Thảo luận Bí ẩn Tam Quốc Diễn Nghĩa

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi Heoconmtv, 5/9/15.

Moderators: canaximuoi
  1. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Điêu Thuyền chưa đủ tầm, ai mới là "Tam Quốc đệ nhất mỹ nhân"

    Điêu Thuyền được cho là người đẹp nổi tiếng nhất thời Tam Quốc, nhưng trên thực tế có một người khác xứng danh là "đệ nhất mỹ nhân" thời đại này.

    Điêu Thuyền có xứng là một trong "tứ đại mỹ nhân" Trung Quốc?

    Tam Quốc là thời đại mà đàn ông "độc chiếm" vũ đài chính trị cũng như văn hóa. Trong hơn 70 năm của giai đoạn này, vô số nhân vật nam đã trở nên nổi tiếng và đi vào chính sử cũng như dã sử. Thế nhưng, chỉ có 3 mỹ nhân được nhắc đến nhiều nhất: Điêu Thuyền, Đại Kiều, Tiểu Kiều.

    Đặc biệt, Điêu Thuyền - nhân vật mà đến nay sự tồn tại thực tế vẫn bị nghi ngờ - được văn hóa dân gian Trung Quốc xếp vào "tứ đại mỹ nhân" trong lịch sử quốc gia này, bên cạnh Tây Thi, Vương Chiêu Quân và Dương Ngọc Hoàn.

    Tuy nhiên, cho dù Điêu Thuyền là một mỹ nhân có thực và có sắc đẹp như "Trầm Ngư Lạc Nhạn", thì nàng vẫn chưa đủ tầm để xứng danh là "Tam Quốc đệ nhất mỹ nhân".

    Thứ nhất, Dương Quý Phi, Tây Thi và Vương Chiêu Quân đều được gả cho các vị quân vương một nước và được cưới hỏi danh chính ngôn thuận.

    Trong khi đó, cho dù Điêu Thuyền hầu hạ bên cạnh Đổng Trác hay làm tình nhân của "chiến thần" Lữ Bố thì nàng cũng chỉ đóng vai trò "bồ nhí". Ngoài ra, cả hai "tình lang" của Điêu Thuyền đều không ai hoàn thành đế nghiệp và kết thúc sinh mạng một cách bi thảm.

    Thứ hai, Điêu Thuyền chỉ thực sự nổi tiếng nhờ bộ tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" của tác giả triều Minh La Quán Trung.

    Sắc đẹp của mỹ nhân này thực tế hết sức mờ nhạt. Điêu Thuyền chỉ được mô tả như một phụ nữ có diện mạo xinh đẹp và giỏi ca múa - mẫu người dễ dàng "lọt vào mắt xanh" của những nhân vật thô thiển như Đổng Trác và Lữ Bố.

    Trong khi đó, dư luận Đường triều phải thừa nhận khả năng âm nhạc cũng như thơ từ đáng nể của Dương Quý Phi; Tây Thi là một trong những điển phạm của người phụ nữ "hy sinh tuổi thanh xuân làm gián điệp báo quốc", còn Vương Chiêu Quân là nhà ngoại giao xuất sắc.

    [​IMG]
    Chỉ là "bồ nhí" của Đổng Trác, Lữ Bố, Điêu Thuyền chưa đủ tầm để đứng trong "tứ đại mỹ nhân"?

    "Tam Quốc đệ nhất mỹ nhân" là ai?

    Trên thực tế, bên cạnh Điêu Thuyền và Đại - Tiểu Kiều, thời đại Tam Quốc còn một mỹ nhân danh tiếng khác. Người này từ nhỏ là một thần đồng, lớn lên được gả cho một vị khai quốc Hoàng đế.

    Tài năng văn học của nàng được đánh giá là siêu việt, khiến cho 3 "cây đại thụ" trong văn đàn Tam Quốc là Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực phải nghiêng mình thán phục.

    Con trai của mỹ nhân này về sau kế vị ngai vàng, trở thành minh quân của Ngụy triều. Đại mỹ nhân này không ai khác ngoài Hoàng hậu Chân Lạc của Ngụy Văn Đế Tào Phi.

    Từ "Tam Quốc diễn nghĩa", người người đều khen Điêu Thuyền đẹp, nhưng sắc đẹp của nàng không hề được mô tả. Trong khi đó, nhan sắc của Chân Hoàng hậu đã được Tào Thực ca ngợi hết lời trong bài phú "Lạc Thần Phú".

    "Lạc Thần phú" được Tào Thực sáng tác khi Chân Hoàng hậu - chị dâu của ông - đã qua đời. Tào Thực dùng hình ảnh ẩn dụ của "Mật Phi - thần của Lạc Thủy" để nói về vẻ đẹp của nàng Chân Lạc.

    Người đời sau thậm chí đã nghi ngờ giữa Tào Thực và chị dâu đã có một cuộc tình lãng mạn nhưng không thành, khiến em trai Ngụy Văn Đế một đời đau khổ. Tuy nhiên, thông tin này vẫn chưa được kiểm chứng.

    Chân Lạc sinh năm 182, thời Hán Linh Đế, người quận Trung Sơn (nay là Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc).

    Cha của Chân Lạc mất năm nàng 3 tuổi. Đến 9 tuổi, Chân Lạc trở nên vô cùng thông minh, biết cách tự học chữ đọc sách.

    Sau này, khi đến tuổi thành thân, Chân Lạc được bá chủ phương Bắc đương thời là nhà quân phiệt Viên Thiệu cưới về cho con trai Viên Hy.

    Viên Thiệu và Tào Tháo được ví như Chu Du với Khổng Minh. Không có Gia Cát Lượng và Tào Tháo, Viên Thiệu, Chu Du chắc chắn trở thành vô địch thiên hạ.

    Tại đại chiến Quan Độ, cha con Viên Thiệu thất bại trước liên quân của 18 chư hầu Quan Đông. Vài năm sau, cha con họ Viên qua đời.

    [​IMG]
    "Lạc Thần" Chân Lạc từng gây sóng gió giữa 3 cha con, anh em Tào Tháo trong nhiều năm.

    Tào gia sóng gió vì người đẹp


    Trong vị thế phe thắng trận, Tào Tháo vốn đã chú ý tới sắc đẹp của "Lạc Thần" Chân Lạc. Trước khi tiêu diệt Viên gia, Tào đã toan tính hòng bắt mỹ nhân về tay mình. Tiếc rằng, con trai ông là Tào Phi cũng mê mẩn trước Chân Thị.

    Sau khi công hạ Nghiệp Thành, Tào Phi lập tức đưa 1000 binh mã xông vào Viên phủ cướp bóc. Lần đầu gặp nàng Chân Lạc tại đây, Tào Phi đã "hồn xiêu phách lạc". Năm đó, Tào Phi mới 17 tuổi, ông ra sức cầu xin cha được... lấy Chân Lạc làm vợ.

    Trước "sự đã rồi", Tào Tháo buộc phải chấp thuận hôn sự của Tào Phi.

    Hồng nhan bạc mệnh

    Cuộc hôn nhân của Chân Lạc với Tào Phi có vài năm hạnh phúc. Chân Hoàng hậu sinh cho Phi một con trai và một con gái. Con trai bà chính là Ngụy Minh Đế Tào Duệ mà "kẻ diệt Ngụy" Tư Mã Ý rất e sợ và khâm phục.

    Tuy nhiên, Chân Thị vốn lớn hơn Ngụy Văn Đế tới 5 tuổi, nhan sắc không tránh khỏi suy giảm theo thời gian. Dần dần, Tào Phi chán ghét hoàng hậu và chuyển sang sủng ái các phi tần trẻ tuổi hơn.

    Chân Lạc vốn là người khảng khái, bà bất mãn với thái độ của Tào Phi và nhiều lần lên tiếng chất vấn, thậm chí làm thơ để phản đối nhà vua.

    Hành động của Chân Hoàng hậu khiến Tào Phi nổi giận, cuối cùng quyết định ban cho một chén rượu độc. Chân Lạc qua đời bị Tào Phi ra lệnh lấy tóc che kín mặt mũi, mục đích để bà "xuống Âm phủ cũng không có mặt mũi gặp ai".

    Mãi tới khi Tào Phi qua đời, Tào Duệ lên ngôi thì Chân Lạc mới được truy phong làm Văn Chiêu Hoàng hậu. "Lạc Thần Phú" mà Tào Thực viết về mỹ nhân này cũng trở thành tác phẩm nổi tiếng Trung Quốc suốt hàng nghìn năm.

    [​IMG]
    "Lạc Thần Phú" được các nhà phân tích văn học trong lịch sử Trung Quốc nhận định là tác phẩm nói về mỹ nhân Chân Lạc.
     
    cfcbk and tintinsach like this.
  2. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Đúng là Điêu Thuyền chỉ nhờ ông La "thêm thắt" từ nhiều truyền thuyết dân gian nên không có gì xuất sắc, đàn hát thi hoạ bình thường, chỉ nhờ chiêu "liếc mắt đưa tình". Trong Trung Hoa Tứ Đại Mỹ Nhân chỉ có Vương Chiêu Quân và Dương Quý Phi là có thật, 2 chị còn lại là hư cấu.
     
    Heoconmtv thích bài này.
  3. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Tây Thi mà cũng hư cấu hả bác, em thấy trong Sử Ký của Tư Mã Thiên có đề cập mà.
     
  4. Homo Sapiens

    Homo Sapiens Lớp 3

    Tây Thi chắc thật rồi, xinh đến nỗi cả thiên hạ đổ về xem.
    Cơ mà so với tiêu chuẩn ngày nay thì....
     
  5. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Thật thì có thể thôi vì tất cả những truyện liên quan đều chỉ là truyền thuyết cũng như Điêu Thuyền vậy. Dương Quý Phi và Vương Chiêu Quân ít ra là nhân vật lịch sử toàn diện nhất và đầy đủ thông tin nhất.

    Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng không có Tây Thi nhé.:D

    Điều này tương tự như Đát Kỷ, được dựng lên là một con hồ ly làm điên đảo Trụ Vương. Hiển nhiên chúng ta biết rằng làm gì có hồ ly.
     
    Last edited by a moderator: 5/9/15
  6. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Trong 4 cô (đúng ra theo tuổi tác thì phải gọi là bà) thì mình thích Vương Chiêu Quân nhất, 3 bà kia làm mất nước, chiến tranh loạn lạc, trong khi Vương Chiêu Quân được mệnh danh là sứ giả hòa bình. Hình ảnh Vương Chiêu Quân ôm đàn cỡi lạc đà nhìn về quê hương rất đẹp và cảm động.
     
    Last edited by a moderator: 5/9/15
    utitgg, Ngọc Sơn and Deathshine like this.
  7. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Khiếm khuyết của Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa

    Thế giới từng biết đến đất nước Trung Hoa với Tứ đại phát minh: giấy viết, la bàn, thuốc súng và kỹ thuật in ấn. Nổi tiếng không kém Tứ đại phát minh, Trung Hoa còn được nhắc đến với Tứ đại mỹ nhân làm thay đổi lịch sử: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi. Tương truyền, tứ đại mỹ nhân đẹp đến mức “chim sa, cá lặn”. Thế nhưng ít ai biết rằng, trên cơ thể của họ cũng có những “điểm xấu”. Người Trung Hoa có câu “Đến ngọc còn có tì vết huống chi con người” quả thực không sai!

    1. Tây Thi: chân to.

    03 - Tây Thi.jpg

    Tây Thi là một cô gái Triết Giang. Tương truyền, mỗi ngày cô đều đến hồ nước giặt quần áo, bóng cô soi trên mặt nước trong suốt làm cô càng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy hồ. Từ đó, người ta ca tụng cô là “Tây Thi trầm ngư”. Nhưng có một lần, Tây Thi đến bên hồ, trong lúc tâm trạng vui vẻ, cô đưa chân xuống nghịch nước, cá nhìn thấy đôi chân to của cô giật mình thất vọng, lặn luôn xuống đáy hồ!

    Vì thế, nàng đã nghĩ ra một biện pháp để giấu đi nhược điểm của mình. Kết hợp với niềm đam mê nhảy múa, Tây Thi thường mặc những chiếc váy dài quá mắt cá, đồng thời nàng tự tạo cho mình một đôi guốc gỗ, như vậy không những Tây Thi khiến mình trở nên mềm mại hơn trong các điệu múa, vừa có thể che đi đôi chân thô kệch.

    2. Vương Chiêu Quân: lệch vai

    02 - Vương Chiêu Quân.jpg

    Nổi tiếng là một mỹ nhân vừa đoan trang vừa thông minh trong lịch sử. Cô có tài năng đặc biệt đánh đàn tì bà. Tiếng đàn da diết ai oán và vẻ đẹp kiều diễm của cô kiến đàn nhạn bay qua cũng thương tâm mà sa xuống đất. Từ “lạc nhạn” trong câu “Trầm ngư lạc nhạn” từ đó mà có! Thế nhưng Vương Chiêu Quân có khuyết điểm chính là đôi vai lệch, mặc đồ gì cũng khó. Cô bèn tự thiết kế cho mình chiếc đệm vai; nàng thường khoác thêm chiếc áo lông thú hay đôi khi là chiếc áo với phần lông gắn lệch một bên vai để không bị phát hiện. Những chiếc áo mềm mại đã giấu đi được khiếm khuyết của Chiêu Quân, ngoài ra, màu sắc sặc sỡ của chúng đã tôn lên vẻ đẹp như tranh vẽ của nàng.

    Có truyện cho rằng, đàn nhạn sa xuống chính do chúng nhầm lông trên áo của cô với cỏ, chứ không phải thương tâm gì cả!
     
  8. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    3. Điêu Thuyền: tai nhỏ

    01 - Điêu Thuyền.jpg
    Điêu Thuyền lại có sở thích ngắm trăng. Tương truyền mỗi lần cô ngắm trăng, mặt trăng cũng phải hổ thẹn trước vẻ đẹp của cô, ẩn mình vào mây. Người đẹp "bế nguyệt" (trăng cũng phải nấp vào mây) Điêu Thuyền có thể thực hiện mỹ nhân kế một cách thuận lợi là vì nàng có vẻ đẹp trời cho không ai sánh được.

    Tuy nhiên, đôi tai của nàng lại hoàn toàn lạc lõng so với cơ thể hoàn hảo đó. Tai của Điêu Thuyền rất nhỏ, nhỏ tới nỗi nhiều lúc nàng không thể nghe rõ. Người xưa vốn xem trọng “tướng”, đôi tai phải to mới có phúc. Để che đi khuyết điểm của mình, ĐiêuThuyền đã nghĩ ra “bông tai”. Những đôi bông tai của cô thường khá nặng và được trang trí cầu kì. Đặc biệt là đôi bông tai chuỗi ngọc của cô lấp lánh dưới ánh trăng, càng làm tăng thêm vẻ đẹp kiều diễm của người con gái này.

    4. Dương Quý Phi: có mùi hôi cơ thể

    04 - Dương Quý Phi.jpg

    Dương Quý Phi tên thật là Dương Ngọc Hoàn, vốn là con dâu của Đường Minh hoàng, nhưng vì vua quá yêu nên đã tốn bao tâm cơ để “phù phép” nàng dâu thành quý phi của mình. Dương Quý Phi rất thích đi dạo ở ngự hoa viên. Tương truyền, sắc đẹp của nàng rực rỡ đến nỗi các đoa hoa cũng phải cúi đầu, không dám nở.

    Dương Quý Phi mang nét đẹp đậm đà theo quan niệm cổ đại. Tuy nhiên, dân gian lại đồn đại do cô có mùi cơ thể không thơm nên hoa không nở nổi, chứ không phải xấu hổ gì cả. Để khắc phục nhược điểm của mình, hằng ngày cô đều đến hái những bông hoa thơm nhất, hòa vào nước tắm, mùi thơm của những cánh hoa thấm đều trên làn da của nàng vừa có thể át đi mùi hôi khó chịu, vừa khiến nàng lúc nào cũng thơm tho. Dân gian cho rằng, đó chính là nguồn gốc của nước hoa ngày nay.

    Những câu chuyện trên cũng chỉ là dân gian truyền tụng, thực hư thật khó phân giải, vì các mỹ nhân đã sống cách chúng ta hàng nghìn năm. Dẫu sao họ cũng đã được đi vào lịch sử để, thay đổi lịch sử. Bấy nhiêu cũng đủ thấy, dù có “tì vết”, Tứ đại mỹ nhân vẫn là những nhan sắc “ngàn năm hiếm gặp”!
     
    cfcbk thích bài này.
  9. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Tam Quốc đỉnh lập: Thành tại Khổng Minh, bại tại...

    Sai lầm nghiêm trọng của một trong "ngũ hổ thượng tướng" Thục Hán được cho là nhân tố quyết định "đạp đổ" chiến lược Tam Quốc mà Khổng Minh dày công xây dựng.

    Chiến công "vượt năm ải trảm sáu tướng" của Quan Vũ luôn khiến những người hâm mộ vị danh tướng này cảm thấy sảng khoái. Song những chiến tích lẫy lừng của Quan Vân Trường cũng không bù lại được sai lầm chí mạng "phá vỡ đại cục" Thục Hán của ông.

    Việc ông hàng Tào - dù vì lý do gì - đều khiến dư luận đặt nghi vấn về "nghĩa đào viên" của Quan Vũ; trong khi thái độ nhục mạ của ông trước Đông Ngô có thể khẳng định là nhân tố gây phân hóa trong liên minh Tôn - Lưu.

    Có ý kiến cho rằng, người mà Gia Cát Lượng sợ nhất không phải Tào Tháo, cũng không phải Tư Mã Ý, mà là Quan Vũ.

    Quan điểm này khiến không ít người cảm thấy mâu thuẫn, bởi Quan Vũ - trong vai trò lực lượng cốt lõi của tập đoàn Thục Hán, còn là mối đe dọa đối với Thục lớn hơn cả tập đoàn Tào Ngụy hay Tư Mã gia - đối thủ ngang cơ của Khổng Minh.

    Khổng Minh "sợ" Quan Vũ vì đâu?

    Không ít học giả từng lập luận, Thừa tướng Thục Hán e ngại Quan Vân Trường "thân tại Hán doanh tâm tại Tào", rằng một đại tướng Thục Hán như Quan Vũ đã bị Tào Tháo "tẩy não" và có thể "trở cờ" bất cứ khi nào.

    Tuy nhiên, hầu như không có chứng cứ nào chứng minh cho luận điểm trên. Mặc dù Quan Công đích thực từng tha mạng Tào Tháo ở đường Hoa Dung "hậu Xích Bích", nhưng điểm này cũng không đủ để cáo buộc ông là "thông gian bán nước".

    Khổng Minh lo Quan Vũ tài nghệ không đủ để cầm quân giết địch? Lo ông manh động, không thể đảm đương trọng nhiệm?

    Sự kiện Quan Vũ chỉ huy Ngụy quân đột phá vòng vây của quân Viên Thiệu, chém danh tướng Nhan Lương "giữa vạn quân" đã chứng minh bản lĩnh của nhà cầm quân này.

    [​IMG]

    Khổng Minh đã dày công tính toán đường đi nước bước để giúp Lưu Bị "làm bạn" với Tôn Quyền.

    Hiện nay, ngày càng có nhiều quan điểm gạt bỏ sự phủ nhận hoặc chỉ trích đối với năng lực cá nhân của Quan Vân Trường, mà thay vào đó là những ý kiến nhằm vào đóng góp thực tế trong hàng ngũ Thục Hán của ông.

    Nhiều khả năng, Khổng Minh e ngại bởi một vị tướng "thành công ít, thất bại nhiều" như Quan Vũ được cắt cử đảm đương trấn thủ địa bàn trọng yếu bậc nhất của Thục - Kinh Châu.

    Khổng Minh lo ngại Quan Vũ sẽ khiến lộ trình "Long Trung đối sách" của ông đi chệch hướng và "tan tành mây khói".

    Có học giả ví von, "Khổng Minh sợ Quan Vũ cuối cùng sẽ trở thành một tảng đá ngầm, đánh chìm con thuyền 'liên Ngô kháng Tào' của ông."

    Liên Ngô kháng Tào là chính sách cốt lõi nằm trong chiến lược "Tam Quốc đỉnh lập" của Gia Cát Lượng. chiến lược này thất bại đồng nghĩa với vận số Thục Hán khó giữ, tâm huyết của Lưu Bị và Khổng Minh cũng "đổ sông đổ biển".

    Chỉ một năm sau khi Khổng Minh "xuất sơn" (207), ông đã đàm phán thành công với Đại đô đốc Chu Du của Đông Ngô, mang về cho Lưu Bị "mối lương duyên" quý giá với bá chủ Giang Đông Tôn Quyền.

    Chiến thắng Xích Bích của liên minh (208) và "thương vụ" kết thông gia của Lưu Bị với Tôn Thượng Hương - em gái Tôn Quyền (209) là những bước đi chính xác và đầy toan tính của Khổng Minh nhằm đặt nền móng cho mối quan hệ đồng minh mà ông hy vọng sẽ kéo dài nhiều năm.

    Tuy nhiên, khi Lưu Bị đã "vững chân" ở Ích Châu, Kinh Châu thì việc bảo vệ liên minh này lại xuất hiện nhiều biến số khó lường, ngoài tầm kiểm soát của Gia Cát Lượng, mà Quan Vũ là nhân tố bất ổn lớn nhất.

    Xét cho cùng, điều mà Khổng Minh "sợ" ở Quan Vũ cũng không ngoài việc lo ông sẽ "chọc gậy bánh xe" quan hệ với Tôn Quyền.

    Kinh Châu tiếp giáp với Đông Ngô, đồng thời lại là địa bàn mà cả Thục lẫn Ngô cùng tuyên bố chủ quyền. Vì vậy, trong vai trò quan trấn thủ, nhiệm vụ khó khăn nhất của Quan Vũ chính là vừa giữ được lãnh thổ, vừa duy trì sự giao hảo với Giang Đông.

    Quan Vũ "chỉ biết tiểu nghĩa mà quên đi đại nghĩa"?

    "Thượng sách" đối với Khổng Minh mà nói đương nhiên là vừa không tổn hại liên minh Tôn - Lưu, vừa "mượn luôn" được Kinh Châu không cần trả.

    Trong con mắt của Gia Cát Lượng, Quan Vũ là người "biết tiểu nghĩa mà không hiểu đại nghĩa, tận 'tiểu trung' mà có thể hại 'đại trung', có tiểu dũng mà chưa chắc có đại dũng".

    Quan Vũ xem trọng tình nghĩa huynh đệ "đào viên" với Lưu Bị, Trương Phi, nhưng ông xem nhẹ "thiên hạ đại nghĩa".

    Những người ủng hộ ý kiến này cho rằng, nếu Quan Vũ hiểu "đại nghĩa", ông đã không năm lần bảy lượt cản trở Lưu Bị "tam cố thảo lư" chiêu mộ Khổng Minh, và cũng không cố chấp gây khó dễ khi Gia Cát Lượng lên nắm quân quyền, tạo phân hóa trong lực lượng.

    [​IMG]
    Quan Vũ chỉ quan tâm đến tình nghĩa "đào viên" với Lưu Bị mà không biết đối sách của Khổng Minh là tối ưu giúp Bị "chắc chân" đối lập với 2 đại quân phiệt còn lại.

    Quan Vân Trường chỉ tính tới việc Khổng Minh không gặp là làm mất mặt Lưu-Quan-Trương, mà không nghĩ tới nếu Lưu Bị từ bỏ Gia Cát Lượng, đồng nghĩa với ông đã đánh mất cơ hội ngồi lên ngai vàng Thục Hán ngay từ trong trứng nước.

    Thậm chí, có ý kiến diễn giải một kết cục nghiêm trọng hơn nếu Lưu Bị nghe lời Quan Vũ, đó là thế lực của nhà quân phiệt này sẽ bị đào thải khỏi cuộc chơi giữa những lực lượng quân sự vô cùng hùng mạnh khác.

    Quan Vũ hàng Tào, Tào Tháo dùng "nghĩa" - nhiều quan điểm cho là "kế" - đối đãi, khiến ông ghi nhớ không quên. "Kế" này đã giúp Tào thoát mạng ở đường Hoa Dung, để họa đến hàng chục năm sau đối với Thục Hán.

    Lịch sử hàng Tào của Quan Vũ buộc Khổng Minh nhận định quan điểm của Vũ đối với liên minh Tôn - Lưu là "liên kết người lạ (Ngô) đánh người thân (Tào)".

    Điều này được lý giải bằng thái độ lạnh nhạt trong quan hệ với Giang Đông, khước từ lời cầu thân của Tôn Quyền và buông lời sỉ nhục sứ giả Đông Ngô.

    Đây chính là điều mà Khổng Minh lo sợ nhất sẽ xảy ra ở Quan Vũ: Ông không thể vừa giữ Kinh Châu vừa "chơi tốt" với Tôn Ngô, nhưng ngược lại có đầy đủ khả năng... làm mất cả hai. Trên thực tế, kịch bản xấu nhất này đã xảy ra.

    Vì sao không thay Quan Vũ ở Kinh Châu?

    Một vấn đề được đặt ra hàng nghìn năm nay, đó là nếu Khổng Minh e ngại Quan Công, vậy tại sao không thay tướng trấn thủ Kinh Châu? Thực tế, đây là một vấn đề nhân sự nhạy cảm mà bản thân Gia Cát Lượng không thể tự làm chủ.

    Kinh Châu là "yết hầu" của Thục Hán, trừ những người cực thân với Lưu Bị, đồng thời yêu cầu "văn võ song toàn" thì không thể được chọn làm quan trấn thủ.

    "Chí thân" với Lưu Bị chỉ có Quan - Trương; trong đó chỉ có Quan Công đủ năng lực xưng là "văn võ kiêm toàn". Vị trí trấn thủ Kinh Châu ngoài Quan Vân Trường không còn người thứ hai có khả năng này.

    Đây cũng là vấn đề mà Khổng Minh và Lưu Bị có quan điểm đối nghịch. Với Lưu Bị, ngoài Quan Công không ai thủ được Kinh Châu. Với Gia Cát Lượng, Quan Công chính là người tuyệt đối không thể thủ Kinh Châu.

    Tuy nhiên, khi sự đã rồi, Khổng Minh cũng phải tìm mọi cách để Quan Vũ không "phá" đại cục. Đương nhiên toan tính của ông vô tác dụng, bởi một danh tướng cố chấp như Quan Vân Trường luôn có logic hành sự của chính mình.

    Kết cục của Quan Vũ cũng đã rõ: Trước có Tào quân đón đầu, sau có Ngô quân đánh úp. Sự thảm bại của ông để mất Kinh Châu về tay Lữ Mông, Lục Tốn và còn phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

    [​IMG]
    "Mất Kinh Châu" là bước ngoặt căn bản đối với Thục Hán khi chiến lược "liên Ngô" của Khổng Minh sụp đổ, đẩy Thục vào thế "lưỡng đầu thọ địch".

    Cái chết của Quan Công đẩy Lưu Bị và thế bí, buộc ông đứng trước 2 lựa chọn. Muốn giữ liên minh với Tôn Quyền thì không thể động binh (với lý do báo thù cho Quan Vũ).

    Nhưng nếu không báo thù thì "lời thề kết nghĩa" - cũng là một quân bài chính trị - không được tôn trọng, có khả năng ảnh hưởng đến hình ảnh của Lưu Bị, vốn mất nhiều công sức để xây dựng hình tượng "nhân đức, trọng tình, trọng nghĩa".

    Có quan điểm cho rằng, Lưu Bị chỉ "báo thù cho có" nhằm giữ hình ảnh, song cũng có quan điểm đối lập cho rằng ông bị Lữ Mông đánh "một vố quá đau" và quyết phải đòi lại "cả chì lẫn chài".

    Dù nguyên nhân ra sao, thì thực tế là Lưu Bị đã huy động đại quân Thục Hán tấn công Đông Ngô để "báo thù" cho Quan Vũ.

    Nếu Bị chỉ cần "làm hình ảnh", thì giai đoạn đầu ông đã quá thành công. Sau những thắng lợi liên tiếp và áp đảo Ngô quân, có lẽ Lưu Bị đã "nhập vai" hoàn toàn, biến chiến dịch của mình thành cuộc thôn tính Giang Đông.

    Kết quả cuộc báo thù của Lưu Bị thất bại thảm hại, sau khi đại quân của ông bị Lục Tốn đè bẹp trong trận Di Lăng. 2 năm sau (223), Bị cũng ôm hận qua đời.

    Có Khổng Minh, mời có liên Ngô kháng Tào; có liên minh Tôn-Lưu, mới có thắng lợi Xích Bích, giúp Ngô hóa nguy thành an, giúp Thục "tay trắng làm nên", tạo thành thế Tam Quốc đỉnh lập.

    Vì Quan Vũ, Thục mất Kinh Châu; mất Kinh Châu cùng cái chết của Quan Vũ mới khiến Lưu Bị mang đại quân đánh Ngô, khiến "nguyên khí" Thục Hán tổn thương nặng nề, Thục không còn ngày quật khởi.

    Nhờ Khổng Minh, Tam Quốc mới "định hình", vì vậy nói "Tam Quốc thành tại Khổng Minh". Bởi Quan Công, đồng minh trở mặt, Thục Hán sa cơ, nên nói rằng "Tam Quốc hủy trong tay Quan Vũ".
     
    utitgg, cfcbk, Ducko and 1 other person like this.
  10. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Ý kiến cá nhân thì Tam Quốc thành tại Khổng Minh, hủy trong tay 3 anh em Lưu Quan Trương...

    Gia Cát Lượng vốn chủ trương hoà với Đông Ngô để giữ vững thế chân vạc. Đầu tiên Quan Vũ không nghe lời Gia Cát Lượng gây hấn với Ngô nên chết. Vậy mà khi Quan Vũ chết Lưu Bị và Trương Phi cứ ôm mối hận cá nhân mà quên đại sự, đòi đánh Ngô trả thù, mặc kệ Gia Cát Lượng, Triệu Vân và các đại thần can ngăn, rốt cục Trương Phi bị cắt cổ chết nhảm, Lưu Bị nướng quân thành heo quay thiệt hại tới nỗi Gia Cát Lượng phải mất nhiều năm mới củng cố lại được quân lực.
     
    cfcbk, sannyas60 and Heoconmtv like this.
  11. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Chiến lược cả đời Khổng Minh thực ra đã thất bại từ trứng nước?

    [​IMG]

    Toàn bộ giai đoạn "Tam Quốc" chỉ là con đường đi tới diệt vong của Thục Hán, mà căn nguyên thực sự được cho là đã xảy ra từ khi chiến lược của Khổng Minh mới "ra lò".

    Cốt lõi của "tam phân thiên hạ"

    Ngày này, có nhiều ý kiến cho rằng sự sụp đổ của Thục Hán xuất phát từ sự kiện Quan Vũ để mất Kinh Châu về tay Đông Ngô, khiến Thục gần như bị "bế quan tỏa cảng", không còn cách đột phá ra khỏi lãnh thổ của mình.

    Sự kiện này có thể coi là điểm mấu chốt trong sự sụp đổ của toàn bộ "Long Trung đối sách" nhằm duy trì thế "tam phân thiên hạ" của Gia Cát Lượng.

    Tuy nhiên, có quan điểm nói rằng, sự thất bại thực sự của Khổng Minh đã đến từ trước đó rất lâu, khi ông không thể thuyết phục Lưu Bị đoạt lấy Kinh Châu khi khu vực này còn nằm trong tay Lưu Biểu, chứ chưa sáp nhập vào Đông Ngô.

    "Long Trung đối sách" là chiến lược căn bản mà Gia Cát Lượng vạch ra cho Lưu Bị từ khi ông còn ở "lều cỏ". Mục tiêu của chiến lược này là "liên Ngô kháng Tào".

    Trong khi đó, Khổng Minh cũng chỉ ra, điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu nói trên là phải có được Kinh Châu trong tay.

    [​IMG]
    "Long Trung đối" của Khổng Minh đã bị ông thực hiện thất bại từ đầu?

    Dù sau đại chiến Xích Bích, Lưu Bị cũng "mượn" được Kinh Châu từ Tôn Quyền, song thời thế đã không còn như trước. Khổng Minh hiểu rõ, cùng là một miếng đất, nhưng đoạt lấy khi nào và từ tay ai lại mang ý nghĩa chiến lược hoàn toàn khác biệt.

    Đương thời, Tào Tháo còn mải bình định phương Bắc, chưa thể xua quân Nam hạ, trong khi Tôn Quyền và Lưu Biểu diễn ra tranh chấp.

    Nếu tại thời điểm này, Lưu Bị đoạt lấy Kinh Châu từ tay Biểu thì ông có thể dễ dàng sở hữu một địa bàn độc lập mà không phát sinh vấn đề chủ quyền, dẫn đến xung đột với Đông Ngô như sau này.

    Như vậy, với việc Tào Tháo tấn công Giang Đông, sự liên kết của Tôn Quyền và Lưu Bị cũng sẽ được hiện thực hóa trong vai vế bình đẳng hơn.

    Ngược lại, trên thực tế, quân đội Lưu Bị đã bị Tào Tháo đè bẹp ở Tân Dã, buộc ông phải cử Khổng Minh làm thuyết khách đến cầu viện Đông Ngô. Về lý thuyết, Lưu Bị luôn ở "chiếu dưới" trong quan hệ đồng minh với Tôn Quyền.

    Ngay trong chiến dịch Xích Bích, quân đội chủ đạo đem lại thế thắng cho "liên quân" thực chất cũng là thủy quân của Chu Du.

    Qua các điểm này, có thể thấy được ý nghĩa lớn nhất của việc "không bỏ lỡ thời cơ đoạt Kinh Châu" chính là Lưu Bị sẽ được "danh chính ngôn thuận" sử dụng Kinh Châu mà không vấp phải sự chất vấn chủ quyền từ Giang Đông. Có như vậy, "Long Trung đối" mới được thực thi triệt để.

    [​IMG]
    Nếu đoạt sớm Kinh Châu, có thể diễn biến lịch sử đã khác đối với Lưu Bị.

    "Sớm muộn cũng để chủ công ngồi cao trên thành Nam Đô"

    Khi "cơ hội vàng" trôi qua, lịch sử Tam Quốc đã ghi nhận tranh chấp chủ quyền cực lớn giữa Thục và Ngô tại Kinh Châu.

    Việc Gia Cát Lượng buộc dựa vào mưu lược để "mượn sức" Đông Ngô đoạt lấy Kinh Tương vô hình trung đã thừa nhận sự góp phần và ăn chia hợp lý của Giang Đông tại khu vực này.

    Kinh Châu được Thục tận dụng hiệu quả trong suốt 10 năm trời, nhờ đó thôn tính địa bàn chiến lược thứ 2 là Ích Châu, đủ thấy giá trị địa - chính trị của Kinh Châu không gì thay thế được.

    Nhưng mối ẩn họa đối với Thục Hán là sự ổn định khu vực này chỉ là tạm thời. Đông Ngô nhiều lần dùng các biện pháp ngoại giao yêu cầu hoàn trả Kinh Châu, trong khi Khổng Minh chỉ có thể "khất lần" để nuôi dưỡng thực lực với mục đích nuốt trọn được địa bàn này.

    Có quan điểm nói rằng điều Khổng Minh lo ngại nhất mà không thể ngăn được chính là Quan Vũ trở thành đại tướng trấn thủ Kinh Châu.

    Việc Quan Vũ "đổ thêm dầu vào lửa" dẫn tới xung đột bùng phát và ông để mất Kinh Châu là thực tế, nhưng chỉ là hệ quả cuối cùng của những mâu thuẫn âm ỉ trong suốt 10 năm trời.

    Nguyên nhân rất đơn giản, Lưu Bị là phe được lợi và đương nhiên muốn duy trì hiện trạng Kinh Châu, đồng thời "hợp tác hòa bình" với Đông Ngô.

    Trong khi đó, Giang Đông là phe chịu thiệt và thậm chí còn bị lợi dụng. Do đó, việc Tôn Quyền phát binh lấy Kinh Châu chỉ là vấn đề thời gian, Thục Hán hy vọng dùng các chính sách ngoại giao để "lần lữa" chỉ là phương án câu giờ, hoàn toàn không xử lý được vấn đề.

    Chính vì vậy, có quan điểm bênh vực Quan Vũ nói rằng, việc đoạt lại Kinh Châu từ Thục đã là chiến lược tất yếu của Đông Ngô, cho nên việc Quan Vân Trường có thủ Kinh Châu hay thậm chí là Khổng Minh trực tiếp trấn giữ cũng không thay đổi được gì.

    Cho dù Quan Vân Trường không thua trước Lữ Mông, Lục Tốn năm 219 và Kinh Châu chưa mất, thì những năm sau đó, đây vẫn sẽ là khu vực "nóng" nhất trong mâu thuẫn Ngô - Thục.

    [​IMG]
    Để thua trước Lữ Mông là thất bại của Quan Vũ, song để dẫn đến mâu thuẫn Ngô - Thục lại là sai sót của Khổng Minh và Lưu Bị.

    Cũng có ý kiến nói rằng, không phải Gia Cát Lượng không muốn sớm đoạt Kinh Châu. Ông từng nhiều lần thuyết phục Lưu Bị ra tay nhưng không được nghe theo.

    Nhiều sự kiện về sau đã chứng minh, Lưu Bị chắc chắn là người sẵn sàng đi ngược lại đạo đức để hành sự. Điều mà Khổng Minh thất bại chính là không đưa ra được một cái cớ hợp lý để Bị thực hiện việc đó với Lưu Biểu.

    Trong một hoàn cảnh tương tự, Bàng Thống - nhân vật tề danh cùng Khổng Minh - đã giúp Bị tìm được một lý do "danh chính ngôn thuân", giúp ông ta vượt qua "trở ngại đạo đức" mà đoạt lấy Tây Xuyên.

    Câu nói "sớm muộn cũng để chủ công ngồi cao trên thành Nam Đô (Kinh Châu)" mà Khổng Minh nói với Lưu Bị xem ra đã trở thành trò cười, bởi thất bại của họ rất có khả năng xuất phát từ chính thời điểm "sớm muộn" đó mà thôi.
     
    cfcbk and Ducko like this.
  12. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Nhân vật đứng sau chiến lược thông minh nhất của Tào Tháo là ai?

    [​IMG]

    Chiến lược "phò tá Thiên tử hiệu lệnh chư hầu" giúp Tào Tháo giành được vị thế chính thống để hoàn thành bá nghiệp, song ít người biết đến tác giả thực của sách lược này.

    "Phò tá Thiên tử hiệu lệnh chư hầu" là chiến lược mấu chốt đưa Tào Tháo tới thành công.
    Ý nghĩa của sách lược này được đánh giá là không hề thua kém "Long Trung đối sách" mà Gia Cát Lượng vạch ra cho Lưu Bị.

    Tuy nhiên, ít người biết tới cao nhân thực sự đứng sau sách lược tuyệt đỉnh này.

    Xét theo trí tuệ cũng như danh tiếng của đội ngũ quân sư đông đảo dưới trướng của Tào Tháo, đa phần độc giả "Tam Quốc diễn nghĩa" sẽ đoán rằng các nhân vật kỳ cựu như Tuân Úc, Quách Gia, Trình Dục hay Tuân Du là người hoạch định chiến lược thông minh này cho Tào Tháo.

    Tác giả chiến lược "thành đại nghiệp" của Tào Tháo

    Trên thực tế, người khởi xướng chủ ý này là Mao Giới - đại thần Tào Ngụy, người ở Trần Lưu (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc).

    Mao Giới chủ trương "phụng Thiên tử dĩ lệnh bất thần". Ở đây, "phụng" có nghĩa và vâng lệnh Hoàng đế Hán triều chứ không phải "phò tá", còn đối tượng "bất thần" phiếm chỉ những người không tôn trọng Hán thất.

    Thông tin về việc Mao Giới là tác giả sách lược chính trị của Tào Tháo chỉ được ghi chép trong bộ sử "Tam Quốc Chí" của Trần Thọ.

    Theo "Tam Quốc Chí", cống hiến lớn nhất của Mao Giới cũng chính là việc đề xướng sách lược "phụng Thiên tử dĩ lệnh bất thần".

    Trong "Tam Quốc diễn nghĩa", Mao Giới chỉ để lại ấn tượng khi xuất hiện bên cạnh đại tướng Vu Cấm, đảm nhiệm chức Thủy sư Đô đốc của thủy quân Tào Tháo trong đại chiến Xích Bích sau khi Thái Mạo, Trương Doãn bị giết oan.

    Mao Giới vốn định tới Kinh Châu gia nhập lực lượng của Lưu Biểu, tuy nhiên khi nghe nói Lưu Biểu công tư bất minh, ông phán đoán người này khó thành đại sự, bèn chuyển hướng sang Duyện Châu đầu quân cho Tào Mạnh Đức.

    Dưới trướng Tào Ngụy, Mao giới được Tào Tháo cho làm Trị trung tòng sự - tương đương với chức thư ký trưởng hay chủ nhiệm văn phòng.

    Cũng nhờ vị trí công tác mang tính chất khá riêng tư này, ông có nhiều cơ hội thể hiện quan điểm thời cuộc của mình trước Ngụy Vương.

    [​IMG]
    Dù Mao Giới không được xếp vào hàng mưu sĩ, nhưng Tào Tháo vô hình trung tiếp thu rất nhiều kiến giải từ ông.

    Mao Giới chỉ ra - "Muốn thành đại sự, đầu tiên phải có lý tưởng và tầm nhìn xa.

    Viên Thiệu, Lưu Biểu tuy có đông mưu sĩ, binh hùng tướng mạnh, dân số đông đúc, nhưng bọn họ không có hoài bão xa xôi, không phải là mẫu người biết dựng đại nghiệp

    Để hoàn thành đại nghiệp, khi xuất sư dứt khoát phải danh chính ngôn thuận, chiếm được ưu thế 'chính nghĩa' tuyệt đối. Vì vậy, chủ công (Tào Tháo) nên tôn phụng Thiên tử để hiệu lệnh những kẻ không giữ đạo quân thần.

    Ngoài ra, muốn giữ vững địa vị thì buộc phải dựa vào tài lực, chỉnh đốn canh tác nông nghiệp, tích trữ quân trang vật tư. Có vậy bá nghiệp mới thành!"

    Tào Tháo nghe kiến nghị của Mao Giới thì vô cùng hài lòng, lập tức phong ông làm Mạc Phủ công tào - đứng đầu Mạc Phủ (nội các) của Tào Tháo.

    Ưu điểm lớn nhất của Mao Giới là ông chấp pháp nghiêm minh, thiết diện vô tư. Sau khi Tào Tháo lên làm Thừa tướng đã để ông nhậm chức Đông Tào Duyện, cùng Thôi Diễm phụ trách việc tuyển lựa quan lại.

    Ở bất kỳ thời đại nào, công tác nhân sự luôn là "miếng bánh béo bở". Thế nhưng Mao Giới chọn người không nhìn danh tiếng, không hỏi quan hệ xã hội.

    Những người được ông tiến cử đều thanh liêm chính trực, trong khi những người có danh vọng mà hành vi bất chính cũng không được Mao Giới trọng dụng.

    Tào Phi từng yêu cầu Mao "chăm sóc" thân tín của mình, song ông thẳng thừng cự tuyệt - "Người công tử tiến cử không đủ tư cách, hạ quan không thể tuân mệnh".

    Tác phong hành sự của Mao Giới khiến ông đắc tội với không ít nhân vật. Khi Tào Tháo muốn "tinh giản biên chế", nhiều người đã đề nghị giải thể Đông Tào - cơ quan do Mao Giới chưởng quản.

    May mắn cho Mao Giới là Tào Tháo vẫn còn anh minh, ông nói - "Mặt trời mọc từ đằng Đông, mặt trăng khi tròn nhất cũng ở phía Đông. Mọi người khi nói phương hướng cũng nhắc đến phía Đông trước, vậy tại sao phải giải thể Đông Tào?"

    Kết quả không phải Đông Tào mà là Tây Tào bị giải thể.

    Tào Tháo từng khen Mao Giới - "Biết lấy thân làm gương, dùng tiêu chuẩn liêm khiết chọn người, khiến ta rất yên long!".

    Sau khi Tào Tháo công hạ Liễu Thành và chia chiến lợi phẩm, ông tặng cho Mao Giới một bộ bình phong và bình kỷ.

    Tào Mạnh Đức vốn yêu chuộng nghệ thuật và cuộc sống, những bức họa trứ danh như Xuân Cung Đồ đều được ông giữ lại cho bản thân.

    Song Tào cũng hiểu phong cách của Mao Giới - "Lão Mao có tác phong của cổ nhân, nên ta mới tặng ông những món đồ này".

    Tính cách công tâm của Mao Giới đôi khi khiến ông không giữ được giới hạn quân thần. Khi nhận ra Tào Tháo có ý lập Tào Thực làm người thừa kế, Mao đã lập tức can ngăn, thậm chí chỉ trích việc phế trưởng lập ấu sẽ gây ra hỗn loạn.

    Trên thực tế, hành động của Mao Giới không khác nào đứng ra nói tốt cho Tào Phi, mặc dù ông không có ý định đó, cũng giống như ông không ngại đắc tội với Phi.

    Chính Tào Tháo phải cảm thán trước thái độ của ông mà nói - "Mao Giới chính là Chu Xương (Hán triều khai quốc công thần) của ta đó".

    [​IMG]
    Ít người biết chiến lược mà Tào Tháo áp dụng cả đời xuất phát từ sự khởi xướng của Mao Giới.

    Kết cục của Mao Giới

    Mặc dù được Tào Tháo tín nhiệm, song cuối cùng Mao Giới lại có kết cục thê thảm bởi tay của bè lũ gièm pha.

    Sự việc được cho là xuất phát từ mối quan hệ giữa Mao và Thôi Diễm. Hai ông chính là 2 người phụ trách việc tuyển chọn nhân tài cho Tào Ngụy.

    Trong công việc, Mao Giới và Thôi Diễm thường có những bất đồng quan điểm. Nhưng điều này đã bị kẻ xấu lợi dụng tố với Tào Tháo. Tào vốn đa nghi, lại thêm uy tín Mao Giới rất cao nên ông lập tức khép Thôi Diễm tội bất trung và cho xử tử.

    Thực ra, Thôi Diễm và Mao Giới có quan hệ tốt. Cái chết của Diễm khiến Mao có phần bất mãn. Điều này lại bị những kẻ ghen ghét thừa cơ tố cáo.

    "Mao Giới ra đường thấy những kẻ phản loạn bị thích chữ lên mặt, vợ con bị đưa vào nhà quan làm nô tì, bèn nói - 'Trời không làm mưa chính vì cách làm này của triều đình đó'."

    Sự việc khiến Tào Tháo nổi giận, lập tức ra lệnh bắt giam thẩm vấn Mao Giới.

    Các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng, hành động của Ngụy Vương có phần khó hiểu, nhất là đối với một nhân vật đang nắm quyền cao và có danh tiếng tốt như Mao Giới.

    Có ý kiến nói rằng việc Mao bất mãn với cái chết của Thôi Diễm cộng thêm tính cách cương trực của ông khiến Tào Tháo nhận định rằng "những lời gièm pha là có căn cứ".

    Bản thân Mao Giới cũng không chấp nhận hàm oan,mà ông quyết liệt yêu cầu những kẻ tố cáo mình ra đối chất. Hành động này của ông có lẽ đã khiến Tào Tháo phải xét lại.

    Tuy nhiên, địa vị Thừa tướng khó cho phép Ngụy Vương thừa nhận sai lầm trong việc thanh trừng một quan chức cấp cao như Mao Giới, cho nên cuối cùng Tào vẫn buộc Mao phải chết và bãi miễn chức quan của ông.

    Sau khi Mao Giới chết đi, Tào Tháo mới "bù đắp lại" bằng cách đề bạt con trai ông là Mao Cơ làm quan.
     
  13. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Được Trung Nguyên - mất Quách Gia, Tào Tháo thành hay bại?

    Không phải giai đoạn chiến sự giằng co với Thục - Ngô, mà chính cuộc viễn chinh thống nhất miền Bắc mới là chiến dịch khiến Tào Tháo "uy chấn thiên hạ". Bù lại, ông mất Quách Gia.

    Bá chủ quan ngoại

    Cuối thời Đông Hán, miền Bắc Trung Quốc rơi vào cục diện nội chiến liên miên.

    Chỉ tới khi một nhân vật "xuất thế" thì người Hồ (cách gọi chung các dân tộc thiểu số phương Bắc Trung Quốc bị coi là "ngoại lai") - bất kể là Hung Nô hay Đông Hồ - mới sợ hãi, không dám mạo phạm Trung Nguyên.

    Nhân vật này không ai khác ngoài Thừa tướng Hán triều, sau là Ngụy Vũ Đế Tào Tháo.

    Phương Bắc chính là chiến trường mà Tào Tháo lập uy. Đặc biệt sau khi ông thống nhất miền Bắc, vấn đề ngoại xâm đối với Trung Nguyên gần như đã được giải quyết triệt để.

    Các dân tộc phương Bắc vốn không để Hoàng đế Đại Hán vào mắt, thì nay "nhất mực cung kính" đối với Ngụy Vương Tào Tháo.

    Truyền thuyết về việc Tào Mạnh Đức "khuất phục" toàn bộ miền Bắc xuất phát từ chiến dịch Bắc chinh Ô Hoàn của ông.

    Sau đại chiến Quan Độ, Tào Tháo tiêu diệt quân chủ lực của cường địch Viên Thiệu, đồng thời truy quét tàn dư của Thiệu và chinh phạt Ô Hoàn.

    Cuộc viễn chinh này của Tào Tháo vấp phải sự phản đối quyết liệt của phần đông mưu sĩ dưới trướng, duy chỉ có một người cực lực tán thành động binh, thậm chí chủ trương "binh quý thần tốc". Đó là thiên tài quân sự mà Tào Tháo hết mực trọng vọng - Quách Gia.

    Tài trí của đệ nhất mưu sĩ Quách Gia được cho là "dị thường" so với các quân sư khác, bản thân ông thường có những kiến giải vô cùng khác lạ. Chính Tào Tháo cũng thường "nhất nhất nghe theo" kế sách của Quách Gia, trong chiến dịch Ô Hoàn cũng không ngoại lệ.

    [​IMG]
    Tào Tháo thực sự khiến các đối thủ "nội địa" khiếp sợ sau chiến dịch viễn chinh phương Bắc "tắm máu Ô Hoàn" của ông.

    Cuộc chinh phạt Ô Hoàn của Tào Tháo áp dụng chủ trương chiến lược "nhanh như chớp" và "tắm máu". Sử liệu Trung Quốc chép rằng, Tào "viễn chinh nghịch quốc", cho thấy ông giương cờ gióng trống, điều động quân lực lớn, thế chiến tất thắng.

    Đây là một trong vô số chiến dịch viễn chinh quan ngoại điển hình của quân Hán, với lực lượng tác chiến chủ yếu là kỵ binh.

    Cuộc chiến đẫm máu này được nhiều thư tịch chép lại. Hàng vạn kỵ binh đã tham gia cuộc hỗn chiến thảm khốc.

    Đối diện với đội quân du mục thiện chiến phương Bắc, kỵ binh Tào Tháo không hề kém cạnh. "Tam Quốc Chí" chép - "Hổ Báo Kỵ bắt sống Thiền Vu Tháp Đốn, chém đầu giữa trận tiền. Ô Hoàn như quần long vô thủ, kỵ binh chủ lực 3 quận tan vỡ".

    Việc Tào Mạnh Đức gạt bỏ kháng nghị của chúng tướng, quyết ý viễn chinh, thậm chí đạp đổ chính sách ôn hòa của Hán triều mà kiên quyết "tắm máu" Ô Hoàn đã gây ra nhiều tranh cãi cho hậu thế về mục đích thực sự của ông.

    Theo một số nhà nghiên cứu Trung Quốc, nguyên nhân chính của chiến dịch này gồm 2 điểm: Tính cách của Tào Tháo và tình thế trong thiên hạ lúc bấy giờ.

    Cá tính của Ngụy Vương Tào Tháo được đánh giá là "khác với kiểu Hoàng đế mô phạm" của Trung Quốc. Chiến dịch Ô Hoàn đã giúp ông được tiếng "bá chủ quan ngoại".

    Dù Tào Tháo không hoàn toàn là một quân vương, bởi ông chưa bao giờ xưng đế, song Tào lại không ngần khai phát lộ "bá khí" của bản thân. Dù là nội chiến hay ngoại chiến ông đều không né tránh.

    Đặc biệt trong lĩnh vực ngoại chiến, sử sách Trung Quốc thậm chí phải đánh giá lực lượng của Tào Tháo "lôi lệ phong hành, thể hiện rõ khí chất của Bá Vương".

    Chiến dịch Ô Hoàn được khởi động vào giai đoạn thế lực Tào Tháo vừa được định hình. Trong giai đoạn sơ khai như vậy, các nhà quân phiệt thường không dám phát động một hành động quân sự lớn, trong khi Tào Tháo thậm chí còn huy động quân đội chủ lực.

    Đương thời, bộ lạc mạnh nhất phương Bắc vẫn là Hung Nô, song Ô Hoàn cũng là quân chủ lực của tộc du mục Đông Hồ, có sức chiến đấu rất dũng mãnh.

    Đối đầu với bộ tộc chuyên chiến đấu, Tào Tháo đã đủ can đảm để vận dụng chủ trương "lấy cương chế cương".

    Đội Hổ Báo Kỵ dưới trướng Tào có thể xem là lực lượng kỵ binh có sức chiến đấu mạnh nhất trong số các bộ đội thời đại Tam Quốc. Trên thực tế, quân đội của Tào Tháo không thiếu tác phong "thảo nguyên". Chính Hổ Báo Kỵ đã giúp ông "huyết tẩy Ô Hoàn".

    [​IMG]
    Chiến thắng Ô Hoàn còn giúp đội quân Hổ Báo Kỵ của Tào Ngụy thu nạp lực lượng kỵ binh hùng hậu từ phương Bắc.

    Cái giá của Trung Nguyên

    Đối với cục diện thiên hạ, Tào Tháo và Quách Gia có quan điểm gần như tương đồng. Hai ông cho rằng, nếu để yên cho người Hồ và tàn dư Viên Thiệu bắt tay thì chẳng khác nào nuôi họa về sau, khiến biên cương phía Bắc Tào Ngụy không có ngày được yên ổn.

    Mục tiêu trực tiếp của cuộc viễn chinh Ô Hoàn không ngoài đuổi cùng giết tận, nhổ cỏ tận gốc tàn dư của gia tộc họ Viên.

    Thế nhưng kết quả khách quan cuối cùng đã vượt xa dự liệu của Tào Tháo. Chiến dịch Ô Hoàn đã hóa giải sự uy hiếp của "3 quân Ô Hoàn" đối với miền Bắc Trung Quốc, tiêu diệt tàn dư Viên thị, triệt để thống nhất phương Bắc.

    Hơn thế nữa, Tào Tháo thu được lực lượng tinh kỵ từ Ô Hoàn, tăng cường đáng kể thực lực quân sự của Tào Ngụy. Thu hoạch "ngoài ý muốn" này có thể xem là chiến lợi phẩm trực tiếp của chiến dịch Ô Hoàn, giúp kỵ binh Tào Ngụy vốn đã mạnh, càng trở nên đáng sợ hơn.

    Trong lịch sử Trung Quốc, những vị quân chủ dám thu nạp quân đội dân tộc như Tào Tháo không nhiều. Ngay cả ở thời đại Tam Quốc, Thục Hán cũng chỉ dám "hợp tác, thuê lính dân tộc", chứ không "thu nhận toàn bộ".

    Sau chiến dịch của Tào Tháo, một bộ phận người Ô Hoàn di dân ra ngoài Liêu Đông, phần còn lại định cư tại Trung Quốc. Chiến dịch này cũng được xem là thành công điển hình của hoạt động "càn quét và dung nạp".

    [​IMG]
    Tào Tháo thường chọn được đường hướng đúng nhờ có Quách Gia. Mất Quách Gia, Tào được hàng chục năm thái bình ở biên giới, song không giữ được thiên hạ của Tào Ngụy.

    Xét về tổng thể, việc chinh phạt Ô Hoàn đem lại cho Tào Tháo "2 được - 1 mất".

    "2 được" của Tào chính là lập uy và cường binh. Trên thực tế, chiến dịch thống nhất miền Bắc này mới là hoạt động quân sự khiến uy danh Tào Tháo "chấn động thiên hạ".

    Theo sử liệu Trung Quốc ghi chép, sau trận Ô Hoàn, Tào Tháo gần như đạt được danh vọng tuyệt đối trong các bộ lạc người Hồ, đến mức ông được xưng tụng là "Bá chủ phương Bắc".

    Nếu nói Gia Cát Lượng kế thừa quan điểm Nho gia về tác chiến là "ôn hòa với kẻ ở xa", "trọng đức hơn trọng võ", thì Tào Mạnh Đức là truyền nhân hoàn hảo của chủ trương "gặp thần sát thần" từ đại tướng Tần triều Mông Điềm.

    Nếu Tào Ngụy thành công tiêu diệt Thục Hán và Đông Ngô, thống nhất Trung Quốc, thì "Đại Ngụy triều" sẽ trở thành vương triều có chiến tích viễn chinh huy hoàng nhất, thậm chí vượt trội so với Đường triều thời cực thịnh.

    Đương nhiên, chiến thắng huy hoàng của Tào Tháo cũng phải trả giá. Cái giá này có thể nói là quá đắt đối với ông. Đó là cái chết của Quách Gia trong quá trình tham chiến.

    Quách Gia - người ra sức ủng hộ cuộc viễn chinh của Tào - đã lâm bệnh trong hành trình ngược Bắc. Cái chết của Quách Gia đối với Tào Tháo mà nói, cũng giống như Lưu Bang mất Trương Lương.

    Trở về từ trận "huyết tẩy Ô Hoàn", Tào Tháo trọng thưởng những người khuyên can mình. Các quan tưởng rằng Tào hối hận vì việc quân, nhưng nguyên nhân lớn hơn được cho là vì nỗi đau mất đi "đệ nhất mưu sĩ" của ông.

    Thực tế chứng minh, chinh phạt Ô Hoàn giúp biên giới phương Bắc Tào Ngụy không gặp chiến loạn trong suốt hàng chục năm. Nhưng Quách Gia mất đi thậm chí được đánh giá là sự đánh đổi quá lớn cho điều đó.

    Chính Tào Tháo từng nhiều lần khẳng định, sau khi ông quy tiên sẽ phó thác con trai cho Quách Gia. Quách Gia nhỏ hơn Tào Tháo 15 tuổi, ông hoàn toàn có khả năng duy trì sự vững mạnh của Tào Ngụy tới đời cháu Tào Tháo.

    Tiếc rằng "anh tài đoản mệnh", Quách Gia chết đi khiến Tào Tháo gần như không tìm được người thay thế. Về cuối đời, ông lựa chọn Tư Mã Ý làm "đế sư", cũng chính là đưa giang sơn Tào Ngụy vào tay Tư Mã gia.
     
    cfcbk and Ducko like this.
  14. tauvequehuonghp

    tauvequehuonghp Lớp 2

    Đọc Tam Quốc chơi chơi cho vui chứ không có giá trị về quân sự cũng như dùng ngừơi. Đoạn ba ông kết nghĩa vườn đào ở đầu truyện đã thấy lố bịch rồi. :D :D
     
    Pagodasto and Heoconmtv like this.
  15. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Thực hư chuyện "Khổng Minh không biết dụng binh"?

    Trong hàng nghìn năm lịch sử Trung Quốc, vấn đề năng lực thực sự của Khổng Minh vẫn luôn là chủ đề bàn cãi. Rốt cuộc, ông nên được gọi là danh tướng hay... danh thần Thục Hán?

    [​IMG]

    Tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" của tác gia Minh triều La Quán Trung đã xây dựng hình tượng Gia Cát Lượng "thần cơ diệu toán" được ngưỡng mộ suốt hàng trăm năm.

    Những điển tích như hỏa thiêu dốc Bác Vọng, hỏa thiêu Tân Dã, thuyền cỏ mượn tên, mượn gió Đông cho đến "thất cầm Mạnh Hoạch", "lục xuất Kỳ Sơn"... đã trở thành những câu chuyện truyền kỳ.

    Tuy nhiên, không thể sử dụng "Tam Quốc diễn nghĩa" như một tài liệu lịch sử chính thống, bởi tác phẩm này có tính thiên vị chính trị quá lớn.

    Thực tế, khi đọc bộ sử "Tam Quốc Chí", đánh giá của sử gia Trần Thọ về Gia Cát Khổng Minh từng khiến nhiều người "khó chấp nhận sự thực".

    Theo Trần Thọ, Gia Cát Lượng "giỏi quản lý quân đội, trị quân nghiêm khắc, song tài mưu lược không được xuất sắc. Ông có tài trị lý quốc gia bách tính. Bản lĩnh tùy cơ ứng biến không phải sở trường của Lượng".

    Nhìn chung, Khổng Minh được đánh giá là "tài giỏi" trong vấn đề quản lý quân đội, có thể gọi là "thần cơ diệu toán" trong lĩnh vực này. Song năng lực quản lý hành chính của ông còn được đánh giá cao hơn so với khả năng quân sự.

    [​IMG]
    Tượng Khổng Minh tại Khu du lịch văn hóa Gia Cát Lượng, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

    "Tam Quốc Chí" có đáng tin?

    Sự trái ngược phũ phàng giữa hình ảnh "thần nhân" trong tiểu thuyết và một danh nhân "có năng lực" trong sách sử khiến không ít "fan hâm mộ" của Gia Cát Lượng từng đặt ra nghi vấn về độ tin cậy của những gì Trần Thọ viết trong "Tam Quốc Chí".

    Luận về thân phận, Trần Thọ vốn là quan nhà Thục Hán, là đồng liêu với Gia Cát Chiêm - con trai Gia Cát Lượng. Có thể khẳng định, Trần Thọ là nhân chứng lịch sử và là người "chiếm hữu tư liệu lịch sử hàng đầu thời đại Tam Quốc". Lời nói của ông do đó có thể tin tưởng được.

    Thực tế rằng Khổng Minh đã không thể chiến thắng ở cả 6 lần Bắc phạt đánh Ngụy cũng được cho là phần nào nói lên năng lực quân sự của ông, bỏ qua những chênh lệch khách quan khác giữa Thục và Ngụy.

    Trong lịch sử Tam Quốc, dù các chiến dịch Bắc phạt của Khổng Minh không hoàn toàn thất bại, nhưng cũng không hề mang lại kết quả thực tế nào cho Thục Hán. Minh chứng rõ ràng nhất là lãnh thổ nước này đã không được mở rộng thêm qua chiến lược này của Gia Cát Lượng.

    Tuy vậy, cũng có ý kiến cho rằng Trần Thọ "không công bằng khi đánh giá Gia Cát Lượng". Nguyên nhân được cho là cha ông từng tham gia chiến dịch Nhai Đình trong cuộc Bắc phạt lần 1.

    Trận này, Thục Hán đại bại và để mất cứ điểm Nhai Đình. Chủ soái Mã Tắc bị Lượng chém đầu, còn cha Trần Thọ cũng bị trừng phạt bằng cách... cạo đầu hình âm dương.

    Do đó, có học giả nhận định, có khả năng Trần Thọ "ôm định kiến đối với Gia Cát Lượng" và cố ý hủy hoại hình ảnh Thừa tướng Thục Hán trong bộ sử của mình, thậm chí cáo buộc "Khổng Minh không biết dụng binh, khiến cha ông phải gánh chịu hậu quả".

    Thế nhưng, kỳ thực sử gia đời Tây Tấn này vẫn dành những đánh giá khách quan về tài năng của Gia Cát Lượng.

    Trong "Tam Quốc Chí", ông từng khen Lượng "tài năng vượt trội, có khí chất anh hào". Những đóng góp của ông như cải tiến liên nỏ tiễn, phát minh "trâu gỗ ngựa máy" làm phương tiện vận chuyển... cũng được ghi nhận.

    Trần Thọ nói Khổng Minh không biết dụng binh, nhưng những điểm sáng được thừa nhận trong đời binh nghiệp của Lượng vẫn được ghi lại một cách công bằng.

    "Sau khi Lượng mất, Thục Hán rút quân. Tư Mã Ý tuần sát chiến địa quân sự Lượng để lại, cảm thán - 'Đúng là bậc thiên hạ kỳ tài'." -Tam Quốc Chí có đoạn viết.

    [​IMG]
    Có nhiều tranh cãi xoay quanh tính xác thực của các sử liệu nói về tài năng của Gia Cát Lượng.

    Đương nhiên, những nghiên cứu hiện đại đã khẳng định quan điểm "Khổng Minh không biết dụng binh" là không chính xác và thiếu công bằng.

    Sau khi Tấn triều thôn tính Tam Quốc nhất thống thiên hạ, Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm đã lập tức hạ mệnh lệnh truy tìm và thu thập "Bát trận chiến pháp" của Gia Cát Lượng về làm... giáo trình huấn luyện quân đội, đủ thấy năng lực ở lĩnh vực quân sự của Lượng không phải tầm thường.

    Thực tế, xét đến tình hình khách quan của Thục Hán, nước này có khoảng hơn 800.000 nhân khẩu (không gồm Nam Trung). Thời chiến có khoảng 80.000 nam đinh nhập ngũ, ra trận khoảng 40.000, số còn lại thực hiện chính sách "ngụ binh vu nông" để tăng gia sản xuất.

    Thời Lưu Bị phát binh phạt Đông Ngô năm 221, "Tam Quốc diễn nghĩa" nói binh lực Thục Hán có 700.000 cũng là con số "thổi thồng".

    Tướng Đông Ngô Lục Kháng - con trai Đại đô đốc Lục Tốn - từng được xưng là "nhất đại thần tướng", nắm trọng nhiệm trấn thủ phòng tuyến Giang Hoài.

    Đương thời nhân khẩu Đông Ngô khoảng 2.3 triệu, binh lực thời chiến khoảng 230.000. Tiền tuyến Giang Hoài của Lục Kháng được cấp 80.000 quân.

    Lục Kháng chẳng những không dám tấn công Tây Tấn, mà còn thường xuyên dâng biểu lên Ngô chủ Tôn Hạo "tố khổ" rằng binh lực không đủ dùng.

    So sánh tương quan Ngụy - Thục - Ngô, một điều không thể chối cãi là "vốn liếng quân lực" của Gia Cát Lượng quá ít ỏi, chỉ bằng khoảng 1/2 so với quân số Lục Kháng sở hữu về sau.

    Tư Mã Ý chưa cần huy động toàn lực cũng dễ dàng có được 120.000 quân trấn thủ biên giới. Khổng Minh tiếng là giương cờ Bắc phạt, nhưng lấy 40.000 quân đi "bao vây" một lực lượng đông gấp 3 lần, nhiệm vụ này đối với bất kỳ thống soái nào cũng là điều quá sức.

    [​IMG]
    Quan Vũ bị cho là "góp phần" làm tụt hậu con đường phát triển sự nghiệp của Khổng Minh.

    Tội đồ thực sự là... Quan Vân Trường?

    Có ý kiến cho rằng, nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự nghiệp mờ nhạt về sau của Gia Cát Lượng chính là việc tướng trấn thủ Quan Vũ để mất Kinh Châu về tay Đông Ngô.

    Theo "Long Trung đối sách" mà Khổng Minh vạch ra cho Lưu Bị từ năm 207, Bị phải có được Kinh Châu để làm "bàn đạp chiến lược" cho công cuộc bành trướng thế lực.

    Theo chiến lược của Khổng Minh, Thục Hán sẽ sở hữu 2 cứ điểm quân sự lớn với 2 hướng xuất phát từ Kinh Châu - do thượng tướng quân Quan Vũ chỉ huy và Hán Trung - do Lưu Bị đứng đầu để thực hiện các mục tiêu bành trướng.

    Tuy nhiên, thất bại thảm hại của Quan Vân Trường ở Kinh Châu không chỉ phải trả giá bằng mạng sống của ông, mà quan trọng hơn là Lưu Bị đã hoàn toàn mất khả năng thôn tính cánh cung phía Đông, mà cụ thể là cả vùng Giang Đông rộng lớn.

    Thành công ở phía Tây và Nam không đủ bù lại thiệt hại quá lớn ở miền Đông đã buộc Khổng Minh phải đưa ra quyết sách "dấn thân về miền Bắc" dù biết tính khả thi của chủ trương này không lớn.

    "Thánh thi" Đường triều Đỗ Phủ có lẽ là nhân vật thấu hiểu mối hận của Gia Cát Lượng, khi ông bày tỏ trong thơ:

    Giang lưu thạch bất chuyển
    Di hận thất thốn Ngô

    Một loạt sai lầm chiến lược của Quan Vân Trường ở Kinh Châu đã biến con đường Hướng Đông của Thục Hán thành phù vân.

    Chiến dịch trả đũa của Lưu Bị thảm bại trước Lục Tốn ở Di Lăng là cột mốc cho thấy Thục Hán không bao giờ còn cơ hội lấy được Kinh Châu nữa, cũng là dấu hiệu báo trước Khổng Minh Bắc phạt "trù định phải thất bại".

    Về sau, chính "Tấn thư" của Tây Tấn cũng phải châm biếm Tư Mã Ý "coi Thục như hổ", quân đội ít ỏi của Khổng Minh đánh "co đầu rụt cổ", phải triệt để áp dụng chủ trương cố thủ mới đánh bại được Khổng Minh. Điều này phần nào góp phần "nói lại cho rõ" về năng lực của ông.

    Đương nhiên, sử liệu "Tấn thư" đã được chỉnh lý bởi bàn tay của hậu nhân nhà Hán là Lưu Thông. Sau khi Lưu Thông diệt Tây Tấn, lập triều Hậu Hán đã tuyên bố thẳng thừng: Ông là cháu nội của Lưu Thiện (con trai Lưu Bị), cần phải... đòi lại công bằng cho tổ tiên.

    Thời kỳ Ngũ đại thập quốc, chính quyền phương Bắc luôn duy trì thái độ khinh miệt đối với tập đoàn Tào Ngụy và Tư Mã gia.

    Kể từ giai đoạn này, chính quyền phương Bắc đã thuận theo xu thế "hạ thấp Tào Tháo và Tư Mã Ý, đề cao Gia Cát Lượng". Học giả Đông Tấn Tập Tạc Xỉ thậm chí còn "bái phục sát đất tài năng quân sự" của Lượng.

    Càng về sau này, địa vị của Gia Cát Lượng càng trở nên "chí cao vô thượng".

    Tới Đường triều, Gia Cát Lượng đã được xem như "Quân thần", được rước vào Võ miếu - nơi thờ phụng liệt đại kỳ tài quân sự, hưởng "đãi ngộ" không thua danh thần Trương Lương.

    Nhìn vào cách mà Gia Cát Lượng và Quan Công được tín ngưỡng dân gian Trung Quốc tôn thờ có thể thấy, đôi khi triết lý "thành bại luận anh hùng" không hẳn là chính xác.
     
    cfcbk, huukhanh, Ducko and 1 other person like this.
  16. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Có 1 nhân vật cách hành xử ra vẻ rất trung thành nhưng thật ra là 1 kẻ ngu trung, quên thù của chủ.
    Đố mọi người là ai?
     
  17. Heoconmtv

    Heoconmtv Moderator Thành viên BQT

    Phe nào vậy bác.
     
  18. khiconmtv

    khiconmtv Sinh viên năm IV

    Nguỵ...:D
     
  19. Ngọc Sơn

    Ngọc Sơn Lớp 7

    Thật là, ...
    Danh thần lương tướng muôn vạn địch
    Cũng không bằng ba tấc lưỡi hậu sinh
     
    Heoconmtv thích bài này.
  20. Ngọc Sơn

    Ngọc Sơn Lớp 7

    Kính Bác! Thật là em chưa thấy Điêu Thuyền bao giờ. Nhưng hẳn là, Liếc mắt đưa tình được Họ Lã cũng là một nghệ thuật đỉnh cao. Nếu lấy bá vương, hoàng đế mà so sánh thì có hơi buồn cho Điêu Thuyền, nhưng mấy ai trong các vị được người đời ca ngợi như họ Lã là chiến thần?

    Nếu nói về vai trò thì có lẽ Điêu Thuyền hơn hẳn Chân Lạc, mâu thuẫn của họ Lã và Đổng Trác rõ ràng đã làm thay đổi cục diện thế cục thiên hạ lúc bấy giờ. Nói vì Điêu Thuyền thì chắc hơi quá, nhưng nếu xét trong Tam Quốc Diễn Nghĩa thì có thể chấp nhận hơn.

    Trong "Thánh Thán Ngoại Thư", Mao Tôn Cương viết về Điêu Thuyền như sau:

    "18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lãnh của "nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ thay!"
     
    Chỉnh sửa cuối: 9/9/15
    Heoconmtv thích bài này.
Moderators: canaximuoi

Chia sẻ trang này