Đang dịch PG Chuồn chuồn mùa hạ - Antje Babendererde

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Đức' bắt đầu bởi Cub, 3/9/14.

  1. Cub

    Cub Lớp 1

    4434485.jpg
    Libellensommer


    (Chuồn chuồn mùa hạ)

    Tác giả: Antje Babendererde

    Dịch: Cub
    Giới thiệu:

    Tại một trạm xăng bên đường cao tốc, Jodie lần đầu tiên gặp Jay, chàng trai người da đỏ. Chưa đến một ngày sau cô đã cùng anh tiến sâu vào vùng núi hoang sơ của Canada. Jay đưa Jodie vào một hành trình kỳ diệu làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời cô: Rời xa thế giới văn minh, giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, hai người cùng trải qua một mùa hè đầy tình yêu và phép màu nhiệm. Nhưng Jodie không thuộc về nơi hoang dã, cũng như Jay không thuộc về nơi đô hội. Jodie đang đứng trước quyết định khó khăn nhất của cuộc đời mình ...

    Cuốn sách đã giành được giải thưởng DeLiA cho tiểu thuyết tình yêu bằng tiếng Đức hay nhất năm 2007.

    Tác giả:

    Antje Babendererde sinh năm 1963, lớn lên tại bang Thüringen, nước Đức. Sau khi học nghề làm gốm, bà chuyển sang làm điều trị viên trong bệnh viện tâm lý dành cho trẻ em. Từ năm 1996 bà là nhà văn tự do. Bà có một niềm đam mê đặc biệt dành cho văn hóa, lịch sử và đời sống hiện tại của người da đỏ. Những tiểu thuyết của bà về chủ đề này dành cho người lớn và thanh thiếu niên được viết dựa trên những nghiên cứu tỉ mỉ cùng những chuyến du lịch đến nước Mỹ rất được giới phê bình khen ngợi.

    Cuốn này trước kia tớ đã dịch được gần một phần ba và đăng tải trên trang Yume. Hồi đấy trình độ tiếng Đức còn quá hạn chế nên bản dịch rất nhiều thiếu sót. Bây giờ vốn liếng đã khá hơn trước một chút, cộng thêm mong muốn luyện tập trau dồi khả năng dịch, tớ sẽ dịch lại toàn bộ và đăng lên chia sẻ cùng các bạn.

    Sách gồm 27 chương. Dài quá, dịch kiểu này không biết bao giờ mới xong. :(
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/5/15
    dongtrang, Cuteanh, Linh Vũ and 9 others like this.
  2. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 1:

    Thực ra thì tôi không ghét những người da đỏ, cho tới cái ngày bố tôi bị sa thải. Chính vì họ mà nhà máy giấy phải đóng cửa. Và tất cả chỉ vì vài cái cây ngu xuẩn, làm như thể trên trái đất này không có đủ cây vậy.

    Mọi chuyện bắt đầu từ những người da đỏ. Nhưng hồi ấy nào tôi có biết những gì đang chờ đợi mình phía trước. Một cuộc phiêu lưu lớn. Có lẽ hơi quá lớn đối với tôi. Ngày hôm nay tôi tự hỏi có bao nhiêu phần của cuộc đời mà chúng ta có thể tự định đoạt và bao nhiêu phần đã được định sẵn. Tôi chỉ chắc chắn một điều: Sẽ luôn có những chuyện xảy ra ngoài dự tính của chúng ta. Và thế là không còn cách nào khác ngoài tự mình tìm ra một con đường để giải quyết tất cả.

    Đó là một giai đoạn khó khăn cho gia đình tôi. Tôi chắc chắn rằng chúng tôi không phải là những người duy nhất trên thế giới này phải đương đầu với sóng gió. Nhưng trong khi những gia đình khác đoàn kết với nhau thì những thành viên trong gia đình tôi lại ngày càng xa nhau ra. Thật đau khổ khi phải chứng kiến mọi việc mà không thể làm gì.

    Tối hôm nay, tiếng quát tháo lại vang vọng từ phòng khách, xuyên qua hành lang xông thẳng vào phòng ngủ của tôi. Bố mẹ lại cãi nhau. Tôi quấn cái gối quanh đầu và ép hai tay vào tai. Nhưng chẳng ích gì. Tôi vẫn nghe thấy hết.

    Hai đầu gối co lên trước ngực, tôi nằm thu lu như một hài nhi trong bụng mẹ. Đôi khi tôi cũng muốn quay trở lại nơi đó. Dĩ nhiên là tôi chẳng còn nhớ ở đó thì như thế nào, có lẽ chẳng ai có thể. Nhưng chắc chắn là ấm áp và an toàn. Tôi cũng biết rằng, hồi đó bố mẹ chưa cãi nhau nhiều như bây giờ.

    Mọi chuyện bắt đầu từ vài tuần trước. Bố tôi đã làm việc nhiều năm cho nhà máy giấy và kiếm được kha khá tiền. Thế rồi bỗng dưng một bộ lạc da đỏ nào đó lên tiếng phản đối việc chặt cây trong những khu rừng mà họ cho là thuộc quyền sở hữu của mình. Những người da đỏ thuê một luật sư, và rồi bỗng dưng trên khắp các báo ngập tràn những lời kêu gọi tẩy chay tập đoàn sản xuất giấy Papermill của Canada. Chính họ đã khai thác gỗ trong những cánh rừng đó và cung cấp cho nhà máy giấy của bố.

    Thế rồi, thật không ngờ, chiến dịch tẩy chay đã thành công. Rất nhiều người tỏ ra phẫn nộ vì sự đối xử thiếu công bằng đối với thổ dân. Họ từ chối mua hàng ở chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh là đối tác mua sản phẩm từ nhà máy giấy của bố. Công ty đành phải đóng cửa.

    Sau khi nhà máy ngừng họat động, đùng một cái hàng trăm người ở Thunder Bay lâm vào cảnh thất nghiệp và chỉ một số ít may mắn tìm được một việc làm mới.

    Bố tôi không gặp may. Trong nhà máy bố có nhiệm vụ điều khiển những máy móc phức tạp. Ông là một chuyên gia có trình độ cao mà bây giờ người ta không cần đến nữa. Không còn cách nào khác, bố đành đến đăng ký ở sở xã hội.


    Có ai đó kéo cái gối của tôi. Cảm thấy một bàn tay ấm áp đặt lên tay mình, tôi bỏ cái gối ra khỏi đầu.

    “Chị Jodie, ồn quá em không ngủ được.” Đó là Nicci, cô em gái nhỏ hơn tôi năm tuổi. Nó ngồi xuống bên cạnh và nhìn tôi bằng đôi mắt mệt mỏi. “Em ngủ chung với chị nhé. Em sợ ồn ào như thế này lắm.”

    Tôi khẽ thở dài, vén chăn lên, dịch sang một bên cho Nicci chui vào. Nó nép vào lòng tôi, còn tôi quàng tay ôm lấy nó.

    “Tôi biết lấy gì nuôi cái nhà này nếu mà anh lấy hết tiền đi nhậu nhẹt hả?”, tôi nghe mẹ gào lên. Bố mẹ không còn ở trong phòng khách nữa mà đã đi ra hành lang. Tôi cảm thấy như họ đang đứng ngay cạnh giường mình vậy.

    “Cô thôi cái trò lải nhải của cô đi được rồi đấy, Maggie!” bố nói, “Tôi sắp không chịu được nữa rồi. Có phải tại tôi mà tôi mất việc đâu. Tôi không tìm được việc cũng có phải lỗi của tôi đâu.”

    Bố không quát to nhưng tôi vẫn nghe thấy rành rọt từng từ một. Bố đang ngà ngà say, nhưng tôi biết rằng bố rất đau khổ khi mọi chuyện thành ra thế này.

    “Không phải”, mẹ tôi quát lên, “Không phải lỗi tại anh. Nhưng anh không được mang nốt mấy đồng tiền ít ỏi mà chúng ta cần để sống đi ném vào quán rượu. Dù sao thì anh cũng là người chịu trách nhiệm cho nhà này.”

    Tôi sợ sệt lắng nghe tiếng mẹ và tự hỏi từ khi nào nhà tôi trở nên ầm ĩ như vậy.

    Lúc đầu mọi chuyện không đến nỗi quá tệ. Bố làm việc nhà, đi chợ và giúp Nicci làm bài tập. Mẹ tôi tìm được một công việc ở nhà hàng đồ ăn nhanh Big Thunder, nhưng mẹ ghét phải đứng cả ngày trong căn bếp dơ dáy sặc mùi dầu mỡ và phục vụ những khách hàng thiếu kiên nhẫn. Khi về đến nhà mỗi buổi chiều, mẹ luôn mệt nhoài và cáu kỉnh.

    Sau một thời gian thì bố tôi hết chịu nổi những lời cằn nhằn của mẹ. Bố lui đến quán rượu thường xuyên hơn vào những buổi chiều, nơi bố tụ tập cùng những đồng nghiệp cũ bây giờ cùng chịu cảnh thất nghiệp. Bố về nhà mang theo hơi rượu nồng nặc và mẹ lập tức nổi cơn tam bành nếu mẹ còn thức.

    Thỉnh thoảng mẹ còn đập phá đồ đạc trong những cơn giận dữ. Mẹ có thể trở nên vô cùng khủng khiếp khi nổi giận. Mà dạo này gần như lúc nào mẹ cũng cáu gắt.

    “Tôi không thể nhận ra anh nữa, George.” Tiếng mẹ réo lên trong căn hộ xã hội nhỏ xíu mà gia đình tôi vừa dọn đến cách đây hai tháng.

    “Tôi cũng không còn nhận ra cô nữa, Maggie”, bố đáp trả. “Cô gào lên thế để đánh thức các con dậy hả? Chúng nó sẽ nghĩ gì khi biết bố mẹ chúng suốt ngày cãi nhau hả?”

    “Các con thì việc gì đến anh, bình thường anh cũng có để ý gì đến chúng nó đâu.”

    Đó là một lời chỉ trích quá đáng và sai sự thật. Bình thường thì chính mẹ mới là người không biết tôi và Nicci cần gì. Bố vẫn quan tâm đến hai chúng tôi. Bố không phàn nàn hay chỉ trích chuyện tôi quá béo. Tôi có thể trò chuyện cùng bố dễ dàng hơn là với mẹ vì hễ có gì không vừa ý là mẹ lại nổi giận đùng đùng.

    Bố tôi thường tỏ ra thông cảm ngay cả khi bố không hoàn toàn hài lòng. Bố kiên nhẫn hơn mẹ, và tôi yêu óc hài hước của bố, thứ mà từ nhiều tuần nay tôi không còn được thấy. Hầu hết thời gian trông bố buồn rười rượi, khiến tôi dần dần cảm thấy sợ.


    Bỗng nhiên cánh cửa đóng sập cái rầm. Cả căn hộ bỗng nhiên im ắng đáng sợ trong khoảnh khắc. Sau đó tôi nghe tiếng mẹ khóc và cảm thấy thân hình nhỏ bé của Nicci đang rung lên vì nức nở.

    “Sụyt”, tôi thì thào, “đừng có khóc. Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi. Tin chị đi. Bố sẽ tìm được việc, chúng ta sẽ lại thuê một ngôi nhà và đón Cookie về.”

    Cookie là con chó lai bé nhỏ của gia đình tôi. Chúng tôi đã phải gửi nó cho người thân nuôi giùm khi dọn đến căn hộ xã hội này. Tôi nhớ Cookie, nhưng Nicci còn nhớ nó hơn nhiều. Hai đứa đã từng là một cặp khăng khít không thể tách rời. Em tôi đã trở nên nhõng nhẽo hơn từ khi không còn con chó ở bên cạnh.

    Nicci dần bình tĩnh lại và thôi nức nở. Tôi không biết nó có tin tôi không, vì chính tôi cũng không dám tin vào những lời mình vừa nói ra. Một lát sau Nicci bắt đầu thở đều. Nó đã ngủ.

    Tôi nhổm dậy, thật khẽ để không đánh thức Nicci, và trèo lên giường nó. Hai chúng tôi chia nhau căn phòng nhỏ xíu mỗi bề bốn mét bừa bộn như ổ chuột này. Đồ của Nicci vung vãi khắp nơi, còn tôi thì không biết đặt đồ của mình vào đâu.

    Tôi trùm chăn lên kín đầu và cố xua đi những ý nghĩ về chuyện gia đình mình rồi sẽ ra sao. Để khỏi phải suy nghĩ, tôi chuyển qua mơ mộng lung tung. Về khoản này thì tôi là chuyên gia. Không chỉ mơ về ban đêm, mơ mộng giữa ban ngày mới là chuyên môn của tôi. Tuy vậy về đêm, khi bóng tối bao trùm và bốn bề yên tĩnh, những giấc mơ mới tìm đến dễ dàng nhất.

    Chúng tự đến, không cần tôi chủ động. Khi tôi không được ổn, những giấc mơ giúp đỡ tôi. Thế giới trong đầu tôi thú vị hơn đời thực rất nhiều. Thế giới ấy là niềm an ủi. Nơi đây tôi là nhân vật chính của những chuyến phiêu lưu kỳ thú trong những không gian và thời gian khác nhau. Dĩ nhiên tôi cũng có một người hùng bên cạnh. Anh tên là Tim, có những lọn tóc nâu xoăn tít cùng đôi mắt xanh thăm thẳm. Và cơ bắp cuồn cuộn nữa chứ. Anh giải cứu tôi khỏi những tình huống hiểm hóc nhất, vì vậy tôi yêu anh bằng cả trái tim.

    Tim là có thực. Tôi có một tấm hình của anh. Còn những bức email ngọt ngào thì nhiều không đếm nổi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, hahoangkhanh, ttha and 5 others like this.
  3. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 2:

    Tôi quen Tim trên mạng. Một năm trước tôi tham gia vào một hội bảo vệ động vật tên là Heart for Animals (một trái tim dành cho động vật) và thậm chí còn ăn chay trong vòng hai tuần.Tôi gửi đi những kiến nghị chống lại nạn đánh bắt cá voi, tiêu diệt chó sói và sát hại hải cẩu con.

    Một ngày nọ, khi đang chat và thu thập chữ ký, tôi gặp một anh chàng rất am hiểu về những vấn đề đó.

    Chúng tôi thảo luận, ví dụ như về chuyện người Nhật Bản dùng mục đích khoa học làm bình phong để lách luật chống săn bắt cá voi, về việc chó sói và báo núi vẫn tiếp tục bị thợ săn giết hại dù chúng đã được liệt vào danh sách những loài động vật cần được bảo vệ, hay về chuyện hàng năm có 300 000 con hải cẩu con bị sát hại tàn nhẫn ở khu vực sông St. Lorenz, nơi người ta cướp đi bộ lông trắng mềm mại của chúng và vứt lại những cái xác bé nhỏ đẫm máu.

    Tôi được biết rằng Tim sống ở Sudbury, một thành phố cách Thunder Bay gần 1000 km về hướng Đông. Tim 18 tuổi. Anh đang học nghề sửa chữa ô tô, có một căn hộ riêng. Tôi và anh ấy cực kỳ hợp nhau.

    Tôi không biết anh ấy thích tôi ở điểm nào nhưng sau vài tuần, chúng tôi đã rời Chatroom để gửi cho nhau những bức email với nội dung không chỉ liên quan đến động vật cần được bảo vệ.

    Khác với bọn con trai ở lớp tôi, Tim rất chững chạc và luôn luôn thấu hiểu. Anh hào hứng tiếp nhận những chuyện tôi viết cho anh. Anh hài hước và quyến rũ, thường khen ngợi tôi. Sau khi khối băng ngăn cách giữa đôi bên đã tan chảy, chúng tôi say sưa tán tỉnh nhau quên cả trời đất.

    Cuối cùng, khi Tim gửi cho tôi một tấm ảnh của mình qua email, tôi biết mình đã chết đứ đừ. Anh có mái tóc nâu quăn tít (chắc chắn là vô cùng mềm mại), đôi mắt to xanh biếc và nụ cười tỏa nắng. Tôi không hiểu tại sao anh lại dành thời gian cho tôi trong khi có thể cưa đổ bất kỳ một cô nàng nào với ngoại hình quyến rũ thế này.

    Điều đáng buồn là Tim cũng muốn có một tấm ảnh của tôi. Yêu cầu này của anh đẩy tôi vào tình thế vô cùng nan giải. Đúng là Tim Webster biết rất nhiều về tôi thật, nhưng cũng có vài điều mà tôi vẫn giấu anh. Ví dụ như cân nặng chẳng hạn.

    Đôi khi, ngắm mẹ và tôi trong những tấm ảnh, tôi không dám tin rằng chúng tôi có quan hệ huyết thống. Mẹ tôi người mảnh mai, có cặp chân dài, đôi mắt xanh lơ tỏa sáng và mái tóc vàng tự nhiên. Đám đàn ông phải nhìn theo mỗi khi mẹ bước đi trên phố. Bố thì rất tự hào vì có được một cô vợ xinh đẹp như vậy.

    Tôi chỉ được mẹ di truyền cho màu tóc vàng, ngoài ra chẳng có gì sất. Tóc mẹ thẳng mượt và óng ả, tóc tôi quăn xù thành một mớ xấu xí. Mắt tôi xám như màu trời một ngày tháng mười một u ám. Vóc dáng đẹp như của mẹ thì tôi có nằm mơ cũng không thấy. Hồi bằng tuổi Nicci tôi cũng khẳng khiu y như nó bây giờ. Vậy mà bỗng dưng tôi tăng cân vù vù. Từ ba năm nay tôi phải mặc áo ngực lớn hơn cả cỡ của mẹ. Khắp người tôi chỗ nào cũng tròn trịa và mềm nhẽo. Mỗi quyết tâm ăn kiêng đều thất bại ngay từ tối đầu tiên. Đơn giản là tôi nghiện đồ ngọt quá mức. Tôi đã bị kem và sôcôla nguyền rủa mất rồi.

    Trước kia mẹ vẫn quan tâm đến việc cho gia đình tôi ăn uống lành mạnh. Bây giờ mỗi khi đi chợ mẹ phải nâng lên đặt xuống từng đồng. Mục tiêu quan trọng nhất là cả nhà được ăn no. Thỉnh thoảng mẹ lại mang bánh hamburger hay xúc xích còn thừa từ nhà hàng về để bổ sung vào thực đơn nhàm chán của chúng tôi.

    Chính vì thế mà tôi lại béo lên thêm một chút, và nghiêm trọng hơn nữa là da dẻ cũng xuống cấp thảm hại. Những cái mụn quái ác mọc chi chít trên trán và cằm cứ rình những lúc không phù hợp là lại nở hoa tưng bừng.

    Tôi giấu Tim tất cả những chuyện đó. Nhưng vì anh cứ nhắc đi nhắc lại chuyện tấm ảnh nên tôi đành phải lục lọi mãi đến khi tìm được một tấm khá được. Ông thợ ảnh đã chụp tôi từ góc nghiêng nên khuôn mặt trông thanh thoát hơn. (Tấm ảnh này là từ hè năm ngoái, khi tôi chưa mọc nhiều mụn như bây giờ.)

    Tôi hoàn toàn bị bất ngờ khi Tim viết thư trả lời rằng anh thấy tôi dễ thương. Từ đó những giấc mơ về hai chúng tôi, dù là ban ngày hay ban đêm, đều đắm chìm trong màu hồng rực rỡ.

    Ngay cả đêm đó, sau khi bố đóng sập cánh cửa căn hộ lại sau lưng một cách không khoan nhượng và khi Nicci vật vã không yên trên chiếc giường bên cạnh, Tim lại đến cứu tôi.

    Lần này tôi không mơ về những thời đại đã lùi sâu vào dĩ vãng hay những miền đất xa xôi. Giấc mơ của tôi xảy ra ngay tại đây, vào thời điểm này. Tôi mơ mình lên đường đến thăm Tim. (Dù gì thì cũng sắp đến kỳ nghỉ hè rồi.) Tuyệt nhất là giây phút tôi bấm nút chuông và anh ra mở cửa. Chúng tôi lập tức ngã vào vòng tay nhau. Rồi anh hôn tôi. Cái hôn mới tuyệt vời làm sao chứ! Mơ đến những điều như vậy có phải là cấm kỵ không nhỉ?

    Hôm sau tôi tỉnh dậy trong trạng thái thiếu ngủ, buổi học ở trường vì thế trở thành một cuộc tra tấn. Ngay cả cô bạn thân nhất là Marla cũng không làm tôi vui lên được. Tôi cảm thấy như rũ bỏ được gánh nặng khi cuối cùng cũng được tan học về nhà.

    Bố không ở nhà. Bố cũng không chuẩn bị bữa ăn cho tôi và Nicci, nhưng tôi chẳng mấy bận tâm. Gần đây chuyện đó xảy ra thường xuyên. Bố tôi đang tìm việc mà, chắc là bố đang đi phỏng vấn xin việc ở đâu đó.

    Tôi làm bánh pancake với si-rô cây phong cho mình và Nicci. Sau khi ăn xong, tôi đi vào căn phòng bé tí của mình, ngồi xuống cạnh laptop và check mail. Có thư của Tim. Tôi mở bức mail, tim đập thình thịch vì hồi hộp. Hôm qua tôi đã hỏi anh có muốn đến thăm tôi trong kỳ nghỉ hè không. Tôi biết giấc mơ tối hôm qua không thể trở thành hiện thực, (thì tôi mới có 15 tuổi và bố mẹ chẳng bao giờ đồng ý cho tôi đi đến tận Sudbury), nhưng tôi hy vọng anh có thể đến Thunder Bay thăm tôi.

    Dĩ nhiên anh không thể ở cùng chúng tôi, căn hộ này quá bé và bố mẹ nhất định sẽ không cho phép. Nhưng trong thành phố có một khách sạn rẻ tiền, tôi sẽ đặt cho anh một suất ngủ qua đêm ở đó. Ban ngày chúng tôi có thể gặp nhau, cùng bàn về những hoạt động mới và làm đủ thứ khác nữa. Một người yêu động vật như anh chắc chắn phải hôn rất giỏi.

    Nhưng tôi đã thất vọng. Tim viết rằng tuy rất muốn đến nhưng anh phải ở lại trông nom bà trong vài tuần khi bố mẹ anh đi du lịch châu Âu. Tôi biết anh có một người bà tên là Louise và ở cùng nhà với bố mẹ Tim. Bố mẹ anh say mê những địa danh có bề dày lịch sử như Florenz, Rom hay Venedig. Cả điều đó tôi cũng biết. Nhưng sao họ lại đi du lịch đột ngột như vậy? Anh chưa bao giờ nói cho tôi nghe về chuyện này cả.

    Tôi ủ rũ tắt hộp thư. Giá như Tim chỉ đến thăm có ba ngày thôi, tôi cũng sẽ sẵn sàng chấp nhận những tuần nhàm chán dài lê thê còn lại của kỳ nghỉ hè. Gia đình tôi đang thiếu trước hụt sau nên dĩ nhiên là đừng có mơ đến chuyện đi du lịch. Tôi có thể làm gì đó cùng với Marla nhưng muộn nhất là đến tháng tám, khi cô ấy đi nghỉ cùng cả nhà, tôi sẽ lại ngồi ủ rũ một mình.

    Tâm trạng tôi xuống dốc không phanh. Đến nỗi Nicci, lúc ấy đang nói chuyện với búp bê bằng cái giọng eo éo, cũng làm tôi phát cáu. Tôi ném cho nó một cái nhìn giận dữ đến mức nó phải len lén bỏ ra ngoài ngồi xem ti vi.

    Thế cũng tốt. Nó đỡ phải nhìn thấy tôi bắt đầu khóc vì tức tối và thất vọng.


    Buổi tối mẹ về, người mệt lả. Mẹ mang theo bánh hamburger nguội từ cửa hàng. Chúng tôi làm nóng bánh lên bằng lò vi sóng. Nicci và tôi sửa soạn bàn ăn. Chỗ của bố vẫn trống trơn. Mẹ tôi chỉ im lặng, đôi mắt thâm quầng mệt mỏi. Tôi không dám hỏi mẹ nhưng Nicci thì cả gan hơn.

    „Bố đâu hả mẹ? Sao bố không ăn cơm với chúng ta?“

    „Mẹ không biết Nicci ạ“, mẹ tôi mệt mỏi trả lời. „Mẹ không biết bố đang ở đâu nữa.“

    Tôi sợ hãi nhìn mẹ. „Mẹ không biết bố ở đâu nghĩa là thế nào ạ?“

    „Tối qua bố con không về nhà. Có vẻ như sáng nay ông ấy có quay lại đây và lấy vài thứ đồ.“

    „Bố bỏ đi rồi?“, tôi thảng thốt kêu lên. „Bố cứ thế mà bỏ chúng ta đi sao?“ Tôi không muốn tin. Dạ dày tôi quặn lên đau đớn. Miếng thức ăn kẹt cứng lại trong miệng.

    Nicci khóc òa lên.

    „Chúng ta sẽ ổn thôi“, mẹ tôi nói. „Ba chúng ta phải chung sức lại với nhau.“

    Con dao tuột khỏi tay tôi, rơi xuống, kêu leng keng trên đĩa. Tôi bật dậy, chạy thẳng vào phòng và đóng sập cửa lại. Tôi úp mặt vào gối, đợi nước mắt chảy ra nhưng không khóc được. Mẹ đã đuổi bố đi với những lời quát tháo, tâm trạng cáu gắt và những câu cằn nhằn liên tu bất tận của mình. Và bây giờ mẹ bình thản chấp nhận rằng bố đã ra đi. Điều đó khiến tôi nổi giận.

    Bố đã luôn chăm sóc cho chúng tôi. Và bây giờ, khi bố không còn khả năng đó nữa, thì mẹ cho rằng bố đi luôn cũng là hợp lý. Tại sao mẹ đánh mất niềm tin ở bố nhanh đến vậy?

    Đó có phải là tình yêu không? Tôi không thể hiểu nổi thế giới này nữa.

    Nicci đi vào từ lúc nào mà tôi không biết. Nó ngồi lên giường tôi. „Mẹ bảo bố sẽ quay về thôi.“

    Tôi nghe thấy sự nghi ngờ trong giọng nói của nó, nhưng tôi chả còn tâm trí nào an ủi nó cả. Ngay đến tôi cũng không ai an ủi được. „Để rồi xem“, tôi trả lời, đứng dậy và đi vào nhà tắm. Khi tôi quay lại, Nicci đã ngoan ngoãn nằm gọn trên giường, tay ôm Cookie (nhồi bông). Nó buồn. Nó nhớ bố cũng nhiều như tôi. Tuy vậy tôi vẫn trèo lên giường và tắt đèn mà không chúc em gái tôi một giấc ngủ ngon.

    Bằng cách nào đó, tôi cố lê lết qua được những ngày tiếp theo. Bố không trở lại, chúng tôi cũng không biết bố đang ở đâu. Mẹ càng lúc càng quá quắt, Nicci luôn mồm nhõng nhẽo, tâm trạng tôi thì cứ xấu đi từng giờ.

    Phần lớn thời gian tôi trốn đến chỗ Marla. Cô ấy không chỉ là bạn gái tốt nhất mà còn là người biết an ủi nhất mà tôi từng biết. Marla gầy như que củi, tóc đen thẳng mượt, nói chung là khác tôi hoàn toàn. Tôi có hàng đống câu hỏi, cô ấy có câu trả lời cho tất cả. Tôi tò mò bao nhiêu thì cô ấy thận trọng bấy nhiêu. Tính tôi lộn xộn, bừa bãi, cô ấy lại rất ngăn nắp. Marla lúc nào cũng tỉnh táo, sáng suốt, còn tôi thì cứ mơ mơ màng màng đến nửa ngày.

    Đôi khi chúng tôi nghĩ về chuyện hai đứa hợp lại làm một, sau đó lắc người thật lâu và thật mạnh đến khi tách đôi ra thành hai cô gái cực kỳ hoàn hảo mà tất cả bọn con trai ở Thunder Bay phải ngoái nhìn. Nhưng dĩ nhiên đó chỉ là chuyện vớ vẩn. Marla là Marla còn Jodie là Jodie. Chuyện đó không thể nào thay đổi được.

    Marla cố gắng hết sức lái tôi sang những suy nghĩ khác. Chúng tôi la cà khắp các cửa hiệu và thử các mẫu quần áo mới nhất mà chúng tôi không bao giờ mua nổi. Gần như mỗi ngày, sau khi tan trường, chúng tôi cùng đi đến bể bơi ngoài trời và nằm dài trên bãi cỏ, Marla lắng nghe trong khi tôi đặt những câu hỏi lặp đi lặp lại.

    Nhưng rồi cũng đến lúc cô ấy hết chịu nổi tâm trạng tồi tệ của tôi và lên lớp cho tôi một trận ra hồn. Đó là vào ngày học cuối cùng trước nghỉ hè. Thật bất ngờ là bài giáo huấn ấy lại có tác dụng. Tôi quyết định sẽ thưởng thức kỳ nghỉ này, cho dù nó không được như mong đợi. Và tôi sẽ bắt đầu ngay từ bây giờ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, ttha, teacher.anh and 2 others like this.
  4. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 3

    Để thực hiện quyết tâm của mình, tôi cùng Marla ăn mừng ngày đầu tiên của kỳ nghỉ ở quán cà phê Sleeping Giant, nơi có những ly kem khủng nhất mọi thời đại. Mặt trời cháy rừng rực trên bầu trời không một gợn mây.

    Sân quán cà phê chật kín người. Nhưng chúng tôi đang thừa thời gian nên sẵn sàng đợi đến khi có hai chỗ trống. Quán này có một tầm nhìn đẹp hướng ra hồ Superior và bán đảo Sleeping Giant, biểu tượng của Thunder Bay.

    Những người da đỏ Ojibwa đã đặt tên cho bán đảo đá này như vậy vì hình dáng của nó tựa như một người khổng lồ đang nằm ngủ. Trong lớp tôi có hai cô gái người Ojibwa, tên là Lisa và Theresa. Họ đã kể cho chúng tôi nghe truyền thuyết về người khổng lồ ngủ trong một tiết lịch sử.

    Nanna Bijou, thần của nước sâu, đã chỉ cho người Ojibwa đường đến một mỏ bạc giàu có để thưởng cho đức tính cần cù, cuộc sống yên bình và lòng trung hậu của họ. Thần cũng nhắc nhở họ không được tiết lộ bí mật này cho người da trắng, nếu không thần sẽ phải hóa đá.

    Người Ojibwa nhanh chóng trở nên giàu có và nổi tiếng vì những đồ trang sức bạc đầy tính nghệ thuật của họ. Đồng thời họ cũng trở nên kiêu căng và không còn giữ gìn bí mật cẩn thận như trước. Một người da đỏ trong khi say rượu đã tiết lộ con đường đến mỏ bạc cho người da trắng, và lời tiên tri đã thành sự thực: Nanna Bijou hóa đá.

    Kể ra cũng thật kỳ lạ: Người da trắng chúng tôi nói xấu người da đỏ còn những suy nghĩ người da đỏ dành cho dân da trắng cũng chẳng tốt đẹp gì. Có rất nhiều người da đỏ ở Thunder Bay, trong khu nhà tôi ở cũng có vài người. Nhưng tôi chưa từng dính líu đến họ bao giờ. Có vẻ như người da trắng và thổ dân sống trong hai thế giới song song với nhau. Ngay cả với hai cô gái Ojibwa trong lớp, tôi cũng chỉ mới trao đổi vài câu vớ vẩn.

    „Cậu đang nghĩ gì đấy?“, Marla hỏi.

    „Đâu có“, tôi trả lời.

    „Đồ mơ mộng.“ Marla vừa lắc đầu vừa trợn đôi mắt xanh như màu da con thằn lằn.

    Cuối cùng người ta cũng mang kem ra. Trước mắt tôi là một cái tháp duyên dáng xếp bằng những viên kem sôcôla, kem tươi đánh bông tưới đẫm nước sốt sôcôla màu nâu bóng.

    „Bắt đầu thôi.“ Phần của Marla là một ly trái cây có dâu tây tươi, trên cắm một cái ô bé xíu. Cô ấy cầm lấy chiếc thìa. „Vì kỳ nghỉ hè!“

    „Vì kỳ nghỉ hè“, tôi nói.

    Cảm giác khi được ăn món kem sôcôla với kem tươi đơn giản là lâng lâng như trên chín tầng mây. Trên đời có những người có thể từ chối những thứ vô cùng hấp dẫn vì biết chúng không tốt cho họ. Tôi thì không. Thực ra thì tôi cũng hơi có cảm giác tội lỗi trong một tích tắc đấy, nhưng cảm giác ấy tan biến ngay khi miếng kem sôcôla mát lạnh béo ngậy đầu tiên trượt trên đầu lưỡi.

    „Hmmm“, tôi thở dài khoan khoái, hai mắt lim dim, „một cái hôn chắc cũng tương tự thế này. Một cái hôn với Tim.“

    Marla cười. „Thế thì cậu nên hôn hơn là ăn kem. Một nụ hôn lưỡi đốt cháy rất nhiều calo. Hôn hít tốt hơn mọi chế độ ăn kiêng đấy.“

    Cái đó mà Marla cũng biết nữa! Thế nhưng đó chỉ là lý thuyết suông thôi vì khác với tôi, Marla còn chưa hôn ai bao giờ. Lần đầu tiên môi chạm môi với một cậu bạn trai của tôi thực ra cũng không hay ho gì lắm. Nụ hôn hồi đó với Philip Ashley giống như một con sên chết trong món sa lát. Ashley học lớp mười và đã để ý đến tôi được một thời gian. Một hôm tôi nhượng bộ cậu ta, đơn giản vì tò mò muốn biết cảm giác ấy như thế nào. Đó là một sai lầm. Cậu ta thọc lưỡi vào miệng tôi rồi chẳng biết phải làm gì tiếp theo. Cái lưỡi nằm im như chết giữa hai hàm răng tôi. Tôi không thở được bèn cắn răng lại để thoát khỏi cái lưỡi. Philip nói năng khó khăn mất mấy ngày và đã đi rêu rao khắp nơi rằng đến gần tôi là nguy hiểm chết người.

    Marla và tôi nói chuyện nhiều về sex. Trí tưởng tượng phong phú bù đắp cho sự thiếu hụt kinh nghiệm của hai đứa. Trong khi tôi háo hức mong chờ cái lần đầu tiên ấy (dĩ nhiên là với Tim) thì Marla lại tỏ ra thận trọng. „Nếu cậu coi chuyện đó to tát đến mức có thể thay đổi cuộc đời cậu“, cô ấy nói, „thì cậu sẽ phải thất vọng cho mà xem.“

    Sao mà cô ấy lại thông thái đến thế nhỉ?

    Tất nhiên là chúng tôi chỉ tưởng tượng vu vơ thế thôi vì sex còn lâu mới là vấn đề trước mắt của hai đứa. Marla không có bạn trai và chỉ biết lý thuyết suông. Tôi có Tim, nhưng anh sống cách tôi những gần 1000 km (có thể nói là trên một hành tinh khác). Dù vậy tôi biết chắc rằng tôi sẽ trải nghiệm lần đầu tiên ấy với anh. Anh thích tôi thật, tôi chắc chắn rằng như thế. Và tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi.

    Ít ra thì tôi cũng có một người để mơ đến.

    Đó là một ngày hoàn hảo cho cả hai chúng tôi. Marla và tôi vừa xúc kem vừa cười nói, gần giống như khi mọi chuyện vẫn còn tốt đẹp. Nhưng tất cả bỗng đảo lộn khi tôi về tới nhà. Tôi nhận ra ngay rằng có gì đó không ổn. Trong mắt mẹ có vẻ gì đó như hối hận, còn Nicci lượn lờ qua lại như một con ma vừa đánh mất cái mũ tàng hình.

    „Có chuyện gì thế?“, tôi hỏi. „Có chuyện gì với bố ạ?“

    Mẹ tôi lắc đầu. „Ôtô của mẹ bị hỏng trên đường đi làm, mẹ mệt quá.“

    Chiếc Nissan cũ kỹ của mẹ chẳng khác gì một cái hộp sắt gỉ suốt ngày hỏng hóc. Vì vậy thông tin này đối với tôi chẳng có gì mới mẻ. Tôi nhún vai đi vào phòng mình, nhưng chưa kịp bước chân vào tôi đã chết đứng vì sợ hãi. Chuyện này … Mẹ không thể làm như thế với tôi được … Trái tim tôi gần như ngừng đập: Laptop của tôi đã biến mất.

    Tôi lao vào bếp. „Mẹ?“

    Mẹ đứng dựa lưng vào bồn rửa bát, tay cầm một cái ly bên trong sóng sánh chất lỏng màu hổ phách. „Mẹ không biết làm thế nào để trả tiền sửa xe, Jodie ạ. Mẹ rất tiếc. Nhưng chúng ta đành phải từ bỏ v thôi.“

    „Từ bỏ?“, tôi gào lên. „Lẽ ra mẹ phải hỏi ý kiến con chứ.“

    „Đấy là laptop của bố chứ có phải của con đâu.“

    „Thế thì mẹ phải hỏi bố chứ.“ Tôi tức đến nghẹn cả thở, nước mắt rưng rưng.

    „Bố có ở đây đâu mà hỏi.“ Đến lượt mẹ quát lên.

    „Đúng rồi đấy. Tại mẹ đuổi bố đi mất rồi. Mẹ cứ cằn nhằn suốt nên bố không chịu được phải bỏ đi. Tất cả là tại mẹ“, tôi cãi trả, „và mẹ cũng chẳng tốt đẹp gì hơn bố đâu nếu mẹ cũng bắt đầu nốc rượu y như bố.“

    Trong khoảnh khắc đó tôi lãnh một cái tát như trời giáng.

    Tôi bàng hoàng nhìn mẹ qua làn nước mắt. Má tôi bỏng rát, hai chân loạng choạng. Từ trước đến nay mẹ chưa đánh tôi bao giờ.

    Tôi có thể thấy chính mẹ cũng phải sững sờ, nhưng điều đó không an ủi được tôi. Không nói một lời, tôi đi thẳng vào phòng và vội vàng nhét đồ vào ba lô.

    „Chị định đi đâu?“, Nicci hỏi bằng một giọng đáng thương.

    „Đến chỗ Marla. Hôm nay chị sẽ ngủ lại ở đấy.“

    Khi tôi ra khỏi phòng, mẹ đã đứng chắn ở cửa. „Mẹ xin lỗi, Jodie, mẹ không định làm thế. Tại mẹ căng thẳng quá.“

    Tôi đẩy mẹ qua một bên và ra khỏi nhà. Cánh cửa sập lại sau lưng tôi với một tiếng „cạch“.

    Marla sửng sốt nhìn tôi đứng trước cửa với đôi mắt sưng lên vì khóc và cái ba lô. Cô ấy kéo tôi vào nhà.

    „Tớ bỏ nhà đi“, tôi nói.

    „Cái gì?“

    „Tớ sẽ ra đi, ngay ngày mai.“

    „Nhưng mà tại sao? Cậu định đi đâu hả Jodie?“

    Tôi kể lại mọi việc, còn cô ấy im lặng lắng nghe. Khi tôi đã xong, cô ấy nói: „Đừng làm thế, Jodie.“

    „Tớ thừa biết là cậu sẽ nói thế. Nhưng tớ đã quyết định rồi. Tớ gửi một cái mail bằng máy tính của cậu được không?“

    Cô ấy nhún vai. „Được thôi.“

    Trong khi Marla làm bánh sandwich thì tôi viết mail cho Tim hỏi xem có đến chỗ anh được không. Tôi xích mích với gia đình và đang rất cần một khoảng cách.

    Tôi phải công nhận rằng bỏ nhà ra đi không phải là chuyện kỳ lạ gì, tụi thiếu niên tầm tuổi tôi làm thế thường xuyên. Tiếc rằng ngay lúc này tôi không có ý kiến nào hay hơn. Tôi sẽ để lại cho mẹ tôi một mẩu giấy. Đi khỏi nhà vài ngày là một cách có hiệu quả, dẫu cho không có gì mới mẻ.

    Ba phút sau khi gửi mail đi, tôi nhận được câu trả lời. Anh viết rằng dĩ nhiên tôi có thể đến, anh rất vui và mong đợi được gặp tôi. Bên dưới là địa chỉ nhà và số điện thoại của bố mẹ anh.

    Tôi lập tức cảm thấy phấn chấn hơn. Marla dọn ra bánh sandwich và hai cốc nước ga. Nước lạnh đến rát cả cổ. Tôi vừa ho sù sụ vừa giải thích kế hoạch cho Marla.

    „Cậu có chắc là có thể ở lại chỗ Tim không đấy?“ Giọng cô ấy đầy nghi hoặc, trán hằn lên những nếp nhăn.

    „Ừ. Anh ấy mời tớ đến mà. Anh ấy đợi tớ. Tớ có thể chỉ cho cậu xem email.“

    „Tớ chỉ nghĩ là cậu chưa thực sự quen biết anh ấy…“ Marla là tuýp người không bao giờ tự lừa dối bản thân. Tôi thì khác.

    „Sao tớ lại không biết anh ấy được? Bọn tớ viết mail cho nhau đến gần một năm nay rồi.“

    „Thì đúng là như vậy, nhưng cậu chưa gặp mặt anh ấy bao giờ, thậm chí còn chưa bao giờ nói chuyện qua điện thoại.

    „Thì sao? Chuyện đấy tớ làm ngay bây giờ cũng được.“

    „Chắc là cậu nên làm thế đấy.“

    Nghe có vẻ giễu cợt, nhưng hình như Marla đã hiểu rằng tôi đang rất nghiêm túc. Tôi đi ra ngoài và bấm số của Tim nhưng không ai nhấc máy. Khi điện thoại chuyển sang chế độ trả lời tự động, tôi gác máy. „Không ai ở nhà. Tớ sẽ thử lại sau. Chắc là anh ấy đi dạo với bà.“

    Marla gật đầu, mắt ánh lên một vẻ kỳ quặc.

    Kế hoạch của tôi là ngay sáng hôm sau sẽ lên xe buýt rời khỏi Thunder Bay, chỉ một đoạn thôi, khoảng chừng đến Nipigon, là đủ để tôi ra khỏi thành phố, sau đó tôi sẽ đứng bên đường vẫy xe xin quá giang. Tôi không có đủ tiền để làm cách khác.

    Sớm nhất là chiều ngày hôm sau mẹ sẽ thấy nhớ tôi, đến lúc đó tôi đã đi được đủ xa. Tôi sẽ viết cho mẹ một bức thư rằng mẹ không nên đi báo cảnh sát tìm tôi làm gì. Marla sẽ mang bức thư bỏ vào thùng thư nhà tôi.

    Cả đêm trằn trọc vì hồi hộp nên sáng hôm sau trông tôi bơ phờ mệt mỏi. Tôi chọn chiếc áo phông màu xanh nước biển yêu thích và chiếc quần kaki màu sáng có nhiều túi cho cuộc hành trình. Tôi sắp xếp balô cẩn thận và kiểm tra lại những thứ đã nhét vào trong lúc vội vã. Hai đôi tất, ba bộ đồ lót, một cái áo chui cổ khá ấm áp, một quần bò, bộ bikini hơi chật, bút che mụn và bàn chải đánh răng.

    Tại trạm xe buýt Marla cố khuyên giải tôi một lần nữa.

    „Cậu có chắc không đấy, Jodie?“ Đôi mắt to màu xanh lục của cô ấy nhìn tôi nghi ngại.

    „Tớ hoàn toàn chắc chắn“, tôi trả lời bằng giọng chắc nịch. „Tớ không thể tha thứ việc mẹ suốt ngày càu nhàu đến mức bố phải bỏ đi. Đã thế mẹ còn bán mất laptop và đánh tớ nữa.“ Đánh – ôi trời, cái từ này nghe mới khiếp làm sao chứ. Nhưng cái tát quả thực rất quá đáng. „Có lẽ mẹ tớ sẽ suy nghĩ về chuyện đó khi tớ không còn ở đây nữa.“

    Marla bất chợt ôm choàng lấy tôi. „Tớ lo cho cậu lắm Jodie ạ“, cô ấy nói, „nhưng tớ cũng hơi ghen tị với cậu một tí đấy. Cậu sẽ được trải nghiệm rất nhiều điều. Tớ cá là như thế.“

    „Tớ sẽ gọi cho cậu nhé. Đồng ý không?“

    „Ừ. Cậu nhất định phải làm thế.“

    „Nếu họ hỏi cậu thì nói là tớ đi đến chỗ một người bạn. Cứ nói là tớ không cho cậu biết tên và địa chỉ của người đó.“

    „Tớ hứa.“

    Tôi khoác balô lên vai và ôm lấy Marla một lần nữa. „Tạm biệt nhé“, tôi nói, cảm giác nghèn nghẹn nơi cổ họng. „Đừng quên bức thư đấy.“

    Cô ấy gật đầu. „Chúc may mắn, Jodie. Hứa với tớ là sẽ quay lại trước khi tớ đi nghỉ hè nhé.“

    „Tớ hứa“, tôi nói rồi trèo lên xe buýt.

    Tôi ngó ra ngoài cửa sổ, khi chiếc xe buýt rùng rùng chuyển bánh, Marla đưa tay lên vẫy. Tôi cũng vẫy lại. Tự nhiên cảm thấy sờ sợ, nhưng tôi nghĩ mình sẽ chỉ đi xa mấy ngày thôi.

    Một lúc sau tôi bắt đầu có cảm giác khó chịu rằng mọi người đều biết tỏng tôi đang có ý đồ gì, như thể trên trán tôi hiện rõ dòng chữ: „Này mọi người, tôi đang bỏ nhà đi đây này!“ Nhưng chẳng ai để ý đến tôi và cái balô. Dù sao thì cũng đang là kỳ nghỉ mà.

    Xe buýt chạy qua vùng ngoại ô của Thunder Bay, ngang qua những siêu thị lớn, trạm xăng và nhà hàng đồ ăn nhanh. Khi xe chạy qua Big Thunder, cửa hàng nơi mẹ tôi làm việc, tự nhiên tôi lại thấy ngần ngừ. Cảm giác tội lỗi dày vò tôi, tôi thầm nghĩ: Bây giờ xuống xe vẫn còn kịp Jodie ạ. Mày vẫn có thể làm như chưa có chuyện gì xảy ra.

    Nhưng tôi không làm như thế. Tôi không muốn là kẻ hèn nhát. Tôi bèn nhắm mắt lại và chỉ mở mắt ra khi xe buýt đã ra khỏi thành phố. Đường cao tốc chạy dọc theo hồ Superior, mặt nước hồ sáng lấp lánh như hứa hẹn những điều tốt lành.

    Tôi đi xe tới Nipigon, tạm thời đủ xa khỏi Thunder Bay. Tại đây con đường rẽ nhánh. Đường cao tốc số 17 tiếp tục chạy dọc theo hồ Superior, đi qua Sault Ste. Maria đến Sudbury. Đường cao tốc số 11 chạy về hướng Bắc qua Longlac, Hearst và Smooth Rock Falls, nhưng quãng đường thì dài như nhau nên tôi đi về hướng nào thì cũng vậy.

    Tại một trạm dừng kiêm trạm xăng, tôi tìm cách xin quá giang nhưng không quên quan sát kỹ những người mình hỏi. Marla đã dặn đi dặn lại là phải cẩn thận. Vì vậy mà tôi chỉ tiếp cận những người trông vô hại nhưng cũng không có nguy cơ đưa tôi thẳng đến đồn cảnh sát gần nhất.

    Và tôi đã gặp may. Một cặp hippie trẻ sẵn sàng cho tôi đi ké chiếc xe buýt Volkswagen sơn màu sặc sỡ của họ. Lilian và Vicky đang trên đường đi từ bờ biển phía Tây sang bờ Đông, một cuộc hành trình mà họ sẽ dành trọn cả mùa hè. Điểm dừng tiếp theo của họ là Kormac, nơi vài người quen sẽ cho họ lưu lại một thời gian.

    Trên chiếc xe là những chữ to tướng viết bằng màu đỏ: “Chỉ đến khi cái cây cuối cùng bị trốc rễ, dòng sông cuối cùng bị đầu độc, con cá cuối cùng bị đánh bắt, thì các bạn mới hiểu rằng người ta không ăn được tiền!”, và bằng màu xanh lam: “Chặt một cái cây là phá một vì sao.”

    Cả hai đều là kiểu người hoạt động vì môi trường và chắc chắn đã tham gia vào chiến dịch tẩy chay nhà máy giấy của bố tôi. Nhưng trong tình thế này tôi không được phép kén chọn. Ricky (để râu cằm nhọn và đeo quả kính John Lennon) chỉ cho tôi Kormac trên tấm bản đồ tôi mang theo. Họ sẽ đi về hướng Bắc, và trước khi họ phải rẽ khỏi đường cao tốc thì tôi đã gần đến Hearst.

    Tôi leo lên xe.

    Lilian hỏi han tôi một lúc. Tôi nói dối rằng mình đã mười bảy tuổi, đang trên đường đến thăm bà và sẽ ở lại đó trong một phần kỳ nghỉ hè. Tôi còn bịa ra cả chuyện bố mẹ tôi rất thoáng, rằng họ đã từng đi khắp nơi bằng cách quá giang xe nên hoàn toàn không cấm cản gì khi tôi cũng làm như thế.

    Tôi không biết họ có tin không nhưng cả hai có vẻ hài lòng với câu chuyện và không hỏi thêm gì nữa. Ricky mở hết đĩa nhạc này đến đĩa nhạc khác. Chúng tôi nghe Neil Young, nhóm Stones, Bob Dylan và Jimi Hendrix. Tôi biết gần hết các bài hát vì bố mẹ tôi cũng nghe loại nhạc đó, khi họ vẫn còn hòa thuận.

    Tôi nhớ lại một buổi tối khi bố mẹ mở những đĩa nhạc cũ và cùng nhảy theo nhạc Neil Young. Họ ôm chặt lấy nhau khi đĩa chạy đến bài Heart of Gold, như một đôi mới yêu. Đó là trước khi nhà máy bị đóng cửa. “Dừng Neil Young lại!”, tôi và Nicci đã cùng hét lên như thế và cười lăn lộn.

    Bên ngoài cửa sổ xe hầu như chỉ có một màu xanh của những cánh rừng nối tiếp nhau dài bất tận nằm hai bên đường. Tôi như bị màu xanh ấy thôi miên, thấy buồn ngủ và bắt đầu gà gật. Tôi chỉ choàng tỉnh khi Lilian lay cánh tay tôi.

    “Cậu có muốn đi ăn chút gì đó với bọn tớ không?”, cô ấy hỏi.

    Chúng tôi nghỉ chân ở một quán cà phê rồi lại tiếp tục đi. Ricky và Lilian thay nhau lái xe. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện rất vui vẻ, và tôi sớm mất đi cảm giác đi cùng xe với người lạ. Tôi chăm chú lắng nghe, dù đôi khi họ lại nói những điều vượt quá hiểu biết của tôi.

    Ví dụ như khi Lilian khẳng định rằng cây cối có thể giao tiếp với nhau thông qua điện trường. “Có thể đo được điện trường này bằng một thiết bị đặc biệt”, cô ấy giải thích. “Và khi một cái cây gần đó bị chặt, người ta sẽ thu được những phản ứng mạnh mẽ trên cái cây làm vật thí nghiệm. Như vậy có thể thấy rằng cây cối cũng là những sinh vật có cảm xúc.”

    Một lúc nào đó hai người bọn họ bắt đầu nói chuyện về những người bạn cũ, tôi chìm vào giấc ngủ. Từ lâu lắm rồi tôi mới ngủ một giấc ngon và sâu đến vậy.
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, ttha, teacher.anh and 4 others like this.
  5. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 4:

    Sự tĩnh lặng đánh thức tôi dậy. Không còn tiếng động cơ đều đều. Chiếc xe đứng yên, Lilian và Ricky dựa vào nhau ngủ trên ghế. Cửa kính phủ mờ hơi nước, và khi lau nước đi, tôi nhận ra chúng tôi đang ở một bãi đậu xe nhỏ, một mình.

    Tôi trèo ra khỏi xe khiến hai người kia thức dậy. Tôi liếc nhìn đồng hồ đeo tay: tám giờ sáng, mặt trời bắt đầu sưởi ấm mặt đất. Tôi duỗi người và ngó ra xung quanh. Những dải mây hình thù kỳ cục nằm lửng lơ một chỗ ở đường chân trời, những ngọn thông được mặt trời chiếu sáng trải ra bất tận chỉ bị chia cắt bởi một vạch màu xám là con đường trải nhựa.

    Không khí buổi mai trong lành và thơm ngát. Trên chiếc bàn gỗ lớn ở bãi đậu xe, hai con sóc chuột nhỏ đang đuổi nhau. Có lẽ chúng đang nóng lòng đợi chúng tôi dọn bữa sáng ra.

    Lilian ra khỏi xe. Cô ấy ngáp dài, và khi nhìn thấy hai chú sóc, cô ấy cúi mình vào trong xe lấy ra một túi corn flakes ăn dở. Cô ấy cho hai con vật xinh xắn ăn, chúng tôi ngắm chúng cầm miếng corn flakes giữa hai bàn chân bé xíu và gặm lấy gặm để.

    “Gần đây là một trạm nghỉ”, Lilian nói. “Chúng ta có thể ăn sáng ở đó, sau đó cậu phải tìm người khác đi nhờ xe thôi. Chỉ một đoạn nữa là bọn tớ phải rẽ sang đường đi Kormac rồi.”

    Chúng tôi lái xe đến trạm nghỉ, hai người đãi tôi bữa sáng. Sau đó chúng tôi chia tay nhau.

    Ricky ôm lấy tôi, những cọng râu cứng của cậu ta cạ vào cằm tôi.

    “Cảm ơn đã cho tớ đi nhờ”, tôi nói.

    Lilian cũng ôm tôi. “Cẩn thận nhé Jodie. Và nhớ là chỉ được đi nhờ xe những người tử tế thôi đấy nhé.”

    “Tớ nhớ rồi”, tôi trả lời. “Cảm ơn vì tất cả.”

    Hai người lên xe, vẫy tay chào tôi rồi đi.


    Tôi ngó quanh trạm xăng tìm một người khả dĩ cho tôi quá giang. Nhưng có lẽ vì còn sớm quá nên không tìm được ai đi về hướng đông. Tôi đành ngồi lên cái balô và nghĩ về mẹ, Nicci và bố, người mà tôi không biết đã quay về chưa. Nếu chưa thì bố ngủ ở đâu? Bố có khỏe không? Bố có nhớ chúng tôi không?

    Tôi không thấy nhớ nhà nhưng những suy nghĩ về gia đình khiến nước mắt trào lên. Tôi cảm thấy như mình đã xa nhà hàng mấy ngày chứ không phải mới 24 tiếng. Những cuộc trò chuyện với Ricky và Lilian quanh quẩn trong đầu. Bao nhiêu là suy nghĩ mới, chúng giống như những viên bi đang lăn, va vào vật cản rồi lại lăn về một hướng khác.

    “Hê”, một giọng đàn ông cất lên phía trên đầu tôi, “cháu đang tìm ai đi nhờ xe hả?”

    Tôi nhìn thấy trước mặt một đôi ủng lao động màu nâu mòn vẹt, ánh mắt tôi ngước lên chiếc quần bò bạc màu, cái áo phông thùng thình màu xanh lá, và dừng lại ở gương mặt râu ria lởm chởm, dãi dầu mưa nắng.

    Người đàn ông cười. “Cháu định đi đâu, cô bé?”

    “Sudbury ạ”, tôi trả lời.

    “Bác đi Kapuskasing đón một lô gỗ. Nếu cháu muốn thì có thể đi cùng.”

    Người lái xe tải nhân ra sự do dự của tôi, bác ta nghiêm mặt nói: “Cháu nghi ngờ là đúng. Một cô bé xinh như thế này không thể bạ xe nào cũng lên được. Nhưng cháu không phải sợ bác. Bác có một cô con gái tầm tuổi cháu, và bác cũng không phải là hạng người đi xâm hại trẻ con đâu. Ngoài ra bác cũng không đi một mình mà còn có một cậu đi nhờ xe.” Bác ta chỉ vào một chiếc xe tải màu xanh lam, trước đầu xe là một thanh niên đang đứng hút thuốc. “Bây giờ bác đi uống một cốc cà phê còn cháu có thể cân nhắc có đi cùng hay không. Tên bác là John.”

    “Ok”, tôi nói. “Cảm ơn bác John.”

    Tôi khoác balô lên vai và đi về phía cậu thanh niên. Anh ta nhiều tuổi hơn tôi, ít ra cũng phải 18 hoặc 19, trông có vẻ đã rong ruổi lâu ngày. Mái tóc đỏ rối bù, mắt lờ đờ buồn ngủ. Có lẽ sáng nay anh ta còn chưa kịp đánh răng rửa mặt. Ít ra thì anh ta cũng mỉm cười khi tôi bắt chuyện.

    “Chào anh. Em là Jodie. Bác John vừa nói em có thể đi cùng đến Kapuskasing.”

    “Thế thì đi luôn thôi.”

    “Anh tên là gì?”

    “Kip.”

    “Bác John có tốt không?”, tôi hỏi.

    “Dĩ nhiên. Anh đi cùng bác ấy từ Thunder Bay đến đây.”

    Cảm giác tội lỗi chạy xẹt qua đầu tôi như một tia chớp khi nghe thấy tên thành phố quê hương. Có lẽ mẹ đã nhận được lá thư? Tôi tự hỏi liệu mẹ có nghe lời tôi mà không đi báo cảnh sát hay không.

    Được Kip đỡ hộ cái balô, tôi trèo vào khoang lái. Anh ta lên sau. Khi Kip ngồi xuống bên cạnh tôi mới nhận ra anh ta hơi bốc mùi một chút, nhưng nụ cười của anh ta dễ thương quá nên tôi cũng xí xóa. Chắc là lâu rồi anh chàng không có cơ hội tắm rửa.

    „Anh rong ruổi thế này bao lâu rồi?“, tôi hỏi.

    „Hai tháng.“

    „Wow. Anh đến từ nơi nào?“

    „Từ Colorado.“

    Anh ta là người Mỹ. Tôi cũng đã đoán như vậy. „Anh làm gì ở tận Longlac này?“

    „Anh đi tìm một cô gái, Tanya. Cô ấy là bồi bàn. Anh quen cô ấy ở Boulder. Lúc đó cô ấy đang đi du lịch một mình. Tụi anh ở bên nhau một thời gian. Một ngày nọ cô ấy bỗng biến mất. Anh thấy thiếu cô ấy, và cuối cùng anh nhận ra rằng mình đã yêu cô ấy rồi.“ Anh ta nhếch mép cười. „Anh chỉ biết rằng Tanya đến từ Hearst. Chắc là anh sẽ tìm thấy cô ấy ở đó, hay ít ra cũng tìm được một dấu vết.“

    „Anh lặn lội từ Boulder đến tận Canada mặc dù anh không biết cô Tanya đó có tình cảm gì với anh không?“ Tôi nghi ngờ nhìn Kip.

    Cô gái ấy sẽ nói gì khi anh chàng bất ngờ xuất hiện trước cửa nhà trong bộ dạng nhếch nhác như thế này?

    „Ừ“, anh ta nói, „anh làm thế đấy. Tanya sẽ quyết định như thế nào khi anh tìm thấy cô ấy, anh nhất định phải biết điều đó. Cô ấy tuyệt lắm.“ Anh ta rút một bức ảnh nhàu nát từ trong túi áo ra đưa cho tôi xem. Trong ảnh là Kip đang khoác tay một cô gái thoạt nhìn thì chẳng có gì đặc biệt. Tôi đã tưởng sẽ nhìn thấy cái gì đó khác kia. Cô Tanya này trông không giống một cô nàng có thể khiến một người phải vượt hàng nghìn cây số. Nhưng sau đó tôi bị nụ cười và ánh sáng trong đôi mắt cô ấy cuốn hút. Và bỗng nhiên tôi hiểu Kip.

    „Xinh“, tôi nói và trả lại anh ta bức ảnh.

    „Cô ấy phải nói là trên cả tuyệt vời.“ ánh mắt anh ta ngời sáng.

    Trong khoảnh khắc đó tôi chợt nhận ra mình đang thực sự làm gì: Tôi đang trên đường đến thăm một anh chàng mà tôi mới chỉ nhìn thấy qua một tấm ảnh. Kip và Tanya thì khác, họ đã từng được ở bên nhau. Ừ thì anh ta không có địa chỉ của cô ấy, nhưng khác với tôi, anh ta quen biết cô ấy như một con người bằng xương bằng thịt.

    Những gì tôi đang làm có điên rồ hay không? Liệu tôi có nên nghe lời Marla hay không? Không, lần này thì không. Mọi chuyện nhất định sẽ ổn cả. Tôi yêu Tim và tin chắc rằng anh đáp lại những tình cảm của tôi. Tôi không thể đợi đến lúc được gặp Tim, cho dù có phải chia sẻ anh với bà Louise của anh đi nữa.


    Bác John, người lái xe tải, bước qua bãi đậu xe lúc này đã dần dần kín chỗ. Bác ta quăng mình lên ghế lái.

    „Cháu quyết định rồi hả?“, bác ta nói với tôi và cười hiền hậu. „Tên cháu là gì?“

    „Jodie ạ.“ Tôi đưa tay cho John và bác ta bắt tay tôi thật chặt.

    „Vậy thì, chúng ta đi thôi hai cô cậu. Lên đường!“

    Chuyến đi rất vui vẻ. Bác John luôn miệng kể chuyện về những đứa con của mình. Ngoài cô con gái trạc tuổi tôi, bác ta còn hai cậu con trai nhỏ suốt ngày chọc phá lẫn nhau.

    Khi bác ta hỏi, tôi kể lại câu chuyện bịa đi thăm bà trong kỳ nghỉ. Tôi e rằng cả bác John và Kip đều không tin dù chỉ một chữ, nhưng họ chấp nhận câu chuyện và cả việc tôi không muốn nói sự thật.

    Kip xuống xe ở Hearst, chúng tôi chúc anh ta sớm tìm được Tanya. Trông anh ta hơi lạc lõng khi đứng bên vệ đường vẫy chào chúng tôi.

    Ở Kapuskasing, bác John mua cho tôi một cái hotdog trong một tiệm ăn nhanh, sau đó chúng tôi chia tay. „Rất vui được đi cùng cháu, cô bé ạ. Và cháu cũng sạch sẽ thơm tho hơn cậu bé kia.“

    Bác ta nháy mắt với tôi. „Nhớ phải cẩn thận nhé. Không được bạ ai cũng đi nhờ xe đâu. Phải quan sát người ta cho kỹ đã.“

    „Cháu sẽ làm thế ạ. Cảm ơn bác đã cho cháu đi nhờ.“

    Bác ta đưa hai ngón tay lên trán và lái xe đi.

    Tôi ngó quanh trạm nghỉ. Từ đầu đến giờ tôi chưa gặp phải vấn đề gì và đã đi được một đoạn khá xa. Tôi có cảm giác rằng mọi chuyện sẽ ổn là lẽ đương nhiên. Tôi gặp được toàn người tốt, điều đó làm tôi thấy phấn chấn. Đi mà không phải trả tiền thật đơn giản làm sao.

    Trời đã về trưa, đã đến lúc gọi điện về nhà. Tôi tìm một cái điện thoại và bấm số máy nhà. Thật may là Nicci nhấc máy.

    „Hê Nicci, là chị đây.“

    „Jodie, chị đang ở đâu? Mẹ khóc suốt đấy. Mẹ đọc thư của chị rồi.“

    „Mẹ có gọi cảnh sát không?“

    „Mẹ cứ ngồi cạnh điện thoại suốt, nhấc máy lên rồi lại không gọi. Em với mẹ có đến chỗ chị Marla nhưng chị ấy bảo không biết anh Tim của chị ở đâu cả. Mẹ gọi cho cái ông mua laptop của chị nhưng ông ấy bảo đã xóa hết dữ liệu trong máy rồi.“

    Nghe Nicci nói vậy, tôi cảm thấy hả hê kỳ lạ. „Mẹ đâu rồi?“

    „Trong nhà vệ sinh. Mẹ quay lại ngay bây giờ. Em nghe thấy tiếng xả nước rồi. Chị đang ở đâu đấy, Jodie?“

    Chị khỏe, Nicci ạ. Nói với mẹ như thế. Bảo mẹ là đừng tìm chị làm gì và chị sẽ sớm quay lại.“

    Sớm là bao giờ hả Jodie?“

    „Nicci, con nói chuyện với ai đấy?“ Đó là tiếng mẹ.

    „Jodie? Con đấy hả Jodie? Con ở đâu? Con nghĩ gì mà lại bỏ nhà đi hả? Con biết mẹ lo đến thế nào không? Mẹ phát điên lên vì con mất. Về nhà ngay lập tức, nghe chưa hả, không thì mẹ sẽ gọi cảnh sát. Mẹ muốn con về nhà ngay lập tức, Jodie!“

    Tôi gác máy. Mẹ, mẹ, mẹ. Mẹ có nghĩ tí nào đến chuyện tôi có ổn hay không? Tôi cảm thấy gì sau khi bị ăn tát? Kể cả mẹ có gọi cảnh sát tôi cũng không quay lại đâu. Ít ra là không phải ngay lúc này. Cũng có khi là không bao giờ. Có lẽ tôi có thể ở lại với Tim luôn và đi học ở Sudbury. Mẹ sẽ phải lo lắng phát cuồng lên. Và bố cũng thế nếu như bố biết được. Tôi muốn hai người ấy phải tỉnh ra, muốn mọi chuyện ở nhà phải thay đổi. Phải giống như ngày xưa.


    „Cháu có ổn không đấy?“, một bà tóc trắng mặc bộ vét màu hồng hỏi tôi.

    „Có ạ“, tôi trả lời, „cháu không sao đâu ạ. Chỉ là bị dị ứng phấn hoa thôi.“

    Nước mắt đã chảy tràn trên má tự lúc nào mà tôi không nhận ra. Tôi lấy mu bàn tay gạt nước mắt, khoác balô lên vai và đi về phía bãi đậu xe để tìm một người cho đi quá giang. Tôi hỏi hai cặp vợ chồng nhưng cả hai đều đi về hướng khác. Một người đàn ông và cậu con trai nhỏ là dân vùng này, họ nói rất tiếc không thể đưa tôi đi xa thế được. Cạnh một cột bơm xăng là một người da đỏ trẻ tuổi mặc áo phông màu xanh lá, quần nhung kẻ màu đen và đi giày bốt leo núi màu vàng. Anh ta để tóc dài chẻ ngôi giữa theo kiểu thổ dân.

    Anh ta cúi người về phía trước để nhét vòi bơm vào bình xăng chiếc xe bán tải màu xanh lục. Mái tóc rủ về phía trước che khuất khuôn mặt.

    Tuy không ham hố gì chuyện đi nhờ xe một người da đỏ nhưng cuối cùng tôi vẫn quyết định đến hỏi anh ta. Anh ta chắc không nhiều tuổi hơn tôi là mấy, có lẽ 17, nhiều lắm là 18. Vả lại đi nhờ chiếc xe bán tải của anh ta còn dễ chịu hơn là phải đến hỏi đám tài xế xe tải trông rất đáng ngờ kia.

    Khi tôi tiến lại gần, anh ta ngửng đầu và nhìn tôi dò xét bằng đôi mắt sẫm màu. Tôi càng đến gần, trán anh ta càng tối sầm lại, đôi mắt ánh lên vẻ thù địch khiến tôi đành phải đi vòng để tránh. Nhất định anh chàng này sẽ nói Không, điều đó là chắc chắn, ngay cả khi anh ta đang trên đường đến thẳng Sudbury đi nữa. Và vì không muốn bị tôi nhờ vả nên anh ta mới ném cho tôi ánh nhìn như vậy.

    Không còn cách nào khác, tôi nén cảm giác nôn nao nơi dạ dày và đi về phía những người lái xe tải đang tụ tập ở cuối bãi đậu xe. Họ là những người đàn ông vạm vỡ, da rám nắng, đang cười nói ầm ĩ. Cả sáu người cùng nhe răng cười và nhìn tôi chằm chằm khi tôi hỏi có một ai trong số họ đi Sudbury hay không.

    Năm người đàn ông lắc đầu, nhưng một người với cái bụng phệ nói:“Hôm nay tôi phải tới Fraserdale. Ngày mai tôi mới từ đó đi Sudbury. Tôi có thể đưa cô đến Smooth Rock Falls, mai cô lại lên xe tôi đi tiếp. Thời gian thì chúng ta có thể thỏa thuận.“

    Tôi quan sát ông ta. Ông này vóc người thấp, đậm, đầu hói, răng vàng khè vì nhai thuốc lá. Nhưng với cái bụng phệ, trông ông ta có vẻ vô hại, và tôi gật đầu.

    “Vậy thì đi thôi, cô bé. Cô may lắm mới gặp được tôi đấy, vì tôi lên đường muộn.”

    Những người đàn ông chia tay nhau và leo lên xe của họ. Những cánh cửa xe đóng sập lại, máy nổ ầm ĩ, khói xăng màu xanh lam bay mù mịt khắp bãi xe. Ông béo mở cánh cửa phụ lái cho tôi lên. Buồng lái dơ dáy sặc mùi mồ hôi và khói thuốc lá. Chúng tôi vừa mới xuất phát, ông ta đã nhét ngay một điếu thuốc lá vào mồm.

    “Hút không?” Ông ta giơ gói thuốc cho tôi.

    Tôi lắc đầu.

    “Cô tên gì?”

    “Jodie.”

    “Tôi là Bob.”

    “Cảm ơn đã cho tôi đi nhờ.”

    Ông ta mở nhạc, hát theo những ca khúc đồng quê và hút hết điếu này đến điếu khác. Sau đó ông ta hỏi han tôi, và tôi kể lần thứ ba câu chuyện về người bà ở Sudbury, nơi tôi sẽ ở trong kỳ nghỉ hè. Tôi kể càng lúc càng trơn tru, lại còn thêm mắm dặm muối vào câu chuyện. Sau đó tôi hỏi về gia đình ông ta, cho dù thực ra chẳng có hứng thú nói chuyện.

    Bob có một người vợ và hai cậu con trai lớn đã rời khỏi nhà. Ông ta kể cho tôi nghe về họ. Ông ta liên tục kể chuyện hài hước, và một lúc nào đó tôi không còn thấy nghi ngại nữa. Nhiều lần tôi còn phải cười phá lên vì những câu đùa của ông ta.

    Khi xe đến Smooth Rock Falls thì đã hơn tám giờ tối. Bob hỏi tôi muốn xuống xe hay đi cùng ông ta đến Fraserdale. Ở đó ông ta có một cô em họ có thể cho chúng tôi ngủ lại qua đêm.

    “Chắc chắn là Emma đã nấu món gì đó ngon lành, cô ấy vẫn luôn làm thế khi tôi đến. Còn cô có thể ngủ trong phòng của Kelly, con gái Emma. Con bé đang đi học ở Toronto.”

    Tôi suy đi tính lại muốn nhức cả đầu. Fraserdale nằm ở hướng Bắc, cách Smooth Rock Falls và đường cao tốc khoảng 80 km. Trời sắp tối, còn tôi thì không biết mình sẽ nghỉ chân ở đâu trong thành phố này. Và ý nghĩ được ngủ trên giường của cô Kelly nào đó dĩ nhiên là hấp dẫn hơn bị cảnh sát tóm vì ngủ vạ vật trái phép ở nơi nào đó.

    “Tôi đi cùng”, tôi nói.

    Bob ngoác miệng cười. “Một quyết đinh thông minh, cô bé ạ.”
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, ttha, teacher.anh and 4 others like this.
  6. ichono87

    ichono87 Lớp 9

    Cám ơn bạn đã chọn dịch tác phẩm của một nhà văn Đức để giới thiệu cho bọn mình.
    Mình không biết tiếng Đức, nhưng xin mạn phép phát biểu một vài ý kiến nho nhỏ muốn cùng góp thêm chút công sức cho bản dịch của bạn :)
    - Thứ nhất là, đại từ "tôi" là chủ đạo trong bản dịch của bạn - mình đọc chưa kỹ lắm nên không rõ tuổi của nữ chính là bao nhiêu, chương đầu chắc là còn nhỏ tuổi vì vẫn ở chung với bố mẹ :D - thế nên mình nghĩ phần đại từ nhân xưng có nên trẻ thơ hóa một chút không (cậu-tớ, mình, bố mẹ mình, ... - tùy theo ngữ cảnh - thậm chí nên lược bớt tính từ sở hữu đằng sau "bố, mẹ" để câu văn ngắn gọn và trong sáng hơn)
    Tất nhiên, mình cũng hiểu là đại từ nhân xưng có thể hiện cả cá tính của nhân vật nữa (nhu mì, cá tính, ...)
    - Thứ hai là, tác phẩm có những chỉ dẫn địa lý, hoặc những khái niệm mới nào đó, mong bạn trích dẫn cụ thể, thậm chí có thể share đường link để độc giả có thể hiểu rõ hơn (vì chỉ với 1 cụm từ dịch thì chưa chắc có thể diễn giải hết khái niệm đó :)
    Thân ái.
     
    Last edited by a moderator: 8/5/15
  7. Cub

    Cub Lớp 1

    Cảm ơn bạn rất nhiều. Mình vừa đọc lại, công nhân là bị lặp tính từ sở hữu tôi hơi nhiều. May mà bạn nhắc không thì mình cũng chẳng nhận ra :D. Phải sửa ngay mới được.
    - Nữ chính trong truyện 15 tuổi bạn ạ. Truyện không đề cập trực tiếp đến điều này nhưng cô ấy thường so sánh tuổi người khác với tuổi của mình nên có thể gián tiếp đoán ra được.
    - Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt quả thực phức tạp mà trong tiếng Đức thì cũng như tiếng Anh, chỉ có 2 đại từ nhân xưng chính thôi, mình sẽ cố điều chỉnh cách xưng hô cho phù hợp với mối quan hệ của các nhân vật.
    - Những địa danh dày đặc trong truyện thì ... chính tác giả cũng không chú thích gì thêm, mình cũng nghĩ là tên thành phố chắc là không quan trọng lắm. Lần sau nếu có khái niệm nào quan trọng mình nhất định sẽ tự chú thích. Rất cảm ơn bạn đã góp ý. ^^

     
    Last edited by a moderator: 8/5/15
  8. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 5:

    Chỉ đến khi xe đã chạy được khoảng 60 km trên con đường vắng tanh vắng ngắt, tôi mới nhận ra quyết định của mình không thông minh như tôi tưởng. Từ một tiếng đồng hồ hai bên đường chẳng có gì ngoài rừng rậm mọc trùm cả lên mép đường.

    Ừ thì tôi đã từng đi cắm trại cùng gia đình trong những cánh rừng ngoại ô Thunder Bay, nhưng rừng ở đây khiến tôi sợ. Khắp nơi không có lấy một ngôi nhà, không một dấu hiệu nhỏ nhoi của thế giới văn minh. Từ khi xe chúng tôi đi vào con đường vắng vẻ chạy về hướng Bắc này, tôi mới chỉ thấy có hai chiếc xe khác đi ngược chiều. Chiếc cuối cùng là từ nửa tiếng trước.

    Hoàng hôn dần buông xuống trên những ngọn cây. Bob đã ngừng kể chuyện cười tự lúc nào. Chỉ có nhạc vẫn đang mở. Tự nhiên tôi thấy hơi rờn rợn và bắt đầu có cảm giác rằng đi nhờ xe người đàn ông này quả thực là một sai lầm.

    Thêm vào đó, tôi còn mắc tiểu muốn chết. Tôi đã nhịn một lúc lâu. Bàng quang đau nhói như muốn vỡ tung ra. Tôi sợ mình có thể đi ra quần bất kỳ lúc nào. Nhưng tôi không nói gì cả vì không muốn ông ta dừng xe lại ở bìa rừng. Bằng cách nào đó tôi sẽ cố nhịn đến khi xe tới Fraserdale.

    Thế nhưng đột nhiên Bob đánh tay lái sang phải, rẽ vào một con đường đá dẫn đến một điểm quay đầu dành cho xe tải. Bụi rậm và những cây vân sam mọc cao che khuất hoàn toàn tầm nhìn ra đường cái. Ở đây, ngoài rừng ra, chỉ có mỗi một cái nhà xí lưu động đứng lẻ loi.

    “Nghỉ đi vệ sinh”, Bob thông báo và ra khỏi xe.

    Giờ thì tôi không còn nhịn nổi một phút nào nữa. Tôi trèo ra khỏi buồng lái và lao thẳng vào nhà xí. Ôi mẹ ơi, thật nhẹ cả người.

    Vừa mới bước ra ngoài thì ai đó đã từ phía sau nắm lấy vai tôi kéo giật lại. Những ngón tay ngắn ngủn nhưng đầy sức mạnh của Bob bấm sâu vào bắp tay, tôi bật ra một tiếng kêu thảng thốt.

    “Nào cô em, bọn mình vui vẻ một tí nhé. Bob tốt bụng đã cho cô em đi nhờ và kể chuyện giải trí cho cô em nghe. Giờ thì hãy ngoan ngoãn bày tỏ lòng biết ơn đi nào.”

    Tôi chết đứng vì sợ hãi, toàn thân lạnh toát như băng. Hàng loạt ý nghĩ chạy qua đầu nhanh như chớp, và tôi bỗng nhiên hiểu ra, hắn ta đã nói dối. Không có cô em họ Emma và cô cháu gái Kelly nào cả. Cả hai người đó đều không tồn tại hệt như người bà của tôi ở Sudbury. Bob đã đánh lừa tôi, và giờ đây tôi nằm gọn trong bẫy của hắn. Ở nơi khỉ ho cò gáy này chẳng có ma nào đêm hôm lại mò đến cái bãi trống nằm cách xa đường cái. Tôi chỉ có một mình, với hắn, cơ hội chạy trốn là con số không. Chỉ có hai lựa chọn dành cho tôi: đường hoặc rừng cây. Nếu tôi chạy ra đường, hắn sẽ lái xe đuổi theo và bắt được tôi ngay. Còn chui vào rừng thì, tôi chẳng biết trong đó có gì, khéo rồi cũng tiêu đời.

    Bob ôm chặt lấy tôi, ghì sát tôi vào cái bụng phệ kinh tởm của hắn. Người hắn ta sặc mùi mồ hôi và thuốc lá. Cơn hoảng loạn bỗng đem lại cho tôi sức mạnh phi thường. Như một phản xạ tự nhiên, tôi co đầu gối phải lên và thúc mạnh vào giữa hai chân hắn. Tên lái xe gian ác cúi gập người đau đớn và thả lỏng vòng tay. Tôi thét lên, vùng ra khỏi tay hắn, lao thẳng vào bụi rậm hòng tìm một nơi ẩn nấp.

    Cành cây quất vào mặt tôi, gai nhọn móc vào da thịt và quần áo. Bỗng nhiên quanh tôi chỉ còn bóng tối. Áo phông vướng phải một cành cây, tôi nghe tiếng vải rách kêu đánh xoạt. Mắt mờ đi vì sợ hãi, tôi vấp phải một cái rễ cây, ngã sóng soài, lẩy bẩy đứng dậy rồi lại chạy tiếp.

    Nhưng đi đâu bây giờ? Trong rừng rậm tối tăm đầy rẫy những bóng hình ma quái. Một con chim rời cành vỗ cánh phành phạch làm tôi khiếp hãi đến cứng đờ cả người. Tôi bị tê liệt mất vài giây, mạch đập thình thịch hai bên thái dương. Sau đó tôi nghe tiếng Bob chửi. Hắn ta đã lấy từ trong xe ra một cái đèn pin. Ánh đèn sáng rực quét trên mặt đất, lướt qua những thân cây đen xì.

    “Cái trò khỉ gì thế?”, hắn quát tướng lên. “Ra ngay, hay là mày muốn làm bữa tối cho gấu?”

    Gấu? Tôi giấu mình sau một thân cây, cố không phát ra tiếng động. Nhưng trái tim tôi đập mạnh đến mức chắc hắn cũng nghe thấy.

    Bob tiến lại gần hơn, tôi đã nghe tiếng cành cây gãy dưới bước chân nặng nề của hắn. “Đừng có trốn nữa cô bé, tôi chỉ đùa thôi mà”, hắn bỗng đổi giọng ngọt ngào nghe phát tởm. “Tôi không làm gì cô đâu. Chúng ta cùng đi Fraserdale nào, Emma đang đợi bên bàn ăn đấy.”

    Đồ nói dối, tôi nghĩ. Đồ con lợn chết tiệt. Nước mắt tuyệt vọng lăn dài trên má làm bỏng rát những vết xước do gai cào. Tôi nên làm gì bây giờ? Hắn sắp tóm được tôi đến nơi rồi, và sau đó thì …


    Hắn tiến đến từ phía sau. Một bàn tay bất thình lình bịt chặt miệng tôi. Một cánh tay mạnh mẽ quàng qua hông tôi. Tôi bị ghì chặt xuống mặt đất ẩm ướt. Đang định hét lên thì một giọng trầm trầm thì thầm vào tai tôi: “Ka-ma-chee. Im, hay là cô muốn bị hắn bắt?”

    Người tôi mềm nhũn như bị rút hết xương. Tôi sợ quá, không dám hó hé gì. Những suy nghĩ trong tôi đảo lộn dữ dội. Dù là ai đi chăng nữa, đêm hôm lảng vảng ở nơi rừng núi heo hút này thì chắc còn điên hơn cả gã Bob kia. Tôi phải chọn một trong hai thằng điên, nhưng kẻ đang nằm áp vào lưng tôi kia rõ ràng có mùi dễ chịu hơn hẳn.

    Ánh đèn pin đảo qua đảo lại trong rừng một lúc rồi bất chợt ngoặt sang một hướng khác và đi xa dần. Có lẽ Bob đã hết hứng đi tìm tôi và quay lại xe. Lẽ ra phải thấy nhẹ cả người, nhưng tôi lại không thể, vì cái kẻ như một bóng ma trườn ra từ cõi hư vô kia vẫn đang ôm tôi chặt đến mức không thở được. Tôi cảm thấy bàn tay hắn ta đặt lên eo lưng trần của tôi (đúng ra là cái vòng mỡ bao quanh eo), và tôi phát hoảng khi nghĩ đến tiếng vải rách lúc nãy. Không biết chiếc áo phông còn lại được bao nhiêu phần.

    Chỉ đến khi cánh cửa buồng lái chiếc xe tải đóng sập lại và động cơ xe gầm lên, cánh tay ôm tôi mới nới lỏng, và bàn tay nọ cũng rời khỏi miệng tôi.

    Tôi từ từ quay đầu sang bên. Mắt tôi lúc này đã quen với bóng tối, và tôi nhận ra anh chàng da đỏ ở trạm xăng. Anh chàng với ánh nhìn thù địch.

    “Sao mà cô ngốc thế không biết, lên xe với loại người đó”, anh ta nói bằng một giọng khinh bỉ và nhích xa khỏi người tôi. “Thử nghĩ mà xem, hắn mà tóm được cô thì chuyện gì sẽ xảy ra?”

    Tôi giật giật chiếc áo phông rách ngang rốn, không nói được một lời, toàn thân vẫn còn run lẩy bẩy vì sợ.

    “Đừng có nhìn tôi chằm chằm như thế, mẹ nó chứ, tôi không làm gì cô đâu mà sợ. Tôi không phải đồ con lợn như thằng ngu kia.”

    Anh ta nói nghe có vẻ hợp lý, tôi bèn thả lỏng người ra một chút.

    “Cảm ơn”, tôi ấp úng. Tiếng động cơ chiếc xe tải nhỏ dần, và cuối cùng thì cả khu rừng hoàn toàn yên ắng. Đến một tiếng chim kêu cũng không có. Tôi ở đây một mình với anh chàng lạ hoắc này.

    Anh chàng da đỏ đứng dậy, gạt mớ tóc thẳng dài ra sau vai. Anh ta cao hơn tôi một cái đầu, khoác một cái áo sơ mi chần bông bên ngoài áo phông.

    “Cô định ngồi mọc rễ ra đấy à?”, anh ta sốt ruột hỏi.

    Tôi run rẩy đứng dậy, đầu gối mềm oặt như cao su, một bàn tay giữ vạt áo phông rách. Người tôi vẫn còn đờ ra vì sợ, mỗi cử động, mỗi suy nghĩ đều trở nên vô cùng khó khăn. Đây là phúc hay họa? Anh chàng này có vô hại như anh ta nói không? Nếu không thì tôi tàn đời rồi.

    Chúng tôi đứng đối diện nhau, không biết phải làm gì. “Anh sống ở gần đây à?”, tôi hỏi, dẫu sao cũng mừng vì không chỉ có một mình.

    Anh chàng da đỏ lắc đầu, xì một tiếng. “Sống ở đây á? Ở cái xó này chả có ai cả, giỏi lắm cũng chỉ có mấy con gấu.”

    Tôi nuốt nước bọt. Muỗi túa ra từ trong các bụi cây. Tiếng vo ve mỗi lúc một to. Tôi giật mình nhớ ra balô của mình vẫn ở trong xe tải. Thế là đồ đạc coi như xong, cũng may là vẫn còn tiền. Trước đó tôi đã cất chúng trong túi quần cho chắc.

    “Xe anh đâu?”, tôi hỏi. “Anh đưa tôi quay lại Smooth Rock Falls được không?” Có lẽ tôi có thế viết mail cho Tim ở đó.

    “Không đời nào”, câu nói của anh ta bắn ra như một phát súng.

    “Tại sao không?” Cổ họng tôi tắc nghẹn, lồng ngực như có cục đá đè lên. “Tôi có tiền đây. Tôi sẽ trả tiền cho anh.”

    Tiền?” Anh ta nhìn tôi như nhìn một kẻ mất trí. “Cất đi, tôi cần gì tiền. Rất tiếc nhưng tôi để mất nhiều thời gian quá rồi, không thể đi thêm một vòng nữa được. 60 km đi rồi quay lại có phải là ít đâu.”

    Nước mắt trào ra dù tôi cố kìm nén. “Thế anh định bỏ mặc tôi trong rừng à?”, tôi ré lên. Vừa thoát khỏi nanh vuốt thằng cha lái xe tải bẩn thỉu kia nhưng lại sắp sửa rơi vào hàm răng gấu. Tôi đâu nghĩ chuyến đi của mình lại có kết cục thảm khốc như vậy.

    Xin hãy cho tất cả chỉ là cơn ác mộng, tôi tha thiết cầu khẩn. Xin hãy cho tôi mở mắt ra và thấy mình đang nằm trên giường. Nhưng chẳng ích gì. Đó không phải là mơ.Tôi thực sự đang đứng ở đây.

    Anh chàng nhìn tôi đăm đăm với bộ mặt âm u như lúc ở trạm xăng. Nhưng trong ánh mắt anh ta tôi nhận ra một cái gì đó khang khác. Nỗi sợ hay là sự tuyệt vọng, tôi không biết nữa. Có vẻ như anh ta đang suy nghĩ rất lung nên làm gì với tôi.

    “Mẹ kiếp”, cuối cùng anh ta cũng chửi một câu. “Chả còn cách nào khác, tôi phải mang cô theo thôi.”

    Mang tôi theo?” Tôi thở hổn hển. “Đi đâu?”

    “Rồi cô sẽ biết.”

    Tôi bị anh ta túm cánh tay, lôi xềnh xệch qua những thân cây cho đến một con đường rừng, nơi chiếc xe bán tải của anh ta đang chờ sẵn. Anh ta giật mạnh cánh cửa xe. “Vào đi!”

    Tôi máy móc nghe theo, ngồi xuống bên cạnh ghế lái. Khi bầy muỗi khát máu và bóng đêm rừng rậm đã bị cản lại bên ngoài cửa kính, tôi cảm thấy trái tim mình nhẹ nhõm hơn một chút.


    Chả biết hồi ấy tôi nghĩ gì nữa. Có lẽ tôi chỉ thấy mừng vì thoát được gã lái xe tải. Mừng vì không phải ngồi trong bóng tối làm mồi cho muỗi. Và anh chàng da đỏ này nhất định phải có mục đích của mình.

    Anh ta xoay chìa khóa, khởi động xe. Nhưng anh ta không quay lại đường cái mà phóng thẳng vào rừng. Chiếc xe lắc lư trườn qua những hố sâu. Cành cây quất tới tấp vào kính xe. Bụi rậm đan xen nhau chằng chịt hai bên đường. Đôi khi tôi có cảm giác những bóng đen ma quái của rừng hoang đang nhăm nhe xông ra nuốt chửng chiếc xe.

    Tôi quay đầu và cố quan sát anh chàng mà không phải nhìn chằm chằm vào anh ta. “Sao anh tìm được tôi? Ý tôi là, lúc đấy anh đang làm cái gì trong rừng thế?”

    “Cái mà cô cũng làm chứ sao.”

    Hóa ra lời giải thích chỉ đơn giản có vậy. Anh ta xuống xe để đi tiểu, sau đó nghe thấy tiếng chiếc xe tải và tiếng hét của tôi. Thế rồi tôi ngẫu nhiên lao bổ về hướng anh ta đứng. Sự trùng hợp này mới ghê gớm làm sao chứ. Chậm vài phút là anh ta đã đi mất rồi, còn tôi thì bơ vơ giữa rừng sâu hoặc bị Bob tóm cổ.

    Anh chàng lạ hoắc này là cứu tinh của tôi.

    “Anh có tên không?”, tôi hỏi.

    “Jay”, anh ta nói sau một thoáng lưỡng lự.

    “Chỉ Jay thôi à?”

    “Ừ.”

    “Tôi tên là Jodie. Jodie Thompson.”

    Anh chàng chỉ khẽ gật đầu một cái như thể vừa nghe một chuyện mà anh ta đã biết từ đời nào. Tôi hiểu là anh ta chẳng vui vẻ gì khi tôi có mặt ở đây. Vì vậy tôi quyết định im lặng để không chọc tức anh ta. Rõ ràng anh ta đang không có tâm trạng để trò truyện. Trong đầu tôi đã kịp nảy ra một đống các câu hỏi, còn câu trả lời thì tôi sẽ nhận được hoặc là trong những giờ tiếp theo, hoặc không bao giờ.

    Chúng tôi cứ ngồi như thế rất lâu trên chiếc xe xóc nảy dữ dội xuyên qua bóng tối, và tôi dần cảm thấy nghi ngờ về nơi anh ta đang đưa tôi đến. Cảm giác nhẹ nhõm ban đầu từ từ chuyển thành khó chịu, và cuối cùng thành nỗi sợ. Trời đã về đêm, còn chúng tôi đang ở giữa rừng rậm không một bóng người. Không có dù chỉ một cái hàng rào hay một biển báo, một cột điện cũng không thấy. Chỉ có rừng đêm đen như mực và con đường đầy ổ gà ổ voi.

    Khi tôi bắt đầu thấy hoảng loạn thì con đường bỗng nhiên kết thúc tại một bãi trống. Trong ánh đèn pha ô tô hiện lên một cái lán gỗ xiêu vẹo, cửa mở toang hoác. Các cửa sổ tối đen như mực. Không có ai ở nhà.

    Giời ơi, tôi đã mong đợi cái gì thế này không biết?

    Có khi nào gã Jay này còn nguy hiểm hơn cả tên lái xe tải lúc nãy? Anh ta có ý định gì? Tôi phải ở lại trong cái lán rách này với anh ta đêm nay hay sao? Tôi từng nghe được từ bố mẹ vài chuyện về người da đỏ, lúc này chúng bỗng tự nhiên ùa cả về trong đầu. Nào là chuyện họ ăn ở mất vệ sinh và mang nhiều bệnh tật. Rồi thì họ ăn trộm những thứ họ cần và chỉ làm việc khi thực sự bức thiết. Tôi thì chẳng còn thứ gì để mà trộm. Tất cả tài sản chỉ còn lại quần áo đang mặc trên người. Tiền của tôi thì Jay chẳng thèm để ý đến.

    Anh ta dừng xe lại trước lán. “Ra ngoài!”

    Tôi ngoan ngoãn làm theo, còn anh ta đánh xe vào cái lán chỉ vừa vặn đủ chỗ cho chiếc xe. Đèn pha ô tô tắt nhưng mặt trăng đã lên cao quá ngọn cây, đổ những cái bóng dài xuống mặt đất. Jay quay lại với một cái balô to sụ và một cái túi ngủ cuộn tròn lấy từ trong lán, nhẹ nhàng đặt cả hai thứ xuống cỏ. Anh ta thay đôi bốt leo núi bằng một đôi giày môca, đặt đôi bốt lên kệ rồi đóng cánh cửa gỗ lại.

    Tôi đứng đó, khoanh hai tay tự ôm lấy mình. Hai phút sau, toàn thân tôi run lên lập cập cho dù không khí vẫn vương hơi ấm ban ngày. Thêm vào đó, bầy muỗi khát máu lại ùa ra đốt tới tấp những chỗ da thịt lộ ra ngoài. Tôi vung vẩy hai tay quanh mình nhưng chúng không chịu buông tha. Có con chui cả vào mũi. Tôi bị vây trong một đám mây muỗi lúc nhúc, kêu vo ve.

    Jay lấy từ trong balô ra một cái đèn pin và một cái áo khoác nỉ bông. “Đây”, anh ta nói và đưa cái áo cho tôi. “Mặc vào.”

    Tôi mới lưỡng lự được vài giây thì Jay đã nhận ra. “Đừng có khách sáo vớ vẩn. Cô muốn bị muỗi làm thịt à?”

    Nhanh như chớp, tôi khoác chiếc áo lên người. Áo ấm sực, thơm dễ chịu mùi đống lửa. Giờ thì bọn muỗi chỉ còn có thể tấn công mặt và hai bàn tay, tôi cũng không còn phải khổ sở che đậy chiếc áo phông rách nữa.

    “Cảm ơn”, tôi nói.

    “Đừng có hơi tí lại nói cảm ơn nữa”, Jay lầm bầm bực bội, “không có gì cho cô cảm ơn cả. Đi thôi. Ma-cha. Cứ bám theo tôi.”

    Anh ta nhấc chiếc balô, nhìn cũng biết là rất nặng, lên lưng, đặt nốt cái túi ngủ cuộn tròn lên vai và đi thẳng vào cánh rừng đen kịt.

    “Ê”, tôi gọi, “anh đi đâu đấy?” Vừa lúc nãy tôi vẫn còn khiếp sợ cái viễn cảnh phải qua đêm cùng anh chàng xa lạ này trong cái lán gỗ lẻ loi giữa rừng, nhưng giờ thì tôi đã biết, cái lán chẳng qua chỉ là nhà để xe. Anh ta không hề có ý định ở lại đây. Từ bây giờ chỉ còn có một việc để làm: đi!

    Jay quay người lại, rọi đèn pin vào mặt tôi. “Đi về nhà. Cô muốn thì đi cùng, không thì ở lại đây. Quyết định ngay lập tức.”

    Nói rồi anh ta lại quay mình xăm xăm đi tiếp. Chẳng phải anh ta đã nói là không ở gần đây hay sao? Không hiểu nhà đối với một người như anh chàng này có nghĩa là gì. Anh ta lái ô tô, mặc quần áo bình thường (không phải mốt mới nhất, nhưng cũng gọi là …) và nói năng cũng không giống như người tiền sử. Nói tóm lại, anh chàng không phải là người rừng. Nhưng ngộ nhỡ anh ta sống trong rừng thì sao? Tôi từng nghe nói về những ngôi làng của người da đỏ ở phương Bắc, nơi không có một con đường nào dẫn đến. Người ta chỉ có thể tới đó bằng thuyền hoặc thủy phi cơ.

    Ánh đèn pin sắp biến mất khỏi tầm nhìn. Nếu tôi không muốn ở lại một mình trong bóng tối, không còn lựa chọn nào khác ngoài đi theo Jay.
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, ttha, teacher.anh and 5 others like this.
  9. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 6:

    Chúng tôi đi trên con đường nhỏ xuyên qua một đường hầm cây tối mịt. Ánh trăng bị chặn lại ở bên ngoài, tôi phải bám sát theo từng bước chân Jay. Bầy muỗi vo ve vẫn dai dẳng bám theo. Chúng chỉ đợi chúng tôi dừng lại là nhao tới tấn công.

    “Còn bao xa nữa?”, tôi hỏi sau khi đã đi được một lúc.

    “Rồi cô sẽ biết.”

    “Tôi khát.”

    Jay dừng lại, thò tay ra đằng sau, rút một chai nước từ túi bên hông balô ra và đưa cho tôi. Tôi uống vài ngụm lớn. “Cảm ơn.”

    Bầy muỗi sà xuống đốt nhưng Jay chẳng thèm để ý đến chúng. Anh ta nhét cái chai lại vào túi rồi vội vã đi tiếp.

    “Tại sao anh không cho tôi biết chúng ta đang đi đâu và họ của anh là gì?”, tôi hỏi. “Tôi sẽ thấy dễ chịu nhiều hơn nếu biết được điều đó.”

    “Tôi thì không.”

    Đôi chân dài của anh chàng da đỏ sải bước nhanh thoăn thoắt. Tôi phải vất vả lắm mới theo kịp.

    “Nếu anh không nói cho tôi biết, tôi sẽ không đi thêm một bước nào nữa.” Tôi đứng lại và bướng bỉnh khoanh hai tay trước ngực.

    Jay thậm chí còn không thèm ngoái lại. “Wa-chee-ye”, anh ta nói.

    Cái gì?”

    “Chào nhé.”

    Khoảng cách giữa chúng tôi tăng lên rất nhanh. Bầy muỗi lại nhăm nhe chuẩn bị đánh chén. Tôi khua khoẳng loạn xạ và chạy theo hòng bắt kịp Jay.

    “Người ta sẽ đi tìm tôi.”

    “Đừng có mơ.” Jay dừng bước, quay lại nhìn tôi. “Được rồi, Jodie Thompson”, anh ta nói, trong giọng nói có gì đó như sự tuyệt vọng. “Tôi không thể nói rằng rất vui vì được đồng hành cùng cô. Nhưng mọi chuyện đã đến nước này rồi. Làm ơn im miệng và đi tiếp giùm tôi được không? Tôi phải tập trung vào con đường, và tôi không thể làm thế được nếu ai đó cứ léo nhéo bên tai.”


    Kể từ đó chúng tôi đi trong im lặng. Những hình bóng bí hiểm mọc ra từ bóng đêm. Thú rừng lao vun vút trong bụi cây, xua lũ chim ra khỏi tổ. Anh chàng da đỏ chẳng để ý gì đến chúng, nhưng tôi thì lần nào cũng giật bắn mình lên vì sợ. Những cái bóng và âm thanh của chúng đối với tôi thật vô cùng xa lạ.

    Giờ đây tôi sẵn sàng trả bất cứ giá nào để được trở về căn phòng quen thuộc và ngả mình trên giường, ngay cả khi phải chia sẻ nó cùng Nicci tôi cũng chấp nhận hết. Thay vào đó, tôi đang mò mẫm trong cánh rừng tối mịt cùng một anh chàng lạ hoắc mà không biết mình sẽ đi đến đâu. Sao tôi lại ngu dại đến thế? Đùng đùng bỏ nhà đi chỉ vì một chuyện nhỏ như cái móng tay! Không thể ngờ rằng tôi đã tự đẩy mình vào hoàn cảnh này.

    Gã Jay này không hiểu có việc gì mà vội vàng đến phát khiếp. Một người như anh ta thì có chuyện gì quan trọng phải làm giữa đêm hôm khuya khoắt trong rừng vắng? Tôi không nghĩ ra được lý do nào tốt đẹp. Tôi buộc phải nghĩ đến mẩu tin đọc được trong báo mấy hôm trước. Có những người da đỏ chuyên buôn lậu thuốc lá. Họ bí mật vận chuyển thuốc lá từ Mỹ qua biên giới vào Canada bán kiếm lời. Có khi tên này là một trong số họ cũng nên. Biết đâu cái balô của anh ta chẳng đựng đầy thuốc lá, và ở một nơi nào đó trong bụi rậm, những kẻ mờ ám nào đó đang chờ đợi anh ta. Họ nhất định sẽ không vui vẻ gì khi nhìn thấy tôi.

    Jodie, tôi thầm nghĩ, giờ thì mày chẳng khác gì Marla, lúc nào cũng nghĩ đến những điều kinh khủng nhất. Biết đâu nửa tiếng nữa mọi chuyện sẽ rõ ràng. Tôi mường tượng ra cảnh mình ngồi trong một căn lán gỗ ấm cúng, đón nhận lòng hiếu khách của gia đình Jay. Biết đâu mẹ của anh ta rất tốt bụng, và anh ta có vài chị em gái. Ở đó chắc chắn cũng có đồ ăn. Thú thực bụng tôi bắt đầu thấy đau vì cái dạ dày rỗng tuếch.

    Nhưng chẳng có cái nhà nào hiện ra. Con đường có vẻ dài bất tận.

    Jay vẫn đi băng băng phía trước bằng tốc độ đáng kinh ngạc như một con thú dữ. Càng lúc tôi càng thấy khó theo kịp anh ta. Tôi đau đớn nhận ra mình yếu đuối, kém cỏi đến thế nào. Thiếu sức bền, đã thế lại phải tha thêm cả đống thịt thừa trên người, nên chẳng mấy chốc tôi đã thở hổn hển. Thêm vào đó, người tôi nóng hừng hực vì phải vận động nhưng vì bầy muỗi và cái áo phông rách hở bụng nên tôi không dám cởi áo khoác ra.

    Các cơ bắp không được luyện tập của tôi bỏng rát. Tôi có cảm giác như đeo tạ vào chân. Tôi đuối sức dần và đi chậm lại. Anh chàng da đỏ nhận thấy điều đó, cứ như có mắt đằng sau gáy. Anh ta giảm tốc độ cho đến khi tôi đuổi kịp. Khác với tôi, trông anh ta chẳng có vẻ gì mệt mỏi dù phải cõng cả cái balô nặng và cái túi ngủ. Tôi khao khát cháy bỏng cái giây phút anh ta nói: “Đến nơi rồi.”

    Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Còn lâu mới đến lúc.

    Dạ dày tôi càng lúc càng cồn cào dữ dội. Có lần tôi còn phát hoảng vì bụng réo to đến mức tôi lầm tưởng là một con thú hoang nào đó.

    Tôi đang định xin Jay cho nghỉ lấy hơi một chút thì anh chàng đứng khựng lại, tôi theo đà đâm thẳng vào cái balô của anh ta, loạng quạng suýt ngã lăn ra đất.

    “Cái gì thế?”, tôi gượng đứng lên, vừa thở hổn hển vừa hỏi.

    Jay không trả lời, nhưng anh ta bắt đầu nói khẽ bằng một thứ tiếng lạ lùng, với âm điệu như hát, và lặp đi lặp lại từ muskwa. Tôi ngạc nhiên lắng nghe giọng nói trầm trầm nhịp nhàng của anh ta, cho tới khi nhận ra anh ta đang nói với ai. Trên đường mòn, cách chúng tôi chưa đầy năm mét, ngồi chình ình trong quầng sáng đèn pin – một con gấu.

    Tôi sợ đến quên cả thở, tiếng kêu tắc nghẹn trong cổ họng. Tôi không nhìn rõ con thú to chừng nào nhưng trí tưởng tượng thì hoạt động hết công suất. Con gấu có bộ lông rất sẫm màu, gần như đen, và tỏ ra không mấy vui vẻ vì sự hiện diện của chúng tôi.

    Nhanh như chớp, tôi giấu mình sau cái balô của Jay, trong khi anh ta thuyết phục con gấu (chắc là bằng tiếng của loài gấu) và vung vẩy hai cánh tay. Chẳng biết tại sao nhưng tôi nghĩ, anh ta biết phải làm gì. Dù sao thì đó cũng là ý của anh ta, giữa đêm hôm mò mẫm trong rừng như thế này.

    “Ra đây”, Jay ra lệnh, “để nó thấy chúng ta có hai người.”

    Cái quái gì thế? Gấu mà cũng biết làm tính à? Tôi thập thò ló đầu ra từ sau cái balô. Thế là anh ta nhích một bước sang bên cạnh: “Giơ hai tay lên, gây tiếng động đi!”

    Tôi nhấc hai tay cứng đờ lên, miệng không thốt ra nổi một lời nói chi gây tiếng động. Jay rọi đèn thẳng vào con gấu, và trong khoảnh khắc cả hai chúng tôi cùng nhìn thấy nó đang ngồi trên cái xác rách nát của một con nai sừng tấm non, chóp mũi đầy máu vươn về phía trước đánh hơi. Nó gầm gừ giận dữ và đưa chân trước đầy móng vuốt lên đánh vào không trung. Đó là một cử chỉ đe dọa, điều đó thì đến tôi cũng biết. Chúng tôi đã làm phiền bữa ăn của con gấu và nó đang tức giận.

    Tôi đã mất khả năng suy nghĩ và cử động. Não tôi đánh đi tín hiệu “Chạy!” nhưng hai chân cứ ì ra như bị dính chặt xuống đất.

    “Chúng ta phải chuồn thôi”, Jay nói, bình tĩnh đến ngạc nhiên. “Cứ từ từ quay lại theo đường cũ và đợi ở đâu đó cho tới khi tôi đến.”

    Tôi muốn làm thế nhưng không được.

    “Cái gì đấy?”, Jay thì thào sốt ruột.

    “Tôi không thể.”

    Anh ta túm lấy cánh tay tôi và bấm mạnh những đầu ngón tay vào bắp thịt. Cơn đau nhói kéo tôi ra khỏi trạng thái tê liệt.

    Bỗng nhiên con gấu vung hai chân trước và rống lên giận dữ. Âm thanh khủng khiếp đến mức toàn thân tôi chấn động.

    “ Chạy!”, Jay hét lên.

    Tôi quay mình, chạy thục mạng vào đêm tối.


    Tôi không biết mình đã chạy bao xa trước khi bàn chân trái mắc phải một rễ cây khiến tôi ngã sóng soài. Đầu tôi đập phải một cành cây khi ngã xuống, nhưng tệ hơn cả là cơn đau đang nhói lên từng hồi nơi mắt cá chân. Co ro trên nền đất, tim đập thình thịch, tôi lắng tai nghe. Mạch đập liên hồi trong hai tai. Phải mất một lúc tôi mới nghe thấy những tiếng động khác ngoài tiếng máu chảy trong huyết quản. Từ phía xa vẫn còn vọng lại tiếng rống giận dữ của con gấu, nhưng bỗng nhiên tiếng rống ngừng hẳn, và tất cả lại chìm trong im lặng. Im ắng tới mức nỗi sợ thò những ngón tay lạnh như nước đá cào vào lưng tôi.

    Tôi phải làm gì đây, nếu Jay bị con gấu giết mất rồi?

    Không phải tôi yêu quý gì anh chàng. Cứ tưởng anh ta là ân nhân cứu mạng, hóa ra lại là kẻ bắt cóc. Nhưng anh ta đã che chở tôi trước tên lái xe tải nguy hiểm và cho mượn chiếc áo khoác khi bọn muỗi định ăn thịt tôi. Nhất định tôi không mong anh ta bỏ mạng trong bụng gấu. Ngoài ra tôi cũng không có hứng thú bơ vơ một mình giữa nơi rừng núi âm u này. Đêm vẫn còn dài, và mắt cá chân tôi đau khủng khiếp. Có khi bị gãy rồi cũng nên. Con gấu thì vẫn còn đây, và nó sẽ tìm thấy tôi chẳng khó khăn gì. Mồ hôi lạnh túa ra từ từng lỗ chân lông, con thú chỉ cần lần theo mùi là đến được chỗ tôi dễ dàng.

    Bám vào một thân cây, tôi cố đứng dậy. Cơn đau nơi mắt cá chân dịu dần, nhưng hễ tôi bước chân trái lên thì lại còn đau hơn trước.

    Trong khi còn đang suy nghĩ sẽ làm gì tiếp theo, tôi bỗng nhìn thấy ánh đèn pin và nghe tiếng Jay khẽ gọi tên tôi.

    “Tôi ở đây”, tôi gọi bằng giọng khản đặc.

    Khi Jay đã đứng trước mặt, như trút được gánh nặng, tôi nức nở ôm choàng lấy cổ anh ta. Jay vỗ vỗ vài lần lên vai để xoa dịu tôi và nhẹ nhàng đẩy tôi ra. “Cô không sao chứ, thỏ đế?”

    Thỏ đế? Tôi gầm lên không khác gì con gấu. Cơn giận này không sao kiềm chế được. “Đưa tôi quay lại ngay, đồ ngu này!”, tôi hét vào mặt Jay. Tôi đấm anh ta túi bụi, không dừng lại ngay cả khi anh ta đột nhiên kêu lên đau đớn. Anh ta thả rơi chiếc đèn pin, nắm chặt lấy cổ tay tôi bằng bàn tay cứng như thép.

    “Cô điên rồi à?”, anh ta gằn giọng. “Làm cái trò gì thế?”

    “Tôi không chịu được”, tôi rên rỉ. “Đưa tôi quay lại đi!”

    “Cô không chịu được cái gì?”

    “Đi bộ, con gấu, muỗi đốt, bóng tối, đơn giản là tất cả. Anh phải đưa tôi quay lại đường.” Trong một giây tôi chợt nhận ra ở nơi hoang dã này mình bất lực biết nhường nào. Chuyến phiêu lưu nhỏ của tôi đã trở thành cơn ác mộng. Bao nhiêu điều xa lạ và đáng sợ đổ ập lên đầu khiến chút dũng khí cuối cùng lìa bỏ tôi như không khí thoát ra từ bánh xe bị rạch.

    “Điều đó không thể được”, Jay nói, giọng đã dịu dàng hơn. “Thở một hơi thật sâu và bình tĩnh lại, được không?”

    Tôi giật tay lại, dựa lưng vào một thân cây lớn và òa khóc nức nở. Cơn giận đã tiêu tan. Giờ tôi chỉ thấy kiệt sức, đói mềm và đau khổ.

    Jay nhặt chiếc đèn pin lên và soi tôi từ đầu đến chân, có lẽ để tự mình kiểm tra xem tôi có bị thương hay không. Trong ánh đèn, tôi nhìn thấy bàn tay phải mình vấy đầy máu liền hoảng hốt giơ lên xem. Có khi nào tôi bị thương nãy giờ mà không hay biết?

    “Máu tôi đấy”, Jay nói. “Con gấu tấn công tôi.”

    “Tấn công?” Tôi giật lấy chiếc đèn pin và chiếu vào mặt Jay. Anh ta nhắm mắt lại và quay đầu đi vì chói.

    Tôi soi đèn pin kiểm tra Jay từ đầu đến chân. Nửa trên ống tay trái chiếc áo sơ mi kẻ ca rô của anh ta rách te tua. “Ôi trời ơi”, tôi lắp bắp, “anh bị thương rồi.”

    “Nó chỉ đánh dọa thôi”, Jay trấn an tôi. “Tôi nằm vật ra đất và giữ cái túi ngủ trên gáy. Móng nó cào trúng cánh tay, nhưng tôi nghĩ không có gì nghiêm trọng. Tôi sẽ kiểm tra sau. Chúng ta phải đi khỏi đây.”

    “Tôi không đi được nữa.”

    “Cô nói gì?” Anh ta bàng hoàng nhìn tôi.

    “Lúc nãy bị vấp vào rễ cây. Tôi thấy đau lắm.”

    “Có gãy xương không?”

    “Làm sao tôi biết được.”

    “Lại còn thế nữa.” Jay vung tay giận dữ. Có vẻ như anh ta vừa nhận ra rằng tôi là nguồn gốc nảy sinh biết bao phiền toái. Tôi là gánh nặng, là cục nợ anh ta phải mang. Trong tôi le lói hy vọng rằng Jay hết chịu nổi sẽ phải đưa tôi quay lại.

    Nhưng khi nhìn mặt Jay, tôi biết đó chỉ là hy vọng hão huyền. Tôi nuốt nước bọt, một nỗi sợ mơ hồ bắt đầu dấy lên. Việc tới nơi càng nhanh càng tốt đối với anh ta quan trọng đến thể nào? Liệu anh ta có vứt tôi lại đây vì tôi không đi được nữa hay không?

    “Làm sao bây giờ?”, tôi gượng gạo hỏi.

    “Tôi phải nghĩ đã.”, Jay quát.

    Dù tôi thừa biết rằng trong nhiều tình huống, im lặng là vàng nhưng cái miệng tôi như bị mất phanh. Tôi cho Jay nghĩ đúng mười giây rồi lại hỏi: “Con gấu có đuổi theo chúng ta không?”

    Nếu anh chàng da đỏ này bỏ lại tôi trong rừng thật thì đây là một câu hỏi sống còn.

    “Tôi nghĩ là không”, Jay cau có lầm bầm. “Nó có con mồi rồi. Nhưng chúng ta không thể ở lại đây được, như thế quá nguy hiểm.”

    Chúng ta? Có thực anh ta vừa nói chúng ta? Tôi thở phào nhẹ nhõm, cảm giác nặng nề như bị hòn đá đè lên tim cũng tan biến. “Có nơi nào an toàn chúng ta có thể đến không? Và tôi nên đến đó bằng cách nào khi không thể bước đi được?”

    Jay nặng nề thở dài. “Cô có thể đặt một câu không có dấu hỏi chấm ở cuối không, Jodie Thompson?”

    Tôi im lặng cắn môi.

    „Gần đây có một cái hồ, chúng ta phải đến đó. Con gấu đang ngồi ăn mồi trên đường nên chúng ta sẽ đi vào rừng để tránh nó.“

    Đi vào rừng, ý anh ta là đi vào nơi cây cối rậm rạp đến đường mòn cũng không có. „Nhưng tôi không đi được“, tôi thầm thì.

    „Cô phải đi. Cố một lần nữa đi. Nhất định phải được. Cái hồ không còn xa đây nữa.“

    Tôi nhấc chân lên, bước hai bước nhỏ. Đau khủng khiếp, như bị ai đó cầm dao khoét vào mắt cá chân. Đau đến váng cả óc. Tôi nghiến hai hàm răng. Thà chịu đau còn hơn là ngồi lại đây một mình trong bóng tối.

    „Được rồi.“

    „Cô đi trước“, Jay nói. Anh ta đưa tôi cái đèn pin. „Lối này.“

    Mỗi bước chân đau đến mức trào nước mắt, nhưng tôi vẫn cất từng bước một, và chẳng hiểu sao cuối cùng thì cũng ổn. Mạng nhện bám cả vào mặt. Tôi giơ tay trái ra trước để che đầu khỏi những cành cây vươn ra.

    Jay hối thúc luôn mồm nhưng chúng tôi vẫn tiến lên rất chậm chạp vì phải luồn qua bụi rậm, vòng qua những tảng đá và trèo qua những cây đổ. Ngoài cơn đau dữ dội nơi mắt cá, hai chân tôi vừa mất hết cảm giác, vừa nặng trình trịch. Tôi mệt nhọc lê từng bước, đầu đau như búa bổ. Đôi khi tôi dừng lại, vì Jay bước đi trên đôi giày môca nhẹ nhàng đến mức tôi không nghe thấy anh ta.

    Awas, đi tiếp đi“, anh ta nói. „Tôi ở ngay đằng sau đây.“

    Khi giúp tôi trèo qua một thân cây đổ, trong tích tắc Jay phải đỡ trọn tấm thân nặng 73 kg của tôi. Anh ta hự khẽ một tiếng, còn tôi thì xấu hổ muốn chui xuống đất cho rồi. Tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi? Không hiểu tôi đã nghĩ gì mà tự nhiên lại bỏ nhà đi rồi trèo lên xe với một kẻ như tên Bob đó. Chính tôi cũng không thể tin rằng mình lại dại dột đến vậy.

    Sự tủi thân trào lên như một cơn sóng. Bỏ nhà đi là thế đấy, ai mà biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đúng là một bài học nhớ đời. Tôi vừa đói, vừa kiệt sức, mắt cá chân đau kinh khủng. Tôi phải cố lắm mới ngăn được dòng nước mắt đang chực trào ra.


    Bỗng nhiên rừng thưa dần, và chúng tôi đã đến nơi. Tôi đang đứng trên một mỏm đá rộng lớn, sáng lấp lánh. Trước mặt là cái hồ. Trăng tỏa sáng trên mặt nước. Ánh trăng lạnh vỡ tan trong những lớp sóng đen ngòm, trông như ngàn vạn ngôi sao buông mình xuống nước.

    Tôi ngửa đầu, ngước mắt lên trời. Trên cao là hàng triệu đốm sáng nhấp nháy. Tôi há hốc mồm vì ngạc nhiên. Tôi chưa bao giờ thấy cái gì giống như thế. Bầu trời sao ở đây trong trẻo và hùng vĩ hơn trong thành phố, nơi ánh sáng nhân tạo làm lu mờ những vì sao.

    „Chúng ta phải đi tiếp“, Jay nhắc. Tôi không nhìn rõ mặt anh ta, chỉ thấy hàm răng sáng lóa trong ánh trăng.

    Từ đây đến bờ hồ còn phải leo trèo một đoạn. Thử thách lớn đối với một kẻ què chân. Nhưng ở đây không có những cây cao và ánh trăng sáng đã thay thế chiếc đèn pin nên chúng tôi có thể dùng cả hai tay để bám. Jay trèo xuống trước, chạy đến đỡ tôi. Đôi bàn tay anh ta ấm áp và khỏe mạnh. Tôi muốn nắm lấy chúng, vì chúng cho tôi cảm giác an toàn.

    Cuối cùng thì cũng xong. Tôi mệt nhoài thả mình xuống bờ cát ẩm. Bỗng nhiên có thứ gì đó rất to lớn xé tan mặt nước, gây ra một tiếng động làm tôi giật bắn mình.

    „Cái gì thế?“

    Jay cười giễu sự sợ hãi của tôi. „Không biết. Chắc là ma đấy.“ Anh ta bỏ cái túi ngủ cuộn tròn xuống, nhẹ nhàng đặt cái ba lô xuống đất và duỗi chân tay.

    Ma. Lại còn thế nữa. Tôi vốn không tin vào những nhân vật cổ tích và ma quỷ. Mấy trò hù dọa kiểu đấy còn lâu mới làm tôi sợ.

    „Giờ sao?“, tôi hỏi, vì biết cái hồ không thể là điểm cuối của cuộc hành trình.

    „Tôi phải tìm cái xuồng đã“, Jay đáp. „Chỗ tôi giấu nó chắc không xa đây đâu.“

    Xuồng?“

    „Ờ.“

    „Anh định đưa tôi đi đâu?“

    „Tôi tưởng mình đã giải thích rõ rồi mà.“

    Tôi chán nản gục đầu xuống. Mệt bã cả người, không còn sức đâu mà nghĩ nữa.

    Jay quỳ xuống bên cạnh, dùng nắm tay phải nâng cằm tôi lên, buộc tôi nhìn thẳng vào mặt anh ta. Trông anh chàng đã có vẻ thân thiện hơn một chút. Chắc anh ta mừng lắm vì cuối cùng cũng đến được cái hồ mà không phải cõng tôi. Về chuyện đó thì tôi không giận anh ta.

    „Này, cô thỏ đế“, Jay nói. „Có tin tưởng tôi không?“

    Tôi khịt mũi. „Buộc phải làm vậy thôi.“

    „Sẽ không có chuyện gì xảy ra với cô đâu. Lời hứa danh dự của người da đỏ đấy.“ Jay đứng dậy. „Cứ đợi ở đây nhé. Tôi sẽ quay lại ngay.“ Anh ta đi dọc theo bờ hồ. Trong khi nhìn theo Jay, tôi nghĩ đến bố mẹ, đến những giọt nước mắt, những trận cãi nhau, và hai chữ ly hôn đáng ghét. Có khi nào bố đã quay lại và đang cùng mẹ lo lắng cho tôi không.

    Có lẽ trong những giờ vừa qua bố mẹ đã nghĩ đến mọi khả năng có thể, như tôi đang ở đâu hay chuyện gì đang xảy ra với tôi. Nhưng chắc chắn họ chẳng bao giờ tưởng tượng ra được rằng tôi vừa suýt bị một con gấu ăn thịt và đang chuẩn bị lênh đênh trên xuồng cùng một người da đỏ trong rừng sâu núi thẳm. Thế có khi lại hay.

    Cứ đợi ở đây, Jay đã nói như thế. Tôi còn đi đâu được nữa? Suýt nữa thì tôi bật cười, mọi chuyện quả là kỳ cục.

    Gương mặt lo âu của bố, tiếng mẹ tru tréo, cả những giọt nước mắt trên gương mặt mẹ mà tôi không muốn nghĩ tới nữa; trò nhõng nhẽo ỉ ôi của Nicci, căn hộ bé xíu, Marla, trường học … tất cả bỗng trở nên xa vời và mờ ảo. Ngay cả Tim, người đang đợi tôi ở Sudbury, cũng hư ảo như một giấc mơ.

    Chỉ có nơi này là hiện thực: màn đêm với hàng triệu ngôi sao trên bầu trời; ánh trăng vỡ tan trong làn nước hồ đen thăm thẳm; bờ cát thô ráp, ẩm ướt dưới những ngón tay. Và dĩ nhiên là cả gã Jay kia nữa, người đang đi tìm một cái xuồng giấu ở xó nào không biết. Với chiếc xuồng đó anh ta sẽ đưa tôi tiếp tục tiến sâu vào nơi hoang dã.

    Tôi không muốn vẽ ra thêm một viễn cảnh nào về điều đó. Cho dù cái nơi mà Jay gọi là nhà có như thế nào đi chăng nữa, chúng tôi cũng sẽ không tới được đó trong đêm nay.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/8/15
    Linh Vũ, ttha, teacher.anh and 3 others like this.
  10. hoalienbao

    hoalienbao Moderator Thành viên BQT

    Hi, tui cũng đã đọc "Con sóng thứ 7" nên cũng rất thích các tác giả Đức.

    Hiện tại, đang tính học thêm tiếng Đức làm ngoại ngữ 2. Cám ơn Cub, sức dịch của bạn nể thiệt he.

    :)
    !
     
    Last edited by a moderator: 23/3/15
    ttha and Cub like this.
  11. Cub

    Cub Lớp 1

    Cảm ơn bạn đã động viên Cub. Thú thực là mình dịch chậm lắm vì cứ dịch được vài dòng lại mất hứng, lại thấy vớ vẩn thế nào ấy. Thời gian này mình không có nhiều việc để làm, ngồi dịch loăng quăng giết thời gian, cũng để rèn luyện khả năng tiếng Đức nhưng đầu óc không tập trung nổi. Mình sẽ cố gắng hơn nữa. ^^
     
    Last edited by a moderator: 8/5/15
    thanhbt, ttha, teacher.anh and 3 others like this.
  12. hanhdb

    hanhdb Sinh viên năm I

    Lót gạch hóng, Cub dịch tốt và mượt lắm. Nếu dịch chậm thì cứ dịch thoáng ra, sửa sau :D Tiếng Đức khó kinh.
     
    Last edited by a moderator: 8/5/15
    ttha and hoalienbao like this.
  13. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 7
    Một lúc sau tôi nghe tiếng nổ máy, rồi một chiếc xuồng máy rẽ nước băng qua mặt hồ. Đó là một chiếc xuồng nhôm nhỏ dài khoảng bốn, năm mét. Jay tắt động cơ, nâng chân vịt lên khỏi mặt nước. Anh ta trèo lên một tảng đá và kéo xuồng lên bờ.

    Jay cúi xuống mở ba lô và rọi đèn pin vào trong. Tiếng kéo khóa dội lên, và tôi nhận thấy gương mặt căng thẳng của Jay. Có điều gì đó làm anh ta lo lắng. Chính là điều đã khiến anh ta phải vội vàng như vậy. Anh ta thận trọng kiểm tra vật nằm trong ba lô, có lẽ vì sợ món bảo vật đó bị con gấu làm hư hại.

    Cuối cùng anh ta cũng đóng ba lô lại và cẩn thận nhét nó xuống dưới băng ghế ở đuôi xuồng. Tôi trèo vào xuồng, mừng húm vì thoát cảnh đi bộ. Trừ mắt cá chân đau đớn ra, hai bàn chân tôi đã phồng rộp.

    Jay ngồi xuống đuôi xuồng. Anh ta dùng mái chèo đẩy xuồng trở lại hồ nước. Trước khi nổ máy, anh ta lấy ra một gói nhỏ từ trong túi áo trước ngực, lẩm bẩm vài từ bằng thứ tiếng lạ lùng của anh ta và rắc thứ gì đó xuống nước.

    „Anh làm cái gì thế?“, tôi hỏi.

    „Cúng thuốc lá cho Manitus, những linh hồn của hồ nước. Sẽ tốt hơn nếu đêm nay họ thân thiện với chúng ra.

    Tôi nuốt nước bọt. Anh ta lại bắt đầu giở trò đấy à?

    „Chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ không thích chúng ta?“

    Jay thở dài. „Tự động não giùm đi“, anh ta nói. „Chương trình trả lời câu hỏi đến đây là hết rồi.“

    Anh ta điều khiển xuồng lướt đi trên mặt hồ lấp lánh ánh trăng. Bờ hồ đen kịt hiện ra ở mạn bên kia, nhưng hình như anh ta không muốn tới đó. Thỉnh thoảng tôi lại lén lút nhìn đồng hồ. Đó là một chiếc đồng hồ hiệu Timex, những chữ số sáng lên trong bóng tối khi tôi bấm vào núm xoay. Đã sắp nửa đêm. Chúng tôi sẽ tiếp tục đi như thế này cả đêm hay sao? Tôi vừa đói vừa mệt muốn chết, nhưng tiếng động cơ nổ giòn và làn không khí ban đêm trong trẻo giữ cho đầu óc tôi tỉnh táo.

    Đôi khi màu đen kịt của rừng rậm trên bờ tiến lại gần đến mức tôi tưởng có thể nhìn thấy những con thú chuyển động. Một con nai sừng tấm, hay chỉ là một cái rễ cây? Chúng tôi lao đi vùn vụt. Con gì đó phóng vèo ngang mặt nước. Rái cá, hay là chuột nước? Cái hồ càng lúc càng rộng ra, Jay lái xuồng tách xa khỏi bờ để tránh rơi vào vùng nước quá nông.

    Chúng tôi cứ đi như thế khoảng một giờ đồng hồ, trước khi Jay đưa xuồng cập vào một dải đất trông giống một cái lưỡi thè lè vươn dài ra hồ nước. Trên cái lưỡi đất, cây lá kim và bụi rậm mọc um tùm, lá cây lấp lánh như bạc dưới ánh trăng. Jay tắt máy và chèo bằng mái chèo đến khi đáy xuồng va vào bờ cát. Anh ta nhảy ra ngoài và kéo xuồng lên bờ. Tôi muốn tỏ ra tốt bụng bằng cách đưa cái ba lô cho anh ta, nhưng nó nặng như chì, còn tôi thì yếu đến mức không làm nó nhúc nhích được lấy một phân.

    Anh ta tha cái gì theo thế này không biết? Chắc là đá tảng? Nếu là thuốc lá thì cái ba lô rõ ràng quá nặng. Tôi đã định hỏi nhưng kịp giữ mồm. Chẳng phải anh ta đã nói thẳng thừng rằng không muốn trả lời thêm một câu hỏi nào nữa còn gì.

    Dĩ nhiên tôi không lường trước được rằng anh chàng này có khả năng đọc suy nghĩ của người khác.

    „Trong đấy có can xăng“, anh ta nói. „Cho động cơ xuồng.“

    À há. Nhưng cái can xăng này không thể là nguyên do khiến anh ta phải lo lắng và vội vã được. Chắc chắn anh ta còn giấu thứ gì đó trong ba lô, một thứ phải được vận chuyển vô cùng cẩn thận.

    Jay giúp tôi trèo ra khỏi xuồng. Mắt cá chân đau nhói lên dữ dội khi tôi vừa đặt chân xuống. Đi được ba bước, tôi ngã khuỵu xuống đất.

    „Nghiêm trọng thế cơ à?“

    Tôi gật đầu, mặt nhăn nhó.

    Jay quỳ xuống trước mặt tôi. „Đưa đây xem nào!“

    Anh ta tháo giày và tất bên chân trái của tôi ra. Anh ta nhẹ nhàng đặt bàn chân tôi lên đùi mình, đưa cho tôi chiếc đèn pin và xem xét chân tôi.

    Anh chàng da đỏ này có bàn tay sẫm màu, thon nhỏ nhưng khỏe mạnh. Tôi giật bắn mình trước khi anh ta chạm đến mắt cá chân.

    „Ngồi im“, anh ta nói. „Tôi không làm cô đau đâu.“

    Anh ta thận trọng sờ nắn khớp xương sưng phồng. Tôi cố kìm tiếng rên chỉ chực bật ra.

    Jay cau mày. „Không biết có bị gãy hay không nữa. Có lẽ cô nên làm mát nó một tí.“

    Anh ta tìm thấy một chỗ bên bờ nước, nơi tôi có thể thoải mái ngồi trên một mỏm đá và nhúng hai chân xuống nước. Anh ta đưa tôi đến đó.

    „Tiện thể cô rửa luôn cả cái đám màu vẽ trên mặt đi nhé. Không thì đến tôi cũng phát sợ lên mất.“

    Cái giọng chế giễu của anh ta không lẫn vào đâu được. Màu mè nào cơ chứ? Tôi đưa tay lên mặt, sờ thấy một đống những vết muỗi đốt và gai cào sưng vù đã đóng vảy. Có lẽ tôi bị chảy máu mà không biết. Trên trán là một cục u to đùng, nhức nhối.

    Tôi dùng cả hai tay vục nước hồ lên rửa mặt. Những vết xước và mụn rộp bỏng rát, nhưng cảm giác ấy mau chóng qua đi. Tôi nếm thử nước. Ngon và mát lành. Tôi uống đến khi bụng óc ách mới thôi. Sau đó tôi cảm thấy khá hơn một chút.

    Tiếng nổ của động cơ vẫn còn văng vẳng trong đầu khi tôi ngồi trên tảng đá, ngâm chân trong nước mát và nghĩ về những gì tôi đã ngu ngốc tự gây ra cho mình. Đơn giản nhất là cứ đổ hết lỗi cho bố mẹ, nhưng tôi không làm thế được. Dù sao thì cũng không còn là trẻ con nữa. Tôi đã tự đẩy mình vào hoàn cảnh này, và tôi phải tự chịu trách nhiệm.

    Tôi nhìn Jay trèo vào xuồng, lôi can xăng ra khỏi ba lô và nhét xuống dưới băng ghế ở đuôi xuồng. Anh ta đã tha nó trên lưng suốt chặng đường từ lán cho đến bờ hồ. Cái can bự chảng, chắc phải chứa được đến 15 lít. Có lẽ phải mất nhiều ngày nữa chúng tôi mới về đến nhà Jay.

    Cô có tin tôi không?, Jay đã hỏi tôi như thế. Chẳng biết ngoài cái can xăng này anh ta còn giấu thứ gì trong ba lô nữa. Một thứ gì đó vô cùng quan trọng và bí mật đến nỗi anh ta không thể tiết lộ cho tôi.

    Nhưng kể cả khi Jay đang ấp ủ chuyện gì đó bất hợp pháp trong đầu thì anh ta đối xử với tôi vẫn rất tử tế, và tôi thực sự biết ơn vì điều đó. Anh ta quả có than phiền rằng tôi là gánh nặng thật, nhưng ít ra anh ta không bỏ rơi tôi.

    Jay nhặt những cành củi khô dạt vào bờ, nằm vương vãi giữa những tảng đá ven hồ và nhóm một ngọn lửa. Lửa bùng lên nhanh đến đáng ngạc nhiên, có vẻ anh ta làm việc này thành thạo lắm. Những tàn lửa bay lên, xoay tròn và biến mất trong đêm tối. Anh ta lôi một tấm bạt từ trong ba lô ra và trải nó lên cát, bên cạnh đống lửa. Sau đó anh ta đến đón tôi. Anh ta cẩn thận đỡ lấy eo, giúp tôi bước từng bước một.

    Tôi ngồi xuống tấm bạt, xoa cát rơi khỏi hai bàn chân và xỏ tất. Bọn muỗi đã rút về những bụi rậm sau lưng chúng tôi. Có lẽ chúng ngủ, hay là khói từ đống lửa đã xua chúng đi mất.

    Tôi quan sát những bụi rậm đen kịt bên bờ hồ một cách hoài nghi. Tôi tự hỏi, có con thú nào đang ẩn mình trong đó. Sẽ là một đêm không yên ổn đây, tôi thầm nghĩ, nỗi sợ gấu và chó sói quanh quẩn trong đầu. Ai chẳng biết rằng lửa có thể chống lại thú dữ, nhưng liệu Jay có giữ ngọn lửa này cháy suốt cả đêm được không?

    Đột nhiên dạ dày tôi réo lên ùng ục.

    „Đói à?“, Jay hỏi.

    Tôi gật đầu, cố tỏ ra thờ ơ. Thực ra thì tôi sắp xỉu đến nơi. Tôi đã ăn chiếc hotdog với bác lái xe tải tên John từ đời nảo đời nào rồi. Mà thật ra thì từ bao giờ? Có phải là hôm nay không? Không, hôm qua. Tôi đã mất mọi cảm giác về thời gian. Tôi cảm thấy như mình đã lênh đênh cả tuần nay, dù mới xa nhà được có hai ngày.

    Mẹ tôi có đang ngồi trước điện thoại – một mình và bối rối. Hay là bố tôi đã trở về và họ đã cùng nhau đi báo cảnh sát.

    Jay lôi ra một cái hộp nhựa xước chằng chịt từ trong balô, mở hộp và đưa cho tôi một miếng bánh dèn dẹt, trông có vẻ đã để lâu ngày. Tôi nghi ngờ ngửi ngửi cái bánh.

    „Bannock“, anh ta nói. „Không còn mới nữa, nhưng chúng ta không còn thứ gì khác.“

    Tôi giơ cái bánh lên trong ánh lửa và quan sát nó kỹ càng. Không hiểu vì lý do gì, tôi vẫn do dự không dám ghé răng vào miếng bánh.

    „Rốt cuộc là cô có đói không?“, Jay sốt ruột hỏi. „Mee-chee-soo, ăn!“ Giờ không phải là lúc để kén chọn như thế.“

    Tôi ngoạm miếng bánh khô khốc chẳng có mùi vị gì, nhai và nuốt một cách can đảm. Trong khi đó, Jay khổ sở cố chui ra khỏi chiếc áo sơ mi kẻ ca rô, mặt mũi nhăn nhó vì đau.

    Cho đến lúc đó, tôi hoàn toàn quên khuấy đi mất, rằng con gấu đã làm Jay bị thương. Tay áo phông bên trái của anh ta rách te tua và đẫm máu. Cả cánh tay đỏ lòm toàn máu khô. Anh ta cố cởi chiếc áo phông ra nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc, mồm lẩm bẩm chửi thề. Chắc là anh ta đau lắm.

    „Cô có thể…?“ Anh ta giơ cả hai tay lên đầu như một đứa trẻ. Nicci vẫn thường làm như thế khi nó còn nhỏ, chưa tự cởi được quần áo.

    Tôi trợn trạo nuốt mẩu bánh cứng quèo cuối cùng xuống bụng, lết trên hai đầu gối đến chỗ Jay và kéo chiếc áo phông qua đầu anh ta.

    Một chiếc túi da nhỏ đã lên nước bóng loáng có tua rua trang trí lủng lẳng trước ngực Jay. Chắc chắn trong này có món bùa phép gì đây, nhưng câu hỏi chua kịp vọt ra đã tắc lại trong họng tôi. Móng vuốt của con gấu đã để lại bốn vết cào sâu hoắm trên bắp tay trái của Jay. Vết thương chắc chắn đã chảy máu rất nhiều nhưng áo phông và áo sơ mi đã thấm hết máu.

    Tôi thấy hơi nôn nao nơi dạ dày khi quan sát vết thương đẫm máu của Jay trong ánh lửa. Chắn chắn là đau khủng khiếp. Và Jay không kêu ca lấy một tiếng, suốt từ lúc đó đến giờ. Anh ta đã ưu tiên chăm sóc cho tôi và nhóm lửa trước khi ngó ngàng đến bản thân mình. Tôi bối rối cắn môi.

    „Tôi đi rửa tay“, Jay nói, giọng hơi run run. Tự nhiên trông anh ta nhợt nhạt khiến tôi phát hoảng.

    Jay biến mất vào đêm tối. Sau đó tôi nghe tiếng té nước. Anh ta quỳ gối trên tảng đá, rửa máu khô dính trên cánh tay và hai bàn tay. Tôi nghe tiếng anh ta rủa khẽ bằng thứ tiếng khiến tôi liên tưởng đến những câu thần chú.

    Một lúc sau, anh ta quay lại, ngồi xuống sát cạnh đống lửa để làm khô vết thương. Trong ánh lửa, những cái bóng nhảy múa trên bộ ngực trần của anh ta. Jay có những cơ bắp dài và gân guốc, không một chút mỡ thừa. Bây giờ, sau khi đã rửa hết máu, trông cánh tay anh ta không đến nỗi nghiêm trọng lắm. Anh ta ấn cái áo phông lên trên vết thương, và tôi nhìn thấy những hình xăm. Nhiều hàng chấm nhỏ chạy theo đường zíc zắc quanh bắp tay phải anh ta như một chuỗi hạt ngọc.

    Thực ra thì tôi chẳng thích thú gì mấy kiểu làm đẹp đó, nhưng những hình xăm của Jay trông thật tự nhiên. Khi anh ta bỏ chiếc áo không xuống, tôi nhìn thấy những họa tiết tương tự bên tay trái. Chỉ có điều chuỗi chấm nhỏ này đã bị móng vuốt gấu cào đứt bốn lần.

    Jay dùng tay phải với lấy cái ba lô, lôi ra một cái hộp nhựa nhỏ và một cái gói, trong đựng một cuộn băng vải. Trong hộp nhựa là một thứ bột màu nâu mà anh ta nhờ tôi rắc một ít lên vết thương. Tôi làm theo mà không hỏi gì.

    Anh ta đưa cuộn băng cho tôi. „Chặt vào nhé.“

    Tôi loay hoay mãi không mở được cái gói đựng cuộn băng. Chẳng hiểu sao tôi tự nhiên thấy rất run. Cuối cùng tôi cũng dùng răng xé được cái gói. Jay đặt bàn tay trái lên đầu gối, vươn khuỷu tay ra và gật đầu khích lệ. Tôi bắt đầu quấn băng quanh cánh tay bị thương của anh ta.

    „Chặt hơn nữa“, Jay nói, khi nhận ra tôi rón rén quá mức vì sợ làm anh ta đau..

    Gương mặt trái xoan của Jay, được ánh lửa soi sáng, trong giờ phút này đang gần kề mặt tôi. Jay có một cái cằm dài, gò má cao và đôi mắt nhỏ hơi hẹp ở đuôi mắt. Khi tôi băng bó vết thương, mồ hôi rịn ra như những hạt châu trên vầng trán anh ta. Cánh mũi nở của anh ta phập phồng khi cố chịu đau mà không thốt ra một tiếng nào. Đôi môi đầy đặn mím lại thành một đường kẻ. Mái tóc dày, thẳng và toàn cơ thể anh ta toát lên mùi khói của đống lửa.

    „Ê“, tự nhiên anh ta nói. „Cô bị câm từ lúc nào vậy?“

    Tôi ngó lơ, cảm thấy mặt mình đỏ lên. Hai má tôi nóng bừng. „Anh …tôi …anh bảo là tôi không nên nói nữa mà“, tôi ngượng nghịu ấp úng nói.

    „Tôi có bảo cô không nên nói nữa đâu. Lúc đấy tôi chỉ không còn tâm trí đâu mà trả lời mớ câu hỏi của cô nữa mà thôi.“

    „Nhưng trong đầu tôi đang toàn câu hỏi đây nè.“

    Một nụ cười mệt mỏi thoáng qua mặt Jay. „Thế thì hỏi đi, đồ thỏ đế. Cô muốn biết gì nào?“

    Tôi phân vân không biết có nên dỗi vì anh ta dám gọi tôi là thỏ đế hay không, nhưng lần nào anh ta cũng nói hai từ đó bằng một giọng dịu dàng. Ngoài ra tôi rất mừng vì cuối cùng Jay cũng chịu ăn nói tử tế với tôi, không còn quát lên những mệnh lệnh chỉ với hai, ba từ nữa.

    „Đấy là bột gì thế?“

    „Trứng cóc và dương vật chuột nghiền nhỏ.“

    Tôi chết sững, còn Jay cười phá lên vì gương mặt hoảng hốt của tôi. „Đùa thôi, thỏ đế. Đấy là bột nấm, làm từ nấm khô. Nó có tác dụng kháng viêm. Tôi lúc nào cũng mang theo người.“

    Nụ cười tắt ngóm. Jay nhắm nghiền mắt và cắn chặt môi dưới khi tôi siết chặt hai đầu dải băng trên cánh tay anh ta. Cho dù điều đó là không thể tránh được vì kiểu gì thì tôi cũng phải thắt nút băng, nhưng tôi vẫn sợ anh ta lại nổi đóa lên vì bị đau.

    „Đau lắm hả?“, tôi lí nhí hỏi.

    Anh ta dùng mu bàn tay quệt mồ hôi trên trán. „Tôi chịu được. Mắt cá chân của cô mới đáng lo ngại.“

    „Tôi không nghĩ là nó bị gãy đâu“, tôi vội vàng nói. „Nếu tôi không cử động chân thì chẳng cảm thấy gì cả.“ Đó là một lời nói dối, nhưng sau khi nhìn thấy vết thương con gấu để lại trên cánh tay Jay, tôi cảm thấy những đau đớn của mình chỉ là trò đùa.

    Jay nhếch mép cười.

    „Gì thế?“, tôi hỏi.

    „Tôi luôn nghĩ rằng con gái da trắng nhõng nhẽo lắm. Tuy cô là đồ thỏ đế thật, nhưng được cái không rên rẩm.“

    Tôi cũng phải bật cười. Hóa ra Jay cũng nghĩ về tôi hệt như tôi nghĩ về anh ta. Chỉ khác ở chỗ anh ta không hỏi hết câu này đến câu khác như tôi. „Anh bao nhiêu tuổi rồi? Hay là đó cũng là một bí mật như họ của anh?“

    „Tôi vừa tròn 17 mấy tuần trước“, anh ta nói. „Còn họ của tôi là Muskalunge.“

    „Muskalunge?“

    „Ừ, giống như tên con cá ấy.“

    Muskalunge là loại cá chó khổng lồ có thể dài đến hơn hai mét, thợ săn mồi đáng gờm dưới đáy hồ sâu. Bố tôi có lần đã kể, bố từng tìm thấy một con chuột chết trong bao tử một con cá chó. Tôi nghĩ cái tên này rất hợp với Jay.

    „Trong này có gì thế?“, tôi chĩa ngón trỏ vào cái túi da nhỏ trước ngực Jay.

    Jay tóm lấy ngón trỏ của tôi và gạt nó sang một bên. „Riêng cái này thì tôi không thể cho cô biết được.“ Anh ta lôi một cái áo phông dài tay từ trong ba lô ra và mặc vào mà không cần tôi giúp đỡ. „Đừng có giận. Chẳng ai biết trong này có gì cả, chỉ mình tôi biết thôi.“

    Tôi gật đầu, đánh liều hỏi thêm một câu nữa. Dĩ nhiên không phải là câu hỏi đang cháy bỏng trên đầu lưỡi: Anh nghĩ cái quái gì mà lại kéo tôi vào rừng, đẩy tôi vào một cuộc hành trình mà lại nhất định không chịu tiết lộ cho tôi đích đến.

    Tôi cố nhịn không hỏi câu đó vì Jay đang tỏ ra khá vui vẻ, tôi không muốn phá hỏng không khí này. Thay vào đó, tôi hỏi: “Lúc nãy anh nói tiếng gì thế? Tiếng gấu à?“

    Jay khẽ mỉm cười. „Đấy là tiếng Cree. Tiếng nói của dân tộc tôi.“

    „Nghe có vẻ phức tạp ghê nhỉ.“

    „Với tôi thì không.“ Anh ta chất thêm củi vào đống lửa, một làn gió nhẹ thổi qua làm những ngọn lửa nhỏ màu xanh nhảy múa. Anh ta lấy một miếng bánh ăn và uống nước từ trong chai nhựa.

    Muskwa có nghĩa là gấu à?“, tôi hỏi.

    „Ừ.“ Anh ta tỏ ra ngạc nhiên. „Thấy chưa. Có khó lắm đâu.“

    Trong khoảnh khắc, tôi thấy hối hận vì hiểu biết quá ít về những cư dân bản địa của đất nước mình. Dĩ nhiên tôi từng học về họ trong môn lịch sử, nhưng những điều học được chẳng giúp ích gì cho tôi vào lúc này. Hai cô bạn trong lớp tôi là người của bộ lạc Ojibwa. Về bộ lạc Cree, tôi gần như chẳng biết tí gì. Tôi chỉ biết, trước kia họ là những thợ săn du cư khắp cách cánh rừng theo dấu đàn tuần lộc. Còn bây giờ họ sống thế nào thì tôi chịu.

    „Chắc cô mệt rồi.“, Jay nói. „Nằm xuống ngủ đi, ngày mai sẽ vất vả đấy. Chúng ta phải lên đường sớm.“

    Ngủ? Cơ thể tôi mệt rã rời nhưng đầu óc thì tỉnh như sáo. „Nhỡ có gấu thì sao?“

    „Ở đây không có con nào đâu.“

    „Không có gấu?“ Tôi nhăn mặt tỏ vẻ không tin.

    „Chúng ta đang ở trên một hòn đảo nhỏ, đồ thỏ đế, ở giữa hồ. Ở đây không có gấu, ngay cả thỏ cũng không có. Kẻ duy nhất có thể quấy rầy chúng ta là Mannegishi.“

    „Manne cái gì?“

    „Những người bé nhỏ. Những linh hồn. Họ sống gần nước, giữa những tảng đá, chân tay họ gầy, dài ngoẵng, đầu thì to đùng và không có mũi. Người ta chỉ có thể nhìn thấy họ khi được họ cho phép. Nhiều khi họ hay giở trò tai quái với khách đi đường.“

    „Anh bịa chuyện gạt tôi“, tôi nói.

    Jay khẽ cười. „Ừ đấy. Giờ thì ngủ đi. Nhớ để dành chỗ cho tôi nhé.“ Jay bỏ thêm vài cành cây vào lửa. Ngọn lửa bùng lên cao, tàn lửa nhảy múa trong bóng đêm. Anh ta lấy ra vài thứ từ trong ba lô và đi về phía hồ nước. Một lúc sau, bóng anh ta biến mất phía sau dải đất.

    Thời cơ đến rồi. Tôi nhịn tiểu suốt nãy giờ. Tôi bò trên hai đầu gối, rời khỏi đống lửa, đến sau một đống củi dạt. Tôi hy vọng không có người bé nhỏ nào với cái đầu to bự và đôi tay dài ngoằng hiện lên đùa giỡn. Lúc này tôi không có hứng chơi đùa.

    Quay lại ngồi trên tấm bạt, tôi trải cái túi ngủ ra. Vải bị rách ở một vài chỗ, bông nhồi lòi cả ra ngoài. Đó là dấu vết của móng vuốt gấu. Nếu Jay không có cái túi ngủ đưa lên che đầu, có lẽ anh ta đã không thể chạy thoát mà chỉ bị thương sơ sơ. Tôi không dám nghĩ thêm về chuyện đó vì sợ không ngủ được. Trong lòng cảm thấy rất yên tâm vì biết nguy cơ bị gấu tấn công không tồn tại, nhưng việc phải ngủ ngoài trời cũng là một thử thách lớn đối với tôi.

    Tôi thở dài thườn thượt. Điều này là có thể chăng? Làm sao trong một ngày duy nhất lại xảy ra nhiều chuyện đến vậy? Chuyến phiêu lưu mạo hiểm của đời tôi đây rồi, và tôi là nhân vật chính. Hoàn toàn ngoài ý muốn. Jodie Thompson đến từ Thunder Bay thám hiểm nơi hoang dã. Một thân một mình. Tất cả đều mới mẻ, tất cả đều là thật. Kể cả Jay và những linh hồn của anh ta.

    Tôi duỗi thẳng người, kéo cái túi ngủ lên vai. Từ đầu đến giờ, tôi hoàn toàn không nghĩ rằng Jay cũng phải ngủ, rằng anh ta sẽ nằm cạnh tôi, dùng chung túi ngủ với tôi. Nhưng chuyện đó phải xảy ra thôi.

    Dù mệt gần chết nhưng tôi không thể ngủ được, trong cái đêm điên khùng này, sau một ngày điên khùng. Chất Adrenalin vẫn đang hừng hực tuôn trào khắp cơ thể. Mắt cá chân đau đớn, như thể có một người lùn giận dữ đang vùng vẫy trong đó, giữ cho đầu óc tôi tỉnh táo, cũng như câu hỏi luôn thường trực, liệu tôi có thể tin tưởng Jay hay không. Thật lạ lùng làm sao, tôi không thấy sợ anh ta, mặc dù anh ta hành động rất kỳ quặc và cương quyết không chịu tiết lộ lý do, tại sao anh ta phải lặn lội đường dài và vội vàng đến như vậy.

    Tôi cảm thấy ngạc nhiên vì chính bản thân mình.

    Tôi không còn sợ từ khi nào vậy? Từ bao giờ tôi đã bắt đầu tập thích ứng với hoàn cảnh này? Tôi đã thực sự thích nghi với nó chưa? Có vẻ là như vậy. Thì tôi còn biết làm gì nữa đây? Gào lên một tiếng chăng? Làm vậy thật đáng buồn cười, mà tôi cũng chẳng còn đủ sức nữa. Ngoài những con ma không có mũi ra, sẽ chẳng có ai nghe thấy tôi cả.

    Tôi xoay người qua một bên, cố tìm tư thế nằm thoải mái nhất. Tôi nhắm mắt và nghĩ về Tim, cố gợi hình ảnh của anh về trong đầu. Nhưng dù tôi có gắng sức thế nào thì khuôn mặt tối tăm của Jay vẫn sờ sờ ra đó.

    Khi tiếng sáo đột ngột vang lên, tôi cứ tưởng là ảo giác. Nhưng mà không phải. Cũng không phải là linh hồn nào đó đang chơi nhạc. Đó là Jay. Những âm thanh văng vẳng, ngân dài, tạo thành một giai điệu xoa dịu tâm hồn. Tiếng sáo hòa cùng tiếng róc rách của nước xua tiếng máy nổ khỏi đầu tôi. Dịu dàng như một bài hát ru. Thế mà tôi vẫn không ngủ được. Tiếng sáo này hoàn toàn không phù hợp với hình ảnh anh chàng Jay Muskalunge mà tôi đã tự vẽ ra.

    Một lúc sau, tiếng sáo im bặt, và Jay chui vào túi ngủ. Tôi vẫn còn thức nhưng giả vờ như đang ngủ. Anh ta áp vào người tôi, gần sát đến nỗi không khí cũng không lọt qua được. Tôi đã định phản ứng khi lồng ngực anh ta sưởi ấm lưng tôi như một bếp lò nhỏ. Cánh tay bị thương của Jay nằm bất động, nặng trĩu trên hông tôi. Thật là một cảm giác lạ kỳ khi nằm bên một anh chàng mới quen biết có mấy tiếng đồng hồ. Nhưng hơi ấm cơ thể anh ta thật dễ chịu. Tiếng sáo vẫn văng vẳng bên tai, tôi ngủ thiếp đi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/11/15
    Linh Vũ, thanhbt, ttha and 2 others like this.
  14. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 8
    Sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc vì có ai đó lay nhẹ vào vai. Vẫn còn đắm chìm trong giấc mơ ngọt ngào về những thanh kẹo sôcôla, tôi lơ mơ không biết mình đang ở đâu. Đống lửa đang cháy. Trên cát là một cái ấm thiếc méo mó. Jay ngồi xổm bên cạnh, chìa cho tôi một cái ca men bốc khói nghi ngút. Ôi không, tôi thầm nghĩ, khi nhìn thấy anh chàng da đỏ, trong lòng chỉ muốn được quay lại giấc mơ lúc nãy ngay lập tức.

    „Uống trà không?“, Jay hỏi. Trông anh ta tươi tắn, hoạt bát đến mức đáng ngạc nhiên, mặc dù đang bị thương.

    Tôi ngồi dậy, gạt mấy lọn tóc lòa xòa khỏi mặt, đón lấy cái ca và dí mũi ngửi.

    „Toàn thứ có ích cả“, Jay giải thích. „Bạc hà dại, cỏ thi, quả hoa hồng và tía tô đất.“ Hàm răng anh ta trắng bóng, tôi tự hỏi, liệu anh ta có thường xuyên đánh răng hay là sử dụng bí quyết gì đây. Tôi dùng lưỡi kiểm tra răng mình, cảm thấy một lớp mảng bám đáng ghét.

    Anh chàng da đỏ lại đọc được suy nghĩ của tôi một lần nữa. Anh ta bới từ trong ba lô ra một tuýp kem đánh răng và một cái bàn chải còn mới nguyên. „Đây“, anh ta nói. „Chắc là cô cần thứ này.“

    Vẻ mặt tôi lúc ấy chắc là ngớ ngẩn lắm, giống như khi nhìn một ảo thuật gia phù phép ra một con thỏ từ trong chiếc mũ ống của ông ta.

    „Tôi mua cái bàn chải đó cho mình“, Jay nói, chế giễu gương mặt sững sờ của tôi. „Cái của tôi cũ mòn rồi.“ Vừa nói anh ta vừa giơ thứ gì đó lên cao, trông từa tựa một dụng cụ làm sạch tẩu thuốc.

    „Anh có chắc là bàn chải của anh còn dùng được không đấy?“ (Tôi sẽ không đánh đổi cái bàn chải này lấy bất kỳ thứ gì trên đời, ngay cả một cây kem sôcôla cũng không.)

    „Làm gì còn cách nào khác.“ Jay cười, mắt nheo lại thành hai vầng trăng khuyết nho nhỏ.

    Tôi ngồi xổm bên bờ nước, đánh răng và rửa mặt. Da tôi thô ráp. Mấy cái mụn ngứa ngáy kinh khủng, cục u đau nhức nhối khi tôi ấn lên nó, nhưng tất cả chỉ là chuyện nhỏ.

    Trời đã sáng, nhưng vẫn còn rất sớm, những làn sương mỏng phất phơ trên mặt hồ như những bóng ma đang nhảy múa. Chưa từng thấy cảnh tượng nào giống như thế bao giờ, tôi kinh ngạc ngắm nhìn vở diễn kỳ vĩ của thiên nhiên, trong lòng thấp thỏm đợi một hình bóng không thuộc về thế giới này đột ngột hiện ra trong sương sớm.

    „Đẹp nhỉ.“ Jay đột ngột xuất hiện sau lưng tôi.

    Tôi ngó anh ta, gật đầu. So với những người da đỏ khác thì da anh chàng khá sẫm màu, chắc tại bay nhảy bên ngoài nhiều. Cho dù đã mười bảy tuổi, mặt anh ta vẫn nhẵn nhụi, chẳng có tí râu ria nào. Phải công nhận là Jay Muskalunge đẹp trai, chỉ có điều, tôi chưa từng quan sát đám con trai da đỏ từ góc độ này bao giờ. Tôi còn chưa bao giờ nghĩ tới chuyện kết bạn với bọn họ. Nếu như là ở trường hay trong siêu thị, chắc tôi chả bao giờ để ý đến Jay, vì một lý do đơn giản, anh ta có làn da sẫm màu và mái tóc dài.

    „Gì thế?“ Anh ta nhìn tôi chằm chằm. Mắt anh ta nâu, như sôcôla, lóe lên ánh nhìn cảnh giác. Chẳng hiểu sao tôi tự dưng nghĩ đến tiếng sáo đêm quá.

    „Có gì đâu“, tôi lẩm bẩm, nhổm dậy, định quay về bên đống lửa.

    Nhanh như chớp, Jay chộp lấy cánh tay tôi. „Cô vừa nghĩ gì mà.“

    Tôi không thể kể cho anh ta những gì tôi vừa nghĩ được, nhưng thật may mắn là lúc nào tôi cũng có một câu hỏi sẵn sàng để tung ra. „Nếu hôm qua tôi bắt chuyện với anh ở trạm xăng, anh có cho tôi đi nhờ không?“

    Jay buông tôi ra. „Không, Jodie ạ.“

    „Tại sao?“

    „Vì tôi không muốn chuốc lấy rắc rối.“

    „Rắc rối nào?“

    „Con gái da trắng lên xe với người da đỏ, chuyện đó gần như lúc nào cũng chỉ đem lại rắc rối. Cô trốn khỏi nhà, phải vậy không?“

    Tôi giật bắn mình. „Sao anh biết?“

    Anh ta nún vai. „Họ đưa tin lên đài rồi.“

    „Đài?“, tôi hoảng hốt hỏi. „Cảnh sát đang tìm tôi à?“

    „Không, tôi không nghĩ thế. Đó là một thông báo của bố mẹ cô, rằng nếu ai nhìn thấy cô thì báo ngay cho họ.“

    „Giời ạ.“ Tôi gục đầu xuống.

    „Cô định đi đâu?“

    „Sudbury.“

    „Thế thì hôm qua cô đi chệch đường hơi nhiều đấy.“

    „Thằng cha lái xe tải đó lừa tôi.“

    „Cô định làm gì ở Sudbury?“

    „Đi thăm bà…“ Tôi ấp úng. Lúc này còn nói dối để làm gì? „Thăm một anh bạn.“

    „Một anh bạn hay là bạn trai cô hả?“

    „Bạn trai tôi. Anh ấy tên là Tim. Chúng tôi quen nhau qua mạng. Anh ấy mười tám tuổi và có một căn hộ riêng. Chắc anh ấy đang lo lắm vì không biết tôi ở đâu.“

    „Hai người quen nhau trên mạng? Làm sao người ta quen nhau ở đó được?“ Jay lắc đầu. „Đám con gái da trắng các cô còn kỳ quái hơn tôi tưởng.“

    Tôi ngửng đầu, nhìn anh ta. „Anh giận tôi hả?“

    „Sao phải giận? Vì cô bỏ nhà ra đi? Cô chắc chắn phải có lý do của mình.“

    „Ý tôi là, vì anh đang gặp rắc rối.“

    „Chuyện đã xảy ra rồi, không thay đổi được nữa“, Jay nói. „Nhưng nếu cô khẩn trương lên một chút thì tốt hơn. Đánh răng rửa mặt xong chưa? Chúng ta phải lên đường.“

    Tôi ngồi xổm xuống bên cạnh đống lửa, nhấp một ngụm trà nguội ngắt. „Tôi còn chưa ăn gì.“

    „Không còn gì để ăn cả.“

    „Nhưng tôi đói.“

    Đói?“ Cánh mũi nở nang của anh ta phập phồng giận dữ. „Cô không biết đói có nghĩa là gì đâu. Cô sẽ cố chịu đựng cho đến khi tôi bắt được con gì đó.“

    Bắt con gì đó? Tôi tưởng tượng ra một cục lông be bét máu có hai cái tai dài, tự nhiên thấy mất hết hứng ăn uống.

    „Sao anh cứ phải vội vàng thế hả?“, tôi cứng đầu hỏi.

    „Hỏi cái gì khác đi.“

    Giá như tôi để ý kỹ hơn một tí thì có lẽ đã nhận ra vẻ mất kiên nhẫn trong giọng Jay. Nhưng tôi chỉ nghĩ đến mình, rằng tôi đang đói. Jay đã kéo tôi đi cùng, vì vậy anh ta phải chịu trách nhiệm về tôi, cũng như về việc tôi phải có thứ gì cho vào bụng.

    „Nhưng mà tôi muốn biết“, tôi quyết không buông tha. „Tại sao anh không có thời gian đưa tôi quay lại thành phố? Có chuyện gì quan trọng đến nỗi anh phải liều mạng đưa một kẻ không kiên quan như tôi theo thế hả?“

    „Câu hỏi hay đấy“, Jay gằn giọng, trong mắt đột ngột ánh lên một tia nhìn sắt đá.

    „Thế thì trả lời đi. Có gì khó đâu.“

    „Cô thôi đi được không? Thôi ngay!“

    „Không. Tôi đã đặt cho anh một câu hỏi, và tôi muốn câu trả lời. Tại sao tôi lại ở đây, Jay Muskalunge? Nói đi, nào!“

    Mắt Jay rực lên vẻ hoang dại, đột nhiên tôi thấy hối hận vi đã dồn anh ta vào chân tường. „Vì tôi không còn lựa chọn nào khác“, anh ta nói, thu hai bàn tay thành hai nắm đấm, cúi nhìn tôi với đôi mắt oán trách.

    Tôi hoảng hồn giật thót mình, lùi xa Jay một quãng. Tôi nào có biết anh ta lại nổi khùng lên thế. Từ trước đến giờ anh ta vẫn luôn tỏ ra bình tĩnh cơ mà.

    Jay giơ tay lên, ép nắm đấm lên hai thái dương. Đó là một cử chỉ tuyệt vọng, để lộ sự cùng quẫn trong nội tâm. „Luke, anh trai tôi, đang ốm“, anh ta nói. „Tôi vào thành phố mua Penicillin cho anh ấy.“ Giọng Jay run run. Đột nhiên anh ta trông thật thảm hại.

    Tôi thấy tội nghiệp anh ta, nhưng không cưỡng lại được tính tò mò.

    „Penicillin?“ Hóa ra đó chính là món bảo vật trong ba lô của Jay. „Anh ấy bị gì vậy?“

    „Tôi không biết.“ Jay khẽ lắc đầu. „Anh ấy bị thương ở tay lúc câu cá, sau đó vết thương nhiễm trùng. Luke bị sốt, nên tôi đi mua kháng sinh. Mọi chuyện đều ổn, cho đến lúc cô xuất hiện.“

    Anh ta cuộn cái túi ngủ lại và bắt đầu chất đồ đạc vào trong xuồng. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo.

    „Ý anh là, anh trai anh đang nằm vạ vật nơi nào đó trong rừng hoang, đợi anh mang kháng sinh về? Tại sao mấy người bọn anh không đưa anh ấy vào bệnh viện ngay lập tức?“

    „Không có bệnh viện nào gần đó cả.“

    „Có thủy phi cơ mà. Mấy người không có điện thoại di động à?“

    „Ở trại không có sóng“, anh ta trả lời bằng một giọng cay đắng khiến tôi nổi da gà.

    „Nhẽ ra anh có thể mang anh ấy theo, giống như tôi.“

    Jay quay lại, nhìn tôi giận dữ. „Luke không muốn thế.“

    „Tại sao?“

    „Anh ấy đang bị cảnh sát truy nã.“

    Những suy nghĩ xáo trộn trong đầu tôi.

    Jay tóm lấy cổ tay tôi. „Để cô đỡ phải hỏi cung dài dòng: Anh Luke không phải là tội phạm, tôi cũng không.“

    „Nhưng anh ấy đã làm gì để đến mức bị truy nã như thế?“

    Jay lắc đầu. „Những câu hỏi chết tiệt của cô thật không bao giờ cạn, Jodie Thompson.“ Anh ta buông cổ tay tôi ra. „Chúng ta đang lãng phí thời gian quý báu. Bây giờ cô đã biết tai sao tôi phải vội vàng như vậy. Tôi hy vọng mình không về quá muộn, nếu không…“ Anh ta bỏ dở câu nói. „Nếu không phiền thì cô giúp tôi thu dọn đồ, để tôi về với Luke được nhanh hơn.“

    Chúng tôi đi về hướng Bắc, dọc theo một con sông nối liền với hồ. Sông rộng, nước chảy không mạnh lắm. Nước trong đến nỗi tôi có thể nhìn rõ từng viên đá dưới đáy. Jay tắt động cơ, lợi dụng dòng nước để tiến lên.

    Hai bên bờ toàn là rừng rậm dày đặc. Những ngọn thông đỏ và vân sam vẽ nên đường chân trời. Mọc ven mép nước là những cây dương thân trắng lốp.

    Khi sương tan, hàng vạn con muỗi lao ra bu kín xuồng. Nhưng khi mặt trời lên cao, sưởi ấm không khí, chúng rủ nhau trốn sạch. Thay vào đó là hàng đàn chuồn chuồn túa ra từ đám lau sậy ven sông. Những con chuồn chuồn đủ kích cỡ, đủ màu sắc lấp lánh trong nắng. Xanh kim loại, ngọc lam, da cam. Tôi rất hãi bọn này. Trông chúng thật nguy hiểm với những cái cánh to đùng và đôi mắt thao láo cỡ đầu kim găm. Tôi sợ bị một con lao vào đốt.

    Jay chẳng thèm để ý đến mấy con côn trùng. Anh ta ngồi xổm trong tư thế một con thú đang rình mồi, tỉnh táo và căng thẳng. Anh chàng này chắc vẫn đang cáu tiết lắm, nhưng tôi vẫn cứng đầu cho rằng mình có quyền được hỏi. Bệnh tình của anh trai Jay có nghiêm trọng như anh ta nói hay không? Tôi nghi ngờ điều đó. Người nào có đầu óc bình thường một tí cũng sẽ không ngần ngại đi bệnh viện ngay khi tính mạng bị đe dọa.

    Jay dùng mái chèo điều khiển xuồng, không cần động cơ mà xuồng vẫn lao đi băng băng. Xa hơn về hướng Bắc, sâu hơn vào nơi hoang dã.

    Những mảng màu xanh đậm nhạt khác nhau lướt qua chúng tôi. Cây và bụi rậm ven bờ phản chiếu hình bóng lên mặt nước. Tôi không hiểu nổi, tại sao Jay biết phải đi về hướng nào. Con sông rẽ nhánh liên tục, cộng với những hồ nước và dòng chảy nhỏ, tạo nên một mê cung nguy hiểm cho những kẻ không tường tận địa thế nơi này. Jay có vẻ rất thông thạo, còn với tôi thì chỗ nào cũng giống chỗ nào: nước, cây, đá tảng, bụi rậm và những cái hồ nối tiếp nhau.

    Có lẽ vì đã quá quen với khung cảnh thành phố nên hồi ấy tôi không biết rằng mỗi tảng đá đều có một khuôn mặt riêng, cũng như mỗi cái hồ lại có một cái tên. Jay nhận biết những thác nước bằng tiếng nước chảy, những mảng trống bằng tiếng gió reo. Mỗi cái hồ lại nối mình với sông bằng một cách rất riêng.

    Một khe núi hiện lên với những bức tường đá xám nghoét cao sừng sững. Những cây vân sam cong queo cố bám vào những kẽ nứt, vươn mình trên mặt sông. Cảnh quan thay đổi liên tục. Một lúc sau, những bức tường đá hai bên sông đã lùi ra xa, nhường chỗ cho những quả đồi mọc đầy cây cối. Chúng tôi lại tiến vào một cái hồ, nơi những hòn đảo đá nhỏ nằm lẻ loi, bên trên mọc đầy vân sam, dương xỉ và dâu dại.

    Thực ra thì cảnh vật trông rất đỗi yên bình. Thế nhưng, đêm trước tôi đã đau đớn nhận ra, rằng cuộc sống ẩn phía sau vẻ đẹp này không được như vậy. Ăn hay bị ăn chính là quy luật của nơi hoang dã. Kẻ thắng là kẻ nhanh hơn, mạnh hơn hoặc thông minh hơn.

    Jay đã khôn ngoan hơn con gấu. Nhưng liệu anh ta có đủ nhanh để mang Penicillin về cứu anh trai kịp thời hay không?

    Sự bướng bỉnh trong tôi dần tan biến, thay vào đó là niềm thông cảm với Jay. Tự nhiên tôi thấy xấu hổ vì những câu hỏi chọc ngoáy của mình.

    Nếu như bệnh tình của anh trai Jay nặng hơn tôi nghĩ thì sao? Tối qua anh ta chẳng thèm nhận tiền của tôi. Thay vì đưa tôi quay lại thành phố, anh ta lại mang nợ vào thân, đưa tôi đi theo dù tôi chỉ làm vướng chân.

    Nỗi lo cho người anh trai nhất định đã choán hết đầu óc Jay ngay từ đầu. Thế mà anh ta vẫn kiên nhẫn chăm sóc cho tôi.

    Tôi chỉ muốn ôm lấy Jay, nói lời xin lỗi. Nhưng làm thế chẳng ích gì đâu. Nhất là đối với Jay Muskalunge.

    Chẳng mấy chốc, cơn đói lại lồng lộn lên trong dạ dày tôi như một con thú dữ. Tôi mò trong túi quần ra một cái kẹo dẻo, nhưng ăn nó xong lại thấy đói hơn. Tôi ép chặt hai đùi vào nhau, vì sau cái dạ dày lại đến lượt cái bàng quang lên tiếng. Chỉ tại cốc trà hồi sáng. Nhưng tôi không dám xin Jay ghé vào bờ. Tôi không muốn là gánh nặng hay phải chịu trách nhiệm cho sự chậm trễ. Ngoài ra, từ lúc lên đường đến giờ, anh ta chẳng thèm hé môi lấy một lần, nên tôi không dám mở lời.

    Tầm trưa, Jay ném một sợi dây câu với một con muỗi làm mồi xuống nước. Chẳng bao lâu sau, đã có một con cá hồi cắn câu. Anh ta lôi con cá đang vùng vẫy vào trong xuồng và hóa kiếp cho nó bằng một nhát dao chọc vào mang. Hóa ra ý anh ta là bắt cá. May quá đi mất.

    Jay ném sợi dây xuống hồ một lần nữa và kéo con cá hồi thứ hai lên. Sau đó, chúng tôi cập vào bờ.

    Jay đặt hai con cá chết lên một tảng đá phẳng và đưa con dao cho tôi. „Cô mổ cá đi. Tôi còn phải nhặt củi nhóm lửa.“ Giọng anh chàng đã trở lại bình thường, và khi tôi ngượng ngập nhìn vào mắt Jay, anh ta nhìn lại một cách thân thiện. Như thể chúng tôi chưa từng cãi nhau. Không biết anh ta đã tha thứ cho tôi chưa nhỉ?

    „Tôi sắp đi ra quần đến nơi rồi“, tôi khổ sở nói.

    Jay thở dài. „Đúng là trúng quả đậm mới vớ được cô“, anh ta nói. „Sao cô không nói sớm hơn hả? Lẽ ra chúng ta đã có thể ghé vào bờ.“

    Tôi so vai ngượng nghịu. „Tôi không dám. Tôi nghĩ, chắc anh ghét tôi lắm.“

    „Làm sao tôi phải ghét cô?“ Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi. „Vì cô muốn biết sự thật? Có lẽ như thế lại tốt hơn. Sớm hay muộn thì cô cũng sẽ biết thôi mà.“

    „Anh không giận tôi hả?“

    „Không. Tôi không giận. Nhưng tôi không phải là thầy bói. Cô phải nói cho tôi biết nếu như có vấn đề gì.“

    Vấn đề của tôi cao một mét tám mươi, tóc đen, da sẫm màu và mắt màu nâu sôcôla. Tôi gật đầu.

    „Cô tự đi được không?“

    „Có.“ Tôi khập khiễng chui vào bụi rậm, đủ xa khỏi bờ hồ. Tôi cố „đi“ nhanh nhất có thể, vì quần còn chưa kịp tụt hẳn xuống, đàn muỗi đã lao vào chích mông tôi tới tấp.

    Khi tôi quay lại, Jay đã nhóm xong lửa và đang chuẩn bị mổ cá. Lưỡi dao sáng lóa trong nắng. Hai bàn tay Jay chuyển động nhanh thoăn thoắt, có lẽ anh ta đã mổ hàng trăm con cá trong đời mình.

    Tôi nhận ra, Jay gặp khó khăn khi cử động cánh tay trái, nhưng anh ta không ca thán gì, cũng không chịu nghỉ ngơi. Jay ném bộ lòng cá đẫm máu xuống nước, sau khi lẩm bẩm vài từ bằng tiếng Cree. Ngay lập tức, bộ lòng chui tọt vào bụng một đôi chim nước. Chúng kêu lên quang quác để cảm ơn.

    Jay rửa tay và biến mất sau rừng cây cùng với con dao. Chẳng bao lâu sau, anh ta quay lại, tay gọt vỏ hai cành thông. Anh ta vót nhọn một đầu que, xiên hai con cá vào, sau đó cắm que vào cát sao cho chúng nằm nghiêng trên ngọn lửa.

    „Phải mất một lúc cá mới chín. Cô để ý canh, đừng để chúng cháy. Tôi đi đổ xăng.“

    Mặt trời cháy hừng hực trên bầu trời, bên cạnh đống lửa còn nóng hơn nữa. Trán tôi nóng rẫy, da mặt căng lên rất khó chịu. Chắc là tôi bị cháy nắng kinh lắm, trông chẳng khác gì một quả cà chua.

    Phỏng đoán của tôi được khẳng định, khi Jay phù phép từ trong ba lô ra một cái mũ lưỡi trai và ấn nó lên đầu tôi. „Ở đây chỉ có mình tôi là người da đỏ thôi nhé“, anh ta nói.

    Một nụ cười ấm áp sáng lên trong mắt Jay, cuốn phăng tôi đi trong giây phút đó: Tôi yêu anh ta mất rồi. Ngoài ý muốn, nhưng tôi cảm nhận điều đó rõ ràng trong tâm hồn mình. Một cái gì đó trong tôi đã mở ra, một luồng hơi ấm cuồn cuộn tuôn trào trong cơ thể, lan tỏa đến từng đầu ngón tay, ngón chân. Mồ hôi túa ra đầm đìa, nhưng không phải vì nóng. Tôi ngượng ngùng kéo chiếc mũ lưỡi trai sụp xuống trán.

    Tôi cũng yêu Tim, nhưng đó là một cảm xúc rất khác, một thứ tình cảm chỉ diễn ra trong đầu tôi. Tôi chưa bao giờ nhìn vào mắt Tim Webster, chưa bao giờ chạm vào anh ấy, chưa bao giờ lắng nghe hơi thở của anh trong đêm. Tôi còn chưa bao giờ nghe giọng nói của anh, vì chúng tôi chỉ liên lạc với nhau qua E-Mail. Có lẽ nào, anh chỉ là một ảo ảnh, một sản phẩm do trí tưởng tượng của tôi tạo ra.

    Còn Jay? Tôi đang ở đây, có nghĩa là anh thực sự tồn tại. Anh chàng da đỏ này đòi hỏi ở tôi những điều không thể tưởng tượng nổi, nhưng lại theo một cách thật dịu dàng. Anh không giỏi dùng những lời hay, ý đẹp như Tim, nhưng anh có thể khiến một thanh gỗ đơn sơ phải ngân lên những âm thanh tuyệt vời. Ngoài ra, sự tự tin của anh giữa nơi hoang dã làm tôi choáng ngợp. Anh có khả năng định hướng vô cùng chuẩn xác, có thể chịu đựng đau đớn không một lời oán thán, không run sợ trước bất kỳ thứ gì. Ngay cả trước một con gấu. Cho dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, anh cũng tỏ ra sẵn sàng tìm ra giải pháp tốt nhất.

    Tôi hơi ngẩng đầu, kín đáo quan sát Jay. Gương mặt anh nhòa đi trong làn khí nóng bốc lên từ đống lửa. Gò má cao, đôi mắt với hai con ngươi chìm trong bóng tối, đôi môi hơi trễ xuống nơi khóe miệng.

    Anh chàng này, chắc chắn bọn con gái phải xếp hàng xin yêu. Biết đâu một người đẹp da nâu, thân hình thon thả đang đợi anh trở về, trong khi tôi ngồi đây, cố gắng che giấu những cảm xúc lộn xộn của mình.

    Jay cảm thấy cái nhìn của tôi, liền ngừng tay. „Gì thế?“ Anh hỏi, đầu nghiêng nghiêng như một con quạ.

    „Anh có bạn gái không?“, tôi buột miệng hỏi, rồi hối hận đến mức chỉ muốn cắn đứt lưỡi cho xong.

    Jay lắc đầu, nụ cười trên mặt vụt tắt. „Trong trại có mỗi Althea là phụ nữ, mà cô ấy cũng 52 tuổi rồi, lại còn khuyết hai cái răng nữa.“ Jay trỏ vào một vị trí ở hàm trên. „Cô ấy từng là hoa khôi vùng Winnipeg đấy, nhưng hơi quá già so với sở thích của tôi. Ngoài ra…“, anh ngập ngừng, rồi nói tiếp bằng một giọng giận dỗi, „tôi đã bảo rồi mà, tôi không phải hạng người biến thái đâu. Cô không cần phải sợ tôi.“

    Hay nhỉ, tôi thầm nghĩ. Tên ngốc này không biết rằng tôi hỏi câu ấy vì một lý do khác. Chắc chắn anh thấy tôi xấu xí lắm. Vừa trắng, vừa xấu, vừa béo. Khổ nỗi, quanh đây không có một thanh sôcôla nào để tôi tự an ủi mình.

    „Tôi không sợ anh đâu.“

    „Thế thì tốt.“

    Tôi không sợ anh, nhưng tôi không biết cái gì đang đợi tôi ở cuối cuộc hành trình. Jay đã kể với tôi về một khu trại. Nhưng nơi đó như thế nào, có những ai sống ở đó? „Althea và Luke“, tôi nói. „Ngoài họ ra thì còn ai nữa?“

    „Robert, Eric, Henry, Reggie và Mike.“

    Jay nhìn gương mặt hoảng loạn của tôi. „Đừng sợ, cánh đàn ông ở đó đều là người tốt cả“ anh ta trấn an tôi.

    Không hiểu tại sao những lời anh nói nghe không thuyết phục cho lắm. „Tôi tưởng gia đình anh cũng ở đó chứ.“

    „Luke là gia đình của tôi. Những người khác cũng vậy, cho dù chúng tôi không có quan hệ ruột thịt.“

    „Họ sẽ nói gì khi thấy anh không về một mình?“

    „Ừ thì“, Jay ngập ngừng một lúc, „Robert sẽ không hài lòng đâu. Điều đó là chắc chắn.“

    „Ông ta là tù trưởng của các anh hả?“

    Câu hỏi của tôi làm Jay phì cười. „Cũng na ná như thế. Nhưng thật ra tất cả mọi người đều nghe lệnh Althea. Cô ấy vừa là đầu bếp, vừa là thủ lĩnh tinh thần của chúng tôi.“

    „Các anh làm những việc gì?“

    Jay hờ hững nhún vai. „Đi săn và đánh bắt cá.“

    „Anh cũng là thợ săn hả?“

    „Dĩ nhiên rồi. Trông tôi không giống thế à?“

    „C…có chứ. Chỉ săn bắn và đánh cá thôi à?“

    „Cô nghĩ còn gì nữa?“

    „Không.“

    Vì một lý do nào đó, tôi biết Jay còn giấu tôi vài điều, nhưng ở thời điểm này, khó mà moi được thêm thông tin từ anh. Tôi đã học được cách đọc trong ánh mắt của Jay, khi nào thì anh không muốn nói tiếp nữa.

    Chẳng bao lâu sau, cá đã chín. Jay đưa cho tôi một xiên. Anh chỉ cho tôi cách gỡ lớp thịt mềm mại ra khỏi xương. Chúng tôi ăn trong im lặng. Con cá hồi nướng ngày hôm ấy là món ngon nhất tôi từng được ăn trong đời.
     
    Chỉnh sửa cuối: 30/6/15
    Linh Vũ, thanhbt, ttha and 2 others like this.
  15. Carrot7411

    Carrot7411 Mầm non

    Truyện hay và anh chàng Jay thật dễ thương. Mong bạn dịch tiếp. Cảm ơn bạn.
     
    Cub and ttha like this.
  16. Cub

    Cub Lớp 1

    Cảm ơn bạn đã động viên Cub. Dạo này tinh thần Cub xuống dốc lắm nên mãi chẳng thêm được chữ nào. Hôm nay thêm được một chương đây rồi, quăng lên thôi. ^^
     
    Linh Vũ, teacher.anh and ttha like this.
  17. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 9

    Jay dùng cát dập lửa, giục tôi lên đường. Suốt chặng đường, chúng tôi không nói với nhau một tiếng nào, kể cả muốn nói cũng chẳng được vì động cơ kêu ầm ĩ. Có lẽ cơn đau ở cánh tay trái nghiêm trọng đến nỗi Jay không dùng mái chèo được nữa.

    Tôi đội chiếc mũ lưỡi trai màu đen với dòng chữ Hãy dừng ngay nạn chặt phá rừng in nổi bằng cao su, để bảo vệ đầu và mặt khỏi ánh nắng. Oi bức khủng khiếp, may mà có tí gió nên cũng đỡ. Thỉnh thoảng vài tia nước mát lạnh lại bắn vào mặt tôi, vô cùng dễ chịu.

    Chiếc xuồng nhôm đưa chúng tôi tiến sâu hơn vào nơi hoang dã. Tôi cứ nghĩ mãi về điểm cuối của cuộc hành trình. Một khu trại săn ở giữa rừng, với bảy người đàn ông và một phụ nữ. Bố tôi, người trước kia vẫn thỉnh thoảng đi săn cùng một ông bạn, đã kể cho tôi nghe về những dị nhân mà đôi khi ta có thể bắt gặp ở những nơi hoang vu như thế này. Họ là những kẻ đứng ngoài xã hội, đã chọn cuộc sống hoang dã thay vì nền văn minh. Những con người tiều tụy với đầu tóc rối bù và hàm răng nâu xỉn ấy, chắc chắn bạn không muốn gặp họ khi đang đi một mình đâu. Vài người trong số họ đã phát điên vì cô độc.

    Tôi tự hỏi, nhóm của Luke và Jay là những người như thế nào. Cũng may là còn có một phụ nữ, cô Althea nào đó, nên tôi thấy yên tâm hơn một tí. Có một người cùng thuộc phái yếu còn hơn là không ai cả.

    Bây giờ có nghĩ vỡ cả óc ra thì cũng chẳng ích lợi gì. Đằng nào thì chúng tôi cũng sẽ đến nơi, ngay cả khi điều đó đối với tôi lúc này vẫn thật khó tin.

    Vẫn là hồ nối tiếp hồ, cùng những hòn đảo đá phủ đầy cây cối. Jay điều khiển xuồng chạy trên một con sông rộng một lúc lâu rồi tắt động cơ khi chúng tôi tiến vào cái hồ tiếp theo. Tôi tự hỏi, liệu những cái hồ, những hòn đảo này đều có tên gọi; và liệu Jay có biết hết những cái tên ấy hay không. Thật may là Jay rất thông thạo địa hình. Anh không bao giờ tỏ ra phân vân khi trước mặt hiện lên hai lối rẽ.

    Buổi chiều, nhiệt độ hạ xuống thấy rõ. Vầng dương lặn xuống đổ màu lên cảnh vật. Lá những cây dương mọc ven bờ nước bắt đầu ánh lên một sắc đỏ ấm áp. Những thân dương màu trắng và hoa súng cũng nhuốm một màu đỏ. Màu xanh của những cây vân sam và tùng trên đồi cũng chuyển thành màu nâu thẫm.

    Jay tắt động cơ, tận dụng chút ánh sáng cuối cùng trong ngày để bắt cá cho bữa tối. Tôi tận hưởng sự yên tĩnh, cho dù tiếng máy nổ ầm ĩ vẫn văng vẳng bên tai. Cuối cùng thì đã có thể bỏ mũ khỏi đầu và lùa ngón tay vào mái tóc rối tung. Tôi đang định hỏi Jay có bàn chải tóc hay không, thì chợt nhận ra, anh chàng đang nhìn tôi chằm chằm. Hay đúng hơn là nhìn tóc tôi chằm chằm.

    „Trên đầu tôi có gì à?“, tôi hốt hoảng hỏi. „Chuồn chuồn phải không?“, tôi vội vã hai tay lên xoa đầu rối rít. Chúng thật đáng sợ. Nhất là những con màu xanh kim loại, to bằng cái máy bay trực thăng đồ chơi.

    „Tóc cô óng ánh như vàng ấy.“ Jay nhìn tôi không rời mắt, mồm há hốc, như bị mái tóc chẳng giống vàng tí nào của tôi bắt mất hồn. Những cành nhỏ và lá cây vương đầy trên đầu, mà tôi lại chẳng có cái lược nào để gỡ chúng ra, nên tóc rối tinh rối mù.

    „Đầu cô trông như một mặt trời nhỏ vậy.“

    Giọng nói run run của Jay làm tôi bối rối cực độ. May mà Jay lập tức chuyển hướng sự chú ý sang một con cá to vừa cắn câu.

    Nên cẩn thận thì hơn, tôi thầm nghĩ, đội mũ lên đầu. Đó là lần đầu tiên tôi thấy Jay ngẩn người ra như vậy, mà lại vì một lý do thật kỳ quặc, khiến tôi suy nghĩ mãi không thôi.

    Không lâu sau, Jay đã bắt được ba con cá. Anh vừa ném sợi dây câu lần thứ tư xuống nước thì một đôi rái cá xuất hiện, bơi vòng quanh xuồng. Hai con vật đáng yêu với đôi mắt to tròn đen láy đùa giỡn với nhau và kêu lên những tiếng vui vẻ. Chúng vừa bơi ngửa, vừa dùng những bàn chân nhỏ nhắn thoăn thoắt cạy vỏ sò. Một lát sau, chúng rung rung những cái râu thật dễ thương và bơi đi mất. Kể từ lúc đó, Jay không bắt thêm được con cá nào nữa.


    Khi chúng tôi lên bờ, mặt trời đã khuất hẳn sau những rặng núi đầy cây, để lại một dải lửa đỏ rực trên bầu trời. Lần này chúng tôi cũng hạ trại trên một hòn đảo nhỏ, nơi không có nguy cơ chạm trán với một con gấu nào bất chợt xồ ra.

    Jay lại làm tất cả mọi việc. Cho dù tôi có cảm giác cánh tay trái bị thương của anh cử động hơi khó khăn, anh vẫn mổ cá, nhóm lửa và chuẩn bị chỗ ngủ tươm tất.

    Lần này chúng tôi ăn một loại cá có thịt màu trắng, to như cá chép, nhưng có rất nhiều xương dăm. Vì lẽ đó, bữa ăn trôi qua trong im lặng. Tôi phải hết sức tập trung khi gỡ thịt ra khỏi xương. Sau khi đã thoát khỏi móng vuốt một con gấu, tôi không muốn bị chết ngạt chỉ vì một cái xương cá vớ vẩn.

    Jay có vẻ không gặp nhiều khó khăn với mấy cái xương cá như tôi. „Này Thỏ Đế, cô sợ gấu, điều đó tôi có thể thông cảm được“, anh nói. „Nhưng sao cô lại sợ chuồn chuồn?“

    „Đơn giản thôi: Tôi không thích bị đốt.“

    Jay ho sặc sụa. „Đốt?“, anh nói, sau khi đã có thể thở lại bình thường. „Chuồn chuồn không đốt.“

    „Nhưng bọn chuồn chuồn ở đây to đùng“, tôi giận dỗi trả lời. Nhiều con có sải cánh rộng bằng một bàn tay, và cái kiểu bay giật giật của chúng trông thật đáng sợ.

    „Bất kể to hay bé, chuồn chuồn không đốt. Cô không việc gì phải sợ. Chúng hoàn toàn vô hại.“

    „Chúng nó trông chẳng vô hại tí nào“, tôi phụng phịu.

    „Chúng rất đẹp, Jodie. Chỉ cần kiên nhẫn quan sát chúng kỹ hơn một chút. Ngoài ra, chuồn chuồn tiêu diệt rất nhiều muỗi.“

    „Tôi sẽ nghĩ kỹ hơn về điều đó, khi bị một con chuồn chuồn quái vật bổ nhào xuống đầu.“ Tôi muốn khép lại đề tài chuồn chuồn. „Anh đưa tôi cái bàn chải được không? Tôi bị mắc xương cá vào kẽ răng.“

    Jay lấy bàn chải và kem đánh răng từ trong ba lô ra. „Nếu cô muốn tắm“, anh nói và chìa cho tôi một cục xà phòng nhỏ, „thì tôi không nhìn đâu.“

    Thực ra thì tình trạng vệ sinh cá nhân của tôi trong hai ngày qua vô cùng tồi tệ, cần phải tắm khẩn cấp. Mặc cái nóng như đổ lửa, tôi vẫn sùm sụp cái áo khoác nỉ cả ngày nên mồ hôi ướt đẫm cả người. Da đầu tôi ngứa ngáy, còn tóc tai thì … Chắc là sẽ đỡ hơn một tí nếu gội đầu, ngay cả khi chỉ với xà phòng.

    Vậy mà tôi vẫn do dự. Tôi không tin rằng, Jay sẽ không nhìn lén. Nhất là sau khi anh đã nhìn tôi chằm chằm một cách kỳ lạ như thế. Chắc là anh chẳng thích thú gì đám con gái da trắng đâu, nhưng tò mò thì, vẫn có thể lắm chứ.


    Tôi nhận cục xà phòng. Vừa lúc đó, mây kéo đến che khuất mặt trăng. Trời tối đen đến mức không nhìn thấy gì, còn làn nước lại thật quyến rũ. Thế là tôi khập khiễng đến bên mép nước và bắt đầu cởi quần áo. Đầu tiên, tôi giặt chiếc áo phông rách, áo và quần lót, thật cẩn thận không để cục xà phòng tuột khỏi tay. Sau đó, tôi đắm mình trong làn nước mát, kỳ cọ từ đầu đến chân, cố gội đầu kỹ nhất có thể.

    Để rửa hết bọt trên đầu, tôi lặn xuống nước, khi ngoi lên, mặt trăng đã lại ló ra khỏi mây. Tôi gạt mớ tóc ướt khỏi mặt bằng một tay, phun nước hồ trong miệng ra. Đột nhiên, Jay trồi lên cách tôi khoảng một mét, y như một con ma. Tim tôi muốn ngừng đập vì kinh hãi. Trong ánh trăng, mọi vật đều sáng như ban ngày.

    „Anh đã bảo là không nhìn mà“, tôi rít lên, té nước loạn xạ về phía anh.

    „Thì tôi có nhìn đâu.“

    Đúng là hai mắt anh chàng đang nhắm thật. Ít ra thì trông chúng có vẻ như đang nhắm.

    „Thế anh cần gì ở đây?“

    „Cục xà phòng, Thỏ Đế“, anh nói, hai mắt vẫn nhắm tịt. „Chỉ cần cục xà phòng thôi.“ Anh ngoác miệng cười.

    „Đây.“ Tôi chìa cục xà phòng ra, còn Jay thì rờ rẫm về phía trước như một người mù. Tí nữa thì anh chạm vào tôi, nhưng tôi né được. Cuối cùng, tôi túm lấy tay Jay và ấn cục xà phòng trơn nhẫy vào. Sau đó, tôi vội vã quay lại bờ.

    „Tôi có bỏ một cái khăn tắm ra cho cô đấy“, Jay gọi với theo bằng giọng khàn khàn kỳ lạ. „Nhưng tôi cũng cần nó nữa“, anh khẽ nói.

    Sau khi đã lau khô người, tôi mặc quần và áo khoác vào. Tôi cắm vài cành cây vào cát, làm thành một cái giàn để hong quần áo ướt bên cạnh đống lửa. Sau đó, tôi cố dùng ngón tay để chải tóc nhưng chẳng ích gì. Giá mà có một cái bàn chải.

    Sau khi lên bờ, Jay nhờ tôi băng lại cánh tay. Tôi đang giận anh, nhưng chuyện đó thì không thể từ chối được.

    Khi tôi tháo những dải băng ướt ra, Jay cứ nhìn tôi chằm chằm, dĩ nhiên là chẳng giúp việc băng bó đơn giản hơn chút nào. Đầu óc tôi thì vẫn rối bời. Anh thật quá quắt, dám rình mò tôi ở dưới nước như thế.

    „Cô nghi ngờ tôi“, Jay giận dỗi nói.

    Tôi đặt dải băng mới lên và xiết chặt.

    „Ái da“, Jay kêu lên, mặt mũi nhăn nhó. „Cô không cẩn thận hơn một tí được à?“

    „Xin lỗi.“ Tôi thực sự rất tiếc vì đã làm anh đau, nhưng trong bụng vẫn ôm một cục tức. Chắc là anh ta tưởng mình hấp dẫn lắm nên mới tự cho mình cái quyền trêu đùa với tôi như thế. Tôi đang hoàn toàn lệ thuộc vào Jay, nên anh ta muốn làm gì chẳng được. Thật không công bằng.

    „Không phải tôi nghi ngờ anh, nhưng anh dọa tôi sợ chết khiếp lên được.“

    „Tôi có muốn thế đâu.“

    „Làm sao tôi có thể tin anh được.“ Tôi hít một hơi thật sâu. „Anh thích thú lắm khi nhìn tôi sợ hãi. Anh tinh vi tinh tướng vì anh thông thuộc nơi này. Tại sao anh không bỏ chạy khi gặp con gấu? Anh định chứng tỏ với tôi điều gì? Rằng anh là người vĩ đại nhất hả, Jay Muskalunge!“

    Tôi đã băng bó xong, Jay liền mặc lại chiếc áo phông lên người. Anh đối diện với cơn giận của tôi một cách từ tốn. „Con gấu không chấp nhận kẻ lạ đến gần con mồi của nó“, anh nói, „nếu bị quấy rầy, nó sẽ nổi khùng. Khi đó, tất cả những kẻ bỏ chạy, đối với nó đều là con mồi. Còn nếu đứng yên, nó sẽ coi cô đồng hạng với nó. Chỉ cần đứng yên, kiềm chế nỗi sợ hãi. Với một chút may mắn, con gấu sẽ không để ý đến cô nữa. Để làm được điều đó, dĩ nhiên là không được phép nhát như Thỏ Đế.“

    Dĩ nhiên. Tôi hiểu rằng, con gấu không đuổi theo tôi là vì Jay đã nằm xuống chịu trận.

    „Nhỡ con gấu giết anh thì sao?“

    „Nó không giết tôi đâu.“

    Tôi ngạc nhiên nhìn anh. „Tại sao anh chắc chắn như vậy?“

    „Vì con gấu là thần hộ mệnh của tôi, Jodie ạ. Nó sẽ không bao giờ làm hại tôi. Lúc đó, nó chỉ muốn bảo vệ con mồi của mình mà thôi.“

    „Thần hộ mệnh á?“

    „Là người bảo vệ tâm linh của tôi. Nó giúp tôi trong những cuộc săn. Và khi tôi không biết mình phải làm gì, nó sẽ xuất hiện trong mơ và nói với tôi.“

    „Chẳng hiểu gì cả“, tôi bối rối nói. „Tôi không tin vào tâm linh, nhất là những chuyện như vậy.“

    Jay mỉm cười, lắc lắc đầu. „Cô có thở không? Hơi thở là một hiện tượng tâm linh đấy.“

    „Thở là thở“, tôi sỗ sàng phản ứng. „Chúng ta thở, vì trong không khí có ôxi và bộ não, máu cũng như các bộ phận khác trong cơ thể đều cần ôxi để hoạt động.“

    „Ờ“, Jay giơ hai bàn tay lên, „theo như cô nói, chuyện đó nghe có vẻ vớ vẩn, nhưng với tôi thì không. Đó là một điều kỳ diệu, một vòng tuần hoàn bất tận. Không có mây thì không có mưa, không mưa thì cây cối không sinh sôi, nảy nở. Mà không có cây cối thì không có ôxi cho não và máu của cô đâu, Jodie ạ. Kể cả khi cô sống trong thành phố đi nữa, không có nơi này“ – anh dang rộng hai cánh tay – „cô không thể tồn tại.“

    Tôi chợt nhớ đến dòng chữ trên chiếc xe buýt hippie của Ricky và Lilian, và – chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào – mà tôi dài giọng nói: „Vâng, vâng. Chỉ đến khi cái cây cuối cùng bị trốc rễ, dòng sông cuối cùng bị đầu độc, con cá cuối cùng bị đánh bắt, thì các bạn mới hiểu rằng người ta không ăn được …!“

    „Thôi ngay!“, Jay nghiêm giọng. „Tôi đang cố nói chuyện tử tế với cô, còn cô thì lại đem tôi ra làm trò đùa.“

    Tôi xấu hổ cúi đầu xuống. Tại sao tôi lại làm như thế? Có lẽ chỉ vì muốn trả thù vụ bị Jay rình mò ở dưới nước.

    „Câu ngạn ngữ đó nghe sáo rỗng bao nhiêu thì lại thực tế bấy nhiêu“, Jay nói. „ Chỉ có mấy người như cô là không muốn hiểu. Bây giờ thì tiền trong túi cô để làm gì hả? Ở đây, cô chẳng dùng tiền làm gì được sất. Cùng lắm thì mang ra mà nhóm lửa.“

    „Tôi xin lỗi.“

    „Úi giời.“

    „Thật đấy. Tất cả chỉ vì tôi giận anh mà thôi.“

    „Vì tôi lấy cục xà phòng từ tay cô? Trời đất ơi, Jodie, cô bao nhiêu tuổi rồi? Mười? Hay mười một?“

    Mỗi khi gọi tên tôi, Jay đều đang rất nghiêm túc. Và anh có lý. Tôi đã cư xử như một đứa trẻ con. Đang lên cơn dỗi, tôi đáp lời, như một đứa bé lên mười: „Mặc kệ tôi.“

    Jay khẽ thở hắt ra. „Dĩ nhiên rồi, người da trắng các cô chẳng biết thế nào là hài hước. Làm sao tôi lại quên được nhỉ? Khi Kitche Manitu phân phát khiếu hài hước, các cô còn chưa đặt chân đến đây.“

    Thật là quá lắm rồi. „Hài hước?“, tôi nổi đóa lên. „Tôi bị một thằng cha lái xe tải bẩn thỉu sàm sỡ, bị một gã lạ hoắc lôi tuột vào rừng, tí nữa thì bị gấu ăn thịt, bị mặt trời đốt cháy da, vậy mà anh còn nhắc đến hài hước.“

    Tôi nhận ra, anh đang cố nhịn cười mà không được. „Hình như cô quên mất là con gấu nó chẳng thèm để ý đến cô nhỉ.“

    Chẳng còn sức mà nói đùa, tôi mệt mỏi nói: „Anh chẳng biết tí gì về tôi hết. Chẳng biết tôi đến từ nơi nào, bao nhiêu tuổi. Anh cũng chẳng thèm để tâm đến lý do tôi bỏ nhà ra đi.“ Bất chợt, tôi buộc phải nghĩ đến mẹ và Nicci.

    Jay dùng một cành cây chọc vào đống lửa, khiến những tàn lửa tung bay lên trong đêm tối. „Cô đến từ Thunder Bay, mười lăm tuổi.“

    Tôi sửng sốt ngửng đầu lên.

    Anh nhún vai. „Họ nói thế trên đài.“

    „Họ còn nói gì nữa?“

    „Rằng họ yêu cô lắm, và cô nên quay về.“ Jay bỏ thêm một cành cây vào khiến ngọn lửa sáng rực lên. „Dĩ nhiên là tôi quan tâm đến lý do cô bỏ nhà ra đi, Thỏ Đế ạ. Nhưng tôi sẽ không hỏi. Đó là việc riêng của cô. Có lẽ cô cũng không muốn nói về điều đó.“

    Tôi ngẫm nghĩ về những lý do dẫn đến việc chạy trốn khỏi gia đình, và đột nhiên thấy chúng thật buồn cười. Bố mẹ tôi thường xuyên cãi nhau, thì sao chứ? Hàng triệu vị phụ huynh khác cũng làm thế. Mẹ bán mất chiếc laptop, nhưng cũng chẳng phải laptop của tôi. Còn cái tát… Trước đó, mẹ chưa từng đánh tôi bao giờ, nhưng cũng tại tôi chọc giận mẹ quá đà, lại đúng lúc mẹ đang dễ nổi cáu. Tất cả những lý do đó, lúc này bỗng trở nên vớ vẩn, trẻ con quá mức.

    „Anh nói đúng“, tôi nói. „Tôi không muốn nói về chuyện đó.“

    Jay ngửng đầu, nhìn tôi. „Cô có ổn không vậy?“, anh hỏi. „Cô buồn lắm hả?“

    Tôi im lặng.

    „Tôi có thể lắng nghe, Jodie. Đằng nào thì cũng chẳng có gì khác để làm.“

    Sự tử tế của Jay đã mở ra một cánh cửa trong tâm hồn tôi. Tôi kể cho anh nghe về sự túng thiếu của gia đình, về những trận cãi nhau bất tận của bố mẹ, về chiếc laptop bị mẹ bán đi, về cái tát, và về chuyện bố tôi không quay về nhà nữa.

    „Vì thế mà cô bỏ nhà ra đi hả?“ Giọng anh nghe chẳng có nổi lấy một tí thông cảm. „Người ta không thể bỏ chạy trước khó khăn. Cô không biết điều đó à?“

    „Tôi biết mình đã hành động ngu ngốc, nhưng tôi muốn bố mẹ phải suy nghĩ. Trong khi họ nghĩ nát óc về lý do tôi phải ra đi, tôi muốn tận hưởng vài ngày tuyệt vời cùng Tim.“ Tôi thở dài thườn thượt. „Thế mà bây giờ tôi lại ngồi đây, bên cạnh anh, trên một hòn đảo vô danh giữa rừng núi hoang vu.“

    Jay đột nhiên đờ người ra. Anh nhìn chằm chằm vào đống lửa, trong mắt thoáng qua một tia nhìn u ám. „Một cuộc trao đổi tồi, tôi công nhận là như thế. Nhưng cô không phải chịu đựng Indian Boy này lâu nữa đâu. Ngày mai chúng ta sẽ đến trại của tôi ở ven hồ Windigo. Khi anh tôi đã khỏe và cô có thể đi lại bình thường, tôi sẽ đưa cô quay lại Smooth Rock Falls. Ở đó, cô muốn làm gì thì làm: quay về với gia đình bất hạnh hoặc bắt xe đến Sudbury với anh chàng Tim yêu dấu của cô. Tôi nghĩ rằng, cô đủ thông minh để đưa ra quyết định đúng đắn.“

    Vẻ thù ghét trong giọng nói của Jay khiến tôi phải rùng mình.

    „Ngoài ra“, anh thêm vào, „hòn đảo này có tên đấy. Là đảo Rái Cá, Jodie ạ.“ Anh chui vào túi ngủ, quay lưng lại với tôi.

    Tôi đặt mình nằm ngửa, lắng nghe những âm thanh của đêm. Tiếng kêu của một con chim đêm vang vọng trên mặt hồ. Thỉnh thoảng lại có tiếng quẫy nước, khiến tôi nghĩ đến Mannegishi, những người bé nhỏ. Không biết trong chuyến đi này, Jay đã nhìn thấy họ chưa? Anh có thật sự tin vào tất cả những thứ kỳ lạ này không?

    Nơi hoang dã đối với tôi là một thế giới khác, nó không chỉ khiến tôi choáng ngợp mà còn ẩn chứa nhiều bí mật khiến tôi phải lo sợ. Hệt như anh chàng đang nằm cạnh tôi đây.

    „Tôi không ghét anh đâu“, tôi thì thầm.

    „Thế thì tôi vui lắm“, Jay đáp, sau một thoáng im lặng.

    Dù rất mệt mỏi, tôi vẫn không bỏ lỡ nụ cười ẩn trong giọng nói của anh.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/8/15
  18. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 10

    Sáng hôm sau, tiếng cành cây bị bẻ gãy khiến tôi bừng tỉnh. Jay đang bỏ thêm củi vào đống lửa. Khi tôi ngồi dậy, anh ném cho tôi một cái nhìn hối thúc, miệng lầm bầm mấy chữ „Ngủ ngon không?“.

    „Ừm“, tôi trả lời, loạng choạng đứng dậy, tập tễnh đi đến bên bờ nước để rửa mặt.

    Tuy còn sớm nhưng trời đã rất nóng. Nước hồ trong veo như thủy tinh, mặt nước phẳng lặng như gương. Mặt tôi trông vô cùng tồi tệ: trán và hai má đầy vết cào xước, một cục u tím bầm chình ình bên trên mắt phải, hàng tá nốt muỗi đốt và làn da cháy nắng. Chẳng bao lâu nữa, da mặt tôi sẽ bong hết ra như vỏ một củ khoai tây luộc. Tóc tai tôi cũng chẳng đâu vào đâu dù tối hôm trước đã gội. Chúng chỉa ra tứ tung, mớ thì xoắn tít lại, mớ thì rối tung rối mù.

    Xấu hay đẹp thì bây giờ cũng mặc kệ. Jay chắc là giận tôi lắm. Ai bảo tôi dám làm anh tổn thương cơ. Khổ nỗi, những điều tôi nói ra đâu phải là những gì tôi thực bụng nghĩ. Đành rằng tôi không muốn ở đây thật. Mắt cá chân sưng tấy, đàn muỗi, cơn đói và nỗi sợ thú dữ khiến tôi kiệt sức. Vậy mà tôi vẫn thấy cuộc phiêu lưu này hấp dẫn đến lạ lùng.

    Tôi đã mường tượng ra cảnh ngồi tán phét với Marla bên ly kem khổng lồ ở quán cà phê Sleeping Giant cạnh hồ Superior. Tôi sẽ kể về cuộc chạm trán với con gấu chẳng hạn. Hoặc là về chuyện giữa Jay và tôi, rằng chúng tôi đã có một chuyện tình hoang dại giữa rừng sâu núi thẳm, mặc dù vào thời điểm này, điều đó có vẻ là không tưởng.

    Tôi đánh răng và vục nước lên rửa mặt. Bên cạnh đống lửa, một ca trà đã đợi sẵn, còn Jay thì chẳng thấy đâu. Đây đúng là cơ hội tốt để mặc lại đồ lót và áo phông mà không bị nhìn thấy. Cái áo phông (hay đúng hơn là phần còn lại của cái áo) vẫn còn hơi ẩm, nhưng nó sẽ chóng khô thôi, vì hôm nay có vẻ sẽ lại là một ngày nắng nóng.

    Chắc chắn Jay sẽ muốn lên đường càng sớm càng tốt, vậy nên tôi cuộn túi ngủ và tấm bạt lại, sau đó nhét cả hai thứ vào trong xuồng. Mắt cá chân vẫn còn đau, nhưng những cơn đau nhói từ khi nào đã chuyển thành cảm giác nhức nhối dễ chịu đựng hơn một chút.

    Khi Jay xuất hiện từ giữa những bụi cây ven bờ thì tôi đang ngồi trên một tảng đá cạnh xuồng, lơ đãng bóc những mảng da bong ra ở mũi.

    „Xòe tay ra nào“, anh nói.

    Tôi băn khoăn không biết có phải Jay định dọa tôi bằng một con ếch hay không, vì trông anh rất khả nghi. Nhưng sau khi nhìn thấy đôi môi màu tím của anh, tôi liền xòe hai bàn tay. Những quả việt quất, đen và to như quả anh đào dại, lăn từ lòng bàn tay nhuốm màu đỏ của Jay sang tay tôi. Hương trái cây thanh mát tràn ngập khứu giác. Trong khi Jay đẩy xuồng xuống nước, tôi dốc những quả ấy vào miệng. Chúng thật ngọt, còn vương hơi ấm bàn tay anh. Tôi biết, Jay không giận tôi nữa.


    Thời tiết hôm ấy nóng không thể chịu nổi. Không khí oi bức đến mức tôi không thể thở được nếu không có làn gió nhẹ thoảng qua trên mặt nước. Nóng đến mức tôi phải cởi bỏ chiếc áo khoác vẫn mặc từ đầu đến giờ.

    Trong khi Jay mải miết chèo xuồng về hướng Bắc, tôi dành thời gian để ngẫm nghĩ, về gia đình và về Tim. Và dĩ nhiên, cả về chính bản thân tôi nữa. Từ trước đến nay, tôi vẫn luôn coi mình là trung tâm thế giới. Lúc nào cũng chỉ biết tôi muốn gì, điều gì làm tôi phiền muộn, những gì cản trở tôi trên con đường đến với hạnh phúc.

    Hạnh phúc là gì? Một căn phòng riêng chăng? Thật nhiều tiền tiêu vặt? Một chiếc Laptop hay một bộ bikini mới? Hay là vừa nhấm đồ ngọt vừa mơ mộng về một anh chàng nào đó cùng vô khối điều viển vông hão huyền khác?

    Tôi đã từng mơ mộng về những cuộc phiêu lưu kỳ thú trên những vùng đất tưởng tượng, những chuyến đi hoàn hảo, tuyệt vời và luôn vô cùng suôn sẻ. Một thế giới hoàn mỹ.

    Từ khi đi cùng Jay, tôi chịu không làm thế được nữa. Có quá nhiều chuyện đã xảy ra, và ngay cả khi chẳng có chuyện gì như bây giờ, tôi cũng không làm sao thả cho đầu óc mơ mộng như trước được.

    Chỉ sau một ngày ngắn ngủi, Jay Muskalunge và nơi hoang dã quái quỷ của anh ta đã nắm chặt cuộc đời tôi trong tay mất rồi.


    Khoảng trước mười hai giờ trưa, tôi bỗng nhiên có cảm giác, điểm cuối của cuộc hành trình đã cận kề. Khi ấy, Jay đang chèo xuồng trên một hồ nước dài, một góc hồ bị bao phủ bởi vô vàn những bông hoa súng trắng đang bung nở. Trong không trung lơ lửng một mùi hương thoang thoảng, thanh mát như hương chanh, thoát ra từ những bông hoa ấy.

    Bao quanh hồ là đồi núi. Những quả núi nối tiếp nhau, đều đặn như sóng biển. Sườn núi phủ đầy lãnh sam và vân sam. Những ngọn cây nhọn hoắt vẽ nên một đường chân trời hình zic zắc. Một vài mảng núi đá trọc lóc lộ ra từ giữa mảng rừng xanh thẫm. Thỉnh thoảng, một hòn đảo nhỏ xanh tươi phủ kín những cây dương lại xuất hiện.

    Mặc dù không nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu nào của con người nhưng tôi biết rằng, họ đang hiện diện. Dường như, tại nơi đây, Jay quen biết từng cái rễ cây, từng hòn đá dưới nước. Đây là miền đất thân thuộc của Jay. Ngôi nhà của anh, chính là nơi này.

    Mặc dù Jay cố kìm nén nhưng tôi vẫn nhận ra, anh đang rất xúc động. Tâm trạng bồn chồn của Jay lây sang cả tôi. Sự hồi hộp chờ đợi pha lẫn hoảng loạn khiến tim tôi đập thình thịch.

    Và rồi tôi nhìn thấy những chiếc xuồng sặc sỡ nằm trên bờ cát trong một vịnh nhỏ mọc đầy cây cối. Một người đàn ông ngồi vá lưới trong bóng râm bên bờ nước. Khi nhìn thấy chúng tôi, anh ta ngừng làm việc, bước lại gần bờ, đưa tay lên vẫy chúng tôi.

    Một lát sau, xuồng cập bờ. Người đàn ông da đỏ đó chìa tay giúp tôi trèo ra khỏi xuồng. Anh ta cao bằng Jay, ước chừng khoảng ngoài ba mươi tuổi. Tuy anh ta không nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi vẫn cảm thấy một ánh nhìn dò hỏi. Dù hai má chằng chịt những sẹo, trông anh ta vẫn không có vẻ gì là thiếu thiện cảm.

    Jay đưa can xăng cho người đó và khoác ba lô lên vai. „Tan-si, Eric“, anh nói, „Jodie ana.“

    Người đàn ông da đỏ gật đầu với tôi bằng gương mặt không chút cảm xúc.

    „Luke sao rồi? Anh ấy ổn chứ?“, Jay hỏi.

    „Đã đến lúc cậu trở về rồi đấy, chàng trai ạ“, Eric trả lời, những nếp nhăn hằn lên trên trán. „Luke hỏi cậu suốt.“

    Jay tóm lấy tay tôi, lôi xềnh xệch phía sau. Mắt cá chân đau nhức, tôi phải cố gắng hết sức mới theo kịp anh bằng những bước chân khập khiễng. Một con đường mòn rộng rãi dài khoảng 100 mét dẫn đến một khoảng rừng trống có cỏ mọc. Tám chiếc lều Tipi đứng đó. Bảy chiếc nhỏ và một chiếc lớn hơn được trang trí bằng những họa tiết động vật màu sắc sặc sỡ. Ngoài ra còn có một đống lửa được bao quanh bằng những tảng đá, bên trên có bạt che, cùng một vật trông như một cái bàn to. Chắc là họ nấu ăn ở đó. Bên cạnh chiếc Tipi lớn nhất, tôi còn phát hiện ra một hình bán cầu trông như một cái giỏ đan khổng lồ lật úp, bên trên phủ một tấm bạt tối màu. Tôi cho rằng, đó là một Sweatlodge, lều tẩy tịnh của thổ dân da đỏ.

    Những cây vân sam và lãnh sam cao vút tạo thành một bức tường thành bao bọc khu trại. Dọc theo mép „tường“ là những bụi cây xanh tươi.

    Đó là một khu trại điển hình của người da đỏ, như ta vẫn thường thấy trong những bộ phim cũ kỹ. Bên cạnh mỗi chiếc lều Tipi nhỏ là một cái giá gỗ, bên dưới có đống lửa. Trên một cái giá như thế, ai đó đã treo thịt cá lên để hong khô. Đằng sau một chiếc lều khác, quần áo phấp phới trên một sợi dây phơi. Lũ chó chạy loăng quăng, sủa nhặng lên khi nhìn thấy chúng tôi.

    Tiếng chó sủa lái sự chú ý của những cư dân trại sang chúng tôi. Họ bỏ dở công việc đang làm, lục tục kéo nhau ra bãi cỏ. Tôi cảm thấy, ánh mắt những người đàn ông đó tối sầm lại, khi họ nhận ra rằng Jay không trở về một mình.

    Có tất cả ba người. Một người trẻ, khoảng chừng hai mươi tuổi, tóc ngắn. Anh ta gầy gò, có một gương mặt cởi mở và xinh trai, nhìn tôi một cách tò mò. Một người cao lớn, mặt mũi hung tợn, tóc buộc đuôi ngựa, hai tay đầy hình xăm, nhìn qua đã biết là kiểu người mà chúng ta tốt nhất không nên lớ xớ cản đường. Một con chó con bé xíu màu xám có hai đốm trắng trên mắt nhảy nhót giữa hai chân người này, bị ông ta dùng chân gạt sang bên không thương tiếc.

    Người thứ ba đã nhiều tuổi, mái tóc lưa thưa đã bạc hết bện thành hai bím mỏng lủng lẳng trên vai. Lưng ông ta còng xuống, da đen đủi, nhăn nheo như vỏ quả óc chó. Cả người này cũng không nhìn thẳng vào tôi. Nhưng tôi cảm nhận được rằng, chẳng có gì ông ta không nhìn thấy, kể cả những chi tiết nhỏ nhất.

    Họ khoác trên mình những chiếc quần lấm lem và áo phông. Trong mắt tôi, trông ai cũng không có vẻ đáng tin cậy cho lắm. Thế nên tôi càng nép sát hơn vào bên cạnh Jay. Vì quá căng thẳng, tôi cứ nhay nhay mãi đôi môi vốn đã khô nẻ của mình, cảm thấy vị máu tanh trong miệng.

    „Jodie ana, đây là Jodie Thompson“, Jay nói, khi chúng tôi tiến đến chỗ ba người kia. „Mike Loomis“ (anh chỉ vào người trẻ tuổi), „Reggie Mark“ (người hung bạo) „và Henry Mukash“ (ông già).

    Những người đàn có vẻ không hài lòng khi bị Jay gọi tên, vì gương mặt họ tối sầm lại thấy rõ.

    „Về việc tại sao Jodie lại ở đây, tôi sẽ giải thích với mọi người sau. Trước tiên tôi muốn gặp anh tôi đã.“

    Jay tất tả hướng về chiếc lều Tipi nhỏ bên bìa rừng, gần sát đường mòn. Trên tấm vải buồm đã bạc phếch là hình vẽ cách điệu một con gấu lớn. Reggie, người đàn ông với dáng vẻ hung bạo và mái tóc buộc đuôi ngựa, nắm lấy cánh tay Jay ghì lại.

    „Gì thế?“, Jay hỏi.

    „Hai hôm trước có một gã người Ojibwa đến trại để thiết lập quan hệ. Chúng tôi kể cho hắn nghe về Luke, nên hắn muốn khám cho cậu ta. Hắn tự nhận là bác sỹ.“

    „Thì sao?“

    Reggie hắng giọng. „Hắn cho rằng, Luke không qua khỏi.“

    Jay giằng cánh tay ra, vội vã chạy vào lều. Cố bước nhanh nhất có thể, tôi tập tễnh theo sau anh và chui vào trong lỗ cửa.


    Ánh mặt trời chiếu xuyên qua tấm vải buồm đã bạc màu, soi sáng bên trong lều. Mọi đồ vật bên trong đều hiện lên rõ mồn một: những xương sọ thú được tô màu treo lủng lẳng trên các que khung lều, vài thùng gỗ bên cạnh lối vào, một cái đèn bão, những nùi lông thú, một sợi dây phơi quần áo. Thế nhưng tôi chỉ quan tâm đến Jay, người đang từ từ khuỵu xuống trên hai đầu gối. Trên một tấm lông thú, bên dưới tấm chăn kéo lên đến tận cằm, Luke, anh trai Jay, đang nằm đó.

    Một người da đỏ với hai bím tóc dày, tuổi chừng 45, cũng có khi 50, đang ngồi xổm cạnh người bệnh, chườm trán anh ta bằng một chiếc khăn ẩm. Người đó chắc chắn là ông bác sỹ mà Reggie đã nhắc đến.

    Jay tự giới thiệu mình thật ngắn gọn, còn người đàn ông đó cũng cho chúng tôi biết tên mình. Ông ta là Frank Waboon.

    „Anh tôi thế nào?“, Jay hỏi, tôi cảm nhận được sự bấn loạn trong giọng nói của anh. Anh quay về phía người anh trai. Hình như Luke đã bất tỉnh. Gương mặt anh ta nhợt nhạt. Hai mắt nhắm nghiền, chìm trong hai hố mắt trũng sâu. Những giọt mồ hôi hiện ra lấm tấm trên trán Luke, mỗi khi Waboon nhấc chiếc khăn ra.

    „Tình hình có vẻ tệ lắm, chàng trai ạ.“

    „Tôi có Penicillin đây.“ Jay vội vàng mở balô, lôi chiếc hộp trữ lạnh ra. Trong nháy mắt anh đã cầm hộp thuốc trong tay. „Ông tiêm cho anh ấy đi, sau đó anh ấy sẽ khỏe lại.“

    Waboon lắc đầu.

    „Thế nghĩa là thế nào?“ Jay gần như thét lên. Trong mắt anh ánh lên cơn giận dữ pha lẫn sự hoảng loạn.

    „Có nghĩa là đã quá muộn rồi. Anh cậu sẽ chết.“

    „Không thể như thế được.“ Jay rên rỉ trong tuyệt vọng, cả thân hình như rũ xuống. „Tôi có penicillin đây mà. Nếu ông không chịu tiêm cho anh ấy thì tôi tự làm.“ Jay luống cuống mở hộp, lấy lọ thuốc ra.

    Nhưng người bác sỹ da đỏ đã đặt bàn tay lên cánh tay Jay và nói: „Anh cậu sẽ chết, chàng trai ạ, dù có penicillin hay không. Anh ta bị nhiễm trùng máu. Có lẽ anh ta đã được cứu nếu các cậu đưa anh ấy vào bệnh viện ngay từ khi những vệt đỏ này mới xuất hiện trên cánh tay. Bây giờ thì đã quá muộn rồi. Không ai có thể cứu anh ta được nữa. Để anh ấy đi đi, chàng trai ạ. Chất độc đã lan rộng trong máu, các cơ quan trong cơ thể đã bị tổn hại. Anh ta đang đau đớn lắm. Về cơ bản, anh cậu còn sống được đến lúc này là một điều kỳ diệu. Tôi nghĩ rằng, anh ấy chỉ muốn đợi cậu mà thôi.“

    Trong khoảnh khắc, dường như Jay muốn nhảy bổ vào Frank Waboon. Thế rồi đột nhiên Luke bắt đầu thở hổn hển và vật vã quằn quại. Chiếc chăn tuột khỏi thân hình ướt đẫm mồ hôi của anh ta. Hai mắt Luke mở trừng trừng, nhưng tôi biết, anh ta chẳng nhìn thấy gì cả. Gương mặt anh ta biến dạng trong cơn đau đớn tột cùng.

    Hơi thở tôi tắc lại trong cổ họng.

    Jay cúi xuống anh trai mình, cố gắng xoa dịu anh ta. „Em đây, Luke“, anh nói. „Em đang ở đây và đã mang penicillin về. Anh sẽ khỏe lại thôi, chỉ cần cố chịu đựng.“

    Luke ngồi bật dậy, miệng lắp bắp điều gì không rõ. Những đường gân trên cổ anh ta trồi lên, mái tóc dài dính bết vào thái dương như rong biển. Tôi nhìn thấy hai nách anh ta sưng vù, máu đọng thành từng mảng ở nhiều nơi trên cơ thể. Như bị tê liệt, tôi không thể rời mắt khỏi hai anh em họ, trong lòng cảm nhận sâu sắc nỗi tuyệt vọng của Jay. Anh trai anh sắp chết, còn Jay lại hoàn toàn bất lực. Cảm giác ấy khủng khiếp đến nhường nào!

    Trong dạ dày tôi như có một cục băng lạnh ngắt. Tôi chỉ muốn chạy khỏi đây để không phải chứng kiến cái chết của Luke thêm một giây nào nữa. Nhưng tôi vẫn đứng chết trân ra đó, không tài nào cử động được.

    Bằng cách nào đó, tôi biết rằng Jay vẫn ấp ủ một tia hy vọng cuối cùng. Anh muốn tiêm penicillin cho Luke, bằng bất cứ giá nào. Nhưng anh không thể làm vậy, vì anh phải đè chặt Luke xuống, còn Frank thì chẳng có vẻ gì là muốn giúp cả.

    „Cố lên“, Jay liên tục lặp lại. „Hãy cố chịu đựng, Luke, em đang ở đây.“

    Tôi có cảm giác, trận chiến kinh hoàng này sẽ không bao giờ chấm dứt. Tôi chỉ muốn bỏ chạy nhưng lại không dám. Bỗng nhiên Waboon đứng dậy, cẩn thận chạm vào vai tôi và gật đầu về phía cửa.

    „Đi thôi!“, ông ta nói, khi cảm nhận được sự lưỡng lự của tôi, „chúng ta hãy để họ một mình.“ Ông ta nhẹ nhàng đẩy tôi qua cửa lều ra ngoài.

    Ánh mặt trời rực rỡ khiến tôi chói mắt. Ban đầu, tôi không nhìn thấy ai ngoài lũ chó đang ngủ lim dim trong bóng râm. Khi nhận ra chúng tôi, chúng ngửng đầu lên một lúc rồi lại uể oải đặt mõm xuống cỏ.

    Những người đàn ông đang ngồi tranh luận dưới bóng mấy cái cây bên cạnh chiếc lều Tipi lớn. Frank đi về phía họ, tôi bám theo ông ta, vì chẳng biết nên đứng chỗ nào.

    Đằng sau bếp lửa, ai đó đã trồng một luống rau được rào lại bằng lưới để chống thú hoang. Luống rau đó trông có vẻ được chăm sóc cẩn thận. Tôi đảo mắt tìm Althea, người phụ nữ đảm nhận việc nấu ăn cho cánh đàn ông, nhưng chẳng thấy cô ta đâu.

    Không biết tôi kỳ vọng điều gì ở cô ta nữa. Một chút cảm thông chăng? Hay đơn giản là một người tôi có thể nói chuyện cùng.

    Đầu óc tôi đang rối bời. Tôi chưa từng thấy ai phải đau đớn như Luke. Anh ta cố gắng chống chọi, mặc dù thất bại là điều không thể tránh khỏi trong cuộc chiến này. Tôi chỉ có thể lờ mờ cảm nhận những cơn đau mà Luke phải trải qua. Cổ họng tôi như bị thít chặt, mắt rưng rưng muốn khóc. Không còn cuộc phiêu lưu kỳ thú nào nữa, mà là sự thật đắng cay. Một người đàn ông trẻ trung phải chết khổ sở, chỉ vì người ta không đưa anh ta vào bệnh viện kịp thời. Tôi chợt nhận ra, dù cho Jay có thông thuộc những cánh rừng đến thế nào đi chăng nữa, chúng vẫn có thể trở thành nơi hiểm ác, khiến anh một ngày nào đó phải trả giá bằng chính tính mạng của mình.

    Trong lòng hoảng loạn, tôi chỉ muốn chạy khỏi đây nhanh nhất có thể. Đó là suy nghĩ duy nhất thống trị trong tôi vào thời điểm này.

    Nhưng tôi không làm thế được, đi đâu bây giờ? Thay vào đó, tôi đành tập tễnh bám theo Frank Waboon, vì chẳng biết nên làm gì khác. Sau ông ta, tôi tiến đến nơi những người đàn ông đang tụ họp. Mồ hôi tôi vã ra như tắm, dù cục băng lạnh ngắt trong bụng vẫn còn. Ngay cả ở đây, trong bóng râm của những cái cây, không khí vẫn oi bức đến mức không thể thở được.

    Bốn đôi mắt sẫm màu tràn đầy hy vọng hướng về phía người bác sỹ, nhưng ông ta đã nhún vai. „Anh ta không qua khỏi đâu.“

    Đầu tiên là sự im lặng nặng nề giáng xuống, thế rồi bắt đầu có tiếng thì thầm, những ánh nhìn dò hỏi lướt qua tôi. Tôi đang đứng sát sau lưng Frank khi ông ta đột nhiên quay người lại. Hình như ông vừa mới nhận ra rằng, sự hiện diện của tôi hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những người kia, và tôi, vì lẽ đó, không được chào đón.

    „Cháu là bạn gái Jay à?“

    Tôi lắc đầu.

    „Tên cháu là gì?“

    „Jodie ạ.“ Miệng tôi khô khốc đến nỗi gần như không nói được thành tiếng.

    „Mặt cháu bị làm sao thế?“

    „Cháu… chúng cháu…“

    Reggie cắt ngang sự ngập ngừng của tôi. „Nếu không phải là bạn gái của Jay thì mày là ai, mày muốn gì ở đây?“

    Lưỡi dính vào vòm miệng, tôi không thốt ra được lời nào.

    Reggie thở mạnh ra. „Hay là để tao phải đoán nữa?“ Tư thế cứng nhắc của gã thể hiện rõ sự thù địch. „Một con ranh con da trắng ở trong trại, chỉ còn thiếu có thế nữa thôi.“ Gã nhổ toẹt xuống cỏ một cách khinh bỉ. „Một đứa như mày thì có cái quái gì mà tìm ở đây?“

    „Đừng có đùng đùng lên thế, Reggie“, Henry, ông già có hai bím tóc mỏng, nói chen vào. Trong mắt tôi, ông ta có vẻ thân thiện và điềm tĩnh. „Cô bé này đang sợ chết khiếp rồi. Tôi chắc chắn rằng Jay có lý do để mang cô bé theo.“

    Ngạc nhiên vì có người nói đỡ cho mình, tôi nhìn trân trối về phía chiếc lều Tipi với hy vọng Jay sẽ bước ra và giải thích mọi chuyện với những người này. Nhưng dĩ nhiên là anh không xuất hiện. Có lẽ anh đã tiêm Penicillin cho Luke rồi chăng? Biết đâu người bác sỹ đã nhầm và Luke vẫn còn hy vọng?

    „Ngồi xuống đi“, Frank nói và ấn tôi xuống một gốc cây bị cưa ngang. Tôi ngồi thu lu ở đó, vai so lên đến tận cằm, hai bàn tay kẹp giữa hai đùi, cảm thấy khổ sở không sao tả xiết. Mồ hôi chảy ròng ròng khiến áo phông dính bết vào da nhưng tôi không dám cởi chiếc áo khoác nỉ màu đen của Jay ra vì bên dưới nó, bụng tôi đang thòi ra đến một nửa.

    Người đàn ông đã đón chúng tôi ở bờ hồ cúi người về phía trước. Tôi nhớ tên anh ta: Eric. „Nói đi nào.“ Anh ta gật đầu khích lệ tôi. „Chúng tôi không phải là phường mọi rợ, mặc dù chúng tôi có thể trông giống như thế.“

    Anh chàng da đỏ trẻ tuổi toét miệng cười, nhưng hình như Reggie không thấy có gì là thú vị. Gã ném cho Mike một cái nhìn dữ tợn.

    „Nhanh lên“, gã nói với tôi. „Chúng ta không rảnh rang cả ngày đâu.“

    Cuối cùng tôi cũng nói được. Bằng giọng nhỏ đến mức gần như không nghe thấy, tôi kể với những người đàn ông rằng mình đã bỏ nhà ra đi. Tôi giải thích rằng Jay đã cứu tôi thoát khỏi tên lái xe tải khốn kiếp, rằng anh đã mang tôi theo vì không có đủ thời gian đưa tôi quay lại thành phố. Tôi cũng thuật lại cho họ cuộc chạm trán với con gấu khiến Jay bị thương ở cánh tay.

    Reggie và ba người còn lại chăm chú nghe từng lời thoát ra từ miệng tôi. Frank chỉ tỏ ra chú ý khi tôi kể đến đoạn Jay bị thương, nhưng ông ta không ngắt lời tôi. Sau khi tôi kết thúc bài tường thuật, bốn người bọn họ trao đổi với nhau những cái nhìn khó hiểu. Tôi cảm thấy mình như một kẻ đang bị kết tội, mặc dù chẳng biết mình đã làm gì sai.

    „Jay nói rằng anh ấy sẽ đưa tôi quay lại khi Luke đã khỏe hơn“, tôi bướng bỉnh nói.

    Những người đàn ông nhìn tôi một cách kỳ quặc. Ánh mắt tôi lướt qua những gương mặt sạm màu, và tôi nhận thấy sự chối bỏ. Họ không muốn tôi có mặt ở đây, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng họ cũng không thể lên án tôi, vì tôi đâu có tự ý lần mò đến đây cơ chứ. Về việc đó, tôi hy vọng mình đã giải thích đủ rõ ràng.

    „Tốt nhất là hai đứa tụi bây lên đường ngay lập tức“, Reggie nói. „Có thể ngay ngày mai Luke sẽ khỏe hơn và không cần em trai cậu ta bên cạnh nữa.“ Độc tính trong giọng nói của gã khiến tôi rùng mình.

    Ka-ma-chee. Yên nào.“ Eric nhắc nhở Reggie bằng ánh mắt nghiêm khắc. „Cô gái này đi khập khiễng, nếu như cậu còn chưa nhận ra. Để Frank khám chân cho cô ta đã. Có thể cô ta sẽ cần nghỉ ngơi vài ngày.“

    „Vài ngày là thế nào?“, Reggie nổi khùng, đôi mắt đen của gã lóe lên giận dữ.

    „Hay là chúng ta đợi đến khi Robert về“, Mike gợi ý. Đó là lần đầu tiên anh ta cất lời.

    „Ừ, hãy đợi đến khi Robert về“, Henry quyết định. „Tôi tin chắc rằng anh ra sẽ tìm ra một giải pháp hợp lý cho vấn đề này.“

    Đó là một lời kết rõ ràng của người cao tuổi nhất, những người còn lại cũng tỏ ra hài lòng. Tôi thì vẫn tự hỏi, giải pháp cho vấn đề theo ý họ nghĩa là gì, vì vấn đề ấy chính là tôi đây chứ ai.

    Tại sao họ lại bị kích động đến vậy, chỉ vì một con ranh con da trắng, theo như lời Reggie, xuất hiện trong trại săn? Chỉ đi săn thôi thì đâu có gì là phạm pháp. Người đa đỏ được phép săn bắn quanh năm, điều này thì ngay cả tôi cũng biết.

    Trong tôi dần dần xuất hiện mối hồ nghi, rằng Penicillin trong balô của Jay không phải là điều bí mật duy nhất, rằng anh còn giấu tôi điều gì đó rất quan trọng có liên quan đến khu trại này và những thành viên của nó. Biết đâu những người này chính là dân buôn lậu thuốc lá, và họ đang sợ rằng nơi cất giấu bí mật của họ sẽ vì tôi mà bị bại lộ.

    Ý nghĩ rằng mình đang lọt vào hang ổ tội phạm không giúp tôi giải quyết tình huống này dễ dàng hơn tí nào. Tôi không chạy đi đâu được, khu trại nằm cách xa thế giới văn minh hàng dặm, còn tôi thì còn lâu mới tự tìm được đường về.

    Tôi đang lệ thuộc hoàn toàn vào việc Jay đưa tôi quay lại Smooth Rock Falls. Từ đó tôi có thể bắt xe buýt về nhà. Câu hỏi duy nhất là: Khi nào anh sẽ đưa tôi đi, và từ giờ đến lúc đó còn có chuyện gì xảy ra nữa không?


    Những người đàn ông lần lượt đứng dậy và rời khỏi bóng râm. Chỉ Frank Waboon là ở lại.

    „Đừng giận họ“, người bác sỹ da đỏ ôn tồn nói. „Việc cậu bé mang cháu theo khiến họ hoàn toàn bị bất ngờ. Họ không biết nên thể hiện thái độ nào trong tình huống này. Ngoài ra, những người này không quen đối xử với các cô gái trẻ.“

    Tôi ngửng đầu và nhìn thẳng vào gương mặt cởi mở, thân thiện của người đàn ông.

    Tôi nhận ra rằng, Frank có một giọng nói rất dễ chịu khiến người ta thích nghe. Những lời ông nói có vẻ thành thật, và tôi cho rằng, ông cũng chẳng biết gì nếu như trong trại quả thực có điều gì khuất tất. Dù sao thì Frank cũng chỉ là một vị khách. Nhưng khác với tôi, ông là người da đỏ, và những người trong trại này có lẽ chẳng phải đóng kịch với ông ấy làm gì.

    „Họ ghét cháu vì cháu là người da trắng“, tôi nói.

    „Họ không ghét cháu đâu“, Frank đáp lời. „Nhưng chính người da trắng đã đốn cây trong những khu rừng nơi họ săn bắn. Rừng và những cuộc săn là cuộc sống của họ. Rất có thể họ sẽ phản ứng quá khích khi một gương mặt trắng trẻo xuất hiện trong trại của mình. Mặc dù…“, ông ta vươn tay ra, nắm lấy cằm tôi và nhẹ nhàng xoay đầu tôi qua lại. „Nói là trắng trẻo thì cũng chẳng phải.“ Ông tủm tỉm cười. „Cháu bị mặt trời nướng chín rồi.“

    „Chúng cháu ở trên mặt nước suốt“, tôi giải thích. „Lúc đầu cháu chưa có mũ đội.“

    Ông gật đầu. „Bác sẽ cho cháu thứ gì đó để bôi. Còn bây giờ để bác khám chân đã nhé.“

    Tôi tháo giày và tất ra, một mùi khó chịu bốc lên. Nhưng Frank chẳng bận tâm.

    Ông quỳ gối trên cỏ trước mặt tôi và sờ nắn mắt cá chân sưng phồng của tôi. Mặc dù ông rất cẩn thận, tôi vẫn thấy đau. Đó là những động tác chuyên nghiệp của một bác sỹ giàu kinh nghiệm, và tôi hỏi, điều gì đã khiến ông lạc vào nơi khỉ ho cò gáy này vậy.

    Ông kể rằng mình làm việc trong một bệnh viện ở Timmins và đã xin nghỉ hai tháng để tìm hiểu một vài điều ở nơi rừng núi hoang dã. Ngẫu nhiên ông đặt chân đến khu trại này, và đã lưu lại đây vì Luke.

    Frank cẩn thận đặt chân tôi xuống cỏ. „Chuyện này xảy ra như thế nào vậy?“

    „Cháu bị mắc chân vào rễ cây.“

    „Khi nào vậy?“

    „Hai hôm trước. Khi cháu bỏ chạy khỏi con gấu.“ Có thật là mới chỉ hai ngày trước không? Thật không thể tin nổi.

    Frank chẩn đoán tôi bị bong gân. „May là chỉ bị bong nhẹ thôi, không thì cháu đã chẳng đi được nữa rồi. Vì cháu tiếp tục cử động nên bị tụ máu. Như Eric đã nói, tốt nhất là cháu nên để cho mắt cá chân nghỉ ngơi một thời gian.“

    „Bao lâu ạ?“

    „Ít ra phải một tuần. Đến khi đó, cục máu bầm sẽ tan và cháu sẽ thấy đỡ đau hơn.“

    Một tuần là một khoảng thời gian dài khi phải ở cùng những người không chào đón mình. Jay chắc cũng chẳng sung sướng gì. Tôi cho rằng anh cũng muốn tống khứ tôi đi càng sớm càng tốt. Y như cái gã Reggie máu nóng kia và cả những người khác nữa.

    „Cháu cần dùng nạng để bàn chân được giảm bớt gánh nặng.“

    „Nạng ạ?“

    Frank gật đầu và mỉm cười. „Bác sẽ xem có làm được không. Còn Jay thì thế nào? Con gấu có làm cậu ta bị thương nặng lắm không?“

    „Anh ấy bảo là nó chỉ đánh dọa thôi. Nhưng tay anh ấy trông ghê lắm. Cháu đã băng lại rồi.“

    „Móng vuốt gấu nhiều mầm bệnh lắm“, Waboon lo lắng nói. „Bác nghĩ rằng cần phải khám vết thương càng sớm càng tốt.“

    Trong khoảnh khắc đó, một tiếng thét rợn tóc gáy phát ra từ lều của Jay, kéo dài và đầy thống khổ, khiến toàn cơ thể tôi co rúm lại một cách đau đớn. Sau đó là im lặng. Đến một tiếng chim cũng không còn. Tiếng thét dường như đang lơ lửng trong không trung, giữ cho thời gian ngừng trôi trong giây lát.

    Tôi bật dậy, ngang qua Waboon, loáng thoáng nghe thấy ông nói gì đó như „Đừng đi“, và tập tễnh bước nhanh nhất có thể về phía lều Tipi của Jay. Tôi hơi do dự một giây vì tiếng nức nở phát ra từ bên trong lều khiến tôi sợ. Nhưng rồi tôi lấy hết can đảm và chui vào lỗ cửa.


    Jay ngồi trên sàn, ghì chặt người anh trai vào lòng, gương mặt nhăn nhúm vì đau khổ. Luke không cử động nữa. Trái tim anh ta đã ngừng đập. Anh ta đã chết.
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/15
  19. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 11

    Trong một số trường hợp, bạn cảm nhận rõ ràng nỗi đau khổ của người khác như thể nó thuộc về chính bạn vậy. Đó chính là hoàn cảnh của tôi bây giờ. Tôi nhìn Jay đầy cảm thông, đồng thời cũng nhận biết một cách rất bản năng rằng sự hiện diện của mình ở đây là thừa thãi. Tôi chẳng làm được gì cả, nói chi đến giúp Jay. Tôi chỉ làm phiền mà thôi.

    Tôi rón rén bước trên những đầu ngón chân ra bên ngoài, để Jay ở lại một mình với anh trai. Khi Frank Waboon nhìn tôi dò hỏi, tôi chỉ lắc đầu. Ông đi ngang qua tôi vào trong lều, còn tôi ngồi xuống một hòn đá bên cạnh đống lửa. Những người đàn ông khác nhìn về phía tôi, nhưng không ai nhúc nhích. Họ để tôi được yên.

    Một lúc lâu sau, từ trong Tipi bỗng vọng ra những tiếng thì thào, rồi đột nhiên Jay loạng choạng lao ra, trông thật đáng sợ với gương mặt bôi đen xì. Anh bước đi xiêu vẹo ngang qua bãi cỏ mà chẳng thèm để ý đến tôi.

    Một lát sau, Frank bước ra.

    „Không phải một cái chết đẹp“, ông nói. „Nhưng giờ đây cậu ấy đã được giải thoát khỏi những đau đớn rồi.“

    Tôi đưa mắt về phía Jay, anh đã đặt mình ngồi xuống một thân cây đổ nằm bên bìa rừng. Waboon cũng nhìn theo.

    „Ngay cả khi không phải là thời điểm thích hợp“, ông nói, „bác phải xem vết thương của Jay.“


    Frank đi về phía Jay, người đang ngồi ủ rũ trên thân cây bạc phếch, nhìn đăm đăm xuống cỏ bằng ánh mắt trống rỗng. Tôi tập tễnh theo sau.

    Khi đã lại gần, tôi nhận ra màu đen trên mặt Jay chính là than củi. Mớ tóc bên phải của anh bị cắt mất gần hai mươi phân, chỉ còn chấm ngang vai. Trông anh thật kinh khủng.

    Tôi ngồi xuống cách Jay một quãng nhỏ, Frank cũng làm vậy.

    „Ổn cả chứ?“, Waboon hỏi.

    Jay ngửng đầu, trên gương mặt bôi đen ngoằn ngoèo những vệt trắng do nước mắt để lại. Mắt anh đỏ mọng, không còn vẻ tinh anh vốn có. „Ổn cả chứ?“ Anh nhắm chặt hai mắt. „Chẳng có cái gì ổn cả. Anh tôi chết rồi. Anh ấy là người thân duy nhất còn lại của tôi.“

    Frank lặng đi một hồi.

    Một lúc sau, người bác sỹ hắng giọng và nói: „Đừng tự trách mình, chàng trai ạ. Cậu đã làm tất cả những gì có thể rồi.“

    Jay lắc đầu. „Hỏng hết cả. Tôi về quá muộn.“

    „Không, Jay ạ. Kể cả có về sớm đến ba ngày thì cũng chẳng cứu được anh trai cậu. Hệ miễn dịch của anh ta đã hoàn toàn suy sụp. Chỉ nhờ vào ý chí mạnh mẽ anh ta mới cầm cự được lâu đến thế.“

    „Nhẽ ra anh ấy phải được đưa vào bệnh viện, chính ông đã nói thế mà.“ Hai bàn tay Jay thu lại thành hai nắm đấm khiến những khớp xương màu trắng trồi hẳn lên. „Nhẽ ra tôi không được nghe lời anh ấy. Nếu làm thế, có thể anh ấy đã bị người ta tống vào tù nhưng một lúc nào đó lại được thả ra thôi.“

    „Anh cậu đã dùng ma túy, Jay, nên hệ miễn dịch của anh ta quá yếu để chống chọi với vi trùng. Anh ta chết vì hậu quả của ma túy chứ không phải vì cậu mang Penicillin về quá muộn.“

    „Anh tôi đã cai nghiện rồi“, Jay gần như hét lên. „Hơn một năm nay anh ấy đã cai nghiện thành công. Kể từ khi ở lại trại này, anh ấy không động đến ma túy nữa. Anh ấy đã làm được.“

    Frank đặt một bàn tay lên vai Jay nhưng anh vùng ra.

    „Có thể anh cậu không dùng ma túy nữa thật, nhưng chúng đã khiến cơ thể anh ta suy yếu rồi. Anh ta không còn đủ sức chống chọi bệnh tật nữa.“

    „Anh ấy không muốn chết.“ Giọng Jay nghe ai oán đến mức tôi nổi da gà.

    „Chắc chắn là như vậy“, Frank trả lời. „Nhưng khi vẫn còn tỉnh táo, anh ta đã nói với tôi rằng thà chết còn hơn là đi tù. Giờ thì anh ta đã được tự do. Nghe thì có vẻ đáng sợ, tôi biết. Nhưng cậu phải học cách sống với suy nghĩ ấy.“

    „Anh tôi chết rồi, quỷ tha ma bắt.“

    Tôi nghe tiếng Jay nức nở liền quay mặt đi. Chắc chắn anh không muốn bị một nkẻ như tôi nhìn thấy khi đang khóc. Tất cả đã trở thành cơn ác mộng: xác chết của Luke trong lều Tipi, Jay với gương mặt bôi đen và mớ tóc bị cắt cụt, những người đàn ông, khu trại.

    Waboon vẫn không nao núng. „Jodie đã kể rằng cậu bị một con gấu tấn công và làm bị thương.“

    „Không nghiêm trọng.“

    „Cô bé lại nói khác đấy.“

    Ánh mắt Jay lướt nhanh qua tôi. „Thì sao? Tôi chịu được.“

    „Tôi không nghi ngờ điều đó“, Frank dịu dàng trả lời. „Nhưng tôi vẫn muốn khám vết thương cho cậu.“

    „Để làm gì? Anh trai tôi ông cũng có giúp được đâu.“

    Tôi lấy làm ngạc nhiên vì Frank vẫn rất điềm tĩnh. „Đúng, tôi đã không giúp được anh ta. Làm sao được khi không có kháng sinh và thuốc men hiện đại. Nhưng có lẽ tôi sẽ giúp được cậu. Chúng ta đã có Penicillin đây rồi.“

    „Tôi thấy khỏe.“

    „Ừ, hiện giờ là như vậy.“ Giọng Frank đã không còn dịu dàng như trước. „Nhưng biết đâu những vệt đỏ đã bắt đầu chạy về hướng tim cậu. Cậu đã nhìn thấy anh trai cậu chết thế nào rồi đấy. Cậu có muốn cũng lìa bỏ cuộc đời một cách đau đớn như vậy không?“

    Tôi nhận thấy Jay đã định gật đầu. Nhưng cuối cùng anh cũng vùng vằng giật chiếc áo phông ra, khiến chiếc túi da nhỏ đung đưa dữ dội trước bộ ngực trần. Với mái tóc rối bù và đôi mắt trắng nổi bần bật trên gương mặt bôi than đen xì, trông anh hệt như một con ma.

    Anh giơ cánh tay ra cho Frank. Người bác sỹ da đỏ tháo lớp băng đã ngả màu ra và kiểm tra vết thương. Trên bốn vết cào chạy song song đã đóng một lớp vảy đen. Frank đưa mũi ngửi.

    „Giơ hai tay lên“, ông yêu cầu.

    Jay đưa hai cánh tay lên, ngoan ngoãn một cách đáng ngạc nhiên. Frank sờ nắn hai bên nách Jay. Cuối cùng gương mặt ông cũng trở nên nhẹ nhõm. „Có vẻ ổn cả“, ông nói như vừa trút bỏ được gánh nặng,. „Vết thương lành rất tốt. Cậu gặp may đấy.“

    Jay buông hai tay xuống. „Xong chưa?“

    „Còn phải băng vết thương lại nữa.“

    „Không cần đâu.“

    „Tùy cậu thôi.“

    Jay đứng dậy, mặc lại áo phông lên người.

    „Nếu cậu cần giúp …“, Frank nhún vai.


    Suốt từ nãy đến giờ Jay coi tôi chẳng khác gì cục đá hay cái cây, ngay cả bây giờ anh cũng bước ngang qua luôn, làm như tôi không có ở đó. Tôi có thể cảm nhận được mọi chuyện đối với anh kinh khủng đến nhường nào, nhưng có nhất thiết phải lờ hẳn tôi đi như thế không? Jay phải hiểu rằng tôi đang hoàn toàn lệ thuộc vào anh và không có sự che chở của anh, tôi cảm thấy bơ vơ vô cùng.

    Trong lúc này, không có gì tôi mong muốn hơn là được xoa dịu nỗi đau của Jay, nếu như anh cho phép. Tôi muốn được an ủi anh. Nhưng anh lại chẳng muốn dính dáng gì đến tôi cả. Tất cả những gì từng xảy ra giữa chúng tôi trên đường đến trại dường như đã đột ngột bị xóa sạch bởi nỗi đau quá lớn của Jay, thứ đang lấn át tất cả những cảm xúc khác. Tôi đành ngồi đó với đôi vai rũ xuống và nhìn theo anh.

    „Cháu hãy cho cậu ấy thời gian“, Frank nói. „Cậu ta sẽ vượt qua được thôi, nhưng cần một khoảng thời gian. Eric kể với bác rằng bố mẹ Jay đã qua đời cách đây vài năm. Anh trai đã nuôi dưỡng cậu ta. Giờ thì Jay chẳng còn ai cả. Trước tiên cậu ta phải vượt qua được điều đó.“

    Tôi gật đầu, làm ra vẻ đã hiểu những gì Frank nói, nhưng thực ra thì tôi chẳng hiểu tí gì. Tôi mệt rũ rượi, người lả đi vì đói, cảnh vật xung quanh quay mòng mòng. Tôi có cảm giác bị rơi vào một xoáy nước đang lạnh lùng hút tôi xuống đáy sâu. Chỉ có điều, trong thực tế thì tôi vẫn ngồi chết dí một chỗ.

    „Cháu không thể làm gì cho anh ấy ư?“, tôi buồn bã hỏi.

    „Có chứ. Trong lều Tipi có dụng cụ băng bó. Tốt nhất là cháu băng cánh tay cho Jay để vết thương không bị bẩn. Có thể cậu ta không từ chối cháu như bác.“


    Tôi tập tễnh quay lại lều Tipi và dừng lại trước cửa. „Jay“, tôi khẽ gọi.

    Anh không trả lời tôi. Có đợi thêm nữa chắc cũng chẳng ích gì. Cho dù không mong ngóng được gặp lại Luke cho lắm, tôi vẫn chui vào lỗ cửa.

    Jay ngồi bất động bên cạnh người anh trai đã chết. Ai đó đã vuốt mắt cho Luke, lúc này trông anh ta thật thanh thản. Bây giờ tôi mới nhận ra sự giống nhau giữa hai anh em. Cũng đôi môi mọng, vầng trán cao và đôi mắt cách xa nhau. Cơ thể của Luke nằm dưới một tấm chăn len đỏ kéo lên đến tận cổ.

    Jay nhìn đăm đăm vào đống tro lạnh trong bếp như thể trong đó có thứ gì có thể giúp được anh. Tôi quỳ xuống bên cạnh Jay, cố đè nén mong muốn được ôm anh vào lòng. Chắc chắn anh sẽ không để tôi làm như vậy.

    Một bức tường vô hình lạnh lẽo đang bao bọc lấy Jay. Tôi thấy ớn lạnh, mặc dù không khí trong lều khá nóng và bức bối. Nhưng anh càng cố tránh xa tôi ra bao nhiêu, tôi càng cảm thấy gần gũi với anh bấy nhiêu. Những cảm xúc tôi có với anh không thể bị đè nén được nữa. Jay đã chiếm giữ một vị trí trong tâm hồn tôi. Tôi đang chịu đựng nỗi đau cùng anh, mặc dù tôi biết rằng anh không cần sự thông cảm đó.

    Khi những giọng đàn ông tiến lại gần lều, Tôi bò sang phía bên kia bếp lửa, áp lưng vào vách lều và cố thu mình lại nhỏ nhất có thể.

    Ông già Henry bước vào đầu tiên, trong tay cầm một cái tẩu được trang trí. Lúc này ông ta mặc một bộ quần áo bằng da mềm, chiếc áo da có tua rua được thêu rất nghệ thuật với những hạt cườm thủy tinh nhiều màu và họa tiết hoa lá. Thứ phục trang này trước kia tôi chỉ thấy trong bảo tàng. Khi ông ta hự một tiếng và quỳ xuống bên cạnh người chết, những đốt xương già nua kêu lên răng rắc.

    Sau đó, Reggie, Mike và Eric lần lượt bước vào, ngồi xếp bằng trên những tấm lông thú và chăn trải trên mặt đất. Reggie hất đầu về phía tôi và nói gì đó bằng tiếng Cree nghe có vẻ bực dọc. Chắc là hắn ta không muốn tôi có mặt trong nghi thức sắp sửa diễn ra tại chiếc lều Tipi này. Tôi nín thở.

    Jay ngước mắt lên và nói một tiếng duy nhất bằng giọng đanh gọn: „Pastahowin.“ Kể từ lúc đó, tất cả mọi người đều làm như tôi không hề có mặt ở đây.

    Henry – hình như là thầy cúng của trại – châm lửa đốt một bó ngải và bắt đầu xông khói thi thể của Luke, tay trái rung một cái lục lạc bằng mai rùa. Suốt buổi lễ, ông ta như chìm đắm trong một bài hát đơn điệu, thỉnh thoảng dừng lại đột ngột, sau đó lại ngâm nga từ đầu.

    Lúc đầu, tôi vẫn không dám thở, toàn thân cứng đờ, lưng ép sát vào vách lều. Nhưng lời ca nhịp nhàng và âm thanh lặp đi lặp lại của cái lục lạc vừa thần bí lại vừa khiến tôi cảm thấy thư thái. Trong khói thơm của thảo mộc, những suy nghĩ của tôi dần dần trượt khỏi Jay, người anh trai đã chết của anh và những người đàn ông mà tôi không biết họ đang toan tính những gì.

    Tôi nghĩ đến Tim, giờ này chắc anh đang phát điên lên. Sẽ ra sao, nếu như anh gọi cho bố mẹ tôi và kể rằng tôi đã lên đường đến thăm anh nhưng không bao giờ tới nơi? Chắc chắn bố mẹ sẽ nhờ cảnh sát tìm tôi ngay. Tôi cố gắng tưởng tượng ra họ đang lo lắng thế nào nhưng không được. Tất cả đã trở nên quá xa xôi, cách biệt với những gì đang xảy ra ở đây.

    Ông thầy cúng nhét thuốc lá vào tẩu và châm lửa. Đầu tiên ông ta giơ cái tẩu về hướng Đông (ít ra thì tôi đoán đó là hướng Đông), hút một hơi và thổi ra một làn khói nhỏ. Sau đó cái tẩu được chuyền đi một vòng; cùng lúc đó, những lời cầu nguyện được lặp lại và mọi người đồng thanh kêu một tiếng „Hoo“ như để xác nhận.

    Tôi quan sát những người đàn ông, trong lòng mừng thầm vì họ dường như đã quên mất sự có mặt của mình. Pastahowin chính là câu thần chú. Một lúc nào đó, nhất định tôi phải hỏi Jay từ đó có nghĩa là gì mới được.


    Khi Henry khép lại buổi lễ, dường như hàng thế kỷ đã trôi qua. Những người đàn ông quấn thi thể vào tấm chăn đỏ và mang ra ngoài. Chỉ Jay và ông già Henry là ở lại. Dĩ nhiên là cả tôi nữa. Trong lúc đó, hai chân tôi đã tê dại. Khi tôi cử động, cảm giác râm ran dội lên như có hàng trăm con kiến hành quân trong mạch máu.

    Ông già bắt đầu xông khói những tấm lông thú, nơi thi thể Luke đã nằm. Sau đó ông ta đứng dậy, dùng một chiếc lông đại bàng xua khói đến từng ngóc ngách trong lều. Tôi cũng bị ông ta quạt khói hắc vào mặt. Hai mắt cay xè, tôi ho sặc sụa. Sau đó Henry biến mất. Ông ta để lại một sự yên tĩnh đáng sợ.

    Dù Jay chỉ đang ngồi cách xa tôi hơn ba mét một tí, tôi vẫn có cảm giác khoảng cách giữa hai chúng tôi phải đến hàng năm ánh sáng. Tôi cố gắng dùng thần giao cách cảm để chạm tới anh, khiến anh cảm thấy tôi đang hiện diện. Thất bại hoàn toàn. Dường như đối với anh, mọi vật xung quanh đều không tồn tại.

    Một lúc nào đó, Jay khó nhọc đứng dậy và rời khỏi lều. Tôi đi theo vì sợ anh bỏ tôi lại một mình. Trên một cái thùng gỗ trước lối vào, tôi nhìn thấy mấy cuộn băng vải mà Frank đã nhắc đến. Tôi nhét hai cuộn vào túi quần và bước ra ngoài.


    Mặt trời đã xuống thấp nhưng trời vẫn nóng hầm hập. Tôi đồ rằng Luke sẽ được chôn cất nhanh nhất có thể. Tôi cũng tự hỏi, người da đỏ bộ lạc Cree mai táng người chết như thế nào. Họ sẽ hỏa thiêu Luke hay buộc anh ta vào một cái giàn gá trên thân cây như ta thỉnh thoảng vẫn thấy trong phim ảnh?

    Tôi đang bám chặt vào chiếc cọc phơi trước lều Tipi của Jay khi Frank Waboon tiến đến gần, trong tay cầm hai cái chạc cây, theo sau là con chó con lông xám. Hai khúc cây kia chắc là đôi nạng mà ông đã hứa sẽ làm cho tôi. Có lẽ ông đã đi tìm những cành cây thích hợp trong thời gian nghi lễ trong lều diễn ra.

    Khi đến bên cạnh tôi, ông đưa hai chạc cây ra. „Đây. Thử xem có dùng được không.“

    Con chó con, rõ ràng có mang dòng máu chó sói trong mình, vừa nhảy nhót quanh tôi vừa sủa. „Mikik“, Frank nói và cúi xuống dỗ dành chú nhóc. Nó rên lên ư ử khi được vuốt ve.

    Tôi kẹp hai chạc cây vào nách và chống bàn tay lên hai nhánh cây chìa ra vừa vặn với chiều dài cánh tay tôi. Hoàn hảo. Với sự trợ giúp của đôi nạng, tôi có thể di chuyển một cách không đau đớn và để mắt cá chân được nghỉ ngơi.

    „Cảm ơn bác“, tôi nói. Mặc dù cây cối ở đây có thừa nhưng để tìm được những cành cây thích hợp chắc chắn vẫn tốn không ít công sức. Chúng phải đủ cứng để không bị gãy nhưng vẫn không được quá nặng đối với tôi. Ngoài ra còn cần có một chạc cây ở một đầu và một nhánh mọc đúng chỗ để nắm tay vào. Tôi nhìn người đàn ông đầy ngưỡng mộ.

    Frank cười. „Cháu gặp may đấy, vì bác là một cao thủ làm nạng. Khi còn trẻ, bác thường xuyên phải chế tạo dụng cụ hỗ trợ cho những người làng có vấn đề đi lại. Cháu thấy đấy, tay nghề của bác không kém đi chút nào.“

    Ông còn đưa cho tôi một cái túi da nhỏ đã cũ. Bên trong túi là một cái hộp nhỏ chứa một thứ thuốc mỡ đo đỏ thơm mùi trái cây.

    „Cái này là để cháu bôi lên mặt. Và từ nay về sau cứ gọi bác là bác Frank nhé.“

    Tôi gật đầu cảm kích. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy Jay tay cầm một chiếc xẻng bước phăm phăm về phía bìa rừng. Tôi vội vàng nhét chiếc hộp nhỏ vào túi quần, chụp lấy đôi nạng và đi theo anh.

    Mikik chạy theo tôi, nhảy nhót tưng bừng trên những bàn chân vụng về. Nó đang muốn chơi đùa, nhưng tôi không có thời gian. Sau một lúc, tôi đã dần quen với đôi nạng và có thể di chuyển nhanh nhẹn hơn. Jay đi dọc theo một con đường mòn dẫn từ trại vào rừng về hướng Bắc, nhanh đến mức tôi không tài nào theo kịp. Chắc chắn anh không muốn nói chuyện, nhưng ít ra anh cũng chấp nhận sự có mặt của tôi.

    Mikik dừng lại sủa bên bìa rừng. Chắc là nó không dám đi tiếp.

    Khoảng mười lăm phút sau, Jay đột nhiên đứng lại. Tôi tiến đến cách anh vài mét và ngó quanh. Anh đang đứng trước hai gò đá dài, trên mỗi gò cắm một cành cây, trên những nhánh cây bạc phếch treo nhiều dải vải màu sắc và túi đựng thuốc lá nho nhỏ. Đó là hai ngôi mộ. Chúng tôi đang đứng trên khu mai táng của trại. Đây cũng sẽ là nơi an nghỉ cuối cùng của anh trai Jay.

    Đó là một mảnh đất yên bình được bao bọc bởi những cây tỏa bóng mát. Gần đó có một dòng suối nhỏ, những tảng đá đầy rêu nằm dọc hai bên bờ. Làn nước trong suốt như thủy tinh vỗ vào những viên sỏi đủ màu, tạo nên những âm thanh róc rách vui tai. Ở một chỗ, nước đọng lại trong một tảng đá lớn như một bồn chứa. Tôi hăm hở chống nạng đến đó và uống thỏa thích, tôi còn vốc nước lên làm mát đôi má nóng bừng và đôi môi nứt nẻ. Sau đó tôi ngồi xuống một tảng đá bên dưới một cái cây và đợi xem những gì sẽ xảy ra tiếp theo.

    Cách hai ngôi mộ kia một đoạn, Jay đâm xẻng xuống đất và bắt đầu đào. Tôi tự hỏi ai đang nằm dưới những gò đá đó, và họ đã ở đó bao lâu rồi. Những dải vải trên một gò mộ đã bị nắng mưa làm cho bạc phếch, trong khi những dải của ngôi mộ còn lại vẫn rực lên những màu sắc mạnh mẽ: đỏ, vàng, xanh và đen. Chắc là một thành viên nào đó của trại vừa mới qua đời cách đây không lâu.

    Trong đầu tôi đã lại chất đầy những câu hỏi, nhưng chừng nào Jay còn không muốn nói chuyện thì tôi không biết ai sẽ trả lời chúng. Frank thật tốt bụng, nhưng cũng chỉ là người lạ trong trại giống như tôi. Bác ấy nhất định không biết rất nhiều thứ.

    Tôi vẫn thầm hy vọng vào người phụ nữ tên Althea. Nhưng cô ta đang ở đâu? Và cả cái ông Robert mà Jay từng nhắc đến nữa?

    Tôi lấy chiếc hộp Frank đã cho tôi ra và thoa thứ thuốc mỡ đựng trong đó lên mặt và môi. Da tôi dịu lại ngay lập tức, môi cũng trở nên mềm mại. Ngay cả những con muỗi tham lam nhất cũng đột ngột tránh xa tôi ra. Chắc chắn là do tác dụng của thuốc mỡ. Tôi xua đám côn trùng phiền phức ấy đi và đưa tay rứt một cọng cỏ.

    Bỗng nhiên bụng tôi lại réo ầm lên. Tôi có cảm giác cái dạ dày rỗng tuếch đang bị co kéo dữ dội. Nãy giờ tôi đã gần như quên mất cơn đói, chắc là vì những cảm xúc khác quá mạnh mẽ. Thế mà giờ đây, hình ảnh những món ăn ngon bắt đầu hiện ra, nhảy múa trước mắt tôi khiến nước bọt tứa ra ào ào trong miệng.

    Nhưng ngay lập tức, tôi cảm thấy xấu hổ. Làm sao tôi có thể nghĩ đến chuyện ăn uống trong khi ai đó đang đào một huyệt mộ ngay trước mặt mình? Jay làm việc như điên. Anh đã cởi chiếc áo phông ra, để lộ làn da nâu bóng loáng mồ hôi. Mặt trời rọi thẳng vào những ngôi mộ. Tôi tự hỏi, làm sao mà Jay chịu được, trong khi ngay cả ở đây, dưới bóng cây, không khí vẫn vô cùng nóng bức.

    Thỉnh thoảng Jay nghỉ tay, trèo ra khỏi huyệt, quỳ xuống bên suối uống nước. Sau đó anh lại hùng hục đào, không thèm liếc về phía tôi lấy một lần.

    Trong khi đó, tôi dần cảm thấy mình đã trở thành một phần của khu rừng, giống như bị bén rễ vào tảng đá tôi đang ngồi lên vậy. Nhưng tôi biết làm gì bây giờ? Tôi không giúp được Jay. Dù vậy tôi vẫn thích ở đây bên cạnh anh hơn là ở trong trại, nơi tôi cảm thấy lạc lõng hơn rất nhiều.

    Trong khi quan sát Jay (tôi có thể nhìn thoải mái vì anh chẳng thèm để ý đến tôi), tôi nhận ra rằng, công việc lao động chân tay nặng nhọc này hóa ra lại có ích. Jay có thể trút sự giận dữ và đau khổ từ trong anh vào lòng đất, vào những tảng đá và rễ cây chắn ngang mũi xẻng.

    Không biết vì lao động nặng nhọc hay là vì bị va vào rễ cây lúc đang đào mà vết thương để trần của Jay lại bắt đầu chảy máu. Những dòng máu như một bầy rắn đỏ bò dọc theo cánh tay trái của Jay đến những đầu ngón tay, nhỏ tong tong xuống đất.

    Tôi nhìn thấy nhưng không nói gì, vì tôi biết anh sẽ không nghe thấy. Thêm vào đó, tôi chắc chắn rằng anh cũng đã nhận ra từ lâu. Jay muốn đổ máu, vì anh cảm thấy phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh trai. Tôi tự hỏi, liệu có ai đó trong trại có thể khuyên giải Jay được hay không.


    Một lúc lâu sau, khi cái huyệt đã đủ sâu để chôn ba người đàn ông, Jay quẳng cái xẻng đi. Anh trèo ra khỏi huyệt, bước về phía tôi và ngồi xuống, tựa lưng vào tảng đá tôi đang ngồi lên.

    Tôi không ngờ rằng Jay lại tự đến bên tôi như vậy. Tôi có thể ngửi thấy mùi máu từ vết thương, mùi mồ hôi, và cả nỗi sợ hãi trước sự cô đơn của anh. Tôi có thể nghe hơi thở anh dồn dập trong lồng ngực. Tóc anh dính bết vào hai thái dương và sau gáy. Lớp than củi trên mặt Jay bị mồ hôi làm nhòe bê bết. Hồn ma của dân da đỏ chắc là phải trông giống thế này.

    Hơi thở Jay đã dịu lại. Chúng tôi cứ ngồi như thế một lúc lâu, không nói một lời. Dù vậy, tôi có cảm giác tôi đã lại có thể chạm tới anh.

    „Tôi rất tiếc.“

    „Ừ, tôi cũng thế.“

    Lại im lặng.

    Tôi sực nhớ ra mấy cuộn băng liền lôi chúng ra khỏi túi quần. „Tôi băng cánh tay lại cho anh nhé, như thế chắc là tốt hơn.“

    „Ừ.“

    „Anh phải rửa sạch máu và đất đi đã.“

    „Ừ.“

    Anh không động đậy, chỉ chọc chọc vào một điểm nằm giữa những tảng đá. Tôi đứng dậy, tựa mình vào một bên nạng và chìa tay cho anh. „Jay“, tôi nói, „đi nào!“

    Trong khoảnh khắc, anh có vẻ như không nghe thấy lời tôi vừa nói. Nhưng rồi anh chìa bàn tay phải cho tôi và để tôi kéo anh đứng dậy. Bên bờ suối, anh rửa mặt và uống nước, sau đó mới rửa máu và đất bám trên cánh tay bị thương.

    Khi vết thương đã khô, tôi đặt dải băng mới lên. Tôi đã quen với việc này nên làm rất nhanh. „Xong“, tôi nói.

    Bỗng nhiên Jay nhìn tôi thật kỳ lạ, như thể anh vừa bừng tỉnh từ một giấc mơ và ngỡ ngàng nhận ra tôi đang ở bên. Anh vươn cánh tay lành lặn ra, nắm lấy gáy tôi và kéo tôi về phía mình. Trong giây lát, tôi cứ tưởng anh định hôn nên tim đập loạn xạ. Nhưng anh chỉ nhắm mắt lại và ép trán anh lên trán tôi. Bằng cách này, anh cho phép tôi được cùng chia sẻ nỗi đau. Và tôi hiểu, rất đơn giản thôi. Những cảm xúc, suy nghĩ của Jay truyền sang đầu tôi qua vầng trán nóng rực. Tôi có cảm giác được biết những điều về Jay mà có khi chính anh cũng không hay.

    Tôi nín thở. Tôi chưa bao giờ cảm thấy gần gũi với ai đó như với Jay trong thời điểm này.


    Bỗng nhiên anh buông tôi ra và bật dậy nhanh như chớp. Ai đó đang đến trên con đường mòn. Đó là một người đàn ông và một phụ nữ tôi chưa từng gặp bao giờ. Người phụ nữ là Althea, tôi thầm nghĩ. Còn người đàn ông mặc chiếc quần lính đã bạc màu chắc chắn là Robert. Tôi nhìn hai người đang bước đến với đôi mắt bàng hoàng.
     
    Chỉnh sửa cuối: 24/3/16
    Linh Vũ and teacher.anh like this.
  20. Cub

    Cub Lớp 1

    Chương 12

    Althea mặc một chiếc áo sơ mi pha hai màu nâu và xanh lá cùng một cái váy vải bông màu đỏ dài gần chạm đất. Những lọn tóc bạc lấp lánh trong mớ tóc đen dài của cô ta. Người phụ nữ da đỏ này thật đẹp, mặc dù mưa nắng đã khiến làn da cô ta trở nên chai sạn. Nếu không biết trước rằng Althea đã 52 tuổi, chắc tôi đã đoán cô ta trẻ hơn thế đến cả chục tuổi cũng nên.

    Tôi tìm ánh mắt Althea, và cô ta gật đầu thân thiện với tôi. Còn với Robert thì tôi đã ngay lập tức nhận ra rằng mình hoàn toàn không có hy vọng gì. Ông ta là một người cao lớn với mái tóc dài chấm vai, cái mũi diều hâu gồ lên và đôi mắt đen mang ánh nhìn soi mói. Một vết sẹo ghê rợn kéo dài từ cằm lên đến gò má làm biến dạng hẳn nửa khuôn mặt bên phải của ông ta. Trên mặt người đàn ông da đỏ này không có chút gì có thể gọi là hiền hậu, và cái sẹo không phải là nguyên nhân duy nhất.

    Tôi có một cảm giác nhột nhạt khó chịu dọc theo sống lung khi hai người đó tiến lại chỗ chúng tôi. Althea ôm lấy Jay, anh không kháng cự.

    Robert nhắm mắt lại. Sau đó, nhanh như chớp, ánh mắt dò xét của ông ta lướt qua tôi, và ông ta gật đầu như để xác nhận sự hiện diện của tôi tại nơi này.

    Có cái gì đó ở người đàn ông da đỏ này khiến tôi khiếp sợ, mặc dù từ đôi môi ông ta chưa thoát ra lấy một lời. Một cảm giác kỳ lạ xâm chiếm lấy tôi, rằng dường như ông ta đang đứng ngay bên cạnh. Tôi có thể cảm nhận rõ rệt luồng năng lượng thù địch đang hừng hực toả ra từ thân hình rắn chắc ấy.

    Cuối cùng Althea cũng buông Jay ra, còn Robert nói gì đó với anh bằng tiếng Cree. Khi Jay trả lời, tôi nghe thấy tên mình. Anh ném cho tôi một cái nhìn mà tôi chẳng hiểu có ý nghĩa gì.

    “Tại sao cháu không để người khác giúp đào huyệt hả chàng trai?” Althea hỏi bằng giọng trầm như giọng đàn ông.

    “Vì cháu phải làm việc đó một mình”, Jay trả lời.

    Dường như người phụ nữ da đỏ đã chấp nhận câu trả lời đó.


    Chúng tôi quay về trại. Jay và Robert đi trước, tôi tập tễnh theo sau trên đôi nạng. Althea đi bên cạnh tôi. Cô ta đề nghị xưng hô thân mật khiến tôi rất vui. Ít ra thì Althea cũng được như tôi từng tưởng tượng.

    “Trông cháu có vẻ mệt”, cô nói. “Và chắc chắn là đói nữa nhỉ.”

    “Vâng”, tôi thừa nhận.

    “Bây giờ, Jay sẽ cùng những người khác vào lều tẩy tịnh và trông coi thi hài Luke cả đêm. Họ sẽ nhịn ăn suốt thời gian ấy.”

    Tôi khẽ thở dài, trong bụng đã thầm chuẩn bị tinh thần ôm cái dạ dày rỗng nhịn cùng họ suốt cả ngày luôn.

    Althea cười, để lộ ra chỗ răng khuyết ở hàm trên. “Cháu không phải làm thế đâu mà sợ. Cứ đánh một giấc đi là tốt hơn cả. Còn cô sẽ mang qua cho cháu thứ gì đó để ăn.”

    “Cảm ơn cô.”

    Chúng tôi chia tay nhau ở trại. Từ trong chiếc lều Tipi sặc sỡ mà tôi cho là lều hội đồng vẳng ra tiếng trống đùng đục và tiếng hát đơn điệu của Henry. Tôi chui vào lều của Jay, nơi tôi tạm thời coi là nhà, và đợi Althea đến.

    Dĩ nhiên tôi không thể quên rằng Luke đã chết ngay tại chiếc lều này, mặc dù không có thứ gì ở đây gợi nhớ đến cái chết đau đớn của anh ta cả. Mùi khói ngải vẫn phảng phất trong không khí, trộn lẫn cùng mùi thơm của những cành lãnh sam tươi lót bên dưới những tấm lông thú trên sàn lều. Có ai đó đã thay chúng khi tôi và Jay còn đang ở khu mộ.

    Althea đến, đem theo trà bạc hà, bánh Bannock và mấy miếng bánh dèn dẹt màu xanh đen. Tôi dí mũi vào ngửi.

    “Đấy là bánh việt quất. Hơi cứng và dai nhưng để được lâu và cực kỳ có lợi cho sức khỏe.”

    “Cảm ơn”, tôi nói. “Cô tốt với cháu quá.”

    Althea đặt thức ăn lên sàn, trước mặt tôi. “Đừng bận tâm đến thái độ thô lỗ của Robert, Jodie ạ. Ông ấy không có ý gì đâu.”

    “Cái người tên Reggie ấy còn ghê hơn”, tôi thở dài. “Anh ta ghét cháu, mặc dù cháu có làm gì đụng chạm đến anh ta đâu.”

    Althea ngửa cổ ra sau cười ngặt nghẽo. “Reggie thỉnh thoảng có hơi hổ báo thật, nhưng cháu không cần phải để ý đến làm gì. Chó sủa là chó không cắn mà. Chỉ là cái chết của Luke và sự xuất hiện của cháu đã làm cánh đàn ông ở đây cuống hết cả lên. Cứ cho họ thời gian để họ quen dần với cháu.”

    “Cháu không biết phải cư xử như thế nào.”

    “Cứ là chính mình thôi, như thế thì sẽ không có chuyện gì xảy ra cả.”

    Tôi không tin tưởng điều đó cho lắm, nhưng cũng chẳng còn hơi sức đâu mà hành động như một người khác nữa. Tôi mệt muốn chết, dạ dày thì cứ gầm gừ suốt như một con sói hoang. Trong mắt cá chân dường như có một thằng lùn độc ác đang cầm búa nện, chiếc áo phông duy nhất chỉ còn là miếng vải rách, mà nó vẫn còn bám được vào người là vì đẫm mồ hôi dính nhớp. Cái chết của Luke vẫn còn lảng vảng trong tâm trí, và thực thà mà nói, tôi nhớ nhà khủng khiếp – đúng ra là khao khát – được gặp lại bố mẹ mình.

    Không, tôi không thể đóng kịch được. Bây giờ tôi cần tất cả sức lực để có thể sống sót qua được ngày hôm nay.

    Trước khi trèo ra khỏi lỗ cửa, Althea đưa cho tôi một cái hộp nhỏ bằng vỏ cây dương. “Trong này có kim chỉ. Và nếu cháu muốn tắm rửa thì bây giờ là cơ hội tốt đấy. Cánh đàn ông sẽ bận rộn suốt cả đêm nay.”


    Tôi tọng nguyên một nửa cái bánh Bannock vào mồm và chiêu bằng nước trà. Sau đó tôi nhận thấy rằng dạ dày mình hình như bị thắt lại, mặc dù vẫn còn đói. Món bánh việt quất thì ngọt nhưng dai ngoanh ngoách, dễ thường nhai đến nửa ngày cũng được. Tôi tống một miếng vào mồm và lục tìm trong ba lô của Jay bánh xà phòng và cái khăn tắm anh đã mang theo khi đi đường. Tôi tìm thấy cái hộp nhựa, liền nhét miếng bánh Bannock cắn dở và số bánh việt quất còn lại vào. Để dành lúc khác.

    Trên đường ra hồ nước, văng vẳng trong tai tôi là tiếng trống đùng đục và giọng ca ai oán của ông thầy mo. Họ định thức cả đêm thật hay sao? Làm sao mà Jay chịu được sau cái ngày khủng khiếp này, nhất là sau khi anh đã lao động nặng nhọc nữa.

    Tôi lo lắng cho anh là vậy. Nhưng anh có nghĩ đến tôi hay không?

    Trong làn nước hồ trong vắt, tôi giặt chiếc áo phông rách và đồ lót. Sau đó tôi kỳ cọ người bằng xà phòng, bơi một đoạn, lau khô người thật kỹ rồi mặc quần và áo khoác vào.

    Tôi còn nán lại ngồi trên bờ cát ấm một lúc nữa để ngắm vầng mặt trời lặn xuống đường chân trời phía Tây. Có tiếng óc ách giữa những tảng đá ven bờ, trong lúc ấy, có lẽ tôi sẽ chẳng thấy ngạc nhiên khi một sinh vật không có mũi bất ngờ xuất hiện, những kẻ mà Jay gọi là Mannegishi.

    Đó là một khoảnh khắc thật yên bình, tôi đã muốn được ngồi đó lâu hơn nữa để sự bình yên ấy ngấm vào cơ thể. Nhưng những sự kiện đã xảy ra trong ngày hôm đó vẫn chi phối tinh thần tôi, và bỗng nhiên tôi cảm thấy sự mệt mỏi len vào đến từng khớp xương. Tôi thèm được ngủ, được không phải suy nghĩ, không phải cảm nhận. Tôi nhìn đồng hồ, nó đã ngừng chạy từ bao giờ. Chắc là hết pin. Từ bây giờ, tôi sẽ phải sống mà không biết đến thời gian.

    Tôi chống nạng quay về trại. Tiếng trống và lời ca của Henry vẫn lơ lửng trên không như một làn khói vô hình trùm lên những chiếc lều.

    Chui vào lều của Jay, tôi đậy lỗ cửa lại, nằm xuống bên dưới cái túi ngủ và nhìn qua lỗ thông khói lên bầu trời. Sàn lều bên dưới những tấm lông thú được lót bằng một lớp cành tùng tươi dày dặn, tỏa mùi thơm dễ chịu. Tôi còn tìm thấy một cái gối nhỏ nhồi lông vũ mềm mại.

    Một chiếc lều Tipi như thế này cũng không tệ. Người ta vừa cảm thấy được che chở, vừa được bao bọc bởi không khí trong lành. Khi trời tối hẳn, ta có thể nhìn thấy những vì sao từ trong giường ngủ.

    Nhưng tôi đã thiếp đi trước khi màn đêm buông xuống, và những giấc mơ ùa đến. Tôi nghe tiếng bố mẹ cãi nhau. Tôi có thể nhận ra giọng của họ, nhưng chẳng hiểu họ cãi nhau về chuyện gì, chỉ nghe thấy một tràng những lời độc ác và xúc phạm nặng nề. Tôi muốn họ thôi nhưng lại không nói năng hay cử động được. Một con gấu đang giữ chặt lấy tôi. Nó chỉ ôm mà không làm hại gì tôi.

    Sau đó nó mang tôi vào rừng, cho tôi ăn cá và quả mọng ngọt ngào. Sau đó chúng tôi cùng đi về hang của nó. Trước cửa hang là Jay đang ngồi thổi sáo trên một hòn đá. Anh ngửng đầu, nhìn tôi thật buồn.

    “Cô là ai?”, anh hỏi.

    “Tôi là Jodie”, tôi nói. “Anh không nhận ra tôi à?”

    “Tôi chẳng còn ai cả”, anh trả lời. “Bây giờ, con gấu là gia đình của tôi.”

    Tôi giật mình bừng tỉnh và nghe thấy tiếng trống. Âm thanh nhịp nhàng ấy hòa chung cùng nhịp đập trái tim tôi. Bên ngoài lỗ thông khói là những vì sao. Một con chim đêm kêu ré lên rồi lại im bặt. Từ nơi nào đó rất xa vẳng lại một tiếng hú đơn độc. Tôi đã quá mệt để lo lắng về điều đó. Chỉ một lát sau, tôi đã lại từ từ trượt dần vào giấc ngủ.


    Sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc vì bị ai đó gọi tên. Tôi mở mắt, nhìn thấy tấm vải buồm và những cây cọc lều. Phải mất một lúc tôi mới nhớ ra mình đang ở đâu.

    “Vâng?”, tôi lơ mơ trả lời.

    Đó là Althea. Cô đã đẩy tấm che cửa sang một bên, thò đầu vào trong lều.

    “Mấy giờ rồi ạ?”, tôi hỏi, vì đã mất hết cảm thức về thời gian. Nhưng tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Giấc ngủ quả thật kỳ diệu.

    Người phụ nữ da đỏ bật cười vì câu hỏi của tôi. “Sắp trưa rồi”, cô nói. “Mọi người sẽ chôn cất anh trai Jay ngay bây giờ. Cô nghĩ, chắc là cháu cũng muốn đi cùng.”

    Tôi dụi mắt. “Cháu không biết… Thực ra thì có. Nhưng cháu sợ không ai muốn thấy mặt cháu ở đó.”

    “Hoàn toàn ngược lại. Nếu không đến thì sẽ bị coi là bất lịch sự. Ngoài ra: Jay cần cháu.”

    Tôi lắc đầu. “Bọn cháu có phải bạn bè gì đâu”, tôi giải thích. “Anh ấy phải mang cháu theo, còn cháu thì chẳng có lựa chọn nào khác ngoài ở bên anh ấy. Bọn cháu mới quen nhau có hai ngày.”

    “Trong hai ngày có thể có nhiều chuyện xảy ra chứ. Các cháu đã ngủ hai đêm bên cạnh nhau. Những giấc mơ, suy nghĩ đã hòa quyện cùng nhau. Hai con người đã trở nên quen thuộc.” Althea mỉm cười. “Cháu có thích Jay không?”

    Về chuyện đó thì tôi không phải nghĩ lâu. “Có, cháu thích anh ấy. Nhưng từ khi anh trai anh ấy mất, anh ấy đối xử với cháu kỳ lạ lắm.”

    “Cháu phải thông cảm cho cậu ấy, Jodie ạ. Đối với một thợ săn người Cree thì tỏ ra đau buồn là một điều không được đàn ông cho lắm. Thế nên Jay mới thu mình lại như vậy. Điều đó không có nghĩa là cậu ấy không cần cháu. Hãy cứ ở bên cạnh cậu ấy.”

    “Thôi được”, tôi thở dài. “Cháu sẽ đi cùng.”


    Sau khi làm vệ sinh cá nhân một cách vội vàng, tôi cố gắng chải chuốt lại mớ tóc rối bù nhưng không thành công. Kiểu gì tôi cũng phải hỏi mượn Jay một cái bàn chải tóc, mặc dù có lẽ đã quá muộn rồi. Bây giờ thì đến bàn chải thần kỳ cũng không gỡ nổi cái mớ bùi nhùi này.

    Tôi quăng mình trên đôi nạng, vượt qua bãi cỏ đến chỗ Althea. Cô đang đứng chải tóc trước một cái gương nhỏ treo trên một thân cây. Cô mặc chiếc váy dài màu đỏ cùng một áo sơ mi trắng thêu những bông hoa sặc sỡ. Khi đứng bên cạnh cô, tôi mới nhận ra rằng chiếc áo sơ mi đó không làm bằng vải mà bằng da thuộc mềm mại, gần như màu trắng.

    Althea tết mớ tóc dày của mình thành một bím dài bằng những ngón tay nhanh nhẹn.

    “Cháu không thấy nóng à?, cô hỏi, tay giật nhẹ cái áo khoác Jay cho tôi mượn, bây giờ cũng chẳng còn sạch sẽ gì lắm.

    “Có chứ ạ. Nhưng cháu chưa kịp khâu lại cái áo phông.”

    Cô kéo tôi vào lều của mình, lục tìm trong một cái va li lớn, nhìn giống một cái rương, và đưa cho tôi một cái áo phông màu đỏ có hình vẽ cách điệu một con rùa. “Đây, mặc cái này vào. Cô tặng cháu.”

    Tôi vui mừng cảm ơn và mặc ngay vào.

    “Tí nữa cháu quay lại đây lấy áo khoác và áo phông cũng được.”

    Althea bước ra khỏi lều, tôi cũng bám theo cô. Tôi đang định hỏi mượn cô cái lược thì tiếng trống và tiếng hát lại vang lên, những người đàn ông đã ra khỏi chiếc lều hội đồng nằm ngay cạnh bìa rừng.

    Dẫn đầu là Henry, ông thầy mo, vừa đi vừa gõ trống và hát. Theo sau ông ta là Eric, Reggie, Frank và Mike. Họ khiêng thi hài Luke trên vai. Sau đó Robert tiến ra, trong tay cầm một cành cây treo những dải vải màu sắc và những túi thuốc lá, cuối cùng là Jay.

    Tôi hoảng hốt khi nhìn thấy mặt anh. Bây giờ trông anh cũng giống như một người chết, nhợt nhạt, mắt thâm quầng. Nhưng khi ánh mắt chúng tôi gặp nhau, gương mặt anh sáng lên trong một giây, và anh gật đầu với tôi, khẽ đến mức gần như không thể nhận ra. May mà tôi đã nghe lời Althea.

    Những người đàn ông đi qua lều bếp và vườn rau, tiến vào con đường mòn dẫn đến khu mộ. Althea và tôi nhập bọn cùng họ.

    Jay bước đi trên đôi chân xiêu vẹo. Anh chẳng còn chút sức lực nào, gần như không đứng nổi nữa. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy mình thích anh đến mức nào. Đồng thời tôi cũng biết rằng cảm xúc ấy thật vô nghĩa. Jay Muskalunge thuộc về một thế giới khác. Nơi duy nhất chúng tôi có thể ở bên nhau chính là khu trại lẻ loi này.


    Trong ánh sáng rực rỡ của buổi trưa hè, thân thể Luke được trả về với đất. Một vài vật dụng cá nhân của anh ta được bỏ vào trong mộ, cũng như khẩu súng. Henry vừa gõ trống bằng tay vừa hát bằng tiếng Cree. Những người khác cũng hát theo. Althea, khi ấy đang đứng cạnh tôi, có một giọng hát hay và mộc mạc. Những ngôn từ xa lạ dường như đã tan chảy trong họng cô trước khi thoát ra từ đôi môi. Dù trời rất nóng, lưng tôi vẫn sởn gai ốc.

    Sau khi những người đàn ông đã dành cả đêm để trông coi thi hài Luke, buổi tang lễ diễn ra thật nhanh chóng. Robert nói vài lời. Mike và Eric xúc đất đổ xuống mộ, những người còn lại thì xếp đá lên.

    „Để đề phòng lũ gấu“, Althea thì thầm với tôi.

    Robert đưa cành cây buộc vải màu cho Jay, anh cắm nó lên đống đá. Mỗi người trong trại còn đặt thêm một món đồ cúng của riêng mình lên nấm mộ: một cái túi da nhỏ, một cái hộp con bằng vỏ cây dương, một cái vòng đeo tay, một chiếc lông vũ được trang trí. Thế là tang lễ đã kết thúc. Tôi nghe thấy một tiếng thở phào rất khẽ của những người tham gia.

    Frank dẫn tôi sang một bên và hỏi thăm tình hình bàn chân tôi.

    „Cháu quen dùng nạng rồi ạ“, tôi nói, giấu nhẹm chuyện hai nách bị đau vì chà vào gỗ cứng.

    „Còn gì nữa không?“

    „Tất cả đều ổn ạ.“

    Bỗng nhiên có ai đó túm chặt lấy vai tôi, xoay người tôi lại. Đó là Reggie. Trong đôi mắt đen của hắn đang nhìn chằm chằm vào tôi ánh lên cơn thịnh nộ, như thể tôi là một con ma dữ. Nhưng rồi hắn buông tôi ra và bỏ đi, cứ như chạy trốn trước tôi vậy.

    Cuối cùng những người đàn ông lần lượt trở về trại. Chỉ có Jay vẫn đứng bên cạnh mộ anh trai. Althea đặt một bông hoa vàng lên ngôi mộ bên cạnh, môi mấp máy như đang cầu nguyện. Sau đó cô đứng dậy và đi về phía tôi.

    „Chúng ta cũng về thôi“, cô nói. „Cậu ấy cần phải ở một mình một lúc.“


    Chúng tôi trở về trên con đường đã dẫn chúng tôi tới khu mộ. Tôi hỏi Althea về hai ngôi mộ kia, và cô kể cho tôi nghe về Louis, anh em họ của Mike, người đã thiệt mạng trong một vụ đụng độ với một con nai sừng tấm cái. Cô cũng kể về con gái cô, Tia, qua đời vì viêm phổi mùa đông năm trước.

    „Nó bị tụt xuống băng và không tự trèo ra được. Khi Reggie lôi được nó ra khỏi nước thì nó đã lạnh cóng. Tụi cô đã cố gắng hết sức nhưng không cứu được nó. Nếu Tia không chết thì cô đã được lên chức bà rồi.“

    „Kinh khủng quá.“ Tôi bị sốc vì những gì vừa nghe thấy.

    „Nơi hoang dã cho đi nhiều, nhưng lấy đi cũng nhiều“, Althea nói.

    Tôi im lặng, cổ họng như bị thắt chặt. Những con người này thật sự khác biệt đối với tôi. Tôi khó có thể hiểu nổi họ. Althea đã mất con gái và đứa cháu chưa ra đời vì nơi hoang dã. Vậy mà cô vẫn ở đây. Vẫn cười, và vẫn hát.

    „Cô nghĩ rằng mình biết những gì cháu đang nghĩ“, cô nói. „Cô có thể cố giải thích cho cháu, nhưng cháu sẽ không hiểu được đâu.“

    „Vì cháu là người da trắng ạ?“

    „Vì cháu còn trẻ, Jodie ạ. Vì rừng núi là một nơi xa lạ và tàn ác đối với cháu.“ Cô mỉm cười dừng bước khi tiếng sáo vang đến chỗ chúng tôi. Những âm thanh buồn rầu và trĩu nặng, chứa chan đau khổ, khiến hai mắt tôi rưng rưng nước.

    „Jay làm thế là đúng. Tiếng sáo sẽ giúp cậu ấy“, Althea nói.

    Chúng tôi về đến trại. Frank đang đứng cùng Henry và Eric trước lều hội đồng, ba người còn lại thì chẳng thấy đâu.

    „Cháu giúp cô nấu ăn được không?“, người phụ nữ da đỏ hỏi. „Có thể cô sẽ cần ai đó giúp một tay. Mấy anh chàng ở đây là những thợ săn tài giỏi, nhưng về việc bếp núc thì họ chẳng biết tí gì.“

    „Dĩ nhiên rồi.“ Tôi rất vui vì được tỏ ra có ích. Có khi điều đó sẽ khiến những người đàn ông chịu chấp nhận tôi cũng nên. Dù sao thì tôi cũng còn phải – dù là miễn cưỡng – chung sống với họ vài ba hôm nữa.

    Trong lều bếp, Althea để tôi gọt và thái khoai tây, trong khi cô xẻ một miếng thịt nai to tướng. Tôi cứ tưởng mình sẽ thấy buồn nôn khi nhìn tảng thịt đẫm máu, nhưng tôi vẫn vững vàng một cách đáng ngạc nhiên. Thì tôi cũng có còn gì trong bụng để mà ọe ra đâu.

    Hai bàn tay của Althea làm việc một cách thuần thục. Cô vừa làm vừa kể cho tôi nghe một cách rất thoải mái về ông chồng bạo lực của mình, người đã khiến cô phải bỏ trốn.

    „Ông Henry là chú của cô. Ông ấy đã đưa cô về khu trại này. Đó là ba năm về trước. Tia thì ở lại thành phố. Hè năm ngoái nó đến trại, thực ra chỉ là để thăm cô. Sau đó nó yêu Reggie, có bầu và ở lại luôn.“

    „Cháu không thể ở lại đây được“, tôi bồi hồi nói.

    „Cháu cũng không cần phải làm vậy, Jodie ạ. Người nào không thông thạo nơi hoang dã, người ấy sẽ thấy sợ.“

    „Vâng. Jay cũng gọi cháu là đồ thỏ đế, vì cháu hơi tí là sợ.“

    Althea tủm tỉm cười. „Cô thấy hình như Jay thích cháu đấy.“

    „Vì anh ấy gọi cháu là thỏ đế ạ?“

    „Ừ.“

    Thịt, hành tây và củ cải được cho hết vào một cái nồi to màu đen treo trên bếp lửa. Sau đó người phụ nữ da đỏ mới đổ khoai tây vào. Cô nêm gia vị cho món ăn bằng muối, hạt tiêu, nhiều loại thảo mộc và nấm sấy khô cũng như rễ cây tán bột. Một lát sau, cái nồi đã bốc mùi thơm hấp dẫn khiến tôi ứa nước miếng.

    Từ chiều hôm qua đến giờ tôi chưa có gì vào bụng nhưng chẳng hiểu sao vẫn không thấy đói lắm. Dạ dày tôi đang dần làm quen với sự thiếu vắng những thanh sô cô la ngọt ngào cùng nhiều món ngon khác. Cạp quần kaki của tôi cũng bám vào hông lỏng lẻo một cách bất thường.
     
    Chỉnh sửa cuối: 24/3/16
    Linh Vũ and teacher.anh like this.

Chia sẻ trang này