LS-Thế giới Lịch sử thế giới trung đại

Thảo luận trong 'Tủ sách Lịch sử - Địa lý' bắt đầu bởi hellospace88, 26/10/13.

  1. hellospace88

    hellospace88 Lớp 5

    Lịch sử Thế giới Trung Đại

    1. Thông tin cuốn sách:
    • Tác giả: Nguyễn Gia Phu – Nguyễn Văn Ánh- Đỗ Đình Hãng – Trần Văn La.
    • Tái bản lần thứ 9 - NXB Giáo Dục.
    • Số trang: 400 trang
    • Giá bán: 26800 VNĐ
    • Thông tin thêm: In 3000 cuốn, khổ 16 x 24 cm. Xuất bản tháng 4 / 2005.
    • Định dạng File: Word.
    • Số hoá bằng: ABBYY FineReader 11.

    2. Lời giới thiệu:

    Nội dung cuốn sách trình bày lịch sử thế giới trung đại ở các nước tây Âu và phương Đông. Ở các nước Tây Âu từ sự hình thành chế độ phong kiến, sự ra đời và phát triển của thành thị, giáo hội Kitô và những cuộc viễn chinh của quân Thập tự, văn hóa Tây Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ XIII, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu, những phát kiến lớn về địa lý (cuối thế kỷ XV- đầu thế kỷ XVI và sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, văn hóa phục hưng, cải cách tôn giáo và chiến tranh nông dân ở Đức, cải cách tôn giáo ở Thụy Sĩ, hoạt động chống cải cách tôn giáo của giáo hội thiên chúa, sự phát triển của chế độ phong kiến từ phân quyền đến tập quyền ở Pháp, cách mạng Nêđéclan. Các nước Phương Đông thì trình bày lịch sử các nước: Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, A Rập. Đây là đại diện cho các nền văn minh tiêu biểu nhất cho văn minh Phương Đông.

    Ở phương Tây, Trung đại hay Trung cổ là thuật ngữ dùng để chỉ giai đoạn lịch sử nằm giữa hai thời kì cổ đại và cận đại được các nhà nhân văn chủ nghĩa Italia nêu ra đầu tiên vào thế kỉ 16, sang thế kỉ 17 được nhà sử học Đức Crixtôphơ Kenlơ vận dụng để chia tác phẩm "Lịch sử thế giới" của ông thành 3 phần: cổ đại, trung đại và cận đại. Đến thế kỉ 18, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến ở phương Tây. Tuy сáс học giả đã nhất trí cho rằng trung đại là giai đoạn ở giữa cổ đại và cận đại nhưng thời kì lịch sử này mở đầu và kết thúc vào lúc nào thì ỷ kiến có khác nhau, vể mốc mở đẩu, người ta chủ trương dựavào các sự kiện lịch sử như các hoàng đế Rôma chết, ví như hoàng đế Đômixiêng chết năm 96, đế quốc Tây Rôma diệt vong (476), giáo hoàng Grêgoa l lên ngôi (590), người A Rập chiếm Gíêrudalem (638), Sáclơmanhơ đưọc tấn phong làm hoàng đế (800) v.v... Về mốc kết thúc, người ta căn cứ vào các sự kiện như đế quốc Đông Rôma diệt vong (1453), Crixtôphơ Côlômbô tìm ra châu Mĩ (1492), năm bắt đầu của phong trào cải cách tôn giáo ở Đức (1517). v.v... Rõ ràng là hầu hết những thời điểm được nêu ra ở trên đều không có ý nghĩa vạch thời đại.

    Các sử gia Mác-xít cho rằng lịch sử trung đại về cơ bản là lịch sử chế độ phong kiến, một hình thái kinh tế xã hội tiếp theo chế độ chiếm hữu nô lệ mà niên đại đánh dấu sự kết thúc của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Tây Âu là năm 476, năm đế quốc Tây Rôma diệt vong. Còn sự kiện đánh dấu sự kết thúc thời trung đại và mở đẩu cho thời kì cận đại là cuộc cách mạng tư sản Anh bắt đầu bùng nổ năm 1642.

    Còn về phương Đông thì việc xác định thời gian bắt đầu của lịch sử Trung đại phương Đông là một vấn đề ko dễ như ở phương Tây. Do sự phát triển độc lập của lịch sử các nước phương Đông, việc tìm một mốc thời gian chung mở đẩu cho lịch sử Trung đại phương Đông là khó thực hiện được. Việc tìm một ranh giới thời gian để phân chia lịch sử cổ đại và trung đại của Trung Quốc và Ân Độ cũng là một việc không dễ được mọi người nhất trí. Sở dĩ như vậy là vì sự khác biệt về phương thức sản xuất giữa giai đoạn trước và giai đoạn sau ở Trung Quốc không phải là một sự khác nhau về bản chất, còn Ấn Độ thì không có gì khác nhau.

    Về mặt phương thức sản xuất, xã hội phương Đông thời trung đại cũng là xã hội phong kiến nhưng quan hệ phong kiến ở đây khác phương Tây. Chế độ phong kiến ở phương Đông gồm 2 quan hệ là quan kệ nhà nước - nông dân và quan hệ địa chủ - tá điền. Tình hình này ở phương Đông không phải là một vấn đề mới. Ở Trung Quốc, từ thời Xuân Thu về trước đã tồn tại quan hệ thứ nhất, từ thời Chiến Quốc về sau thì cả hai quan hệ cũng tồn tại. Riêng Ân Độ thì trong suốt thời cổ trung đại hầu như chỉ có quan hệ thứ nhất mà thôi. Tình hình Việt Nam, Triều Tiên, Nhật v.v... cũng tương tự, nhưng xu hướng chung là trong thời kì đẩu ruộng đất chủ yếu thuộc về nhà nước, về sau ruộng tư mới dẩn phát triển.

    Do nền kinh tế hàng hoá phát triển chậm chạp của nên ở 1 số nước từ thế kỉ 16 về sau mầm mống của CNTB đã xuất hiện, nhưng nhân tô ấy còn hết sức nhỏ nên chưa đủ sức gây nên những ảnh hưởng quan trọng làm thay đổi lịch sử phương Đông.

    Đến thế kỉ XVIII, XIX, đa số các nước phương Đông bị các đế quốc phương Tây xâm lược. Riêng Nhật đã chuyển từ phong kiến lên CNTB vào năm 1868 khi thực hiện “Minh Trị duy tân".

    Tuy về hình thái kinh tế xã hội và về thể chế chính trị, ở phương Đông có nhiều điểm tương đổng nhưng sự phát triển lịch sử của các nước ở đây mang tính độc lập rất lớn. Vì vậy, lịch sử phương Đông ko trình bày như phương Tây mà phải trình bày theo từng nước.

    3. Thông tin ngoài lề:

    Mình để định dạng Word cho các bạn dễ tham khảo. Ai có nhu cầu chuyển sang PDF hoặc PRC đều tiện lợi cả. Mình scan sách ra rồi dùng ABBYY chuyển thành Word. Do sách hơi cũ nên OCR có khá nhiều lỗi cần phải chỉnh. Mình đã soát lỗi chính tả kĩ, nhưng vẫn có thể còn sai sót do chỉ làm có 1 mình, nên các bạn thông cảm.
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 26/10/13
  2. kaltha

    kaltha Mầm non

    cám ơn bạn nha
     
  3. saczin

    saczin Mầm non

    Một cuốn sách bổ ích, cám ơn bạn nhiều !;)
     
  4. noulx23

    noulx23 Mầm non

    1 đầu sách hay bá cháy , rất cám ơn bạn :eek:
     
  5. Uillean

    Uillean Banned


    Yĕhôshúa (Yəhôšuaʿ) là húy vị lĩnh tụ và truyền giáo sĩ có ảnh hưởng lớn nhất ý thức hệ Cơ Đốc.

    Theo cổ sự kí, đức Yĕhôshúa vốn người Do Thái, nhưng giáng sinh ở thời toàn bộ miền Knʿn tùy thuộc La Mã đế quốc. Hơn nữa, theo truyền thống, cứ liệu cổ nhất nhắc danh Ngài là Tân Ước lại soạn bằng Hi văn, cho nên các danh hiệu Ngài thường được hậu thế dùng ba ngữ hệ Ivrit, Hi Lạp và La Mã. Trong thời bành trướng thực dân, các giáo sĩ La Mã thường phổ biến Thánh Kinh bằng Ý ngữ và Anh ngữ, nên tới nay có 5 ngôn ngữ thông dụng nhất để xướng danh Ngài khi thánh lễ.

    DANH HIỆU

    ▫ Húy danh : Yĕhôshúa (ישוע)
    ▫ Biệt danh : Yĕhôshúa con Yosef (ישוע בר יוסף), Yĕhôshúa xứ Natzeret (ישוע מן נצרת)
    ▫ Xước hiệu : Khristós (Χριστός), Mashiakh (משיח), INRI (IESVS NAZARENVS REX IVDÆORVM)
    ▫ Thụy hiệu : Yehoshua Khristos
    ▫ Tôn xưng : Đức Chúa Yehoshua, Đức Chúa Hài Đồng, Đức Chúa Con, Đức Ngài, Chúa Mlời, Ngôi Mlời

    DANH NGÔN

    ▫ Ego eimi / Ἐγώ εἰμι [eɡɔ̌ː eːmí] (Ta đây).
    ▫ Mulier ecce filius tuus (Thưa Bà, đây là Con của Bà).
    ▫ Domine quo vadis ? (Bẩm Thầy đi đâu ?), Eo Romam iterum crucifigi (Thầy đi vào Roma để chịu khốn nạn lần nữa).

    LỊCH SỬ

    Theo truyền thống, cứ liệu chính thức về hành trạng đức Yehoshua là trong Tứ Đại Phúc Âm, hay cách khác, Ngài là nhân vật trung tâm Tân Ước. Từ đó, tùy mỗi hệ phái Cơ Đốc giáo lại có cách diễn giảng khác, nhưng tựu trung các sự kiện chính không đổi.

    Các thủ cảo cổ nhất chỉ chép đại khái rằng, đức Yehoshua quán tại thành Natzeret xứ Galil miền Knʿn cực Tây La Mã đế quốc. Năm ba mươi tuổi, Ngài được Thiên Chúa mặc khải nên bắt đầu đi truyền giáo lý, mà nhờ đó khai sáng Cơ Đốc giáo khắp Địa Trung Hải.

    Tuy nhiên, theo các văn bản chính thức được Thánh Tòa công nhận hoặc cho bổ khuyết các giai đoạn sau, đức Yehoshua là con ông thợ mộc Yosef với bà Miriam. Nhưng Ngài đích thực là Con Thiên Chúa, mà bà Miriam chịu thai bởi Thiên Chúa nên vẫn đồng trinh.

    Thời vua Horedos Cả, có ba hiền giả ở Đông phương theo vì phúc tinh tới bệ kiến, nói rằng trong dân Do Thái có vị vua sắp sinh ở Beitlehem. Vua bèn sai người tìm giết bé trai từ 2 tuổi giở xuống. Bấy giờ, ông thợ mộc Yosef xin nghỉ tạm ở chuồng ngựa để đỡ vợ là bà Miriam sắp trở dạ. Đêm 24 rạng 25 tháng 12, bà Miriam hạ sinh một bé trai và đặt trong máng cỏ, ba hiền giả trờ tới dâng lễ vật và lạy mừng. Vì thế, đứa bé được định danh Yehoshua (cứu rỗi). Chừng canh ba, thiên sứ báo mộng cho ông Yosef đưa vợ con trốn sang Ai Cập, nhờ thế mà thoát nạn. Mươi năm sau, vua Horedos Cả mất, gia đình thánh lại về bản quán Beitlehem làm ăn. Cậu bé Yehoshua được cha cho đi chăn chiên và thi thoảng học nghề mộc, nên về sau Ngài được gọi Đấng Chủ Chăn, các tín đồ xưng con chiên của Ngài.
    Những năm vua Horedos Antipes trị vì, trong dân gian đã kháo nhau về một Đấng Cứu Thế (Mashiakh) sắp xuất hiện để cứu chuộc nhân quần. Ở bến sông Hayarden thường có ông Yohanan Tẩy Giả múc nước rửa tội cho các người hối lỗi, dân chúng vì thế kéo tới coi rất đông. Nhưng ông tuyên bố mình không phải Đấng Cứu Thế, mà chỉ là người đợi Ngài xuất hiện. Thình lình trong đám đông có thanh niên chừng ba chục tuổi xuống xin thanh tẩy, ông cảm thấy chính là Người mình mong bấy lâu, bèn miễn cưỡng tuân theo bởi biết mình không xứng.
    Sau khi nhận phép tẩy, đức Yehoshua vâng lời Chúa Thánh Linh mà bỏ nhà vào hoang địa, kiêng khem 40 ngày đêm, cam chịu mọi phiền trách của quỷ sứ cám dỗ. Khi quỷ thất bại bỏ đi rồi, các thiên sứ bèn tới hầu việc.
    Đức Yehoshua lại rời hoang địa đi khắp Yehudah thâu nạp môn đồ, lập thành Nhóm Mười Hai trứ danh. Họ theo chân Chúa đi khắp nơi thuyết giáo và chữa bệnh, mà sự kiện lừng lẫy nhất là Bài giảng trên núi. Cùng dân theo Ngài mỗi lúc một đông.
    Các thầy thượng tế Do Thái bắt đầu bất an vì sức ảnh hưởng của đức Yehoshua cùng Tân Thánh Hội, nhưng họ không biết rõ nhan Ngài. Các thầy bèn đem 30 cắc bạc mua chuộc môn đồ Yehudah Ishkerayot, lại thưa lời khống lên quan tổng trấn Pontius Pilatus.
    Chúa Yehoshua biết ngày phán xét đã gần, bèn sai các tông đồ soạn Tiệc Ly, Ngài lộ phần nào những điều sắp xảy đến với Mình, nhưng không nói ai là kẻ phản Thầy phản bạn. Khi Chúa đang dẫn các học trò thăm vườn Gatshmanim, Yehudah Ishkerayot bỗng tới ôm hôn Ngài, lập tức quân La Mã ập vào bắt Ngài đi. Các tông đồ vừa sợ vừa muốn cứu Thầy, bèn tản mác chạy cả.
    Nhằm lễ Quá Hải, sau khi không tra khảo được gì, quan xét Pontius Pilatus bèn khép đức Yehoshua vào tội huyên truyền dị đoan, bắt Chúa dong từ nhà ngục lên đồi Gulgolet, rồi đóng đinh câu rút treo Ngài lên thập giá đến chết khô. Tương truyền, chiến sĩ La Mã Longius vì tò mò đã thúc ngọn giáo vào mạng sườn Chúa cho rỉ máu, rồi một trưởng quan đóng tấm bảng INRI (Iesus người Nazaret, vua dân Do Thái) lên đỉnh thập giá. Thánh Thể được các môn đồ lén đem xuống rồi đưa vào một thạch động ở Gatshmanim.
    Theo một dữ kiện khác, xuất hiện ở giai đoạn trễ hơn, vốn dĩ quan tổng trấn Pontius Pilatus cho phép dân Do Thái chọn ơn sá hoặc đức Yehoshua hoặc tướng cướp Yeshua Barabba nhân lễ Quá Hải. Người Do Thái đồng lòng chọn Chúa Yehoshua. Tuy nhiên, đức Yehoshua nguyện chết thay cho tên cướp để hiến Mình cho sự cứu rỗi nhân loại.
    Mươi hôm sau, ở trong động phát ra một vầng sáng lạ. Các môn đồ bèn vần tảng đá chèn cửa động ra coi, nhưng họ không thấy gì và bỏ đi. Rốt cuộc chỉ có nàng Miriam Migdad gặp một bóng Người áo trắng lướt qua, bèn nhận ra Chúa Yehoshua. Nhưng Ngài không cho chạm tới để giữ Mình trong sạch trước khi kiến diện Đức Chúa Cha, bèn dặn nàng, bảo các tông đồ hãy tới hồ Galil để gặp Ngài lần nữa. Cả bọn bèn kéo nhau ra bờ hồ Galil, thấy Mình Chúa tỏa sáng. Chúa huấn thị họ đi khắp nơi rao Tin Lành (Ευαγγέλιο, Evangelium) về sự tái lâm và cứu chuộc, rồi Ngài thăng thiên.

    VĂN HÓA

    Tín đồ Cơ Đốc giáo nhìn chung được gọi Cơ Đốc nhân và tự xưng Cơ Đốc hữu, đồng thời suy tôn Ngài là Con Thiên Chúa.

    Thánh lễ

    Theo truyền thống, sự đời Chúa Yehoshua là nguồn gốc các thánh lễ sau :

    ▫ Bí Tích Thánh Thể : Mỗi Chúa Nhật hàng tuần, sau khi hết nghi thức cầu kinh, các con chiên đến trước bàn Tiệc Ly để nhận ơn sủng, nghĩa là các linh mục đặt bánh đa vào miệng cho.
    ▫ Tiệc Ly (thay lễ Quá Hải) : Diễn ra ngày thứ Năm đầu tháng Ba, gồm bánh đa (Mình) và rượu nho (Máu).
    ▫ Phục Sinh : Diễn ra tháng Ba hoặc Tư tùy năm, phỏng lễ Quá Hải để tưởng niệm ngày Chúa Yehoshua tái lâm, cộng đoàn luộc trứng gà để tặng nhau làm phước.
    ▫ Giáng Sinh : Diễn ra ngày 25 tháng 12 hàng năm, các gia đình quây quần dùng tiệc, không câu nệ nghi thức. Tuần trước ngày 25 gọi mùa Vọng, hôm 24 gọi đêm Vọng, nhi đồng đi gõ cửa các nhà xin kẹo.

    Riêng với Công giáo hữu toàn tòng, ngày thứ Sáu hàng tuần nghiêm cấm ăn thịt, để tưởng niệm ngày Chúa Yehoshua lên giảo giá chịu cực hình.

    Thánh địa

    ▫ Ở nội thành Yerushaláyim có Giáo Đường Mộ Thánh do thái hậu Helena cho dựng ngày 13 tháng 09 năm 335, bởi tương truyền trong lúc khai quật địa điểm chôn cất Chúa Yehoshua, toán thợ đã phát hiện Thập Giá Đích Thực thấm máu Chúa lúc hành hình. Địa điểm này làm căn nguyên để Thánh Tòa phát động thập tự chinh suốt trung đại trung kì. Ngày nay Giáo Đường thuộc tô giới Yisrael.
    ▫ Năm 1625, triều đình Romanov cho lập Đại Thánh Đường Rước Áo Chúa tại kinh sư Moskva. Theo sử kí, nơi đây quàn mảnh Áo Chúa mà đức Yehoshua mặc lúc đi Đàng Khốn Nạn. Áo là phẩm vật sa hoàng Ba Tư gửi biếu nước Nga để thông hiếu.
    ▫ Mũi Thánh Thương tương truyền do người lính Longius đâm mạng sườn đức Yehoshua hiện là đệ nhất bảo vật tại Vương Cung Thánh Đường Pietro. Tuy nhiên, có thuyết cho rằng Thánh Thương ở Wien và cả một số nơi khác.
    ▫ Tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Thăng Thiên (Valencia) hiện để Thánh Tước, được cho là đựng Máu Chúa hoặc rượu Chúa dùng Tiệc Ly. Bảo vật này được coi là thành quả cuộc tái chinh phục ở trung đại trung kì.

    Việt Nam

    Theo các cứ liệu được học giới xác nhận, Cơ Đốc giáo du nhập An Nam sớm nhất chừng thế kỉ XVI. Tuy nhiên, ở thời Tùy-Đường, Cảnh giáo từng rất phát đạt nhờ sự giao thương với các người Ba Tư và Hồi Hột, ít nhiều có tác động tới tín ngưỡng và phong tục bản địa.

    Trước thời Nguyễn, Cơ Đốc giáo thông qua phái Tin Lành được người Bắc Hà và Nam Hà chuộng nhất. Mặc dù các giáo sĩ nỗ lực học bản ngữ, thậm chí chuyển soạn Thánh Kinh theo song ngữ Hán-Nôm, nhưng ngược lại, cho tới đầu thế kỉ XX vẫn chưa có bản Thánh Kinh thống nhất. Các linh mục chỉ có thể giảng nghĩa Tân Ước theo ý hiểu của mỗi vị và hợp đặc tính giáo dân mỗi vùng. Vì vậy, sự đời Chúa Yehoshua có những thời kì tồn tại dị bản. Nhưng tựu trung, các thư tịch thánh hội An Nam đều kí danh Ngài là Giêsu (支秋).

    Theo một chuyên khảo từ vựng của tác gia Trần Quang Đức, ở thời Lê trung hưng các lời huấn thị của đức Yehoshua được chuyển soạn An Nam ngữ là xưng hô tao-mày-nó, hợp văn ngôn của mọi giai cấp thời ấy. Chỉ sang giữa thế kỉ XIX, thậm chí trễ hơn, mới có các văn kiện tái diễn dịch thành ta-mi-con-ngươi-y/thị/hắn/ả, bởi văn ngôn đã đổi. Ở hiện đại hậu kì, khi cần trích các cổ bản dịch Tân Ước, những lời ấy thường bị sửa thô bạo vì cho tao-mày-nó là khiếm nhã. Điều này trái tinh thần khoa học và tôn trọng dữ liệu lịch sử.


    [​IMG]
    Sao bản chân dung ba vị chủng sinh người Bắc Hà làm thông ngôn
    cho sứ bộ Siêm tại Vaticanus năm 1688, tác gia Carlo Maratta họa
     
  6. Uillean

    Uillean Banned


    Mười hai tông đồ (Do văn : שנים-עשר השליחים, Hi văn : Δώδεκα Απόστολοι, La văn : Duodecim-autem Apostolorum, Hán văn : 十二宗徒) là nhóm nhân vật thứ trong Tân Ước được Cơ Đốc chư giáo hội tuyên thánh.

    LỊCH SỬ

    Mười hai tông đồ (tục danh : Nhóm Mười Hai) thường được nhận thức là các Cơ Đốc hữu ban đầu. Các vị vốn là môn đệ đức Yehoshua, được Ngài dạy làm người công chính để đi truyền giảng Phúc Âm và tịch tà, qua đó phát triển Thánh Hội mà đức YHWH đã chúc phước.

    Nhóm Mười Hai được Tân Ước nguyên bản nhắc thảy 79 lần : 10 trong Phúc âm nhất lãm, 28 trong Sứ đồ hành truyện, 38 trong Đại công thư tín tập và 3 trong Khải huyền lục. Ngày nay được cả tông tòa Công giáo và thượng tòa Chính Thống giáo tuyên thánh.

    Theo Phúc âm nhất lãm, nhóm Mười Hai đều quê ở Galil, gồm :

    ✧ Ông Shimon con cụ Yochanan (שמעון בן יוחנן), còn gọi Petros Đá, được Chúa Yehoshua chọn làm tông trưởng.
    ✧ Ông Andreas (אנדראס), bào đệ ông Petros, vốn là đệ tử ông Yohanan Tẩy Giả.
    ✧ Ông Yaakov Lớn con cụ Zavdi (יעקב בן זבדי).
    ✧ Ông Yohanan Tông Đồ (יוחנן בן זבדי), bào đệ ông Yaakov Lớn.
    ✧ Ông Shimon Phấn Khích (שמעון הקנאי).
    ✧ Ông Bartolmay (בר-תולמי), thường gọi Nataniel (נתנאל).
    ✧ Ông Toma (תומאס).
    ✧ Ông Yaakov Nhỏ con cụ Halfay (יעקב בן חלפי).
    ✧ Ông Mattay (מתי בן חלפי), còn gọi Levi (לוי), nhị đệ ông Yaakov Nhỏ.
    ✧ Ông Tadeus (תדיאוס), còn gọi Yehudah (יהודה), tam đệ ông Yaakov Nhỏ.
    ✧ Ông Filip (פיליפוס).
    ✧ Ông Yehudah Ishkerayot (יהודה איש־קריות).

    Sau khi ông Yehudah Ishkerayot tự vẫn, ông Mattityahu (מתתיהו) được thế chỗ. Ngoại trừ ông Yehudah Ishkerayot bị coi tội đồ, mười hai ông còn lại được giáo hội tuyên thánh hoàn toàn.

    VĂN HÓA

    Cứ theo các văn bản Thánh Kinh phụng vụ của Thánh Hội Tin Lành và Công giáo, tại An Nam từ trung đại trung kì phiên danh các vị theo tiếng Ý trung đại như sau :

    Thánh Simôn/Phêrô Đá Tảng người sự lòng tin và cậy, thánh Anrê người sức mạnh, thánh Giacôbê Tiền người sự xét đoán, thánh Gioan Tông Đồ người lòng yêu, thánh Simôn Nhiệt Thành người sự lòng sốt sắng, thánh Batôlômêô/Natanien người sự tưởng tượng, thánh Tôma Hồ Nghi người thông minh, thánh Giacôbê Hậu người giai cấp, thánh Giuđa Tađêô người trong sạch, thánh Mátthêô người ý chí, thánh Philípphê người quyền lực, thánh Mátthia người tử đạo, ông Giuđa Ítcariốt người giữ túi tiền.


    [​IMG]
    Họa phẩm mường tượng chân dung 12 vị thánh tông đồ
     
  7. mrbean_pfiev

    mrbean_pfiev Mầm non

    cảm ơn bác đã chia sẻ
     

Chia sẻ trang này