Một vài bài thơ của Allen Ginsberg

Thảo luận trong 'Tủ sách Thi ca' bắt đầu bởi bichdinh, 4/10/13.

Moderators: Ban Tang Du Tử
  1. bichdinh

    bichdinh Lớp 5

    Một vài bài thơ của Allen Ginsberg


    Thông tin về Allen Ginsberg :

    NTT: Irwin Allen Ginsberg (3 tháng 6 năm 1926 – 5 tháng 4 năm 1997) là một nhà thơ Mỹ, tác giả của bài thơ Howl (Tiếng tru) nổi tiếng, là một trong những thủ lĩnh của “Thế hệ Beat” của thập niên 1960.
    Ngày 13 tháng 10 năm 1955, Ginsberg đọc bài thơ dài Howl (Tiếng tru) tại Gallery Six ở San Fransisco trước một cử tọa cuồng nhiệt. Bài thơ được nhà xuất bản Hiệu sách City Lights (Đèn Thành phố) của Ferlinghetti xuất bản năm 1956, đã bị ra tòa với tội danh “văn hóa phẩm bẩn thỉu”, nhưng kết quả là trắng án. Bài thơ này được dịch ra 23 thứ tiếng trên thế giới. Howl và những bài thơ sau đó của Ginsberg thể hiện sự ảnh hưởng của thơ cổ Ấn Độ, các nhà thơ siêu thực Pháp, nhà thơ Anh William Blake và các nhà thơ Mỹ Walt Whitman, William Carlos Williams…

    Ginsberg đã làm thay đổi giọng thơ Mỹ và trở thành bộ mặt trung tâm của trào lưu phản văn hóa thập niên 1960. Trong thời nhiễu loạn ấy giới trẻ Mỹ đã coi ông như người dẫn đường tinh thần, một Đạo sư của những kẻ “rời bỏ”. Ông cũng tham gia những cuộc phản đối chính trị và đưa tinh thần ấy vào thơ (đòi quyền tự do, quyền của những kẻ yếu – nhất là những người đồng tính luyến ái, chống nhà nước cảnh sát Mỹ, chống Chiến tranh Việt Nam và chống bom hạt nhân).
    Allen Ginsberg đã được bầu vào Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ Hoa Kỳ. Ông mất tại Thành phố New York vì bệnh ung thư gan. (Theo Wikipedia)


    Hoàng Hưng



    Allen Ginsberg, hồn thơ nóng bỏng



    Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Allen Ginsberg (1997-2007) và 50 năm phiên toà xét xử bài thơ Hú (1957-2007)

    Thứ Bảy ngày 5 tháng 4 năm 1997, sau một thời gian ngắn kịch phát ung thư gan giai đoạn cuối và một cơn đột quị, Allen Ginsberg qua đời trong căn hộ bốn phòng giản dị của mình ở Làng Đông (East Village), khu Lower East Side của Manhattan, New York, giữa đám "bạn thân và người tình cũ". Tôi đã có dịp đến thăm hai lần căn hộ ấy ít năm sau khi chủ nhân của nó ra đi - nó được giữ lại như một kỷ vật của ông, với chiếc giường nhỏ và tấm thanka treo trên tường để thiền quán. Lần thứ hai, vào năm 2005, căn hộ chỉ còn hai phòng nhỏ. Bob Rosenthal, người bạn cũ của thi sĩ và lãnh đạo của Quĩ Ủy thác Allen Ginsberg hiện nay, cho biết là ngân sách eo hẹp của Quĩ không cho phép giữ hết lại cả bốn phòng như trước. Hai phòng đã thuộc về một câu lạc bộ gì đó.

    Irwin Allen Ginsberg sinh ngày 3 tháng 6 năm 1926 tại Newark, bang New Jersey, Hoa Kỳ, là con trai thứ hai của nhà thơ Louis Ginsberg; mẹ ông, Naomi, là một người Nga lưu vong. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của người mẹ nuôi dưỡng tuổi trẻ ông và còn chảy trong nhiều tác phẩm ông viết sau này:

    "America, lúc còn bé ta đã từng là một người cộng sản, ta không hối tiếc.

    ... Khi ta lên bảy mẹ đưa ta đến những cuộc họp chi bộ cộng sản, họ bán cho chúng ta hạt garbanzo mỗi vé một nắm giá một chinh còn diễn văn thì không mất tiền mọi người đều thiên thần và thương cảm thợ thuyền thuở ấy tất cả sao chân thành quá... " (America).

    Vừa tròn 17 tuổi, trên chiếc phà chở anh đi chơi New York, Allen Ginsberg quì xuống phát lời nguyền đầu tiên trong đời: dâng hiến đời mình cho giới cần lao bị áp bức. Để thực hiện tâm nguyện ấy, theo chân người anh trai là Eugene, anh vào khoa luật trường đại học Columbia. Nhưng tại đó, việc gặp gỡ Jack Kerouac và William Burroughs đã đánh dấu bước ngoặt tư tưởng của anh. "Tôi nhận thức được rằng mình toàn nói qua một hộp sọ trống rỗng... Tôi đã không nghĩ những ý nghĩ của riêng mình, không nói những ý nghĩ của riêng mình" – nhà thơ kể lại trong một cuộc phỏng vấn.

    Một sự kiện khác quyết định đường đi của anh vào năm 1948: Trong lúc đang nằm dài trên chiếc sofa trong căn hộ của mình ở khu Đông Harlem, A. Ginsberg trông thấy William Blake (nhà thơ Anh thế kỷ 19 có khuynh hướng tâm linh) đọc bài thơ "A, Hoa hướng dương", trong một "ảo ảnh ba chiều". Từ đó dường như đối với Ginsberg, thơ chính là con đường để đạt tới ảo giác, linh giác như thế, thậm chí với trợ lực của các chất gây nghiện đủ loại như cần sa, mescalin, LSD, ecstasy...

    A.G. nổi danh như cồn từ vụ án Hú năm 1956. Bài thơ dài Hú mở đầu như sau:

    "Tôi đã thấy những trí tuệ xuất sắc nhất của thế hệ mình bị huỷ diệt vì điên rồ, chết đói cuồng loạn trần truồng lê lết qua những phố da đen tìm một liều cuồng nộ lúc rạng đông... Những kẻ nghèo nàn rách rưới mắt trũng say đờ ngồi đơ hút thuốc trong bóng tối siêu nhiên của các căn hộ nước lạnh dập dềnh trôi ngang những đỉnh chóp các thành phố nghiền ngẫm nhạc jazz..."


    Bìa tác phẩm Hú và những bài thơ khác Bài thơ lần đầu tiên do chính tác giả đọc đã gây náo động trong đêm thơ ở Gallery Six, San Francisco, và sau đó nhà thơ Lawrence Ferlinghetti, chủ nhà xuất bản City Lights Book (Đèn thành phố) đã in cho ông một tập thơ mỏng khổ bỏ túi Hú và những bài thơ khác. Cảnh sát San Fransisco tịch thu cuốn sách, và người xuất bản phải hầu toà vì tội công bố một "quyển sách dâm ô". Kết quả Ferlinghetti trắng án, còn tên tuổi và tác phẩm của Ginsberg trở nên lừng lẫy.

    Đó là thời kỳ của nước Mỹ bảo thủ những năm 50, khi màn ảnh nhỏ khoe những cặp vợ chồng ngủ riêng giường. Điều thú vị là 40 năm sau, chương trình truyền hình cáp của nước này lại phát cảnh Ginsberg đọc Hú cho lớp trẻ những năm 90 thưởng thức. Ngày nay hàng năm ở khu Lower East Side, Manhattan, New York đều diễn ra Festival Hú, và năm 2006, kỷ niệm 50 năm tác phẩm được xuất bản, một festival quốc tế Hú với các bản dịch khác nhau đã là một sự kiện văn học ở Đức. Tính đến nay, Hú đã được xuất bản 55 lần với hàng triệu bản và dịch ra 23 thứ tiếng.

    Hú là bài thơ tặng Carl Solomon, một người bệnh mà tác giả gặp trong một bệnh xá tâm lí trị liệu. Bản “anh hùng ca đen” này phơi bầy sự bế tắc cùng quẫn của một thế hệ bị hủy diệt bởi cỗ máy xã hội công nghiệp vô nhân, đồng thời tung ra một thi pháp đầy thách thức: câu thơ tuồn tuột tuôn ra bộc phát dài dặc – theo sát "hơi thở" rất dài của người viết như hơi kèn trompet tùy hứng của nhạc jazz; sự trở lại “tính xướng âm” như nhà thơ Kenneth Rexroth gọi hay khuynh hướng “đi từ tiếng nói đến tiếng trò chuyện, đến tiếng ngân nga, hay ngân nga với hơi thở dài, đến chiều hướng hát thơ theo lối thi sĩ trung đại, chiều hướng xuất thần” như chính tác giả nhận định [1] ; ngôn ngữ trần trụi đời thường không hoa mĩ thậm chí tục tĩu, “bẩn”; hình ảnh siêu thực phi lý nhưng thực ra được cắt dán từ những chi tiết rất thực trong cuộc sống của tác giả và bè bạn.

    Chính sự kiện Hú đã tạo nên một Thế hệ Beat huyền thoại những năm 1950 và 1960 từ "một nhóm bạn ham mê văn chương nghệ thuật và yêu nhau" (Allen Ginsberg, Jack Kerouac, William Burroughs, Neal Cassady, Peter Orlovsky... “Beat” là danh từ đa nghĩa do Jack Kerouac sử dụng đầu tiên, có nghĩa là “sự vắt kiệt sức, sự toàn phúc, cảm hứng nhạc jazz) [2] . Thế hệ vỡ mộng trước một xã hội trưởng giả và chủ nghĩa tuân phục, đã "đột phá", "đào bới" một văn hoá riêng cho mình, một trong những nhân tố sẽ dẫn đến cao trào “phản văn hoá” (counter-culture) ở Mỹ thập niên 1960. Mặt trái của thứ "văn hoá nhóm" (subculture) ấy là ma túy, buông thả tính dục. Mặt phải của nó là tinh thần tự do, nhân quyền, yêu hoà bình, yêu thiên nhiên, là tình người chân thực.

    Hú cũng là cơ hội quyết định cho chàng trai phải kiếm sống bằng đủ mọi nghề tạm bợ từ rửa bát đến tìm hiểu thị trường để nuôi hồn thơ trở thành người sống chỉ để làm thơ và bằng thơ.

    Cảm hứng và thi pháp của Hú sẽ được Allen Ginsberg tiếp tục trong trường ca Kinh Kaddish khóc thương người mẹ thân yêu của mình.

    Năm 1991, trả lời phỏng vấn báo The Associated Press - nơi 40 năm trước, chàng trai Ginsberg từng làm chân sai vặt trong toà soạn - nhà thơ nhắc lại những năm 50, thời kỳ của "bệnh hoang tưởng, nghi ngờ, sợ hãi hoàn toàn, kẻ giầu cướp bóc người nghèo mà mồm lại than phiền về người nghèo...", thời kỳ của "những xúc động giả mạo bị thị trường hoá, cơ giới hoá".

    Ginsberg là một nhà hoạt động xã hội rất tích cực, bằng thơ và bằng những hoạt động thực tiễn. Ông luôn luôn "về phe" những kẻ yếu, những kẻ bên lề, những nhóm thiểu số. Ông đấu tranh cho các quyền của giới đồng tính ái mà ông là thành viên: "Tôi làm thơ, bởi vì các tế bào di truyền và nhiễm sắc thể của tôi hướng đến các chàng trai chứ không phải đến các cô gái" [3] . Ông bảo vệ quyền sử dụng LSD và cần sa trong khi chống lại các công ty sản xuất thuốc lá, “thuốc kích thích chính thống” như ông gọi. Ông dẫn đầu đoàn biểu tình lớn chống chiến tranh Việt Nam ở California năm 1965 và bị bắt năm 1967 trong một cuộc xuống đường khác vì cùng mục đích. Ông viết và tổ chức nhiều cuộc biểu tình ngồi chống sản xuất vũ khí hạt nhân. Các tập thơ Tin tức hành tinh (Planet News) và Sự suy vong của nước Mỹ (The Fall of America) trong thập niên 60 ấy có nhiều bài phê phán chính sách của chính quyền Mỹ, đặc biệt là tính chất đế quốc và hiếu chiến cũng như chính sách “nhà nước cảnh sát” của nó. Năm 1965, giám đốc FBI (Edgar Hoover) xếp ông trong "danh sách nguy hiểm cho an ninh".

    Allen Ginsberg trở thành "guru" (đạo sư) của phong trào "phản văn hoá" có ảnh hưởng trong thanh niên Mỹ một thời, ông sáng tạo thuật ngữ "quyền lực của hoa". Ông cũng là cầu nối Phong trào Beat thập kỷ 1950 và phong trào “hippy” thập kỷ 1960.

    Trên con đường đi tìm các triết lý thần bí và tâm linh khác nhau để tự giải thoát khỏi ám ảnh của hư vô và sự đè nén của thực tế xã hội tàn bạo, Allen Ginsberg và các bạn mình đã gặp tư tưởng Phật giáo. Càng ngày, những bài thơ hướng về "thiền" càng chiếm vị trí quan trọng bên cạnh khuynh hướng "hiện sinh Beat" trong sáng tác của ông. Ông còn thực tập thiền định bằng thơ theo hướng dẫn của vị sư tăng Tây Tạng Tsulgrim Gyatso. Bài thơ ngắn sau đây viết ngày 20 tháng 8 năm 1991 bắt đầu bằng tình trạng mê loạn của đời sống luân hồi (samsara) "vô lương những giao kèo, tivi, thịt, thị trường chứng khoán, tít lớn nhật báo, tình ái, đời sống thủ đô” và kết thúc là sự chứng ngộ cảnh giới an tịnh (dharma kaya): "Sớm muộn cũng buông trôi yêu ghét khinh khi, đi dạo công viên nhìn trời, ngồi trên gối, đếm sao trong óc, trỗi dậy và ăn". Ông đã cùng thầy của mình là nhà sư Tây Tạng Chogyam Trungpa lập ra một viện nghiên cứu và tu tập Phật giáo đầu tiên ở phương Tây, mang tên Viện Naropa tại bang Colorado, trong đó có "Trường Thơ thoát xác" mang tên Jack Kerouac. Tại nhà riêng, ông mở đầu mỗi ngày bằng việc toạ thiền, sau đó là một ly trà chanh nóng. Bữa ăn sáng của ông là "cháo nấm tỏi tây bí đông trộn".

    Chắc một tâm hồn nóng bỏng như A. Ginsberg khó lòng đạt đến cảnh giới an tịnh (bài thơ ngắn dẫn ở trên chỉ là "một bài tập thiền" mà thôi), vả lại, một khi đã đạt tới, thì ắt sẽ vô ngôn, làm gì còn thơ! Song làm thơ như một biện pháp tự thanh lọc để đạt đến giác ngộ, thì quả Allen Ginsberg là người đầy chân thành!

    Chân thành là nguyên tắc đầu tiên và cuối cùng của ông. "Làm thơ là viết lên giấy tất cả những gì đến trong đầu. Tất cả những gì đủ mạnh, đủ sống động để mình phải nhớ". "Cứ ngây thơ. Ngay thẳng. Chân thành. Công khai những gì trong đầu mình, tức là hiến cho đời sự thể hiện một tinh thần trung bình nhưng khác biệt hẳn với những thể hiện giả tạo bị các phương tiện truyền thông và chính phủ nhào nặn, khác biệt hẳn việc sản xuất hàng loạt những hình ảnh tạo ra thị hiếu giả mạo về tình cảm và về con người" (Trả lời phỏng vấn nhân dịp 70 tuổi).

    Có thể nói toàn bộ thơ ông là nhật ký đời sống toàn diện của con người ông. Năm mươi năm sáng tác là tài liệu ghi lại con đường tâm linh của một cuộc đời tập trung thám hiểm những khả năng sáng tạo của ý thức. Vì thế thơ Allen Ginsberg rất phong phú về nội dung và giọng điệu. Từ chiêm nghiệm Phật giáo đến phiêu lưu tính dục, từ những đề tài siêu nghiệm đến chủ nghĩa hiện thực và bình luận chính trị, từ các bài ca (rag, ballad, blue) đến những suy nghĩ về thơ.

    Trong các hoạt động thơ, Allen Ginsberg là một nhà trình diễn không biết mệt và đầy phấn khích. Một chị bạn Mỹ kể với tôi: hồi cô còn đi học, nhà thơ đã đến trường đại học của cô nói chuyện, đọc thơ, và... trong cơn hứng khởi, ông trút bỏ quần áo, giữa tiếng reo hò của sinh viên và bị các nhân viên bảo vệ lôi cổ tống ra ngoài! Năm 1965, ông qua Tiệp đọc thơ trong lễ hội phong "Vương, Hậu tháng Năm" truyền thống của Praha, và được 100.000 công dân Tiệp bầu làm "Vua tháng Năm" nhưng bị chính quyền trục xuất. Năm 1977 ông đi lưu diễn cùng nhóm Dylan's Rolling Thunder Revue và ứng tác những bài thơ khác. Ở tuổi lục tuần Allen Ginsberg còn biểu diễn và đọc thơ tại những câu lạc bộ đêm ở Manhattan. Hoạt động cuối cùng của ông là đọc bài thơ rock châm biếm chính trị "Ballad của những bộ xương" trên nền nhạc của Paul Mc Cartney và Philip Glass để thu đĩa (1996). Tính trình diễn của thơ Allen Ginsberg đã là một nguồn hứng quan trọng của khuynh hướng “thơ trình diễn” (performance poetry) rất thịnh hành ở Mỹ trong những thập kỷ cuối thế kỷ XX.

    Allen Ginsberg được coi là nhà thơ có ảnh hưởng nhất đối với thơ Mỹ sau Walt Whitman. Hơn thế, ông còn đóng góp nhiều vào việc tạo nên diện mạo nghệ thuật, âm nhạc và chính trị của nước Mỹ suốt 50 năm qua. Thơ ca cách tân và tinh thần xung kích của ông về giải phóng chính trị, tính dục và tâm linh đã tạo cảm hứng cho vô số nhà thơ, nhạc sĩ và nghệ sĩ tạo hình, nghệ sĩ biểu diễn ở nhiều châu lục, đóng góp vào việc hình thành cách nhìn thế giới của vài thế hệ Âu - Mỹ. Trong số các nhân vật lừng danh chịu ảnh hưởng của ông, có thể kể từ Tổng thống - nhà văn Vaclav Havel của Czech đến Yoko Ono (vợ John Lennon) và Bob Dylan, nhà thơ - ca sĩ nhạc đồng quê...

    Allen Ginsbeng ra đi sau khi đã ở đỉnh cao của thành công. Ông được tặng giải National Book Award năm 1973 (cho cuốn thơ Sự suy vong của nước Mỹ), được bầu vào Viện Hàn lâm Văn học Nghệ thuật Hoa Kỳ, được Bộ trưởng Văn hoá Pháp tặng huy chương Hiệp sĩ Văn học Nghệ thuật, và ngay trước khi ông mất, cả nước Mỹ và Tây Âu tưng bừng kỷ niệm thượng thọ ông cùng với sự hồi sinh các huyền thoại về Thế hệ Beat.

    Thế hệ trẻ đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 đã biết đến Allen Ginsberg như một thần tượng Beat, như một chàng hipster phản chiến. Thơ ông được giới thiệu có lẽ lần đầu qua bản dịch của Hoàng Ngọc Biên trong một số đặc biệt của tập san Trình Bày. Sau 1975, tôi đã giới thiệu và dịch Allen Ginsberg trên các tạp chí Sông Hương, Kiến thức ngày nay, và cùng với Thanh Thảo, Nguyễn Đỗ, Ngân Xuyên trân trọng giới thiệu ông trên tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam nhân nhịp ông 70 tuổi. Gần đây, các trang mạng như Tiền vệ, talawas, eVăn cũng giới thiệu thơ ông qua các bản dịch của Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đăng Thường, và tôi.


    Thư viết tay của Allen Ginsberg gửi Hoàng Hưng ngày 18.2.1997

    Ngày 18 tháng 2 năm 1997, tức là chỉ ít lâu trước khi lâm trọng bệnh, Allen Ginsberg viết cho tôi một lá thư (handwritten letter) - trước đó ông liên lạc với tôi qua người trợ lý là Peter Hale. (Sau này khi tôi sang Mỹ và khoe với các bạn nhà thơ Mỹ bức thư ấy, các bạn rất bất ngờ và bảo đó là kỷ vật quí, vì không phải ai cũng được ông viết thư như thế. Tôi biết đó là thể hiện tình cảm của ông đối với Việt Nam). Ginsberg cảm ơn về số báo Văn học nước ngoài với nhiều bài thơ của ông được dịch, và gửi tặng tôi một loạt tác phẩm mới nhất của ông, cả sách và đĩa đọc thơ. Ông hỏi thăm nhà thơ Vũ Hoàng Chương còn sống không, có khoẻ không? (Ông kể, tháng 5 năm 1963 ông tới Sài Gòn, đã gặp thi sĩ này, ông nhớ cả tên tập thơ của họ Vũ: Nouveaux Poemes - Tân thi, NXB Nam Chi"). Tôi xin phép ông xuất bản một tập thơ Allen Ginsberg tiếng Việt, ông bằng lòng và còn nhắc tôi dịch phần II của bài thơ dài Wichita Vortex Sutra (Wichita xoáy lốc kinh) phê phán chính quyền Mỹ về cuộc chiến Việt Nam... Sau nhiều lần trì hoãn bởi những lý do khách quan, tập thơ đang được gấp rút hoàn tất với sự cộng tác của nhà thơ Nguyễn Đỗ. Mong hương hồn ông phù hộ cho chúng tôi thực hiện được công việc khó khăn này...
    4/1997 – 7/2007
    © 2007 talawas (talawas.org)


    Nguồn ebook:amvc.free.fr/

    link pdf:
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    link prc: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    link .prc : Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (haitn_12 post 12.2012)



    Nguồn: TVE (cungcung post 12.2012)
     
    Chỉnh sửa cuối: 4/10/13
    Ban Tang Du Tử thích bài này.
  2. bichdinh

    bichdinh Lớp 5

    Ngẫu hứng ở Bắc Kinh



    Tôi viết thơ bởi vì cái từ "cảm hứng" trong tiếng Anh đến từ tiếng Latin Spiritus, hơi thở, và tôi muốn hít thở tự do.

    Tôi viết thơ bởi vì Walt Whitman đã cho phép thế giới nói lên một cách bộc trực.

    Tôi viết thơ bởi vì Walt Whitman đã khai mở dòng thơ của thơ cho hơi thở thông suốt.

    Tôi viết thơ bởi vì Ezra Pound đã nhìn thấy tháp ngà, đã đánh cá con ngựa thua, đã cho phép các nhà thơ viết bằng thổ âm khẩu ngữ.

    Tôi viết thơ bởi vì Pound đã khuyên các nhà thơ trẻ phương Tây quan sát lối thư họa Trung Hoa.

    Tôi viết thơ bởi vì W. C. William sống ở Rutherford đã viết cái câu kiểu New Jerseyesque "Tao móc mắt mày" để xem nhịp điệu ra sao theo thể iambic năm chân?

    Tôi viết thơ bởi vì cha tôi là một nhà thơ, mẹ tôi gốc ở nước Nga cộng sản bị chết ở nhà thương điên.

    Tôi viết thơ bởi vì anh bạn trẻ Gary Snyder của tôi ngồi nhìn những ý nghĩ của mình như một phần của thế giới hiện tượng bên ngoài y hệt hội nghị bàn tròn 1984.

    Tôi viết thơ bởi vì tôi đau khổ, sinh ra để chết, sỏi thận và huyết áp cao, ai ai cũng đều đau khổ.

    Tôi viết thơ bởi vì tôi đau khổ bối rối không biết những người khác nghĩ gì.


    Tôi viết thơ bởi vì thơ có thể bộc lộ những ý nghĩ của tôi, chữa trị chứng hoang tưởng của tôi và chứng hoang tưởng của những người khác.


    Tôi viết thơ bởi vì tâm trí tôi lan man nghĩ chuyện dục tình khi trầm tư niệm Phật.


    Tôi viết thơ để họa hình chính xác tâm trí của riêng tôi.


    Tôi viết thơ bởi vì tôi theo Tứ Thệ của Phật giáo: chúng sinh cần được giải thoát trong vũ trụ là vô số, sự tham sân si của riêng mình là vô hạn, cảnh giới mình bị lâm vào là vô lượng, nẻo đường ngộ tâm là vô tận.


    Tôi viết thơ bởi vì sáng nay tôi thức dậy run rẩy sợ hãi không biết nói gì đây ở Trung Quốc?


    Tôi viết thơ bởi vì các nhà thơ Nga Mayakovsky và Yesenin đã tự sát, còn ai nữa cũng phải nói lên.


    Tôi viết thơ bởi vì bởi vì cha tôi đã đọc to lên thơ của nhà thơ Anh Shelley và nhà thơ Mỹ Vachel Lindsay làm thí dụ - cơn gió lớn cuộn đầy hơi thở cảm hứng.


    Tôi viết thơ bởi vì viết những chuyện tình dục là bị kiểm duyệt ở Hoa Kỳ.


    Tôi viết thơ bởi vì các nhà triệu phú Đông và Tây cưỡi những chiếc xe limousin Rolls-Royce, còn người nghèo thì kiếm chẳng đủ ăn.


    Tôi viết thơ bởi vì các gien của tôi và các nhiễm sắc thể của tôi có tình với các chàng trai trẻ chứ không phải các phụ nữ trẻ.


    Tôi viết thơ bởi vì tôi không có trách nhiệm giáo điều ngày này qua ngày khác.


    Tôi viết thơ bởi vì tôi muốn được một mình và muốn trò chuyện với mọi người.


    Tôi viết thơ để cãi lại Whitman, cãi lại lớp người trẻ hơn chục năm, để trò chuyện với những bà dì ông chú hiện vẫn sống cạnh Newark, New Jersey.


    Tôi viết thơ bởi vì năm 1939 tôi đã nghe qua radio những bản Blues da đen do Leadbelly và Ma Rainey hát.


    Tôi viết thơ cảm hứng từ những bài ca của nhóm Beatles trẻ trung sôi nổi nay đã già đi.


    Tôi viết thơ bởi vì Trang tử không biết mình là bướm hay là người, Lão tử nói nước chảy trôi xuôi, Khổng tử dạy kính trọng người trên, tôi muốn kính trọng Whitman.


    Tôi viết thơ bởi vì những đàn cừu và gia súc ăn cỏ từ Mông Cổ đến miền Viễn Tây Hoa Kỳ đã xơi sạch các đồng cỏ mới và sự xói mòn sinh ra sa mạc.


    Tôi viết thơ khi đi đôi giày da thú.


    Tôi viết thơ "Ý nghĩ đầu tiên là ý nghĩ hay nhất" luôn luôn là vậy.


    Tôi viết thơ bởi vì không có tư tưởng nào là dễ hiểu trừ khi được biểu hiện trong một phút đặc biệt: "Không phải các tư tưởng mà bằng sự vật".


    Tôi viết thơ bởi vì Đạt Ma Tây Tạng nói: "Các sự vật là biểu trưng của chính chúng".


    Tôi viết thơ bởi vì báo chí đang kêu lên về một lỗ đen ở trung tâm thiên hà của chúng ta, chúng ta thoải mái bàn luận về nó.


    Tôi viết thơ bởi vì Thế chiến I, Thế chiến II, bom nguyên tử, và Thế chiến III nếu ai muốn, tôi thì không muốn.


    Tôi viết thơ bởi vì bài thơ đầu tiên của tôi "Hú gào" vốn không định đăng đã bị cảnh sát khởi tố.


    Tôi viết thơ bởi vì bài thơ dài thứ hai của tôi "Kinh cầu Do Thái" là để tôn kính cõi an nhiên tịch diệt của mẹ tôi trong bệnh viện tâm thần.


    Tôi viết thơ bởi vì Hitler đã giết sáu triệu người Do Thái, tôi là người Do Thái.


    Tôi viết thơ bởi vì Moskva nói Stalin đã đày 20 triệu người Do Thái và trí thức đến Siberia, 15 triệu người đã không bao giờ trở lại quán cà phê Stray Dog ở St. Petersburg.


    Tôi viết thơ bởi vì Walt Whitman nói "Tôi mâu thuẫn với mình ư? Thật tuyệt khi tôi mâu thuẫn với mình (Tôi rộng lớn, tôi chứa đựng vô số)".


    Tôi viết thơ bởi vì tâm trí tôi tự nó mâu thuẫn, phút này đang ở New York, phút sau đã đến dãy Alpes.


    Tôi viết thơ bởi vì cái đầu tôi chứa 10.000 ý nghĩ.


    Tôi viết thơ bởi vì không tại sao cũng không bởi vì.


    Tôi viết thơ bởi vì đó là cách tốt nhất nói ra được mọi điều trong tâm trí trong vòng 6 phút hoặc một đời người.


    Ngân Xuyên dịch từ tiếng Anh


    (Đây là bài phát biểu ứng khẩu của A. Ginsberg tại hội nghị của Hội Nhà văn Trung Quốc và Viện hàn lâm nghệ thuật và văn học Mỹ về đề tài "Những gốc rễ của cảm hứng", Bắc Kinh 21.10.1984. Văn bản được ghi lại từ băng ghi âm.)


    Dẫn theo
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link




    Nguồn : TVE (cungcung post 12.2012)
     
    Ban Tang Du Tử thích bài này.
  3. bichdinh

    bichdinh Lớp 5






    (Allen Ginsberg)


    là bản trường ca đã đi vào lịch sử thơ ca và văn học Mỹ và thế giới phương Tây như một sự đột phá hậu hiện đại. Cùng với cuốn tiểu thuyết Trên đưng (On the Road) của Jack Kerouac, là tuyên ngôn và tác phẩm hàng đầu của thế hệ Beat - một trong những phong trào quan trọng của văn chương Mỹ đương đại. Hơn thế nữa, nó còn khởi đầu cả một trào lưu "phảnvăn hoá" (counter-culture) của thế hệ thanh niên Mỹ thất vọng trước sự
    thống trị của chủ nghĩa vật chất trong xã hội sau Thế chiến 2. Lần đầu tiên được tác giả công bố trong buổi trình diễn thơ ở Gallery Six (San Francisco) đêm 7/10/1955, được City Lights Books xuất bản vào tháng 11 năm 1956 dưới hình thức một cuốn sách mỏng khổ nhỏ 44 trang mang tênHú và nhng bài thơ khác (Howl and Other Poems). Nó trở nên lừng danh nhờ vụ
    xét xử tại toà án thành phố San Francisco tháng 9 năm 1957, trong đó b truy tố như một cuốn sách dâm ô (obscene), nhưng lời buộc tội đã được toà xóa án.Đến nay, Hú trở thành tác phẩm kinh điển của thơ Mỹ thế kỷ XX, được tái bản rất nhiều lần (55 lần) với tổng số hàng triệu bản; là một trong những bài thơ phổ biến rộng rãi nhất thế kỷ với các bản dịch 23 thứ tiếng (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hưng là ngôn ngữ thứ 24, một phần nhỏ đã được đăng tải trên tạp chí Văn học nước ngoài (Hà Nội) năm 1996). Năm 2006, kỷ
    niệm 50 năm ngày xuất bản Hú, một ngày hội đọc thơ quốc tế dành cho tác phẩm này đã được tổ chức tại Berlin (Đức) với nhiều bản dịch được trình diễn cùng với bản gốc.
    Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Allen Ginsberg và 50 năm ngày Hú bị toà án xét xử, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn tác phẩm này, lần đầu tiên ra mắt bằng tiếng Việt qua bản dịch của nhà thơ Hoàng Hưng.


    Xin trân trọng giới thiệu!...

    Link:
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link




    Nguồn: TVE (cungcung post 08.2012)
     
    Ban Tang Du Tử thích bài này.
Moderators: Ban Tang Du Tử

Chia sẻ trang này