Phật Giáo Kinh địa tạng - bản dịch của HT Thích Trí Tịnh

Thảo luận trong 'Tủ sách Tôn giáo' bắt đầu bởi bichdinh, 5/10/13.

  1. bichdinh

    bichdinh Lớp 5

    Kinh Địa Tạng

    "Hiếu Ðạo, Ðộ Sanh, Bạt Khổ, Báo Ân"

    bản dịch của HT Thích Trí Tịnh

    [​IMG]



    Bộ Kinh này lấy gì làm tông chỉ? Tông chỉ của bộ Kinh này gồm có bốn điều và được bao hàm trong tám chữ "Hiếu Ðạo, Ðộ Sanh, Bạt Khổ, Báo Ân." Tám chữ này nói lên điều gì? Ðó là "tinh nghiên hiếu đạo" - đạo lý hiếu thảo với cha mẹ. Con người nếu biết giữ hiếu đạo thì trời đất sáng ngời rạng rỡ. Ðiều khiến cho trời đất cảm động cũng chính là lòng hiếu thảo, nên nói: ""Thiên địa trọng hiếu, hiếu đương tiên" (trời đất đều xem trọng đạo hiếu, hiếu là trước nhất).

    1) Hiếu Ðạo. Chữ "hiếu" này vô cùng quan trọng. Chỉ cần có một chữ "hiếu" là toàn gia được yên vui, êm ấm. Có câu:

    "Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử."

    Nếu quý vị hiếu thuận với cha mẹ mình thì sau này con cái của quý vị cũng sẽ hiếu thuận với quý vị. Còn nếu quý vị không hiếu thảo với song thân, thì con cái của quý vị rồi cũng sẽ không hiếu thảo với quý vị!

    Vì sao chúng ta phải học cách làm người? Làm người có ý nghĩa gì? Có người nói rằng: "Tôi làm người một cách hồ đồ như vầy thì cũng xong thôi!" Nói như thế là không phải! Bổn phận của kẻ làm người là phải hiếu thảo với cha mẹ, bởi cha mẹ chính là trời đất, là sư trưởng, và cũng là chư Phật. Có cha mẹ mới có mình; nếu không có cha mẹ thì mình không có được thân thể này, mà không có thân này để tu hành thì mình sẽ chẳng bao giờ thành Phật được cả! Cho nên, muốn thành Phật thì trước tiên là phải trọn hiếu với cha mẹ. Vậy, tông chỉ thứ nhất là "Hiếu Ðạọ"

    2) Ðộ Sanh. Tông chỉ thứ hai của bộ kinh này là "Ðộ Sanh."

    Thế nào gọi là "độ sanh"? Từ bờ bên này vượt sang bờ bên kia, gọi là "độ." Từ sanh tử đến Niết Bàn cũng gọi là "độ." Từ phiền não mà được Bồ Ðề cũng gọi là "độ." "Ðộ sanh" ở đây có nghĩa là cứu độ chúng sanh. "Cứu độ chúng sanh" thì không phải là chỉ cứu một hoặc hai người, cũng không phải là ba người hoặc năm người. "Ðộ chúng sanh" là độ thoát tất cả mười hai loại chúng sanh. Phải phát tâm giáo hóa hết thảy chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều sớm được thành Phật; như thế mới gọi là "độ chúng sanh."

    3) Bạt Khổ. Ðây là tông chỉ thứ ba. Bộ Kinh này có công năng "nhổ sạch khổ não," dứt trừ mọi nỗi khổ của chúng sanh.

    4) Báo Ân. "Báo ân" ở đây chính là báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.

    Vậy, tám chữ "Hiếu Ðạo, Bạt Khổ, Ðộ Sanh, Báo Ân" là tông chỉ của Kinh Ðịa Tạng. Nếu giảng cặn kẽ thì quá nhiều, cho nên tôi chỉ đề cập đến những điểm trọng yếu; sau khi hiểu rõ các ý chính, quý vị sẽ thông suốt được tất cả.

    Nghe nhắc đến đạo hiếu, có nhiều người liền nghĩ: "Mình phải về để hầu hạ, báo hiếu cho cha mẹ!" Nhưng về đến nhà, gặp cha mẹ, thì họ lại chứng nào tật nấy, quên mất bổn phận hiếu thảo. Vì sao họ quên? Vì họ không hiểu hiếu đạo chân chánh là như thế nào. Tu học Phật Pháp tức là chân chánh hiếu thảo vậỵ Chớ nói rằng về nhà quanh quẩn bên cha mẹ mới là có hiếu, rồi về tới nhà thì lại quên mất bổn phận hiếu thảo! Qúy vị ở đây nghiên cứu Phật Pháp, học làm người tốt - điều này đối với thế giới rất có lợi. Mang lại lợi ích cho thế giới cũng chính là báo hiếu cha mẹ vậy.

    "Hiếu" được phân làm bốn loại: Tiểu Hiếu, Ðại Hiếu, Viễn Hiếu và Cận Hiếu.

    Thế nào gọi là "Tiểu Hiếu"? "Tiểu Hiếu" là hiếu đạo trong phạm vi gia đình, tức là chỉ hiếu thảo với cha mẹ ruột của mình, chứ không hiếu thảo với tất cả mọi người, chưa có được lòng hiếu thảo bao la, quảng đại.

    "Hiếu Quảng Ðại" là gì? Ðó chính là Ðại Hiếu - hiếu thuận với khắp thiên hạ, xem tất cả các bậc cha mẹ trên đời như là cha mẹ của mình. Ðây gọi là hiếu thuận với tất cả mọi người. Thế nhưng, Ðại Hiếu vẫn chưa phải là hiếu thuận chân chánh.

    Thế nào là "hiếu thuận chân chánh"? Chỉ khi nào quý vị thành Phật mới gọi là có lòng hiếu thảo chân chánh, mới là "Chân Hiếu". Ðây là một loại hiếu thảo đích thực, rốt ráo, vượt hẳn bốn loại hiếu kia. Ðức Phật Thích Ca xưa kia, mặc dù vua cha không cho phép xuất gia, muốn cầm giữ Ngài ở mãi trong cung, nhưng Ngài đã trốn khỏi hoàng thành, lén đi xuất gia tu hành. Sau sáu năm ròng rã tu khổ hạnh trên ngọn Tuyết Sơn, Ngài đã ngộ Ðạo thành Phật dưới cội Bồ Ðề. Thành Phật rồi, Ngài đến cung trời Ðao Lợi, vì mẹ mà thuyết Pháp. Qúy vị xem, đó chẳng phải là chân chánh hiếu thảo sao?

    Thế nào gọi là "Cận Hiếu"? Noi gương những người con chí hiếu thời cận đại, học cách hiếu thuận cha mẹ của họ - đó gọi là "Cận Hiếu". Có câu:

    "Viễn Hiếu, hiệu ư vạn cổ;

    Cận Hiếu, hiệu ư đương thời".

    Viễn Hiếu là gương hiếu thảo được muôn thế hệ truyền tụng và noi theo; còn Cận Hiếu là sự hiếu thuận đương thời. Cận Hiếu cũng có thể gọi là Tiểu Hiếu, mặc dù vẫn có vài điểm bất đồng. Viễn Hiếu là hiếu thuận muôn đời, điển hình là Nhị Thập Tứ Hiếu (hai mươi bốn gương hiếu tử) của Trung Hoa. Gương hiếu thảo của họ được muôn đời truyền tụng, lưu lại tiếng thơm cho hàng vạn thế hệ sau.

    Trong Nhị Thập Tứ Hiếu của Trung Hoa có một Ðổng Vĩnh. Ðổng Vĩnh, còn gọi là Ðổng Ảm, là một người con chí hiếu. Gia đình Ðổng Vĩnh rất nghèo, cảnh nhà thiếu trước hụt sau; còn hàng xóm của anh ta là Vương Kỳ thì lại rất giàu có, sung túc. Mẹ của Ðổng Vĩnh nhờ con hiếu thảo nên hồng hào khỏe mạnh; tuy tuổi đã cao mà vẫn còn linh hoạt và lúc nào cũng tươi vui. Trong khi đó, mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc dư dả, ăn toàn những món ngon vật lạ, cao lương mỹ vị, nhưng lại gầy gò ốm yếu, và trông có vẻ buồn phiền áo não, chẳng chút vui tươi thanh thản.

    Một hôm, nhân lúc Ðổng Vĩnh và Vương Kỳ đều vắng nhà, bà mẹ của Vương Kỳ mới sang chơi và hỏi mẹ của Ðổng Vĩnh: "Bà chị tuổi tác cũng đã cao, cảnh nhà lại thanh bần, chẳng thuốc thang tẩm bổ, mà sao trông bà lúc nào cũng vui vẻ, khoẻ mạnh?"

    Mẹ của Ðổng Vĩnh đáp: "Bởi vì con trai tôi rất hiếu thảo. Nó không dám làm việc gì xấu cả, lại rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc; cho nên tôi rất hài lòng, không có điều chi lo nghĩ hoặc buồn bực cả. Có lẽ nhờ tâm trí thư thái, trong lòng thanh thản, nên thân thể được khỏe mạnh đấy thôi."

    Rồi bà hỏi lại mẹ của Vương Kỳ: "Nhà bà chị giàu có thế kia, ăn uống toàn là món ngon vật lạ, mà sao lại gầy ốm như vậy? Bà chị gầy như cây sậy ấy, có mắc bệnh gì không?"

    Mẹ của Vương Kỳ thở dài ngao ngán: "Tôi ư? Giàu thì cũng có giàu đấy, ăn uống thì cũng toàn là những thức ngon lành, bổ báo; nhưng khổ nỗi lại gặp phải thằng con ngỗ nghịch, toàn làm những chuyện phi pháp, khiến tôi rất đau lòng. Hôm nay phạm pháp, ngày mai phạm luật; hôm nay không bị sai nha truy lùng, thì ngày mai cũng có lệnh của phủ đường đòi đến tra hỏi. Tôi từ sáng đến tối cứ vì thế mà thấp thỏm âu lo, thức ăn dù ngon cách mấy cũng nuốt không xuống, không thấy vui. Bởi suốt ngày cứ rầu rĩ phiền muộn, cho nên tôi càng ngày càng gầy mòn đấy thôi!"

    "Hiếu" tuy có Viễn Hiếu, Cận Hiếu, Ðại Hiếu, Tiểu Hiếu, nhưng nếu nói đến sự hiếu thảo chân chánh thì chính là tu hành để sau này thành Phật vậy. Hôm nay quý vị ở lại nghiên cứu Phật Pháp, không bỏ về, đó chính là Chân Hiếu vậy. Chân chánh nghiên cứu, hành trì Phật Pháp mới là sự hiếu thảo đúng đắn, rốt ráo nhất.

    Vì sao gọi là "Ðịa Tạng"? "Ðịa" có nghĩa là đất, và có công năng sinh trưởng vạn vật. "Tạng" là bảo tạng, tức là kho báu. Chữ "tạng" này cũng có nghĩa là tàng trữ, cất giấu. Tất cả kho báu vạn vật, tất cả mọi vật đều có thể chôn giấu dưới đất. Vị Bồ Tát này giống như đại địa vậy - có thể sinh trưởng tất cả vạn vật, lại có vô lượng vô biên kho báu chôn dưới đất mà ai ai cũng có thể khai quật được. Người nào tin Ngài thì sẽ có phần trong những kho báu đó. Trong các kho báu này, cái gì cũng có, ngay cả những thứ quý báu nổi tiếng như kim cương, vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, .... không thiếu một thức gì. Nếu qúy vị lấy được một khối kim cương nặng chừng ba trăm pounds, thì qúy vị sẽ trở thành "đại phú ông," là người giàu nhất thế giới! Vừa nghe tôi nói tới viên kim cương "ba trăm pounds" thì có nhiều người phì cười, cho rằng quá lớn! Thật ra, đó là viên nhỏ nhất trong kho đấy; còn viên lớn nhất thì e rằng qúy vị nhấc không nổi! Vì có đủ những mỹ đức kể trên, cho nên vị Bồ Tát này có danh hiệu là "Ðịa Tạng."

    "Bồ Tát" là tiếng Phạn, có nghĩa là "hữu tình giác," tức là một người giác ngộ trong hàng ngũ chúng sanh. Lại cũng có nghĩa là "giác hữu tình," tức là người mà sau khi đã giác ngộ, liền đem những điều mình đã chứng đắc ra dạy lại, khiến cho các chúng sanh khác cũng được giác ngộ như mình. Ðây chính là "tự giác, giác tha" - sau khi tự mình giác ngộ rồi, thì nguyện cho tất cả chúng sanh cùng được giác ngộ. Lại cũng có thể gọi là "tự lợi, lợi tha" - chính mình có được đại trí huệ, bèn nguyện cho tất cả chúng sanh cũng được đại trí huệ. Có đại trí huệ rồi thì không còn sự điên đảo nữa.

    "Bổn Nguyện" tức là những thệ nguyện mà Ðịa Tạng Vương Bồ Tát vốn đã lập từ xưa đến nay, chứ không phải bây giờ mới lập. "Từ xưa đến nay" tức là từ lúc nào? Là từ vô lượng kiếp về trước. Trong nhiều đời ở quá khứ, Ngài đã từng phát lời thệ nguyện này, nên gọi là "bổn nguyện."

    Trong Thập Nhị Bộ Kinh có phần Bổn Sự, ghi chép những sự việc xảy ra trong đời quá khứ. Tương tự như thế, "bổn nguyện" hiện tại của Bồ Tát Ðịa Tạng chính là những thệ nguyện mà Ngài đã từng phát trong đời quá khứ, chứ không phải chỉ trong đời này. Trong đời này Ngài chỉ lập lại và tiếp tục thực hiện các thệ nguyện đó mà thôi. Ngài phát lời thệ nguyện như thế nào? Ngài nguyện rằng:

    "Ðịa ngục chưa trống không, tôi quyết chưa thành Phật;

    Chúng sinh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Ðề."

    Nếu tất cả các địa ngục chưa trống không, vẫn còn tội nhân, thì Ngài cương quyết chưa thành Phật. Chỉ khi nào địa ngục hoàn toàn trống không, chẳng còn một bóng tội nhân, Ngài mới thành Phật. Qúy vị nghĩ xem, thệ nguyện này rộng lớn như thế nào? Ðịa Tạng Vương Bồ Tát phát nguyện: "Tôi nguyện ở trong địa ngục để tiếp dẫn tất cả ngạ quỷ. Nếu những ngạ quỷ này một ngày chưa lìa khổ được vui, thì tôi một ngày chưa thành Phật. Ðợi cho tất cả những ngạ quỷ trong địa ngục đều được giải thoát, lìa khổ được vui rồi, thì tôi mới thành Phật."

    Chúng ta thử nghĩ xem, chúng sanh tạo nghiệp thì vô cùng, phiền não cũng vô tận; thế thì địa ngục làm sao có lúc cùng tận được? Trừ phi phiền não và nghiệp chướng của chúng sanh đều tiêu trừ hết, thì may ra địa ngục mới có ngày trống rỗng. Song le, nghiệp chướng của chúng sanh không thể tiêu trừ, phiền não cũng chẳng thể đoạn diệt, thì địa ngục làm sao có thể trống không được?

    Hạnh nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng, theo quan điểm của các triết gia và khoa học gia hiện nay, phải chăng là một tư tưởng ngu si nhất và cũng là một hành vi ngu si nhất? Vì sao họ cho rằng đây là một tư tưởng và hành vi ngu si nhất? Bởi vì sự việc này vốn không thể nào xảy ra được - địa ngục không bao giờ trống không cả! Thế thì Ngài Ðịa Tạng vĩnh viễn không có cơ hội thành Phật sao?

    Không phải vậy! Ðó không phải là một tư tưởng và hành vi ngu si nhất, mà chính là một tư tưởng và hành vi mang đậm nét từ bi, đồng thời cũng là một tư tưởng và hành vi vô cùng hiếu thảo. Vì sao lại nói đó là một tư tưởng và hành vi chứa đầy lòng hiếu thảo? Bồ Tát Ðịa Tạng, sau khi quán sát và biết được mẹ mình bị đọa địa ngục, chịu nhiều thống khổ, bèn đến cầu xin Ðức Phật siêu độ cho mẫu thân.

    Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đích thực là ai? Ngài chính là Tôn Giả Ma Ha Mục Kiền Liên, nguyện ở trong địa ngục làm Bồ Tát. Vì sao Ngài muốn làm Bồ Tát ở địa ngục? Bởi vì Ngài thấu hiểu và cảm thông được mọi đau khổ mà thân mẫu Ngài đã chịu đựng, nên Ngài liên tưởng: "Nếu mẹ mình chịu khổ như vậy, thì tất cả những bà mẹ trên cõi đời này cũng đều chịu khổ như thế!" Cho nên Ngài dùng tâm hiếu đạo bình đẳng, không phân biệt, mà độ thoát tất cả chúng sanh trong địa ngục, khiến họ lìa khổ được vui.

    Trích Kinh Địa Tạng Lược Giảng



    Link: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link




    Nguồn: TVE (moreshare post 2010)
     
    Zhiqiang and mopie like this.

Chia sẻ trang này