Một ít kỷ niệm về bác Nguyễn Hiến Lê (Lê Minh Đức)

Thảo luận trong 'Tủ sách Tuỳ Bút - Biên Khảo' bắt đầu bởi 4DHN, 4/10/13.

  1. 4DHN

    4DHN --------- Thành viên BQT

    [TABLE="class: tborder, width: 100%, align: center"]

    [TD="class: thead, bgcolor: #3A758E"][​IMG] 22-10-2008, 06:40 PM[/TD]
    [TD="class: thead, bgcolor: #3A758E, align: right"] #Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link[/TD]

    [TD="class: alt2, width: 175, bgcolor: #F4F2ED"]Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Thủ thư

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Tham gia ngày: Oct 2006
    Bài gởi: 1,052
    Xin cảm ơn: 1,962
    Được cảm ơn 9,570 lần trong 1,093 bài


    [/TD]
    [TD="class: alt1, bgcolor: #F8F7F4"][​IMG] Một ít kỷ niệm về bác Nguyễn Hiến Lê (Lê Minh Đức)
    [HR][/HR]
    MỘT ÍT KỶ NIỆM VỀ BÁC NGUYỄN HIẾN LÊ


    1

    Tôi quen với bác Nguyễn Hiến Lê nhờ báo Đại đoàn kết. Ngay số báo đầu tiên, năm 1976, bác là một trong danh sách những người được mời cộng tác thường xuyên cho báo, với cái tên “Học giả Nguyễn Hiến Lê”. Theo tôi biết, bác là một trong số trí thức miền Nam lúc bấy giờ được mời tham gia viết cho tờ báo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Và việc đó là nhờ công của anh Hai Khuynh, tức anh Nguyễn Huy Khánh, lúc đó là Phó Tổng biên tập của báo Đại đoàn kết. Anh Hai Khuynh là người quen biết bác Lê từ lâu, lúc anh còn rất trẻ, đó là tác giả một công trình nghiên cứu, theo tôi nhớ là Khảo về tiểu thuyết Trung Hoa và bác Lê đã viết bài tựa cuốn sách đó. Như vậy duyên văn học của hai người đã bắt đầu hai chục năm trước. Tôi chắc là ngay khi đó, bác Lê cũng biết phong thanh anh Hai Khuynh là một cán bộ “nằm vùng” của cách mạng. Sau này viết Hồi ký, bác lê có nhắc đến nhà văn Nguyễn Huy Khánh và cho biết anh là một trong những cán bộ cách mạng đến thăm bác đầu tiên ngay sau khi Sài Gòn được giải phóng, và đánh giá rất cao: “Đối với tôi, ông thành thực, cởi mở.” Theo tôi nghĩ, chính anh Hai Khuynh là người đã đề nghị mời bác Lê tham gia viết báo Đại đoàn kết.

    Khỏi phải nói, bác Lê đối xử với anh Hai Khuynh rất thân mật và, về lâu dài, chính tôi là người đã thừa hưởng sự thân mật đó. Anh Hai Khuynh đưa tôi đến nhà bác Lê ở đường Kỳ Đồng, anh Hai gọi bác bằng anh, tôi gọi bằng bác, theo cách hay gọi người lớn hơn mình. Trao đổi ý kiến về thời sự, về học thuật, tôi nhường lời cho anh Hai Khuynh nói, tôi ngồi nghe, mục đích tìm hiểu về tình hình sinh hoạt và con người Sài Gòn trong thời gian qua, vì mặc dầu tôi sinh trưởng ở Sài Gòn, nhưng xa cách thành phố quá lâu. Ngay từ đầu tôi thấy bác Lê rất dễ nói chuyện, cởi mở và thân mật. Tôi nhớ bác thường tiếp khách ở phòng khách dưới tầng trệt, nhưng sau vài lần tiếp xúc bác mời chúng tôi lên lầu để giới thiệu sách. Thật ra thì khách của bác không chỉ chất đầy từng lầu, mà ở cạnh cầu thang. Khắp nhà đầy sách, cất trật tự trong các tủ kiếng, bác giới thiệu với chúng tôi từng tủ sách. Và điều làm tôi ngạc nhiên là bác sẳn sàng biếu sách cho bạn bè, những sách do bác viết, và tự xuất bản mà còn lại nhiều bản. Tôi nhớ lần đầu, bác đã ký tặng tôi một cuốn sách về Lịch sử văn minh của Durant. Tôi còn hỏi xem bác có còn Đại cương triết học Trung Quốc không, vì tôi nghe nhiều người khen cuốn đó và tôi muốn tìm đọc. Bác nói là rất tiếc là sách ở nhà đã hết, nhưng nếu tôi muốn tìm thì bác sẽ giúp, bác viết một lá thư giới thiệu tôi với ông giám đốc trước đây của nhà Cảo Thơm, hiện đang bán sách cũ ở đường Cá Hấp *, ông ta sẽ bán cho tôi với giá rẻ. Tôi đến đó mua sách, và nhờ thư giới thiệu của bác Lê, ông Cảo Thơm đã nói chuyện với tôi khá thân mật về công việc xuất bản của ông trước đây. Nói chuyện với bác Lê về sách thì còn nhiều, nhưng tôi xin kể một câu chuyện tôi còn nhớ mãi.

    Nguyên sau ngày giải phóng Sài Gòn, tôi có đến thăm một người cậu lâu ngày xa cách. Ông cậu tôi có bằng cử nhân văn chương, và dạy sinh ngữ ở Sài Gòn. Sau mấy giờ hàn huyên, thấy tôi ham học hỏi, cậu mới tặng tôi mấy cuốn sách, trong đó có cuốn Le grand espoir du 20è siècle của Jean Fourastié. Tôi đọc một tuần là xong, nhưng khi tôi muốn tìm những sách khác của Fourastié, như La civilisation de 1975,Machinisme et bien-êtrePourquoi nous travaillons thì không biết tìm đâu ra. Một dịp đến chơi bác Lê, trong khi dán mũi vào tủ kiếng của bác, tôi thấy cuốn La civilisation de 1975. Tôi hỏi mượn bác cho mượn ngay, với thái độ rất sẳn sàng, và bác còn giới thiệu với tôi gần hết tác phẩm của tác giả Fourastié. Thật là một bất ngờ lớn đối với tôi, vì tôi không ngờ tìm được nhiều sách tôi vẫn tìm kiếm một cách dễ dàng như vậy. Tôi thấy hình như bác Lê cũng có phần nào ngạc nhiên, vì chắc ít ai mượn loại sách này của bác.

    Nhiều tháng sau, khi tôi trả cho bác cuốn sách cuối cùng, bác bất ngờ hỏi tôi: “Anh thấy ông này thế nào?” Tôi trả lời: “Mặc dù tôi biết có một số người chỉ trích ông nhưng tôi cho rằng ông là một người honnêtre.” Bác nắm tay tôi, bất ngờ nói: “Anh là người tri kỷ của tôi.” Tôi trả lời bác như vậy là có lý do. Tôi nghe có người phê bình Fourastié là một người theo thuyết “kỹ trị”, tôi không hiểu nói như vậy là có ý gì, nhưng tôi đọc sách của ông, tôi thấy ông là một nhà khoa học lương thiện, theo nghĩa một nhà trí thức thực tin vào điều mình nói, thấy đúng nói đúng, thấy sai nói sai. Rất tiếc là tài liệu về ông rất phong phú, nhưng những dự kiến của ông thì không thực tế, bị thời gian phủ nhận, nhưng đó là vấn đề khác. Tôi nghĩ bác Lê cũng nghe những lời phê bình đó và bác cũng không đồng ý, nên khi nghe tôi khen Fourastié, bác mới thấy gặp người “tri kỷ”. Sau đó, tôi có thuật chuyện này với anh Hai Khuynh nghe, anh cười mà không nói gì.

    Có lần bác lại hỏi tôi: “Sao anh không viết đi?” tôi trả lời là tôi đang làm báo, rất bận rộn và hay bị đột xuất chứ không chủ động được thời gian như làm sách, chứ tôi cũng muốn viết lắm. Tôi tính khi nào về hưu ở báo, thì sẽ viết. Bác cười hỏi: “Bao giờ?” Ý bác muốn nói về hưu thì già rồi còn gì.

    Lúc đó, tôi không biết rằng do việc đọc Fourastié, bác mới nảy ra ý viết một cuốn sách, nhan đề Một niềm tin: thế giới trong tương lai, Việt Nam trong hiện tại. Cuốn sách đó nghe nói bán không được chạy lắm, chắc là vì chiến tranh bùng nổ, độc giả không quan tâm đến vấn đề đó nữa, mặc dầu tác giả rất tâm đắc. Nhưng cuốn Một niềm tin cho ta hiểu cách viết sách của bác Lê. Bác là người ham học, mê sách từ nhỏ. Thấy sách nào hay cũng tìm đọc, đọc thấy hay thì ghi chép, lúc đầu để cho mình học, sau đó vừa ý thì tìm cách phổ biến cái hay cho người khác, tức là đem xuất bản. Hầu hết, nếu không nói là tất cả, sách của bác đều viết như vậy. Cuốn Một niềm niền tin cũng như vậy. Điều đó cũng có nghĩa là đề tài nào bác Lê tâm đắc, thích thú bác mới viết, không thì thôi, không câu nệ cuốn đó lời nhiều hay ít. Có một lần, tiễn anh hai Khuynh và tôi ra về, bác quàng vai tôi, nói như trần tình: “Tôi làm sách không phải để làm giàu như người ta, sách nào có ích thì tôi làm, có nhiều cuốn bán không chạy tôi vẫn làm.” Nghe nói cuốn Một niềm tin mà bác rất tâm đắc, in 2.000 cuốn mà bán sáu bảy năm mới hết. Có lẽ vì thế mà sau ngày miền Nam giải phóng, sách của ông không có cuốn nào bị cấm, chẳng những được lưu hành mà nhiều cuốn được tái bản, nhờ đó mà độc giả miền Bắc mới có dịp đọc bác

    ----------------
    * Là con đường ngắn chỉ khoảng 100m, từ đường Calmette tới đường Ký Con, ngày nay nằm trên địa bàn phường Nguyễn Thái Bình, quận I. Xưa kia vốn chỉ là một con hẻm, tục gọi hẻm Cá Hấp. Sau 1945 được mở rộng, rồi mang tên đường Bùi Quang Chiêu (từ 28-11-1952), lại đổi tên là đường Đặng Thị Nhu (từ 04-4-1985). Sau tháng 4-1975 nơi đây là chợ sách cũ khá đông đúc. [BT]

    (Còn tiếp)
    __________________
    Vô sự tiểu thần tiên
    [/TD]

    [TD="class: alt2, bgcolor: #F4F2ED"][​IMG] [/TD]
    [TD="class: alt1, bgcolor: #F8F7F4, align: right"]Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link[/TD]
    [/TABLE]
    [TABLE="class: tborder, width: 100%, align: center"]

    [TD="class: alt2, width: 175, bgcolor: #F4F2ED"]Các thành viên gửi lời cảm ơn đến bài viết hữu ích này:[/TD]
    [TD="class: alt1, bgcolor: #F8F7F4"]Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    [/TD]
    [/TABLE]




    [TABLE="class: tborder, width: 100%, align: center"]

    [TD="class: thead, bgcolor: #3A758E"][​IMG] 24-10-2008, 08:50 AM[/TD]
    [TD="class: thead, bgcolor: #3A758E, align: right"] #Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link[/TD]

    [TD="class: alt2, width: 175, bgcolor: #F4F2ED"]Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Thủ thư

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Tham gia ngày: Oct 2006
    Bài gởi: 1,052
    Xin cảm ơn: 1,962
    Được cảm ơn 9,570 lần trong 1,093 bài


    [/TD]
    [TD="class: alt1, bgcolor: #F8F7F4"][​IMG]
    [HR][/HR]2

    Một buổi chiều, tôi đến thăm Bác Lê, thấy bác đang ngồi viết trên gác. Lần đầu tiên, tôi trông thấy nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong thế đó. Không như một số nhà văn khác, bác viết nhiều như thế mà không bao giờ dùng máy đánh chữ. Trên bàn, có một cái ống kiểu như của người Tàu đựng bút lông, nhưng trong đó không có một cây bút lông nào, mà có khoảng bốn năm cây bút chì, vót sẳn rất nhọn, theo kiểu tôi vẫn thấy công chức ngày xưa hay dùng. Bác viết trên một xấp giấy pơ-luya nhiều tờ, nhiều màu khác nhau, lót giấy than, để mỗi lần viết được nhiều bản như người ta đánh máy vậy.

    Tôi hỏi bác đang viết gì? Bác trả lời: “Tôi đang viết về Mặc Tử.” Tôi lại hỏi: “In ở đâu?” vì tôi biết lúc đó các nhà xuất bản do nhà nước quản lý không in loại sách đó, và nếu có in thì còn rất lâu mới in được. Bác cười trả lời: “Chừng nào in được thì in…” Bác như tin chắc là sách của mình viết, sớm muộn gì cũng được xuất bản, có thể là sau khi bác qua đời. Tôi nói như thế là có một lần, tôi đem trả sách cho bác, bác bảo: “Thôi anh cứ giữ mà dùng. Tôi sắp chết rồi, giữ làm gì nữa…”

    Bác nói giọng đã yếu, không còn mạnh khoẻ như mấy lần tôi gặp lần đầu, nhưng còn rất minh mẫn. Lúc đó tôi không ngờ con người già yếu đó, luôn luôn bị bệnh bao tử hành hạ đó, trong vòng không đầy mười năm, đã viết và sửa chữa hơn một chục tác phẩm, chủ yếu là về triết học Tiên Tần, mười năm sau khi bác mất đã được xuất bản hàng loạt. Nhưng trở lại lúc khoảng năm 1980, lúc tôi trả lại mấy cuốn sách cuối cùng cho bác, thì bác ôm cái bao tử đang đau mà ngồi viết, trong tâm trạng không biết bao giờ in được, tôi cho là rất kiên trì, đáng phục.

    Thảo nào, bác cứ hỏi tôi, ở ngoài Bắc vào, có mang sách gì xuất bản ngoài Bắc thì cho bác mượn. Tôi nói sách của bác đầy cả nhà, bác còn mượn thêm làm gì, bác nói àng có tài liệu thêm càng tốt, biết đâu chừng một cuốn sách mới gợi mình những ý tưởng mới. Tôi nhớ là lần đầu bác hỏi tôi có sách gì về Gogol, Tourgueniev và Tchékhov không, bác đang muốn viết về các nhà văn đó. Rất tiếc là ngoài Bắc có học văn học Nga ở đại học mà sách báo ít quá, tôi chỉ có mấy giáo trình của một trường đại học đưa cho bác mượn, không tốt lắm nhưng có còn hơn không.

    Cách chừng một năm sau, bác lại hỏi tôi có sách nào về triết học Trung Quốc không, may là lần này tôi có được một số sách dịch của nhà xuất bản Sự Thật, số lượng ít nhưng mà có giá trị hơn lần trước. Đó là những cuốn Bàn về tư tưởng cổ đại Trung Quốc, Hiến học Khổng Mặc, Tư tưởng Lão Trang, v.v… của Hầu Ngoại Lư, Triệu Kỷ Bân, và Đỗ Quốc Tường; cuốn Lão Tử và Đạo đức kinh của Dương Hưng Thuận; cuốn Bàn về Khổng Tử của Quang Phong và Lâm Dật Thời với một số sách khác. Đó là tất cả “gia tài” về triết học Trung Quốc của tôi lúc đó, tôi mua những năm 1959-1960 ở Hà Nội, giữ nó qua mấy lần bom đạn và mang vào Nam sau ngày giải phóng. Chẳng bù là sau ngày giải phóng , vào Sài Gòn, tôi thấy có rất nhiều sách về văn hoá và triết học Trung Quốc, biên soạn cũng như dịch thuật. Rất tiếc là trong chiến tranh, miền Bắc không có công trình quy mô nào nghiên cứu về văn hoá và triết học Trung Quốc. Tôi không biết số sách ít ỏi của tôi có góp thêm được gì vào trí óc của một học giả đã biên soạn bộ Đại cương triết học Trung Quốckhông. Mấy tháng sau, khi bác trả sách, tôi lại hỏi: “Bác đọc thấy thế nào?”, bác chỉ trả lời: “Tôi tán thành cách họ đánh giá Khổng Tử.” Bác Lê không nói về các cuốn khác, nhưng trả lời như vậy là bác đã đọc rất kỹ. Việc đọc kỹ của bác còn để lại dấu vết trong sách của tôi cho bác mượn. Cuốn nào cũng có dấu bút chì ở bên cạnh nhiều trang sách. Tôi tò mò xem bác Lê đánh dấu những gì trong sách. Tôi thấy, trước hết, là bác gạch dưới tên tác giả và tác phẩm của Trung Quốc (chắc là để tiếp tục sưu tầm?); tất cả đều được gạch dưới; sau đó là đánh dấu những ý chính của từng tác giả, nhất là những đoạn có tranh luận về Khổng Tử sau ngày Trung Quốc giả phóng (nhưng trước Cách mạng văn hoá) chẳng hạn. Nhiều khi hình như hăng say với cuộc tranh luận, bác ghi luôn ý kiến của mình bên cạnh. Thí dụ, có người nói Khổng Tử không tán thành “sát thân thành nhân”, bác ghi bên cạnh: “Vì như vậy là chết vô ích!”. Tôi hy vọng là những gạch dưới và đánh dấu bằng bút chì đó cho thấy là mấy cuốn sách của tôi là bổ ích. Sau này, khi cuốn Khổng Tửđược xuất bản, tôi thấy bác có kể những sách tham khảo đó. Theo tôi biết, bác còn mượn của nhiều người khác.

    Đọc sách của Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy thú vị về lối viết bình dị và thân mật. Đọc sách cảo luận của bác, tôi không thấy như đứng trước một ông thầy giảng bài mà cảm thấy như ngồi bên cạnh ấm trà, với một người bạn tâm tình. Tôi nói như vậy là vì tôi thấy bác có một đặc điểm thường bộc lộ bản thân qua tác phẩm của mình, không ẩn mình như nhiều tác giả khác. Thí dụ như trong cuốn Đại cương văn học sử Trung Quốc chẳng hạn, khi kể chuyện về các nhà thơ Đường, bác không ngần ngại nói thẳng quan niện sống của mình:

    “Nếu tôi là thi sĩ, tôi chẳng mong được thành thi tiên như Lý Bạch hoặc thi thánh như Đỗ Phủ, chỉ xin được một chức thi sĩ như Bạch Cư Dị. Mây trắng núi xanh đẹp thật, song độc toạ mà ngâm thi cũng buồn, cưỡi hạc ngồi bên đào nguyên, thú thì có thú, song ngày trên tiên dài quá; còn suốt đời mà vác cái thánh giá như Đỗ Phủ, con vì đói mà chết, còn chính thân mình cũng vì đói mà lả, thì cảnh ấy ai mà cầu! Vâng, tôi không muốn như Lý, như Đỗ, chỉ muốn như Bạch Cư Dị…”

    Như Bạch Cư Dị là như thế nào, chính bác Lê tả:

    “Bạch sung sướng suốt một đời. Sanh vào nhà nghè nhưng được yên ổn học tập. Ổng kể rằng hồi 6-7 tháng, chưa biết nói mà đã biết chữ ‘chi’ và ‘vô’[1]; lên năm tuổi bắt đầu học làm thơ.

    “Ông theo cả ba đạo Khổng, Lão, Phật, lúc hưu trí, ông cùng vài vị hoà thượng mặc áo trắng, chống gậy trúc, đi du ngoạn núi Hương Sơn, nên có tên hiệu là Hương Sơn cư sĩ. Ngay từ hồi làm quan, ông đã ưa thú thanh nhàn, phong lưu, cất một ngôi nhà đọc sách ở Lạc Dương, có hoa, có trúc, có đá, có hồ, nuôi một thị nữ trẻ đẹp, vừa múa khéo, vừa ca hay…”

    Bác viết những dòng này vào khoảng 30-40 tuổi, khi viết Đại cương văn học sử Trung Quốc, không biết khi tổng kết cuộc đời, bác thấy mình đã thực hiện được mấy phần mộng đẹp đó. Người đọc thường gặp khá nhiều trường hợp tự bạch như vậy. Tôi xin dẫn thêm một trường hợp khác: Cuốn Khổng Tử của bác kết thúc một cách khá tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Hiến Lê:

    “Sử ký Tư Mã Thiên chép – mà Luận ngữ thì không – những lời than thở của Khổng Tử khi gần mất:

    “Núi Thái Sơn sắp sụp,
    “Cây thượng lương sắp đổ,
    “Bậc triết nhân sắp mất!”

    “Rồi ông rớt nước mắt nói lời cuối cùng này với Tử Cống:

    “- Thiên hạ loạn từ lâu mà không có một ông vua nào chịu theo lời khuyên của thầy. Thầy sắp đi đây.

    “Tôi không tin đoạn đó. Nó không phù hợp với tin thần của Khổng Tử: quân tử… hành kỳ nghĩa dã, đạo chi bất hành, dĩ tri chi hĩ
    (Luận ngữ, XIII.7) Một hiền triết như ông, làm trọn nhiệm vụ rồi thì chết là nghỉ, có gì đâu mà buồn.”

    Tư Mã Thiên thì Tư Mã Thiên, nếu nói không hay lắm về vị vạn thế sư biểu của Trung Quốc là Khổng Tử thì bác cũng không tin. Có lẽ cách viết bình dị và thân mật, không ngần ngại trình bày ý kiến riêng của mình mà bác có được nhiều người tìm đọc và hoan nghênh sách của bác, nhất là từ sau ngày giải phóng miền Nam, sách của bác ra Bắc khá nhiều.

    Trong những độc giả của Nguyễn Hiến Lê sau 30-4-1975, có một vị giáo sư đại học người Bắc cao niên, vào miền Nam mua được cuốn Kinh Dịch – đạo của người quân tử, rất tâm đắc với tác giả, có thể nói là “tri kỷ” cũng không quá: đó là Giáo sư Bùi Văn Nguyên nổi tiếng. Giáo sư đã để cả cuộc đời nghiên cứu Kinh Dịch, ngay từ trước cách mạng tháng tám (năm nay bác Nguyễn đã ngoại tám mươi), hồi nhỏ đọc Dịch không hiểu. Giáo sư đọc rất kỹ cuốn Kinh Dịch – đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê và cố gắng phục hồi việc dịch Kinh Dịch, nhất là hệ thống “Tiên thiên bát quái đồ” và cuối cùng đã viết Kinh Dịch Phục Hy – đạo của người trung chính, thức thời. Trong sách này, bác Nguyễn đã trích dẫn rất nhiều ý kiến của bác Lê, có cái tán thành, có cái phản đối, nhưng lúc nào cũng có tinh thần trọng thị rất cao. Cuối sách, giáo sư Bùi Văn Nguyên Viết, tôi mượn lời để kết thúc bài này:

    “Đọc Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy cách nhận thức của ông rất mới mẻ. Tất nhiên vì văn Kinh Dịch rất khó hiểu nên khó tránh khỏi sai sót. Có thể nói Nguyễn Hiến Lê là người đầu tiên phê phán “Bát quái hậu thiên” là thiếu cơ sở khoa học, và đối với tôi, ông là người khơi nguồn cho tôi có dũng khí và quyết tâm khôi phục “Kinh Dịch Phục Hy” (gọi tắc là ‘Hy Dịch’). Ở phần kết thúc cuốn này, tôi trân trọng hướng tới hương hồn ông với tất cả tấm lòng biết ơn và ngưỡng mộ.”

    LÊ MINH ĐỨC

    (Nguồn: Nguyễn Hiến Lê – Con người và Tác phẩm. Nhiều tác giả, Nxb Trẻ, 2003)
    ---------------
    Chú thích của Goldfish:
    [1] Nguyên văn trong Đại cương văn học sử Trung Quốc (Nxb Trẻ, 1997, tr. 376): “chưa biết nói mà ông đã biết mặt 2 chữ chi 之 và vô 無”
    __________________
    Vô sự tiểu thần tiên
    [/TD]

    [TD="class: alt2, bgcolor: #F4F2ED"][​IMG] [/TD]
    [/TABLE]
     

Chia sẻ trang này