng ngu ngốc hơn những gì cậu đã thể hiện chứ.”

    “Cậu nghe mụ già nói rồi đấy. Mụ ta nói Belmore sẽ không cưới Juliet. Hôm qua tôi đã nói với cậu tôi có cảm giác xấu về cuộc hôn nhân này khi Alce kể cho chúng ta thỏa thuận đã được thực hiện. Điều gì đó không đúng. Tôi có thể cảm thấy thế.” Seymour tạm ngưng và đập tay lên lồng ngực gầy gò. “Ở ngay đây.” Anh tặng cho Downe cái nhìn tin tưởng hoàn toàn.

    “Cậu cần phải ngừng ăn lươn ngâm giấm đi.” (T/N: Chẳng hiểu câu này ý là gì luôn T.T) Vị tử tước càu nhàu, tiếp tục bước lên cầu thang, dừng lại khi họ tới những cây cột cẩm thạch màu hồng ở đầu cầu thang. Anh quay sang đối mặt với bạn mình. “Cậu có tin tôi hay không cũng được. Cậu cứ đợi mà xem. Bất cứ khi nào tôi có cảm giác này thì điều gì đó kỳ quặc sẽ xảy ra.”

    “Không cô gái nào, huống chi là một người thông minh như Juliet Spencer, sẽ để Công tước Belmore trượt khỏi tay. Tin tôi đi Seymour, những gì mụ già đó nói đều tào lao cả,” Downe nói khi hai chàng trai bước vào phòng tiếp khách lớn, nơi Alec đang ngồi ở cái bàn quen thuộc, một người phục vụ đứng bên cạnh thấp thỏm chờ đợi trong khi chàng nếm thử rượu vang. Một cái gật đầu nhanh, thoáng qua từ Công tước Belmore và người phục vụ kín đáo biến mất.

    Với những người có cơ hội nhìn ngắm chàng, Alec là hình ảnh thu nhỏ của tầng lớp quý tộc Anh. Chàng mặc một cái áo khoác màu xám được cắt may thanh lịch, và bề rộng của vai chàng không phải nhờ tác dụng của đệm lót. Chiếc cà vạt trắng nổi bật được thắt với sự tao nhã tùy tiện mà thể hiện sự khéo léo tỉ mỉ của người valet tốt nhất trên đất Anh, cái quần ống túm màu da bò bó chặt lấy cặp đùi rắn chắc của một tay nài ngựa lão luyện và đôi chân dài của một người đàn ông có tầm vóc phù hợp với phẩm chất dòng dõi của chàng.

    Như thường lệ, quai hàm vuông vắn của chàng sít lại, ám chỉ bản chất bướng bỉnh của người Anh. Chàng có khuôn mặt điển trai, với xương gò má cao như người Norman và cái mũi chim ưng. Môi của chàng uốn cong kiểu cách thành một đường nét gợi tình mà khắc nghiệt chỉ ra rằng cuộc sống của người đàn ông này không có sự ủy mị, chàng ta có một trái tim lãnh đạm. Mái tóc của chàng, mặc dù đã từng là màu đen, giờ đây được dệt với màu xám bạc một cách hào phóng, một thực tế mà chẳng liên quan gì tới tuổi tác mà do sức mạnh của dòng máu Castlemaine.

    Trong bảy thế hệ gần nhất, các Công tước Belmore đều có mái tóc hoa râm trước ba mươi tuổi. Ngoài ra, tất cả đều kết hôn năm hai mươi tám tuổi, một truyền thống của Belmore, và sinh ra đứa con đầu – luôn luôn là nam và là người thừa kế - hết sức nhanh gọn. Người ta nói rằng số mệnh dường như để phục vụ cho Công tước Belmore. Và với Alec xem ra cũng không có gì khác biệt.

    Bá tước Downe ngồi sụp xuống ghế của mình. Seymour cũng ngồi xuống, bồn chồn với ly rượu rỗng trong khi giày của anh ta gõ một giai điệu bực mình lên chân bàn. Anh ta lẩm bẩm điều gì đó về định mệnh và số phận và Alec, mà không hẳn là theo thứ tự đó.

    Alec ra dấu cho người hầu rót đầy ly của Seymour. “Đây, uống rượu đi để đừng lẩm bẩm vớ vẩn nữa.”

    “Sao vậy, Belmore?” Downe hỏi, nhìn một cách ngây thơ vào ly của mình. “Lo lắng về tương lai hả?”

    Anh ta nhìn lên Alec, thực sự quan tâm tới bạn mình dù có đượm chút thích thú.

    Alec chầm chậm nhấm nháp từng hớp rượu.

    “Cậu ấy nên lo lắng,” Seymour nói. “Tớ đang lo này.”

    “Cậu đã lo đủ cho tất cả chúng ta rồi,” Alec thờ ơ đáp lại. “Tôi không lo vì chẳng có gì đáng lo cả. Cố vấn pháp luật của chúng tôi đã họp sáng nay để thống nhất việc dàn xếp cho đám cưới. Thông cáo sẽ được đăng trên báo sáng mai, và trong một tháng nữa tôi sẽ bị trói chân.”

    “Vậy thì các thỏa thuận sẽ rõ ràng, chính xác, được tiến hành trôi chảy. Đúng như cách cậu muốn mọi thứ được thực hiện. Downe hạ ly xuống và lắc cái đầu tóc vàng. “Tôi không biết cậu đã xoay sở thế nào. Quí cô Juliet Spencer là một Nữ Công tước Belmore tương lai hoàn hảo. Cậu lên thành phố, tham dự một buổi khiêu vũ, và trong hai phút cậu tìm thấy người con gái lý tưởng. Tôi sẽ nói cậu đã gặp may, nhưng lúc nào cậu chẳng may mắn.”

    Alec nhún vai. “Điều này không có gì liên quan tới may mắn.”

    “Vậy là cái gì? Sự can thiệp của Chúa trời?” Downe cười mỉa mai. “Có phải Chúa Trời đã truyền lời cho cậu không Belmore, giống như ngài đã làm với Seymour?”

    Seymour ngay lập tức phản pháo. “Tôi chưa bao giờ bảo Chúa Trời nói chuyện với tôi nhé.”

    “Vậy thì tôi đã đúng. Đó là do mấy con lươn ngâm dấm.”

    “Tôi đã thuê người,” Alec thừa nhận, khéo léo chấm dứt một trong những tranh cãi vớ vẩn của Downe và Seymour.

    Downe uống một ngụm rượu và đặt nó xuống. “Thuê người để làm gì?”

    “Để tìm một người phụ nữ hoàn hảo.”

    Cả hai chàng trai nhìn chằm chằm vào Alec hoài nghi.

    Chàng đặt ly xuống và tựa lưng vào chiếc ghế bọc nệm. “Tôi đã liên lạc với công ty quản lý hầu hết các hoạt động kinh doanh của tôi ở Luân Đôn. Họ đã điều tra và sau đó gửi cho tôi tên của Juliet. Thật vô cùng hợp lý.”

    Một khoảng lặng dài diễn ra trước khi cả hai người kia bắt đầu nói chuyện. Rồi Downe lặng lẽ nói, “Tôi đã tò mò làm thế nào cậu tìm ra cô ấy nhanh như thế trong đêm đầu tiên đó. Nhiều tháng nay tôi tự hỏi đó có phải do sự may mắn của nhà Belmore. Bây giờ tôi hiểu rồi. Cậu trả cho ai đó để tìm cho cậu một cô vợ.” Vị bá tước nhìn vào ly rượu trong một phút lặng lẽ. “Hiệu quả đấy Belmore, nhưng khá lạnh lùng.”

    “Một người nên suy nghĩ với cái đầu, chứ không phải nhờ bản năng.” Alec bình tĩnh nhấm nháp rượu của mình. “Lạnh lùng hay không, tôi không quan tâm. Tôi cần một người vợ, và đó có vẻ là cách đơn giản nhất để kiếm được một người. Một vụ buôn bán hời.”

    “Cũng may là cô ấy ưa nhìn,” Seymour bình luận. “Cậu có thể đã bị kẹt với Letitia Hornsby.”

    Như thể chỉ thốt ra cái tên cũng sẽ làm cô ta xuất hiện, Richard thình lình thấy không khỏe.

    “Tôi sẽ nhường cô ta lại cho Downe,” Alec nói, biết rằng Richard không thoải mái khi thảo luận về Letitia Hornsby, cô nàng quá mê muội Downe đến mức luôn theo đuôi anh ta như cái bóng. Chọc ghẹo bạn chàng về cô Hornsby là một chút trả thù nhẹ nhàng cho chuyện mụ già bên ngoài.

    Có Alec dẫn đầu, Seymour cười toe toét và thêm vào, “Đúng đấy. Dường như bất cứ chỗ nào có cậu, con chuột nhỏ Hornsby đấy cũng lởn vởn gần đấy.”

    “ ‘Lởn vởn’ không phải từ tôi sẽ sử dụng.” Downe xoa bóp cánh tay bị thương và cau có.

    Seymour bật cười và mắt Alec lấp lánh với sự thích thú vì cả hai người họ đã ở trong buổi khiêu vũ giáng sinh nhà Seftons khi Letitia Hornsby rơi khỏi một cái cây trong vườn và hạ cánh xuống Downe và người tình của anh ta, phu nhân Caroline Wentworth, hai người đang trong quá trình thực hiện những gì mà họ làm rất tốt. Con ranh con ngốc nghếch đó đã làm vai của ngài bá tước bị trật khớp.

    “Trên thực tế Letitia Hornsby không khó nhìn chút nào,” Seymour nói trong tiếng cười. “Cô ta chỉ cứng rắn trên cơ thể cậu thôi, Downe.”

    Sau một lời chòng ghẹo nữa của Seymour, Downe rõ ràng muốn đổi chủ đề quay lại với vẻ ngoài xinh đẹp của tiểu thư Juliet.

    Alec đặt ly rượu xuống. “Vẻ đẹp là một trong những yêu cầu trong danh sách của tôi.”

    “Còn cái gì khác trong cái danh sách đó nữa?” Downe hỏi.

    “Dòng dõi ưu tú, sức khỏe tốt, phong thái hòa nhã nhưng cũng có chút can đảm – những điều thông thường mà một người đàn ông muốn có ở vợ mình.”

    “Nghe như cậu đang mua một con ngựa.” Downe rót cho mình một ly rượu khác.

    “Tôi luôn nghĩ trình tự tìm hiểu của người Anh không khác nhiều với việc mua bán ngựa – chỉ là lâu hơn và tẻ nhạt hơn,” Alec trả lời, nhớ lại những chuyến cỡi ngựa trong công viên, những buổi khiêu vũ và hội hè chàng phải tham dự trong khi tán tỉnh Juliet. Theo chàng đó chỉ là sự phiền toái, một cách để thông báo cho hàng đống người thích thọc mạch chính xác ai đó đã có kế hoạch gì. “Almack hay buổi khiêu vũ ra mắt của mấy đứa con nít ranh có khác gì với đấu giá ở Newmarket? Ở mỗi mùa một lứa con gái mới được diễu hành trước mặt các người mua tiềm năng, và cậu kiểm tra dòng dõi, dáng đi, màu sắc, và trông có đủ tinh thần để giữ cậu khỏi buồn chán – giống như việc cậu sẽ làm trước khi mua một con ngựa. Một khi cậu đã tìm được con thích hợp, cậu mua và cưỡi nó.”

    Seymour sặc rượu và Downe cười lớn rồi hỏi, “Cậu kiểm tra răng của cô ấy chưa?”

    “Rồi, cả vai và cẳng chân nữa,” Alec thêm vào, không hở ra một nụ cười khi chàng nhặt lên cỗ bài. Downe và Seymour vẫn cười khúc khích khi chàng khéo léo chia bài.

    Một giờ sau bức thư đến.

    Một người hầu đứng bên trái Alec giữ cái khay bạc với một bức thư bằng da thuộc nằm ở giữa. Khi Downe chia bài, Alec tùy tiện mở lá thư, nhận thấy tên viết tắt của Juliet được ấn trên dấu sáp. Chàng trải ra và bắt đầu đọc:
    Alec thân mến,

    Em đã nghĩ em có thể làm thế, nhưng em không thể. Em đã nghĩ em có thể sống mà không cần tình yêu, vì cơ bản ngài là một người đàn ông tốt. Em đã nghĩ em có thể trao đổi niềm vui lấy tước hiệu. Em đã nghĩ em có thể sống thực tế và chọn sự giàu có thay cho hạnh phúc.

    Em không thể.

    Em nhận ra em không thể chịu đựng được cuộc sống vô vị của Nữ Công tước Belmore. Mặc dù ngài là một người đàn ông tốt, như em đã nói, với mọi thứ để sẵn sàng đề nghị, không có sự sống trong ngài, Alec.

    Ngài quá dễ đoán. Ngài làm những điều người ta mong đợi ở ngài bởi vì tầm quan trọng của ngài khi là Công tước Belmore. Cái tên Belmore quí giá luôn quan trọng nhất và trước hết trong cuộc sống của ngài. Em muốn nhiều hơn, Alec.

    Em muốn tình yêu. Và em đã tìm thấy. Mặc dù anh ấy chỉ là con trai thứ hai và là một quân nhân, anh ấy yêu em. Khi ngài đọc những dòng này em đã cưới người đàn ông trao cho em những điều đó.

    Em rất tiếc,

    Juliet

    Chậm rãi, với sự chính xác trầm lặng, Alec xé bức thư thành mảnh nhỏ và bỏ các mẩu vụn vào khay bạc. Chàng nhìn chằm chằm vào các bạn một lát, lơ đãng chà xát lên túi áo khoác, rồi đột ngột dừng lại, như thể chàng chợt nhận ra chàng đang làm gì và để tay trượt lên trượt xuống ly rượu. Chàng nói với tên đầy tớ, “Không hồi âm.”

    Nâng ly lên, chàng nhấm nháp rượu, như thể tin nhắn không quan trọng gì, rồi nhặt các lá bài lên và nhìn chằm chằm vào tay mình, đôi mắt xanh của chàng tối tăm và hơi hẹp hơn bình thường, quai hàm chàng sít chặt lại hơn trước.

    Chàng chơi ván đó và ba ván nữa trong im lặng lạnh lùng. Khi đến lượt Seymour chia bài, Alec yêu cầu giấy và bút. Khi chúng đến, chàng viết nhanh một bức thư ngắn, gắn nó bằng sáp và đóng dấu với nhẫn của chàng. Sau đó chàng lẳng lặng chỉ dẫn cho người hầu gửi bức thư cho tờ báo.

    Bạn của chàng quan sát với sự hiếu kỳ.

    Alec tựa lưng vào ghế, tay chàng chắp lại gần đường nét cứng rắn của miệng chàng trong suy ngẫm. Sau một phút tay chàng đi chuyển xuống phía dưới quai hàm. “Dường như con ngựa cái non có tinh thần hơn tôi nghĩ. Cô ta đã bỏ trốn. Tôi không còn hứa hôn nữa.”

    “Tôi đã biết mà!” Seymour đập tay lên bàn. “Tôi đã biết điều này sẽ xảy ra. Mụ già đó đã nói đúng.”

    “Tại sao?” Tất cả dấu hiệu của sự giễu cợt đã biến mất trên khuôn mặt của Downe, thay bằng sự ngạc nhiên.

    “Không có gì quan trọng. Ý nghĩ kì quặc của đàn bà.” Chàng không nói thêm, dù cả hai người bạn đang chờ đợi và quan sát. Công tước Belmore không thể hiện cảm xúc gì. “Chia bài đi.”

    Trong giờ tiếp theo, Alec chơi bài cẩn trọng và tàn nhẫn, giành chiến thắng mọi ván đấu với quyết tâm điềm tĩnh và kiên định của một công tước Belmore.

    “Không chơi nữa.” Downe quăng những lá bài vô dụng của anh lên bàn, và Seymour làm theo, nhìn với đôi mắt ghen tị vào đống mười lăm thẻ chip trước mặt Alec.

    “Bây giờ đi đâu?” Downe hỏi.

    Seymour đứng dậy, chống tay lên bàn và cúi xuống gần Alec hơn như để cảnh cáo.

    “Nhớ những gì mụ già đó nói không? Mụ ta nói cậu sẽ cưới cô gái tiếp theo cậu gặp.”

    “Đúng rồi. Sao không ghé thăm Letitia Hornsby, Belmore? Điều đó sẽ cứu tôi khỏi những thương tổn nghiêm trọng thêm nữa.”

    “Đây không phải trò đùa đâu,” Seymour nói với sự căm phẫn.

    “Dĩ nhiên là không, cậu ta là Công tước Belmore. Cậu ta có đùa giỡn về bất cứ điều gì đâu.”

    Alec bất ngờ đứng dậy. “Tôi đi đây. Các cậu có đi không?”

    “Đến đâu?” Họ đồng thanh hỏi, rồi theo sau chàng xuống lầu nơi họ mặc áo khoác lên.

    “Tới nhà nghỉ đi săn của tôi.” Alec kéo găng tay lên. “Tôi cần bắn thứ gì đó.”

    Đi theo những bước dài của chàng qua tiền sảnh, Downe quay sang tử tước. “Tôi không hiểu sao cậu ta muốn tới Glossop. Không có người phụ nữ nào trong vòng năm mươi dặm xung quanh nhà nghỉ của cậu ta.”

    “Nhớ điều mụ già đã nói với cậu ta không?” Seymour nói, vội vã theo kịp. “Tôi cá là cậu ta đi tới đó bởi không có người phụ nữ nào trong vòng năm mươi dặm. Chẳng lẽ cậu ta không biết là không thể thay đổi định mệnh sao?”

    Và họ theo Belmore bước ra cửa.

    ***

    Joy rối rít dậm mạnh lên tờ giấy đang cháy. “Beezle… Nhìn xem chị đã làm gì nè!”

    Nàng cúi xuống và nhặt mảnh giấy cháy xém lên, rồi đứng thẳng dậy, lúc lắc nó giữa hai ngón tay. Nó vẫn còn bốc khói, và góc dưới bên phải đã bị cháy hết.

    “Ôi lạy Chúa…” Câu nói của nàng nhẹ dần và giọng nàng hơi vỡ ra khi nàng nhìn chòng chọc vào tờ giấy bị cháy.

    Beezle nâng đầu lên từ mấy cái chân đen và nhìn Joy. Cặp mắt của chú ta đảo qua đảo lại giữa tờ giấy và khuôn mặt buồn bã của nàng.

    Nàng thả tờ giấy lên bàn và ngồi xuống cái ghế đẩu lung lay với tiếng thở dài thất bại, lắc đầu tự căm ghét bản thân. “Chị lại làm thế rồi.”

    Với một tiếng thở dài cam chịu, Beezle đứng dậy và núng nính vượt qua bàn, rồi trườn lên vai và quấn quanh cổ nàng. Sau khi đã ổn định, nó bắt đầu cào mái tóc xoăn màu nâu lỏng lẻo đã thoát khỏi búi tóc và đang ôm lấy cái cằm thanh nhã của nàng.

    “Chị phải làm gì bây giờ?” Nàng nhìn vào nó như mong đợi một lời khuyên. Nó ngừng chơi đùa với tóc nàng, đặt cằm lên vai nàng và thở khò khè. “Vậy là em cũng không có câu trả lời,” nàng nói, lơ đãng gãi cổ chú trong khi nhìn chăm chú vào tờ giấy. May là dì nàng đã rời đi hai giờ trước – rời đi với tất cả sự tao nhã và mau lẹ của một phù thủy MacLean. Joy không mất thời gian dài để thuyết phục bà MacLean chấp thuận chức vụ ở Mỹ. Nàng muốn làm như vậy và Joy sẽ không thể tự sống một mình nếu dì nàng bắt buộc bỏ lỡ cơ hội này bởi vì bà phải ở lại và đóng vai trò bảo mẫu cho cô cháu gái. Nàng đã hai mươi mốt – đủ lớn để có thể tự lập. Và nàng đã khám phá ra rằng dì nàng đã đúng: khi nàng tập trung – việc nhìn chằm chằm vào những từ trên tờ giấy đã có ích – nàng có thể thực hiện một số thần chú hiệu quả.

    Trước khi dì nàng rời đi, bà đã đứng phía trên Joy khi nàng sao chép câu thần chú sẽ gửi nàng đến nhà tranh ở Surrey. Bà MacLean cảnh báo nàng rằng những câu thần chú dịch chuyển cần đặc biệt tập trung. Dì nàng liệt kê một đống kỹ xảo để sử dụng trong khi Joy biến ra một bộ trang phục du lịch – cái mới nhất từ bộ đĩa dì nàng mua ở Paris. Joy ngờ rằng quần áo là bài kiểm tra cuối cùng, nhưng nàng đã vượt qua, có khả năng bởi vì nàng đã giữ cái nhìn chằm chằm vào mấy cái đĩa màu.

    Chỉ cần hơn hai cái búng tay nàng đã mặc vào bộ trang phục du lịch bằng len màu xanh lá liễu rất đáng yêu, một cái áo choàng lông quạ và đôi giày da bê ống ngắn màu đen. Trong tay nàng là một cái mũ lụa màu xanh rừng với ruy băng nhung xanh lá nhạt và giắt lông đà điểu tím đậm. Bộ quần áo đã thành công. Dì nàng mỉm cười phê chuẩn, hôn tạm biệt Joy và rời đi trong làn khói vàng lấp lánh.

    Rồi rắc rối của Joy bắt đầu. Để nhìn rõ hơn, nàng đã giữ tờ giấy ghi câu thần chú dịch chuyển chỉ hơi quá gần ngọn nến. Điều tiếp theo nàng biết là nó đang cháy. Giờ nàng ở đây, một thời gian ngắn sau, với một phần câu thần chú đã đi theo ngọn lửa.

    “Chị nghĩ có thể đọc được một số điều trong đó. Để chị xem nào…” Nàng vuốt phẳng tờ giấy trên bàn và nheo mắt nhìn vào chữ viết. “Tuyết … đi. Tốc độ … chú ý. Cửa … hmm. Chị có thể đọc được mọi thứ ngoại trừ dòng cuối. Chị chỉ nhớ được dường như nó có liên quan với tiếng chuông … hay đó là cái chuông?”

    Nàng phải đoán thôi. Nàng nhấc cái mũ khỏi bàn và đội lên, buộc ruy băng dưới cằm tốt nhất có thể với Beezle vẫn quấn quanh cổ nàng. Nàng vỗ nhẹ chú, nhặt tờ giấy lên, và nhìn lần cuối cùng vào phòng tháp, mái nhà của nàng trong suốt mười lăm năm qua, nàng bắt đầu đọc thần chú:

    Ôi, đêm tối huy hoàng mà che giấu ban ngày,
    Lắng nghe những gì tôi nói.
    Phù thủy không ủ mắt của sa giông,
    Chỉ nhìn trang phục du hành này.
    Tôi mặc nó không phải vì tuyết rơi
    Mà do tôi có nơi nào đó để đến.
    Đến Surrey thật xa với tốc độ đôi chân có cánh,
    Vì vậy xin lắng nghe lời gọi của tôi, xin chú ý.
    Khi đồng hồ điểm giờ,
    Chuông nhà thờ sẽ rung
    Dù thế đây không phải lúc để hát.
    Thay vào đó xin đưa tôi ra khỏi cửa,

    Và sau đó để bổ sung, hãy rung chuông nhiều hơn!
     
    Chỉnh sửa cuối: 14/5/17
    pony, kehuydiet, B-Mon and 5 others like this.
  3. lan anh vu

    lan anh vu Lớp 1

    Chương 3

    Alec tuyệt nhiên không biết cái gì đã đập vào chàng. Một phút trước chàng đang đi bộ trở lại xe ngựa từ cánh rừng rậm rạp ở bên con đường, và ngay sau đó chàng đã nằm ngửa ra, nhìn chòng chọc vào màn sương mù trắng xóa, một đống gì đó – ai đó – nằm phía trên chàng. Chàng cố gắng đẩy nó ra khỏi ngực chàng, dù đó là ai. Ai đó kêu ré lên. Một giọng thét của phụ nữ nếu như chàng từng được nghe thấy. Alec giữ lấy người phụ nữ… và tha thiết hy vọng cô ta không phải Letitia Hornsby.

    Người phụ nữ ngồi dậy với một tiếng thở hắt hồ hởi, đuổi đi chút hơi thở còn lại ra khỏi chàng. Chàng cũng ngồi dậy, để có thể thở. Nàng trượt vào lòng chàng, hai tay ôm chặt lấy vai chàng.

    “Ôi Chúa ơi!”

    Alec hít vào mấy hơi không khí đầy sương mù ẩm ướt và quay về phía nàng, thở ra nhẹ nhõm khi chàng thấy đó rốt cuộc không phải Letitia Hornsby, mà là một cô nàng da ngăm nhỏ bé hoạt bát với đôi mắt xanh lục mở to và lông mày dày sậm màu. Nàng có đôi má hồng hào, cái cằm quả quyết và cái miệng đầy đặn với một nốt ruồi nhỏ nhưng hấp dẫn ở ngay trên môi trên. Nàng là người phụ nữ nổi bật nhất mà Alec nhìn thấy trong nhiều năm, nhưng vào thời điểm đó, khuôn mặt hấp dẫn của nàng mang biểu cảm không khác gì một người mới bị quăng xuống từ một con ngựa hoang dã.

    “Tôi đang ở đâu đây?”

    “Phía trên Công tước Belmore.”

    “Belmore? ‘Nhiều chuông1’! Ôi, tôi-” Nàng bịt cái tay đeo găng che miệng và nhìn sang trái, rồi bên phải, nghiên cứu vùng xung quanh nàng, trước khi lẩm bẩm, “Nó hẳn phải là ‘tiếng chuông’”.

    “Gì cơ?”

    “Uhm… không có gì.”

    Alec dịch chuyển một chút.

    Tay nàng siết chặt lấy vai chàng, và nàng nhìn chăm chú vào chàng, mặt nàng chỉ cách chàng vài inch. Hơi thở của họ đông lại trong không khí lạnh lẽo. Không ai di chuyển. Trong một phút ngắn ngủi dường như chính thời gian đang rung động xung quanh họ. Chàng cứng người lại, hít một hơi thật sâu.

    Nàng có mùi hương trong lành của mùa xuân, với hương thơm thoang thoảng từ vài loài hoa. Chàng nhận thấy eo nàng nhỏ một cách đáng chú ý. Các đầu ngón tay chàng chạm nhau khi hai tay chàng ôm vòng quanh nó. Chàng nhìn xuống để thấy ngón tay cái của mình chỉ cách vài inch với bộ ngực uốn cong mềm mại của nàng. Chàng liếc lên và bắt gặp cái nhìn chằm chằm của nàng. Đôi mắt của nàng màu xanh lục, màu xanh sẫm thực sự. Đôi mắt ấy vương rất ít bụi trần, không cái nhìn lão luyện, không nhận thức về nhục dục, chỉ có sự ngây thơ mà Alec cá rằng mọi người phụ nữ Anh trên mười hai tuổi đều đánh mất.

    Cắt đứt cái nhìn chằm chằm của họ, nàng liếc vào đôi tay vẫn đang nắm chặt lấy vai chàng. “Ngài là một công tước?” Khi chàng gật đầu, nàng đỏ mặt và buông chàng ra. “Xin thứ lỗi, thưa Đức ông.”

    “Ta phải nói rằng tư thế của chúng ta chẳng liên quan gì tới sự duyên dáng2”

    “Ôi, lạy-”

    “Chúa,” Alec kết thúc giùm cho nàng. Nàng không nói gì. Thay vào đó, nàng hất mặt lên một chút và quan sát chàng với vẻ mặt mới.

    Thật kỳ quặc, chàng nghĩ. Chàng chắc chắn rằng đã từng thấy vẻ mặt đặc biệt đó trước đây, nhưng không thể nào nhớ được thấy ở đâu. Điều đó khiến chàng không thoải mái. Hơi ẩm từ đất thấm qua cái quần ống túm của chàng, một lời nhắc nhở ẩm ướt về nơi chàng đang ở. “Mặt đất rất lạnh,” chàng nói cộc lốc, khuôn mặt không thể hiện cảm xúc gì.

    “Ôi, lạy-”

    Chúa, Alec thầm hoàn thành giúp nàng và theo dõi khi nàng trườn ra khỏi lòng chàng và ngồi xuống đất. Chàng đứng lên và duỗi bàn tay đeo găng ra để giúp nàng đứng dậy. Ngay khi chàng kéo nàng đứng dậy, nàng kêu lên và mắt cá chân nàng khuỵu xuống. Chàng tóm lấy eo nàng trước khi nàng ngã xuống. “Nàng bị thương?”

    Nàng quắc mắt với chân nàng, rồi nhìn lên chàng và gật đầu, tiếp tục nhìn chằm chằm. Chàng bỏ qua ý nghĩ rằng cái nhìn của nàng là một sự tôn kính dành cho tước hiệu của chàng. “Xe ngựa của nàng đâu?”

    “Xe ngựa nào?”

    “Nàng không có xe?”

    Nàng lắc đầu, rồi nhìn quanh quất như thể bỏ quên thứ gì đó và bồn chồn vuốt ve cái viền lông chồn trắng trên cổ nàng.

    “Nàng có một mình?”

    Nàng gật đầu.

    “Nàng đến đây bằng cách nào?”

    “Tôi không chắc nữa. Tôi đang ở đâu đây?”

    “North Road”

    “Nó có gần Surrey không?”

    “Không. Surrey cách đây hơn một trăm dặm về phía nam.” Vẻ mặt nàng đã nói lên tất cả. “Ta nghĩ nàng đã bị lạc.”

    “Tôi tin là vậy.” Nàng không nói gì, chỉ nhìn chăm chú vào chàng với biểu hiện bối rối. Cho rằng cơn đau ở mắt cá chân đã làm mất đi sự sáng suốt của nàng, Alec tự giải quyết vấn đề.

    “Làm thế nào nàng đến được chỗ này?”

    “Chỗ này?”

    “Phải. Chỗ này.”

    Nàng chớp mắt nhìn chàng.

    “Đừng bận tâm,” chàng thở dài. “Nàng có thể nói với ta sau.” Với một chuyển động nhanh chóng, chàng đã bồng nàng trên tay. Chàng nghe thấy tiếng thở của nàng nghẹn lại trong cổ họng, và khi chàng di chuyển về phía xe ngựa nàng vòng tay quanh cổ chàng và từ từ ngả đầu lên vai chàng. Hơi thở nhồn nhột ấm áp của nàng dập dờn trên da chàng. Chàng liếc nhìn nàng lạnh lẽo, nhưng chỉ thấy hai mắt nàng nhắm lại. Chàng tận dụng lúc đó để đánh giá những đường nét của nàng một lần nữa. Hàng lông mi sậm màu của nàng, dày và có màu nâu như lông chim sẻ, dịu dàng thư giãn trên làn da nàng. Và làn da đó thật tinh khiết, tươi tắn và sạch sẽ. Trong trắng như ngọc trai. Chàng dừng lại giữa chừng, lấy làm lạ cái suy nghĩ quái quỷ đó đến từ đâu. Chàng hít một hơi thật dài và tiến về phía trước, quy cho phản ứng của chàng là do việc thiếu ngủ và uống quá nhiều rượu mạnh.

    Cánh rừng thưa hơn ở con đường nơi xe ngựa của chàng đang đợi. Chàng sải bước qua rừng cây dương xỉ ẩm ướt với sương mù và thấy Downe dựa vào cửa xe ngựa, nâng bình brandy bằng bạc lên môi. Không thấy bóng dáng của Seymour. Một tên đầy tớ di chuyển ra khỏi xe ngựa và vội vã đi về phía Alec, như để đỡ lấy cô gái. Alec lắc đầu và ra hiệu về phía xe ngựa. “Mở cửa ra, Henson. Tiểu thư này bị thương mắt cá chân.”

    “Chết tiệt nếu đó không phải cô ấy!” Giọng của Seymour vang lên từ bên trái chàng. Chàng có thể nghe thấy tiếng tắc nghẹn của Downe khi nuốt rượu.

    Alec cúi xuống xe ngựa và đặt cô gái vào trong, rồi quay sang Seymour đang trợn tròn mắt và ném cho anh cái nhìn với mục đích làm đông lạnh anh ta đến mức im lặng. Nó có hiệu quả, và chàng bước lên xe ngựa ngồi xuống cạnh cô gái. Downe theo sau và ngồi đối diện nàng. Alec liếc về phía anh ta. Ngài bá tước đánh giá cô gái và hình như thích thú với cái anh ta nhìn thấy, bởi vì anh ta trao cho nàng nụ cười tôi-là-kẻ-phóng-đãng tốt nhất của anh ta. Alec liếc về phía tử tước, người đang theo dõi nàng với cái nhìn của một người đứng trước thiên thần Gabriel. Không phản ứng nào phù hợp với chàng.

    Chàng quay sang người đầy tớ đã xếp những bậc thang lên xe ngựa và nói, “Dừng lại ở quán trọ kế tiếp.” Trong vài giây chiếc xe ngựa vội vã lao vào sương mù. Chàng với tay vòng quanh cô gái và bật đèn xe, rồi ngả người lại và quan sát nàng. Môi nàng di chuyển nhưng không có âm thanh nào thoát ra.

    “Đây là người đó,” Seymour thì thầm. “Hãy tin tôi. Tôi có thể cảm nhận nó từ trong xương.” Anh ta bồn chồn nhìn từ cô gái đến Alec, rồi quay lại với cô gái. “Nàng là cô ấy.”

    Nàng nhìn vào Seymour, rồi Downe, rồi quay lại Alec, và với mỗi cái nhìn sự hoảng loạn dâng lên trong mắt nàng. Ngồi cứng đờ sợ hãi, nàng không trả lời mà nhìn chằm chằm vào hai bàn tay. Trong một chốc chàng tự hỏi có phải nàng đang cầu nguyện, và suy nghĩ đó chạm tới sự quan tâm mơ hồ nào đó mà chàng đã đánh cược một ngàn pound rằng không hề tồn tại trong chàng.

    Cô gái đang sợ hết hồn. Alec cố gắng trấn tĩnh nàng. “Đừng lo-” nàng nhắm mắt và lẩm bẩm điều gì đó- “cô bé, chúng ta-”

    Nàng búng ngón tay.

    Có một tiếng hét kinh hoàng. Chiếc xe ngựa thắng gấp để ngừng lại. Alec đẩy chân chống lại ghế đối diện để trụ người lại và chộp lấy nàng để giúp nàng khỏi bay vào Downe. Nàng mở choàng mắt và cắn môi dưới, trông choáng váng và khiếp sợ.

    Chàng thả nàng ra, nghĩ rằng chàng có thể đã ôm nàng quá chặt. “Nàng bị đau à?”

    “Không.” Giọng nói của nàng vỡ ra, và nàng lập tức nhìn vào bàn tay với vẻ mất tinh thần. Nàng lại nhắm mắt và thì thầm gì đó.

    Cô bé tội nghiệp này thực sự đang cầu nguyện. Chàng liếc nhìn bạn chàng để đánh giá phản ứng của họ và nghe tiếng búng tay của nàng lần hai.

    Một tiếng răng rắc lớn truyền qua không khí, tiếp theo là một tiếng hét khác và một tiếng thịch chấn động. Nghe như trời vừa sập xuống.

    Chàng giật cánh cửa và gọi những người hầu. “Chuyện gì vậy?”

    Henson chạy tới, sự choáng váng hiện ra trên mặt anh ta. “Cả nửa khu rừng xuất hiện trên đường, thưa Đức ông. Điều kỳ lạ nhất mà tôi từng được thấy… cây đổ như lính bị thương ấy.” Anh ta giơ tay lên và gãi đầu. “Và không hề có gió, thưa Đức ông.”

    “Để ý mấy tên cướp đường.” Alec mở một ngăn nhỏ gần chỗ ngồi của chàng và lấy ra một khẩu súng lục.

    “Không có một bóng người nào cả, thưa Đức ông. Người cưỡi ngựa mở đường đã kiểm tra.” Henson ra hiệu về phía khu rừng với khẩu súng lục của anh ta.

    Alec đưa vũ khí cho Downe và Seymour, bảo họ ở lại với cô gái, rồi mang theo vũ khí rời khỏi xe ngựa. Alec nhìn một lượt khu rừng xung quanh và không thấy gì ngoài đám cây cối đang mắc kẹt với lớp sương mù thần bí. Chàng đứng đó lặng im trong giây lát, lắng nghe sự chuyển động. Không có gì hết. Chàng đi tới chỗ người đánh xe đang xem xét con đường chất đầy cây gỗ và một người đầy tớ khác xoa dịu mấy con ngựa bị hoảng sợ.

    Ít nhất mười lăm cây gỗ trăn giống như những cây cột bị đổ nằm chắn ngang con đường, nhưng không có sự di chuyển hoặc âm thanh đáng ngờ nào đến từ những cây gỗ đang xếp đầy đường.

    “Ôi lạy Chúa!”

    Alec nhanh chóng học cách ghét cụm từ đó.

    “Ôi không! Tôi nghĩ tôi đã nói ‘sửa đổi’, không phải ‘gỗ trăn3’!”

    Chậm chạp chàng quay lại để thấy cô gái vươn ra ngoài xe ngựa và nhìn trừng trừng vào những cây gỗ chắn ngang đường với biểu hiện kinh hoàng trên khuôn mặt. Nàng liếc nhanh về phía chàng, dường như nuốt nước bọt và biến mất vào bên trong còn nhanh hơn thời gian đủ cho một nhịp thở. Một lát sau Downe và Seymour bước xuống xe ngựa và đứng cạnh chàng đánh giá vấn đề.

    “Có mười lăm cây tất cả,” ngài tử tước thông báo.

    “Đấy là điều tôi ngưỡng mộ về cậu, Seymour. Cậu có một năng lực lạ lùng là tuyên bố những điều hiển nhiên,” ngài bá tước nói.

    “Có khi nào cậu thấy mười lăm cái cây trên đường chưa? Đó không phải điều ai đó thấy thường xuyên đâu.”

    Tử tước đi tới cái cây bị đổ đầu tiên và nhìn lên. “Không phải do gió quật.”

    Downe kiểm tra gốc cây gần nhất. “Không phải bị chặt. Trông như nó chỉ đổ xuống.”

    “Tôi có cảm giác xấu về điều này,” Seymour nói, cái nhìn của anh bắn qua trái, rồi qua phải, như thể anh ta mong chờ phần còn lại của khu rừng đổ sập xuống.

    “Lại tới nữa rồi.” Downe nói, tựa một chân đi bốt lên gốc cây bị gãy. “Bài diễn văn về số phận và u ám của Seymour. Cậu sẽ quy tội điều này cho cái gì? Tiên? Quỷ lùn? Bóng ma? Phù thủy?”

    Một tiếng thở hắt kinh hãi vang lên đằng sau họ, và cả ba chàng trai quay lại. Cô gái ngó ra từ chiếc xe ngựa, mặt tái đi.

    “Giờ xem cậu đã làm gì nè, Downe. Cậu dọa vợ tương lai của Belmore sợ hết hồn rồi!”

    Seymour chạy về phía nàng.

    “Có phải cậu ta vừa gọi con nhóc đó là cái tôi nghĩ cậu ta đã gọi?” Alec nhìn chằm chằm vào lưng Seymour đang rút lui.

    “Cậu nghe rồi đấy. Cậu ta tin vào tất cả những điều vớ vẩn đó. Đây, uống một ít Little Emperor đi. Giúp đỡ lạnh và chịu đựng Seymour tốt hơn.” Anh ta đưa ra chai brandy. “Nếu cậu uống đủ thứ này, thậm chí cậu ta có thể bắt đầu có lý đấy.”

    “Người nhà Seymour không được biết tới nhờ sự khôn ngoan và nhạy cảm.”

    Downe khịt mũi cười nhạo báng và nhét chai brandy vào tay Alec. Alec nhìn vào chai rượu nghiền ngẫm, rồi quay lại nhìn vào chiếc xe ngựa Seymour vừa mở cửa.

    Alec sải bước tới xe ngựa, bước lên phía trước Seymour. “Tôi sẽ chăm sóc cô ấy.” Giọng chàng không cho phép tranh cãi. Seymour nhìn chàng, liếc về phía cô gái, rồi nở mỉm cười hiểu biết giúp anh nhận được một cái nhìn lạnh lẽo với ẩn ý rõ ràng.

    Seymour nhanh chóng bước ra xa xe ngựa.

    Alec ngả vào trong và thấy mặt cô gái tái nhợt, vì thế chàng cho rằng mắt cá chân nàng bị đau nghiêm trọng hoặc nàng dễ bị hoảng sợ như một cô gái ngây ngô. “Nó có đau không?”

    Nàng ngây ra nhìn chàng. “Cái gì cơ?”

    “Mắt cá chân của nàng,” chàng giải thích với sự kiên nhẫn ngược với cảm giác hiện tại của chàng.

    Nàng nhìn xuống chân. “Ồ… vâng, mắt cá chân của tôi.”

    Alec coi đó như lời xác nhận, mặc dầu dường như nàng đang nghĩ về điều gì đó khác hoàn toàn. Chàng vươn tới ngăn để súng và lấy ra một cái ly nhỏ. Chàng rót đầy nó với rượu brandy của Downe và đưa cho cô gái. “Đây, cô…” Alec ngừng lại và cau mày.

    “Hay là bà?”

    “Đó là cô.”

    “Ai?”

    Tôi?”

    Alec hít một hơi dài. “Tên nàng là gì?”

    “Joyous Fiona MacQuarrie,” nàng nói, không nhìn vào chàng, nhưng làm váy nàng rung nhẹ trước khi tựa lưng thư giãn trên ghế.

    Chàng gật đầu. “Người Scot. Điều đó giải thích tại sao.”

    Khi đó nàng nhìn vào chàng. Chàng đặt cái ly vào tay nàng. “Cầm lấy. Uống từng hớp. Nó sẽ giữ nàng ấm áp trong khi bọn ta dọn đường. Ta nghi nó sẽ mất một lúc.” Khi nàng do dự, chàng ra lệnh, “Uống đi.”

    Nàng nhanh chóng nâng ly lên môi và uống một hớp, rồi nhăn mặt và chun mũi.

    “Tin ta đi. Nàng sẽ cảm thấy tốt hơn.”

    Nàng hít một hơi thật sâu, hình như để chuẩn bị cho thử thách sắp tới, rồi hớp một ngụm nữa, cau mặt và nuốt chửng như thể nàng đang nuốt những tội lỗi nặng cả tấn. Mất một vài phút trước khi nàng ngừng ho và lần nữa nhìn vào chàng, mắt nàng đẫm nước, nhưng khi mắt họ gặp nhau chúng trở nên mơ màng với cùng biểu hiện kỳ lạ mà quen thuộc đó.

    Chàng vẫn không thể nhớ được cái nhìn ấy, nhưng chàng biết một điều chắc chắn: nó làm chàng hết sức bức bối. Chàng đóng cửa xe ngựa và đi trở lại chỗ những cái cây đổ với Seymour theo sau như một con chó săn lo lắng.

    “Cô ấy phải là người đó.” Seymour nói nhanh. “Đó là định mệnh. Tôi biết mà.”

    Alec dừng lại và quay sang bạn chàng. “Cậu thực sự tin rằng tôi sẽ giữ một người hoàn toàn xa lạ và làm cô ta trở thành Nữ Công tước Belmore?”

    “Dĩ nhiên cậu ta sẽ không,” Downe nói, gia nhập với hai chàng trai vừa kịp lúc để nghe bình luận của Seymour. “Xét cho cùng thì cậu ta vẫn chưa điều tra gia cảnh của cô ta. Phải không, Belmore? Cô ta có thể không phù hợp làm một nữ công tước. Ngoài ra, cậu biết có khi nào Belmore đây làm bất cứ điều gì mà không lập kế hoạch đến từng chi tiết?”

    Lưng Alec trở nên thẳng tắp.

    “Chuyến đi tới nhà nghỉ đi săn của Belmore này không được lập kế hoạch.” Seymour bật lại với vẻ đắc thắng.

    “Hai cậu đã xong chưa? Chúng ta có nhiều việc cấp bách hơn trêu tức lẫn nhau hoặc cố gắng kéo tôi vào một trong những cuộc cãi cọ của các cậu.”

    "Dù sao cũng chưa bao giờ hiệu quả,” Seymour lẩm bẩm.

    Alec cho họ cái nhìn cao quí tốt nhất của chàng – cái nhìn thường làm mọi người im thin thít trong thời gian ngắn và với người hầu thì gấp đôi thời gian. Chàng liếc cái bình vẫn được nắm chặt trong tay chàng, và bị cám dỗ uống một ly, một phản ứng rất con người khi xem xét các sự kiện trong ngày. Nhưng Công tước Belmore lấy làm kiêu hãnh về bản thân khi không nhượng bộ với phản ứng của con người. Chàng đưa cho Downe cái bình và quay sang những người đầy tớ của chàng – hai người hầu, một người cưỡi ngựa mở đường và người đánh xe – họ đang cố gắng di chuyển cái cây đổ đầu tiên. Những cái cây gỗ tươi và ướt đẫm, đủ nặng để cần xử lý đặc biệt. Chàng cởi áo khoác và ném nó tới gần chân của Downe. Seymour làm theo trong khi Downe, người có cánh tay bị thương nên không thể giúp đỡ, đứng gần đó đưa ra những bình luận láu cá về số phận và định mệnh và về tính dễ đoán của Công tước Belmore.

    Nửa giờ sau, đã chịu đủ miệng lưỡi vặn vẹo của Downe, Seymour đề nghị anh ta và Alec đóng một thân cây vào cái miệng tào lao bực mình của ngài bá tước.

    Alec không trả lời. Trong đầu chàng vẫn ngẫm nghĩ về lá thư của Juliet có cũng chứa cùng một từ không hay ho gì mà Downe vô tình sử dụng: dễ đoán.

    Trong suốt hai mươi tám năm qua, Alec đã nghĩ cách cư xử của chàng không nghi ngờ gì là phù hợp và hợp lý đối với một người đàn ông có tầm quan trọng như chàng. Cuộc sống không hề đơn giản đối với tầng lớp quí tộc Anh, và tước hiệu càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Ít nhất đó là điều Alec được nuôi dạy để tin tưởng. Nó được nhồi vào đầu chàng lặp đi lặp lại rằng bổn phận của công tước là quan trọng nhất. Truyền thống của Belmore, cái tên đáng kính trọng, những tiền lệ chàng giữ vững bởi những hành động của mình – là những điều quan trọng.

    Chàng giữ quyền uy nhưng hiếm khi mất bình tĩnh. Chàng đã học được ở độ tuổi rất trẻ rằng một Công tước Belmore không thể hiện cảm xúc. Một công tước không cần la hét do đó sẽ không la hét. Trong cuộc đời chàng không có chỗ cho sự điên rồ, và điều đó ổn với chàng; cách cư xử của chàng tuân theo tục lệ, logic, địa vị xã hội và những truyền thống tồn tại từ những thế hệ cũ. Tổ tiên của chàng đã sống theo cách đó, và bây giờ chàng cũng vậy, và đó là niềm kiêu hãnh tối cao đối với chàng.

    Nhưng dễ đoán? Vô vị? Đó không phải những tính cách mà chàng ưa thích, không thích thú gì hơn sự bẽ mặt khi mất đi Juliet. Chàng liếc vào chiếc áo khoác đang nằm trên một thân cây gần bá tước. Trong túi áo là một giấy phép đặc biệt chàng yêu cầu từ nhân viên với sự chuẩn bị kỹ càng mà xứng đáng với danh tiếng của chàng. Hôn nhân với giấy phép đặc biệt có nhiều thứ hơn sự cám dỗ quí phái của nó. Đám cưới của chàng phải là một buổi lễ kín đáo với hai nhân chứng. Điều đó hấp dẫn chàng vì những buổi lễ như vậy sẽ riêng tư và tiện lợi. Sự phù phiếm của một đám cưới khổng lồ là điều chàng sẽ không áp dụng.

    Tuy nhiên hiện giờ giấy phép đó chỉ như lời nhắc nhở rằng chàng đã bị bỏ rơi. Một làn sóng nhục nhã lạnh lẽo lướt qua chàng. Tâm trí chàng lóe lên sự tò mò bức bối về điều mà anh lính quèn của Juliet có thể đưa ra so với chàng. Trong lá thư Juliet nói cô ấy muốn tình yêu. Tình yêu. Chàng đã thấy những gì tình yêu có thể làm. Chàng đã thấy những người đàn ông bắn vào nhau nhân danh tình yêu. Chàng đã thấy những người có lý trí, hoàn toàn lành mạnh suy sụp như bánh mì cũ dưới danh nghĩa của thứ cảm xúc khó nắm bắt mà chàng chắc chắc là sự tưởng tượng hoặc điên rồ.

    Đã có một thời, rất lâu trước đây, khi chàng cũng có suy nghĩ rằng tình yêu là điều kỳ diệu. Chàng nhớ mình đã đứng trước dáng người cao lớn cứng rắn của cha chàng, hình dáng vững chắc như đá tảng đối với một cậu bé năm tuổi. Chàng đã buộc mình phải ngước mắt lên và nhìn vào đôi mắt của cha chàng. Họ có đôi mắt giống nhau, khuôn mặt giống nhau, chảy cùng một dòng máu Castlemaine. Tay chàng trở nên ẩm ướt và chàng muốn chùi chúng lên đùi, nhưng chàng kìm lại, nhớ rằng một hầu tước và một công tước tương lai không làm những điều như vậy. Chàng phải hít sâu để những từ ngữ thoát ra khỏi cổ họng khô khốc của chàng. Rồi chàng đã làm điều đó, nói với cha rằng chàng yêu ngài, nghĩ với sự ngu dại của trẻ con rằng đó là cụm từ ma thuật có thể nhận được sự tán thành. Thay vào đó nó nhận được cơn giận dữ lạnh lùng.

    Tình yêu. Chàng nhìn nó theo cách một người vô thần nhìn lên một cây thánh giá. Từ đó chỉ có ý nghĩa đối với những tên ngốc theo đuổi nó.

    Chàng cố nhấc một thân cây nặng với sức mạnh từ sự giận dữ và thất vọng mới xuất hiện. Sương mù trong khu rừng tăng thêm trong vài phút qua, trở nên thậm chí còn ẩm ướt hơn. Sương bám lên mái tóc với những vệt bạc của chàng và nhỏ thành dòng chậm chạp xuống thái dương chàng. Chất ẩm tương tự nhỏ xuống như nước mắt trẻ con từ trên lá cây, rải lên mặt đất và lên những người đàn ông đang dọn đường. Chuyển động của ngài công tước trở nên máy móc, quen thuộc, và chàng đứng thẳng hơn, cứng rắn hơn, chìm đắm trong những suy nghĩ tối tăm và lòng kiêu hãnh bị tổn thương. Không bao lâu sau, đôi mắt xanh dương của chàng trở nên lạnh giá với sự khinh miệt sinh ra từ sự thật là Công tước Belmore không biết gì về cái thứ khó nắm bắt mà được gọi là tình yêu.

    ***

    Joy ngồi thụt vào trong xe ngựa, trí tưởng tượng của nàng đang trôi nổi không phải với hình ảnh ngôi nhà tranh ở Surrey mà là khuôn mặt điển trai của chàng công tước tóc bạc.

    Nàng thở dài. Một công tước. Tin được không. Tước hiệu của chàng chỉ đứng dưới một hoàng tử. Họ là những chàng trai trong truyện cổ tích và trong mộng của những cô gái. Chỉ cần nghĩ tới chàng, nàng đã cảm thấy một cơn sốc chạy qua người, cùng cơn sốc mà sự đụng chạm của chàng gây ra. Đó là điều kỳ quặc nhất – như thể nàng thực sự bị bỏ bùa.

    Đây là mộng tưởng thành sự thật. Chàng đã bồng nàng như một hiệp sĩ dũng mãnh thời xưa. Nàng cắn môi để nín lại tiếng cười rúc rích thích thú nhỏ xíu. Dù vậy nó vẫn thoát ra. Lưng nàng vẫn râm ran cảm giác cánh tay chàng đỡ lấy khi chàng mang nàng qua khu rừng. Mùi hương mờ nhạt của thuốc lá vương lại trên quần áo của chàng, và hơi thở chàng ấm áp và thơm mùi rượu khi mặt họ chỉ cách hơn chút xíu so với một nụ hơn. Và mắt của chàng - đôi mắt của một người đàn ông có trái tim mong mỏi một chút xíu ma thuật.

    Nàng đã không được bồng trên tay của một người đàn ông kể từ khi nàng còn đứa trẻ bé xíu trong vòng tay của cha nàng. Đó là một trong số vài ký ức mà nàng nhớ về cha mẹ, hai người đã mất từ lâu. Nhưng điều này khác xa với ký ức của nàng. Khi ngài công tước bồng nàng, nàng cảm thấy như những chú ong mùa xuân đang di chuyển thành bầy trong dạ dày, và mùi hương từ chàng làm đầu nàng quay cuồng. Thật kỳ quặc, nhưng trong vòng tay chàng nàng cảm thấy nhẹ bẫng và tự do như những dải ruy băng trong làn gió. Khi nàng nhìn vào mặt chàng, nàng thấy điều gì đó lạ lùng, say đắm, như là thứ gì đó trong nàng đang gọi chàng. Đó là một cảm xúc kỳ lạ thậm chí đối với một phù thủy – một phù thủy trên thực tế cần phải đến Surrey.

    Nàng thở dài hối tiếc và giũ sạch sự mơ mộng. Nàng cần phải tập trung vào ma thuật, không phải vào sức mạnh của chàng công tước đẹp trai, cảm giác thế nào khi chàng bế nàng, tự hỏi sẽ thế nào nếu chàng ôm nàng vào ngực và hạ môi chàng lên môi nàng…

    Beezle khịt mũi trong giấc ngủ, làm nàng quay trở lại thực tại. Nó quấn quanh cổ nàng như một một bộ lông thú và, như thường lệ, tuyệt không giúp đỡ tí nào trong việc sắp xếp câu thần chú. Tập trung, nàng nói với bản thân, tập trung nào. Không mơ màng nữa, Joyous!

    Dĩ nhiên mơ màng cung cấp lối thoát dễ dàng cho ai đó không biết phải làm gì nữa. Và mơ màng thì an toàn hơn, vì chắc chắn nàng sẽ phải hứng chịu thảm họa. Nàng đã làm mất mảnh giấy chứa câu thần chú dịch chuyển– dẫu không phải là nó rất có ích cho nàng, với phần dưới bị cháy. Không nghi ngờ gì nó đang nằm trên sàn phòng tháp. Nàng đã cố gắng viết lại câu thần chú, dựa vào trí nhớ mù mờ của nàng, dùng “những tiếng chuông” thay cho “cái chuông,” nhưng rõ ràng nàng đã đoán sai. Kết quả là mười lăm cái cây ngã xuống chặn ngang con đường. Một phù thủy trắng được cho là hòa làm một chứ không phải gây ra sự tàn phá lên tự nhiên. Nàng nhấp nhanh lấy một ngụm rượu mạnh mà chàng công tước đã đưa cho nàng.

    “Và họ nói rằng phù thủy pha chế những thứ xấu xa,” nàng lẩm bẩm, chắc chắn rằng một mẻ ủ cánh dơi đốm và mắt sa giông sẽ có vị giống như độc dược này. Nàng uống một ngụm nhỏ khác, nghĩ rằng nó có thể là thứ gì đó người ta phải trở nên quen thuộc. Nó vẫn có vị kinh khủng và không giúp làm giảm cảm giác là lần này nàng đã thực sự làm rối tung mọi thứ. Nàng không chắc làm thế nào tự cứu mình trong tình trạng này, và khi nàng nghĩ về công tước, nàng không chắc nàng muốn được giải cứu.

    “Beezle!” Nàng lấy khuỷu tay thúc con chồn một cái. “Dậy đi nhóc, đồ lười biếng.” Suy nghĩ tích cực lướt qua tâm trí nàng rằng có lẽ con chồn có thể trở thành một hầu cận có ích một cách kỳ diệu. Dĩ nhiên chú ta phải tỉnh giấc để có thể hữu dụng. Nàng lại thúc nó. Nó thở khò khè và co rúm lại, rồi quàng chân xuống qua vai nàng và ngủ lại.

    “Vô dụng. Hoàn toàn vô dụng.” Nàng thở dài, lơ đãng gãi cái đầu của nó đang rúc trong viền cổ áo choàng của nàng, và nhìn trừng trừng vào ly brandy trên bàn tay còn lại và cau mày. Nàng di chuyển về cửa xe và mở ra, cẩn trọng không dồn tí trọng lượng nào lên mắt cá chân đang đau nhói của nàng. Những người đàn ông đang bận rộn dọn đường, vì vậy với một cái vẫy nhanh của cổ tay nàng hất brandy vào đất bùn. Nàng bắt đầu kéo cánh cửa đóng lại, nhưng không thể cưỡng lại và lén lút liếc trộm lần nữa vào những người đàn ông, đặc biệt là ngài công tước.

    Như thể mắt nàng bị thu hút về phía chàng, và chỉ cần nhìn thấy chàng là một sự ngọt ngào kỳ lạ chảy qua nàng. Chàng đã cởi áo khoác và đứng trên một đầu của cái cây, chỉ đạo những người đàn ông. Vai của chàng rộng như đất vùng cao nguyên, phần hông hẹp và đôi chân dài và mạnh mẽ. Tư thế của chàng hết thảy đều quyền uy và quả quyết. Chàng dường như biết chính xác phải làm gì và cách hiệu quả nhất để thực hiện. Những người đàn ông di chuyển dễ dàng, không cần gắng sức. Họ tuân theo chỉ dẫn của chàng và đã di chuyển được một nửa số cây. Chàng có quyền lực và trí tuệ. Chàng bước vào ngay và giữ quyền kiểm soát – một tính cách nàng hết sức ghen tị, xét cho cùng nàng chẳng kiểm soát bản thân được bao nhiêu.

    “Cháu không kiểm soát được vì không tập trung, Joyous!” Lời nói của dì nàng ập trở lại với nàng – một dấu hiệu chắc chắn là nàng nên lưu ý tới ma thuật của nàng chứ không phải người anh hùng tưởng tượng của câu chuyện cổ tích trong tâm trí nàng.

    Ném cái nhìn nuối tiếc cuối cùng vào công tước, nàng dựa lưng vào ghế và mặt nhăn nhó với nỗ lực nhớ lại. “Giờ thì câu thần chú đó là gì?” nàng lẩm bẩm. “Tốc độ… lưu ý. Cửa…sàn nhà? Không… buồn chán? Không. Lõi? Cho? Máu? Ho- oái!” Nàng lấy tay bịt miệng. Nàng biết từ đó không có trong câu thần chú. Nàng đã nói gì nhỉ? “Học vấn? Nhiều hơn?” Đúng rồi! “Rung chuông nhiều hơn.” Nàng đã biết điều đó bị sai. Sự lựa chọn từ ngữ đó đã gửi nàng tới North Road với Công tước Belmore thay vì một căn nhà ấm cúng ở Surrey. Lựa chọn tuyệt làm sao… Nàng gõ nhịp ngón tay lên chỗ tựa tay trên ghế.

    Làm thế nào để nàng thoát khỏi tình thế này? Nàng là một phù thủy. Nàng nên hành động như một phù thủy. Nàng sẽ tạo ra thần chú của chính mình. Khuôn mặt nàng nhăn lại vì suy nghĩ. Một phút sau nàng đã nghĩ tới câu thần chú của mình:

    Ôi, hãy lắng nghe tôi,
    Tôi khẩn thiết muốn một sửa chữa.
    Hình như thần chú của tôi không hòa hợp.
    Vì vậy vui lòng giữ chú ý, và với tốc độ đúng,
    Với sự nhanh chóng
    Gửi tôi đến Surrey!


    Nàng hít một hơi dài và niệm to ra.

    Một tiếng răng rắc lớn vang lên rõ ràng, tiếp theo là tiếng la hét của vài người đàn ông. Một tiếng thịch nữa, rồi một tiếng nữa, và một tiếng nữa. Chậm chạp, với linh cảm khiếp sợ và hai bàn tay che mắt, nàng sợ sệt di chuyển về cửa xe và liếc trộm qua các ngón tay. Ba cái cây nữa nằm trên đường và những người đàn ông, bao gồm cả ngài công tước đang ăn vận hoàn hảo, đều bị bắn tung tóe với bùn và đất bẩn. Họ trông không hài lòng tí nào. Thậm chí chàng trai tóc vàng cao ráo với cánh tay bị thương bị bùn bắn vào và cái người trông bồn chồn, lo lắng đang nhìn lên trời như thể anh ta dự kiến trời sẽ sập xuống bất cứ lúc nào.

    Cái nhìn của nàng trôi dạt về phía công tước. Chàng ra lệnh ngay lập tức và muốn những người đàn ông kiểm tra tất cả những cái cây gần đó. Kiểm soát tình huống trong tay chàng. Giọng nói của chàng có thể nghe rõ hơn những người khác. Nó sâu và mạnh mẽ, một giọng nói đầy sức mạnh. Tâm trí nàng lóe lên với ý tưởng kỳ diệu là với giọng nói hay và khỏe mạnh, Công tước Belmore sẽ làm nên một pháp sư tuyệt vời.

    Nàng mơ màng ngắm một lúc lâu hơn, rồi thở dài và kéo cánh cửa đóng lại trước khi trượt lại về cái góc ấm áp của nàng và nâng chân bị thương lên ghế đối diện. Tựa lại lên những cái nệm xa hoa, nàng nhìn xung quanh phía bên trong xe ngựa. Ghế ngồi rộng và sâu, lò xo ghế được bao phủ với lớp nhung xanh lục bảo sang trọng. Nàng lướt tay qua lớp nhung, ngắm lớp lông mịn màng quyến rũ và lấp lánh dưới ánh đèn. Dải viền vàng và những núm tua rua dày dặn giữ lấy tấm màn nhung che khuất cửa sổ xe. Những cánh cửa bên trong chiếc xe được làm bằng mắt gỗ bóng loáng quí phái, và đèn xe bằng đồng, với nút vặn bằng pha lê và chụp đèn bằng thủy tinh cắt vát, lấp lánh và nhấp nháy như những vì sao bị nhốt. Nhìn cái chụp đèn gần hơn, nàng chú ý thấy một huy hiệu được khắc tinh vi trên thủy tinh – những con ưng. Nàng lại mở cửa ra và nhìn lên huy hiệu bên ngoài xe ngựa. Nó có thiết kế giống nhau. Một chiếc xe ngựa thiết kế. Thật thanh lịch!

    Thậm chí còn thấy ấn tượng hơn, nàng đóng cửa và di chuyển về góc của mình, tưởng tượng sẽ thế nào nếu được ngồi trên chiếc xe sang trọng như vậy đi đến bất cứ nơi nào cần đi. Không cần nhớ mấy câu thần chú, không cần phải tập trung. Một người có thể ngồi tựa vào lớp vải nhung và để thế giới trôi qua…

    “Bà có thoải mái không, thưa Đức bà?” người hầu sẽ hỏi nàng.

    Nàng sẽ nâng bàn tay được điểm trang với những chiếc nhẫn ngọc lục bảo người chồng tận tụy đã tặng cho nàng vì chúng hợp với mắt nàng. Rồi nàng sẽ nói, “Tất nhiên, Henson. Giờ ta sẽ nghỉ ngơi. Hãy cho ta hay khi nào chúng ta đến Brighton. Ta chắc hoàng tử đang đợi chúng ta. Anh biết hoàng tử luôn nói gì rồi đấy, ‘Không có buổi khiêu vũ nào thành công khi vắng mặt Công tước và Nữ công tước Belmore.’”

    Rồi người hầu sẽ đóng cửa xe ngựa, và người chồng đẹp trai, vương giả, quyền uy của nàng sẽ nghiêng về phía trước, tay chàng trượt quanh để vuốt ve cổ nàng, trước khi chàng kéo nàng lại gần hơn… và gần hơn… cho tới khi nàng có thể ngửi thấy mùi hương thuốc lá, nếm được mùi rượu ngọt ngào. Rồi đôi môi lạnh và cứng rắn của chàng sẽ áp lên môi nàng…

    Lạc trong mơ màng, Joy không hề biết nàng đã áp môi lên cửa sổ xe ngựa, cho tới khi nàng mở mắt ra - miệng nàng vẫn áp lên thủy tinh lạnh và cứng - và nhìn chằm chằm vào những khuôn mặt sửng sốt của Công tước Belmore và bạn bè chàng.



    Chú thích:

    (1) Thần chú Joy sử dụng có câu “And then for good measure, ring the bell more!”

    (2) Joy nói “Beg pardon, Your Grace”. “Your Grace” là cách xưng hô tôn trọng với một công tước. Ngoài ra còn có nghĩa là vẻ duyên dáng, yêu kiều…

    (3) Alter: Sửa đổi, thay đổi. Alder: gỗ trăn
     
    Chỉnh sửa cuối: 21/5/17
    pony, uyenki, B-Mon and 6 others like this.
  4. GIGI lady

    GIGI lady Mầm non

    Cảm ơn bạn mình rất thích truyện này
     
    meocontb and lan anh vu like this.
  5. lan anh vu

    lan anh vu Lớp 1

    Chương 4

    “Cậu nghĩ cô ấy đang làm gì?”

    “Tôi không đoán ra.” Alec đứng cạnh bá tước Downe, áo khoác vắt một bên vai. Chàng liếc nhìn từ Downe đang cau mày suy nghĩ lẫn Seymour đang im lặng một cách đáng ngờ và trở lại phía cô gái.

    Nàng đang nhắm mắt và môi nàng dán lên mặt kính như những con đỉa hồng hào. Với một tia sáng xanh lóe lên nhanh chóng, mắt nàng mở ra và nhìn thẳng vào chàng. Rồi nàng quay ngoắt lại chỗ ngồi, giấu khuôn mặt bằng bức màn bên cạnh.

    “Cô ấy là người Scot,” Alec nói.

    Ngài bá tước gật đầu hiểu biết trong khi Henson giúp Alec mặc áo khoác. Rồi với một cái búng tay nhẹ chàng cho người đầy tớ lui và đi vòng qua phía đối diện của xe ngựa. Chàng mở cánh cửa và nghiêng người vào bên trong.

    Nàng nhìn chàng như thể chờ đợi chàng nuốt chửng nàng với một miếng cắn khổng lồ, và khi xem xét gần hơn chàng thấy màu sắc đã quay lại với nàng nhiều hơn gấp mười lần. Nàng nhanh chóng quay đi.

    “Nàng có thấy khó chịu không?”

    Sau một khoảng thời gian dài căng thẳng, nàng lẩm bẩm với bức màn, “Không, tôi nghĩ tôi sẽ co rúm lại và chết.”

    “Tôi nghi ngờ việc nàng sẽ chết vì một cái mắt cá bong gân,” chàng đưa ra ý kiến, không thể giữ vẻ mỉa mai ra khỏi giọng nói. Chàng đã trải qua việc tham gia các mùa lễ hội ở Luân Đôn và đã chứng kiến đủ những sự việc kịch tính mà các bà các cô có thể tạo ra.

    Kỳ lạ thay chàng thấy buồn bực khi nghĩ rằng cô gái có vẻ mặt lạ lùng với cách cư xử còn kỳ quặc hơn nữa này có thể nhạt nhẽo như nhiều người phụ nữ chàng biết ở Luân Đôn. Vì lẽ nào đó chàng muốn nàng phải khác biệt với họ như khuôn mặt của nàng. Chàng tự gọi mình là thằng ngốc và chờ đợi một câu trả lời.

    Không cái nào xuất hiện. Nàng ngồi đó, một bàn tay đeo găng nhỏ nhắn vắt trên trán, che đi đôi mắt. Đó là điệu bộ của một người đang bị đau.

    “Có phải mắt cá chân nàng bị đau?”

    “Từ ‘đau’ không thể mô tả được cảm giác của tôi,” nàng nói bên dưới bàn tay.

    “Tệ đến vậy à?”

    “Tệ hơn những gì ngài có thể tưởng tượng.”

    Mệt mỏi với việc đặt câu hỏi với phía sau đầu nàng, chàng vươn tới và nhẹ nhàng đẩy bàn tay nàng ra để có thể quay mặt nàng về phía chàng. Nét mặt nàng sẽ cho chàng biết nếu nàng đang đau đớn. Đôi má hướng về phía chàng ửng lên màu đỏ bừng. “Có phải nàng có những vết thương khác?”

    Sự hoảng hốt lóe lên trong mắt nàng, và nàng nâng một tay lên má. “Tôi nghĩ… tôi muốn nói tới một cơn sốt. Phải rồi!” nàng nói vội. “Tôi nghĩ tôi bị sốt.”

    Chàng xem xét mặt nàng. “Mặt nàng có vẻ đỏ.”

    “Phải không?” Nàng vỗ nhẹ lên mặt như có thể cảm nhận hơi nóng từ nó qua đôi găng tay da dê của nàng.

    “Cửa sổ thì lạnh, ngài biết đấy… và… uh, nó làm mát mặt tôi.” Nàng thuyết phục chàng với một nụ cười – một nụ cười rạng rỡ, không phải nụ cười của một người đang bị sốt.

    “Ta hiểu. Nàng thật là khôn khéo.”

    “Vâng, tôi phải suy nghĩ rất nhanh.”

    Vì lẽ nào đó Alec có cảm giác kỳ lạ rằng họ đang hiểu nhầm ý nhau. Chàng cố gắng dùng logic để chống lại sự rối rắm. “Nàng có nghĩ tới tới việc mở cửa ra không? Bên ngoài khá mát mẻ.”

    Nàng nhìn chàng qua màn sương mù mà chàng biết đang lơ lửng chỉ vài bước chân phía trên họ. “Không. Nhưng điều đó hợp lý hơn. Đó là lý do tại sao ngài là một công tước và tôi là một ph-” Nàng vỗ một bàn tay lên miệng để Alec chỉ nhìn được đôi mắt mở to của nàng. Bàn tay từ từ trượt khỏi môi nàng. “Phụ nữ.”

    “Sương mù đang chìm xuống, thưa Đức ông.”

    Alec quay sang Henson. “Ngươi đã kiểm tra những cái cây khác lần nữa chưa?”

    “Không thể tìm thấy một cái cây yếu ớt nào trong mảnh rừng. Cái nào cũng vững chắc như tháp Luân Đôn. Con đường đã an toàn, thưa Đức ông.”

    “Tốt. Nói cho những người khác chúng ta sẵn sàng để rời đi.” Alec quay lại và một lần nữa có một tầm nhìn hoàn hảo với những cái lông đà điểu ở mặt sau cái mũ của nàng. Chàng lắc đầu và liếc xuống đôi bàn tay nàng, chúng đang siết lại hoảng sợ. Ngắm nàng giống như ngắm một chú thỏ nhỏ nhắn mềm mại đang mắc kẹt trong những cái kẹp sắt của cái bẫy cáo. Có điều gì đó về sự ngây thơ của nàng quyến rũ chàng, giống như cảm giác bơ vơ chàng thấy ở nàng. Vì lý do nào đó chàng cảm thấy thôi thúc muốn nàng được thoải mái, mặc dù chàng không thể nhớ có từng cảm thấy sự mềm lòng trước đây. “Tiểu thư MacQuarrie.”

    Nàng nhảy lên như bị véo.

    “Chúng tôi sẽ đưa nàng tới một quán trọ và mời một bác sĩ tới kiểm tra chân nàng.” Và đầu của nàng nữa, chàng nghĩ, hoặc của tôi, khi chàng nhận ra đang nhìn chằm chằm vào đôi môi nhìn nghiêng của nàng. Chàng cắt đứt cái nhìn và bước vào trong xe ngựa, ngồi cạnh nàng ngay trước khi Seymour và Downe gia nhập với họ. Trong vài phút chiếc xe ngựa an toàn đi qua cánh rừng và chạy trên con đường rộng rãi. Sương mù dày lên và bây giờ đang lơ lửng trên mặt đất khoảng hai inch.

    Alec nghiên cứu cô gái, tự hỏi mình điều gì về nàng đã làm chàng khinh suất. Có những khoảng khắc ngắn ngủi khi nàng nhìn vào chàng như thể nàng thấy điều gì đó kỳ diệu trong chàng. Đàn bà luôn nhìn chằm chằm vào chàng, bản thân điều đó không có gì bất thường. Sự giàu có và tước hiệu của chàng hấp dẫn họ như đàn kiến. Nhưng cô gái Scot này thì khác, với vẻ mặt kỳ quặc và khả năng lạ lùng có thể chạm vào điều gì đó bên trong chàng chỉ với một cái nhìn đơn thuần. Nàng là một người lạ thường. Chàng cố chống lại thôi thúc nghiên cứu nàng lâu hơn bằng việc nhìn ra cánh cửa sổ phủ đầy sương mà chẳng thấy gì.

    Họ nặng nề chạy đi trong vài phút im lặng, trong lúc đó Downe lại lấy ra cái chai ra một lần nữa. Bá tước là bạn của Alec, nhưng gần đây anh ta đã là một kẻ phóng đãng đểu giả và hoàn toàn đáng ghét khi anh ta say xỉn – một sự việc dường như xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Chàng vừa chuẩn bị nói với Downe cất cái chai đi khi Seymour thở dốc. Alec nhìn vào anh ta và thấy anh chàng đang dán mắt vào cô gái với cái miệng há hốc. Downe cũng nhìn chòng chọc, cái chai bị lãng quên trong một chốc.

    Alec nhìn vào nàng, nhưng không thấy gì lạ, và quay lại về phía bạn chàng.

    “Cậu có thấy cái tôi vừa thấy không?” Seymour hỏi Downe.

    Bá tước trả lời bằng cách nốc một ngụm, sau đó quan sát cô gái với đôi mắt hẹp lại.

    Alec lại nhìn vào nàng nhưng vẫn không thấy gì kỳ quặc.

    “Tôi sẽ lấy nó,” Seymour nói, chộp lấy cái chai của Downe.

    “Không ích gì đâu,” bá tước nói. “Tôi lại vừa nhìn thấy. Xem đi.”

    Một lần nữa cả hai chàng trai nhìn vào nàng.

    “Cả hai người cần phải điều độ với mấy thứ này hơn. Đưa tôi cái chai.”

    “Cổ áo của cô ấy đang chuyển động,” Seymour thì thầm.

    Cả ba người đều nhìn chằm chằm vào cổ nàng. Từ biểu hiện Alec có thể xác định tâm trí của nàng đang cách xa hàng dặm. Có khả năng đang ở Scotland, chàng nghĩ. Một lúc sau trong khi cái cổ lông trên áo khoác nàng co giật và run rẩy, chắc hẳn nàng cảm thấy cái nhìn của họ vì nàng liếc nhìn mấy người đàn ông. Nàng nhìn vào từng người họ và nói, “Có gì không ổn sao?”

    “Cổ áo của nàng đang chuyển động,” Seymour trả lời nàng.

    Nàng nâng tay lên để vuốt ve đám lông. “Ồ,” nàng cười. “Đây là Beelzebub. Tôi gọi nó là Beezle,” nàng nói như thể điều đó giải thích mọi thứ.

    Một cái chân đốm đen nhỏ nhắn trượt trên vai nàng và một tiếng kêu kỳ cục phát ra từ viền cổ của nàng. Nó không khác gì với tiếng động tạo bởi những khinh khí cầu khí nóng bay lên từ Hyde Park vào mùa hè.

    Nàng ngó họ và nói, “Nó ngủ rất nhiều.”

    Alec nhìn trừng trừng vào cục lông chàng đã nghĩ là một cái cổ áo. “Nó còn sống?”

    Nàng gật đầu.

    Nó khụt khịt, rồi thở khò khè.

    “Tôi có thể hỏi cái gì là một… một Beezle?”

    “Một chú chồn.”

    “Giống Downe, nhưng cậu ta không tạo ra tiếng ồn kinh khủng đó,” Seymour nói, tự cười với trò đùa của chính mình, vì ai cũng biết anh ta không thường chèn ép được bá tước.

    Downe nhướng một bên chân mày lên.

    “Nàng có một con chồn quấn quanh cổ,” Alec phát biểu.

    “Thực ra nó là một con chồn ecmine, và nó thích ngủ ở đó.”

    “Tôi cũng vậy.” Mắt của Downe dừng lại trên viền cổ áo nàng.

    “Tôi đã nói với cậu chúng ta nên làm gì với cái cây đó mà,” Seymour nói và lườm Downe, nhưng chỉ làm anh ta mỉm cười.

    Alec tựa lưng vào ghế và cho Downe cái nhìn nghiêm khắc để bắt anh ta im miệng. “Hai quí ông này thực tế khá vô hại. Như tôi đã nói trước đó, tôi là Công tước Belmore. Người có cặp mắt gian xảo và cái lưỡi phóng túng này là Bá tước Downe.”

    “Làm hại nàng là điều cuối cùng trong tâm trí tôi.” Downe trao cho nàng nụ cười ẩn ý.

    “Và đây,” Alec tiếp tục, ra hiệu về phía Seymour, “là Tử tước Seymour.”

    “Seymour vô hại,” Downe thêm vào, “và đần độn.”

    Câu nói đó bắt đầu lại cuộc cãi vã. Có ý định kết thúc phần giới thiệu mặc kệ những người bạn, Alec quay sang cô gái. Nàng bối rối nhìn từ người này sang người khác, rồi quay sang chàng và đưa tay kéo con chồn vào sát nàng hơn. Chàng có thể thấy sự e ngại trên khuôn mặt biểu cảm của nàng. Vài mẩu cảm xúc nhỏ bé khuấy động sâu bên trong chàng, từ nơi nào đó chưa từng được động tới. Chàng bắt đầu với tới nàng.

    Nàng hít một hơi thật sâu và bắt đầu lại lẩm bẩm. Một tiếng hét kêu lên. Đột nhiên chiếc xe lao về phía trước với tốc độ điên cuồng. Các hành khách chộp lấy bất cứ thứ gì có thể để không bay vào nhau. Nhiều tiếng la hét và nguyền rủa hơn phát ra từ người xà ích. Một tiếng rầm lớn vang lên và một tiếng ồn gấp gáp bất thình lình dội xuống từ chỗ ngồi.

    Alec tóm lấy và ôm chặt nàng vào ngực, cố gắng chịu đựng cú nảy và choáng váng khi chiếc xe ngựa chạy rầm rầm qua con đường lởm chởm. Họ tông mạnh vào thứ gì đó và cơ thể chàng ghìm chặt nàng vào ghế.

    Xung lực buộc chàng xê dịch tỳ vào nàng. Từng inch mềm mại của người con gái ép chặt vào chàng. Hai bàn tay nàng siết lấy áo khoác của chàng, làm vòng ôm của họ chặt hơn và áp vào bụng chàng. Những nhịp thở hổn hển do hoảng hốt của nàng lướt qua nóng hổi trên tai chàng.

    Thình lình, không kiểm soát được, nhận thức nàng là một người phụ nữ đến với chàng. Mắt nàng bắt gặp mắt chàng, ngạc nhiên, rồi tò mò, rồi tìm kiếm. Thế giới của họ thinh lặng. Chàng đấu tranh để kiểm soát sự thôi thúc tự nhiên xảy ra giữa họ. Một lần nữa nàng tìm kiếm khuôn mặt chàng. Chàng che đậy phản ứng của mình với vẻ lạnh lẽo bản năng. Đừng nhìn quá lâu, người Scot, không có gì dành cho nàng ở đây đâu.

    Nàng đỏ mặt. Một nỗi buồn bâng khuâng hiện hữu rõ ràng giữa họ như thể họ đã nói to lên suy nghĩ của mình. Nàng nhắm mắt lại và quay đi. Chiếc xe ngựa vấp phải một cú va đập khác, và chàng siết chặt nắm tay trên cái tay cầm bằng vải.

    Downe lẩm bẩm, rồi chửi thề. Chiếc xe cuối cùng cũng đi chậm dần rồi dừng lại. Alec vòng tay quanh Joy và ngồi dậy. Giọng nói giận dữ của bá tước vang lên trong buồng xe. “Lấy cái quỷ này ra khỏi tôi, Seymour! Cái đầu gối xương xẩu trời đánh của cậu đang ở trên lưng tôi.”

    Alec và Joy nhìn vào họ. Cái đầu vàng hoe của bá tước bị nhét vào trong một góc sàn xe, đôi chân đi bốt của anh ta chống lên cửa, và tử tước thì ở trên anh ta, đang dính sát vào đầu hàng ghế đối diện để tránh gót giày của bá tước. Con chồn thì bám lấy cổ áo khoác của Seymour.

    “Tôi không cố ý, Downe. Không còn chỗ nào khác để đặt đầu gối.”

    Có một cuộc chen lấn, rồi một tiếng rên lớn. “ Để ý cái vai tôi. Cái thứ chết tiệt

    này đau như quỷ ấy.”

    “Xin lỗi. Đợi chút xíu để tôi lấy con vật này ra khỏi cổ.”

    “Tới đây, Beezle.” Joy mở rộng cánh tay và con chồn nặng nề lết sang họ. Alec nhận thấy tay chàng vẫn vòng quanh nàng và nhanh chóng rụt lại. Seymour xoay xở để ngồi thẳng trên ghế và bắt đầu phủi bụi trên người.

    Alec giúp Downe một tay, và cửa xe mở ra. Henson mặt trắng bệch nhìn chăm chú vào họ. “Xin thứ lỗi, thưa Đức ông. Dây cương bị đứt.”

    “Có thể sửa không?”

    “Họ đang sửa nó.”

    “Tốt,” Alec nói, chuyển sự chú ý sang cô gái đang ôm chặt con chồn của nàng vào ngực.

    Chàng thấy má nàng bị lấm bẩn và cái mũ xộc xệch, những cọng lông vũ màu tím đứt ra và treo lơ lửng trên vai nàng. Nàng trông như một con chim sẻ rơi xuống từ cái tổ của nó. Chàng cảm thấy thôi thúc muốn đặt nàng lại bên trong đó. Chẳng hiểu sao chàng biết rằng người phụ nữ này, trong tất cả mọi người thuộc phái nữ, không nên bị cô độc trong thế giới này.

    Chàng quay lưng lại với nàng. Cái nhìn bất lực trên khuôn mặt nàng làm chàng không thể suy nghĩ. Chàng trèo xuống xe ngựa và tiến về phía đội ngũ người xà ích và những người hầu khác đang sửa lại dây cương bị đứt.

    “Ai thắng dây cương?” Alec hỏi với giọng nói không báo trước điềm tốt cho thủ phạm.

    “Tôi, thưa Tức ông,” Jem người xà ích trả lời, nhưng nhanh chóng nói thêm, “Tó là một cái mới tinh. Chắc như một cây du. Chưa thấy thế này bao giờ. Dày cả inch, tốt như vậy mà bị đứt cứ như làm bằng giấy. Đây, ngài nhìn xem.” Anh ta giơ lên cái đai bằng da, một đoạn của bộ dây cương. Alec kiểm tra nó. Không có vêt đứt hay vết cắt rõ ràng nào. Phần đầu bị xơ ra cho thấy nó dường như đã bị xé ra làm hai. “Bao lâu nữa các ngươi sửa xong?”

    “Gần xong rồi, thưa Tức ông. Đã lấy cái đai ra khỏi càng xe.”

    “Tốt.” Alec đi trở lại và trèo vào trong xe ngựa. “Chúng ta sẽ rời đi trong một phút nữa.”

    “Đây là một dấu hiệu,” Seymour thì thầm, mở to mắt và nhìn như thể anh ta trông chờ cái xe ngựa tỏa ra ánh sáng siêu nhiên. Downe khịt mũi, trượt cái chai vào trong áo khoác và chỉnh lại băng đeo tay của anh ta.

    Khi Alec ngồi lại vào ghế chàng nhìn xuống áo khoác và thấy bề mặt vải bị nhăn nhúm nơi Joy bíu chặt lấy. Rồi rõ ràng như thể nàng đã vươn tới và chạm vào chàng, chàng cảm thấy cái nhìn chăm chú của cô gái – cái nhìn quen thuộc nhưng khó nắm bắt. Dường như nàng đang ghi nhớ khuôn mặt chàng. Nó khiến chàng rất khó chịu.

    Vào lúc này, tất cả những gì chàng muốn là nhanh chóng đến quán trọ. Chàng nhìn nàng với ánh mắt lạnh lùng, nhưng nó tắt ngấm khi cái nhìn chằm chằm của họ bắt gặp nhau. Vì một vài lý do kỳ quặc, chàng nhìn vào cánh tay bị thương của Downe rồi quay lại phía cô gái. Có một kết nối giữa cái nhìn của cô gái và cánh tay của Downe. Henson đóng cửa xe ngựa, và một lần nữa họ chạy lộc cộc trên con đường gập ghềnh, Công tước Belmore chìm sâu trong suy nghĩ.

    Vài phút sau, với nỗi kinh hoàng thuần túy, chàng đã nhớ ra nơi chàng thấy chính xác cái nhìn đó - Letitia Hornsby. Chàng thầm rên rỉ. Cô gái Scot kỳ quặc này nhìn chàng với cùng ánh mắt ngưỡng mộ mà Letitia Hornsby dùng khi cô ta nhìn vào Downe – cái nhìn mà giữ trái tim ngay trong mắt nàng. Nhưng thậm chí trước khi chàng có thể tiêu hóa suy nghĩ đó, có một tiếng hét khác.

    ***

    Khi cái bánh xe bong ra khỏi xe ngựa, Joy bỏ cuộc. Ai đó sẽ bị thương nếu nàng không dừng nỗ lực niệm câu thần chú di chuyển. Nàng tựa cằm lên một bàn tay và cố gắng chấp nhận số phận. Kinh nghiệm đã dạy nàng rằng khi các bùa chú bị rối tung thế này, điều tốt nhất nàng có thể làm là để phép thuật của nàng nghỉ ngơi. Đôi khi nàng có thể làm tốt hơn, tập trung hơn nếu nàng chờ đợi. Dù sao đi nữa, nàng không muốn làm bị thương những người đàn ông, đặc biệt là ngài công tước.

    Có gì đó nhiều hơn những cái nhìn mãnh liệt và nhịp tim hỗn loạn giữa họ. Có một sự thúc giục, một lực kéo cho nàng biết chàng cần điều gì đó từ nàng. Có một vài dấu vết của sự tuyệt vọng bị chàng ẩn giấu dưới cái nhìn lạnh giá. Nàng ý thức được nó rõ ràng như nàng có thể cảm giác về một cơn mưa mùa xuân.

    Người hay bồn chồn, Tử tước Seymour, nghiêng về phía nàng, xem xét nàng như nàng là một hồn ma. “Nàng là người đó, phải không?”

    Dạ dày nàng thắt lại với suy nghĩ anh ta có thể thực sự biết nàng là một phù thủy. Nàng nín thở, không biết làm thế nào để trả lời.

    “Để cô ấy yên, Seymour,” bá tước nói, sự chán ghét hiển hiện trong giọng nói của anh ta, rồi quay sang Alec. “Thậm chí nếu cô ấy là người đó, Belmore sẽ phải gọi cho cố vấn của cậu ta trước khi làm gì đó. Dòng dõi, cậu biết đấy, và tất cả những… thứ khác.”

    Một cuộc tranh luận khác nổ ra, vì vậy nàng nhìn công tước đang lơ đãng đưa tay lên túi áo khoác. Nàng bắt gặp một vết hằn nhẹ của giấy tờ và tò mò. Chàng bảo hai người bạn im lặng, áp chế ngài bá tước với cái nhìn lạnh giá như buổi đêm khuya. Bá tước lườm lại, khiến họ trông như hai chú chó đang gườm nhau. Tử tước thì đột ngột lặng thinh và không thoải mái.

    Cuộc chiến trong câm lặng tiếp tục diễn ra. Không mất nhiều thời gian để Joy nhận ra rằng công tước sẽ là người thắng cuộc. Nàng đã nhìn thấy sự lạnh lẽo trong mắt chàng. Sau vài phút căng thẳng dường như sẽ không bao giờ kết thúc, bá tước chấm dứt màn trao đổi bằng mắt và một lần nữa nâng cái chai lên môi. Ngài công tước quay đi. Rồi, như thể nàng đã gọi chàng, chàng nhìn nàng.

    Chàng làm nàng nghẹt thở. Đôi mắt chàng chứa những bí mật đã khêu gợi trí tò mò bẩm sinh của nàng, giống như những kho báu được chôn giấu và chờ đợi ai đó chú ý để khám phá. Chàng dường như đang tìm kiếm điều gì đó khi chàng dõi theo và nghiên cứu nàng.

    Chàng đang tìm kiếm điều gì? Chàng cần gì? Nàng muốn đặt những câu hỏi đó, nhưng chúng không xảy ra. Sự tìm kiếm trong mắt chàng biến mất nhanh như bồ công anh trong cơn gió mùa hè. Và thay thế nó là cái nhìn khép kín đó.

    Họ im lặng rất lâu, chìm đắm trong suy nghĩ của mình. Quá nhiều thời gian đã trôi qua trong im lặng, Joy nghĩ khi đang cắn môi và trầm tư. Các câu hỏi chắc chắn sẽ sớm bắt đầu lại. Nàng cần nghĩ tới một câu chuyện nàng có thể kể cho họ. Có một thứ mà mọi phù thủy được dạy từ đầu là không bao giờ nói cho người thường biết cô ấy là phù thủy. Những người thường không hiểu rằng ma thuật không phải điều gì đó đen tối và tà ác. Một phù thủy phải biết rất rõ về một người thường, trước khi anh ta hoặc cô ta có thể hiểu điều đó, và đó quả là một người thường hiếm có, khi lịch sử đã chứng minh nhiều người sẽ không bao giờ hiểu vì những quan niệm sai lầm của họ về phù thủy. Bà MacLean không tin tưởng nhiều người. Bà nói rằng hầu hết người thường nghĩ phù thủy bay lượn trên cái chổi sể, có mụn cóc trên mặt, trông hốc hác, và có mái tóc xám bù xù.

    Ông nội của Joy, một nam phù thủy, đã cưới một người bình thường – con gái của một quí tộc Anh – và người MacQuarrie và MacLean đã chào đón bà nàng, một khi bà đã chứng minh mình là một người đặc biệt. Dĩ nhiên dì nàng cũng thề rằng cuộc hôn nhân của ông bà nàng là nguồn gốc vấn đề của Joy. Dòng máu bị ô uế, bà tuyên bố. Joy luôn nghĩ rằng nó có thể đã tồi tệ hơn. Nàng có thể đã không có phép thuật nào cả. Nàng có thể đã được sinh ra như một người hoàn toàn bình thường thay vì một phù thủy trắng yếu ớt.

    Nàng có thể kể cho các quí ông này điều gì đó gần với sự thật mà không đề cập tới phù thủy. Có lẽ nàng sẽ thêm vào chút cường điệu và, để thêm phần hấp dẫn, một tí kịch tính để làm ra câu chuyện thú vị. Nếu nàng có thể làm họ mê mẩn họ sẽ không chú ý tới những điều nàng đã bỏ qua tính logic, sự đáng tin, sự đúng đắn.

    Công tước hướng đôi mắt sắc sảo về phía nàng. Đôi mắt đó đã nói chuyện với nàng, hiểu biết nàng và chúng không bỏ lỡ nhiều điều. Tới rồi đây, nàng nghĩ.

    “Gia đình của nàng ở đâu?”

    “Đã mất rồi,” nàng trả lời, muốn nhìn xuống vạt áo, nhưng không thể quay đi.

    Cái nhìn của chàng giữ chặt lấy nàng.

    “Nàng đã nhắc tới Surrey. Đó có phải nơi nàng đang tới?”

    Nàng gật đầu.

    “Tại sao?”

    “Nhà của bà tôi ở đó.”

    “Ta tưởng nàng nói gia đình nàng đã mất.”

    “Họ đã, ngoại trừ dì tôi, và bà ấy đã đi tới-” Nàng dừng lại. “Bà ấy đã rời khỏi đất nước trong hai năm.”

    “Bà ấy rời đi mà không để nàng với người đi kèm thích hợp?”

    “Tôi đủ tuổi rồi,” nàng thông báo, hơi nâng cằm lên. “Tôi đã hai mươi mốt.”

    “Ta hiểu.” Giọng chàng không khác gì khi dỗ dành một đứa trẻ.

    Có một sự im lặng kéo dài.

    “Nàng đi lại bằng cách nào?”

    “Đi bộ,” nàng trả lời với giọng lanh lảnh. Ngay cả nàng cũng không thể tin nổi tuyên bố đấy. Ngu xuẩn, vớ vẩn, ngớ ngẩn.

    Công tước ném cái nhìn thoáng qua đầy ý nghĩa lên đôi giày ống ngắn mới toanh của nàng. Không có vết xước hay vết cắt nào làm tổn hại đến chúng. Gót giày không bị trầy, và các cạnh của bàn chân hầu như không bị mòn. Vạt của cái áo viền lông và áo khoác du lịch hoàn toàn sạch sẽ, không có dấu hiệu gì về những con đường đầy bùn ở bất cứ nơi nào trên người nàng. Chàng đưa cái nhìn tăm tối quay lại nàng và tặng nàng vẻ mặt gần như làm nàng phun ra sự thật. “Nàng đi bộ từ Scotland?”

    “Ôi, lạy chúa, không!” Nàng nâng một tay lên ngực với hy vọng đó là một điệu bộ ngây thơ và kinh ngạc. “Người ta khó có thể đi bộ suốt từ Scotland.” Nàng mỉm cười.

    Một lần nữa sự im lặng bao trùm, công tước cho nàng cái nhìn ta-đang-đợi-đấy trong khi Joy tạo ra một ngàn câu chuyện trong trí não lén lút của nàng.

    “Không nghi ngờ gì nữa, nàng tiên số phận của Seymour đã thả cô ấy ở đây.” Bá tước uể oải tựa vào cửa sổ xe ngựa với nụ cười tự mãn trên đôi môi ẩm ướt brandy.

    “Ôi, vớ vẩn!” Tử tước đỏ mặt vì giận dữ.

    “Có chuyện gì vậy, Seymour? Cảm giác của cậu, ở chỗ này” – bá tước đập lên ngực anh – “đã đi rồi sao? Không mụ phù thủy già cả, không thiên thần, không quỷ lùn?” Anh ta nhìn vào Joy. “Ồ, quên mất, cô ấy là người Scot. Lẽ ra tôi nên nói là phúc thần và ma quỷ.”

    “Cậu say rồi, Downe,” công tước nói, cho bạn mình cái nhìn gay gắt. “Tôi đề nghị cậu ngừng lại – đó là, trừ phi cậu muốn đi bộ.”

    “Sẽ không có một trong những người bạn của Belmore loạng choạng trên đường bây giờ, phải không? Mọi người sẽ nghĩ gì?”

    “Cậu là một con lừa khi cậu uống rượu,” tử tước nói, rồi nhìn Joy. “Xin thứ lỗi, tiểu thư, uống rượu làm cậu ta đủ miệng lưỡi cho hai bộ răng.”

    Joy nhìn vào bá tước – một người đàn ông điển trai khi anh ta không giễu cợt – và hỏi, “Vậy tại sao ngài lại uống rượu?”

    Chiếc xe ngựa hoàn toàn lặng thinh. Cái gì đó lấp lánh trong đôi mắt của bá tước, thứ gì đó dễ tổn thương, và rồi chúng giữ cái nhìn cay độc, kín đáo. “Bởi vì tôi thích nó. Tôi đã rèn dũa việc nốc rượu và kêu be be thành một nghệ thuật. Tôi đã mất nhiều năm để hoàn thiện nó cũng nhiều như thời gian cần để Belmore phát triển sự hài lòng với bản thân cậu ta. Cậu ta vốn được biết tới với khả năng phán đoán kết quả phi thường trong khi tôi nổi tiếng vì thiếu sót điều tương tự. Nàng biết đấy, tôi thích vài điều bất ngờ trong cuộc sống.” Anh ta nhìn công tước một cách lạ lùng, rồi thêm vào, “Nàng biết mọi người nói gì rồi đấy: brandy đập tan sự buồn chán.” Anh ta để những lời đó lơ lửng trong không gian đóng kín của chiếc xe ngựa. Rồi nhận thấy lời nói của mình không ảnh hưởng xíu nào tới công tước, anh ta quay đi và nhìn ra ngoài cửa sổ.

    Nàng có thể cảm thấy mắt của tử tước Seymour đang chiếu vào mình, và nàng nhìn lên anh ta. Anh ta mỉm cười trấn an và hỏi, “Nàng có biết nhà của bà nàng ở đâu không?”

    “Bên ngoài East Clandon. Nó gọi là Nhà tranh Locksley.”

    “Locksley, như trong Henry Locksley, Bá tước Craven?” Tử tước hỏi, nhìn vào công tước rồi quay lại với nàng.

    “Bà tôi là một Locksley.”

    “Tôi nhớ dường như mẹ tôi đã nhắc tới họ, những người họ hàng xa kiểu gì đó. Ngài bá tước quá cố đã từ bỏ cô con gái sau khi cô ta bỏ trốn và kết hôn với một người Scot lập dị nào đó, và…” Tử tước ngừng lại và há hốc miệng nhìn nàng. “Nàng là người Scot.”

    Nàng gật đầu và quan sát biểu hiện của anh ta. “Người phụ nữ đó là bà tôi.”

    Tất cả màu sắc đã rút đi từ khuôn mặt của tử tước và ngón tay anh ta, cái mà đang bất lịch sự chỉ vào nàng, bắt đầu run rẩy. “Thấy chưa? Thấy chưa?” Anh nhìn vào công tước. “Tôi đã nói cậu rồi. Đó là số phận. Định mệnh. Cậu không thể chống lại nó.”

    “Phải đó, Belmore, cậu không cần gọi cố vấn của cậu đâu. Tất cả đã hoàn thành cho cậu, trừ khi cậu muốn kiểm tra răng của cô ấy.” Bá tước Downe cười ranh mãnh, rồi bắt đầu cười phá lên, như thể điều vui nhộn nhất trên thế giới này là chuyện nàng là chắt gái của một bá tước.

    Nàng đã nghĩ rằng bà nàng làm nàng có chút gì đó giống họ. Cảm giác muốn bệnh nằm yên trong bụng nàng. Nhưng nàng không giống như họ, vì nàng sẽ không bao giờ cười cợt người khác ác nghiệt như thế. Có thể nàng là một phù thủy, nhưng nàng cũng có cảm xúc của con người. Thật đau đớn khi phải là đối tượng trong trò cười của người khác. Bá tước vẫn đang cười nham nhở với nàng. Cổ họng nàng thít lại và nàng hướng mắt xuống đùi, cố nuốt lấy sự xấu hổ đang mắc nghẹn.

    Beezle, đang ngủ ngon lành trên đùi nàng từ lúc chiếc xe ngựa điên cuồng chạy đi, mở mắt ra và quan sát mặt nàng. Nó quay đầu hướng về phía bá tước đang cười và từ từ đứng dậy. Một phút sau nó trườn lên ngực bá tước, người đã đột ngột trở nên im lặng.

    “Nó đang làm gì vậy?” Downe nhìn trừng trừng chú chồn.

    Beezle đã bò lên mặt bá tước và giơ một cái chân điểm đen lên hướng về cái miệng đang mím lại của bá tước.

    “Có lẽ nó định kiểm tra răng của cậu đấy,” công tước nói với vẻ hoàn toàn lãnh đạm.

    Chú chồn đặt chân lên môi dưới của bá tước và kéo nó xuống, rồi nhìn chăm chú vào miệng anh ta. “Bỏ…nó…ra…khỏiumm…tôi.”

    Joy bắt đầu với lấy Beezle, nhưng công tước đặt tay lên cánh tay nàng và chậm rãi lắc đầu. Chàng có đôi mắt của người đàn ông không muốn bị trái ý, nên nàng ngồi lại và quan sát với sự kinh sợ. Trong vài phút tiếp theo Beezle xem xét kỹ lưỡng miệng bá tước, nhấc môi anh ta lên phía này và phía kia, kéo miệng anh ta thành những kiểu kỳ cục nhất.

    Beezle ngửi hơi thở bá tước, quay cái đầu lông nhỏ bé đi và thở khò khè. Rồi nó thả môi bá tước ra và quấn quanh cổ anh ta. Với vẻ uyển chuyển của một con bò què, nó cuộn quanh ở cùng vị trí như khi nó quấn trên người Joy, ngoại trừ việc nó gục mặt xuống bờ vai rộng và dán mũi lên áo khoác của bá tước.

    “Đừng cười nữa, Seymour. Bỏ nó ra khỏi tôi.” Bá tước cố gắng nhún vai, nhưng chắc hẳn vết thương đã ngăn cản anh ta bởi vì anh ta nhăn mày.

    “Và phá hỏng sự bất ngờ này?” Công tước gần như mỉm cười. “Chắc chắn là không.”

    “Tôi nói này, Alec. Cậu nói đúng. Nó làm tôi rất dễ chịu.” Tử tước cười khùng khục.

    Công tước lặng lẽ quan sát người bạn đang bị dồn vào thế bí. Joy chưa bao giờ thấy hai người đàn ông trao đổi trong im lặng, nhưng hai người này vừa làm điều đó. Và sự căng thẳng thì dày đặc, như có thực thể, như giữa hai chiến binh đang gầm gè.

    Vào lúc đó Beezle đã trèo xuống và đứng trên đùi bá tước. Nó sục sạo qua áo khoác người đàn ông cho đến khi anh ta kéo cái chai ra khỏi túi. Joy nhìn kẻ hầu cận của nàng ngồi trên hai chân sau và ấn những cái chân nhỏ sắc nhọn xuống đùi bá tước. Bá tước hít một hơi, rồi cố túm lấy con vật, nhưng Beezle rít lên, nhe những cái răng sắc như dao cạo ra. Bá tước buông tay ra, rõ ràng đã bị giật mình. Con chồn nhìn anh ta qua cặp mắt trông tỉnh táo và hăm dọa hơn nhiều so với bình thường trong nhiều năm qua.

    Ngài bá tước say xỉn đã bị ngăn cản, con chồn giữ cái chai bằng bạc giữa hai chân như hai bàn tay và kiểm tra kỹ, ngửi cái nắp và chớp mắt với hình phản chiếu của nó trên cái chai bạc. Rồi nó giữ cái chai giữa hai hàm răng và đi lạch bạch khỏi đôi chân dài của bá tước và bước lên chân công tước.

    Joy nhìn vào mặt công tước, chờ đợi phản ứng của chàng. Không cảm xúc nào xuất hiện. Khuôn mặt nhìn nghiêng của chàng khoác vẻ tao nhã như trước. Nhưng điều đó chẳng quan trọng vì Beezle không thể vô tư hơn. Với nó ngài công tước không là gì ngoài một cái thang người. Thậm chí không có lấy một cái liếc nhìn vào người có địa vị quan trọng mà nó đã bước lang thang qua, kẻ hầu cận của nàng thả cái chai lên ghế ngồi, nằm phịch lên trên nó, và chìm vào giấc ngủ.
     
    oiseauparadis, lynx, B-Mon and 11 others like this.
  6. LanNP

    LanNP Mầm non

    Cổ vũ cho dịch giả tiếp tục dịch truyện nha...
     
    oiseauparadis, B-Mon, htt0503 and 2 others like this.
  7. le luoi

    le luoi Mầm non

    Bạn dịch tiếp đi, hay mờ. Cám ơn nhé
     
    oiseauparadis thích bài này.

Chia sẻ trang này