Tự truyện Chân trần Chí Thép - James G.Zumwalt

Thảo luận trong 'Tủ sách Hồi ký - Tiểu sử' bắt đầu bởi Song Ngư, 30/9/13.

  1. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP
    James G. Zumwalt
    Người dịch: Đỗ Hùng
    Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh

    [​IMG]


    Câu chuyện của Trung tá Thủy quân Lục chiến - James G. Zumwalt - con trai Đô đốc chỉ huy trưởng lực lượng Hải quân Mỹ tại Việt Nam.




    James G. Zumwalt – Xuất thân trong một gia đình có truyền thống binh nghiệp, cựu Trung tá Thủy quân Lục chiến James Zumwalt từng chiến đấu tại Việt Nam, tham gia cuộc can thiệp quân sự của Mỹ Panama năm 1989 và Chiến dịch Bão táp Sa mạc tại vùng Vịnh, Iraq năm 1990 – 1991.


    Ông là con trai của Đô đốc Elmo Russell Zumwalt, Jr., Tư lệnh Hải quân Mỹ đặc trách lực lượng duyên hải và đường sông thời Chiến tranh Việt Nam. Tư lệnh Elmo Zumwalt, sau này là Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, chính là người đã phát động chiến dịch rải chất độc hóa học tại Việt Nam trong suốt một giai đoạn rất dài của cuộc chiến, để lại nhiều di họa cho đất nước Việt Nam cũng như nước Mỹ và chính gia đình ông.


    Sau quãng đời binh nghiệp, ông James Zumwalt trở thành một diễn giả, tác giả của hàng loạt bài viết về quân sự và chính sách đối ngoại trên các báo và tạp chí nổi tiếng của Mỹ như USA Today, The Washington Post, The New York Times, The Washington Times, The LA Times, The Chicago Tribune, The San Diego Union, Parade…


    Ông hiện là chủ tịch công ty tư vấn an ninh mang tên cha mình – Admiral Zumwalt & Consultants, Inc.


    James Zumwalt viết BARE FEET, IRON WILL (CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP) sau những chuyến trở lại Việt Nam, gặp, phỏng vấn và trò chuyện thẳng thắn với những người từng đứng bên kia chiến tuyến. Cuốn sách xuất bản ở Mỹ vào ngày 26/4/2010 đã tạo ra tiếng vang lớn và thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận Mỹ.












    Cuốn sách này dành tặng:


    -----------------------
    Anh trai tôi, Elmo, người đã xung phong sang Việt Nam với tinh thần trách nhiệm, danh dự và xả thân, để rồi phải mất sớm vì chính những mầm độc từ cuộc chiến ấy.
    -----------------------


    - 58.000 người Mỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam.


    - Gần một triệu chiến binh Bắc Việt và Việt Cộng, những người đã chiến đấu vì một nước Việt Nam thống nhất, đã trải qua bao gian khó, khổ đau, bi kịch và hy sinh trong hành trình đến chiến thắng cuối cùng.


    - 254.000 quân nhân miền Nam Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh người Mỹ.


    - Khoảng hai triệu công dân Việt Nam, những người tham chiến hoặc là nạn nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, đã chấp nhận trả giá với niệm hy vọng một ngày mai các thế hệ con cháu có thể sống tự do, sau những đau khổ của cha ông.


    - Con gái Thea, với một tình yêu bất tận đã mang đến cho đời tôi niềm vui và niềm hạnh phúc tuyệt vời, mà ngay chính con cũng không nhận ra.


    - Con trai James, người đã tiếp nối truyền thống gia đình về trách nhiệm, danh dự và hy sinh cho đất nước, bất chấp nguy nan, đã mạo hiểm cả cuộc sống và một phần thân thể của mình để cứu người khi làm nhiệm vụ vô hiệu hóa vật nổ trên chiến trường trong thời đại mới.


    - Vợ tôi, Karin, người đã cho tôi biết ý nghĩa về sức mạnh của tình yêu và tiến trình hàn gắn, người vẫn còn đang tiếp thêm cho tôi nghị lực.


    - Mẹ tôi, người đã chịu đựng sự khắc nghiệt của chiến tranh trong những thập niên đầu đời khi mất đi thân phụ và về sau còn mất đi một đứa con trai vì chiến tranh.


    - Cha tôi, người với tấm gương chân thực của chính mình đã dạy cho tôi về bổn phận, danh dự và tinh thần hy sinh cho Tổ quốc.
















    “Một số ý kiến của chính quyền Mỹ cho rằng nếu tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam một cách hợp lý, không có áp lực chính trị, thì người Mỹ đã chiến thắng. Trước khi trở lại Việt Nam vào năm 1994, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng giờ đây tôi đã nghĩ khác. Chuyển biến trong tôi chỉ diễn ra sau khi tôi thấu hiểu được rằng người Việt Nam có một ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi.


    Không nơi nào mà quyết tâm được thể hiện rõ như thái độ những người sống và chiến đấu dọc Đường mòn Hồ Chí Minh và địa đạo Củ Chi. Hiểu được quyết tâm duy trì Đường mòn cũng như bám trụ tại địa đạo Củ Chi chính là hiểu được “chí thép” của họ.


    Đó chính là ý chí thép đặc trưng và rất đặc biệt của người Việt Nam, vốn đã thôi thúc họ tiến lên để giành chiến thắng trong cuộc chiến trước người Mỹ - cuộc chiến mà nước Mỹ thiếu một quyết tâm tương xứng.”


    James G. Zumwalt

    Nguồn: vnmilitaryhistory
     
    Chỉnh sửa cuối: 21/3/14
    kaiba thích bài này.
  2. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    Mình chỉ repost lại từ TVE cũ nên không có file ebook. Mình đành tìm bản online đăng lại nhé!!!
     
  3. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    LỜI TỰA CỦA THƯỢNG TƯỚNG PHAN TRUNG KIÊN


    Tôi đang cầm trên tay cuốn sách đặc biệt về cuộc chiến chống Mỹ thần kỳ của dân tộc. Nó đặc biệt vì chính tựa sách Chân trần Chí thép được đặt bởi một Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ - Nay trở thành một người bạn thân thiết trong quá trình hòa giải và hàn gắn những nỗi đau thời hậu chiến, thúc đẩy quá trình thấu hiểu, hợp tác và hàn gắn vết thương chiến tranh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.


    Tác giả cuốn sách James G. Zumwalt là con trai của Zumwalt Tư lệnh Hải quân Mỹ - Chỉ huy trưởng lực lượng Hải quân Mỹ, là người đã ra lệnh rải chất độc da cam tại Việt Nam và chính con trai đầu của ông đã chết vì chất độc da cam.


    Đọc cuốn sách tôi có cảm nhận như sống lại thời chiến tranh chống Mỹ hào hùng của dân tộc. Những chi tiết quý báu, tư liệu phong phú, và nhận xét độc đáo của tác giả qua gần 200 cuộc phỏng vấn tại Việt Nam đã cho người đọc những câu chuyện sống động về ý chí kiên cường của thế hệ cha anh đã quyết lòng hy sinh vì độc lập tự do cho dân tộc.


    Tôi khâm phục sự trung thực và dũng cảm của tác giả khi bộc lộ những cái nhìn khác biệt với quan điểm thù hận thời tuổi trẻ của ông, và ở chính quyền Mỹ hồi đó. Thật không dễ để viết một cuốn sách thẳng thắn và sâu sắc như vậy. Tác giả đã cảm nhận ngoài ý chí kiên cường trong chiến đấu, Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình và mong muốn làm bạn với tất cả các dân tộc khác. Tôi tin rằng sẽ còn nhiều cuốn sách và tấm lòng từ những cựu chiến binh khác, vì quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã và đang thực sự trải nghiệm qua một giai đoạn mới.


    Công ty First New – Trí Việt đã kịp thời dịch cuốn sách này sang tiếng Việt, kỉ niệm ngày Giải phóng miền Nam để các thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ hơn sự anh dũng sáng tạo và ý chí sắt thép vô song đã làm nên chiến thắng của dân tộc. Tôi tin rằng ý chí kiên cường ấy sẽ vận động tích cực đưa đất nước chúng ta tiến lên mạnh mẽ trong thời đại ngày nay và tương lai.


    Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2011
    Thượng tướng Phan Trung Kiên
    Thứ trưởng Bộ Quốc phòng CHXHCNVN
    Anh hùng LLVTND


    CUỐN SÁCH CỦA SỰ THỰC VÀ CHÍNH TRỰC


    Tôi thật xúc động khi đọc CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP vì tôi cảm nhận cuốn sách thực sự được viết bằng cả trái tim và lòng khát khao đi tìm chân lý và sự thật của tác giả - Trung tá Thủy quân Lục chiến James G. Zumwalt, người đã trực tiếp tham chiến ở chiến trường Việt Nam và người anh trai là Trung úy Elmo đã chết vì nhiễm chất độc da cam do chính cha mình – Tư lệnh Hải quân Mỹ Zumwalt đã ra lệnh rải chất độc khai hoang xuống chiến trường Việt Nam. Cũng như quyển Không Thể Chuộc Lỗi của Allen Hassan, thật hiếm khi đọc được cuốn sách hay và sống động như thế này do một cựu chiến binh Mỹ viết.


    Cuốn sách cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác qua lăng kính của một người ở bên kia chiến tuyến về những con người Việt Nam CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP, qua đó giúp bạn đọc hiểu thêm về ý chí kiên cường, tính mưu trí sáng tạo của thế hệ cha anh chúng ta trong cuộc chiến tranh giành độc lập. Mỗi trang sách đều toát lên tính nhân bản sâu sắc, tình thương yêu và sự cảm thông giữa con người với con người – cao hơn mọi định kiến, thù hằn.


    Tôi cảm ơn và trân trọng tình cảm mà tác giả dành cho mảnh đất và con người Việt Nam như một nỗ lực dứt bỏ nỗi ám ảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam, nơi tác giả đã trực tiếp tham chiến và chứng kiến những vết thương mà cuộc chiến khốc liệt gây ra đã in hằn trong lịch sử cả hai dân tộc.


    Đây thật sự là một cuốn sách có giá trị và đáng đọc – để thấu hiểu thêm một thời máu lửa hào hùng của dân tộc – và chúng ta không được quên – về sự tàn ác của chiến tranh, và cái giá phải trả để giờ đây chúng ta có được những năm tháng của ngày hôm nay.



    Trung tướng Lê Thành Tâm
    Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh​
     
  4. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    LỜI GIỚI THIỆU

    Khi James G. Zumwalt viết “Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến duy nhất mà người Mỹ đối đầu với người Việt Nam. Để đảm bảo rằng bi kịch ấy không lặp lại, chúng ta cần phải thấu hiểu lẫn nhau. Bàn đạp để thực hiện điều đó là hai bên cần phải hiểu biết lẫn nhau hơn và thấu hiểu hơn nỗi chịu đựng của nhau”, thì có nghĩa là ông đã có cách lý giải thỏa đáng nhất của mình về cái mà ông coi là “vết hằn không bao giờ phai mờ cho nước Mỹ”.

    Việc đối diện với “cuộc chiến nội tâm” phải chăng là một cách để thế hệ cựu chiến binh ấy thừa nhận sự ám ảnh của di sản? Chỉ biết rằng, nếu cách đó đồng thời tạo ra cảm hứng cho một cuốn sách quý thế này thì đáng trân trọng biết bao!

    Tác giả của cuốn sách vốn xuất thân trong một gia đình truyền thống binh nghiệp, lại có hành trang thực tiễn của cả cha và con cùng là cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam, do đó những trang viết của James G. Zumwalt có nhiều sức thuyết phục bởi sự chân thực và cả những ám ảnh phải chịu đựng qua năm tháng thôi thúc ông đi-tìm-hiểu-viết. Ông viết với động cơ “để sai lầm trong cuộc chiến tranh tai Việt Nam không bao giờ xẩy ra với các thế hệ người Mỹ trong tương lai”, chứ không nhằm “đưa ra một phát ngôn chính trị”. Mặc dù thế người đọc vẫn thấy ở đoạn kết có những dòng cảm xúc vượt quá khuôn khổ cá nhân một nhà báo: “Có lẽ sai lầm lớn nhất của chúng ta tại Việt Nam là đã không nhận ra rằng chúng ta đang chiến đấu với “thế hệ vĩ đại nhất” của đất nước này – một thế hệ với quyết tâm thống nhất và duy trì sự tồn tại của dân tộc sẵn sàng đứng lên đánh đuổi hết quân ngoại xâm này đến quân ngoại xâm khác”.

    James G. Zumwalt muốn triết lý rằng trong chiến tranh “Tính phổ quát” là một nguyên tắc đơn giản, “nó thừa nhận khổ đau là một phạm trù phi chiến tuyến, để từ đấy, một khi cuộc chiến kết thúc, một mảnh đất màu mỡ có thể được cày xới để gieo lên hạt giống của tình hữu nghị. Đó là một nguyên tắc mà tôi, khi đang trải qua bi kịch cá nhân, đã không nhìn thấy được”. Như thế tôi tin đây không phải là cuốn sách duy nhất của ông về đề tài này và sẽ có nhiều cuốn sách hay nữa của nhiều người có “bi kịch” về Việt Nam, làm cầu nối cho sự thông hiểu và thiết lập tình hữu nghị.


    Với cuốn sách mang tên rất Việt Nam và sớm được Công ty First New – Trí Việt dịch ra tiếng Việt, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, thông điệp mà James G. Zumwalt mang đến là cho nhiều người thuộc cả nhiều bên chiến tuyến xưa, rằng: “tinh thần dân tộc và lòng tự hào luôn bùng cháy, thổi lên trong lòng mỗi người dân Việt Nam quyết tâm đánh đuổi ngoại bang. Tinh thần dân tộc, lòng tự hào và quyết tâm ấy phát triển thành một sức mạnh vĩ đại nhất – một CHÍ THÉP – giúp họ thực hiện được điều tưởng như không thể. Để cuối cùng, CHÍ THÉP đã đánh bại công nghệ của siêu cường hùng mạnh nhất thế giới”.

    Tôi đọc một mạch CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP, rồi sau đó lại một mạch và một mạch, mặc kệ ngoài kia trời bỏ sáng qua chiều và về khuya tự lúc nào. Như thế không phải cách của một Phó Giáo sư Trưởng khoa Lịch sử, mà là người cựu chiến binh tình cờ gặp lại ở đây những câu chuyện không dứt về đồng đội cũ, chiến trường xưa. Tuy không thích cách gọi “kẻ thù cũ” của ông, nhưng từng câu chuyện của khoảng 200 cuộc gặp cứ nối với nhau thành hiểu biết và cảm thông.

    Có một cách viết của James G. Zumwalt rất tự nhiên và chân thực, rất hay về bố cục 11 phần khá logic và 29 câu chuyện sống động được chọn dịch trong đó. Tuy có những câu chuyện còn có vẻ dang dở và nhiều ẩn dụ (Chẳng hạn các chuyện: Trong bụng dã thú; Trận chiến kết thúc nhưng cuộc chiến thực sự mới bắt đầu; Chạy tìm sự sống; Bay đến tự do; Sai lầm suýt chết…), nhưng nhìn chung là thú vị và rất thật, có tính điển hình và có cả chiều sâu, chuyện rất vui vì rất “lính”, rất nhân văn vì đó là chuyện của người Việt Nam trong chiến tranh yêu nước. Chính James G. Zumwalt qua sách này cũng đã góp “cái nhìn mới về cuộc chiến”. Đọc CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP như đang xem lại cuốn phim với đầy đủ những gam màu chân thực của cuộc sống thời chiến ở Trường Sơn, địa đạo Củ Chi, ở hai miền Nam – Bắc Việt Nam những năm gian khổ, ác liệt, những con người “chân trần” mà có “chí thép” đã sống, chiến đấu và chịu đựng.

    Chiến tranh đã đi qua mấy chục năm, hơn một thế hệ bấy nay đã và đang hăng say trên những giảng đường, những diễn đàn quốc tế, những vạt rừng, những cánh đồng, những bến cảng, công trường xây dựng… Nhưng không một thế hệ nào được bỏ quên quá khứ trong hành trình đi tới, bởi đó là di sản lịch sử của mỗi quốc gia dân tộc. Vì thế ta đồng tình với James G. Zumwalt khi ông đã dành những dòng cuối cuốn sách để viết bài thơ “Xin đừng quên” tưởng niệm những người hy sinh trong cuộc chiến vừa qua; và hơn thế, xin đừng quên tất cả những gì mà “Chân trần chí thép” đã hơn một lần nói đến trong cuốn sách hay này.

    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

    Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Tư, 2011
    PGS. TS. Hà Minh Hồng
    Trưởng Khoa Lịch sử
    Trường Đại học KHXH & NV – ĐHQG TpHCM​
     
  5. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    Lời người dịch

    THẤU HIỂU KẺ THÙ

    Gõ cửa nhà Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè vào một buổi chiều đầu năm, tôi không khỏi e ngại vì câu chuyện mà tôi mang đến gợi nhớ một quá khứ đáng tự hào nhưng đầy đau thương của bà.

    “Ba lần tiễn con đi. Hai lần khóc thầm lặng lẽ”. Bà Mè đã có hơn hai lần khóc thầm lặng lẽ, có những lúc nước mắt cạn khô trước nỗi mất mát vô bờ khi ba người con trai ngã xuống trên chiến trường gần như cùng lúc. Nhưng nỗi đau vô cùng ấy đã không làm người phụ nữ mảnh mai này gục ngã. Bà vẫn tiếp tục chiến đấu cho tới tận ngày non sông thống nhất.

    Chính ở những người phụ nữ như bà Mè, cựu chiến binh Mỹ James Zumwalt đã nhìn thấy một CHÍ THÉP. CHÍ THÉP ấy ẩn mình sau những đôi CHÂN TRẦN. Đó chính là sức mạnh đã giúp người Việt Nam vượt qua cuộc chiến kinh khiếp trước một kẻ thù vượt trội về công nghệ vũ khí.

    Chiến tranh đi qua, kẻ thắng, người bại đều trở về nhà. Nhưng cuộc chiến không kết thúc vào lúc tiếng súng ngưng. Nó vẫn còn tiếp diễn với nhiều người, đặc biệt là những người lính trở về từ chiến trường. Nỗi đau mất đi người thân, đồng đội hoặc một phần thân thể, nỗi ám ảnh về những nghịch cảnh bạo tàn của quá khứ như bóng ma cứ đeo đuổi mãi, khiến cho vết thương tâm hồn ngày càng trầm trọng thêm, khi mà vết thương thịt da đã được chữa lành.

    Nhiều người Mỹ trở về từ cuộc chiến đã mãi kẹt lại ở quá khứ, với những day dứt, hận thù, ám ảnh mà người ta từng gọi là “Hội chứng Việt Nam”.

    Ông James Zumwalt, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nhiều đời binh nghiệp, có nhiều hơn một lý do để tự giam hãm mình trong cuộc chiến của quá khứ, để cho những thù hận trầm tích theo tháng năm. Trong một thời gian dài, chừng hai mươi năm sau ngày Chiến tranh Việt Nam kết thúc, ông vẫn nhìn về phía Việt Nam, kẻ thù cũ của nước Mỹ và của chính bản thân ông, với một niềm hận thù dai dẳng. Cái chết của người anh trai vì căn bệnh ung thư, hậu quả của phơi nhiễm Chất độc Cam, càng khiến ông Zumwalt nung nấu lòng thù hận, với niềm tin xác quyết rằng chính người Việt Nam đã gây ra cho ông bi kịch gia đình ấy.

    Thế rồi, từ một chuyến đi khai mở vào năm 1994, cơ hội hàn gắn đã đến, trước hết là cho bản thân ông. Khi tiếp xúc với những con người từng ở bên kia chiến tuyến, mà tới tận lúc bấy giờ ông Zumwalt vẫn chưa nguôi ác cảm, người cựu chiến binh Mỹ dần nhận ra nhiều điều mới mẻ, mà ông gọi là những sự khai mở tâm hồn và nhận thức.

    Trước chuyến đi, ông chỉ tin rằng cuộc chiến của người Mỹ là chính nghĩa, nỗi đau mà người Mỹ hứng chịu từ cuộc chiến là duy nhất có ý nghĩa, và người Việt Nam phía bên kia chiến tuyến là kẻ thù tàn bạo, phải chịu trách nhiệm trước cuộc thua của người Mỹ và bi kịch gia đình ông. Giờ đây, qua những cuộc tiếp xúc từ các tướng lĩnh cấp cao như Võ Nguyên Giáp, Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Huy Phan, tới những người dân thường, từ những trai làng xung phong ra trận tới những phụ nữ một lòng son sắt như bà Bùi Thị Mè, ông Zumwalt đã vỡ ra điều bất khả tri bấy lâu. Ông chợt nhận thấy rằng, nỗi đau mà chiến tranh gây ra không từ một phía nào, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi phạm vi chiến cuộc bao phủ lên toàn bộ đất nước này, thì không chỉ các quân nhân và gia đình của họ, mà mọi người dân đều là nạn nhân của cuộc chiến.

    Một thời gian dài sau chiến tranh, những cựu quân nhân như ông Zumwalt vẫn không hiểu đâu là sức mạnh đã giúp người Việt Nam trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Chỉ tới sau chuyến đi khai mở ấy, ông mới ngộ ra:

    “Một vài ý kiến tại Mỹ cho rằng nếu tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam một cách hợp lý, không có áp lực chính trị, thì người Mỹ đã chiến thắng. Trước khi trở lại Việt Nam vào năm 1994, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng giờ đây tôi đã nghĩ khác. Chuyển biến trong tôi chỉ diễn ra sau khi tôi thấu hiểu được rằng người Việt Nam có một ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi.”

    Người Mỹ đã không thực sự có được ý chí ấy khi họ bước vào cuộc chiến. Họ đã không được chuẩn bị như phía Việt Nam. Đối với mỗi quân nhân Mỹ, mỗi ngày trôi qua có nghĩa là thời gian quân ngũ của họ được rút ngắn bớt một ngày. Đối với người Việt Nam, cuộc chiến trước mặt có thể diễn tiến dài lâu, và họ sẵn sàng chiến đấu tới chừng nào đạt được mục đích thống nhất. Họ không bị ám ảnh bởi thời kỳ quân ngũ.

    Trong khi người Mỹ chỉ nghĩ tới chuyện về nhà, nghĩ tới “phía sau”; người Việt Nam, ngược lại, dồn hết tinh thần vào những gì ở phía trước. Chính sự khác biệt này đã giải thích cho kết cục của cuộc chiến.

    Khi thấu hiểu được nguồn cơn, thấu hiểu được kẻ thù cũ, ông Zumwalt mới tìm thấy cơ hội hàn gắn vết thương chiến tranh, trước hết là của chính ông, và sau đó là nhận thức về một mối quan hệ Việt – Mỹ cần được thúc đẩy.

    Người Mỹ đã được đọc và nghe rất nhiều về Chiến tranh Việt Nam. Nhưng với CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP, lần đầu tiên họ được nghe tiếng nói của những người từng ở phía bên kia chiến tuyến, trong một tập hợp có hệ thống mà ông Zumwalt đã mất hơn 10 năm tìm hiểu, từ chuyến di khai mở năm 1994, để cho ra đời cuốn sách này. Cuốn sách trước hết là một thông điệp cho chính người Mỹ, những người đang kẹt lại ở quá khứ, với những ám ảnh giày vò. Nó là phương thuốc để người Mỹ chữa lành vết thương mà chiến tranh để lại.

    Thấu hiểu kẻ thù là một tiến trình đầy thách thức, và chỉ có thể đắc thụ khi người ta có một thiện chí. Ông Zumwalt, từ trong ám ảnh, đã có một thiện chí đủ lớn để tìm tới những cuộc đối thoại với kẻ thù cũ, để từ đó tường minh những chân lý mà ông chưa hề ngộ ra trước đây, để từ đó, kẻ thù cũ đã trở thành bạn bè.

    CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP là một cuốn sách công phu và chân thành, nhưng nó cũng rất khó được đón nhận ở phía bên này hoặc bên kia, nếu người đọc không có một thiện chí tương đồng với người viết.

    Chiến tranh đã lùi xa, kẻ thù ở bên kia chiến tuyến đã là một khái niệm của quá khứ. Kẻ thù giờ đây chính là rào cản nội tại, có thể do chính mỗi con người chúng ta tự dựng lên, để ngăn cản chúng ta tiến tới một sự thấu hiểu.

    Nếu người Mỹ hiểu thấu đáo về người Việt Nam ngay từ đầu, có lẽ nhân loại đã tránh phải chứng kiến một trong những cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử. Chính vì thế mà giờ đây, khi cuộc chiến đã lùi xa, tiến trình thấu hiểu cần được thúc đẩy hơn, để từ đó có thể tránh được nguy cơ gặp lại quá khứ ở tương lai. Nhắc lại quá khứ không phải để đay nghiến lịch sử. Nhắc lại quá khứ - như tinh thần của CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP – là để hướng tới tương lai, một tương lai sự thấu hiểu và tin cậy lẫn nhau.

    Khi đến gặp bà Bùi Thị Mè, trong quá trình dịch cuốc sách này, tôi đã gợi nhắc lại câu chuyện buồn quá khứ với một sự e ngại rằng điều đó một lần nữa khiến bà tổn thương. Nhưng tôi sớm nhận thấy mình hồ đồ. Người phụ nữ đã quá 90 tuổi này rốt cuộc lại chính là người đã trấn an cho tôi khỏi những lấn cấn ấy. Bà nhắc lại quá khứ với một nụ cười đầy bao dung. Niềm đau vẫn trầm tích, nhưng bà không mắc kẹt lại ở quá khứ, như nhiều người Mỹ đã và đang. Mỗi ngày bà vẫn đôn đáo cho những cuộc tiếp xúc, những hoạt động hữu nghị và nhân đạo.

    Bà nói: “Nhiều người hỏi cô sao không nghỉ ngơi an hưởng tuổi già. Cô trả lời: những người con trai của cô từng hứa sẽ chiến đấu để thống nhất đất nước và sau đó sẽ ra sức xây dựng Tổ quốc đẹp giàu. Các anh chỉ mới hoàn thành vế đầu của lời hứa nên giờ cô phải làm phần việc còn lại”.

    Rồi bà cười. Một nụ cười thanh thản.

    ĐỖ HÙNG
    Trưởng ban Quốc tế Báo Thanh niên





    Lời cảm ơn

    Từ lâu tôi đã ấp ủ dự định viết cuốn sách này. Tuy nhiên, tôi thấy rằng đấy là một công việc vô cùng khó khăn. Để nuôi được một đứa trẻ lớn khôn đôi khi cần tới sự giúp sức của cả làng, nên tôi cho rằng để viết một cuốn sách cũng cần có một nhóm đảm trách. Sẽ là vô cùng thiếu sót nếu không nói về những thành viên của nhóm đã giúp tôi hoàn thành tâm nguyện.

    - Nguyễn Văn Phú, người anh em Việt Nam của tôi. Cuộc chiến tranh đã cướp đi của tôi một người anh trai rốt cuộc đã mang tặng tôi một cậu em. Phú cùng người thân chạy trốn khỏi Việt Nam và được gia đình tôi đưa vào Mỹ. Cậu ấy sau đó đã trở lại cố quốc và có những sự giúp đỡ vô giá trong việc liên hệ với chính quyền, phỏng vấn và dịch thuật… Chúng tôi đã cùng nhau đi dọc Việt Nam hai lần để tìm gặp các cựu chiến binh, nghe họ kể những câu chuyện đáng kinh ngạc về cuộc chiến cũng như cách nhìn cuộc chiến từ phía bên kia chiến tuyến.

    - Dennis Lowery, bạn và đồng nghiệp của tôi. Viết một cuốn sách giống như một hành trình với nhiều điểm khởi đầu và kết thúc, Dennis đã cho tôi động lực và sự cố vấn để tôi có thể hoàn tất cuốn sách này. Khi đã hoàn tất bản thảo CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP, tôi hầu như không còn nghị lực để xuất bản nó. Hiểu được ý nghĩa quan trọng của thông điệp ẩn trong cuốn sách, Dennis đã hối thúc tôi công bố và cũng là người đã hỗ trợ đắc lực cho tôi trong việc xuất bản.

    - Lê Đỗ Huy, người phụ trách hình ảnh của tôi. Huy đã dành nhiều thời gian thâm nhập vào các kho ảnh để tìm ra nhiều tấm ảnh in trong CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP. Sự đóng góp của anh vào các câu chuyện trong cuốn sách này là vô giá.

    - Chuck Searcy, một cựu binh từ chiến trường Việt Nam và là chỗ quen biết của tôi, hiện đang sống tại Việt Nam. Anh ấy không ngần ngại bất kỳ chướng ngại vật nào trên hành trình đi tìm sự thật.

    Một nhóm chỉ có thể làm việc tốt khi các thành viên trong nhóm đều làm việc tốt. Tôi rất may mắn và biết ơn khi đã có được những thành viên như thế. Cuốn sách này khó mà được hoàn thành nếu không có sự hỗ trợ của nhóm. Tôi muốn tri ân tất cả về sự cống hiến và giúp đỡ trong việc thực hiện hóa giấc mơ mà tôi hằng ấp ủ.

    James G. Zumwalt​
     
  6. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    PHẦN MỞ ĐẦU


    CHIẾN TRANH VIỆT NAM ĐÃ ĐỂ LẠI MỘT VẾT HẰN KHÔNG BAO GIỜ PHAI MỜ CHO NƯỚC MỸ






    Kể từ Nội chiến, nước Mỹ chưa bao giờ chứng kiến một cuộc chiến gây chia rẽ lòng người như thế. Hơn một thế hệ đã trưởng thành kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc nhưng nhiều người Mỹ vẫn còn bị ám ảnh bởi những ký ức về cuộc chiến ấy.


    Đối với người này, nỗi ám ảnh có thể là cái chết của một người thân yêu. Đối với người kia, đó có thể là sự mất mát đồng đội, mất đi cánh tay hoặc một phần nào đó của cuộc sống. Việc hiểu được cuộc chiến, cũng như tìm hiểu nguyên nhân vì sao một người hưởng ứng lời kêu gọi nhập ngũ đã không nhận được sự biết ơn của đất nước, là một quá trình đấu tranh nội tại.


    Chiến tranh Việt Nam đã để lại một vết thương sâu hoắm trong tâm hồn người Mỹ là điều không thể phủ nhận. Vết thương ấy rõ ràng còn mưng mủ, giữa những tranh cãi liên quan xuất hiện rất nhiều năm sau khi Sài Gòn sụp đổ. Từ lời thú nhận của cố Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara – trong cuốn HỒI TƯỞNG1 – tới quyết định của Tổng thống Bill Clinton nối lại quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam vào tháng 7 năm 1995 sau 40 năm gián đoạn, cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn.


    CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP chắc chắn sẽ đối mặt với nhiều bất đồng như thế. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng những người vẫn còn bị ám ảnh bởi cuộc chiến hoặc giả đang vật lộn để hiểu nó sẽ đọc cuốn sách này với một thái độ cởi mở. Tôi cảm thấy rất nhiều người trong chúng ta đã không dám chấp nhận một nguyên tắc cơ bản về Chiến tranh Việt Nam – điều mà chúng ta đã chấp nhận sau tất cả các cuộc chiến khác mà nước Mỹ tham gia. Nguyên tắc đó đã thúc đẩy chúng ta, với tư cách một dân tộc, có thể chào đón kẻ thù cũ để xây dựng mối quan hệ hữu nghị, qua đó hàn gắn vết thương chiến tranh. Chúng ta không giữ được cái nhìn ấy, có lẽ bởi đây là cuộc chiến đầu tiên mà nước Mỹ thất bại trong lịch sử.


    Trong chiến tranh, một điều không thể phủ nhận là cả hai phía đều tổn thất. Cả kẻ thắng lẫn người bại đều tổn thương không ít thì nhiều. Bi kịch, sự chịu đựng gian khó và khổ đau là không khu biệt đối với các chiến binh, bất kể họ đứng ở phía nào của chiến tuyến, không khu biệt đối với những gia đình đang chờ đợi người chiến binh trở về; và không khu biệt đối với người dân đã ủng hộ sự nghiệp của các chiến binh đó. “Tính phổ quát” là một nguyên tắc đơn giản, nó thừa nhận khổ đau là một phạm trù phi chiến tuyến, để từ đấy, một khi cuộc chiến kết thúc, một mảnh đất màu mỡ có thể được cày xới để gieo lên hạt giống của tình hữu nghị. Đó là một nguyên tắc mà tôi, khi đang trải qua bi kịch cá nhân, đã không nhìn thấy được.


    Hãy để tôi chia sẻ những động cơ thúc đẩy tôi viết cuốn sách này.


    Tôi cho rằng có những cựu chiến binh của cuộc chiến Việt Nam, giống như tôi, đã cảm thấy khó khăn trong việc thừa nhận rằng cuộc chiến cứ mãi ám ảnh. Tuy nhiên, đến khi tôi trở lại Việt Nam vào năm 1994, khi mà tôi có thể đối mặt với cuộc chiến nội tâm của mình về bi kịch cá nhân xuất phát từ cuộc chiến kia, tôi đã có được cảm hứng để viết CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP.


    Tôi nhận thức được rằng rất nhiều người Mỹ đã phải chịu đựng bi kịch từ cuộc chiến tranh Việt Nam lớn hơn tôi rất nhiều. Trải nghiệm trong đời của người này luôn khác với người kia, mất mát cũng thế. Về khía cạnh này, tổn thất mà gia đình và tôi gặp phải đã ảnh hưởng đến chúng tôi rất nhiều. Như một sự nghiệt ngã trớ trêu của số phận, chính những mệnh lệnh quân đội do cha tôi ban hành rốt cuộc đã gây nên cái chết cho anh trai tôi, đó chính là điều mà tôi muốn thừa nhận.
     
  7. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***


    Gia đình tôi có một truyền thông binh nghiệp đáng tự hào: hầu như mỗi cuộc chiến mà nước Mỹ tham gia kể từ Cách mạng Mỹ đến nay đều có ít nhất một người mang họ Zumwalt phục vụ. Bạn bè thân thiết không hề ngạc nhiên khi biết rằng tất cả các thành viên nam trong gia đình trực hệ của tôi đều xung phong phục vụ tại Việt Nam.

    Từ năm 1968 đến 1970, người cha giờ đã quá cố của tôi, Elmo R. Zumwalt, Jr., là Phó Đô đốc chỉ huy lực lượng hải quân tại Việt Nam. Trong vai trò “COMNAVFORV” (Commander Naval Forces Vietnam – Tư lệnh Hải lực tại Việt Nam), ông chỉ huy tất cả lực lượng duyên hải và đường sông của Hải quân Mỹ tham chiến tại Nam Việt Nam.

    Ngay khi cha tôi đến Việt Nam, thượng cấp trực tiếp của ông, Tướng Creighton Abrams, đã bày tỏ sự không hài lòng về vai trò của Hải quân trong cuộc chiến lúc ấy. Ông muốn Hải quân phải quyết liệt hơn nữa. Trên cơ sở đó, cha tôi đã vạch ra một chiến lược hung hãn hơn, với mục đích biến hệ thống kênh rạch miền Nam Việt Nam, vốn lâu nay bị Việt Cộng sử dụng làm đường chuyển quân, thành bãi chiến trường. (Từ “Việt Cộng” là một cách diễn đạt với hàm ý xấu được chính quyền Sài Gòn và sau đó là quân đội Mỹ sử dụng để chỉ những chiến binh cộng sản tại miền Nam chiến đấu nhằm lật đổ chính quyền. Dù cụm từ “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (“People’s Liberation Armed Forces” – PLAF) là chính xác hơn, tôi vẫn dùng “Việt Cộng” bởi từ này quen thuộc hơn đối với người Mỹ. Tôi không có ý thiếu tôn trọng PLAF khi sử dụng từ đó).

    Chiến lược mới của cha tôi đã tạo ra những sự xáo trộn lớn cho Việt Cộng khi việc sử dụng hệ thống sông ngòi để tiếp vận và xâm nhập (từ phía Campuchia) sụt giảm nghiêm trọng. Tiếp tế của Việt Cộng suy giảm, thương vong của Lục quân Mỹ ở Đồng bằng Mê Koong (thường gọi là “Đồng bằng”) nhờ đó mà giảm theo. Duy trì sự hiện diện ổn định trong khu vực, người Mỹ đã có thể thúc đẩy tiến trình bình ổn Đồng bằng, làm gia tăng sự ủng hộ của dân chúng đối với chính quyền Sài Gòn và chính phủ Mỹ.

    Nhưng sự thành công của chiến lược này cũng phải trả giá. Trong khi thương vong của Lục quân Mỹ giảm thì phía Hải quân tổn thất gia tăng nghiêm trọng với lực lượng đường sông chiếm tới sáu phần trăm trong tổng thương vong hằng tháng. Điều này có nghĩa là nguy cơ bị giết hoặc bị thương đối với những người phục vụ “bên trong” (chiến đấu trong khu vực chiến sự ở Việt Nam) trên những chiếc thuyền tuần tra là ba-trên-bốn – tức cứ bốn người thì ba người đối mặt với nguy cơ – trong thời gian nghĩa vụ một năm. Cha tôi đã lập tức tìm kiếm phương pháp nâng cao an toàn cho lực lượng này.

    Hải quân chịu thương vong lớn là do đặc trưng của địa hình họ chiến đấu – sông nhỏ hẹp với cây cối um tùm hai bên. Đối với Việt Cộng, đó là môi trường lý tưởng cho các cuộc phục kích nhằm vào tàu tuần tra; đối với người Mỹ, đó là một địa hình ác mộng cho khả năng phòng thủ. Vùng cây cối rậm rạp ven sông là nơi trú ẩn và là lá chắn tốt cho Việt Cộng trong các cuộc phục kích, giúp họ có thể tấn công vào Hải quân Mỹ ở cự ly rất gần. Với yếu tố bất ngờ, Việt Cộng hầu như không cho thủy thủ đoàn cơ hội nào để phản công.

    Trong số những chiến binh đường sông dũng cảm của Mỹ hoạt động trong lực lượng “Hải quân nước nâu” (tức hệ thống đường sông nội địa ở Nam Việt Nam) có người anh trai của tôi, Trung úy Hải quân Elmo R. Zumwalt, III. Từng được biên chế về một vị trí khá nhàn trên khu trục hạm ở Norfolk, Virginia, Elmo tự cảm thấy có bổn phận phải phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Anh không bao giờ hỏi ý kiến cha tôi về vấn đề này, bởi Elmo biết cha sẽ đưa ra những lập luận chặt chẽ để thuyết phục anh không nên đi. (Thời còn ở trường trung học và Học viện Hải quân, cha tôi đã được trao nhiều giải thưởng về tranh biện. Tôi và Elmo từ nhỏ đã biết rằng không bao giờ nên tranh luận với ông vì ông luôn là người chiến thắng bằng một vũ khí mà chúng tôi không thể có – lập luận chặt chẽ). Nếu Elmo hỏi ý kiến, cha tôi có thể sẽ không đưa ra những lý lẽ làm nản lòng anh, vì cha tôi hiểu người con trai này có một ý thức trách nhiệm lớn. Trong trường hợp này, cha tôi có thể nói với Elmo những lời thiên về tình cảm, chẳng hạn: “Tại sao lại để cho mẹ con phải lo nghĩ thêm nữa về việc có một đứa con đối mặt với bất trắc trên chiến trường, giữa lúc bà đã có một người chồng đang sống cận kề hiểm nguy như thế?” Elmo cho rằng cha tôi có thể sẽ khuyên anh nên chờ đến khi cha tôi hết thời hạn công tác ở Việt Nam thì anh mới tình nguyện sang đấy. Đó là một sự cân nhắc có cơ sở. Nhưng Elmo biết anh không chọn Hải quân như một sự nghiệp suốt đời. Nếu không xung phong đi lần này, anh có thể sẽ mất cơ hội duy nhất của mình.

    Elmo đã đến Việt Nam để đảm nhiệm vị trí chỉ huy duy nhất trong sự nghiệp hải quân ngắn ngủi – thuyền trưởng một tàu tuần tra đường sông, thường gọi là “tàu nhanh” – PCF-35 (viết tắt của Patrol Craft Fast – tàu tuần tra cao tốc). Là tư lệnh của tàu cao tốc, Elmo nằm dưới quyền chỉ huy của một guồng máy do cha tôi đứng đầu – đó là COMNAVFORV. Quan hệ gia đình không bao giờ mang lại một đặc ân nào đó trong nhiệm vụ, bởi cả cha và anh tôi đều không nhập nhằng chuyện gia đình và nghĩa vụ quốc gia. Tính cách của hai người là vậy.

    (Trong một phút trải lòng về sau, cha tôi thừa nhận mình từng có làm chệch đi một chút so với thông lệ trong quân đội, chỉ bởi anh Elmo phục vụ ở vùng chiến sự. Dù sự thiên lệch đó không có gì quan trọng, nhưng cha tôi vẫn cảm thấy có chút tội lỗi. “Mỗi buổi sáng”, cha tôi nhớ lại, “khi nhận được danh sách thương vong trong các chiến dịch của đêm hôm trước, với tên người được xếp theo thứ tự A, B, C, cha thường bắt đầu đọc danh sách từ cuối lên đầu”. Với họ “Zumwalt”, nếu Elmo nằm trong danh sách thương vong, tên anh chắc chắn sẽ ở hàng cuối. Tôi không nghĩ rằng có ai đó sẽ trách cha tôi về sự thiên vị này). Cha tôi là một người đàn ông đầy đam mê và thông tuệ. Tôi không tin có lúc nào đó ông đưa ra một quyết định quân sự mà không cân nhắc tới những tác hại của nó đối với người lính. Nhưng trong giai đoạn mới nắm quyền chỉ huy tại Việt Nam, có khi ông ở vào hoàn cảnh không thấy hết được tác động từ quyết định của mình. Dù quyết định ấy đã giúp đạt được mục tiêu giảm thương vong cho Hải quân Mỹ, ông không thể ngờ rằng nó cũng chính là nguyên nhân cướp đi mạng sống của người con trai cùng tên với ông.

    Khi cân nhắc các lựa chọn khả thi để giảm thương vong cho quân Mỹ, cha tôi nhận thấy rằng chỉ có một cách là triệt tiêu lợi thế bất ngờ của Việt Cộng – bằng cách phá đi hệ thống ẩn náu là những vùng bụi cây rậm rạp ven sông. Năm 1965, Lục quân Mỹ sử dụng một loại hóa chất diệt cỏ để làm rụng lá các vùng rừng gần Sài Gòn, vốn bị tình nghi là nơi kẻ thù hoạt động. Phương pháp này đã được mở rộng khi quân đội tiến tới đóng quân trong rừng. Các nhà sản xuất chất diệt cỏ đã cam đoan với chính phủ Mỹ rằng sản phẩm của họ không gây hại cho con người. Tin vào lời cam đoan đó, cha tôi đã ra lệnh rải thuốc dọc các bờ sông nơi quân của ông thường tuần tra bằng tàu thủy.

    Hiệu quả thấy được ngay tức thì – thương vong của Hải quân Mỹ giảm hơn năm lần – chỉ còn chưa đầy một phần trăm mỗi tháng. Dưới góc độ quân sự, quyết định sử dụng chất diệt cỏ là đúng đắn. Việc làm này đã cho phép hàng chục ngàn lính thủy, vốn đối mặt với nguy cơ thương vong cao, có thể trở về nhà.

    Nhưng phải rất nhiều năm sau thì những người này mới phát hiện ra rằng cuộc chiến sinh tồn của họ còn lâu mới kết thúc. Họ đã trở về nhà với một quả bom hóa học nổ chậm trong người. Chất diệt cỏ mà họ bị phơi nhiễm, Chất độc Cam[SUP]1[/SUP], trái với cam đoan của các nhà sản xuất, là chất gây ung thư. (Mười sáu năm sau đó, cha tôi mới biết rằng các hãng sản xuất chẳng những sai lầm trong việc khẳng định tính vô hại của chất này đối với người, mà – trong vài trường hợp – họ còn nói khác đi so với những gì họ biết).

    Bị phơi nhiễm nặng Chất độc Cam trong thời gian phục vụ ở Việt Nam, nhiều cựu chiến binh đã chịu đựng hậu quả kinh khiếp về sức khỏe, với quả bom nổ chậm phát nổ sau quãng thời gian dài ngắn khác nhau. Đối với vài người, vụ nổ đến rất sớm, khi những đứa con do họ sinh ra sau thời gian phơi nhiễm gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Đối với số khác, thời điểm phát nổ đến muộn hơn, có khi phải mười, mười lăm, thậm chí hai mươi năm sau, khi nhiều loại ung thư, mà nay Bộ Cựu chiến binh đã thừa nhận là có liên quan tới Chất độc Cam, tấn công họ. Anh trai tôi nằm trong số những nạn nhân bị ung thư liên quan tới Chất độc Cam.

    Cha tôi đã dành tất cả thời gian giúp Elmo chống chọi với căn bệnh ung thư. Cùng nhau, họ tìm kiếm tất cả các giải pháp có thể. Ban đầu, họ tập trung vào các phương pháp y khoa để điều trị; về cuối, họ tìm mọi cách làm chậm sự phát triển chết chóc của căn bệnh. Sự gắn bó giữa họ là vô cùng mật thiết. Có thể nói tình cảm cha con giữa hai người không ai có thể sánh được. Tình cảm ấy đã được diễn tả khá đầy đủ trong lá thư mà Elmo viết cho cha tôi không bao lâu trước khi anh qua đời. Trong thư anh viết: “Ba thân yêu, cả ở Việt Nam lẫn đối với căn bệnh ung thư của con, chúng ta đã cùng nhau chiến đấu và cùng thất bại. Nhưng, chúng ta luôn biết rằng ngay khi lâm vào một trận chiến tuyệt vọng, tình yêu của chúng ta cũng không cho phép một sự thối chí, bất chấp nguy cơ lớn nhường nào, chúng ta cũng không từ bỏ… Con yêu ba vô ngần. Con muốn được chiến đấu bên cạnh ba biết bao. Ba luôn tạo ra sự khác biệt. Ba đã làm cho cuộc chiến cuối cùng của con, trên hành trình tới cõi chết, trở nên nhẹ nhõm và nhân văn hơn. Con yêu ba”.

    Vào ngày 13 tháng 8 năm 1988, cuộc chiến cuối cùng mà họ sát cánh bên nhau đã kết thúc. Ở tuổi 42, sau năm năm dũng cảm chiến đấu, Elmo qua đời. Cũng tương tự như cuộc chiến ở Việt Nam, anh đã anh dũng chống lại một kẻ thù giấu mặt, để rồi cuối cùng phải nhận lấy thất bại trước kẻ địch quyết đoán hơn.
     
  8. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Sau cái chết của Elmo, cha tôi bắt đầu một sự nghiệp mới – thuyết phục chính phủ Mỹ thừa nhận những ảnh hưởng của Chất độc Cam lên sức khỏe con người và bồi thường tài chính cho các chiến binh Việt Nam bị ảnh hưởng.


    Một phần nào đó, cái chết của Elmo thúc đẩy cha tôi tham gia cuộc đấu tranh, nhưng mặt khác, việc tham gia của ông cũng xuất phát từ niềm tin thường trực trong ông, rằng trách nhiệm của các tư lệnh chiến trường đối với binh sĩ không kết thúc khi cuộc chiến đã chấm dứt. Trong thời bình, người cựu tư lệnh không được phép quên sự hy sinh của các chiến binh Hải, Lục, Không quân và Thủy quân Lục chiến trong thời chiến tranh. Nỗ lực của cha tôi cùng với nhiều người khác nhằm thúc đẩy thông qua một nghị quyết về vấn đề Chất độc Cam đã dẫn tới việc chính phủ Mỹ tìm thấy bằng chứng thống kê về mối liên quan giữa cựu chiến binh bị phơi nhiễm Chất độc Cam với một số căn bệnh mà họ mắc phải. Từ các phát hiện đó, Bộ Cựu chiến binh đã có chương trình bồi thường cho các cựu quân nhân này.


    Sự tham gia của cha tôi vào các hoạt động liên quan tới Chất độc Cam đã đưa ông trở lại Việt Nam vào tháng 9 năm 1994, trở thành vị tư lệnh cấp cao nhất của thời chiến tranh quay lại đây. Tôi có dịp tháp tùng ông trong chuyến đi ấy – cũng là chuyến trở lại Việt Nam đầu tiên của tôi kể từ sau cuộc chiến. Mục đích của cha tôi là tìm kiếm sự hợp tác từ Hà Nội để triển khai một cuộc nghiên cứu chung về Chất độc Cam.




    ***




    Khi nỗi đau trước cái chết của người anh trai do hậu quả Chiến tranh Việt Nam vẫn còn đầy đọa, việc trở lại đất nước nơi đã gieo mầm cho cái chết đó quả là một thử thách lớn đối với tôi. Trong thời gian chuẩn bị tới Việt Nam, tôi nhận thấy rằng cuộc chiến nội tâm phát khởi từ cái chết của anh vẫn đang âm ỉ. Đã sáu năm kể từ lúc anh qua đời, dù cố gắng nhưng tôi vẫn không thể chấp nhận thực tế này.


    Trên đường tới Việt Nam vào năm 1994, tôi không ngừng hồi tưởng về cuộc chiến, và về lần chúng tôi gặp nhau tại căn cứ thuyền cao tốc của anh ở Đà Nẵng vào năm 1969. Anh mới hai mươi ba tuổi; tôi hai mươi. Với tất cả sự ngây thơ của tuổi trẻ, chúng tôi cứ nghĩ rằng chẳng có gì đánh bại được mình, dù dấu hiệu của chết chóc và hiểm nguy hiển hiện khắp nơi: các thủy thủ đang chuyển đạn và quân nhu lên tàu chuẩn bị cho một cuộc tuần tra, nhiều thân tàu thủng lỗ chỗ do đạn địch từ các lần tuần tra trước đang được sửa chữa; các thủy thủ mới đến trình diện, thay thế cho số vừa ngã xuống trong vài ngày trước. Thế nhưng vào lúc ấy, ý nghĩ về cái chết dường như vẫn xa lạ đối với chúng tôi.


    Tôi chưa gặp Elmo trong vòng một năm trước đấy. Đó là khoảng thời gian xa cách lâu nhất của chúng tôi vào lúc ấy. Tôi vẫn nhớ cảm giác phấn khích khi được gặp lại anh. Ban đầu tôi định ôm hôn thật chặt; nhưng sau đó có phần do dự, khi chợt nhớ ra cả hai đều đang khoác quân phục. Tôi dừng lại, bước lùi vài bước, rồi chào anh theo nghi thức. Anh đáp lại, và chúng tôi ôm nhau. Hồi nhỏ chúng tôi thường gây gổ nhau, nhưng đến thời trung học và đại học, hai anh em lại rất thân thiết.


    Tạm xua đi những ký ức xưa để trở về hiện tại với chuyến đi đến Việt Nam của tôi vào tháng 9 năm 1994. Một lần nữa, nỗi đau, cảm giác trống rỗng sau cái chết của Elmo lại xâm chiếm tâm hồn.




    ***




    Khi máy bay hướng về Hà Nội, tôi tiếp tục suy nghĩ về cái chết của anh trai và hàng ngàn người đồng hương khác. Tôi muốn là điều gì đó cho họ.


    Một vài ngày sau, tôi gặp những kẻ thù cũ, những cựu quân nhân từng phục vụ Quân đội Bắc Việt (North Vietnamese Army – NVA) và Việt Cộng. Tôi nhớ ban đầu mình cảm thấy rất khó chịu. Nỗi giận dữ của tôi về việc những nhân vật này từng là thủ phạm gây ra cái chết của rất nhiều đồng đội người Mỹ không hề nguôi. Trong đầu tôi luôn có một niềm tin xác quyết rằng trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng phi nghĩa đã chiến thắng phe chính nghĩa. Năm mươi tám ngàn người Mỹ đã mất mạng khi cố gắng ngăn chặn Cộng sản và bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam; trong đó có tới hai ngàn năm trăm người còn nằm lại đâu đó giữa các khu rừng già Đông Nam Á. Bi kịch, niềm đau, nỗi thống khổ mà kẻ thù này gieo xuống là vô cùng khủng khiếp. Tôi vẫn tin cuộc chiến tranh đó là một bức tranh trắng và đen – không có màu xám – và rằng những con người này đã gây ra cho nước Mỹ một nỗi đau kinh khiếp. Họ cũng đã gây ra cho tôi và gia đình tôi nỗi đau tột cùng.


    Trong khi các cựu quân nhân người Việt mà tôi gặp tỏ ra nhã nhặn và cởi mở thì trong tôi, cơn giận vẫn không ngừng dâng lên. Khi nhìn thẳng vào họ, tôi nghĩ rằng lẽ ra họ không được đứng trước mặt tôi với tư cách là người chiến thắng – bởi đó chỉ là số phận; định mệnh chống lại chúng ta mà thôi. Thế rồi, nhận thức của tôi, nỗi giận dữ của tôi, đã thay đổi nhanh chóng.
     
  9. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***


    Tôi nhớ rất rõ cái khoảng khắc của sự thay đổi ấy. Đó là ngày thứ ba của chuyến viếng thăm. Chúng tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Huy Phan, một người phục vụ trong ngành quân y và nói tiếng Anh trôi chảy. Ông nói năng nhỏ nh. Lúc đó tôi dường như cảm thấy nguôi giận trước thái độ rất lịch thiệp của ông – một sự đối lập lớn với hình ảnh bạo tàn mà tôi thường hình dung về người chiến binh Bắc Việt.

    Ông Phan chia buồn về cái chết của Elmo. Chúng tôi cùng nói chuyện về cuộc chiến và tác động của nó lên cuộc sống những người sống sót. Bác sĩ Phan có vẻ bị tác động trong buổi trò chuyện. Dù tỏ ra trầm ngâm, nhưng ánh mắt đã biểu lộ nỗi thống khổ nội tâm của ông. Khi mắt ông bắt đầu sẫm lại, tôi cảm nhận ra rằng người đàn ông này cũng có một bi kịch lớn trong cuộc đời. Tôi dần có thiện cảm với ông. Sau này, tôi đã biết được nỗi đau lớn của Bác sĩ Phan – ông đã mất đi người cha trước mũi súng của quân Pháp hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và mất đi người em trai trong cuộc chiến lần thứ hai. Nỗi đau mất người em trai đã giày vò ông trong nhiều năm bởi gia đình không thể tìm thấy hài cốt – em trai của ông đơn giản chỉ là một cái tên trong danh sách rất dài những người lính Việt Nam mất tích khi đang tại ngũ. Phải mất tới mười bảy năm thì ông Phan và gia đình mới tìm ra hài cốt của người em trai và đưa về quê hương.

    Tôi xúc động trước câu chuyện của Bác sĩ Phan. Khi suy ngẫm về nó, tôi chợt thấy mình đã bắt đầu nhìn về cuộc chiến tranh với một nhận thức hoàn toàn mới. Vượt qua cảm giác tội lỗi, tôi nhận thấy rằng nỗi đau mất đi người thân không hề liên quan tới việc người đó đứng ở phía nào của chiến tuyến. Rõ ràng, nỗi đau mất em trai của ông Phan không hề nhẹ hơn nỗi đau mất anh trai của chính tôi. Lần đầu tiên, tôi không còn nhìn cuộc chiến này theo góc độ “trắng và đen” hay “thiện và ác”. Lần đầu tiên, tôi thấy trái tim mình cùng hòa nhịp với một kẻ thù mà tôi từng rất căm thù, khi nhận thấy rằng ông ta cũng chịu mất mát từ cuộc chiến đó.

    Cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng những người anh em của chúng ta, nhưng tôi cũng dần nhận ra rằng tôi còn may mắn hơn Bác sĩ Phan – ít ra là tôi còn được biết anh trai mình đã chết như thế nào, chết ở đâu và vào lúc nào. Tôi đã ở bên cạnh anh trai trong giờ phút lâm chung, biết được suy nghĩ sau cuối của anh; tôi biết được rằng anh đã đối mặt với tử thần trong cuộc chiến chống ung thư cũng dũng cảm như lúc anh đối mặt với quân thù trên chiến trường; tôi biết rõ phút lâm chung của anh rất bình yên khi anh trôi dần vào cõi vĩnh hằng trong khi đang ngủ. Còn Phan thì khác, ông phải chờ tới mười bảy năm trời mới tìm thấy một vài, chứ không phải tất cả, chi tiết về cái chết của người em trai.


    ***


    Trải nghiệm của tôi với Bác sĩ Phan không phải là điều duy nhất khiến tôi thay đổi nhận thức về cuộc chiến.

    Cũng trong chuyến đi Việt Nam ấy, tôi đã tới thăm một cơ sở chăm sóc người cụt tay chân, nơi có rất nhiều người bị thương trong chiến tranh vẫn còn phải tiếp tục chịu đựng đau khổ. Một vài người bị cụt hai chi, ba chi, bốn chi do các loại mìn, đạn pháo, bom gây ra. Hàng ngàn cựu quân nhân vẫn phải chờ đợi những đôi chân đôi tay nhân tạo để có thể đi lại một cách độc lập. Nhiều đã phải chờ đợi các thiết bị ấy từ khi cuộc chiến kết thúc.

    Năm 1992, theo đề nghị của một doanh nhân Mỹ gốc Việt. cha tôi đã tham gia vào nỗ lực thiết lập một cơ sở tại Việt Nam nhằm cung cấp chân tay nhân tạo và các thiết bị hỗ trợ cho các cựu quân nhân người Việt. Trong chuyến đi tháng 9 năm 1994, cha tôi đã trao tặng cho người nhận thứ 12.000 thuộc chương trình này. Đó là một khoảng khắc xúc động, khi cha tôi, lúc này đã 73 tuổi, nâng một người cụt cả hai chân ra khỏi ghế, đặt lên chiếc xe lăn mà cựu quân nhân này nhận được lần đầu tiên trong đời.


    ***


    Tôi cảm thấy rất lạ là – dù tôi rất yêu cha và hai chúng tôi rất gần gũi nhưng hai người chưa bao giờ nói chuyện với nhau, một cách riêng tư, về việc chúng tôi đã chịu đựng sự mất mát Elmo như thế nào. Tôi không nghĩ rằng sự im lặng đó là biểu hiện của thái độ coi nhẹ khổ đau thường có ở những thành viên nam của một gia đình giàu truyền thống quân sự. Tính cách ấy, một tính cách của người cha quân nhân do Robert Duval thủ vai trong phim “Santini vĩ đại”, rất đối lập với người cha mà tôi đã cùng sống. Tôi không hiểu tại sao chúng tôi không bao giờ nói chuyện về cái chết của Elmo. Có một sự im lặng được chấp nhận một cách vô thức giữa chúng tôi. Cũng có thể tôi sợ phải đối diện với một phản ứng đầy xúc cảm từ cha khi tôi đề cập chuyện đó với ông, và ngược lại – dù chúng tôi từng rơi nước mắt không hề che đậy trong những bi kịch khác của gia đình.

    Trong rất nhiều phẩm hạnh của cha tôi, thì phẩm hạnh lớn nhất đó là sự cảm thông đối với những người kém may mắn hơn. Ông dành phẩm hạnh ấy cho người khác, bất kể là bạn hay thù. Đó là phẩm hạnh khiến tôi khâm phục nhất trong con người đầy nhân ái này.


    ***


    Chứng kiến cảnh cha tôi nhấc người thương binh Việt Nam đặt vào xe lăn – và cả hai cùng cười – tôi mới vỡ lẽ rằng, dù cả hai chúng tôi đều giữ im lặng với nhau về cái chết của Elmo, nhưng cha dường như đã xua đuổi được “bóng ma” của bi kịch ấy. Sự xua đuổi đó có là một chủ ý hay không, tôi không bao giờ biết được – nhưng tôi biết rõ rằng những nỗ lực nhân đạo và lòng trắc ẩn đã giúp ông dần bỏ lại sau lưng những bi kịch của cuộc chiến tranh. Tôi sử dụng cụm “những bi kịch” vì tôi không chỉ nói về cái chết của anh Elmo, mà còn về những thủy thủ can trường khác dưới quyền chỉ huy của cha tôi đã không thể trở về nhà. (Suy ngẫm về ba cuộc chiến tranh đã từng tham gia, cha tôi có lần nói rằng Việt Nam là cuộc chiến khó khăn nhất đối với ông về mặt cá nhân, Không giống Chiến tranh Thế giới thứ II và Chiến tranh Triều Tiên, khi mà mối hiểm nguy xuất phát từ những quyết định của ông chia đều cho ông và các binh sĩ, thì tại Việt Nam, hiểm nguy chủ yếu dồn lên vai người lính. Ngay sau khi tới Việt Nam với vai trò tư lệnh, cha tôi bắt đầu cùng với các thủy thủ đi tuần và đánh trận. Một sĩ quan thuộc cấp của ông sau này viết: “Tôi nhớ rất rõ rằng ông đã hiện diện một cách lộ liễu trong vùng chiến sự”. Nhưng cha tôi đã không thể tiếp tục các hoạt động như thế sau khi tướng Abrams bày tỏ lo ngại về khả năng một vị tư lệnh cận chiến bị bắt hoặc thiệt mạng).
     
  10. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Động lực để tôi viết cuốn sách này đến từ hai nguồn: lòng trắc ẩn, mà tôi đã được chứng kiến, của cha tôi dành cho kẻ thù cũ; và sự thấu hiểu về nỗi đau chung sau khi tôi gặp gỡ các cựu quân nhân Việt Nam như Bác sĩ Phan – những người cũng đã đánh mất một phần đời trên các chiến trường trong cuộc chiến ấy. Tôi không hề ngạc nhiên trước nguồn cảm hứng mà cha tôi truyền cho; nhưng tôi lại rất ngạc nhiên khi cảm hứng còn đến từ kẻ thù cũ – vì trước đây tôi chưa từng nghĩ rằng mình sẽ có ngày xúc động trước nỗi đau của họ.




    ***




    Trải nghiệm của tôi với Bác sĩ Phan cũng như lần tôi chứng kiến các cựu quân nhân Việt Nam bị thương tật vào năm 1994 đã lần đầu tiên cho tôi một lý do để suy ngẫm về nguyên tắc phi chiến tuyến của nỗi đau. Lần đầu tiên, tôi thấy rằng tác động của chiến tranh lên TẤT CẢ các nạn nhân là như nhau. Những người đàn ông và đàn bà, những binh sĩ và thường dân Việt Nam mà tôi có dịp gặp đã giúp tôi hiểu được rằng chiến tranh như một lưỡi dao sắc cạnh ở cả hai phía, làm cho bên nào cũng đớn đau. Họ giúp tôi hiểu rằng nỗi đau khổ mà chiến tranh gây ra là không biên giới. Đó là một nỗi đau phổ quát.


    Trong cuốn sách này, tôi không có dụng ý coi nhẹ nỗi đau và sự thất vọng của người Mỹ. Như tôi đã nói lúc đầu, trải nghiệm về cuộc sống của mỗi người là khác nhau, và bi kịch cũng như thế. Nhưng chiến tranh, với bản chất tàn bạo của nó, đã tạo ra những nạn nhân ở cả hai phía. Và khi chiến trường phủ lên toàn bộ một đất nước – như trong Chiến tranh Việt Nam – thì toàn bộ nhân dân của đất nước ấy đều là nạn nhân.




    ***




    Neil Sheehan, một phóng viên thời Chiến tranh Việt Nam, ban đầu đã ủng hộ quyết định tham chiến của Mỹ. Nhưng đến năm 1967 thì ông thay đổi lập trường. Về sau, ông viết cuốn SỰ DỐI TRÁ RỰC RỠ (A BRIGHT SHINING LIE) lên án sự can dự của nước Mỹ. Cuốn sách đã được trao giải Pulitzer. Là người ủng hộ nước Mỹ tham chiến, tôi đã không đồng tình với những chỉ trích của Sheehan nhằm vào Chính phủ.


    Hiện nay, tôi nhìn cuốn sách của Sheehan với một cặp mắt khác. Dù vẫn không tán đồng cách tố cáo vai trò của Mỹ ở Đông Nam Á, tôi thấy rằng mình khó có thể chấp thuận một cách mù quáng những chính sách mà nước Mỹ theo đuổi ở khu vực. Sự thay đổi thái độ của Sheehan về cuộc chiến tranh xuất phát từ trải nghiệm của chính ông tại khu vực này và các cuộc tiếp xúc với người Việt Nam, cũng giống như tôi rất nhiều năm về sau. Chính nhờ tiếp xúc trực tiếp với phía bên kia mà cuối cùng ông đã trở thành người phản đối cuộc chiến.


    Giờ đây, sau thời gian dài tìm hiểu người Việt Nam một cách trực tiếp, tôi bắt đầu hiểu rõ hơn thông điệp mà Sheehan gửi gắm trong cuốn sách. Chúng ta phải học từ những thông điệp của ông và có thể cả của tôi nữa, để sai lầm trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam không bao giờ xảy ra với các thế hệ người Mỹ trong tương lai.


    Sheehan còn viết một cuốn sách nữa về Việt Nam có nhan đề SAU CHIẾN TRANH: HÀ NỘI VÀ SÀI GÒN1. Cuốn sách là một cái nhìn so sánh đất nước này trong lần đầu tiên ông đặt chân tới vào năm 1962, trước thềm cuộc chiến tranh với người Mỹ, và năm 1989, khi người dân tại đây được thụ hưởng khoảng thời gian thái bình dài nhất của họ trong thế kỷ 20. Ông viết:


    “Chúng ta, những người Mỹ, vốn tự cho mình là ngoại lệ của lịch sử, cũng có thể mắc sai lầm như phần còn lại của nhân loại; chúng ta có thể thủ ác dễ dàng như khi hành thiện. Tất cả chúng ta đã quá kiêu ngạo trong thời kỳ xấc xược ấy.


    Chúng ta không thể hiểu được rằng chúng ta đã theo đuổi những điều không tưởng và đã gây ra một bi kịch tột cùng cho chính chúng ta cũng như cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác tại Đông Dương”.


    Sheehan đã đi đến một kết luận chống lại hoàn toàn những luận điệu của giới chức Mỹ trong suốt cuộc chiến, rằng Việt Nam chưa bao giờ là một mối đe dọa đối với nước Mỹ: “Họ đơn giản chỉ muốn chúng ta trở về nhà, và họ sẽ không bao giờ ngừng kháng cự, bất chấp họ và chúng ta phải trả giá thế nào, cho tới lúc chúng ta rút đi. Tôi mất năm năm để nghiệm ra điều đó”.


    Còn tôi thì phải mất nhiều thời gian hơn để đi đến cùng một kết luận – một kết luận mà tôi có được sau khi chuyên tâm tìm hiểu người Việt Nam.


    Trong cuốn sách của mình, Sheehan nhớ lại một khoảng khắc của chiến tranh, mà tôi cảm thấy rằng đã tạo nên ảnh hưởng đối với tôi. Trở lại Mỹ Tho ở Đồng bằng sông Mê Kông, Sheehan bắt gặp một sân bóng chuyền, gợi ông nhớ tới cố Đại tá John Vann, người đã chỉ huy quân Mỹ ở đấy:


    “Đó là một buổi chiều muộn và mành lưới được căng lên. Tôi dường như nghe tiếng cáu gắt của Vann: ‘Nào, hãy gọi hai đội bóng ra đây’, rồi tiếng la hét của các đại úy và trung úy trong trận đấu. Những người đó cùng trang lứa với tôi nên tôi dễ dàng đồng cảm với họ. Họ từng là những sĩ quan tận tụy, những người xuất sắc nhất mà Lục quân Mỹ có được, luôn sẵn sàng xung trận, luôn tin vào sự nghiệp và lý tưởng. Khi chúng tôi leo lên trực thăng cùng đội xung kích giữa tiếng gầm của động cơ và đám bụi bay mù mịt, chúng tôi thường nghĩ: ‘Rồi ngày chiến thắng sẽ đến, và có một vùng đất tốt hơn đang đợi chúng ta’. Chúng ta đã không chiến thắng, và do sự xuất hiện của chúng ta mà Việt Nam đã trở thành một mảnh đất đầy thương tích. Trong ánh chạng vạng trên sân bóng, tôi băn khoăn không biết những sĩ quan trẻ tuổi kia nghĩ gì về những con người can trường khác đang chui trong những căn hầm ngoài kia nếu họ biết sự thực về cuộc chiến mà họ phải tham gia”.




    ***




    Những chiến binh dũng cảm có mặt ở cả hai phía chiến tuyến. Tương tự, nỗi đau và sự mất mát cũng giáng xuống đầu cả hai phía. Suốt một thế hệ, qua sách và phim ảnh, chúng ta đã nghe rất nhiều câu chuyện từ phía người Mỹ; giờ đã đến lúc cùng lắng nghe câu chuyện từ phía Việt Nam.




    ***




    Cuốn sách này là tập hợp những thông tin từ gần 200 cuộc phỏng vấn với cựu cuộc chiến Việt Cộng và Bắc Việt cũng như một số dân thường Việt Nam. Những người được phỏng vấn bao gồm cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân Việt Cộng; Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn (lực lượng phụ trách xây dựng và duy trì Đường mòn Hồ Chí Minh); cùng nhiều sĩ quan cao, trung cấp và một số người có địa vị khác. Tôi được thoải mái tiếp cận những người được phỏng vấn. Dạng câu hỏi trong các cuộc phỏng vấn là tương tự nhau, nhưng mỗi cựu quân nhân đều có một câu chuyện độc đáo để kể. Giữa những câu chuyện riêng của mỗi người ấy, có một sợi chỉ xuyên suốt rất dễ nhận ra: đó là sức mạnh ý chí – họ đã quyết tâm giành chiến thắng bằng cách vượt qua bất cứ thách thức hoặc hiểm nguy nào. Trong Chiến tranh Việt Nam, người Mỹ dựa vào sức mạnh công nghệ vũ khí vượt trội; người Việt Nam phải dựa vào những thứ khác. Họ quay về truyền thống của mình – đó là truyền thống chống ngoại xâm có từ ngàn đời, khi đất nước liên tục bị xâm lăng. Trong cả nghìn năm ấy, tinh thần dân tộc và lòng tự hào luôn bùng cháy, thổi lên trong lòng mỗi người dân Việt Nam quyết tâm đánh đuổi ngoại bang. Tinh thần dân tộc, lòng tự hào và quyết tâm ấy phát triển thành một sức mạnh vĩ đại nhất – một CHÍ THÉP – giúp họ thực hiện được điều tưởng như không thể. Để cuối cùng, CHÍ THÉP đã đánh bại công nghệ của siêu cường hùng mạnh nhất thế giới.


    Điều đáng tiếc là chúng ta đã không hiểu được phẩm chất này của người Việt Nam. Chúng ta không nhận thấy, trong bản phân tích cuối cùng rằng chiến thắng không quyết định bởi công nghệ mà bởi quyết tâm của con người. Ý chí của họ không bao giờ sụt giảm dù họ thiếu công nghệ, dù họ phải chiến đấu với những đôi CHÂN TRẦN. Công nghệ vượt trội của họ, trên thực tế, chính là sức mạnh nội tâm để chịu đựng thách thức, khổ đau và gian khó khốc liệt nhất, buộc người Mỹ phải lâm vào cuộc chiến tranh dài nhất trong hai thế kỷ lịch sử của mình. Như vị tướng của Chiến tranh Thế giới thứ II George Patton từng nói: “Đánh nhau bằng vũ khí, chiến thắng bằng con người”.


    Hơn ba thập niên kể từ ngày Sài Gòn sụp đổ, đã đến lúc cần hiểu hơn về kẻ thù mà chúng ta từng đối mặt cũng như cái CHÍ THÉP của họ đã đóng vai trò như thế nào trong chiến thắng của Việt Nam và thất bại của Mỹ. Cách tốt nhất để làm điều đó là chia sẻ trải nghiệm của những con người đã sở hữu những phẩm chất ấy – những phẩm chất đã giúp họ sống, chiến đấu và chịu đựng trong suốt cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ.
     
  11. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    [TABLE="width: 100%"]

    [TD="width: 85%"]
    PHẦN 1
    QUÂN Y


    Trong chiến tranh Việt Nam, mối quan tâm lớn nhất của mỗi người lính chiến là sự hỗ trợ y tế một khi bị thương trên chiến trường.

    Đối với lính Mỹ, sự hỗ trợ này nằm trong tầm tay. Việc cứu thương có ảnh hưởng tới nhuệ khí của quân đội nên sự chăm sóc y tế luôn được khẩn trương thực hiện. Việc chuyển thương bằng trực thăng cho phép binh lính Mỹ được chữa trị thường chỉ sau vài giờ.

    Người Việt Nam ở bên kia chiến tuyến cũng đặc biệt quan tâm tới y tế, nhưng họ lại không có những điều kiện tương tự để chăm sóc cho thương binh của mình. Thương binh phải mất hàng ngày, thậm chí hàng tuần mới được chăm sóc, thậm chí là không bao giờ. Ngay cả khi có cơ sở y tế, sự khan hiếm thuốc men và y cụ đã ngăn trở công việc điều trị của họ. Đội ngũ y tế phải tự nỗ lực để bù đắp cho thiếu thốn khi có thể, còn khi không thể thì người thương binh buộc phải chịu đựng.

    CHÂN TRẦN, CHÍ THÉP bắt đầu với những câu chuyện chọn lọc, cho ta một cái nhìn vào bên trong các hoạt động y tế của phía Việt Nam. Có hai lý do để tôi bắt đầu cuốn sách bằng phần này. Thứ nhất, chúng cho phép người đọc có một trực cảm đối với những gian khó trên chiến trường. Thứ hai, đó là một lý do cá nhân, tôi muốn dành phần mở đầu cho những con người đã truyền cảm hứng cho tôi viết sách – các bác sĩ Lê Cao Đài (“Trong Bụng Dã Thú”) và Nguyễn Huy Phan (“Hàn Gắn Vết Thương Chiến Tranh”). Những ngày được gặp Bác sĩ Đài và Bác sĩ Phan trước khi họ mất đã giúp tôi hiểu rõ hơn rất nhiều về cuộc chiến tranh và những đau khổ mà nó gây ra cho người Việt Nam. Các cuộc gặp gỡ này đã giúp tôi rất nhiều trong tiến trình hàn gắn vết thương của chính mình.

    Và đây là những câu chuyện của họ…





    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Không ai hiểu tầm quan trọng của y tế đối với lực lượng chiến đấu hơn Lê Cao Đài. Đang là sinh viên y khoa ở Hà Nội vào năm 1946, khi cuộc chiến tranh chống Pháp khởi sự, ông bị cuốn vào quân đội để phục vụ cho lực lượng kháng chiến của Hà Nội – quân Việt Minh – vì thiếu bác sĩ.

    Nâng cao kỹ năng theo cách nghề-dạy-nghề, Đài dần dần đáp ứng được đòi hỏi từ quân đội của Tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến dài tám năm. Khi quân đội đang ăn mừng chiến thắng cuối cùng trước người Pháp tại Điện Biên Phủ thì Lê Cao Đài vẫn còn phải vật lộn để cứu sống những người vừa bị thương trong chiến dịch vĩ đại đó.


    ***


    Rồi cuộc chiến với người Mỹ bùng nổ, Lê Cao Đài một lần nữa đáp lời kêu gọi của non sông. Khi đang giữ chức trưởng khoa phẫu thuật tại một viện quân y năm 1966, Đài, lúc này 37 tuổi, xung phong vào miền Nam làm việc. Ông được lệnh tổ chức và điều hành một bệnh viện chiến trường. Tập hợp được 400 nhân viên y tế từ các bệnh viện, Đài đã lập nên một bệnh viện có tên gọi 211. Thông thường, tỉ lệ lý tưởng cho các bệnh viện là một nhân viên y tế trên mỗi bệnh nhân, nhưng Đài hiểu rõ điều này là không thể bởi bệnh nhân ở chiến trường sẽ tăng lên mỗi ngày. Dù lực lượng quân y đã được mở rộng đáng kể so với hồi đánh Pháp, nhưng thực tế thương vong do công nghệ vũ khí hiện đại và điều kiện chiến trường xa xôi đã khiến họ bị quá tải, phải làm việc tới mức tối đa.

    “Khi được lệnh vào Nam”, ông Đài kể, “mọi người đều háo hức. Chúng tôi không hề nghĩ rằng sẽ phải ở lại đó tới tám năm. Tôi nhớ hôm chuẩn bị lên đường cùng với một người bạn, anh này và vợ đã đến thăm gia đình tôi. Người vợ hỏi: ‘Các anh định ở trong đấy bao lâu?’. Tôi đáp sẽ ở lại chừng sáu tháng. Cô ấy khóc và bảo: ‘Thế mà nhà em nói sẽ ở lại tới một năm’. Và rốt cuộc, thay vì ở lại sáu tháng, tôi đã ở đó tám năm. Người đàn ông dự định ở lại một năm kia, đã nằm lại mãi mãi. Anh hy sinh tại miền Nam”

    Có một sự khác biệt về thời gian phục vụ tại Việt Nam đối với một binh sĩ Mỹ so với một người lính Việt Nam. Lính Mỹ thường chỉ tham chiến tại Việt Nam trong mười hai tháng. Việc biết trước ngày xuất ngũ về mặt nào đó có tác dụng nâng cao ý chí cho binh lính Mỹ - mỗi buổi mai thức dậy đánh dấu một ngày nữa trôi qua, cũng có nghĩa là thời gian phục vụ tại Việt Nam được trừ bớt một ngày. Có rất nhiều loại “dấu mốc” được đánh vào một thời điểm nào đó của quân kỳ, người lính có thể được gọi là “người sắp về” sau khi đã phục vụ quá bán thời gian mười hai tháng quân hạn. Nhưng đối với các chiến binh Việt Nam, không bao giờ có khái niệm “người sắp về”. Đối với họ, thời gian chinh chiến là vô hạn. Mặc dù thời gian phục vụ ở chiến trường của mỗi cá nhân khác nhau, nhưng trải nghiệm của Lê Cao Đài không phải là không đặc trưng.[/TD]
    [/TABLE]
     
  12. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Để giảm nguy cơ mất hết toàn bộ nhân viên của bệnh viện trong trường hợp bị không kích khi đang di chuyển trên Đường mòn Hồ Chí Minh (một con đường tiếp vận bí mật trong rừng, trải dài hàng ngàn cây số xuyên Việt Nam, qua Lào, Campuchia, để Hà Nội chi viện cho các chiến dịch ở miền Nam), Đài chia đoàn Bệnh viện Quân y 211 ra làm ba nhóm. Hai nhóm đi bộ còn nhóm của Đài đi xe tải, cho tới khi Đông Hà (nằm ngay phía Nam vĩ tuyến 17 ở tỉnh Quảng Trị). Tại đây, họ bị không kích và mất hầu hết xe cộ nên bắt buộc phải đi bộ ở chặng đường còn lại.


    Đoàn của Bệnh viện Quân y 211 hoàn tất cuộc hành trình mà không hề sứt mẻ lực lượng. Vài người ốm nặng, chủ yếu là sốt rét và một số căn bệnh khác, buộc phải trở về Hà Nội, nhưng không có thương vong do súng đạn. Tuy nhiên, với các trang thiết bị y tế thì lại khác.


    “Đó là những thiết bị rất nặng”, ông Đài giải thích. “Tổng cộng có chừng một ngàn hộp được chuyên chở bằng xe đạp. Tôi tự mình cõng thiết bị phẩu thuật (sau khi bị không kích ở Đông Hà)… Nhưng phần lớn y cụ đều bị mất trong quá trình vận chuyển. Chỉ có chừng một phần mười tới đích… và cũng không còn nguyên bộ… Chẳng hạn, máy X-quang tới nơi nhưng thiếu mất cái ống, máy phát điện và các thiết bị X-quang tới nơi nhưng cái sau thiếu tấm che bằng chì”.


    Hầu hết các thiết bị đều thất lạc trên đường, còn những thứ đến đích thì đôi khi lại rất buồn cười.


    “Khi chúng tôi sắp rời Hà Nội, một nữ quân nhân đã chuyển từ guốc sang dùng dép cao su”, ông Đài kể tiếp, “Cô ấy bỏ đôi guốc cũ ấy vào trong hộp. (Dép cao su là một loại dép rất tiện lợi, với đế dép làm từ lốp xe còn quai làm từ săm xe. Đó là loại dép cơ bản của tất cả lính tráng Bắc Việt). Nhiều tháng sau, khi mở một hộp giấy để kiểm hàng thì cô ấy bắt gặp đôi guốc”. Một đôi guốc cũ đã vượt qua bao vụ ném bom và hàng loạt cuộc chuyển giao ở các binh trạm (là cơ sở quân sự hoạt động riêng lẻ và chịu trách nhiệm trong một khu vực) dọc Đường mòn Hồ Chí Minh, trong khi nhiều thiết bị y tế quan trọng thì lại rơi rớt.




    ***




    Hai tháng sau ngày khởi hành vào Nam, ba nhóm của Bệnh viện 211 gặp nhau ở Ngã ba Đông Dương, nơi giáp giới giữa Việt Nam, Campuchia và Lào.


    “Chúng tôi lập bệnh viện ngay giữa biên giới ba nước và ở đó khoảng sáu tháng”, ông Đài kể. “Chỗ này quá xa mặt trận. Vì thế chúng tôi phải dịch vào gần hơn. Tôi đã di chuyển rất nhiều trong suốt cuộc chiến. Nơi tôi ở lâu nhất cũng chỉ chừng một năm. Thường thì tôi chỉ ở một nơi trong khoảng hai tới ba tháng, hoặc cho tới lúc bị lộ. Khi người Mỹ tiến hành phun thuốc rụng lá (Chất độc Cam) trong khu rừng mà chúng tôi đóng trại, thì chúng tôi lại phải chuyển chỗ”.




    ***




    Sơ tán một bệnh viện với 400 nhân viên, cùng khoảng chừng 1.000 đến 1.800 người bệnh, là việc không hề dễ dàng. Bên cạnh các yêu cầu hậu cần cho cuộc dịch chuyển, việc thành lập cơ sở mới đòi hỏi rất nhiều nhân công. Một số cơ sở y tế được đặt trên mặt đất, với sự che chắn của cây bụi, nhưng phần lớn phương tiện đều được đặt dưới hầm. Điều này đòi hỏi người ta phải đào một loạt những hầm hở sâu một mét, mỗi cái có sức chứa chừng bốn đến năm người. Bên trên mặt đất nửa mét có mái tre hoặc tranh để che nắng mưa. Một hầm chữ A tránh bom có độ sâu hai mét, sức chứa chừng bốn đến năm người, được đào thông vào căn hầm này. Để lập được một bệnh viện với khoảng 1.000 bệnh nhân và 400 nhân viên đòi hỏi phải đào chừng 280 hầm hở và hầm chữ A. Hầu hết bệnh nhân không thể tham gia đào hầm, vì thế trách nhiệm lại dồn lên các nhân viên y tế và một ít lính bộ binh không đánh trận. Làm một căn cứ mới mất chừng một tháng.


    Các nguyên tắc được áp dụng trong việc xây dựng bệnh viện chiến trường đã tạo thêm gánh nặng cho đội ngũ nhân viên. Theo quy định, hầm trú ẩn được bố trí khá xa nhau, cự ly không quá ba mươi mét, để tránh việc một quả bom có thể làm sập hơn một hầm.


    Việc bố trí hầm cách biệt như thế khiến ông Đài rất khó thực hiện việc kiểm tra bênh nhân và nhân viên khắp bệnh viện mỗi ngày. Ông Đài giải thích: “Chúng tôi bố trí bệnh viện trong một khu vực rất rộng. Vì thế, nếu muốn đi thăm một bệnh nhân, đôi khi tôi phải mất một ngày mới tới nơi. Đi từ đầu này tới đầu kia bệnh viện thường hết một ngày”.




    ***




    An toàn là mối quan tâm thường trực. Bệnh viện thường nằm cách chiến trường một khoảng cách an toàn, nhưng đội ngũ nhân viên phải chịu trách nhiệm thường xuyên về vấn đề an ninh bởi họ ở xa các đơn vị quân đội khác. Ông Đài luôn luôn lập một vọng gác trên cây để theo dõi bầu trời do rừng cây rậm rạp khiến việc quan sát mặt đất rất khó khăn. Ông biết rằng kẻ địch thường sử dụng trực thăng để thả quân nhằm tiếp cận mục tiêu nhanh và trực tiếp. Duy trì việc quan sát bầu trời thường xuyên giúp bệnh viện có thể phát hiện sớm sự hiện diện của địch trong khu vực. Việc canh phòng vì thế trở thành nhiệm vụ hằng ngày của bệnh viện.


    Khi thấy trực thăng, người trinh sát, thông qua điện thoại hữu tuyến, thông báo với ông Đại về hướng cũng như cự ly. Cây cối rậm rạp tới mức nhiều khi người quan sát không thể biết được chiếc trực thăng, bị che khuất sau những rặng cây, sẽ thực sự đáp xuống hay chỉ bay ngang qua. Nhưng Đài không bao giờ bỏ qua một chi tiết nhỏ nào. Ông tin mọi chuyển động đó đều là nỗ lực của kẻ thù để đưa các đội biệt kích do thám vào khu vực. Sau khi được báo cáo về cự ly và phương hướng của máy bay, Đài thường hành động ngay lập tức.


    “Tôi có thể điều một nhóm người bảo vệ bệnh viện”, ông nói. “Đôi lúc họ phải chiến đấu. Có lúc họ mới bắn vài loạt thì đám biệt kích đã lùi ngay, gọi trực thăng tới để rút. Tôi đã thấy lính biệt kích rất nhiều lần. Do máy bay không thể đáp xuống vì rừng quá dày, người ta thường dùng dây thả từ trực thăng để lính đu xuống… Đôi khi chúng tôi thấy bốn năm gã đang đu dưới bụng trực thăng. (Đây là phương pháp SPIE – kỹ thuật đổ/rút quân phục vụ mục đích đặc biệt – được sử dụng để đổ/rút quân nhanh chóng mà không cần đáp trực thăng. Lính biệt kích mặc áo giáp được gắn vào một sợi dây bên dưới bụng trực thăng, từng đôi một. Trong trường hợp đổ quân, sau khi cất cánh từ căn cứ, họ đu lủng lẳng dưới bụng trực thăng để bay tới đích. Một khi tới nơi, máy bay hạ dần độ cao để một cặp lính biệt kích tiếp đất, cởi móc áo giáp ra rồi chạy vào rừng để yểm trợ cho cặp tiếp theo. Khi rút quân thì tiến trình đảo ngược lại). Đôi khi tôi chứng kiến mấy tay lính biệt kích chết bởi lúc trực thăng bốc lên, họ bị vướng vào cành cây cao và rơi xuống đất. Chúng tôi buộc phải tự bảo vệ mình. Nếu bị phát hiện, tôi phải ra lệnh rời đi. Lý do chúng tôi phải di chuyển rất đơn giản – chúng tôi biết chắc rằng một vụ ném bom B-52 sẽ được thực hiện trong cái đêm mà căn cứ bị phát hiện.”


    Có một lần, đơn vị của Đài đã bắn rơi một trực thăng Mỹ bay sát cơ sở của ông. Họ chỉ bắn súng trường để xua máy bay đi, không ngờ chiếc máy bay lại đâm xuống đất.


    “Tôi thấy dường như đạn không phá hỏng máy bay bao nhiêu”, ông kể. “Tại hiện trường, tôi thấy chỉ có một lỗ thủng nhỏ do đạn gây ra. Có lẽ nó đã làm đứt một sợi dây nào đó. Chiếc máy bay bị rơi chở chừng sáu người. Lúc chúng tôi đến thì không còn ai ở đó. Sau khi máy bay rơi, người Mỹ đã lập tức điều nhiều trực thăng khác tới giải cứu”.
     
  13. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***


    Ông Đài nhớ lại, trước khi rời Hà Nội để vào Nam, ông từng được nghe kể rất ngắn gọn về cuộc sống trong rừng rậm. “Thủ trưởng của tôi đã ở một năm tại miền Nam trước khi trở lại miền Bắc”, Đài kể. “Ông ấy bảo tôi rằng hãy cứ hình dung cuộc sống ở nơi đó như Robinson Crusoe trên hoang đảo ấy”. Chẳng bao lâu sau Đài nhận thấy rằng thượng cấp của mình đã không hề cường điệu.“Thiếu thốn đủ đường. Chúng tôi thậm chí không có dao phẫu thuật”. Để tồn tại và duy trì chức năng của một bệnh viện chiến trường, nhóm của ông Đài đã phải ứng biến trong hoàn cảnh khắc nghiệt.

    Đài và các thành viên trong bệnh viện nhanh chóng tìm ra cách thức để bù khuyết cho thiếu thốn. Ông rất hài lòng trước sự tìm tòi sáng tạo của nhân viên trong việc sử dụng những thiết bị dường như chẳng liên quan gì tới y tế. Điều trớ trêu là những vật dụng không liên quan tới y tế mà họ sử dụng vào mục đích chữa bệnh ấy lại đến từ một nguồn rất dồi dào nhưng lại ngoài mong đợi – đó là Chính phủ Mỹ.

    Trong rất nhiều thiếu thốn mà Bệnh viện Quân y 211 đối mặt, thiếu thiết bị mổ là một bài toán nan giải. Ông Đài kể về việc xoay xở của đội ngũ nhân viên: “Chúng tôi sử dụng mảnh kim loại, thường là từ số bom không phát nổ của Mỹ. Chúng tôi lấy kim loại từ những quả bom đó để làm dao mổ và một số thiết bị khác. Chúng tôi cũng dùng kim loại từ vỏ đạn pháo, hoặc mảnh nhôm từ xác máy bay. Tất cả các nhu cầu về y tế được đáp ứng theo kiểu này – từ thiết bị phẫu thuật, hộp tiệt trùng y cụ, ống nghe…”.

    Ông Đài nhấn mạnh: “Chúng tôi không bỏ phí thứ gì mà người Mỹ cung cấp”. Bất cứ phế liệu nào cũng được tháo tung rồi chế tác để sử dụng vào việc này việc kia. Chẳng hạn như pháo sáng được người Mỹ thả xuống vào ban đêm để quan sát hoạt động của quân Bắc Việt bên dưới đã cung cấp vật liệu cho rất nhiều ứng dụng: ống pháo sáng được dùng làm ống nghe; dây dù được tách ra để làm chỉ khâu y tế; vải dù dùng để băng bó.

    Khi phát hiện máy bay rơi, người ta nhanh chóng đến tìm kiếm những vật liệu còn sót lại để dùng. Dây điện được tháo từ máy bay, sau đó tách vỏ cao su ra khỏi lõi kim loại. Vỏ cao su dùng làm ống truyền tĩnh mạch.

    “Người Mỹ giúp chúng tôi rất nhiều trong thời buổi thiếu thốn thiết bị”, ông Đài cười.

    Bệnh viện cũng thiếu ống tiêm. Một lần nữa, các nhân viên y tế dựa vào trí sáng tạo của mình. “Thoạt tiên, chúng tôi không có cách nào đựng thuốc để tiêm”, ông Đài giải thích. “Chúng tôi phải dùng lại nhiều lần ống tiêm thủy tinh. Sau khi tiêm kháng sinh hoặc một vài loại thuốc khác, chúng tôi giữ lại ống tiêm để dùng tiếp. Nhưng không thể giữ tất cả lại được… Vì thế, chúng tôi quyết định sản xuất ngay tại bệnh viện…Khi có một đơn vị mới từ Hà Nội vào, tôi hỏi sĩ quan chỉ huy rằng anh ấy có người thợ thủ công nào không. Anh ấy có ba người. Họ bảo tôi để làm ống tiêm thì chỉ cần thủy tinh hoặc chai lọ cũ là đủ. Từ đó, việc sản xuất ống tiêm trở nên rất dễ dàng.

    Vào giai đoạn này – từ năm 1967 đến 1968 – chúng tôi bắt đầu giải phóng một số vùng ở Campuchia. Bên trong và xung quanh các cơ sở quân sự ở Campuchia có rất nhiều chai bia và sôđa rỗng, một nguồn vật liệu tốt để làm ống tiêm. Những thợ thủ công kia nói với chúng tôi rằng điều quan trọng nhất là xây cái hầm lò để đun thủy tinh. May thay lúc đó không hiểu sao có một ít gạch trong kho. Không biết ai đã lệnh đưa gạch tới đây nhưng chúng tôi có hơn chục viên gạch để làm lò.

    Sức nóng của lò cũng là điều quan trọng. Rất dễ để có than củi ở trong rừng. Nhưng than củi không cho sức nóng tốt bằng than đá. Một người ở binh xưởng vũ khí rất rành về lĩnh vực này. Anh ấy nói có thể dùng than củi nhưng không phải loại thường. Đó là loại than củi được đốt trong điều kiện yếm khí. Loại than này cho nhiệt lượng cao. Chúng tôi đã làm theo chỉ dẫn của anh ấy.

    Sau khi đã có lò nung và loại than cần thiết, chúng tôi bắt đầu nấu chảy thủy tinh. Các thợ thủ công sau đó thổi thành ống tiêm… Chúng tôi đã vận dụng sự sáng tạo của mình để sản xuất ống tiêm trong suốt cuộc chiến”.

    Khi người Mỹ không cung cấp đủ vật liệu cần thiết đáp ứng nhu cầu của bệnh viện, ông Đài lại ứng biến – chẳng hạn khi thiếu chất cồn sát trùng dẫn đến tình trạng nhiễm trùng.

    “Chúng tôi có một ít thuốc khử trùng mang từ Bắc vào”. Đài nhớ lại. “Nhưng thiếu cồn trầm trọng. Vì thế tôi cử nhân viên tới gặp ‘người dân tộc’. (Người Việt Nam gọi các nhóm dân tộc ít người bản địa sống ở vùng rừng núi là “người dân tộc” hoặc đơn giản chỉ là “dân tộc”.) Họ biêt cách làm cồn. Họ thường nấu rượu – rượu gạo. Nhưng vấn đề khó khăn ở đây là chúng tôi không biêt cách ủ men. Vì thế chúng tôi tới gặp người dân tộc để tìm hiểu xem họ dùng lá cây gì để gây men. Sau đó, chúng tôi trồng sắn để lấy tinh bột phục vụ cho việc nấu cồn”.

    Đội ngũ nhân viên Bệnh viện Quân y 211 còn học cách sử dụng chất liệu thảo mộc để chữa bệnh từ người dân tộc. Một số thứ dùng để gây buồn ngủ; một số khác được sử dụng như vitamin.

    “Chúng tôi còn học từ đồng bào dân tộc cách để trị sốt rét – chẳng hạn như dùng giun đất”, ông Đài cho biết. “Chúng tôi nấu giun đất lên và lấy chất nhớt của nó để trị bệnh”. Những phương pháp này chưa có cơ sở lý luận khoa học, ông Đài nhìn nhận, nhưng người dân tộc thiểu số - dù có cuộc sống lạc hậu – xét về khía cạnh ứng dụng thảo mộc để chữa bệnh thì họ là bậc thầy. “Gần đây”, ông đưa dẫn chứng, “có một bài báo trên tạp chí ở Pháp cho biết cộng đồng y khoa đã nhìn nhận giá trị của loài giun đất”.

    Việc cung cấp điện năng tối thiểu cho bệnh viện cũng là thách thức lớn. Ở những nơi có suối nước, người ta có thể xây trạm thủy điện nhỏ. Nhưng thông thường, họ dựa vào máy phát chạy dầu. Ông Đài hồi tưởng, trước năm 1967, “không có dầu để chạy máy phát nên quân của chúng tôi phải phục kích các đoàn xe đối phương để cướp dầu”.

    Nhưng các trường hợp cấp cứu thì không thể chờ đợi dầu được. Bác sĩ phải phẫu thuật ngay khi người bị thương được đưa đến, dù lúc đó có dầu để chạy máy phát hay không. Vì thế, đối với đơn vị của ông Đài, nhiều khi phải dùng một nguồn năng lượng có sẵn – sức người. Người ta nối một chiếc xe đạp vào máy phát. Lúc Bác sĩ Đài đã sẵn sàng phẫu thuật cho bệnh nhân, một người có sức khỏe được cử ra đạp xe để làm chạy máy phát. Ban đầu đèn điện trong phòng mổ nhập nhòe khi máy phát hoạt động. Đến lúc người lính kia bắt được nhịp, đèn sáng ổn định hơn, và Bác sĩ Đài bắt tay vào phẫu thuật. Người lính đạp xe kia trở thành chiếc phao cứu sinh cho bệnh nhân, cung cấp điện thắp sáng trong phòng mổ cũng như vận hành các thiết bị liên quan. Khi người lính này mệt, người khác sẽ lên thay.

    “Đôi khi”, ông Đài kể, “tôi phẫu thuật suốt đêm với nguồn điện được cung cấp bằng hình thức ấy”.

    Việc thiếu điện còn gây ra nhiều vấn đề khác, chẳng hạn không thể dùng tủ lạnh để bảo quản máu. Những người lính khỏe mạnh không thể hiến máu vì họ phải giữ sức để chiến đấu ngoài mặt trận. Vì thế, trách nhiệm hiếm máu dồn lên vai các nhân viên bệnh viện.

    “Đội ngũ nhân viên y tế thường xuyên hiến máu”, ông Đài hồi tưởng. “Tôi cũng đã nhiều lần hiến máu cho bệnh nhân… Tôi thường hiến máu sau, chứ không phải trước, mỗi ca phẫu thuật”. (Vì lý do trên mà người ta phải thực hiện việc truyền máu trực tiếp từ người cho tới người nhận và không bao giờ vượt quá năm mươi đến một trăm mililít. Trước khi rời Hà Nội, các nhân viên đã được kiểm tra nhóm máu nên họ biết rằng mình có thể hiến cho ai và không thể hiến cho ai. Khi có người lính bất tỉnh và không xác định được nhóm máu của anh ta, một nhân viên nhóm máu O sẽ là người cho máu).

    Đội ngũ y tế ở đây còn đối mặt với tình trạng thiếu giấy trầm trọng. Ông Đài diễn giải: [I]“Chúng tôi cần ghi chú tình hình sức khỏe bệnh nhân nhưng lại thiếu giấy. Ban đầu, không có mẩu giấy nào. Chúng tôi thường bóc nhãn chai lọ rồi viết vào mặt sau”.

    Mỗi năm, ông Đài thường tuyên dương các thành viên của bệnh viện vì những đóng góp cá nhân của họ, tặng họ giấy chứng nhận thành tích. Nhưng vì thiếu giấy trầm trọng, rốt cuộc ông đã sử dụng những tấm bằng khen để viết nhật ký sức khỏe bệnh nhân. Thế là đến lúc trao giải, ông phải vắt óc suy nghĩ phương cách mới. [I]“Tôi chẻ tre ra và dùng mặt bên trong để viết bằng khen”, ông chia sẻ.

    Sự thiếu thốn thường trực và nghiêm trọng nhất đó là thực phẩm. Nhiệm vụ cung cấp thức ăn lại dồn lên đầu đội ngũ nhân viên y tế, vốn đã phải căng sức với công việc chăm sóc và bảo vệ an toàn cho bệnh nhân.

    Ông Đài kể: [I]“Chúng tôi hầu như không được cung cấp lương thực, thực phẩm. Thế nên nhân viên phải tự xoay xở. Trong suốt tám năm, chúng tôi thường xuyên trồng sắn, chứ gạo nhận từ quân đội rất ít. Cùng với gạo, quân đội cũng cung cấp ít muối, bột ngọt. Nhưng chúng tôi phải trồng sắn để có cái ăn. Quân đội chu cấp gạo cho tất cả bệnh nhân là quá may mắn rồi. Chúng tôi còn tổ chức các nhóm săn và đánh cá để cái thiện bữa ăn. Đánh cá thì dùng lưới; còn đi săn thì dùng súng AK-47 (súng tiểu liên tự động).

    [I]Chúng tôi săn lợn lòi, nai và khỉ. Khỉ là một phần thực phẩm dồi dào. Có lần, thậm chí chúng tôi còn giết thịt một con cọp. Chúng tôi cũng săn voi – rất nhiều voi. Trong năm đầu tiên ở miền Nam, chúng tôi giết mười tám con voi… Mỗi con voi cho hàng trăm cân thịt. Khi bắn hạ được một con voi, số thịt nào mà không bảo quản được thì phải ăn càng nhanh càng tốt. Mỗi con voi có thể cho chúng tôi thức ăn trong chừng một tháng.

    Thịt (voi) bắt đầu ôi và bốc mùi sau hai mươi bốn giờ nên phải tìm cách để bảo quản. Đôi lúc thịt được trữ trong dòng suối mát. Lúc khác, chúng tôi lại phơi khô. Lại có lúc chúng tôi muối thịt, dù muối ở chốn rừng núi rất khan hiếm”.

    Phát hiện con mồi chỉ là một trong nhiều vấn đề mà các thợ săn của ông Đài phải đối mặt. Sau khi giết con voi đầu tiên, họ gặp nhiều khó khăn khác:

    [I]“Ban đầu chúng tôi hầu như không thể xẻ thịt voi được vì da chúng rất dày. Một bác sĩ phẫu thuật liền đề nghị mổ bụng voi ra, sau đó đứng vào trong bụng và cắt từ trong ra ngoài. Nhân viên của tôi đã đứng vào bụng voi để xẻ thịt, máu ngập tới mắt cá. Thật khủng khiếp”.

    Một số bộ phận của voi được ưa chuộng hơn những phần khác. [I]“Những thứ ăn ngon nhất trong cơ thể voi”, ông Đài chia sẻ kinh nghiệm của một người sành ăn thịt voi, [I]“là vòi và phần gần gan bàn chân”.

    Không thể lấy hết thịt từ cơ thể con thú. [I]“Không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể róc hết thịt”, Đài cho biết. [I]“Khó mà xẻ thịt ở phía cơ thể con vật tiếp với mặt đất khi bị ngã xuống do trúng đạn. Phần thịt đó bị sức nặng toàn bộ cơ thể voi đè lên nên bị nén rất chặt, không cắt được”.

    Khi xẻ thịt voi được rồi, việc vận chuyển cũng là thách thức lớn.

    [I]“Chúng tôi hối hả lấy càng nhiều thịt càng tốt”, ông Đài giải thích. [I]“Có điều địa điểm nơi voi bị bắn thường ở rất xa bệnh viện – hầu hết đều cách xa chừng năm mươi cây số để tránh làm lộ cơ sở chữa bệnh. Mỗi khi bắn xong là xạ thủ phải trở về bệnh viện để gọi thêm người tới róc thịt và vận chuyển chiến lợi phẩm. Thời gian cho việc vận chuyển khá dài, đến nỗi nhiều lúc thịt bắt đầu bốc mùi khi về tới nơi”.

    Mùi vị thịt voi thật chẳng xứng với công sức mà người ta bỏ ra. [I]“Thịt voi – tương tự thịt cọp – chẳng ngon lành gì”, ông Đài tâm sự.

    Dù thế, người ta vẫn cố lấy càng nhiều thứ càng tốt từ con vật bị giết – ngay cả xương cũng được tận dụng. Xương voi và cọp được nghiền nát rồi trộn với một số thứ khác để tạo nên loại rượu thuốc trị thấp khớp.[/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I][/I]
     
  14. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Có một chuyến đi săn đã dẫn đến phát hiện thú vị. Không nhớ chính xác thời điểm (năm 1970 hay 1971), ông Đài chỉ nhớ rằng sự việc diễn ra ở vùng biên giới giữa Việt Nam và Campuchia. Lúc đó, nhóm đi săn gặp xác một chiếc trực thăng rơi. Họ đã lục soát để tìm các vật khả dụng và phát hiện sáu hay bảy bộ xương gì đấy. Chiếc máy bay này chở bốn hoặc năm lính biệt kích miền Nam cùng hai người Mỹ. Quan sát cây cối mọc um tùm tại hiện trường cũng như hiện trạng các bộ xương, đoàn thợ săn phỏng đoán máy bay đã rơi cách đấy chừng một hoặc hai năm. Dấu răng trên các bộ xương cũng như sự phân tán của chúng cho thấy các thi thể này từng bị thú rừng ăn thịt. Trên xương cổ tay của một bộ xương phía trong máy bay có chiếc đồng hồ Seiko. Dây đồng hồ khắc chữ “Buôn Mê Thuột”, một địa danh ở tỉnh Đắk Lắk. Tháo chiếc đồng hồ khỏi bộ xương, một thợ săn khẽ lắc nó. Vừa lắc xong, người này ngạc nhiên khi thấy chiếc đồng hồ hoạt động trở lại – dường như là một sự gợi nhắc nhẹ nhàng cho nhóm thợ săn rằng thời gian vẫn trôi trong cuộc đời của người này, rất lâu sau khi cái chết đến với người khác.




    ***




    Việc săn bắt và đánh cá không thể cung cấp đủ thức ăn cho đội ngũ nhân sự bệnh viện. Vì thế họ buộc phải làm ruộng.


    “Chúng tôi có một quy định”, ông Đài cho biết. “Mỗi đơn vị đều phải trồng sắn. Phải trồng tới một trăm hécta mỗi năm để có đủ lương thực cho đơn vị. Cách trồng sắn rất thô sơ. Đầu tiên, chúng tôi tìm những khu đất thích hợp trong rừng, tốt nhất là một khu đất phẳng, gần suối. Thông thường những nơi này có nhiều cây cối, chúng tôi phải đốn xuống và chờ đến khi xác cây khô vào tháng Ba hoặc tháng Tư – lúc mùa mưa bắt đầu. Đến lúc đó chúng tôi đốt xác cây để dọn sạch khu đất. Chúng tôi dọn hết các cây còn sót lại. Sau đó thì trồng sắn và lúa. Trỉa lúa là việc rất khó. Chúng tôi dùng hai cây gậy – người đi trước cầm gậy chọc xuống đất tạo thành hai lỗ. Người đi sau thả hạt lúa vào lỗ rồi nhanh chóng khỏa đất để lấp hạt lúa lại, bằng không chim sẽ ăn mất. Rồi chúng tôi chờ tới mùa mưa. Lúa chín và chúng tôi thu hoạch. Việc thu hoạch đều làm bằng tay – không dùng bất cứ công cụ nào, chẳng hạn cái hái, vì loại lúa này rất dễ rụng. Chúng tôi không cắt lúa cũng vì lý do an ninh nữa. Khi đang thu hoạch, máy bay có thể lượn trên đầu. Thế nên việc chừa lại cây lúa là để có chỗ ẩn nấp… Bất cứ nhân viên nào rảnh đều phải lặn lội nguyên ngày từ bệnh viện tới rẫy để thu hoạch… Họ tránh bị phát hiện bằng cách ngồi xổm giữa những bụi lúa, rồi lấy tay tuốt cho hạt lúa rời ra và bỏ vào chiếc giỏ mang sau lưng. Bằng cách này, họ tránh bị phát hiện”.


    Các khu canh tác thường nằm cách xa bệnh viện chừng hai mươi tới ba mươi cây số. Vì thế, khi họ đốt xác cây để dọn rẫy hay khi lúa chín, dù bị máy bay phát hiện thì cũng không hề gì, bởi phi công thường tưởng đó là ruộng của người dân tộc trong vùng. Nhưng cũng có khi lính Mỹ nhận ra, thế là ông Đài và đồng đội đành phải nhìn bao công lao của mình thành tro bụi khi ruộng bị phun hóa chất gây rụng lá. Trong trường hợp đó, thật khó để bòn mót được gì từ đồng lúa, nhưng họ vẫn cố gắng vớt vát đôi chút từ rẫy sắn. Do củ sắn nằm sâu dưới đất, họ cố gắng đào lấy củ trước khi chất độc thấm xuống.




    ***




    Lính Việt Nam trong khu vực thường tiếp xúc với các cộng đồng dân tộc ít người, vốn đã định cư ở đây hàng ngàn năm. Ông Đài nhớ lại chuyện liên quan tới một anh lính và cô gái người dân tộc trẻ đẹp. “Người dân tộc rất hồn nhiên”, ông nói. “Có lần chúng tôi dừng chân ở điểm phát lương thực cho bộ đội. Tôi chợt thấy một cô gái dân tộc đứng gần đấy tỏ vẻ rất giận dữ. Người dân tộc rất tốt bụng nhưng cũng dễ nổi nóng. Tôi liền tiến đến và hỏi điều gì khiến cô ấy bực mình như thế. Nhưng cô ta chỉ lặp đi lặp lại: ‘Một là một, hai cũng là một’. Cô ấy cứ nhắc đi nhắc lại câu đó, và sau mỗi lần nói thì nỗi giận dữ càng dâng lên. Tôi cố hỏi cô ta có điều gì phiền toái vậy và câu ‘Một là một, hai cũng là một’ nghĩa là gì. Cô ấy không muốn nói với tôi nhưng tôi cứ nài nỉ mãi. Cuối cùng cô ấy mới chịu nói.


    Số là có một anh lính bảo rằng nếu cô cho anh ta sờ vú thì anh ta sẽ tặng cô một chiếc kẹp tóc. Cô gái đồng ý và để cho anh ta làm điều đó. Anh ta tiến tới chạm tay vào cả hai vú của cô – nhưng chỉ đưa cho cô một chiếc kẹp.


    ‘Anh ta sờ hai bên’, cô gái nói. ‘Lẽ ra anh ta phải đưa cho tôi hai chiếc kẹp’. Khi cô gái kết thúc câu chuyện, tôi hỏi người nào đã làm điều đó với cô. Tôi nhìn quanh và phát hiện một anh lính trẻ đang nhìn chúng tôi rồi chợt quay mặt đi lảng tránh. Tôi biết đó là thủ phạm. Tôi gọi anh chàng và hỏi tại sao lại làm điều đó với người ta. Anh chàng còn rất trẻ, mép lún phún ria. Tôi nói với anh ta rằng làm như vậy là không nên. Và tôi bảo anh ta, giờ đã lỡ làm rồi thì cũng không nên ăn gian làm gì. Anh chàng bối rối thừa nhận: ‘Tại em chỉ có mỗi cái kẹp thôi’”.


    Người dân tộc nhiều khi là nguồn cung cấp một số vật dụng cần thiết. Để có được điều đó, người ta phải thực hiện đổi chác – thông qua một tiến trình thương lượng mà người dân tộc luôn tỏ ra rất thành thạo và giỏi sắp xếp.


    “Họ không dùng tiền mặt. Thậm chí họ không biết sử dụng tiền như thế nào, điều này không phải là trở ngại bởi lính tráng chúng tôi cũng chẳng có tiền. Vì vậy, chúng tôi thường trao đổi… Chẳng hạn, nếu anh muốn mua một con lợn, anh phải đưa cho họ một số thứ có giá trị tương đương. Có lần tôi đưa cho nhân viên chiếc đồng hồ và bảo cậu ta đi đổi một con lợn của đồng bào. Nhưng khi trở về, câu ta bảo không đổi được. Cậu ta kể rằng người dân tộc nói họ không thể đeo đồng hồ khi bơi dưới suối. À, thì ra chiếc đồng hồ Liên Xô này không có tính năng chống thấm. Người dân tộc thường xuống suối đánh cá và họ đủ thông minh để biết rằng chiếc đồng hồ đó không phù hợp”.


    Ông Đài nhớ lại một lần trao đổi khác: “Có hôm tôi đem mấy chiếc quần đùi đi đổi một con lợn. Tôi tới ngôi làng gần đấy. Người dân tộc mà tôi gặp bảo rằng ông ta sẵn sàng đổi lợn lấy quần đùi. Nhưng ông ta chỉ chịu đưa cho tôi con lợn bé tí. Tôi thấy có con lợn to hơn liền nói với ông ta rằng tôi muốn con kia. Ông ấy liền hét lên rằng nếu tôi đem tới chiếc quần rộng hơn thì ông ta mới chịu đổi con lợn lớn hơn”.
     
  15. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***


    Thời chiến tranh, một số người dân tộc được đưa ra Hà Nội để tham gia một khóa đào tạo về y tế do chính quyền Việt Nam triển khai. Ông Đài nhớ chuyện một người dân tộc đi chợ ở Hà Nội và lần đầu tiên làm quen với tiền mặt. Nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau ở Việt Nam đều in hình lãnh tụ Hồ Chí Minh, và điều này gây bối rối cho người kia. Ông Đài kể: “Ông ta rất lúng túng khi sử dụng tiền. Ông ta kể: ‘Khi mua hàng, tôi đưa cho người bán một tờ giấy có hình Bác Hồ, nhưng rồi họ đưa trả lại cho tôi nhiều tờ giấy có hình Bác Hồ’”.


    ***


    Một câu chuyện liên quan tới người dân tộc đã cho ông Đài thấy rằng có những thứ hợp lý với người này thì lại bất hợp lý với người kia – tùy theo góc nhìn. Có một người dân tộc được tặng chiếc huy hiệu mang hình Hồ Chí Minh. Ông ta liền đeo ngược huy hiệu trên túi áo. Khi có người nói rằng đeo như vậy là sai, ông ta đã cự lại. Ông ta giải thích rằng đeo như thế mới đúng, bởi khi cúi xuống để nhìn vào hình Bác Hồ, ông ta thấy hình nằm ở một tư thế đúng – đầu ông và đầu Bác Hồ cùng hướng với nhau. Nếu đeo theo chiều kia, ông giải thích, thì khi cúi xuống nhìn huy hiệu ông ta sẽ thấy hình Bác Hồ ngược lại.

    Người dân tộc có nhiều truyền thống rất lạ. Một trong những truyền thống đó là tục cà răng. Họ tin tục này – thường được cha mẹ làm cho những đứa trẻ mới lên mười hai tuổi – sẽ giúp sống lâu, nếu không cà răng thì sẽ chết yểu. Bên cạnh đó còn có tục xăm mình, đặc biệt là xăm trên mặt, và tục xâu tai. (Người giàu có thường đeo bông tai bằng ngà, trong khi người nghèo thường xỏ một que tre).

    Khi làm quen với cuộc sống đô thị ở Hà Nội, một vài người dân tộc bắt đầu hoài nghi về các truyền thống lâu đời của mình. Chẳng bao lâu sau họ không còn cà răng và xâu tai nữa.

    Thời điểm Bệnh viện 211 lần đầu tiên vào miền Nam, các phụ nữ dân tộc thường để ngực trần. Ông Đài nhớ lại: “Có một gia đình dân tộc sống gần bệnh viện. Một ngày nọ tôi thấy những nữ thành viên của gia đình này bắt đầu mặc áo ngực. Tôi nhận ra rằng nữ nhân viên của tôi đã lấy áo ngực để đổi thực phẩm của bà con dân tộc”.


    ***


    Rất nhiều lần, ông Đài thực hiện nhiệm vụ trong những điều kiện rất nghiệt ngã:

    “Đôi khi tôi thức suốt đêm để phẫu thuật và ngủ vào ngày hôm sau. Nhiều lúc bom rơi xung quanh. Phòng phẫu thuật nằm lộ thiên nhưng trong tình huống quá nguy hiểm, chúng tôi chuyển xuống hầm… Một buổi chiều năm 1969, tôi bắt đầu cuộc phẫu thuật ở phòng mổ lộ thiên. Bỗng có tiếng trực thăng rất gần. Viên phi công chắc hẳn đã nhìn thấy chúng tôi và báo về căn cứ bởi sau đó một chốc tôi đã nghe tiếng phản lực gầm. Giai đoạn này chính quyền Sihanouk mới bị lật đổ ở Campuchia và người Mỹ thường ném bom dọc biên giới. Khi máy bay phản lực Mỹ vù qua trên đầu, chiếc trực thăng thả một quả bom khói để chỉ điểm vị trí của chúng tôi.

    Có một bác sĩ hỗ trợ tôi trong ca mổ. Khi vụ tấn công bắt đầu, chúng tôi chuyển bệnh nhân xuống hầm… Ống truyền máu và các thiết bị khác tạm thời được ngắt. Chúng tôi chuyển bệnh nhân chạy qua một giao thông hào nhỏ để đến hầm. Suốt thời gian đó, tôi vẫn đeo găng và không đụng vào thứ gì cả. Sau khi đã tới hầm, tôi tiếp tục mổ. Vừa lúc tôi kết thúc ca phẫu thuật, một chiếc máy bay đã phóng tên lửa phá tan phòng mổ ban đầu của chúng tôi”.
     
  16. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Suốt tám năm làm nhiệm vụ ở miền Nam, ông Đài chỉ ra Bắc một lần. Tháng 10 năm 1970, ông được điều ra Hà Nội để dự hội thảo về phẫu thuật cho thương binh. Nhằm chữa trị tốt hơn cho người bị thương trên chiến trường, hội thảo đã được tổ chức để phân tích và đánh giá các kỹ thuật mổ của những bác sĩ chuyên điều trị chấn thương từ chiến trường.


    Có bảy người khác đi cùng ông Đài trong chuyến ra Bắc theo Đường mòn Hồ Chí Minh.


    “Chúng tôi đi bộ”, ông Đài nhớ lại. “Phải mất chừng hai tháng cho chuyến đi ra Bắc và hơn hai tháng để trở về Nam. Tôi ở lại Hà Nội trong hai tháng trước khi về Nam. Có rất nhiều binh trạm dọc Đường mòn, chúng tôi đi bộ từ trạm này tới trạm khác với sự dẫn đường của một người giao liên. Sau khi qua đêm ở một binh trạm, sáng hôm sau chúng tôi lên đường cùng một giao liên khác để đến điểm kế tiếp. Các binh trạm cấp thức ăn – chừng một nắm gạo – và nước uống cho chúng tôi trước khi chúng tôi lên đường. Cứ thế chúng tôi đi mãi…”.


    Con Đường mòn mà Đài đã đi hồi năm 1966 rất khác với chính nó khi ông trở ra Bắc bốn năm sau. Con đường của năm 1970 bớt ngoằn ngoèo hơn. Ông Đài không còn phải thực hiện hành trình rất dài mỗi ngày như chuyến đi trước kia. Thêm vào đó, các binh trạm giờ đây đóng gần nhau hơn, cho phép đoàn có nhiều điểm nghỉ ngơi hơn.


    “Mất chừng bảy đến tám tiếng để đi từ binh trạm này tới binh trạm kia”, ông Đài cho biết. “Nhưng càng về sau thì khoảng cách càng ngắn hơn nên chúng tôi chỉ đi chừng bốn hay năm tiếng… Tôi mang theo một bàn cờ nhỏ và mỗi lần dừng chân là chúng tôi chơi cờ… Con ngựa trên đường về nhà thường hối hả hơn lúc ra đi. Có ngày chúng tôi hoàn tất tới hai chặng giữa các binh trạm, thay vì chỉ một chặng… Khoảng sau mỗi ba hoặc bốn ngày, chúng tôi lại dừng chân lâu hơn để tắm rửa trước khi đi tiếp. Sau gần hai tháng đi bộ tới Quảng Bình, chúng tôi được xe tải chở ra Hà Nội”.


    Lúc bắt đầu chuyến trở về Bắc, ông Đài linh cảm chẳng lành. “Tôi có một linh cảm trước chuyến đi – một cảm giác rằng có chuyện gì đó không hay sẽ xẩy ra. Trong suốt hành trình, tôi cứ nghĩ về cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Nga nha đề ‘Bão táp’ viết về Chiến tranh Thế giới thứ II. Trong cuốn sách, trước khi có điều xấu xẩy ra đến với nhân vật chính, anh ta thường có linh cảm… Vì thế tôi nghĩ về nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết.


    Khi vừa khởi hành thì có một trận không kích. Chúng tôi nấp dọc vệ đường và, dù không bị thương, tôi lại nhớ đến nhân vật trong cuốn sách kia. Đến gần Hà Nội, tôi gặp một nhóm người đang đi theo chiều ngược lại, trong đó có vài người quen. Chúng tôi rất vui khi gặp lại nhau. Họ chuyển cho tôi năm, sáu lá thư đề tên tôi. Trong đêm đó tôi không đọc lá thư nào vì bận nói chuyện với mọi người. Mãi đến ngày hôm sau, khi các bạn tôi chia tay để tiếp tục Nam tiến, tôi mới bắt đầu đọc thư.


    Tôi rất ngạc nhiên là không có thư vợ tôi. Không hiểu tại sao. Chỉ toàn thư bạn bè thôi. Tôi mở một lá thư ra. Dòng đầu tiên đập vào mắt tôi là: ‘Cúng mình mới nhận được tin buồn. Xin chia buồn về chuyện con gái của bạn’. Một lần nữa tôi lại ngạc nhiên. Tôi đuổi theo những người bạn kia và hỏi họ điều gì đã xẩy ra với con gái tôi. Họ biết rằng tôi không hề hay chuyện bởi tôi đã không đọc hết những lá thư mà họ chuyển tới – và hy vọng sẽ không phải báo tin cho tôi. Sau đó họ kể rằng con tôi bị tai nạn. Con bé bị ngã từ trên một tòa nhà xuống và chết. Khi gặp lại vợ tôi, cô ấy đã kể lại câu chuyện và khóc rất nhiều”.


    Cô bé mười bốn tuổi ấy là đứa con duy nhất của ông Đài.




    ***




    Không có gì đáng ngạc nhiên khi những tin tức đó không đến được chỗ ông Đài. Hệ thống chuyển thư thời bấy giờ chủ yếu dựa vào những người vào Nam công tác, hoặc ngược lại. Đó là một quá trình dài và chậm – liên tục bị gián đoạn vì các trận ném bom, vì tật bệnh hoặc cái chết của người đưa thư, hoặc vì những di chuyển chiến thuật của đơn vị người nhận thư, v.v.


    “Mất rất nhiều thời gian thì thư mới tới nơi”, ông Đài giải thích. “Có khi phải mất tới sáu tháng hoặc hơn. Có lần, em trai tôi cưới vợ và viết thư để thông báo cho tôi. Tôi gửi thư chúc mừng đến cậu ấy. Nhưng mãi sau khi cậu ấy có đứa con đầu lòng thì mới nhận được thư mừng đám cưới. Thư rất dễ thất lạc trong quá trình vận chuyển kiểu này”.


    Ngày tháng đề trên thư là rất quan trọng đối với người nhận. Bác sĩ Đài nhớ lại rằng có một danh sách người hy sinh khi làm nhiệm vụ được chính quyền ở Hà Nội công bố, trong đó có một bác sĩ trùng tên với ông. “Vợ tôi tưởng tôi đã chết. Cô ấy khóc hàng tháng trời cho đến khi nhận được thư tôi” – thư đề ngày tháng sau thời điểm Bác sĩ Đài kia chết.


    Hệ thống chuyển thư có phần không đáng tin cậy ấy đã tạo điều kiện cho kẻ thù thực hiện chiến dịch tâm lý nhằm vào những gia đình đang sống ở miền Bắc không biết rõ về hiện trạng của người thân. “Tôi mang một lá thư của bạn tôi, anh Minh, về cho vợ anh ấy”, ông Đài kể. “Khi nhận thư, cô ấy rất vui. Tôi ở lại Hà Nội hai tháng. Trong tháng thứ hai, vợ cậu ấy tới gặp tôi khóc lóc. Cô ấy nài nỉ: ‘Anh hãy kể thật đi, anh Minh còn sống chứ?’. Tôi đáp: ‘Chắc chắn là thế. Anh đã đưa thư cho em rồi còn gì’. Cô ấy bảo: ‘Nhưng em lại được tin anh ấy bị địch bắt làm tù binh’.


    Tôi không tin có chuyện đó xẩy ra, bởi Bệnh viện 211, dù không xa chiến trường, nhưng vẫn nằm ở tuyến sau. Thật khó để bệnh viện bị tấn công. Nhưng cô vợ của Minh không tin tôi. Cô ấy bảo rằng mới có một nhóm trở về từ miền Nam mà không mang theo lá thư nào của Minh. Một lần nữa, tôi cố gắng giải thích nhưng cô ấy vẫn không tin.


    Tôi mới hỏi: ‘Làm sao em biết chuyện Minh bị bắt?’. Cô ấy đáp: ‘Em nghe trên đài phát thanh Sài Gòn. Họ công bố bức thư Minh gửi cho nhân dân miền Bắc, trong đó đề rõ tên anh ấy và những người đầu hàng khác’.


    Tôi liền đến trụ sở quân đội để hỏi thăm tình hình bệnh viện của tôi. Họ khẳng định mới nhận được thông tin từ bệnh viện và không có báo cáo nào về việc bệnh viện bị tấn công hoặc có ai bị bắt làm tù binh. Tôi trở lại hỏi một người chuyển thư nằm trong nhóm mới nhất vừa trở về từ miền Nam xem có chuyện gì xẩy ra dọc đường không. Anh ta kể mình vừa bị một nhóm biệt kích miền Nam tấn công. Để chạy thoát, anh ta phải bỏ lại ba lô đựng thư và những người lính miền Nam kia đã lấy được.


    Thế là mọi sự đã rõ”, ông Đài kết luận. “Quân miền Nam đã kiểm tra toàn bộ thư bắt được, sau đó lấy tên và địa chỉ của những người lính có trên thư để thực hiện cuộc chiến tranh tâm lý”.
     
  17. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Tiếp xúc thường xuyên với người hấp hối, bị thương hoặc lâm trọng bệnh, ông Đài cho biết, nhìn chung, binh sĩ Việt Nam gặp nhiều vấn đề về sức khỏe.


    “Trong các năm từ 1966 đến 1968”, ông nói, “bệnh sốt rét hoành hành khắp miền Nam. Bất cứ ai lên Tây Nguyên đều bị sốt rét hành hạ từ ba tới sáu tháng. Chúng tôi thường xuyên tiếp nhận nhiều bệnh nhân sốt rét”.


    Một bác sĩ nổi tiếng, là chuyên gia trong lĩnh vực này, đã được điều vào Nam để tìm kiếm phương cách tốt nhất nhằm điều trị sốt rét. Trước khi hoàn thành cuộc nghiên cứu, ông cũng đã chết vì bệnh sốt rét.


    Tiêu chảy cũng là một vấn đề nghiêm trọng.


    “Trong ba năm đầu tiên ở miền Nam, tôi rất ngạc nhiên khi có nhiều người bị tiêu chảy đến thế”, ông Đài kể. “Rất nhiều bệnh nhân tử vong vì tiêu chảy cấp. Có người bị hôn mê, hoặc sốt cao. Tôi đã khám nghiệm tử thi nhiều người chết và phát hiện ra rằng ruột của họ mỏng như giấy… Nhiều người bị thủng ruột do tiêu chảy thường xuyên. Rõ ràng là tình hình đã vượt ngoài tầm kiểm soát. Thật kinh khủng… Đến năm 1970, dịch bệnh mới giảm hẳn”.


    “Cũng có nhiều loại bệnh do thiếu vitamin, chẳng hạn vitamin A và B”, ông Đài kể. “Thiếu vitamin B có thể khiến người ta chết vì bệnh tim… Thiếu vitamin A gây chứng khô mắt, dẫn đến mù. Ban đầu chúng tôi cho rằng đó là do thiếu ăn. Nhưng gần hai mươi năm sau, khi tham gia nghiên cứu về lĩnh vực này, tôi ngạc nhiên phát hiện – qua một công trình nghiên cứu – rằng nguyên nhân là do thiếu vitamin A… Tiểu đường và lỵ cũng khá phổ biến”.


    Thời đó có rất nhiều ca ung thư, nhiều nhất là ung thư gan. Những bệnh nhân này không thể được điều trị ở miền Nam mà phải chuyển về Hà Nội. Nhiều người đã chết trên đường đi.


    Ông Đài đưa ra một nguyên nhân dẫn đến tình trạng dịch sốt rét lan tràn đối với những người đang chiến đấu ở miền Nam.


    “Mãi về sau thì tôi mới bắt đầu nhận ra rằng giữa các năm 1966 và 1967, người ta đã phun Chất độc Cam rất nhiều. Người phơi nhiễm chất độc sẽ bị suy giảm hệ thống miễn dịch… Tôi tin rằng người nào muốn nghiên cứu vấn đề này ngày hôm nay vẫn có thể kiểm chứng bằng cách khám nghiệm xương của người chết hồi đó. Bằng cách này, người ta có thể đo được lượng hóa chất vẫn còn nằm trong mô xương”.




    ***




    Nhiều đội quân khác ẩn nấp trong các khu rừng xung quanh Bệnh viện 211. Một cách lặng lẽ, chúng phục kích Đài và nhân viên của ông. Đó không phải đội quân của những chiến binh hai chân, mà rất nhiều chân. Thêm vào nạn dịch bệnh gây bao khổ sở cho người lính sống trong rừng, các đội quân sâu bọ không bao giờ bỏ qua cho những ai lỡ bước chân vào lãnh địa của chúng.


    “Có rất nhiều loài sâu bọ ở trong rừng, rất ghê”, ông Đài nói. “Đôi khi chúng tôi đi vào chỗ có cả triệu con bét. Khi bị đốt, bạn thường lôi chúng ra nhưng đầu chúng vẫn ở lại trong da bạn. Thật kinh khủng… Có rất nhiều loại bét ở trong vùng. Một số loài sống dưới đất. Khi bạn đi qua, chúng nhảy lên chân bạn. Có loại bét sống trên lá cây và thường nhảy ra đốt những người đi ngang qua. Những con bét này thậm chí còn chui vào mũi bạn. Lúc ấy thì thật khủng khiếp.


    Thoạt tiên tôi chẳng biết gì về bét. Một hôm có bệnh nhân bị chảy máu mũi đến gặp tôi. Tôi không biết nguyên do nên chuyển qua cho một trợ lý khám mũi. Anh ta đã phát hiện ra một con bét… Sau khi đã bám chắc vào mũi, con vật dần lớn lên và có thể sống hàng tháng trong đó… Đôi khi chúng tôi thấy cả đàn bét di chuyển trong rừng. Chúng có mặt khắp nơi. Nếu bạn dừng lại để gỡ một con ra, con khác sẽ nhảy vào thế chỗ… Vì thế chúng tôi thường cố gắng đi thật nhanh trong những khu rừng có nhiều bét. Chúng tôi phát hiện ra rằng bét sở nước. Thế là chúng tôi lội xuống nước và chẳng bị lũ bét làm phiền nữa – có điều dưới nước thì nhiều đỉa”.




    ***




    Có một thứ không bao giờ thiếu đối với Bệnh viện 211 là thương binh. Chiến binh Bắc Việt trở thành nạn nhân của một danh sách vũ khí kinh khiếp trong quân kho của Mỹ. Bất kể là nạn nhân của pháo kích hay không kích, của súng nhỏ hay mìn, thương vong chiến trận được chuyển về bệnh viện hằng ngày. Ông Đài kể về tình trạng thương vong.


    “Có tất cả các loại thương tích”, ông nói. “Có loại do bom bi gây nên; ban đầu chúng tôi rất khó tìm ra mảnh bom để điều trị. Nếu bạn từng nhìn thấy một quả bom bi phát nổ, bạn sẽ không nghĩ rằng con người có thể sống sót trong phạm vi bán kính một trăm mét. Khi bom nổ, hàng trăm mảnh đạn nhỏ phóng ra. Đối với người lính ở trong hầm trú ẩn thì chẳng vấn đề gì. Nhưng với người không có chỗ nấp thì chắc chắn sẽ bị thương nặng”.


    Nằm trong số những laoi vũ khí đáng sợ nhất đối với các binh sĩ là mìn.


    “Có rất nhiều loại vũ khí khác nhau được người Mỹ sử dụng, trong đó có mìn”, ông Đài nói. “Một số loại mìn có từ tính; còn có loại sẽ nhảy lên cao và phát nổ khi người ta giẫm phải. (Loại mìn sát thương này có biệt danh “Bouncing Betty” – Betty nhảy nhót. Khi bị kích hoạt, lò xo bên trong sẽ bật lên ngay khi nạn nhân nhấc chân. Quả mìn nảy lên ngang tầm hông và phát nổ). Bộ đội được chỉ dẫn rằng khi lỡ giẩm phải quả mìn như thế thì đừng nhấc chân lên. Bằng cách này, dù mìn vẫn nổ, người lính có thể hạn chế được thương tích – có thể chỉ mất một chân. Nếu không làm thế, quả mìn phát nổ khi bay lên cao sẽ gây thương tích nghiêm trọng hơn – thậm chí làm chết người.


    Ngoài ra còn có mìn lá, có hình dạng và kích thước giống chiếc lá thật. Rất khó phát hiện loại mìn này. Chúng gây thương tích và chết chóc. Có một loại mìn được thả xuống từ máy bay, sau khi chạm đất, nó bắn hàng loạt sợi dây ra tứ phía. Bạn không thể thấy những sợi dây này - chúng rất mảnh. Khi bạn thấy quả mìn và bỏ chạy theo hướng khác, bạn có thể vấp vào một sợi dây và kích nổ mìn”.


    Đáng ngạc nhiên là bệnh nhân tại Bệnh viện 211 có tỉ lệ sống sót cao hơn các bệnh viện ở Hà Nội. Ông Đài tin điều này là có nguyên do:


    “Những người bị thương nặng nhất đã chết ở chiến trường trước khi được chuyển tới bệnh viện này. Sau chiến tranh, tôi đã thống kê tỷ lệ bệnh nhân chết do tất cả các loại chấn thương tại bệnh viện của chúng tôi. Tổng tỷ lệ tử vong thấp hơn những trường hợp bị thương ở Hà Nội và được đưa tới bệnh viện ở ngoài ấy. Lý do duy nhất giải thích cho hiện tượng này là những người bị thương nặng nhất đã không bao giờ đến được bệnh viện của chúng tôi”.


    Viêm nhiễm là một thách thức lớn đối với những người lính chiến bị thương được chuyển tới bệnh viện.


    “Đây là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Bệnh viện có một nhóm chuyên trách công tác nghiên cứu trị thương. Chúng tôi không theo phương pháp thông thường. Chẳng hạn, ban đầu chúng tôi đóng tất cả các vết thương lại – nhưng sau đó phát hiện ra rằng nếu làm như vậy ở bệnh viện chiến trường này, người bệnh sẽ dễ bị nhiễm trùng. Vì thế chúng tôi không đóng vết thương lại mà để hở. Đối với người bị thương do máy bay ném bom cũng thế. Nếu khâu vết thương và tìm cách khôi phục động mạch, chắc chắn sẽ bị nhiễm trùng. Cách tốt nhất là đóng hai đầu động mạch ở hai bờ vết thương nhưng để vết thương hở.


    Khi thực hiện điều này chúng tôi cồn có một phát hiện rất thú vị. Chúng tôi nhận thấy rằng nhờ đi bộ nhiều trên Đường mòn và trong rừng nên có nhiều trường hợp, cơ thể người lính phát triển các động mạch mới (gọi là “động mạch phụ”) có thể cung cấp máu ra tứ chi. Nhờ đó, khi đóng động mạch chính, mạch máu từ cơ và các bộ phận khác vẫn tiếp tục đưa máu đến chi… Khi phẫu thuật chân trong điều kiện bình thường và ngăn máu lưu thông qua động mạch, nguy cơ nhiễm trùng sẽ rất cao nếu máu không đi xuống các phần thấp của chi. Nhưng chúng tôi nhận thấy ở bộ đội của mình, do vận động thân thể nhiều, có các động mạch phụ đóng chức năng của động mạch, cung cấp máu cho phần còn lại của chi… Chúng tôi đã sử dụng các thủ thuật hết sức đơn giản”.
     
  18. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    ***




    Trong số những người bị thương mà bệnh viện của ông Đài cố gắng cứu sống, có cả tù binh Mỹ.


    “Chúng tôi điều trị cho hai tù binh Mỹ bị thương vào khoảng năm 1968 hay 1969 gì đấy. Những tù binh bị thương hoặc ngã bệnh được đưa tới chỗ tôi vì đây là bệnh viện lớn nhất trong vùng. Không may là cả hai người kia đều chết.


    Người đầu chết sau một hoặc hai ngày điều trị do vết thương ở lưng quá nặng, mất hoàn toàn phần xương cùng. Lúc mới đến, anh ta còn tỉnh táo nhưng tôi cũng như các nhân viên không ai nói được tiếng Anh nên chẳng hiểu anh ta nói gì trước khi chết. Chúng tôi không thể nói chuyện với anh ta. Chúng tôi đã chôn anh ta gần bệnh viện.


    Tù binh thứ hai đến nơi gần như cùng lúc, với một vết thương vùng bụng. Anh ta chết sau đó nhiều ngày, có thể là năm ngày”.


    Dù tên và nơi chôn các tù binh được ông Đài ghi lại, nhưng thật không may là những ghi chú đó đã bị thất lạc. Chuyện thất lạc xẩy ra khi vị trí bệnh viện bị một máy bay do thám phát hiện. Do phải hối hả chuyển tới chỗ mới, nhân viên của Đài đã vô tình vứt các ghi chú kia đi – thế nên không ai, ngoài Thượng đế, có thể biết được nơi chôn cất cũng như lai lịch những người lính Mỹ kia.




    ***




    Bảo đảm được một tỷ lệ sống sót đối với bệnh nhân khá cao nhưng Bệnh viện 211 cũng chịu mất mát trung bình mười người lính mỗi tháng. Những người qua đời được chôn cất sơ sài. Nhóm chôn cất dùng vải nhựa mà mỗi người lính được phát để bọc thi thể người chết lại, sau đó đặt vào quan tài tre. Vì lý do an ninh cũng như để khiến địch không thể biết được về tổn thất lực lượng của mình, nơi chôn cất được cào bằng.


    Không có một tấm bia hoặc sự đánh dấu nào trên những ngôi mộ. Ban đầu người ta thường đánh dấu trên thân cây gần đó. Nhưng một thời gian thì cây phát triển lên, rồi thời tiết khắc nghiệt khiến vết khắc trên cây không còn. Về sau, người ta áp dụng nguyên tắc không đánh dấu bên ngoài. Thay vào đó, một mảnh giấy ghi tên, ngày sinh, quê quán người chết được đặt trong chiếc lọ penicillin và bỏ vào quan tài. Người ta còn ghi vào sổ địa điểm chôn cất. Họ cũng làm điều tương tự đối với những tù binh Mỹ chết trong thời gian bị bắt.




    ***




    Giống như rất nhiều đồng đội của mình, ông Đài từng chứng kiến các vụ ném bom B-52. “Các đợt ném bom B-52 thường diễn ra một cách đều đặn, hầu như hằng đêm, và khoảng thời gian ngưng giữa hai đợt luôn bằng nhau. Vì thế, ngay sau đợt thứ hai, chúng tôi có thể tính toán một cách chính xác lúc nào sẽ có đợt thứ ba và các đợt kế tiếp. Nhờ đó mà có kế hoạch đối phó phù hợp.


    Có hai nguyên tắc phải tuân theo để đối phó với các đợt ném bom: thứ nhất, làm một hầm chứ A; thứ hai, chuẩn bị sẵn một cái xẻng trong hầm. Thường thì chúng tôi biết trước các dợt ném bom. Có bất ngờ chăng chỉ là khoảng nghỉ giữa hai đợt. Nhiều lúc các vụ ném bom diễn ra suốt đêm, nhưng khoảng cách giữa các đợt thường không đổi – có thể là ba mươi phút, có thể là năm mươi phút,…


    Sau mỗi đợt không kích, chúng tôi luôn gọi sang hầm bên cạnh để biết được mọi người có an toàn không. Hiếm khi các hầm trú ẩn bị bom rơi trúng. Hầu hết các ca chấn thương là do sức ép của bom khiến hầm sập. Chúng tôi gọi với sang hầm bên để xem những người ở đó thế nào khi một đợt bom đi qua. Nếu không có ai trả lời, chúng tôi sẽ vác xẻng chạy tới để đào họ lên. Mọi người vừa đào vừa xem đồng hồ để đảm bảo sẽ trở về hầm trú ẩn trước khi đợt máy bay kế tiếp ập tới. Nếu đã xác định được khoảng ngưng giữa hai đợt ném bom là ba mươi phút, thì sau hai mươi lăm phút, mọi người được lệnh phải xuống hầm.


    Trong hầm, chúng tôi ngồi và bịt tai lại để tránh bị chấn động và đợi đợt ném bom kế tiếp. Khi vụ ném bom đang diễn ra, không nên ngồi tựa lưng vào vách mà phải ngồi chính giữa hầm. Tư thế ngồi cũng rất đặc biệt: ngồi xổm, hai tay bịt tai, cánh tay nằm song song với mặt đất; tay chân phải ở cách xa nhau. Sở dĩ phải để tay chân ở vị trí cách xa nhau là để phòng trường hợp đất sụt xuống, tay và chân có thể tạo ra những ô trống chứa không khí.


    Chúng tôi không ngồi tựa lưng vào vách hầm để tránh bị thương do chấn động từ vụ nổ bom. Một quả bom nổ cách xa nhiều mét nhưng lan chấn của nó có thể làm cách hầm rung lên dữ dội, gây chấn thương.


    Sau mỗi đợt bom, chúng tôi tranh thủ thời gian ngưng oanh tạc để đi cứu bạn bè. Mỗi hầm chữ A đều có ống tre thông hơi để người trú bom có đủ dưỡng khí. Khi đào bới đất, chúng tôi giữ nguyên vị trí ống tre để thông khí.


    Nếu không phải đi cứu đồng đội giữa các đợt bom, mọi người sẽ tranh thủ nghỉ ngơi. Người hút thuốc; người kể chuyện tiếu lâm; người đi ra ngoài hầm hít thở. Đến khi tín hiệu báo động kéo dài năm phút được phát ra, mọi người trở lại hầm. Nếu có hầm sập ngay sau loạt bom đầu tiên thì những người giải cứu sẽ đối mặt với nhiều hiểm nguy, bởi họ không biết được khoảng ngưng giữa hai đợt bom là bao lâu. Nhưng sau hai đợt bom đầu tiên, chúng tôi biết rõ được khoảng thời gian ngưng đó”.


    Trong suy tưởng cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh chống Mỹ, Lê Cao Đài hiểu rõ tại sao Hà Nội lại chiến thắng. Thắng lợi chỉ đến với phía nào có động cơ lớn nhất. Động cơ đó hiện diện ở những người miền Bắc, ông Đài khẳng định; nó không hề hiện diện ở người Mỹ. “Động lực trong cuộc chiến này chính là ước nguyện của tất cả người Việt Nam về thống nhất đất nước. Mọi người đều mong muốn điều đó. Ngược lại, đối với người Mỹ, xét ở góc độ một quốc gia, và đặc biệt là với những người tham chiến tại Việt Nam, chưa bao giờ có một sự thấu hiểu về việc họ đang chiến đấu vì cái gì. Ở phía chúng tôi, không bao giờ có một sự nghi ngờ hay do dự về điều mình phải làm – và sẽ làm. Đó chính là ước nguyện của mọi người dân về một nền hòa bình – về một nền hòa bình trong thống nhất”.


    Trước khi qua đời vào ngày 15 tháng 4 năm 2002, Bác sĩ Đài có cơ sở y tế riêng tại Hà Nội; ông đóng vai trò là một nhà tư vấn về bảo vệ môi trường và chuyển giao công nghệ. Ông làm việc trong các lĩnh vực môi trường liên quan đến chiến tranh, chẳng hạn như tình trạng ô nhiễm Chất độc Cam, một bi kịch vẫn còn tiếp tục đày đọa đất nước của ông rất lâu sau khi ông qua đời.
     
  19. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    HÀN GẮN VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH


    Nguyễn Huy Phan có nhiều dịp chứng kiến tác động kinh khiếp của thương tích chiến trận. Là một bác sĩ phẫu thuật vào năm 1953, ông tham gia cuộc chiến chống Pháp; từ 1964 đến 1975, ông chiến đấu chống Mỹ; và năm 1979, ông phục vụ trong cuộc xung đột biên giới với người Trung Quốc.

    Những kinh nghiệm ấy khiến ông trở thành một người có uy tín khi nói chuyện về đề tài thương vong mà kho vũ khí chiến tranh khổng lồ gây ra đối với người lính. Qua nhiều năm, ông là người trực tiếp chứng kiến sự phát triển liên tục của các loại vũ khí gây thương vong và tàn phế cho con người – kết quả của sự phát triển công nghệ và hành trình không ngừng của con người nhằm tìm ra các phương cách thực hiện chiến tranh một cách hiệu quả. Trong hoàn cảnh công nghệ của đối phương liên tục được hoàn thiện, nhà phẫu thuật quân y cũng buộc phải không ngừng nâng cao kiến thức để có thể chữa trị hữu hiệu nhất các vết thương đặc thù do từng loại vũ khí gây nên.

    Trách nhiệm của ông Phan trong suốt cuộc chiến không chỉ là trị thương cho binh lính để họ có thể hồi phục và ra trận càng nhanh càng tốt, ông còn đảm nhiệm việc phân tích, nghiên cứu để cải tiến thời gian điều trị và chẩn đoán. Do phía người Mỹ liên tục đưa các công nghệ vũ khí mới vào chiến trường, trách nhiệm này chiếm hầu hết thời giờ của ông.

    Ông Phan tổ chức và lãnh đạo đội ngũ y tế nghiên cứu đặc điểm của vũ khí hiện đại để qua đó quyết định phương pháp chẩn đoán và chữa trị thích hợp nhất đối với từng loại vết thương cụ thể. Kết quả là ông đã có một kiến thức khá độc đáo trong việc xử trí vết thương chiến trường. Đó là nền tảng kiến thức đã giúp ông, cho tới ngày qua đời vào năm 1997, có một uy tín ở tầm thế giới về chữa trị một trong những loại thương tích đặc biệt nhất – và cũng gây ra nỗi kinh hoàng lớn nhất – mà một chiến binh có thể hứng chịu. Ông Phan trở thành nhà tiên phong trong lĩnh vực phẫu thuật tái tạo cơ quan sinh dục cho đàn ông.

    Kinh nghiệm là người thầy vĩ đại. Nhưng thật không may cho cộng đồng y tế Việt Nam, phần lớn kinh nghiệm đó đều liên quan đến chiến tranh. Cuộc chiến với người Pháp đã giúp Hà Nội có một đội ngũ y tế được huấn luyện thể lực tốt để hành quân cùng lính chiến. Cuộc chiến đó đã cho thấy sự thiếu hụt về hỗ trợ y tế cho quân đội, và sự thiếu hụt này đã được cố gắng bù đắp trong giai đoạn hòa bình ngắn ngủi mà Bắc Việt được hưởng trước cuộc xung đột với Mỹ. Ông Phan giải thích về điều này cũng như một số biện pháp khắc phục:

    “Sau năm 1954, có một giai đoạn hòa bình ngắn ngủi – từ 1954-1963. Trong thời kỳ đó, chính phủ gửi nhiều bác sĩ trẻ ra nước ngoài - ở châu Âu – để nâng cao kỹ năng và kiến thức. Chúng tôi có cơ hội tổ chức đội ngũ y tế chuyên trách trong quân đội. Vì thế, khi cuộc chiến với người Mỹ nổ ra, chúng tôi đã có chuyên gia trong nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn, hồi kháng chiến chống Pháp, chúng tôi không có ngành phẫu thuật tạo hình; nhưng trong chiến tranh chống Mỹ, chúng tôi có đủ chuyên gia làm việc trong nhiều lĩnh vực, như huyết học, chỉnh hình, phẫu thuật tạo hình, v.v. Những người này được biên chế vào các nhóm phẫu thuật chuyên trách với đủ y cụ để thực hiện nghiệp vụ…Chúng tôi không chỉ có trường y tại Hà Nội mà còn có tại nhiều thành phố lớn khác. Những trường học này tiếp tục mở ra nhiều chuyên ngành nữa. Trong suốt cuộc chiến, các bác sĩ chuyên khoa trẻ nối tiếp nhau lên đường làm nhiệm vụ. Những người từng làm việc thường trực ở các đội quân y được đưa đi đào tạo lại trong thời gian vài tháng trước khi trở lại đơn vị. Dạng đào tạo hỗ trợ này giúp cung cấp cho chúng tôi một số lượng bác sĩ đủ để đáp ứng nhu cầu của quân đội.

    Trong cuộc chiến với người Mỹ, chúng tôi rất khó ở lâu một chỗ. Để theo chân bộ đội, chúng tôi thường tổ chức các đơn vị phẫu thuật lưu động. Tôi làm trưởng một bệnh viện phẫu thuật lưu động… Nhiều lần, việc di chuyển cả một bệnh viện là không thể nên chúng tôi tổ chức từng nhóm phẫu thuật chừng 20-30 hoặc 50-60 người, tùy theo nhiệm vụ cụ thể… nhằm hỗ trợ y tế cho tiền tuyến, làm việc ngay bên cạnh những người lính chiến, nơi chúng tôi có thể chăm sóc thương binh.

    Chúng tôi có một vài kinh nghiệm về bệnh viện lưu động từ thời chống Pháp. Nhưng thời chiến tranh Việt Nam, có nhiều đơn vị, nhiều đội hơn và rất nhiều bác sĩ chuyên khoa, bởi chúng tôi đã có khoảng thời gian gần mười năm được đào tạo bác sĩ chuyên khoa tại các nước anh em như Liên Xô, Hungary, Bulgaria. Chúng tôi cũng gửi nhiều bác sĩ đi học tập tại Berlin, Tiệp Khắc, Cuba và nhiều nơi khác; chương trình này tiếp tục được tiến hành suốt cuộc chiến chống Mỹ. Sau khi được đào tạo chuyên sâu, họ trở về Việt Nam để phục vụ cho quân đội. Vì thế chúng tôi có đủ bác sĩ chuyên khoa.

    Thời đó chúng tôi không phân biệt y tế dân sự và quân sự. Quân đội phối hợp với bên dân sự và bác sĩ phẫu thuật quân đội cũng chữa trị dân thường một khi người dân cần đến. Sĩ quan và bộ đội cũng được chữa trị trong bệnh viện dân sự. Khi quân y gặp khó khăn, bên y tế dân sự sẽ chia sẻ nhiệm vụ. Có một sự hợp tác toàn diện và sự thấu hiểu lẫn nhau giữa hai bộ phận này, và điều đó rất hữu ích. Nếu không hợp tác tốt, chúng tôi hẳn đã gặp nhiều khó khăn. Suốt thời chiến tranh, có thể nói rằng các bác sĩ chuyên khoa tốt nhất đều phục vụ trong quân đội.

    Tất cả các đơn vị của chúng tôi đều được chăm sóc y tế khá tốt nhờ sự hỗ trợ hậu cần rất mạnh từ một số nước anh em như Liên Xô, Trung Quốc, v.v. Họ cung cấp cho chúng tôi phương tiện làm việc, như y cụ, thuốc men – nhưng không cung cấp nhân sự; bác sĩ chuyên khoa của chúng tôi đảm trách hết mọi khâu. Có nước đề nghị cử người đến giúp đỡ nhưng chúng tôi từ chối. Điều này xuất phát từ tinh thần tự quyết, tinh thần trách nhiệm của chúng tôi với người dân nước mình và tư tưởng tự lập trong mọi hoạt động. Vì thế, chúng tôi từ chối những đề nghị đó. Bên phía đối phương, chính quyền Sài Gòn dựa dẫm vào sự giúp đỡ của Mỹ. Thậm chí binh lính nhiều nước khác còn tham chiến bên cạnh quân Mỹ. Ở bên này, chúng tôi chiến đấu một mình.

    Bệnh viện phẫu thuật lưu động có hơn 200 nhân viên y tế… Trong đó hai mươi lăm phần trăm là bác sĩ. Đôi khi bệnh viện tiếp nhận tới 500 thương binh trong một giai đoạn ngắn. Vì thế, chúng tôi phải hoạt động cả ngày lẫn đêm. Nhiều lúc, chúng tôi phẫu thuật suốt 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong hai, ba ngày liên tiếp. Nhiều lúc điều kiện làm việc rất không bình thường – đôi khi dưới giao thông hào hoặc hầm trú ẩn”.
     
  20. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    Ông Phan và các đồng nghiệp đầy tâm huyết của ông liên tục tìm tòi để cải thiện kiến thức và kỹ năng mỗi khi có loại vũ khí mới gây ra thương vong trên chiến trường. Cách làm này rất hữu dụng sau khi Mỹ đưa vào sử dụng một loạt vũ khí đáng sợ được gọi là ‘CBU’, hay bom bi. Mỗi quả bom bi chứa khoảng 300 mảnh sắt, mỗi mảnh có đường kính nhỏ hơn 5,5 milimét. Khi phát nổ quả bom bắn mảnh kim loại theo nhiều hướng khác nhau. Người không may đứng trong phạm vi gần quả bom phát nổ sẽ không chết ngay lập tức, các mảnh kim loại li ti hoặc xuyên qua cơ thể người hoặc nằm lại trong đó. Mảnh bom để lại vết thương gần như không thể thấy được trên cơ thể nạn nhân khiến cho việc chữa trị rất khó khăn. Đối với vết thương không thể nhìn thấy rõ, rất khó để cho bác sĩ phẫu thuật chẩn đoán – dẫn đến khó khăn trong chữa trị. Sự chậm trễ trong chẩn bệnh làm gia tăng nguy cơ tử vong.


    Vết thương ở sọ là một thách thức lớn trong chẩn đoán. Có nhiều trường hợp, mảnh bom chỉ đâm thủng một bên hộp sọ.


    “Vết thương trong hộp sọ rất đặc biệt”, ông Phan giải thích, “vì nó giống y hệt trái bóng bi-da”. Xung lực của mảnh bom khiến nó bay tứ tung trong hộp sọ trước khi nằm yên một chỗ.


    “Mảnh bom đi qua hộp sọ, xuyên qua não và bay tứ tung”, ông Phan diễn giải tiếp. “Nó có một quỹ đạo dích dắc… Chúng tôi nhận được rất nhiều ca bị thương vùng sọ và mặt do bom bi gây ra. Đôi lúc chỉ một quả bom mà gây ra thương vong cho nhiều người – vết thương từ đầu tới chân. Ban quân y ngay từ đầu đã đặc biệt quan tâm tới loại vết thương này và đã tổ chức một nhóm bác sĩ đặc biệt để nghiên cứu. Tôi là một trong những người chịu trách nhiệm tìm giải pháp điều trị vết thương do bom bi gây ra.


    Tôi nghiên cứu vấn đề này với sự giúp đỡ của nhiều bộ phận khác nhau trong quân đội, trong đó có cả bên công binh. Chúng tôi mất ba, bốn tháng để nghiên cứu tìm giải pháp và cuối cùng đã tìm ra.


    Chúng tôi đã viết rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này cũng như một số vấn đề khác. Trong giai đoạn 1968-1970, các bài viết đã được đưa tới nhiều nước để chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp ở những nơi ấy. Tôi là Tổng thư ký của nhóm bác sĩ này. Các bài viết tập trung mô tả cách thức khám và điều trị phẫu thuật đa chấn thương. Nhờ kinh nghiệm của chúng tôi mà các đồng minh có thể giảm được thương vong trên chiến trường.


    Trước khi có cuộc nghiên cứu của chúng tôi, việc chữa trị vô cùng khó khăn. Nhưng sau đó, chúng tôi đã trở thành chuyên gia trong lĩnh vực này; chúng tôi biết cách khám và điều rtij vết thương theo cách tốt nhất. Chúng tôi viết lại tất cả để làm cẩm nang cho giới bác sĩ phẫu thuật quân y. Các chuyên gia giỏi nhất, những người lãnh đạo trong các chuyên ngành khác nhau, đã chia sẻ kinh nghiệm, từ đó tìm ra giải pháp cho mỗi chuyên ngành. Chúng tôi có cẩm nang hướng dẫn để các bác sĩ trẻ áp dụng điều trị trong những trường hợp cụ thể”.




    ***




    Ông Phan tiếp tục nói về cách thức chẩn đoán đối với người bị thương do bom bi: “Trước khi bom bi xuất hiện, chưa hề có các loại chấn thương sọ não như thế… Với bom bi, chỗ mảnh bom găm vào nhỏ đến mức không thể thấy được. Do mảnh bom rất nhỏ nên vết thủng trên da cũng rất nhỏ. Thế rồi chúng tôi đã tìm ra một cách rất đơn giản – bóp vào vùng da của người bị thương xem có máu hoặc hơi thoát ra không. Bằng cách đó, bác sĩ nhanh chóng tìm ra được vết thủng trên da… Chúng tôi cứ bóp liên hồi vào từng vùng da. Vấn đề đã được giải quyết khá dễ dàng”.


    Cuối cùng, nhóm của ông Phan phát hiện ra rằng không nhất thiết phải lấy tất cả mảnh bom ra khỏi cơ thể.


    “Chúng tôi nhận thấy mảnh bom không gây nhiễm trùng”, ông Phan giải thích. “Vì thế chúng tôi để mảnh bom ở lại trong cơ thể người bị thương trong thời gian dài, đặc biệt là những mảnh bom nhỏ. Ban đầu, nhiều bác sĩ tìm cách lấy hết tất cả mảnh bom ra ngoài và đã gây ra nhiều vấn đề khác. Đến khi phát hiện ra rằng không cần thiết phải lấy tất cả mảnh bom, chúng tôi chỉ tập trung vào việc chữa trị vết thương”.


    Trong khi bom bi gây ra nhiều rắc rối và đòi hỏi cách chữa trị đặc thù thì các loại vết thương khác cũng đòi hỏi phải có phương cách trị liệu đặc biệt cũng như mất thời gian để hồi phục. Đáng nói nhất có thể kể tới bom napalm.


    “Vùng bỏng thường rất nghiêm trọng – bỏng tới ba hoặc bốn độ, rất sâu và nặng. Người bị thương phải nằm viện trong thời gian dài, việc chữa trị rất mất thời gian và tốn kém. Sau đó, khôi phục lại chức năng của các bộ phận bị ảnh hưởng là rất khó khăn bởi vết bỏng rất sâu và rất nghiêm trọng. Chúng tôi gặp khó khăn lớn với bom napalm. Việc bệnh nhân ở lâu trong bệnh viện cũng khiến họ đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng cao… Bác sĩ mất nhiều thời gian để chăm sóc những vết bỏng này. Các vết bỏng gây ra đau đớn vô cùng…”.


    Từng chữa trị thương binh trong cả hai cuộc chiến với Pháp và Mỹ, Bác sĩ Phan nhận ra một sự thay đổi rất lớn về các loại vết thương phổ biến mà người lính phải chịu đựng trên chiến trường. “Suốt cuộc chiến chống Pháp, vết thương chủ yếu do vũ khí nhỏ gây ra; nhưng trong cuộc chiến chống Mỹ, phần lớn do bom và tên lửa từ trên không và ở một chừng mực nào đó là từ các khẩu pháo. Số ca bị thương do vũ khí nhỏ gây ra ít hơn rất nhiều”.


    Việc thiếu thốn y cụ, tiếp tế và sự chăm sóc y tế, v.v. là vấn đề rất nghiêm trọng đối với các lực lượng miền Bắc chiến đấu ở miền Nam, nhưng đôi khi ngay cả Hà Nội cũng đối mặt với khó khăn này. Tuy nhiên, theo ông Phan, thiếu thốn không gây khó khăn trong việc chữa trị cho từ binh Mỹ.


    “Tôi nhớ vào năm 1969 tới năm 1970, tôi có dịp phẫu thuật cho hai phi công bị bắn rơi máy bay ở miền Bắc. Tôi không nhớ tên họ - nguyên do thời đó là mỗi phi công ấy đều lấy một cái tên Việt Nam”. (Người ta thường lấy biệt danh Việt Nam để đặt cho các tù binh vì việc phát âm tên người Mỹ là rất khó khăn).


    “Một đơn vị quân y tiền phương mang hai phi công đến chỗ chúng tôi. Đây là hai ca rất khó, đòi hỏi phải có phương thức chữa trị đặc biệt. Tôi nhớ cả hai đều bị gãy chân sau khi nhảy khỏi máy bay… Một người có lẽ bị bắn ở ngoại ô Hà Nội còn người kia được đưa đến từ một nơi xa hơn. Cả hai đều không phải bị bắn rơi ở nội đô Hà Nội và đã được cấp cứu trước khi đến chỗ chúng tôi. Khi tới nơi, chân họ đã được băng nhưng vẫn cần chăm sóc đặc biệt. Lúc bấy giờ tôi là bác sĩ phẫu thuật tổng quát – một trong hai bác sĩ trưởng của bộ phận phẫu thuật tại bệnh viện quân y ở trung tâm thành phố. Tôi mang hàm trung tá. Tôi gặp hai phi công và hỏi họ đã bị thương như thế nào cũng như đã được chữa trị ra làm sao. Tôi chuyển họ tới phòng chụp X-quang rồi sau đó tiến hành phẫu thuật. Tiếp đó, họ được chuyển tới nhà tù Hỏa Lò, thường được biết đến với tên gọi ‘Hilton Hà Nội’. Họ ở đấy và nếu họ cần được chữa trị thì các bác sĩ khác sẽ tới tận nhà tù để chăm sóc. Nếu bác sĩ ở đấy gặp khó khăn thì chúng tôi sẽ tư vấn… Chúng tôi không theo đến cùng các ca này mà là các chuyên gia khác. Đó là nhiệm vụ của họ - một nhiệm vụ đặc biệt”.
     
    viet7500 thích bài này.

Chia sẻ trang này