Tác giả Tuyển tập Luận đề về Cao Bá Quát - GS Nguyễn Duy Diễn <1000QSV1TVB #0488>

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi Thu VO, 7/9/19.

  1. Thu VO

    Thu VO Leader 1000QSV1TVB

    0488.Luận đề về Cao Bá Quát.PNG

    Tên sách : LUẬN ĐỀ VỀ CAO BÁ QUÁT
    Tác giả : Giáo sư NGUYỄN DUY DIỄN
    Nhà xuất bản : THĂNG LONG
    Năm xuất bản : 1952
    ------------------------
    Nguồn sách : Nguyễn Hữu Hoan Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Đánh máy : Đỗ Trung Thực
    Kiểm tra chính tả : Phạm Thu Phương, Hoàng Thị Xoan
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 02/09/2019

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
    « Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link »
    của diễn đàn TVE-4U.ORG

    Cảm ơn Giáo sư NGUYỄN DUY DIỄN và nhà xuất bản THĂNG LONG
    đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
     
  2. Thu VO

    Thu VO Leader 1000QSV1TVB

  3. Thu VO

    Thu VO Leader 1000QSV1TVB

    TIỂU SỬ CAO BÁ QUÁT

    Họ Cao ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Kinh Bắc (tức là tỉnh Bắc Ninh bây giờ) vẫn là một cự tộc, nối đời khoa hoạn.

    Trong họ đó, xưa kia, có Cao bái Hiên làm tới Binh Bộ Thượng Thư dưới triều vua Lê, kiêm lĩnh chức Tham Tụng (Thủ tướng) trong phủ Chúa Trịnh. Sau đó, nhiều người khác trong dòng họ Cao đều rất giỏi về văn chương, và đã sung vào nhiều chức quan trọng khác dưới các triều vua.

    Kế tới đời ông đồ Cao, tuy đã nấu sử, sôi kinh, nhưng gặp hồi loạn lạc cuối Lê, không ra thì cử được để tiến đạt, ông đành ở nhà đóng vai ẩn sĩ, rồi sau khi trong nước đã bình định, ông mở trường dạy học.

    Bà đồ Cao là một người đàn bà hiền từ – Một tay bà tần tảo nên ông đồ có thể yên tâm mà chuyên công đèn sách.

    Ông bà đồ Cao sinh được, một lúc, hai người con trai. Người ra trước, ông bà đặt tên là Cao bá Đạt – Người ra sau, đặt tên là Cao bá Quát.

    Vì đẻ sinh đôi, ông Đạt và ông Quát đều lắm tật bệnh – Hết chứng sài nọ, lại tiếp đến chứng sài kia – Nhưng từ ba tuổi trở đi, thì hai ông đều khỏe mạnh.

    Hai người tư chất rất mực thông minh nên học đến đâu hiểu tới đấy. Nhất là ông Quát đã tỏ ra trác tuyệt ngay từ khi còn ít tuổi : Lời văn hùng hồn, ý văn rất mạnh. Không những thế, ông lại còm có thêm tính khí ngang tàng, không chịu ràng buộc trong một khuôn sáo nào nhất định.

    Khoa Tân-mão niên hiệu Minh-Mệnh thứ 12 (1831) Cao-bá-Quát đỗ Á nguyên [1] tại Trường Thi Hanoi – (ông anh là Cao-bá-Đạt thì bị hỏng, nhưng đến khoa sau Minh-Mệnh thứ 15 (1834) thì đỗ Cử-Nhân).

    Đỗ khoa hương rồi, ông Quát lên đường vào kinh thi Hội.

    Khoa thi này ông Quát không đỗ chỉ vì có lỗi « huề hiệp văn thư » [2]. Sự thực thì ông Quát chỉ có để quên trong tráp tờ nhận thực của Lý-trưởng.

    Sau đó trải hai khóa nữa, Cao-bá-Quát đều bị trượt cả, không phải vì văn bài kém, mà chỉ vì người ta hùa nhau ghétông nên tìm cớ đánh hỏng mà thôi – Thi càng không đỗ, ông càng hiểu rõ tâm địa người đời và càng dùng lời nói, hoặc câu văn để chửi một cách trắng trợn và hết sức chua chát.

    Sau khi đã đỗ Á nguyên và trước khi vào kinh lĩnh chức Hành Tẩu Bộ Lễ, khoảng 10 năm trời (từ Minh-Mệnh thứ 13 (1832) đến năm Thiệu-Trị 1 (1841)). Cao-bá-Quát (còn gọi là Cao-chu-Thần nữa) đi ngao du đó đây, lấy văn chương trêu ghẹo người thiên hạ. Ông đã trở nên một kẻ lãng sĩ trong áng giang hồ. Thời kỳ này chính là thời kỳ lang bạc của Cao-chu-Thần vậy.

    Niên hiệu Thiệu-Trị nguyên niên (1841), Cao-bá-Quát, do sự tiến cử của quan tỉnh Bắc-Ninh được vào kinh sung chức Hành Tẩu Bộ Lễ. Đó là một chức nhỏ, nhưng vì muốn làm vui lòng thân mẫu, nên ông đành ra nhậm chức.

    Trong thời kỳ nhậm, chức Cao-bá-Quát vẫn giữ nguyên tính cũ, không bao giờ, vì một cớ nào đó mà ông có thể chịu uốn nắn cái phong cốt thẳng thắn, cái tính tình phòng nhiệm để a-rua nịnh hót hòng bước lên chức trọng.

    Tuy lĩnh một chức nhỏ trong bộ máy chính-trị triều đình Huế (cái triều đình rất trọng đẳng cấp tôn ty), nhưng nếu có sự không hợp lý, ông can đảm mang ra hài hước, bất chấp mọi người, kể cả vua Thiệu-Trị, hoặc Tự-Đức.

    Vì một chuyện xảy ra ở trường thi Thừa-Thiên (nơi ông được cử làm một trong những chân sơ khảo) ông bị buộc vào tội chữa bài cho một thi-sĩ, nên bị cách chức và bị đầy vào Đà-Nẵng (Tourane bây giờ).

    Thời kỳ đi đầy này kéo dài khá lâu, ông đã nếm hết mọi mùi tân khổ.

    Gập khi có sứ bộ Đào-trí-Phúc sang Tân-Gia-Ba công cán, ông được lệnh rời khỏi Đà-Nẵng, theo sứ bộ để phù tá công việc.

    Ở Tân-Gia-Ba về, ông được phục hồi nguyên chức, nghĩa là lại làm Hành Tẩu Bộ Lễ. Vài năm sau ông được thăng lên chủ sự (vẫn là một chức rất nhỏ trong triều đình).

    Bấy giờ ở Kinh, Tùng Thiện Công Miên Thẩm (tức sau làm Tùng Thiện Vương) cùng các quan Đại thần như Phan-Thanh-Giản, Trương-Đăng-Quế, Hà-Tôn-Quyền, v.v… thành lập Thi Xã Mặc Vân. Thi Xã đó nổi tiếng từ Nam chí Bắc. Vì biết tài lỗi lạc của Cao-Chu-Thần, nên Tùng Miên Thẩm và Tuy Lý Vương đến mời ông tham dự, ông từ chối. Đã có lần ông lắc đầu bịt mũi ngâm hai câu thơ :

    « Ngán cho cái mũi vô duyên,
    Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An ».

    Dám ví thơ thi xã với thuyền mắm Nghệ An thì đủ rõ ông can đảm đến bực nào. Nhưng sau cùng vì hai ông Tùng và Túy hết mực tha thiết mời mọc ông năm lần, bảy lượt ; cảm vì sự tấm lòng, chuộng tài ít có, ông đành phải gia nhập thi xã Mặc Vân.

    Vua Tự Đức là một người rất trọng văn chương nên khi lên ngôi ngài đã tỏ lòng hâm mộ Cao chu Thần – Nhưng dù vậy Cao chu Thần vẫn không quên tìm cách chế riễu, châm biếm vua một cách thấm thía.

    Trong thời kỳ này, Vua, cũng như các quan triều thần đều ghét ông chỉ vì ông trực ngôn, dám nói sự thực, không kiêng nể.

    Năm Tự Đức thứ 7 (1854) Cao chu Thần bị đổi ra làm giáo thụ Quốc Oai (Sơn tây) – nhưng thực ra nó là một hình thức bị đầy ải thì đúng hơn, vì Quốc Oai là một nơi rừng núi, học trò lơ thơ và hầu hết đều dốt nát, đần độn.

    Uất hận, một phần vì cảnh điêu đứng, nghèo khổ của dân chúng trước mắt, một mặt vì quân quyền chuyên chế, bất công, nên ông gia nhập làm tham mưu cho Lê Duy Cự, nổi lên chống triều đình. Phong trào thoạt đầu khá mạnh [3]. Quân đội của Cao bá Quát tấn công nhiều nơi, nhưng vì tổ chức còn lỏng lẻo, nên bị quân triều đình diệt tan – Cao bá Quát bị bắt và bị điệu về chém tại nguyên quán, tức làng Phú-Thị Kinh Bắc (Bắc-Ninh) cùng với hai con trai ông là Cao-bá-Thông và Cao-bá-Phùng. Cao-bá-Đạt lúc đó đang làm tri huyện ở Nông-Cống cũng bị bắt – khi điệu đi nửa đường ông tự vẫn chết.

    Cao-bá-Nhạ là con trai Cao-bá-Đạt chạy trốn được, liền đổi tên họ, và lấy vợ, ẩn náu ở chân núi Hương-Sơn – Nhưng chừng hơn 8 năm sau, có người biết tố giác, nên Cao-bá-Nhạ bị bắt. Trong khi bị giam, ông có làm bài minh oan thống thiết nhan đề là « Tự tình khúc » Sau đó ông bị án tử hình và bị xử ngay tại làng Phú-Thị. [4]

    [1]Tức là đỗ thứ nhì (sau giải nguyên).

    [2]Mang giấy tờ sách vở vào trường thi.

    [3]Người ta gọi cuộc khởi nghĩa này là : « giặc châu chấu ».

    [4]Chứ không phải chết đầy ải ở miền sơn cước như dư luận từ trước đến giờ.
     
    kissssss and tieungao like this.
: 1000qsv1tvb

Chia sẻ trang này