Khế ước xã hội

Thảo luận trong 'Tủ sách Triết học' bắt đầu bởi sun1911, 30/9/13.

  1. sun1911

    sun1911 Lớp 10

    Xin Giới thiệu với các bạn 1 tác phẩm rất nổi tiếng của triết gia Jean-Jacques Rousseau.

    Tác phẩm Jean-Jacques Rousseau ra đời trong Thời kỳ Khai sáng (Enlightenment) trong thế kỷ 18 của Âu châu. Tư tưởng và học thuật trong Thời kỳ Khai sáng chú trọng về lý tính (rationalism) và thực nghiệm. Trên căn bản duy lý và thực nghiệm, các triết gia thời kỳ này phủ nhận lề lối tư duy truyền thống về xã hội, tôn giáo, chính trị, và đề cao vai trò của khoa học. Họ đã từng tuyên bố: khoa học sẽ cứu chúng ta. Trong bài luận văn đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Dijon năm 1749, Rousseau đã tạo cho mình một tư thế riêng khi đưa ra những lập luận bác bỏ toàn bộ những tư duy thời thượng bấy giờ. Ông lập luận rằng càng văn minh thì đạo đức càng băng hoại, khoa học không cứu rỗi được con người, và “tiến bộ” chỉ là ảo tưởng, văn minh hiện đại không làm con người hạnh phúc hay đạo đức hơn. “Hạnh phúc chỉ đến với con người trong tình trạng thiên nhiên,” và đức hạnh chỉ xảy ra trong một xã hội đơn giản, nơi con người sống đời sống đạm bạc, chân chất. Những phát minh của khoa học, những sáng tạo của nghệ thuật, theo ông, chỉ là những “chùm hoa phủ lên trên xiềng xích trói buộc con người, khiến họ quên đi sự tự do nguyên thủy có từ lúc mới sinh ra, và quên đi mất là đang cam thân làm nô lệ trong kiếp sống văn minh.”[1]. Về điểm này, tư tưởng của Rousseau khá gần với Mặc Tử, nhà tư tưởng cổ Trung Hoa, người chủ trương thuyết công lợi và lên án các sự xa xỉ, xa hoa; ngay cả âm nhạc cũng bị Mặc tử lên án là vô bổ, làm sa đọa con người (trong khi Nho gia có cả Kinh Nhạc trong Ngũ Kinh). Mặc dù tư tưởng của Rousseau trực tiếp phản bác tư duy đương thời, Hàn lâm viện Dijon vẫn trao giải nhất cho luận đề của ông. Đây cũng là nền tảng tư tưởng của Rousseau để từ đó ông viết nên tác phẩm bất hủ Khế ước Xã hội.

    Khế ước Xã hội gồm 4 quyển, mỗi quyển có từ mười tới mười lăm chương. Trong lời mở đầu Rousseau viết: “Với bản chất con người như ta biết, và với tính chất có thể xẩy ra của luật pháp, tôi muốn tìm xem trong trật tự của một xã hội dân sự có thể có một luật lệ cai trị nào cho chắc chắn và hợp tình hợp lý...” Trong cuộc hành trình này, Rousseau cũng như các nhà tư tưởng trước ông như Thomas Hobbes và John Locke đều bắt đầu từ nguyên thủy, nhận diện con người trong trạng thái thiên nhiên của nó. Mở đầu chương thứ nhất Rousseau viết: “Con người sinh ra được tự do, nhưng ở đâu nó cũng bị xiềng xích.” Đối với Rousseau, tự do là điều kiện thiết yếu để con người là một con người. Trong trạng thái thiên nhiên mỗi con người là chủ của chính mình, nhưng từng cá nhân một không thể chống chỏi với thiên nhiên để tự tồn mà phải cùng chung sống với nhau hầu có đủ sức để sống còn.

    Từ xã hội sơ khai đầu tiên là gia đình, con người quần tụ lại thành những cộng đồng lớn hơn, nhưng trong cộng đồng lớn hơn này cần phải có luật lệ để điều hành trật tự sao cho phúc lợi và tự do của mỗi người vẫn được bảo đảm. Câu hỏi được đặt ra là ai sẽ là “người” đặt ra những luật lệ này khi mỗi cá nhân đều bình đẳng như nhau? Rousseau phủ nhận mô thức chính quyền quân chủ do Grotius và Hobbes đề ra, và lý giải rằng một xã hội dân sự hợp lý, hợp tình chỉ có thể được tạo nên bởi sự thỏa thuận của mọi người tham gia. Hay nói một cách khác bởi một khế ước xã hội do mọi người cùng lập nên và mọi người phải tuân thủ. Rousseau viết: “Cái mà con người mất đi khi chấp nhận khế ước xã hội là sự tự do thiên nhiên và sự vô giới hạn trong những việc anh ta muốn làm và muốn giữ khi chiếm được; bù lại cái mà anh ta nhận được là sự tự do trong văn minh và quyền sở hữu chính đáng những gì mà anh ta có.” “Người” có thẩm quyền làm ra luật để cai trị một cộng đồng lập nên bởi khế ước xã hội, theo Rousseau, không ai khác hơn là tất cả mọi người đồng trao quyền đó cho một con người nhân tạo gọi là “Hội đồng Tối cao” (sovereign) bao gồm tất cả mọi người; con người nhân tạo này khi được thành hình bởi khế ước xã hội có đời sống và ý chí riêng. Ý chí riêng của con người nhân tạo này là ý chí của cả tập thể, gọi là “ý chí tập thể” (general will) chỉ nhằm đạt tới cái tốt chung cho cả cộng đồng, chứ không phải là ý chí của tất cả mọi thành viên (will of all) bao gồm ý chí và quyền lợi riêng tư của mỗi thành viên khác hơn quyền lợi của tập thể.


    View attachment Khe uoc xa hoi.rar

    -Thời gian đời người là hữu hạn mà việc truy tầm kiến thức là vô cùng tận,i có 2 thứ mà con người không thể hiểu:tầm bao la của vũ trụ và sự ngu dốt của chính minh(Albert Einstein)

    Nguồn TVE: Nick Cungcung
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/10/13
    nguyensgvn, haist, oo0oo and 3 others like this.
  2. Beringen

    Beringen Banned

    Thời-đại khởi-mông (啟蒙時代, 啟蒙運動) là dụng ngữ học giới đề xuất cho lịch sử Âu châu thế kỉ XVII-XVIII.

    Sở dĩ có thuật ngữ thì/thời đại khởi/khải mông bởi giai đoạn này tại Âu châu phát sinh phong trào tân tiến hóa khoa học và văn nghệ rất sôi động. Đây trực tiếp là thành quả của giai đoạn Phục Hưng và Phát Kiến. Những yếu nhân phong trào này tin rằng, sự phát triển hợp lý của tri thức có thể giải quyết những vấn đề căn bản của sự thực tồn nhân loại. Lịch sử nhân loại từ lúc này bắt đầu triển khai các trào lưu tư tưởng, tri thức và phương tiện truyền thông để tiến tới tân kì. Do đó, giai đoạn này còn được gọi thời-đại lý-tính (理性時代).

    Trong các văn bản khoa học Việt Nam giữa thế kỉ XX, giai đoạn này thường được gọi sai biệt thời trùng hưng (重興時代), thời khai hóa (開化時代) hoặc thời khai sáng (開創時代), nay đã bỏ.

    [​IMG]
    Các trứ tác Voltaire được coi là hiện tượng lý thú nhất thời Khởi Mông

    Hiền giả Immanuel Kant khi giảng nghĩa thế nào là lý tính nhân loại trong quá trình tự khởi mông đã mượn thuật ngữ Latin sapere aude, minh diễn là "cầu tri, dám tìm hiểu". Ông cũng đề xuất rằng, Khởi Mông là thời kì khai phóng cuối cùng của nhân loại, tức là từ đây hoàn toàn cứu chuộc con người khỏi sự vô tri và những tư duy ấu trĩ.

    Thời đại Khởi Mông căn bản được phân thành 3 tiểu giai đoạn :

    Giai đoạn đầu (thế kỉ XVII) nhìn chung vẫn trung thành với các nguyên lý thần học Công giáo. Phong trào Khởi Mông hoàn toàn hoạt động tại cực Tây Âu lục, mà trung tâm thường được cho là Pháp.
    Giai đoạn kế (nửa trước thế kỉ XVIII) : Trào lưu Khởi Mông thoát hẳn tư duy thần quyền để kiến tạo triết lý tự do - bình đẳng - bác ái, từ thời kì này được gắn với lãng mạn chủ nghĩa. Tại các khu vực Bắc Âu, Đông Âu và quanh Địa Trung Hải bắt đầu nhen lên xu hướng bắt chước cuộc Khởi Mông tại Pháp, coi Pháp quốc là hình mẫu lý tưởng cho sự khai phóng trí tuệ.
    Giai đoạn cuối (nửa sau thế kỉ XVIII) : Cuộc cách mạng công nghiệp phát sinh tại quần đảo Anh khiến hệ giá trị Khởi Mông biến chất, thậm chí tư tưởng lãng mạn dần đối nghịch xu hướng duy lý, ngày càng gây bất lợi cho chính xã hội và tự nhiên. Trào lưu Khởi Mông lúc này trở nên hoàn toàn tiêu cực và bước tới sự điêu tàn. Sự kiện đại cách mạng Pháp (1789-99) thường được sử giới coi là mốc kết thúc thời đại Khởi Mông, tuy rằng nó còn gây ảnh hưởng trong ít năm sau.

    [​IMG]
    Họa phẩm Newton (1795) của tác gia William Blake (1757 - 1827)
    có dụng ý biếm trích trào lưu tư tưởng Khởi Mông
     

Chia sẻ trang này