Hoàn thành R Never romance a rake - Liz Carlyle

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi song vang, 22/8/14.

  1. dakedo

    dakedo Mầm non

    mong chương mới của bạn lắm :rolleyes::rolleyes::rolleyes::rolleyes:
     
    Đức Sơn and song vang like this.
  2. loan

    loan Lớp 1

    Cám ơn Songvang nghe , mình là fan của Songvang từ khi đọc Black ice,gặp lại bạn mừng quá , dù bận nhưng thế nào mình cũng phải đọc truyện Songvang dịch,chúc Song vang luôn khỏe và hạnh phúc nhe.
     
    Levananh and song vang like this.
  3. Minami

    Minami Lớp 1

    Ss song vang bỏ rơi dự án này lâu quá. Come back, please :(
     
    vuongle, jess and song vang like this.
  4. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Đại bàng gọi songvang đây!!! Alo alo có nghe kg bạn ơi. Mọi người mong chờ lắm. Mong bạn mau sớm quay lại nhé
     
  5. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Nhung truyen ban dich tich cach cua nhan vat rat du doi. Hop boi minh lam, ban cu tiep tuc nhe, lun ung ho ban
     
  6. lethuyvan7

    lethuyvan7 Mầm non

    Bạn songvang ơi, bạn còn tiếp tục dự án này không? Ngóng bạn quá!
     
  7. song vang

    song vang Lớp 7

    Xin lỗi các bạn nhiều, thời gian này mình có ít thời gian nên dịch rất chậm, và không muốn các bạn đang đọc lại bị ngắt quãng nên khi nào dịch hết các chương còn lại mình sẽ post lên một thể nhé!
     
  8. hathao

    hathao Lớp 1

    Cảm ơn Sóng Vàng nhé. Luôn ủng hộ bạn.
     
  9. song vang

    song vang Lớp 7

    Chương Mười Hai


    Gấu váy của Camille sột soạt quanh mắt cá chân khi cô đi đi lại lại trên sàn phòng ngủ của mình. Rothewell đi theo cô, đã hai lần cố chạm vào vai cô trong nỗ lực xoa dịu cô, nhưng vợ anh đều cự tuyệt. “Không,” cuối cùng cô gắt lên. “Hãy để em một mình. Làm ơn đi. Em xin ngài.

    Đến con chó cũng đã nhào lên giường nằm thu lu, đôi tai đen mượt rủ xuống khăn trải giường, cái đuôi như chiếc quạt lần đầu tiên không ngoáy tít. Rothewell thấy nản chí, và rất, rất tức giận. Tuy nhiên anh không đi ra.

    “Tôi không nghĩ đây là lúc người chồng bỏ rơi vợ mình, Camille,” anh nói chắc nịch. “Nếu như hắn ta quan tâm đến cô ấy.”

    Camille nhìn anh bằng ánh mắt suy sụp, đẫm lệ. “Lạy Chúa, sao cha em có thể làm như vậy?” cô kêu lên, tiếp tục đi đi lại lại trong phòng. “Sao ông ấy có thể cười cợt em? Dù ông ấy là người thế nào – và cho dù em chỉ là đứa con hoang của ông ấy – lẽ nào em không mang dòng máu của ông ấy sao? Chẳng lẽ ông ấy không quan tâm đến em dù theo cách thờ ơ nhất?”

    Tim Rothewell nhói lên vì thương cô. Camille đáng được đối xử tốt hơn thế này – một người cha bội bạc và một người chồng hờ hững. “Tôi nghĩ đã đến lúc phải có người kết liễu Valigny,” anh nói gần như với chính mình. “Tôi bắt đầu nghĩ điều tốt nhất có thể làm cho em bây giờ là gọi lão khốn đó ra thách đấu và biến em thành người mồ côi.”

    Xem ra đó không phải cách tốt nhất để an ủi vợ anh. Camille quay sang anh, nét mặt co rúm trong đau đớn. “Một ý tưởng thật sáng suốt. Như thế sẽ giải quyết được mọi vấn đề của em, n’est-ce pas? Em sẽ trở thành góa phụ! Và Valigny sẽ tung tăng bỏ đi trong tràng cười, như ông ta luôn làm vậy.”

    Rothewell chặn cô lại ở đấy, túm lấy cả hai vai cô. “Camille, ông ta sẽ không thoát khỏi tay tôi,” anh thề.

    “Très bien,” cô đưa mu bàn tay quẹt nước mắt. “Nếu thế thì sao? Chồng tôi sẽ bắn chết cha tôi và bị lưu đày mãi mãi. Điều đó chắc chắn sẽ làm tắt ngấm những lời ra tiếng vào.”

    Anh nén lại câu chửi thề. “Camille, tôi chỉ muốn – tôi chỉ muốn sửa chữa chuyện này cho em.”

    “Ôi, Kieran, ngài không hiểu sao?” cô áp cổ tay lên trán như thể bị đau. “Ngài không thể thay đổi con người cha em. Ngài không thể làm cho ông ta yêu em.”

    Lúc đó Rothewell làm cái điều mà lẽ ra anh nên làm ngay từ đầu – bắt cô dừng lại, và kéo cô vào vòng tay mình. Có vẻ anh đang làm đúng, vì Camille ngoan ngoãn tuân theo, gục đầu vào ngực anh. “Tôi rất xin lỗi, em yêu,” anh lẩm bẩm, khi cô áp má vào ve áo anh trong tiếng nức nở nghẹn ngào. “Tôi đang tức giận với chính mình, và với Valigny.”

    “Vì sao?” cô nói qua hàng nước mắt. “Ngài đã làm gì để gây ra chuyện lố bịch này?”

    Rothewell chật vật tìm từ. “Lẽ ra tôi nên dừng ván bài chết tiệt đó lại. Tôi nên chấm dứt cái trò của Valigny ngay lúc đó. Nhưng tôi đã không làm thế, bởi tôi đã hơi say - ờ, thành thực mà nói, và có phần phát điên vì em – nên tôi đã để cho sự thật treo lơ lửng trên đầu em như một thanh kiếm.”

    “Và lẽ ra ngài có thể bỏ đi,” cô đáp. “Và để em lại với ông ta. Số phận em có sáng sủa hơn chút nào không?”

    Rothewell lại nén tiếng chửi thề. “Lẽ ra tôi có thể ngăn chặn nó,” anh nói hung hăng. “Tất cả những chuyện đó. Một quý ông ắt sẽ làm thế. Về sau, khi cân nhắc hậu họa, tôi đã cảnh cáo Valigny hãy giữ mồm giữ miệng nhưng –“

    “Ngài đã làm thế ư?” cô xen vào. “Khi nào?”

    “Một ngày sau khi tôi để em lại nhà Pamela,” anh nói. “Và quả thực tôi không nghĩ ông ta có ý định phát tán những tin đồn – nhưng Christine - ồ, cô ta đầy hằn học và khó lường.”

    “Không.” Anh cảm thấy Camille run lên trong lòng anh. “Không, chuyện này hoàn toàn có thể đoán trước, Kieran. Tất cả những chuyện này. Đặc biệt là Lord Halburne. Giây phút em đặt chân đến bến phà ở Le Havre. Giây phút em viết thư cho Valigny nhờ ông ta giúp đỡ. Tất cả đã được định đoạt từ lúc đó.”

    “Camille, không đơn giản như thế đâu.”

    “Đúng thế đấy, đều là lẽ tự nhiên cả!” cô khăng khăng. “Đáng lẽ em đừng bao giờ nên làm thế - nhưng em cứ dấn tới, bởi em là loại điếc không sợ súng. Giống như Valigny, em rất tham lam. Em muốn tài sản thừa kế của mình. Em đã tưởng…em đã tưởng mình có thể - có thể tự lập, nếu buộc phải vậy. Có thể tự bảo vệ bản thân – và con của mình, nếu ông trời rủ lòng thương cho em một đứa con.”

    “Camille!”

    “Đừng nói thế!” cô kêu lên. “Đúng, nó nghe thật điên rồ, nhưng em không còn lựa chọn. Em biết mình không thể sống giống như mẹ. Nhưng đáng lẽ em nên biết việc mình tới London sẽ khơi lại quá khứ. Và giờ Lord Halburne đang ở đây – và đột nhiên em không thể đối mặt với quá khứ. Khi nghĩ rằng ngài ấy – và toàn bộ phần còn lại của London – sẽ biết Valigny đã đối xử với em thế nào…Lạy Chúa, Kieran, việc buộc phải biết cha mình đã cười vào mặt mình còn chưa đủ hay sao? Mà cả thế gian cũng phải biết điều đó?”

    Anh kéo cô lại giường. “Ngồi xuống đi, Camille,” anh ấn cô xuống đệm, ngồi xuống cạnh cô và bắt đầu lau nước mắt cho cô. “Tôi rất tiếc. Em là người phụ nữ đáng yêu và tốt bụng. Nếu Valigny không nhận ra mình may mắn đến mức nào – và nếu em không cho tôi bóp cổ lão ta – thì ít nhất hãy để tôi nói với Lord Sharpe.”

    “Lord Sharpe?” cô hỏi, sụt sịt. “Tại sao?”

    “Nếu những lời dọa nạt của tôi không làm Christine hoảng sợ mà ngậm miệng, thì Sharpe sẽ làm được, vì anh ấy trả tiền trợ cấp cho cô ta, và rất nhiều khoản khác nữa,” anh đáp. “Dù hiện giờ có đang vui vẻ với cô ta thế nào đi nữa, Valigny cũng không thể có ý định cưới Christine hay nuôi được cô ta theo bất cứ cách nào – và Christine đủ khôn ngoan để biết điều đó.”

    Camille hơi nhún vai. “Valigny hiếm khi có nổi hai xu dính túi,” cô công nhận. “Nhưng lại nhờ cậy tới Lord Sharpe nữa ư? Trời ơi, làm thế mất mặt lắm.”

    “Christine mới là người nên bị mất mặt.” Rothewell siết hai bàn tay cô. “Không phải em. Em chỉ là nạn nhân trong vụ bê bối này.”

    Cô nhìn vào mắt anh một lúc như để tìm sự thật trên mặt anh. Và rồi bờ môi dưới của cô run thấy rõ, cô nhào vào lòng anh, khóc nức lên từng cơn.

    “Thôi nào,” anh lẩm bẩm, nhấc cô đặt lên đầu gối mình như thể cô là một đứa trẻ. “Tất cả chuyện này là sao?”

    Cô không chịu nhìn anh. “Em thấy xấu hổ!” cô thốt lên. “Xấu hổ vì mẹ em. Xấu hổ vì Valigny. Làm sao lại để chuyện này xảy ra được? Tại sao em lại có lúc cho rằng một đứa đáng khinh như mình có thể đến London và tránh được chuyện tai tiếng một cách thần kì chứ?”

    “Suỵt, cưng à, nín đi nào.” Đầy vỗ về, Rothewell hôn lên đường cong của lông mày cô, rồi má cô. “Em không đáng khinh.”

    Rothewell không phải là người đàn ông nhạy cảm theo bất cứ nghĩa nào, nhưng đến anh cũng thấy được nỗi tuyệt vọng của cô ít liên quan đến Halburne mà phần nhiều là do đau đớn trước sự phản bội trắng trợn của cha cô. Sự ấu trĩ của mẹ cô. Những hoàn cảnh đáng buồn về sự ra đời của cô.

    Nếu có cha mẹ yêu thương, Camille ắt đã có thể đứng vững trước những lời xì xầm và những ánh mắt liếc xéo của người đời. Thay vào đó, chiều nay, Valigny đã đem cảnh ngộ khó khăn của cô ra để cười cợt – và không phải là lần đầu. Rothewell bắt đầu nghĩ rằng có lẽ còn có hình thức tra tấn tàn khốc hơn chiếc roi của một ông bác độc ác mà một đứa trẻ phải đối mặt.

    “Tôi sẽ không để bất cứ chuyện gì phá hỏng tương lai của em, Camille,” anh khẳng định. “Tôi thề.”

    Nghe vậy cô ngẩng đầu lên, ánh mắt mang hơi hướng buộc tội bắt lấy ánh mắt anh. “Nhưng nếu ngài không ở đây thì sao?” giọng cô đã khản đi. “Đừng nói dối em. Ôi, Kieran, đừng cho em sự hứa hẹn mà ngài không thể giữ lời.”

    Chúa biết anh không phải anh hùng, nhưng anh cũng chẳng biết mình thuộc dạng nào nữa. Nên anh đưa tay ôm lấy gương mặt cô và hôn cô, lần này là trên môi, kéo dài và nấn ná. “Không có đâu,” anh cam đoan, biết là dù có nói thế thì nó vẫn đầy khả năng là một lời nói dối. “Tôi sẽ làm thế, Camille. Tôi sẽ lo cho em. Sẽ giải quyết tất cả chuyện này. Tôi thề đấy. Nếu em muốn tôi sẽ đưa em đi khỏi đây. Đến – đến Cheshire, nếu như em thích. Đến điền trang của tôi.”

    “Nó có xa không?” cô hỏi khi môi anh cọ vào má cô.

    “Hai trăm dặm. Và nếu chưa đủ xa, chúng ta còn có Barbados.”

    Cô đã nhắm mắt lại mơ màng. “Je ne sais pas,” cô thì thầm. “Em – em không biết nữa. Em không phải là kẻ hèn nhát, Kieran. Và em nghĩ sẽ không thích lắm con người mình nếu như em trở thành kẻ hèn nhát.”

    “Không đâu cưng.” Rothewell kéo hẳn cô lên lòng và ngả người tựa vào đầu giường. “Tôi đã phát hiện ra em không hèn nhát, sự liều mạng của tôi còn thua xa.”

    Cô phát ra một âm thanh nhỏ, vừa như tiếng cười vừa như thổn thức. Anh lại hôn cô, cúi đầu xuống thật thấp. Anh mong đó là một nụ hôn trấn an.

    Anh thấy tự hào về cô một cách lạ lùng. Camille đã ngẩng cao đầu trước vẻ mặt độc địa của Christine và tiếng cười tàn nhẫn của cha cô. Cô có sự gan góc ít người có được. Cô là một chiến binh.

    Ngay từ đầu Camille đã tạo ấn tượng về một phụ nữ làm chủ số phận mình, nhưng giờ Rothewell mới hiểu cô – thực sự hiểu cô – dù anh có thể thấy việc bị ruồng bỏ luôn luôn ám ảnh cô. Cô đã xác định không bao giờ giao số phận mình cho một người đàn ông – đến chừng nào còn có thể tránh được.

    Chao ôi, đã quá muộn. Giờ cô đã là Lady Rothewell rồi – và có lẽ, một cách ích kỷ, anh lấy thế làm mừng. Và anh sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình để bảo vệ cô.

    “Hãy nhìn vào mặt tươi sáng, em yêu,” anh dùng một ngón tay nâng cằm cô lên. “Tôi biết không được nhiều lắm, nhưng em có tôi. Và Jim-Jim, hoặc bất cứ cái tên quái quỷ nào nó được đặt.”

    Cô cười khúc khích, đôi mắt đen nheo lại ở đuôi mắt. “Chin-Chin,” cô nói, đưa mắt trìu mến nhìn con chó spaniel. “Và em tưởng ngài định trả nó cho Lord Tweedale cơ mà? Vậy mà nó đang ngủ trong phòng ngài và càng ngày càng béo ra.”

    Rothewell nhìn lảng đi. “Xem ra tôi không thể gặp Tweedale tại nhà,” anh nói một cách phỏng đoán. “Nhưng nếu nó buộc phải ở đây, nó cần có tên chính thức. Tôi thà chết chứ không gọi một con chó là Chin-Chin.”

    Cô vẫn nằm trong vòng tay anh trong chốc lát, gương mặt giờ đã bình tĩnh hơn, mắt cô đã chuyển từ ánh láu lỉnh sang một vẻ gì đó hoàn toàn khác khi quan sát mặt anh. “Ôi, Kieran,” cô thì thầm. “Điều ngài nói hôm nay ấy, nó không đúng đâu.”

    Anh nhìn xuống cô, khó hiểu. “Tôi đã nói gì?”

    “Em sẽ không nghĩ đến chuyện đó – đến cô ấy – mỗi khi nhìn ngài,” cô thì thầm. “Mỗi lần ngài đến giường em, em sẽ nhớ đến ngày này, đúng vậy. Nhưng không phải vì lí do mà ngài nghĩ.”

    Anh nghiêm mặt lại nhìn cô. “Camille, em –“

    “Không. Xin ngài đừng nói ra. Đừng bảo em phải nghĩ thế nào.”

    “Không, tôi từ bỏ việc đó cách đây mấy tuần rồi,” anh lẩm bẩm.

    Vừa lúc ấy, đồng hồ trên mặt lò sưởi điểm giờ.

    “Thôi chết! nhìn mấy giờ rồi kìa.” Camille vội vã đứng lên, đưa tay quẹt mắt. “Chúng ta nên thay đồ để ăn tối.”

    Kieran nhìn cô từ trên giường. “Đừng,” anh nhẹ nhàng khuyên. “Nếu lời em vừa nói là thật lòng – nếu em vẫn còn…trong tim em vẫn còn chút gì đó dành cho tôi, Camille, thì thay vào đó hãy cởi đồ ra. Trút bỏ quần áo, và để tôi làm cho em quên đi tất cả chuyện này.”

    Camille quay lại nhìn anh. “Em quan tâm đến ngài, Kieran,” cô thì thầm. “Những cảm xúc của em – hãy tin khi em nói điều này – những cảm xúc của em với ngài không hề thay đổi.”

    Anh đang quan sát cô một cách điềm tĩnh, ánh mắt dịu dàng chưa từng thấy. “Vậy thì hãy khóa cửa phòng em lại, Camille,” anh ra lệnh. “Và trở lại giường. Nhân tiện, đó là mệnh lệnh của một người chồng.”

    Đó là mệnh lệnh mà cô còn hơn cả sẵn sàng tuân theo. Sau một ngày náo động thế này, tinh thần của Camille đã kiệt quệ, cô chỉ muốn Kieran, và vòng tay anh bao quanh cô – chứ không phải một căn phòng đầy người hầu, với những lượt thức ăn nối tiếp nhau mà cô sẽ không nếm và gần như không đụng tới.

    Cô đi ra cửa và bấm chìa khóa trong ổ, rồi xoay người tựa lưng vào mặt gỗ mát và cứng, hai bàn tay áp vào nó cứ như cô có thể ngăn cản thế giới và tất cả sự xấu xí của nó không xộc vào đây. Kieran vẫn ngả người trên giường cô, một chân đi giày ống đặt dưới sàn, chân kia gác lên đầu gối. Cà vạt của anh xộc xệch vì trận khóc lóc của cô, và trông anh điển trai một cách u tối và trễ nải, với gương mặt cứng rắn và cái miệng gợi cảm.

    Cô rùng mình khi ánh mắt của Kieran uể oải trượt dọc thân hình cô. “Em đã yểm bùa phép nào lên tôi vậy, Camille?” anh hỏi. “Đến giờ tôi vẫn không tìm hiểu được.”

    Camille rời cánh cửa và bắt đầu bước về phía chiếc giường. Cô không dám hỏi anh ám chỉ điều gì, không dám gặng anh những câu trả lời mà anh luôn miễn cưỡng không thích đưa ra. Anh quan tâm đến cô – hơn mức anh muốn thừa nhận. Và lúc này như thế là đủ.

    Đến góc giường, cô dừng lại và bắt đầu tháo những chiếc ghim khỏi mái tóc.

    “Đợi đã.” Kieran rời khỏi giường. “Tôi muốn làm điều đó.”

    Anh bước đến sau lưng cô, và đặt đôi môi nóng rẫy lên đường cong ở cổ cô. Camille nhắm mắt và để cho hơi ấm nhức nhối quen thuộc xoáy vào mình. Cô muốn anh – cần chuyện này – và cô đã mệt mỏi vì cứ phải chối bỏ nó. “Hãy làm cho em quên,” cô thì thầm. “Ôi, Kieran, hãy làm em quên đi.”

    “Em thật ngốc, em biết không Camille,” anh lẩm bẩm như nói để mình nghe. “Một cô ngốc khi muốn tôi – vì bất cứ cái gì khác ngoài chuyện này.”

    Camille không đáp lời anh. Sự thực là, những gì anh đã nói ở công viên Hyde Park chẳng lời nào kéo được cô khỏi vách đá cảm xúc mà dường như số cô là phải ngã xuống. Và nếu cô là đứa ngốc, thì cứ để cho cô ngốc nghếch đi.

    Từng cái một, anh gỡ những chiếc ghim khỏi tóc cô, lùa những ngón tay qua những lọn tóc bung ra với sự dịu dàng tuyệt đối khi anh chải chúng xuống. Rồi đôi môi Kieran cọ vào vành tai cô. “Tốt nhất tôi cho hủy bữa tối,” anh thì thầm. “Trước khi Trammel lên tìm chúng ta.”

    “Tres bien,” cô đồng ý.

    Anh quay sang đập đập những ngón tay vào con chó. ”Jim! Ra ngoài nào nhóc.”

    Đầy ý thức trách nhiệm, con chó nhỏ nhảy xuống giường. Camille nhìn theo bóng lưng dẻo dai săn chắc của Kieran băng qua phòng tới cánh cửa nối, con chó hớn hở chạy lon ton sát gót anh.

    Lúc anh quay lại để khóa cánh cửa sau lưng, trên người Camille chỉ còn độc chiếc váy lót và đôi tất. Anh sững lại, nét mặt dịu xuống khi nhìn cô.

    ”Sao vậy?” cô thì thầm. ”Có gì không ổn sao?”

    Nụ cười của anh quay lại, khao khát và mơ hồ. ”Không có gì,” anh trả lời. Hai bàn tay với những ngón thuôn dài đưa lên khum lấy gương mặt cô. ”Chỉ là...em thật xinh đẹp. Quá đỗi xinh đẹp.”

    Camille kiễng chân lên, vòng tay ôm cổ anh. ”Kieran, sao ngài lại nói –”

    Anh chặn lời cô lại bằng môi mình. Nụ hôn thật dài và sâu, miệng anh đầy đòi hỏi. Cô ngửa mặt lên đáp ứng anh và để cho anh chiếm lấy mình. Khi họ rời nhau, cô nhìn anh qua ánh ngày sắp tắt, và thấy gương mặt anh một lần nữa biến đổi, thành vẻ gì đó như lưỡng lự, và một chút tuyệt vọng.

    Cô níu lấy ánh mắt anh, muốn anh nói ra. Cứ như thể anh muốn cô, song chỉ nhìn từ xa, e ngại đến quá gần. Anh là người đàn ông bị giày vò bởi nỗi hối hận với quá khứ và không muốn, có lẽ, hy vọng vào tương lai. Nhưng bằng đôi mắt mình, cô van xin anh hãy đón nhận cô.

    Đáp lại, hàng mi đen dày của anh khép chặt. Hành động theo bản năng nữ giới, Camille đưa một bàn tay run run lên gương mặt anh. Lướt những ngón tay qua gò má anh, cô vuốt ve anh, rồi cọ bề mặt ngón tay cái qua khóe miệng anh.

    Đôi mắt anh vẫn nhắm, song cánh mũi anh phập phồng trước sự mơn trớn của cô. Và rồi, như thể tìm kiếm một bến trú, anh xoay mặt vào bàn tay cô và ép môi vào lòng bàn ấy với một tiếng thở dài.

    ”Kieran,” cô thì thầm khi hơi thở của anh phả vào da cô nặng nhọc hơn. ”Anh yêu.”

    Mình đang chìm, anh nghĩ. Chìm trong sự ôm ấp của của Camille; sự vuốt ve giản dị, dịu dàng không hề cám dỗ hay đòi hỏi. Vậy mà những ngón tay nhỏ bé ấm áp ấy mơn man trên gương mặt chai sạn của anh khiến anh càng muốn nhiều hơn nữa – không chỉ là nỗi khao khát xác thịt, mà còn là một ham muốn sâu hơn anh không thể lí giải. Giây phút này là một niềm vui sướng, một sự âu yếm; những cảm xúc bị băm nát bởi một nỗi đau ăn sâu vào xương tủy khi nhận ra anh đã lãng phí đời mình. Nỗi đau mà số phận bằng tất cả sự tàn ác của nó đã chọn tặng cho anh một người phụ nữ gieo vào lòng anh niềm khao khát mà anh không thể trấn áp bằng sự chua cay, cũng không thể xóa đi bằng men rượu.

    Camille lùi ra, và một phần ý thức về thực tại quay lại. Anh quan sát cô đặt một chân lên giường, kéo gấu chiếc váy lót lên, và bắt đầu cuộn tất xuống để lộ ra, từng inch một, đôi chân tuyệt mỹ nuột nà của cô. Và trong khi ngắm nhìn cô, tâm trí Kieran quay lại với buổi chiều của họ trong công viên. Cuối cùng anh đã kể cho cô – biết rõ rằng anh nợ cô sự thật. Và sự thật ấy sẽ là dấu chấm hết. Thế nhưng cô vẫn ở đây, đang tuột đôi tất của mình. Đang tháo dây buộc chiếc váy lót.

    Mê mẩn, anh vươn tay ra, kéo lớp vải lanh trắng mềm mại khỏi bờ vai cô. Cổ cô, vết lõm nơi họng cô, điểm phập phồng nhỏ xíu mà anh ngốc nghếch nghĩ rằng nó đập cho riêng anh; tất cả chúng thật hoàn hảo. Lạy Chúa lòng lành? Anh đã thề thốt gì với cô vậy? Anh đã cố cân nhắc lời lẽ, thế mà anh vẫn hứa hẹn những điều chẳng thể thực hiện. Có lẽ cô cũng biết vậy – và một sự phản bội nữa là thứ cuối cùng cô cần trên thế gian này.

    Anh lại áp môi lên đường cong ở cổ cô, và tựa má vào vai cô. Lúc xưa, anh đã ngu ngốc tin cô là người lạnh lùng. Nhưng cô không lạnh, cô đầy sức sống – và có một trời khác biệt giữa hai người họ. Không có anh, Camille vẫn tồn tại được. Không có cô, Kieran sợ rằng anh không thể. Anh yêu cô. Một cách chân thành, trọn vẹn, anh yêu cô. Nó không phải là thứ tình cảm anh hoan nghênh, song nó ập đến anh bằng một khí thế chuyển sông bạt núi.

    Kieran im lặng rất lâu đến nỗi Camille bắt đầu thấy lo. Cô thì thầm gọi anh, và anh ngẩng đầu lên, đôi mắt mở ra để lộ nỗi khao khát hừng hực trong đó. “Chúa tôi, Camille, tôi cần em,” anh nói khàn khàn. “Bên cạnh tôi, bên dưới tôi. Chỉ cần em…ở bên tôi.”

    Nỗi nhẹ nhõm tràn qua cô trước lời anh nói. “Kieran, trái tim của em, em ở đây,” cô thì thầm, hàng mi cụp xuống. “Em sẽ luôn ở bên ngài.”

    “Tôi muốn em, Camille,” anh thì thào.

    “Vâng.”

    Chậm rãi, Kieran cởi bỏ quần áo, thoát khỏi chiếc áo vét, và cởi áo gi lê với một sự chắc chắn uể oải đầy nam tính. Camille đưa hai tay gỡ chiếc cravat trắng như tuyết nơi cổ anh. Anh ngửa cằm, im lặng quan sát cô.

    Anh khiến cô bất ngờ khi cất tiếng. “Tôi nghĩ tôi khao khát em hơn tôi từng khao khát bất cứ thứ gì trong đời mình,” anh đột ngột nói. “Đúng ra tôi không nên nói điều đó với em?”

    Camille mỉm cười, trái tim đập dữ đến mức muốn vỡ tung. “Tại sao lại không nên?”

    Anh nhìn đi nơi khác. Mắt cô chạm phải gò má hơi hốc hác của anh, vết chân râu mờ mờ làm tối khuôn mặt anh. Nom anh không trẻ cũng không già, chỉ đơn thuần là tuyệt đẹp. Và cô đơn.

    “Có lẽ có những điều nếu nói ra sẽ là ích kỉ?” anh nêu ý kiến, giật đuôi áo sơ mi bung ra.

    Camille kéo quai chiếc váy lót khỏi vai mình. Mắt anh dõi theo quá trình chiếc váy rơi xuống sàn. “Có lẽ giờ nói chuyện đã hết,” cô trả lời.

    Lúc này bóng tối gần như đã phủ ngập căn phòng. Cô kéo chăn xuống, rồi nhìn Kieran lột những mảnh quần áo cuối cùng của anh. Qua chút ánh sáng yếu ớt lành lạnh, cô đưa ánh mắt chu du trên thân hình to lớn của anh. Bất kể đã sút bao nhiêu cân, Kieran vẫn là người đàn ông vạm vỡ theo đúng nghĩa của từ này. Không có chút gì là duyên dáng hay đẹp mắt trong vóc người săn chắc của anh, bởi nó là thân hình được trui rèn qua hàng giờ lao động vất vả và in hằn dấu ấn của khổ cực và ngược đãi. Song trong mắt cô anh vẫn phong nhã và đẹp đẽ. Và khi anh quay người ném đi mảnh vải cuối cùng trên người mình, và ánh ngày đang tắt rọi vào những vết sẹo dài vắt ngang lưng anh, Camille thấy mình không cầm được nước mắt.

    “Lên giường đi, anh yêu,” cô thì thầm.

    Trước sự kinh ngạc của cô, anh bế xốc cô lên, một cánh tay luồn dưới hai đầu gối cô, và đặt cô lên giường như thể cô nhẹ như chiếc lá. Anh trườn lên trên cô, mắt tối lại vì ham muốn, vật đàn ông dựng đứng của anh nặng trịch và nhô hẳn ra. Một lọn tóc dày rơi xuống, che khuất vầng trán cao của anh. Một cách bốc đồng, cô rướn lên hôn anh. Đôi môi họ gặp nhau một lần, hai lần, rồi miệng anh cuống quýt ngấu nghiến miệng cô. Hai bàn tay Camille đặt trên hông anh, kéo lại gần hông cô.

    “Em muốn anh, Kieran,” cô thì thầm khi nụ hôn chấm dứt. “Em hết chịu nổi rồi.”

    Bàn tay anh như run rẩy khi đặt lên phần đùi trong của cô. “Có lẽ tôi không thể nhẹ nhàng được,” anh đáp lại. “Em chắc chứ?”

    Cô vòng hai tay ôm lấy anh. “Rất chắc chắn.”

    Anh luồn đôi tay xuống hông cô và kéo cô xuống giường, dùng một đầu gối ép hai đùi cô mở rộng đồng thời tay anh lần đến vật cương cứng của mình. Camille quỳ lên trợ giúp anh. Anh đi vào cô, một cánh chớp nhoáng và hơi thô bạo. Tiếng thở hắt ra của cô khiến anh lầm bầm chửi thề.

    “Không, đừng dừng lại,” cô nghẹn ngào. “Xin cứ - “

    Với tiếng gầm gừ khe khẽ trong họng, Kieran đẩy mình vào sâu hơn, chống một tay phía trên vai cô. Từ từ, chậm rãi, anh chuyển động trong cô, mắt nhắm nghiền, hai cánh mũi phập phồng. “Ôi Chúa, Camille,” anh thì thào. “Em mới chặt làm sao. Trời ơi. Cứ như tôi được về nhà vậy.”

    Cô cảm thấy tim mình thoát khỏi mọi trói buộc, bay về phía anh. Khi thân thể cô thả lỏng tiếp nhận anh, cô nhấc một chân quấn lấy một bên chân to lớn và mạnh mẽ hơn của anh. Kieran hôn cô đầy chiếm hữu, bằng môi và bằng lưỡi, thám hiểm vào nơi sâu thẳm trong cô khi cô rướn cong người dâng hiến cho anh. Khi cô hôn trả lại anh, đẩy lưỡi vào trong miệng anh, anh rên lên và dấn sâu nụ hôn. Nỗi khao khát ngọt ngào quen thuộc cuốn lấy cô, khiến cô thở hổn hển bên dưới anh.

    “Em là của tôi, Camille,” anh nói khàn khàn khi miệng họ rời nhau. “Nói đi.”

    “Kieran, em là của anh,” cô thì thầm. “Mãi mãi.”

    Anh thúc vào trong cô dồn dập, không ngừng, cặp đùi mạnh mẽ của anh sắt lại, mắt anh nhắm nghiền. Sức nóng từ thân thể anh bắt đầu bao phủ cô, trêu ngươi và cám dỗ theo đà căng thẳng tăng dần. Dưới sức công phá của những cú thúc của anh, chiếc giường bắt đầu kêu cót két theo một nhịp nhẹ nhàng đều đặn. Camille thấy mình như hòa tan vào anh, trở thành một phần của anh.

    Ham muốn ẩn sâu trong cô dâng lên cho đến khi cô bắt đầu thở hắt ra theo từng cú đâm. Cô đang ở trong một trận lốc xoáy, càng lúc càng bị cuốn lên cao hơn. Thân thể anh hút lấy thân thể cô, chiếm hữu nó. Anh chiếm đoạt cô lâu và dữ dội trong khi buổi chiều dần nhường chỗ cho buổi tối, và một ánh nhập nhoạng lạnh lẽo êm ả buông xuống căn phòng. Lò sưởi rỗng không, những cây đèn lạnh ngắt. Song một lớp mồ hôi lấp lánh phủ trên trán anh và chảy dọc theo cổ đọng lại nơi hõm chữ V cứng rắn bên dưới cổ họng.

    Đột ngột anh mở mắt, ánh nhìn màu bạc đầy mê hoặc. “Tôi không thể mê đắm vì em được, Camille,” anh nói nghèn nghẹn. “Không thể được.”

    Nốt cuồng bạo trong giọng anh khiến cô thoáng rùng mình xao động.

    Đáp lại, Kieran cúi xuống hôn cô ngấu nghiến. “Đừng lẩn tránh tôi, Camille,” anh thì thầm trên môi cô. “Xin em. Không phải bây giờ. Khi đã quá muộn.”

    Cô hiểu anh không nói đến cuộc ái ân thuần túy này. Những câu chữ còn đi xa hơn, chạm đến cốt lõi điều họ đang chia sẻ. Đàn ông và đàn bà. Những người tình gắn kết với nhau bằng thứ gì đó vượt trên hành động xác thịt. Và Camille không thể hình dung nó là cái gì mà khiến anh phải đưa ra yêu cầu ấy. Cô lướt tay xuống những thớt thịt rắn chắc ở mông anh, hối thúc anh đến với cô.

    Kieran cố tỉnh trí. Để suy nghĩ cho ra hồn. Nhưng lúc này đây một cơn điên dại đang điều khiển anh, một ham muốn sở hữu cô đến mãnh liệt. Có một lằn ranh ở đâu đó trong bóng tối, và anh đã vượt qua nó. Dốc cạn mình cho cô một cách không thể cứu vãn. Anh nhấn sâu những cú đâm, và cô bật kêu lên, tiếng kêu mỏng manh trong ánh sáng mờ đục.

    “Camille, Camille,” anh lặp lại tên cô như một khúc nhạc, ghìm cứng cô bằng những cú đâm của mình. Làn da cọ xát vào làn da. Hương vị hoan lạc bủa vây họ trong một hơi nóng nhục cảm. Thật mê ly, và anh lạc lối hoàn toàn trước Camille. Cô đang nức nở từng nhịp khe khẽ vì ham muốn. Anh nâng người lên cao hơn, tạo một góc độ tuyệt vời hoàn hảo khi anh thúc vào trong cô. Và rồi một lần nữa cô kêu lên thành tiếng, nơi ấm nóng mượt mà của cô mút lấy anh khi hông cô rướn lên cho anh.

    “Kieran,” cô hổn hển. “Kieran, ôi…”

    Anh cố làm dịu những cú đâm của mình để kéo dài khoái cảm, nhưng những tiếng kêu đứt quãng khẩn thiết của cô thôi thúc anh. Camille níu lấy anh, run rẩy, những móng tay cào vào mông anh còn đầu cô ngửa ra sau lún vào mặt gối mềm. Rồi sự giải phóng tóm lấy cô, làm người cô rung chuyển, khiến cô thổn thức bên dưới anh. Kieran cảm thấy háng mình co thắt không thể kiểm soát, và bằng một tiếng kêu trầm đục, anh trút cạn mình trong cô và một luồng sáng kì diệu rực rỡ bừng lên trong đầu anh.

    Lúc Camille cựa mình tỉnh dậy thì căn phòng gần như tối đen. Kieran nằm cạnh cô, hai chân quấn vào chân cô, thân thể họ ướt mồ hôi. Cô nhắm mắt hít vào mùi hương dễ chịu của anh.

    Thế là đã hết. Trái tim cô chẳng còn giữ lại chút gì trước anh, người đàn ông cô từng nghĩ là khắc nghiệt và không có cảm tình cho nổi. Con người cô từng mong giữ được khoảng cách, nếu không phải thể xác thì cũng là cảm xúc. Mặc dù thân thể anh sưởi ấm cô, mùi hương nam tính của anh vỗ về cô, thì sự bấp bênh phía trước vẫn lạnh lẽo và đáng sợ.

    Cô thật ngu ngốc làm sao mới đánh giá thấp anh. Camille rùng mình hít sâu một hơi.

    Kieran dịch vào gần và áp mu bàn tay lên má cô. “Camille?” anh lẩm bẩm, dụi vào cổ cô.

    Khi cô không phản ứng, anh nhấc đầu lên nhìn xuống cô, khóe miệng nhếch lên trong nụ cười trêu chọc. “Sao vậy?”

    Cô nhắm mắt và buông tiếng thở dài. “Kieran, em vẫn hằng e sợ chuyện này,” cô nói khẽ. “Em không muốn đánh mất trái tim mình vào tay ngài, không thể được.”

    Anh đờ người ra trong phút chốc. “Phải, như thế chắc chắn sẽ tốt nhất cho em.”

    Anh buông tay xuống, mất đi sự tiếp xúc với anh ngang với một nỗi đau thể xác.

    “Em biết – em biết – em từng nói đó là chuyện bất khả,” giọng cô nhỏ xíu và chẳng giống với cô chút nào. “Nhưng em đã tự vạch ra ranh giới này trong tâm tưởng – nó đang biến đổi, Kieran. Trước kia nó rất sắc nét và rõ ràng đối với em…”

    Nụ cười nhạt của anh chập chờn. “Em quá sáng suốt để mà đem lòng yêu tôi, Camille,” anh đảm bảo với cô. “Sau những gì chúng ta đã chia sẻ hôm nay, có lẽ em cảm thấy tiếc cho tôi. Nhưng xin khẳng định với em rằng tôi không xứng với bất cứ niềm trắc ẩn nào – đặc biệt là tình yêu của em.”

    Nhưng Camille nhận ra đã quá muộn với cô rồi. Cô không thể đưa mắt đi hay rời xa anh, theo mọi ngữ nghĩa. Ánh mắt bạc của anh dõi vào mắt cô một cách thận trọng, soi thấu tâm hồn cô, cô dám chắc thế. “Hôn em đi,” cô thì thầm. “Hôn em đi, Kieran. Để em xác định xem ngài có xứng hay không.”

    Có điều gì đó như sự tiếc nuối lướt qua mặt anh. Tay anh đưa lên, ngập ngừng, rồi miết men theo khuôn mặt cô. Mắt anh nhắm lại, khi môi anh vừa chạm vào môi cô, Camille vùng dậy, quàng cả hai tay qua cổ anh. Lần này nụ hôn của anh không còn giới hạn và vừa đau đớn vừa ngọt ngào. Không phải nụ hôn của nhục dục bỏng cháy hay sự mời gọi cám dỗ, mà dịu dàng và nhấn nhá. Cuối cùng, anh hôn dọc theo cổ cô, miệng anh mềm và ấm trên da cô, rồi anh tựa trán vào bờ vai cô.

    “Cô gái xinh đẹp của tôi,” anh thì thào. “Camille xinh đẹp của tôi. Tôi đã gây ra chuyện quái gì vậy?”

    “Chẳng gì cả,” cô đáp ngay. “Ngài chẳng gây ra chuyện gì hết.”

    Anh thốt ra tiếng cười khan, nghèn nghẹn. “Tôi tưởng em lãnh đạm như băng giá chứ,” bàn tay anh xoa những vòng tròn vỗ về giữa hai bả vai cô. “Nhưng tôi đã tính nhầm? Bên dưới gương mặt cứng rắn của em đang đập một trái tim mềm như đào chín. Và tôi rất tiếc vì điều đó.”

    “Chỉ cần hôn em thôi,” cô thì thầm. “Kieran, chúng ta nghĩ ngợi lẩn thẩn nhiều quá.”

    Anh nghe lời, hôn cô chậm rãi và triệt để, rồi tách ra. Camille xoay người nằm ngửa, vẫn nhìn anh. Ánh mắt anh di chuyển xuống phần bụng đã hơi nhô lên của cô. Bàn tay anh đặt lên nó, nặng và ấm áp.

    “Em nghĩ sao?” anh hỏi nhỏ. “Liệu…có khả năng không?”

    Camille do dự. “Còn quá sớm mà.”

    Hẳn anh tinh ý nhận ra nốt không chắc chắn trong giọng cô. Anh ngước mắt nhìn cô. “Quá sớm là bao lâu?”

    Camille cắn môi. “Em…em không biết,” cuối cùng cô đáp. “Em không có kinh nghiệm trong mấy chuyện này.”

    Anh nắm lấy cả hai tay cô, siết chặt. “Nhưng có khả năng? Em có lí do để hy vọng?”

    Cô chậm chạp thở ra. “Vâng, lý do để hy vọng,” cô đồng ý. “Nhưng mỏng manh lắm.”

    Anh nằm ngửa ra giường, kê một cánh tay dưới đầu. “Chín tháng,” anh lẩm bẩm. “Xem ra dài vô tận.”

    Song với những người đàn ông bình thường khác thì không. Nó cực kỳ ngắn ngủi- và so với việc nuôi nấng một đứa trẻ, thì nó chỉ là một cái chớp mắt. Nhưng có lẽ với Kieran nó dài như thiên thu thật.

    Thề với lòng không được nghĩ ngợi – không cho một khoảnh khắc phân vân làm vẩn đục niềm vui tinh nguyên và xác thực của cô – Camille kéo chăn lên, nép mình vào chồng, và chìm vào một giấc ngủ không bình yên.


    Camille trải qua một đêm đầy những giấc mơ bị ngắt quãng dở chừng, rồi tỉnh dậy và phát hiện cô chỉ có một mình khi Emily vào để kéo rèm và rót nước nóng cho cô. Cánh cửa dẫn sang phòng Kieran đóng kín, dù không cảm thấy anh rời khỏi giường, Camille vẫn biết anh đã dậy và ra khỏi nhà trước bình minh mấy tiếng đồng hồ. Trong mấy tuần ngắn ngủi kể từ lúc lấy nhau, cô đã hình thành một linh tính nhạy bén về sự hiện diện của anh.

    Mặc xong chiếc áo đi dạo đẹp nhất, chiếc áo kiểu redingote màu vang đỏ đậm bằng len ottoman mà cô hy vọng sẽ làm tôn nước da của mình lên, Camille xuống dưới nhà ăn sáng. Nhưng vừa ngồi vào bàn thì một cảm giác nôn nao đã dâng lên, nên cô chỉ dùng một lát bánh mỳ khô và nửa tách trà đã rời khỏi bàn. Cô nhìn chiếc đồng hồ đứng khi đi lên cầu thang. Tám rưỡi. Còn quá sớm cho dự định của cô sáng nay.

    Cô quay về phòng và nghe thấy tiếng Chin-Chin đang cào vào cánh cửa nối. Cô liền mở cửa cho nó và thấy ông quản gia đứng bên giá rửa mặt của Kieran, trên mặt hiện rõ vẻ lo âu.

    “Chào ông Trammel,” Camille lên tiếng, nhấc con chó không ngừng ngọ nguậy lên và đặt nó lên vai. “Có vẻ ông chủ của ông đã ra khỏi nhà từ sớm.”

    “Vâng, thưa cô.” Lập tức Trammel chụp lấy chiếc khăn dưới sàn, và bê chậu lên. Camille quan sát ông ta bằng đôi mắt ngờ vực trong lúc Chin-Chin dụi mũi vào má cô thơm chùn chụt.

    “Ông có biết anh ấy đi đâu không?”

    “Tôi không biết, thưa cô,” ông quản gia đáp. “Trời chưa kịp sáng ngài ấy đã gọi xe ngựa rồi.”

    “Xe ngựa?” Camille lặp lại. “Anh ấy có chuyện gì gấp sao?”

    “Chắc là thế. Đức ngài làm gì thì chỉ có mình ngài ấy biết thôi ạ.”

    “Phải, tôi cũng thấy vậy,” Camille khô khan nói.

    Trammel lưỡng lự, rồi mềm lòng. “Ngài ấy đã sai thắng sẵn đôi ngựa,” ông tiết lộ. “Và ngài ấy bảo tôi chuẩn bị hành lý cho ngài ấy, phòng khi.”

    “Vậy thì có thể anh ấy đã đi từ đêm.” Camille cau mày.

    Trammel cười khổ. “Nếu cô cho phép, tôi xin lui –“

    “Xin đợi một chút.” Camille bước vào phòng, nhìn đăm đăm chiếc khăn mặt. “Tình trạng anh ấy sáng nay thế nào, Trammel? Xin ông đừng đóng kịch. Xét cho cùng, tôi là vợ anh ấy.”

    Cái gì đó như sự thương cảm nhá lên trên gương mặt ngăm đen của Trammel. “Ngài ấy chỉ nôn một ít thôi, cô ạ. Chúng ta buộc phải hy vọng như thế nghĩa là không hề gì.”

    Camille tựa vai vào khung cửa và trầm tư nhìn ông ta. “Nhưng tôi nghĩ hai chúng ta còn lâu mới hy vọng nó không hề gì,” cô nhẹ nhàng thách thức. “Các ông gọi là gì nhỉ? - un maladie du foie?”

    “Cơn sốt của đức ngài ư?” Trammel đặt chậu xuống, vẻ run run, và lần này Camille trông thấy vệt máu đỏ tươi trên chiếc khăn. “Tôi chịu không thể biết, thưa cô. Ngài ấy nào có tiết lộ cho tôi. Ngài ấy chẳng bộc bạch với ai – kể cả Lady Nash.”

    “Nhưng anh ấy biết nó là gì đúng không?” Camille hỏi tới.

    Trammel so vai. “Tôi nghĩ ngài ấy đã ngờ ngợ,” ông đáp. “Nhưng…những thói quen của ngài ấy chẳng thay đổi, và người ta sẽ cho rằng –“

    “Ý ông là tật rượu chè của anh ấy?” Camille xen vào. “Chưa kể đến việc ngủ ít? Không chịu ăn uống?”

    Ông quản gia cụp mắt. “Vâng, những cái đó,” ông xác nhận. “Tôi thấy thật bất thường khi ngài ấy không – nhưng chức phận của tôi đâu được can thiệp? Và ngài ấy…ờ, khá khó tính, dù là lúc vui vẻ nhất.”

    Camille nhìn ông chằm chằm. “À, khó tính!” cô khẽ khàng lặp lại. “Có lẽ đã đến lúc chấm dứt chuyện đó rồi, Trammel?’

    Trammel đưa mắt nhìn cô lần cuối – một cái nhìn như ý nói chúc may mắn! – rồi bưng chậu lên và vội vàng đi ra.

    Ráng dẹp yên nỗi buồn và lo sợ, Camille dành cả buổi sáng xem qua sổ sách thu chi trong nhà, và gặp Miss Obelienne bàn việc chọn tủ gỗ, nhưng từ đầu đến cuối cô hành động như một cái máy. Những thùng đồ của cô cuối cùng cũng được đưa từ Limousin tới, người quản gia già đã làm việc đó theo yêu cầu của cô, Camille phụ một tay với Emily tháo dỡ chúng.

    Bức tranh phong cảnh cô treo trong phòng khách, với sự giúp đỡ của Trammel và một gia nhân. Những chiếc gối thêu cô xếp trên giường của Kieran để phòng của anh có thêm chút màu sắc thiết yếu. Nhưng cô không sao còn hứng thú với mấy chiếc thùng còn lại, và đến xế chiều, cô ngồi một mình trong phòng khách trên gác trước lò sưởi với con Chin-Chin nằm cuộn tròn trên lòng.

    Điều gì khiến sáng nay Kieran ra khỏi nhà vào thời điểm khác thường như vậy chứ? Cô dám chắc anh không đơn thuần là đến một trong những câu lạc bộ hay chốn bài bạc của mình. Không phải trên chiếc xe ngựa bốn bánh – chiếc xe dùng để đi việc gấp – do hai ngựa kéo. Và anh còn bảo Trammel gói ghém hành lý – sau khi vừa dứt thêm một trận ốm.

    Cô nhớ lại sự thúc bách trong những câu hỏi của Kieran đêm qua và bất giác đặt một tay lên bụng, giống như cử chỉ cô nhìn thấy rất thường xuyên ở Lady Nash. Cô thoáng nhắm mắt lại. Phải, Hãy còn quá sớm.

    Từ vẻ khao khát trong mắt anh, từ cái ngày đầy ắp cảm xúc họ cùng có với nhau, cô không hề muốn làm anh thất vọng. Nhưng dẫu họ ao ước một sự chuyển biến đến thế nào, thì muộn một tuần lễ - hoặc thậm chí hai tuần – vẫn không có ý nghĩa gì cả.

    Trừ một điều là cô chưa bao giờ bị chậm quá một ngày. Hơn nữa, bản thân cô biết. Chúa cứu giúp nếu cô sai, nhưng cô hoàn toàn chắc chắn. Cô đang mang một sinh linh nhỏ bé – trong một thế giới mà cô gần như chẳng quen biết ai. Một thế giới nơi chồng cô đang ốm nặng, nếu không muốn nói là sắp chết.

    Theo lý thuyết thì nuôi nấng một đứa bé không cha, và hầu như không có người thân dường như là chuyện hết sức bình thường. Cả cô và Kieran đều lớn lên theo cách đó đấy thôi.

    Có lẽ cô vừa trả lời câu hỏi của chính mình rồi. Có lẽ vì thế nó mới là định mệnh phũ phàng như vậy.

    Camille mở mắt, nhìn trân trân ra cái thế giới bên ngoài cửa sổ - những ngôi nhà gạch đẹp đẽ nằm kề nhau và những cỗ xe hào nhoáng gắn gia huy chạy qua, mỗi xe đều có một gia nhân mặc chế phục đứng bám vào đuôi xe. Đó là thế giới mà con của cô sẽ sống. Thế giới của nước Anh quý tộc. Không phải xứ thuộc địa xa xôi như Tây Ấn, hay chốn heo hút vùng nông thôn nước Pháp.

    Có cha mẹ hay không, đứa trẻ vẫn phải là một thành viên của cái xã hội mà cô và Kieran đều không hề cảm thấy thoải mái ở đó. Nó khiến mục đích sáng nay của cô càng được củng cố - và sự vắng mặt của Kieran, có lẽ, càng thêm tiện.

    Camille đứng dậy đi tới cửa sổ, suy nghĩ về thời khắc lần đầu tiên cô trông thấy Lord Halburne ở công viên Hyde Park. Người đàn ông mẹ cô từng lấy làm chồng, trông ông ta ra sao? Cô nhớ ông ta mặc áo choàng xám dài chấm gót, nhưng không đội mũ, ông ta đã bỏ nó ra để chào hai phụ nữ trẻ bên hồ Serpentine. Tóc ông ta trắng như tuyết, và ấn tượng đầu tiên là ông ta rất cao và gầy, nhưng lúc đó ông ta đang cúi xuống nói chuyện với con chó xù lông đen được một trong hai người phụ nữ cầm dây dắt.

    Camille ước sao cô nghe được những lời ông ta nói – hoặc chí ít là giọng nói của ông ta. Ông ta có thẳng thắn? Tử tế không? Chắc chắn một người không tử tế ắt sẽ không phí thời giờ rủ rỉ với một con chó. Dựa vào chi tiết đó chẳng an tâm được là bao, nhưng đó là tất cả những gì Camille có. Nên khi nghe đồng hồ điểm bốn giờ, Camille thu thập hết dũng khí và xuống dưới nhà. Trong lúc đi găng tay và mặc áo choàng, cô báo cho Trammel là cô sẽ ra ngoài đi dạo và không cần có gia nhân tháp tùng. Đây là một công việc hết sức riêng tư, và nó không cần khán giả.


    Tầm trưa, cơn mưa rào từ ngoài kênh tràn vào, nhấn chìm mọi thứ trên đường nó tiến đến London. Giam mình trong nhà, Công tước Warneham đang ở trong phòng của viên quản gia giáp đại sảnh tại Selsdon Court thì có tiếng xe chạy huyên náo vọng tới.

    “Cái quái gì thế?” anh hỏi, ngẩng lên khỏi đám giấy tờ họ đang xem dở.

    Coggins đứng lên. “Để tôi ra xem, thưa ngài,” ông đi đến cửa sổ, rồi lập tức quay lại. “Là một chiếc xe bốn bánh ạ, nó đang phóng rất nhanh lại đằng này. Nom như nó đã xô đổ chỏm cột cổng.”

    “Mẹ kiếp!” Warneham lại lẩm bẩm, đoạn sải bước ra ngoài và rẽ ngoặt vào đại sảnh.

    Ở đây, tiếng ầm ào của cơn bão nghe lớn hơn. Trước mắt anh, hai gia nhân đã mở cửa và chạy xuống bậc tam cấp, giương hai chiếc ô lớn màu đen đón khách và bảo vệ chỗ hành lý có thể có dưới màn mưa như trút.

    Warneham nhìn trừng trừng vào cỗ xe đen tuyền quen thuộc dừng bánh dưới chân bậc thềm, và vào cặp ngựa đen bóng vẫn đang dậm móng dưới mưa.

    “Cậu!” anh gầm lên rủa. “Cậu và mấy cột cổng chết tiệt của tôi! Sao chúng nó cứ bị cậu tàn sát thế hả?”

    Công tước đang chọn những từ thật sâu cay để ném vào mặt ông bạn thì thấy Lord Rothewell quờ quạng bám vào mép thành xe và cố sức bước xuống – cố sức là từ đúng nghĩa nhất, bởi nam tước nhào xuống chứ không hẳn là nhảy khỏi chiếc xe cao ngất, gần như đổ thẳng xuống lối đi trải sỏi.

    “Trời đất!” Công tước chạy ra và lao xuống bậc cấp trong nháy mắt.

    Những gia nhân đã ném ô xuống và đang mỗi người một bên xốc nách Lord Rothewell lên khi công tước đến nơi. “Trời đất,” anh lặp lại, giọng át cả tiếng mưa. “Xảy ra chuyện gì thế?”

    Dù ngồi xe nhưng quần áo Rothewell bị mưa ngấm sạch, mũ ướt sũng, mái tóc đen bết vào da đầu. Vẻ mặt anh khi nhìn người bạn thân trống rỗng. “Đưa tôi vào trong,” anh nói khàn khàn. “Tôi cần nói chuyện với cậu.”

    “Cậu nghĩ sao mà đi về phía nam để đối đầu với bão hả?” Warneham hỏi khi anh đã đưa nam tước vào ngồi trong thư phòng và yên tâm là trước mắt cậu ta sẽ không ngủm củ tỏi. Lúc đầu nam tước có vẻ đau đớn nhưng giờ đã ổn định hơn – và khô hơn tí xíu.

    “Tôi không biết là sắp có bão.” Rothewell quấn mình trong một chiếc áo choàng khô ráo ngồi trước lò sưởi, nét mặt trầm ngâm. “Có một số giấy tờ tôi để trong áo choàng – cần phải bàn với cậu.”

    “Đợi sau không được à?” Warneham đã bước tới tủ và rót hai ly brandy. “Bỏ chuyện giấy tờ qua một bên đi. Nom cậu như thằng sắp chết. Quá lẻo khoẻo để phóng hết tốc lực từ London lao vào cơn mưa lớn.”

    Nam tước ngẩng lên nhìn trân trân khi Warneham giúi ly rượu vào tay anh. Trong giây lát, những ngón tay họ nắm lấy nhau, và khoảnh khắc mong chờ hiếm khi có ấy trôi qua.

    “Phải, tôi đang ốm,” cuối cùng Rothewell thừa nhận. “Và không, tôi rất sợ rằng đó là chuyện không thể đợi được.”


    Bên ngoài quảng trường Berkeley, không khí lạnh buốt và nồng mùi khói xen lẫn mùi phân ngựa tươi. Camille có thể cảm thấy một cơn mưa lớn đang từ phía nam kéo đến, thổi tung những chiếc lá úa còn sót lại dọc theo các con phố vắng. Ngoắc chiếc ô trên cổ tay, cô rảo bước thật nhanh, cúi thấp đầu tránh gió và kéo sát chiếc áo choàng dài vào người.

    Trên quảng trường Grosvenor, ngôi nhà đường bệ của Halburne đứng sừng sững trong màn sương thu bắt đầu giăng mắc, đáng gờm như một chiến lũy. Trong khi nhìn nó, tim Camille rung lên một nhịp kì lạ. Đây là ngôi nhà mẹ cô từng sống một thời gian ngắn. Tại đây, bà đã bắt đầu cuộc sống của nữ bá tước Halburne. Một cuộc sống giàu sang và quyền thế. Lẽ nào trong mắt Maman nó lại có thể ảm đạm và lạnh lẽo?

    Nếu không kể đến bi kịch của mẹ cô, thì ngôi nhà này xem ra là đẹp nhất ở Mayfair, nên khó có khả năng trong những năm qua Halburne đã chuyển đi nơi khác kể từ lúc mẹ cô ra đi. Camille dừng chân trên bậc thềm để lấy danh thiếp, không may vẫn để tên thời con gái của cô, rồi rung chuông và rướn thẳng lưng chờ đợi. Có lẽ Halburne sẽ có thiện cảm hơn nếu cô đưa tấm thiếp này ra và gạt đi bất cứ lời đồn đoán nào đến tai ông. Hoặc có lẽ không phải. Nhưng cô sẽ yên lòng vì dù gì mình đã cố gắng tỏ thiện chí, và đã cố giảm chút sức gió khỏi hạm đội tàu lời ong tiếng ve của thiên hạ.

    Người gia nhân ra mở cửa nhìn già yếu đến mức giật mình trong trang phục quản gia rộng như bơi. Ông ta vừa mở miệng định nói thì, trước sự hốt hoảng của cô, lảo đảo lùi lại sau với một tiếng kêu ằng ặc kì quái trong yết hầu, vừa kịp nắm lấy quả đấm cửa.

    “Này ông?” Camille ngập ngừng lên tiếng. “Tôi có thể giúp gì –“

    Trước sự bàng hoàng của cô, cặp mắt ông quản gia trợn lên. Như trong một động tác quay chậm, ông ta từ từ đổ gục xuống thảm. Bàn tay yếu ớt tuột khỏi nắm đấm cửa bằng đồng trong tiếng kêu thất thanh của Camille. Chiếc ô trên tay cô va lách cách vào nền đá cẩm thạch.

    Camille không nhớ mình đã đi vào trong nhà, nhưng đến khi một gia nhân hối hả chạy xuống cầu thang, cô đã quỳ trong tiền sảnh, chiếc áo choàng tỏa thành một vòng rộng quanh người khi cô nới lỏng cổ áo hồ bột của ông quản gia.

    “Ông ấy tự dưng ngã gục!” cô nói khi người gia nhân quỳ xuống. “Tôi rất xin lỗi. Lúc tôi rung chuông thì ông ấy ra mở cửa….rồi bỗng dưng ông ấy ngã. Ông ấy đang bệnh sao?”

    “Không, chỉ vì ông lão quá già thôi.” Tên gia nhân vỗ vỗ má ông. “Fothering? Fothering?”

    “Ôi trời!” Camille thì thào. Cô đã giết quản gia của Halburne! Chuyến viếng thăm ngu ngốc này còn có thể xui xẻo hơn nữa không?

    “Tôi nghĩ ông ấy không sao đâu, thưa cô,” gã gia nhân nói vẻ không chắc chắn. “Nhưng ông ta bị cấm ngặt không được ra mở cửa mà. Phiền cô kéo hộ dây chuông. Tôi cần người giúp đưa ông ấy lên gác.”

    Camille làm như gã ta bảo. “Nom ông ấy xanh xao lắm,” cô lẩm bẩm, khi ông quản gia bắt đầu rên rỉ và hấp háy mắt. “Ông có nghe thấy chúng tôi không?” Cô quỳ xuống trở lại cạnh gã gia nhân, lòng cầu trời khấn phật. “Tôi nghĩ chúng ta phải gọi bác sĩ.”

    Đúng lúc đó, một dáng người cao cao đi xuống sảnh. “Fothering? Lạy Chúa! Chuyện gì xảy ra ở đây thế?”

    Camille ngẩng lên và chạm phải đôi mắt nâu sâu hoắm của Lord Halburne. Ông ta dừng sững lại giữa sảnh và nhìn cô một cách kì dị. Lần đầu tiên cô để ý thấy ống tay áo trái của ông ta rũ xuống lỏng lẻo và được buộc vào áo khoác.

    Cô lập tức đứng lên, mặt nóng bừng. “Tôi rất xin lỗi,” cô ấp úng. “Quản gia của ngài lúc ra mở cửa đã ngất xỉu, tôi hy vọng ông ấy không bị bệnh tim.”

    “Cô là ai?” Lord Halburne quát lớn.

    Có cái gì đó trong Camille tắt lụi trước tiếng quát của ông ta. Cô vội vàng trình danh thiếp. Đã có thêm một gia nhân nữa đến giúp, cả hai hợp lực xốc nách ông quản gia lên trong tiếng rên rỉ của ông ta.

    “Tôi là Lady Rothewell,” cô nói, nhún gối chào. “Danh thiếp của tôi e rằng vẫn chưa đổi.”

    Cô đưa nó cho Lord Halburne, ông ta liếc nhìn qua. Bàn tay phải của ông ta, cô nhận thấy, run run tựa như bị liệt. “Tôi hiểu,” ông ta nói, miệng nhếch lên. “Ái chà.”

    Ông ta đi sang trái và mở một cánh cửa dẫn vào phòng khách rộng rãi sáng rực ánh đèn. Sắc diện ông ta nhìn cách nào cũng không thể nói là xanh xao, nhưng nước da ông ta nom như đã bị rút cạn máu. “Mời cô vào đây ngồi. Tôi đi xem Fothering thế nào rồi sẽ tiếp chuyện cô sau.”

    Camille nhún gối chào lần nữa. “Cảm ơn ngài.” Rõ ràng ông ta lo cho người làm của mình, cũng tự nhiên thôi. Cũng như rõ ràng ông ta biết cô là ai – và không vui vẻ gì khi gặp cô.

    Thần kinh Camille căng như dây đàn trong lúc đợi Halburne quay lại. Qua cánh cửa để mở, cô có thể nghe thấy Fothering cằn nhằn mấy người gia nhân đang đưa ông lên nốt những bậc thang cuối. Ông ta đã hồi phục kha khá để trở nên cấm cảu, ơn Chúa.

    Trong nỗ lực né tránh sự lo lắng, Camille đưa mắt nhìn quanh phòng. Đó là một căn phòng thanh lịch, trần cao treo rèm lụa vân lam nhạt và trang trí bằng rất nhiều phào chỉ và ốp gỗ sang trọng. Đồ đạc, ngạc nhiên thay, lại mang phong cách Pháp và mạ vàng một cách nặng nề, trong khi những hình vẽ trên trần – vẽ cảnh thiên đường và các thánh tông đồ - lại là tác phẩm của một họa sĩ gần như bậc thầy.

    Một dãy các bức tranh chân dung tương xứng cao bằng người thật treo hai bên lò sưởi; bên trái là một mỹ nhân trong chiếc cổ áo cao thời nữ hoàng Elizabeth bế một con chó con thuộc giống chó sục trên một cánh tay gập lại. Bàn tay kia ngửa lên, một chuỗi ngọc trai nằm vắt ngang qua lòng bàn tay, đung đưa dưới những ngón tay là một cây thánh giá nhỏ bằng vàng. Bức chân dung bên phải là một quý ông dáng vẻ đạo mạo với chòm râu đen nhọn vận chiếc áo chẽn thêu cứng nhắc cùng đôi tất dài kẻ ca rô thuộc thế kỷ trước. Bên cạnh ông ta có một quả địa cầu vàng và một chiếc kính lục phân bằng đồng đặt trên chiếc bàn chạm trổ. Xem ra gia tộc Halburne là một dòng dõi lâu đời. Cũng là một dòng tộc giàu có, căn cứ vào lối bài trí đầy nghệ thuật và sang trọng kia.

    Đang chuyển ánh mắt từ những bức tranh sang chiếc đàn pianofort duyên dáng, Camille chợt nghe có tiếng động sau lưng và quay lại nhìn ra cửa. Lord Halburne đứng ngay ngưỡng cửa, quan sát cô vẻ cảnh giác. Cô có cảm tưởng hết sức kì quặc rằng ông ta làm thế đã được một lúc rồi.

    “Quản gia của ngài,” cô lên tiếng. “Ông ấy ra sao rồi ạ?”

    “Chắc chắn ông ta sẽ khỏe lại,” Halburne đáp, bước hẳn vào phòng. “Hiện giờ ông ta chỉ bị ê ẩm và thấy mất mặt thôi. Mời cô ngồi, Lady Rothewell.”

    “Có phải chuyện như thế này đã từng xảy ra trước đây?” Camille hỏi, ngồi xuống chiếc ghế ông ta chỉ.

    Halburne ngồi xuống phía đối diện, trên tay vẫn cầm danh thiếp của cô. “Một lần,” bá tước trả lời nhàn nhạt. “Fothering sức khỏe yếu. Ông ta vốn đã được cho nghỉ hưu, nhưng một mực đòi làm thay mỗi khi viên quản gia chính vắng mặt.”

    Camille cảm thấy nhẹ nhõm vài phần. “Thật đáng khâm phục. Hy vọng tôi đã không làm ông ấy thất đảm.”

    Câu tiếp theo của Halburne thẳng tuột. “Cô muốn gì ở tôi, Lady Rothewell?”

    Camille không thể giao mắt với ông ta. “Vậy ra ngài đã biết tôi là ai?”

    “Ồ, tôi nghĩ là thế,” ông ta nói qua kẽ răng. “Nhưng có lẽ cô nên giải thích.”

    Camille xốc lại quyết tâm. “Tôi là con gái của Dorothy,” cô giữ cho giọng thật bình thản. “Tôi đến London đã được vài tuần. Tôi ắt sẽ xin đến thăm ngài để thông báo điều đó, nhưng tôi được biết ngài đang ở lục địa.”

    “Đúng vậy.” Halburne nheo mắt. “Tôi có thể hỏi lí do cô đến London sau chừng ấy năm không?”

    Camille do dự. Cô đã lường trước sự phẫn nộ - có lẽ cả sự xua đuổi thẳng thừng – song không phải sự nghi ngờ sừng sộ này. “Tôi đến để tìm chồng,” cô nói. “Cha tôi đã đưa –“

    “Cha cô?” ông ta đanh giọng.

    Camille cảm thấy má mình nóng lên. Cô thật như một kẻ ngu đần nhất hạng. “Là Bá tước Valigny.” Không giữ được bình tĩnh, cô đứng bật dậy. “Mong ngài thứ lỗi, đây là một sai lầm. Tôi đến chỉ để xin lỗi trước cho những lời đồn đại mà sự có mặt của tôi – và cha tôi – chắc chắn sẽ gây ra. Nếu có thể tránh cho ngài khỏi chuyện đó, hẳn tôi sẽ cố hết sức.”

    “E rằng tôi không hiểu gì cả, Lady Rothewell.”

    Camille đã dợm bước ra cửa, nhưng rồi dừng chân và quay người lại. Halburne đang nắm chặt tay ghế như định đứng lên, nhưng ông không làm thế.

    “Mẹ tôi là người phụ nữ ảo tưởng và khờ khạo, nhưng tôi yêu bà ấy,” cuối cùng cô nói. “Song người ta không thể không nhận biết được sự…sự phiền toái mà hành vi của bà đã gây ra cho ngài. Tôi rất lấy làm tiếc. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói.”

    Đến đây thì Lord Halburne thực sự vùng dậy khỏi ghế. “Trời trời!” ông ta tỏ vẻ cảm thán, bước tới cửa sổ phía mặt tiền. “Sự phiền toái? Sự phiền toái ư?”

    Camille nhìn bộ dạng cứng nhắc của ông ta. “Dù có gọi tên chính xác nó là gì, tôi cũng không muốn làm nó tệ hơn, thưa ngài,” cô lặng lẽ nói. “Chào ngài, Lord Halburne. Tôi sẽ tự tìm đường ra cửa.”

    “Đợi đã.” Ông ta cộc lốc ra lệnh; vẫn không nhìn cô. “Bà ấy có…có kể gì về tôi với cô không?”

    Camille đổi thế đứng một cách không thoải mái. “Rất ít, thưa ngài. Bà ấy hiếm khi kể về quãng thời gian sống ở London.”

    “Rất ít?” Giọng ông ta khàn đi. ”Không kể hoàn cảnh chúng tôi gặp gỡ? Trông tôi như thế nào? Tôi đã theo đuổi bà ấy trong bao lâu?”

    Camille nuốt xuống khó nhọc. “Không, thưa ngài?”

    Cuối cùng ông ta cũng quay khỏi cửa sổ. “Bà ấy có nói tại sao chúng tôi chia tay không?”

    Camille lưỡng lự, rồi cúi đầu. “Có,” cô lí nhí. “Vì bà muốn theo Valigny sang Pháp.”

    Halburne day day thái dương. “Nhưng hắn chưa bao giờ yêu bà ấy. Chưa bao giờ. Hắn chỉ coi nó là trò đùa.” Cả thân hình ông run lên. “Cả cuộc đời này với hắn chỉ là một trò đùa. Vì Chúa, không ai trong các người nhận ra được điều đó sao?”

    “Maman không nhìn ra được, thưa ngài,” Camille lặng lẽ đáp.

    Lúc này Halburne đã rời khỏi cửa sổ và đi được quá nửa chiều dài căn phòng. Camille bối rối không biết nên nói gì. Ở lại? Lặng lẽ rút lui? Bảo ông ta cút xuống địa ngục cho rồi? Nhưng không làm thế được. Và thực tình, cô hiểu rõ cơn tức giận và hoang mang của ông ta.

    Đột ngột Halburne dừng bước. “Khi đó bà ấy còn quá trẻ,” ông ta lẩm bẩm. “Mới mười bảy tuổi, còn tôi đã sắp ba mươi, và quá ư nghiêm khắc. Giờ tôi mới nhận thấy điều đó. Và Chúa biết tôi không phải người có vẻ ngoài bảnh bao. Nhưng sau mấy tháng trời – khi cuối cùng bà ấy cũng nói đồng ý – tôi…tôi những tưởng bà ấy thật lòng.”

    Camille không biết nói sao. Cô tha thiết ước gì mình đừng bao giờ đến đây để chứng kiến nỗi đau khổ của người đàn ông này. “Tôi rất xin lỗi ngài.”

    Quai hàm Halburne giờ đã sắt lại thành một đường rắn đanh. “Ban đầu tôi đã tha thứ cho bà ấy,” ông nghiến răng, quay sang đối diện cô. “Cô có biết điều đó không? Bà ấy có kể cho cô không?”

    “Không, thưa ngài.” Camille cụp mắt xuống.

    Bàn tay ông ta siết thành nắm đấm. “Valigny không cho tôi lựa chọn nào ngoài làm thỏa thói tự mãn của hắn. Nhưng tôi đã đem Dorothy trở lại đây. Để bắt đầu lại từ đầu. Chờ cho đến khi trận đấu súng và những lời ong tiếng ve qua đi. Tôi sẵn sàng làm vậy vì yêu bà ấy. Nhưng kể cả thế tâm trí bà ấy vẫn chỉ hướng về Valigny. Bà ấy còn cầu xin tôi tha cho hắn.”

    Camille cố gượng cười đồng cảm. “Bà không hề ngờ ông ta sẽ nổ súng trước.”

    “Nổ súng trước?” Halburne nhìn cô vẻ ngờ vực. “Ý niệm thật kỳ quặc! Tôi là một xạ thủ có tiếng. Không, tôi đã nhường một bước. Tôi đã thực hiện nguyện vọng của Dorothy. Tôi bắn lên trời.”

    “Ngài…ngài nói sao?”

    “Tôi đã nhường hắn,” Halburne lặp lại. “Rồi tên khốn ấy bắn tôi.”

    “Trời ơi!” Camille ngồi phịch xuống chiếc ghế cạnh đó, bàng hoàng.

    Đó là sự vi phạm trắng trợn nhất quy tắc ứng xử giữa cánh đàn ông mà người ta có thể hình dung ra. Bắn một người không hề phòng bị? Đặc biệt là người đó vừa mới tha thứ cho sự xúc phạm nặng nề từ đối phương?

    “Cánh…cánh tay ngài?” cô thì thào không ra hơi.

    Halburne gật đầu cụt lủn. “Phát đạn đã trúng vào động mạch,” ông nói. “Người ta kết luận là vô phương cứu chữa. Rằng chỉ chút nữa là tôi toi mạng. Dorothy đã cao chạy xa bay cùng Valigny sang Pháp.”

    Camille nuốt khan. “Đúng là điên rồ!” cô thì thầm.

    Bá tước hiểu sai ý cô. “Tôi làm gì có lựa chọn nào?” ông hỏi lại. “Nếu tôi giết hắn như hắn đáng bị thế, cái chết của hắn ắt sẽ đầy màu lãng mạn – cái chết của một nhà thơ – và bà ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Giờ tôi mới hiểu mình không thể thắng được.”

    Ông ấy nói đúng. Camille ước sao mặt đất nứt ra và nuốt chửng cô xuống. Cô mấp máy môi định nói điều gì đó – bất cứ điều gì – nhưng không sao tìm được từ.

    Cuối cùng, Halburne tiến lại gần. “Nhưng sau chừng ấy năm, Lady Rothewell, vẫn có một chuyện tôi không sao hiểu nổi.”

    “Là chuyện gì ạ?”

    “Tại sao mẹ cô không lấy hắn ta?” Giọng ông giờ khàn hẳn đi. “Chẳng phải đó là mong muốn của bà ấy sao? Chúng tôi đã ly dị. Nhân danh Chúa, tôi đã trả tự do cho bà ấy. Thế mà bà ấy chẳng có hành động gì hết.”

    Camille lại nuốt khan. “Valigny cũng đã ly hôn,” cô nói rất nhỏ. “Ông ta đã nói dối Maman, rằng ông ta được biết nhà thờ sẽ không cho phép ông ta tái giá. Mãi nhiều năm sau Maman mới phát hiện ra trò xảo quyệt của ông ta. Đó là…đòn đánh cuối cùng.”

    Phải, ngón đòn đau cuối cùng đối với tình yêu của mẹ dành cho Valigny. Đối với cuộc đời cô. Nhưng nếu Camille có trông đợi ánh hân hoan lóe lên trong mắt Halburne, thì cô đã đoán nhầm. Ánh nhìn nảy lửa ấy đã chuyển thành đau xót.

    “Vậy là bà ấy đã biết. Cuối cùng bà ấy đã biết. Cuộc đời chúng ta – của cô và tôi – có lẽ cả của bà ấy nữa – đều bị hủy hoại. Và vì cái gì? Chỉ vì một trò đùa cợt.”

    Camille nhìn lảng đi nơi khác. “Tôi nghĩ sự thật ấy đã sớm đưa bà sang thế giới bên kia.”

    Halburne từ từ sụm xuống ghế. “Vậy là bà ấy đã chết rồi sao?” ông đờ đẫn hỏi. “Tất nhiên tôi đã biết điều đó từ miệng cô.”

    “Vâng, thưa ngài,” Camille lặng lẽ đáp. “Bà đã chết.”

    Lord Halburne không phản ứng gì.

    “Thưa ngài?”

    Nhưng Halburne đã quỵ ngã hoàn toàn. Ông sẽ không ngẩng lên nhìn cô nữa.

    Camille để ông ngồi lại yếu ớt trong ghế, hai vai đổ về đằng trước, đôi mắt vô hồn. Lần này khi cô chào tạm biệt, ông làm thinh.

    Ơn Chúa là ngoài tiền sảnh vắng tanh. Không một ai buồn để ý đến họ, Camille vẫn khoác áo choàng trên người và cầm ô trên tay. Nên cô chỉ việc đi ra, tự hỏi mình vừa gây ra tai họa gì – cho bản thân, và tệ hơn, cho Lord Halburne.
     
  10. song vang

    song vang Lớp 7

    Chương Mười Ba


    Về đến nhà Camille thấy nhà cửa vẫn vắng vẻ như lúc cô đi. Cô lang thang một mình từ phòng này sang phòng khác, cầm lên đặt xuống mấy quyển sách và thư từ - bất cứ cái gì làm cho tâm trí bận rộn – song trong mấy tiếng đồng hồ cô chẳng thể tìm được chút khuây khỏa, cho đến khi Chin-Chin từ dưới bếp chạy đến chỗ cô.

    Cô ngồi ôm con chó trên lòng đến khi trời ngả sang tối, bỏ qua bữa ăn, cuối cùng về phòng đi ngủ lúc đã quá nửa đêm. Đây mới là đêm đầu tiên cô trải qua trong ngôi nhà này mà không có chồng bên cạnh – thậm chí không biết anh đã đi đâu, hay anh đang ở trên giường người phụ nữ nào. Vậy tại sao nó mang cảm giác thê thảm thế này?

    Là do đêm qua. Vì cái ngày họ ở cùng nhau hôm trước. Vì cô đang rất muốn kể cho anh về Halburne. Cô cần một bờ vai – và giờ cô hiểu rõ chỉ có thể là bờ vai của anh. Nhưng có lẽ Kieran đang ngầm gửi cho cô một thông điệp? Chưa bao giờ anh định rút quá gần khoảng cách. Lẽ nào anh đang né xa cô, theo cách duy nhất mà anh biết?

    Cô lăn qua lăn lại trên chiếc giường lớn trống trải, quàng tay ôm con Chin-Chin vào sát người. Con chó khụt khịt mũi vẻ an ủi và liếm liếm má cô.

    “Ôi Chin Chin,” cô than thở. “Tao thật ngớ ngẩn khi tưởng rằng mình làm được chuyện này – kết hôn với một người đàn ông mà mình đã hoàn toàn bị chinh phục – sau đó giữ một khoảng cách với người đó.”

    Không, làm gì có khoảng cách nào - ấy là về phần cô. Và đôi khi, cô tin rằng, cả về phía anh cũng vậy. Để an tâm, cô trở dậy mở cánh cửa dẫn sang phòng Kieran để lúc nào anh về cô có thể nghe thấy. Quay lại giường, cô buông tiếng thở dài và nhìn đăm đăm ngọn lửa nhỏ cháy leo lét trong lò sưởi. Nhưng trong ánh lửa khuôn mặt khắc khổ, mệt mỏi đến kiệt cùng của Lord Halburne vẫn hiện lên khiến cô buộc phải xoay người lại đối mặt với sự trống trải trong phòng mình.

    Lại một lần nữa, khi cô đã đi qua gần hết cuộc hôn nhân – có lẽ cũng là gần hết cuộc đời – Camille lại chỉ có một mình, có mỗi con chó bầu bạn. Nhưng giờ Chin-Chin đã ngáy đều đều. Camille ôm chặt nó và cố dỗ giấc ngủ.


    Sát giờ ăn tối ngày hôm sau Rothewell mới từ hạt Surrey trở về. Cái hy vọng đi về trong ngày của anh, kể cả khi trời tạnh ráo, xem ra thật ngớ ngẩn. Đến quảng trường Berkeley, anh nhảy xuống với động tác chỉ linh hoạt hơn tại Selsdon Court tí chút, và anh ngờ rằng bộ dạng mình nom chẳng khá hơn mảy may. Cố gắng đứng cho thẳng, anh giao xe cho một gia nhân đang chờ sẵn và rón rén từng bước lên bậc tam cấp để rồi đụng phải Trammel đứng đó từ hồi nào.

    “Ngài đã về.” Ông quản gia nhăn mặt khi quét mắt qua anh. “Trông ngài –“

    “Kệ nó đi,” Rothewell cắt ngang, đi qua ông ta. “Vợ tôi đâu?”

    Trammel theo anh lên cầu thang. “Lady Sharpe tới nhà dùng trà,” ông giải thích. “Bà ấy bắt bằng được Lady Rothewell đi cùng bà về phố Hanover để chơi bài và ăn tối .”

    Camille, đi rồi? Rothewell khựng lại, lòng nặng trĩu thất vọng. Anh đã lao về London với cơn đau khoan thành lỗ từ bụng vào xương sống, tim thì như bị cái mỏ cặp kẹp cứng, chỉ mong gặp Camille. Anh chỉ đơn giản cho rằng…anh đúng là thằng tự phụ.

    Hai vai anh sụm xuống. Anh cảm thấy thần chết đang vẫy gọi mình. Anh muốn…cô. Chỉ một mình cô thôi – thật ích kỉ cho dù một khao khát như thể có thể tồn tại. Anh đếm bước dọc hành lang vắng của nhà mình, tiếng vọng trống rỗng của gót giày gõ trên sàn gỗ mịn dội vào tai anh. Âm thanh của một ngôi nhà hoang vắng. Âm thanh cuộc sống một thuở của anh.

    Lẽ nào đã quá muộn cho anh và Camille, anh tự hỏi? Quá muộn để họ tìm đường đến trái tim nhau? Và có công bằng với cô không khi anh định dốc sức thử một lần? Thời gian của anh chỉ còn đếm bằng ngày, và có vẻ với thời gian như thế người ta làm được rất ít việc.

    Một cơn đau dội lên tấn công anh. Rothewell lảo đảo, cái hành lang cứ bồng bềnh trước mắt anh. “Khỉ thật!” anh nghẹn giọng, tay bấu vào thành lan can.

    “Thưa ngài.” Trammel nắm lấy cánh tay anh. “Chúng ta phải đưa ngài phải vào giường nghỉ thôi.”

    Rothewell bắt mình đứng thẳng và hất tay ông ra. “Đem cho tôi ít rượu là được. Tôi có thể tự mình về giường, không cần đến một mụ bảo mẫu đâu, Trammel.”

    Nhưng con quái vật gặm nhấm đã đồng hành với anh suốt những ngày qua, và Rothewell biết sức mạnh của nó đang lớn dần. Anh sợ rằng lần này anh sẽ không thoát được. Đến Gareth cũng đã nhìn thấy nó hoành hành. Rothewell đã trải qua một đêm gần như thức trắng ở Selsdon, và sáng nay anh không ăn được nhiều hơn một lát bánh mì nướng.

    Tuy nhiên Trammel không đem rượu cho anh, và mặc dù nói cứng như vậy, Rothewell không chắc dạ dày anh có thể tiêu hóa được nó. Thay vào đó, ông quản gia lẳng lặng làm việc của mình; kéo chăn ra, tháo giày cho Rothewell, soạn ra một chiếc áo ngủ sạch. Có lẽ Trammel biết rõ những triệu chứng ấy, trong vòng một tiếng đồng hồ, ruột gan Rothewell quặn lên từng hồi, đau đến tức thở. Cuối cùng khi đỡ hơn một chút, anh thấy mình đã nằm trên giường, những cơn đau dữ dội chuyển sang âm ỉ nhức nhối.

    Con chó nằm cuộn tròn trên tấm chăn, cằm tì lên chân, mắt ngước nhìn anh đau đáu.

    “Mày nghĩ sao, Jim?” Rothewell lào khào hỏi, khi Trammel đã lại trở xuống dưới nhà. “Tao có được đi gặp quỷ sứ trước lúc nửa đêm? Hay chúng định hành hạ tao thêm một thời gian nữa?”

    Con chó phát ra một âm thanh kì lạ, nửa như tru nửa như rên, nhích dần người lên phía trước chăn. Rothewell nhắm mắt, đặt tay lên cái đầu mượt như nhung của con chó. Anh hiểu cảm nghĩ của nó. Phần lớn cuộc đời anh nhất quyết dùng để hủy diệt bản thân – và giờ đột nhiên đời trở nên đáng sống, anh khá chắc chắn là mình đã thành công.


    Tại phố Hanover, Camille đã thắng ba ván liên tiếp và đang chuyển bài cho Lord Sharpe để chia thì ông quản gia đi vào phòng khách. Ông ta cúi thấp người xuống bàn, chiếc khay bạc trên tay hướng về phía cô. “Phu nhân có thư,” ông nói. “Từ Mr. Trammel.”

    “Ồ, không biết là nội dung gì nhỉ?” Lady Sharpe hỏi.

    Camille lướt mắt qua bức thư. “Rothewell bị ốm,” cô đứng bật dậy. “Trời ơi, em phải về đây.”

    Chỉ trong hai phút, cô đã mặc xong áo choàng và ra đến cửa, nhẹ nhàng nhưng cương quyết từ chối đề nghị đi cùng của Lady Sharpe. Tim cô muốn nhảy lên tận cuống họng. Hẳn tình hình phải nghiêm trọng lắm thì Trammel mới gửi thư cho cô.

    Về đến trước cửa nhà cô thấy một gia nhân đang túc trực.

    “Trammel đâu rồi?” vừa hỏi cô vừa tháo găng tay.

    “Ông ấy ở trên gác, ma’am.” Người gia nhân nhấc áo choàng khỏi vai cô. “Ông ấy dặn nói lại với phu nhân rằng đức ngài hiện đang nghỉ ngơi thoải mái rồi.”

    “Cảm ơn anh.” Camille hối hả đi lên gác và rẽ xuống hành lang. Trammel đón cô ngoài cửa phòng Kieran, trán ông hằn những nếp nhăn. “Anh ấy bị làm sao?” cô hỏi. “Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

    Trammel khẽ cúi đầu chào cô. “Ngài ấy đã xuống Selsdon Court, thưa cô, và tôi đồ là trên đường về ngài ấy đã ngã bệnh. Nhưng lần này cơn đau rút đi rất chậm. Có khả năng suốt đêm qua ngài ấy đã phải chịu đựng nó.”

    Camille nhìn về phía cánh cửa. “Anh ấy nôn ra máu phải không?” cô hỏi. “Hãy cho tôi biết sự thật, Trammel.”

    Ông quản gia gật đầu. “Trước giờ tình hình chưa đến mức trầm trọng – nhưng đợt này nó lại kéo dài chưa từng thấy.” Rồi ông ghé lại gần cô. “Tôi nhắn cô về là lén ngài ấy đó.”

    Camille đặt tay lên cánh tay ông quản gia. “Và anh ấy không cần biết chuyện đó?”

    Cô đi vào phòng, ngọn đèn trong phòng Kieran được vặn nhỏ và lửa bập bùng trong lò sưởi tỏa ánh sáng ấm áp. Anh nằm trên giường, chăn kéo đến ngang ngực, một tay đặt lên lưng Chin-Chin. Trông thấy Camille, con chó ngóc đầu dậy và vẫy đuôi. Kieran mở bừng mắt.

    “Ông ta cấp báo cho em phải không?” Kieran lầm bầm, quan sát cô tiến lại. “Trời đánh cái lão già nhặng xị đó. Giờ tôi khỏe hẳn rồi.”

    Camille ngồi ghé xuống mép giường và cầm lấy bàn tay kia của anh trong cả hai tay mình. Anh nhợt nhạt và có phần ủ dột, nhưng khí chất dường như không hề mất đi. “Nếu ngài vẫn đủ sức để cằn nhằn các gia nhân, chắc ngài sẽ đủ sức để cho em biết ngài đã đi đâu? Và làm sao ngài ngã bệnh?” cô nhẹ nhàng đề xuất. “Và vui lòng đừng trả lời em rằng đó không phải là việc của em. Em đã quyết định rằng từ giờ trở đi đó sẽ là việc của em.”

    Anh nhìn cô bằng ánh mắt tối sầm, cáu kỉnh, nhưng cô nghĩ khóe miệng anh thấp thoáng nét cười. “Chúng ta kết hôn được bao lâu rồi ấy nhỉ?” anh phàn nàn. “Một tháng phải không?”

    Camille mím môi. “Khoảng vậy. Xin ngài hãy trả lời câu hỏi của em trước?”

    Mất một lúc, ánh nhìn sừng sộ của anh mới dịu lại. Anh nhắm mắt, siết lấy bàn tay cô đầy âu yếm. “Tôi đã xuống Selsdon.”

    “À, đó là đâu?”

    “Điền trang của Warneham. Dưới hạt Surrey.”

    “Em hiểu rồi,” cô nói bằng giọng khe khẽ. “Nhưng sau này, ngài hãy nói với em một tiếng được chứ?”

    Một tiếng thở dài ngắt quãng thoát khỏi lồng ngực anh. “Tôi cứ tưởng – lúc xảy ra chuyện tôi mới thấy mình ngu ngốc – là mình có thể trở về trong ngày nếu nhanh chân.”

    “Nhưng ngài không làm được,” cô nói điềm đạm. “Và em đã vô cùng lo lắng.”

    “Thật sao?” Anh nở nụ cười yếu ớt. “Từ trước đến nay chưa có ai từng lo cho tôi hết.”

    “Có Xanthia đấy thôi,” cô nhẹ nhàng thách thức. “Khi nào ngài cho phép chuyện đó.”

    Nhưng thực ra, trong thâm tâm Camille biết anh đang nói thật. Phần lớn cuộc đời mình, Kieran gần như chẳng có ai để tâm chuyện anh sống hay chết

    Đột ngột anh cựa quậy, rút tay khỏi tay cô, và ngồi dậy. “Nhân nói đến em gái tôi, có một số giấy tờ trong áo khoác của tôi,” anh hất đầu về chiếc ghế tựa. “Phiền em mang giúp lại đây?”

    Camille chần chừ. “Không. Không giấy tờ gì hết. Cho đến khi chúng ta nói chuyện xong về bệnh của ngài.”

    Anh hít một hơi qua kẽ răng. “Này…Xin em làm theo lời tôi đi, Camille. Sau đó – chúng ta sẽ tính tiếp.”

    Camille miễn cưỡng đứng lên, con chó nhảy xuống để đi theo cô, những bàn chân nhỏ xíu của nó gõ trên sàn gỗ thành một âm thanh vui tai phi lý. Áo khoác của Kieran vắt trên ghế, bên trong túi áo, cô tìm thấy một xấp giấy dày. Cô đem chúng lại giường, phân vân hay là cứ từ chối anh thì hơn. Nhưng cô đang canh cánh muôn vàn câu hỏi – và có lẽ đây là lần đầu tiên anh bộc lộ ý định sẽ trả lời chúng. Sau đấy sẽ nổ ra tranh cãi quanh chuyện mời bác sĩ – và cô thề nó sẽ là một vụ tranh cãi hết sức ngắn ngủi.

    Cô trao tập giấy cho anh, đưa tay vuốt nhẹ khuôn mặt anh, rồi ngồi xuống giường.

    “Tôi phải bàn chuyện này với Gareth trước nhất,” anh chuyển những trang đầu tiên cho cô. “Đây là giấy sang tên cổ phần của tôi trong Công ty hàng hải Neville. Tiếp đến là quyền sở hữu ngôi nhà này. Xanthia cần phải ký vào cái cuối cùng, nhưng con bé sẽ ký thôi. Garth sẽ là người được ủy thác phụ trách việc này cho em.”

    Camille ngây ra nhìn anh. “Em – em không hiểu.”

    “Giờ chúng đều là của em,” anh lẳng lặng nói. “Nhận lấy đi.”

    “Tại sao?” cô hoang mang hỏi. “Em không hiểu, Kieran. Em chỉ là vợ ngài thôi mà.”

    Môi anh mím lại, và anh chợt nhắm chặt mắt. “Camille, tôi muốn chúng mang tên em,” anh nói một cách sôi nổi. “Mọi thứ tôi sở hữu đều để lại cho con trai tôi – và nếu tôi không có con trai, thì chúng sẽ thuộc về một người họ hàng xa mà đến tên tôi còn chẳng biết.”

    Cô gật đầu. “Vâng, em hiểu đây là luật của nước Anh.”

    Anh lại đưa tay ra tìm tay cô. “Cầu trời đừng để điều tồi tệ nhất xảy ra, tôi muốn những thứ này tách hẳn khỏi tước hiệu nam tước. Tôi muốn ngôi nhà này là của em một cách rạch ròi, và cổ phần của tôi trong Công ty Neville giờ sẽ thuộc về em. Chúng không nằm trong quyền thừa kế, và chúng không đi kèm những tài sản thừa kế.”

    “Không được, Kieran, em không muốn thế này,” cô nói.

    “Nghe này, Camille. Nếu tôi chết mà không có con nối dõi –“

    “Không,” cô đưa lại tập giấy. “Ngài lấy em để có một đứa con. Ngài nghĩ em ngu ngốc đến độ không biết đó là lí do của ngài sao?”

    Vẻ tội lỗi lướt qua mặt anh. “Mọi chuyện đã thay đổi, Camille. Có lẽ chuyện không diễn ra như chúng ta hy vọng.”

    Nước mắt Camille rưng rưng, trước sự bẽ bàng của cô. “Chúng ta sắp có con,” cô khẳng định, đặt tay lên bụng. “Em cảm nhận được. Em biết điều đó.”

    “Camille.” Anh ngờ vực nhìn cô. “Chính em đã nói em không thể biết chắc kia mà.’

    “Chúng ta sắp có con,” cô khăng khăng. “Cuối cùng chúng ta sẽ làm được.”

    “Camille, nếu tôi chết trước thì sao?” anh thì thầm.

    Chuyện này Camille đã nhất quyết không nghĩ đến. Nhưng lúc này, bàn tay cô vẫn áp vào bụng, cô không khỏi cân nhắc. Kieran đang làm mọi cách để bảo vệ cô. Vậy tại sao nó có cảm giác như thể anh đang đâm một chiếc cọc vào tim cô thế này?

    “Một người cha tốt ắt sẽ yêu cầu một phần tài sản hôn nhân để bảo vệ em trong trường hợp khả năng đó xảy ra.”Kieran tiếp tục. “Thế nhưng toàn bộ số tiền em có được chỉ là năm mươi ngàn bảng do luật sư của ông nội em giữ theo ủy thác.”

    “Nhưng năm mươi nghìn bảng là số tiền rất lớn.”

    “Nó không đủ cho cuộc sống em xứng đáng được hưởng, Camille,” anh nói. “Cứ tin tưởng giao cho Xanthia điều hành công ty, hoặc giúp con bé một tay nếu em thích. Tôi biết em có thể làm được. Gareth đã rút lui rồi, nhưng cậu ta có thể tư vấn cho em. Và tôi muốn em hãy –“

    “Tốt thôi,” cô cắt ngang, giật lại chỗ giấy tờ. “Em nhận chúng rồi đây. Giờ thì ngài trả lời những câu hỏi của em được rồi chứ?”

    Mắt anh tối lại. “Tôi có bệnh, Camille,” anh nói không âm sắc. “Sức khỏe tôi sa sút từ mấy tháng nay. Chẳng còn gì để nói về vấn đề này nữa cả.”

    Camille đặt tập giấy sang một bên, cố giữ cho giọng mình thật điềm đạm nhưng kiên quyết. “Còn nhiều điều cần nói lắm,” cô bướng bỉnh đáp, nhoài người qua giường ôm lấy gương mặt anh trong tay. “Thực chất căn bệnh này là gì, hả anh? Tại sao chúng ta không gọi bác sĩ?”

    Miệng anh nhếch lên lạnh lẽo. “Có lẽ Chúa định hành tôi tới bến vì những tội lỗi tôi đã phạm,” anh chua chát nói. “Dù có làm thế nào cũng vô phương thôi, cưng ạ.”

    “Vô phương?” cô lặp lại, thu người về. “Thậm chí ngài còn không định cố gắng?”

    Anh buông người xuống đám gối. “Khỉ thật, Camille!” anh rên lên. “Em có nghe tôi nói không đấy?”

    Camille cảm thấy cơn tức giận của mình tan đi, thay thế nó là cảm giác cùng đường. “Kieran, ngài cứ tự hành xác – đày đọa bản thân thế này – thì thật điên rồ,” cô kêu lên. “Tại sao ngài cứ phải nghiệt ngã và vô cảm như thế, trừ những lúc chúng ta ở trên giường? Làm sao lúc này ngài là một người, sau đó biến ngay thành một người khác? Điều ngài không thể nói ra với em là gì vậy, Kieran?”

    Mắt anh cụp xuống, và anh lắc đầu.

    Những ngón tay Camille cuộn lại trong lớp vải áo ngủ của anh. “Ngài sẵn sàng chịu thua cuộc trước em rồi sao, Kieran?” cô thì thầm. “Ngài đinh ninh như thế phải không?”

    “Camille, tôi…”

    Một cách yếu đuối, cô gục đầu về phía trước chạm vào anh. “Một người như ngài mà lại chịu thua điều gì chứ? Sự tuyệt vọng sao? Vì Chúa, ngài giỏi hơn, mạnh mẽ hơn thế. Ngài không chịu thành thật, kể cả với chính mình.”

    “Camille,” cuối cùng anh nói, giọng đều đều. “Chúng ta đều tự đưa ra những lựa chọn trong cuộc đời, rồi sống với chúng. Còn về sự thành thật – em có thành thật với chính mình không?”

    “Em hiểu thực chất cuộc đời là gì,” cô ngồi thẳng dậy. “Nhưng em không để cho nó đánh bại mình.”

    “Còn bức thư của ông ngoại em thì sao?” Anh vặn lại.

    “Sao…là sao?” cô hỏi.

    “Tôi đã đọc kỹ nó. Ra đấy là nguyên do em không được để lại thứ gì, Camille. Và tôi chịu không hiểu nổi vì sao em không lấy làm tức giận.”

    “Tức giận với ai? Ông ngoại em ư? Em không muốn phí thời gian của mình đâu.”

    “Không,” chồng cô đáp. “Với mẹ em, vì đã che giấu nó. Lạy Chúa, nó đâu chỉ là một món hồi môn hay khoản thừa kế, Camille. Em có đọc nó không đấy? Ông ấy đề nghị đón em về. Chăm sóc em. Đưa em tránh xa người cha đáng ghét của em và một cuộc sống trắc trở. Ông ấy muốn cho em một cuộc sống xa hoa trong nhung lụa.”

    Camille nhìn lảng đi. “Mẹ em không muốn mất em,” cô nói khẽ. “Bà chỉ có một mình em. Bây giờ em buộc phải nhìn nhận điều đó như vậy.”

    “Được, chúng ta cứ coi như bà ấy chỉ ích kỷ chứ không hoàn toàn ác ý. Vậy tại sao trước lúc lâm chung bà ấy không đưa nó cho em? Sao không phải là lúc đó? Rồi em mất bao lâu? – sáu tuần? Sáu tháng? – mới phát hiện ra nó?”

    Camille cúi gằm mặt. “Lâu hơn một chút.”

    “Và trong thời gian đó, đồng hồ vẫn điểm. Em chỉ còn vẻn vẹn vài tuần để kiếm một ông chồng, và em gặp phải tôi. Nên giờ em bị trói buộc với tôi vì tôi là đám khả dĩ nhất em có thể chọn. Và giờ tôi là người duy nhất tức giận về chuyện đó? Thế là thế nào, Camille?”

    Camillle vặn vẹo hai tay vào nhau trên lòng. Cô không muốn trả lời câu hỏi ấy; không muốn lật lại nỗi đau trong những năm cuối đầy đáng sợ ấy – cũng không muốn nghĩ đến khả năng những năm tương tự như vậy đang chờ mình phía trước nếu như cô không kiên định.

    “Em biết mẹ em là người phụ nữ ích kỷ,” giọng cô nhỏ xíu. “Chính em đã từng chịu trận. Bà đã làm tổn thương em không biết bao nhiêu lần, trong lòng em hãy còn chưa nguôi uất ức. Nhưng Maman không hề biết về lá thư trước lúc lâm chung. Hoặc nói cho đúng là, bà không thể nhớ ra nó.”

    “Em nói gì?”

    “Mẹ em, bà đã trở thành một – một – từ gì ấy nhỉ? Một người nghiện ngập? Trong ba năm cuối đời bà giết dần giết mòn bản thân trước mắt em bởi vì nhan sắc của bà đã tàn phai, và Valigny đã bỏ rơi bà.” Cô ngừng lại để hít một hơi sâu. “Rồi đến một ngày đẹp trời, Maman gần như không biết tên mình là gì, nói gì đến tên cha của bà. Và cuối cùng – bà không biết cả tên em.”

    Anh sửng sốt đến không nói được gì hồi lâu. “Xin lỗi em,” anh đưa tay nắm tay cô. “Lẽ ra tôi không nên nói gì hết.”

    Camille nhún vai. “Quả là vậy,” cô đồng ý, giọng khàn khàn chua chát. “Ngài cũng phải thứ lỗi cho em, Kieran, khi em không biết liệu chúng ta có chia sẻ bí mật cuộc đời nhau hay không. Chuyện đó rất khó mở miệng.”

    “Tôi chỉ không muốn làm em khó chịu, hay bị tổn thương thôi.”

    “Tuy nhiên,” cô nói lạo xạo, gỡ tay ra. “Em đã bị tổn thương rồi. Em sẽ còn bị tổn thương nữa. Có lẽ em đang bị tổn thương ngay lúc này đây, Kieran ạ?”

    “Nghe này Camille –“

    “Không!” cô cắt ngang. “Ngài hãy nghe đây. Em bị tổn thương khi ngài tỏ ra lạnh lùng với em. Em bị tổn thương khi ngài ở bên ngoài cả đêm, và em không biết ngài đi đâu. Em bị tổn thương khi chứng kiến ngài đầu độc bản thân bằng rượu và không bao giờ -“

    “Camillie, lúc kết hôn tôi đã nói với em –“

    “Em biết ngài đã nói gì!” Cô giơ tay ngắt lời anh. “Nhưng cuộc hôn nhân đó kết thúc rồi! Ngài có nghe rõ không? Dù chúng ta đã nói gì, đã đồng ý những gì – cũng kết thúc rồi. Ngài không nhìn thấy điều đó trong mắt em sao, Kieran? Ngay lúc này đây em cần ngài. Con của chúng ta sẽ cần ngài. Em không van xin ngài. Em đang nói cho ngài biết đấy.”

    Sự đau khổ và yếu đuối đang bức ép Kieran, đè anh xuống. “Có lẽ nếu em –“

    Cô lắc đầu. “Có lẽ em không muốn phí thêm thời gian ngồi bên giường một người bệnh nữa cứ ôm khư khư những ẩn ức của mình?” cô thì thầm, ướt đầm nước mắt. “Có lẽ điều đó không công bằng với em.”

    Cô đang nổi giận, và nhân danh Chúa, anh ghét phải thừa nhận rằng cô đã đúng. Chí ít Camille chưa bao giờ nói yêu anh. Anh khó có thể chịu nổi điều đó. “Camille, tôi là con người như vậy đấy. Chính là kẻ em đã lấy làm chồng. Tôi đã nói rõ ngay từ đầu.”

    “Nói dối!” Cô đứng bật dậy. “Dối trá! Đấy không phải con người của ngài. Phải, phải, em biết ngài đã nói gì – và nếu ngài là người em đã gặp lúc ban đầu, có lẽ em sẽ chẳng quan tâm. Nhưng ngài không hề thích cuộc sống ngài tự tạo cho mình. Ngài về nhà cũng bồn chồn và chán nản y như lúc ngài đi. Ngài kém ăn, kém ngủ. Xin nói với ngài đó là cuộc sống của một kẻ hèn nhát.”

    “Một kẻ hèn nhát -?”

    “Một người không biết tranh đấu,” cô trả lời, nghiêng người lại gần anh. “Với lũ quỷ, với bệnh tật của mình. Ngài đã hứa cho em một đứa con – một đứa con mà em cần ngài giúp em yêu thương và nuôi nấng nó – thế mà giờ đây ngài chỉ một mực muốn chết.”

    Cái từ Kẻ hèn nhát ngân vang trong tai anh. “Ồ, tôi hiểu chuyện này là về điều gì rồi.” Giọng anh ráo hoảnh.

    Camille khoanh hai tay trước ngực và quay khỏi giường. “Dù là về điều gì đi nữa, ngài cũng đã hứa với em. Và ngài không thể giữ lời nếu ngài ra đi, đúng không nào?”

    “Tôi chẳng hứa với em cái quái gì hết,” anh đáp. “Tôi cứu em khỏi cuộc hôn nhân với một tên khốn bệnh hoạn đồi bại bởi em quá cứng đầu không thèm nghe lí lẽ. Đó là điều tôi đã làm cho em. Và theo lời em, thì có lẽ em đã có thai rồi. Do đâu mà em nghĩ tôi đề nghị một cuộc hôn nhân như trò hề này hả?”

    “Trò hề?” cô hỏi bằng giọng khàn khàn, cô xoay người và chầm chậm bước trở lại giường. “Đó là suy nghĩ của ngài về nó ư?”

    Anh mím chặt môi, nhận ra mình đã lỡ lời. “Không phải,” anh cào tay vào tóc. “Tôi xin lỗi, tôi nói không đúng.”

    Nhưng đã quá muộn. Anh thấy nước mắt đang bắt đầu dâng lên trong mắt cô. Khốn thật, lẽ ra anh nên biết chuyện này thể nào cũng sẽ đến. Lẽ ra anh đừng bao giờ để cho một người đàn bà khác bước vào ngôi nhà này. Vào cuộc đời anh. Dạ dày đau anh vẫn chịu đựng được. Chứ Camille khóc thì khó đối phó hơn nhiều.

    “Chết tiệt, Kieran, ngài tưởng em sẽ để yên cho ngài nằm đó chờ chết hay sao?”

    “Có vẻ chúng ta không có nhiều lựa chọn, em yêu ạ. Chúa đã tự lựa chọn hết rồi.”

    “Không!” cô đanh thép đáp. “Em sẽ không tin điều đó. Chúa cho chúng ta bộ óc để ta có thể tư duy cho sáng suốt.”

    Cô lục lọi túi váy, chắc chắn là để tìm khăn tay đây. Quỷ tha ma bắt. “Nó ở ngăn kéo tủ trên cùng ấy,” anh dịu giọng. “Em đi lấy đi.”

    “Cảm ơn,” cô sụt sịt, quay đi.

    Hai tay Rothewell siết lại thành nắm đấm, sự chán nản biến thành tức giận. Tức giận với số phận. Với chính mình. Nhưng cách nào đó, vượt qua tất cả những giận dữ và thất vọng, anh biết đó không phải là lỗi của Camille. Và trong thâm tâm anh biết mọi điều cô nói đều đúng.

    “Tôi xin lỗi, Camille,” anh nói khi cô quay lại từ chỗ ngăn kéo tủ. Anh đưa cả hai tay ra. “Chúng ta có thể quên đi tất cả chuyện này được không? Chỉ trong tối nay thôi? Ngày mai em lại có thể tiếp tục mắng nhiếc tôi. Lại đây nào, em yêu.”

    Cô hỉ mũi rồi trở về ngồi bên cạnh anh. Anh kéo cô vào lòng, cô nép vào anh, tựa má lên áo ngủ của anh. “Ôi, Kieran!” Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô vòng qua cổ anh.

    Rothewell nhắm mắt và hít vào thật sâu. Camille có mùi của hoa hồng, và một mùi hương kích thích kì lạ mà anh chưa bao giờ xác định được rõ ràng. Nó đơn giản là mùi hương của cô. Và anh yêu cô. Giờ anh đành chấp nhận điều đó.

    Bất kể anh có xứng đáng hay không, trong anh vẫn nảy nở một tình yêu sâu đậm, ngọt ngào xen cay đắng và đượm màu hối hận dành cho cô. Một tình yêu có lẽ chẳng bao giờ anh tưởng tượng ra, và sẽ không bao giờ dứt bỏ được, bất kể anh có đi đến đâu hay trốn tránh cỡ nào. Một tình yêu, cuối cùng thì, sẽ vượt qua cả cái chết.

    Và nếu anh yêu cô nhiều đến thế, thì chiều theo những nguyện vọng của cô có hại gì đâu? Đến giờ anh chẳng còn gì để giấu giếm cô nữa. Anh không còn có thể che chở cho cô, hay che đậy sự thật. Vốn anh định giữ khoảng cách giữa họ - để giữ yên ổn cho cô, giữ yên ổn cho anh – nhưng anh quá yếu đuối, và chuyện đó đâm ra thành bất khả. Mọi ý nghĩ của anh đều hướng về cô. Về cảm giác sẽ thế nào khi mất cô. Lo lắng cô sẽ sống tiếp ra sao, về phương diện tài chính, và phải, phương diện tình cảm. Với lại, anh chẳng xấu hổ mà tự thừa nhận rằng anh sợ cái điều đang nằm phía trước. Rằng anh cần có cô.

    “Vậy thì cứ làm thế đi,” anh lẩm bẩm trong tóc cô. “Sáng mai hãy gọi bác sĩ nếu chuyện đó làm em thấy khá hơn.”

    “Ngày mai ư?” Giọng cô nghẹn lại ở âm tiết cuối cùng.

    Anh vuốt tóc cô. “Camille, một đêm thì có tạo ra khác biệt gì?” anh trấn an. “Hiện tại tôi thấy rất ổn. Chỉ cần…ở với tôi đêm nay thôi. Hãy ngủ lại đây, được không?”

    Cô ngẩng lên, nở nụ cười miễn cưỡng. “Được thôi,” cô dịu dàng nói, đưa tay chậm nước mắt. “Nhưng em chẳng quen bác sĩ nào mà gọi. Trammel có biết ai không?”

    Rothewell nhìn vào lò sưởi giờ đã bùng cháy rừng rực. Đây là một mớ bòng bong nữa mà anh tự đưa mình vào. Cuối cùng anh cất tiếng. “Ở phố Harley có một tay bác sĩ, tên là Reading. Tôi không nhớ số nhà – đâu như gần cuối phố. Tôi sẽ bảo Trammel đi mời ông ta ngay sáng mai.”

    Cô lùi lại, mắt nhìn anh chăm chú. “Ngài biết ông ta. Trước đây ngài đã tìm đến bác sĩ.”

    Anh miễn cưỡng gật đầu. “Trước khi chúng ta gặp nhau mấy ngày.”

    Cô có vẻ vỡ lẽ. “Em hiểu rồi. Thế…ông ấy bảo sao?”

    Rothewell nhếch mép cười. “Bảo là tôi rượu chè và hút hít quá nhiều,” anh đáp. “Rằng tôi đã sống quá bừa bãi và chây ỳ quá lâu. Rằng có khả năng tôi có một khối u trong dạ dày – hoặc một khối u đã phát triển ở gan. Và căn cứ vào hiện tượng xuất huyết, ông ta nghĩ nó đã tiến triển xa.”

    Anh quan sát gương mặt cô biến sắc; quan sát cô chật vật giữ bình tĩnh khi môi dưới cô run run. “Vậy ư? Vậy…phương pháp điều trị như thế nào?”

    Anh ôm lấy gương mặt cô trong hai tay. “Camille,” giọng anh nhẹ nhàng quở trách. “Cả em và tôi đều biết chẳng có phương pháp điều trị nào hết. Bác sĩ chẳng thể làm gì ngoài xử lí cơn đau khi nó trở nên không chịu đựng nổi.”

    Cô lắc đầu. “Không, không thể có chuyện đó. Phải có cách nào chứ. Hoặc là…hoặc là có khi nó tự biến mất, nếu ngài kiêng khem đầy đủ. Bác sĩ cũng hay nói sai lắm.”

    Rothewell nhắm mắt, đột nhiên rất muốn tin cô. Anh ước sao mình đã thay đổi lối sống từ lúc rời khỏi phòng khám của bác sĩ Redding. Nhưng anh đã chẳng thèm bận tâm. Đây là kết cục từ lâu anh vẫn lường trước. Đúng ra là chờ đợi.

    Cứ như Camille đọc được tâm trí anh. “Ngài…ngài cứ thế chấp nhận phải không?” cô hỏi yếu ớt. “Ngài nghĩ đó là ý Chúa, ngài nghĩ mình đáng bị thế.”

    Cuối cùng anh cũng dứt mắt khỏi cô. “Nó đã lướt qua óc tôi, Camille.” Anh thừa nhận. “Thành thực mà nói tôi chẳng bao giờ ngờ mình sống lâu được đến chừng này. Và khi ông ta thông báo cho tôi…tôi liền nghĩ, ồ, thế đấy. Tự mày đã gây ra cho mày. Và giờ đây tôi sắp gặp lại Luke, đang ở đâu đó ngoài kia. Cuối cùng tôi sắp có cơ hội.”

    Camille cau mày và xoay gương mặt anh lại. “Cơ hội để ngài làm gì kia?”

    Gượng gạo, anh so một bên vai. “Tôi – tôi không biết nữa. Chắc là để xin anh tôi tha thứ.”

    “Có lẽ anh ấy nên xin ngài tha thứ mới đúng?” cô nêu ý kiến. “Anh ấy đã cướp mất người phụ nữ ngài yêu.”

    Rothewell nghiêng đầu sang một bên và nhìn cô đăm đăm. “Luke cảm thấy tôi đã đối xử tàn tệ với cô ấy.”

    “Có lẽ vậy,” cô chấp nhận. “Nhưng giải pháp của anh ấy là kết hôn với cô ta. Anh ấy còn không cho ngài cơ hội sửa chữa mọi chuyện.”

    Anh lắc đầu. “Sửa chữa mọi chuyện, ý em là gì?”

    Cô nhún vai. “Đáng ra anh ấy có thể bảo ngài hãy lấy cô ta, hoặc anh ấy sẽ làm thế. Đó chẳng phải là hành động đàng hoàng hay sao?”

    Anh cụp mắt xuống. “Tôi tự hỏi mình có làm điều đó được không,” anh nhẹ nhàng nói. “Ngay hồi đó, tôi nghĩ tôi đã biết sự khác nhau giữa nỗi ám ảnh nguy hiểm và tình yêu thực sự. Nếu tôi không biết, chắc chắn tôi – chà…tôi chỉ biết thế thôi.”

    Camille cúi đầu để nhìn mặt anh rõ hơn. “Vậy là ngài vẫn đau buồn vì…sự việc xảy ra sau đấy,” cô nhận xét. “Chuyện đó hết sức sai lầm. Song Luke vẫn cưới cô ta dù biết cô ta dành tình cảm cho ngài.”

    Rothewell cười khan. “Phải, câu chuyện tôi ngủ với vợ của anh trai hẳn sẽ ám ảnh bất cứ ai. Nhưng như thế với tôi chưa đủ. Để đưa bước đột phá bi thảm vào câu chuyện, cả hai người họ đều có một kết cục buồn. Một cái kết mà tôi phải chịu trách nhiệm.”

    Cô lặng thinh một lúc, chờ anh tiếp tục. Khi anh chẳng nói gì thêm, cô liền lắc đầu. “Không đâu,” cô lặng lẽ nói. “Ngài không giết ai hết.”

    Ánh mắt anh giao với mắt cô, nhưng nó trơ lì. Khắc nghiệt. “Không, họ đã bị thiêu chết trong một cuộc nổi dậy của nô lệ,” anh nói. “Mà tôi đã gây ra cuộc nổi dậy ấy. Tôi gây ra nó chắc chắn như thể chính tôi đã châm mồi lửa vậy.”

    Cô nhìn dõi vào gương mặt anh như muốn tìm ra sự thật. “Sao ngài lại nghĩ như vậy?” cuối cùng cô hỏi. “Đúng là nghe rất kinh khủng. Nhưng ngài không thể là nguyên nhân được.”

    Không thể chịu đựng nổi, anh lại đưa mắt đi nơi khác. “Buổi tối họ gặp tai nạn tôi đã đi dự một bữa tiệc. Hôm đó là ngày phục sinh, những điền chủ trong vùng họp mặt để bàn về tình trạng nô lệ náo động đang đồn thổi khắp nơi. Nhưng tôi đã uống say mèm để mà thích hợp tiếp chuyện bất cứ ai. Tôi đã ngộ ra rằng, tôi càng đáng ghê tởm và say sưa bao nhiêu, tôi càng ít nghĩ đến Annemarie bấy nhiêu.”

    “Ồ!” Camille nhìn anh bằng ánh mắt điềm tĩnh. “Ngài nói tiếp đi.”

    Rothewell lưỡng lự. Khi nói ra thành lời, sự thật đột nhiên dễ dàng nhìn nhận hơn. Phần khuất tối trong anh, cái tính khí nóng nảy và cộc cằn – nó đã vừa là thanh kiếm vừa là tấm khiên của anh. Nó đã xua đuổi mọi người đi. Nó gần như đã xua đuổi Camille, và có thể nó vẫn đang làm thế. Sự giận dữ của anh chính là một vũ khí chết người – theo đúng nghĩa đen.

    Anh hít sâu một hơi, rồi tiếp tục. “Khi Luke đến và trông thấy tôi nốc rượu như nước lã, anh ấy nổi điên. Anh ấy tuyên bố…là một trong hai chúng tôi phải ra đi, vì tôi đã say mềm nên người đi sẽ là anh ấy. Anh ấy ra lệnh cho Annemarie mặc áo choàng và đi theo mình. Nhưng đến giữa bữa tiệc, có người chạy vào báo tin những nô lệ ở St. Philip đã nổi loạn.”

    Camille bật ra một thanh âm đau đớn, đưa một tay lên bịt miệng.

    “Nhà cửa và những cánh đồng mía bị đốt cháy,” Rothewell thì thầm. “Luke lên đường về nhà, nhưng dọc đường đi, người ta đã đốt những ruộng mía của chúng tôi. Cả hai bên đường. Con đường dẫn về nhà cực kỳ nhỏ hẹp. Không có chỗ để quay đầu. Không có đường lùi lại. Họ bị mắc kẹt ở đó, trong tuyệt vọng.”

    “Trời ơi,” đôi mắt Camille tràn đầy nỗi xót xa.

    Rothewell nuốt khan. Kể từ sau cuộc điều tra, anh mới nói về bi kịch này duy nhất cho một người – Martinique, bằng vẻ thống thiết, một nỗ lực thiếu suy nghĩ nhằm biện bạch với con bé. Và giờ đây nói đến nó khiến anh có lại cảm giác y như năm nào. Tê liệt, lạnh buốt. Như thể hy vọng một lần nữa bị dập tắt.

    “Mọi người đến tìm tôi lúc gần nửa đêm,” cuối cùng anh gắng gượng tiếp tục. “Luke – anh ấy vẫn sống. Nhưng Annemarie…đã quá muộn. Và lũ ngựa…lạy Chúa lòng lành. Người ta đã phải bắn chúng. Nhưng Luke…làm sao chúng tôi có thể bắn anh ấy?” Giọng anh vỡ ra, và anh nhận ra trong nỗi bàng hoàng là nước mắt đã dâng đầy trong mắt anh. “Thoạt đầu, khi bị thiêu sống, người ta – người ta không cảm thấy được gì đâu. Nhưng chẳng mấy chốc anh ấy đã cầu xin chúng tôi. Cầu xin tôi. Anh ấy…đã không phải chịu đựng lâu, ơn Chúa.”

    Camille vuốt xuôi theo hai cánh tay anh, rồi đan những ngón tay vào tay anh. “Đó là một bi kịch khủng khiếp. Và trong tâm trí ngài biết mình không gây ra nó. Nhưng trong tim ngài, ngài vẫn đau đớn. Em hiểu điều đó.”

    Rothewell bật ra tiếng cười gằn và ngả đầu tựa vào đầu giường. “Thật mỉa mai đúng không?” anh nhẹ giọng. “Luke là chàng hiệp sĩ của tất cả mọi người. Bản tính của anh ấy là cứu giúp người khác. Còn tôi đền ơn bằng cách ngủ với vợ anh ấy và vùi mình trong rượu đến mụ mị. Annemarie, cô ấy cũng như mọi người – rất ngưỡng mộ Luke. Nhưng cô ấy lại bị thu hút về phía tôi. Như con thiêu thân trước ngọn lửa. Và đến cuối cùng, cô ấy đã bị nó thiêu cháy.”

    “Kieran,” Camille khẽ nhắc. “Chuyện không xảy ra như thế.”

    Anh chầm chậm lắc đầu. “Vậy thì tại sao nó mang cảm giác ấy? Tại sao tôi lại không ở trong cỗ xe đó? Tôi nên ở đó mới đúng. Có lẽ bọn họ muốn giết tôi kia? Chúa biết là tôi có khối kẻ thù. Có lẽ bọn họ còn không biết đó là Luke?”

    “Hoặc có lẽ đó chỉ là một đám đông giận dữ trở nên mất kiểm soát,” cô chạm nhẹ vào má anh. “Có lẽ trong chuyện đó chẳng mang ý đồ gì. Và ngài sẽ không sửa chữa nó bằng việc tự hủy hoại bản thân.”

    Đó là câu trả lời tốt nhất Camille có. Cô nhích lại gần, gập chân lại bên dưới váy, và dựa hẳn vào anh. “Kieran,” cô ngả đầu lên vai anh. “Ngài mang nỗi đau của mình quá lâu rồi. Và em không thể ngăn ngài được. Nhưng chắc em có thể dốc hết tâm lực để khiến ngài vươn tầm mắt qua nó? Có thể có một tương lai cho ngài – cho chúng ta. Em buộc phải tin như vậy.”

    Anh đặt tay giữa hai bờ vai mảnh dẻ của Camille và bắt đầu xoa nhẹ theo những đường tròn nhỏ. Có vẻ cô không ghê tởm, hoặc quá sốc trước những gì anh kể. Và cô nói đúng – đó là một đám đông điên loạn. Tuy nhiên, lẽ ra người bị kẹt trong cỗ xe cháy ấy là anh mới phải. Đáng lẽ nên như thế. Và hơn mười năm qua anh vẫn cố gắng sửa chữa lỗi lầm ngày nào.

    Nhưng giờ còn những chuyện khác cần nghĩ đến? Hoặc giả đã quá muộn. Nhưng anh chưa bao giờ là kẻ hèn nhát, và lúc này càng không có ý định đó. Chuyến đi về Surrey trong cơn mưa lớn làm cảm giác đau đớn bị nhân đôi chưa là gì nếu so với điều Camille đang yêu cầu. Cô không chỉ muốn anh cố gắng chống chọi, cô còn muốn anh phải hy vọng nữa. Vào tương lai. Vào hai người. Vào bản thân anh.

    Rothewell nghiêng đầu hôn lên thái dương vợ mình. “Sáng mai em hãy gọi bác sĩ, nếu đó là điều em muốn. Và nếu Redding nói không làm gì được nữa, tôi…tôi sẽ tự lo liệu.”
     
  11. song vang

    song vang Lớp 7

    Mình mới dịch được 3 chương đây thôi, vẫn chưa kết thúc được :(

    CHƯƠNG MƯỜI BỐN


    Đầu giờ sáng hôm sau, Camille cử Trammel dùng chiếc xe độc mã của Rothewell đến phòng khám trên phố Harley mời bác sĩ Redding. Kieran đang đi đi lại lại trên sàn trong chiếc áo choàng ngủ, đêm qua cơn đau lại xuất hiện. Nhưng khi Trammel xuất hiện ở ngưỡng cửa độ một tiếng đồng hồ sau đó, ông chỉ có một mình.

    Camille đặt báo cháo yến mạch cô đang dỗ chồng ít nhiều gì cũng phải ăn xuống và bước ra hành lang nói chuyện với ông quản gia.

    “Bác sĩ không có nhà, thưa cô,” ông nói vẻ ngập ngừng. “Ông ấy đến khám cho một bệnh nhân ở Marylebone cả đêm.”

    Tim Camille chùng xuống. “Chết tiệt!” cô lẩm bẩm. “Tôi nghĩ chúng ta phải tìm một người khác nhân lúc đức ngài còn đang dễ bảo.”

    “Tôi có mang về một người đấy, thưa cô,” Trammel nói, có vẻ không tin tưởng mấy. “Ông ta ở dưới phố. Ông ta xưng là bác sĩ Hislop – một người trong quân đội, chính thức tham gia đội ngũ bác sĩ quân y tại Ấn Độ. Có hơi nghiệp dư một chút, nhưng tôi thấy…có ông ta còn hơn là chẳng có ai?”

    “Nhất định rồi, Trammel,” Camille thở phào nói. “Đưa ông ấy lên ngay đi.”

    Bác sĩ Hislop hì hục leo lên cầu thang, thở hổn hà hổn hển, nhưng cuối cùng ông ta cũng tới nơi, tay xách một chiếc túi to đùng bẩn lem luốc. Camille lập tức hiểu được sự e ngại của Trammel. Ông bác sĩ này là một người đàn ông to béo, dáng đã còng xuống vì năm tháng và nom như đã ngủ trong chiếc áo khoác của mình. Mái tóc trắng của ông ta rối bù, nhúm tóc giữa đỉnh đầu dựng lên bằng kích thước bàn tay Camille, quần của ông ta có vẻ đã bị chuột gặm nhấm không ít.

    Kết thúc màn chào hỏi, ông bác sĩ nghoẹo đầu nhìn Camille bằng cặp mắt hiêng hiếng. “Vậy bệnh nhân của chúng ta đâu?” ông ta hồ hởi hỏi. “Tốt nhất ta hãy đến chỗ họ trước dịch vụ tang lễ, câu cửa miệng của tôi đấy.”

    Ngỡ ngàng, Camille dẫn ông ta vào với đôi chút miễn cưỡng. Chin-Chin từ trên giường nhảy xuống và lạch bạch chạy đến chỗ viên bác sĩ đánh hơi kĩ càng. Phớt lờ con chó, bác sĩ Hislop đặt túi xuống, bắt tay Rothewell, rồi bảo anh cởi bỏ áo choàng và ngồi ra mép giường.

    “Gặp vấn đề trong ruột hả?” ông hỏi, mở những chiếc khóa trên túi ra, một cái trong số đó đã hỏng. “Không gì khó chịu hơn. Nó đau nhói phải không?”

    “Phải, nhiều lần,” Kieran đáp, nhăn mặt.

    Ậm ừ trong miệng, Hislop bắt đầu lôi trong túi ra một lô dụng cụ y tế nom khá chuyên nghiệp và sạch sẽ. Hơn một lần ông liếc sang Camille như chờ cô cáo lui. Nhưng cô lại khoanh tay trước ngực và đứng nguyên tại chỗ, Chin – Chin ở dưới chân cô. Con chó đang kêu gừ gừ cảnh giác.

    Kieran quan sát họ một cách khoan dung. “Tôi cho rằng vợ tôi và con chó có ý định ở lại, ông Hislop ạ. Ông quản gia chắc hẳn cũng vậy.”

    Viên bác sĩ tiếp tục rút trong túi ra một chiếc ống dài bằng gỗ, thấy thế Chin-Chin nhảy phốc lên giường cạnh Kieran và hướng về viên bác sĩ gừ lên một tiếng khẳng định chủ quyền, hàm răng trắng nhọn hoắt nhe ra. Rõ ràng nó tự coi mình là vệ sĩ của Kieran.

    Bác sĩ nhìn nó cười tủm tỉm. “Một con chó nhỏ mà thật oách, đối với một công việc khó khăn như uy hiếp tôi,” ông nhận xét. “Nó có tên chứ?”

    “Jim,” Kieran nói.

    “Chin-Chin,” Camille cùng lúc lên tiếng.

    Viên bác sĩ nhìn hai người một lượt rồi mỉm cười. “À, một cặp đôi mới cưới!”

    Đôi mày đen của Rothewell nhướng lên. “Ông nói thế là sao?”

    “Nếu ngài đã lấy vợ được một thời gian,” bác sĩ soạn ra một bộ lưỡi trích, “ngài sẽ biết tên nó là Chin-Chin. Ngài sẽ sớm hiểu ra là vợ mình luôn luôn đúng. Nào, giờ ngài hãy cởi áo ngủ và nằm xuống.”

    Đã chứng tỏ được thái độ, Chin-Chin liền rút về giữa giường, canh chừng ông bác sĩ bằng cặp mắt nghi ngờ. Camille cùng chung cảm giác ấy, nhưng cô hết cách rồi.

    Rothewell thì đã sẵn hối tiếc về lời hứa với Camille, và anh hoàn toàn không yên tâm về bác sĩ Hislop. Nhưng lỡ hứa rồi đành chịu, nên sau khi ném cho tay bác sĩ một ánh mắt xem thường cuối cùng, anh cởi áo, tháo dải rút quần, rồi nằm xuống.

    Hislop dành nửa tiếng đồng hồ kiểm tra mọi chỗ kín đáo và nhạy cảm trên người anh – những chỗ mà cánh đàn ông thường không đem ra thảo luận – đồng thời vừa dò vừa chọc từ cổ anh cho tới mọi vị trí khác. Thật nhục nhã đến chín người, nhất là trước mặt Camille nữa chứ. Và bên dưới những dẻ xương sườn, nó đau như quỷ.

    “Á, mẹ kiếp ông!” Cuối cùng, Rothewell ráng sức ngồi dậy và đẩy ông bác sĩ ra. Chin-Chin nhảy dựng lên, bắt đầu gầm gừ, đôi tai đen mượt rung rung.

    “Chin-Chin, suỵt!” Camille mắng, nhấc nó khỏi giường.

    Một bàn tay lành lạnh đỡ lưng Rothewell nằm xuống giường, và bác sĩ tiếp tục chất vấn. “Tôi làm thế này ngài có đau không? Không à? Thế còn thế này?”

    Một cảm giác đau chói xuyên từ bụng tới xương sống Rothewell. Lần này anh ngồi bật dậy. “Buổi khám bệnh kết thúc ở đây,” anh nói cộc lốc.

    Bác sĩ Hislop cười cười quay ra và hướng về Camille và con chó. “Nào? Ai trong hai người muốn cắn lão già này nào?”

    Camille bước lên một bước. “Tôi,” cô trừng mắt.

    Chửi thề không thành tiếng, Rothewell nằm vật xuống giường.

    Hislop cầm cái ống gỗ lên, đặt một đầu vào ngực Rothewell, đầu kia áp vào tai mình. “À, tim rất khỏe mạnh!” ông tuyên bố, lắng tai nghe. Đoạn ông đứng lên và bỏ ống nghe ra. “Ngài mặc quần áo lại được rồi.”

    Ngay tức khắc Rothewell ngồi dậy và tròng cái áo qua đầu.

    Camille đặt con chó xuống và bước tới. Lần đầu tiên cô có bộ dạng ngập ngừng. “Ông nghĩ nó là gì, bác sĩ Hislop? Có phải là ung thư như chẩn đoán của bác sĩ Redding không? Có nguy hiểm đến tính mạng không?”

    “Ồ, ung thư lúc nào chẳng nguy hiểm,” ông ta nói một cách gần như phấn khởi. “Vì làm gì có thuốc chữa! Nhưng có phải ung thư không thì khó nói lắm. Chắc chắn triệu chứng thì có.”

    Hai vai Camille sụm xuống. Rothewell cưỡng lại thôi thúc bước tới nói với cô là mọi chuyện sẽ ổn. Có thể không ổn chút nào, và anh biết vậy. Hislop cũng biết vậy, vì bất chấp vẻ hờ hững ngoài mặt, Rothewell vẫn cảm nhận được sự căng thẳng của ông ta. Anh ra ý bảo tất cả ngồi xuống trước lò sưởi. Bác sĩ Hislop gieo mình xuống ghế với tiếng thở phào, cả hai đầu gối ông kêu răng rắc một cách đáng ngại.

    “Như ông đã biết, chồng tôi đang bị xuất huyết,” Camille mở lời khi tất cả đã an tọa. “Tất nhiên tôi hiểu tình hình rất nghiêm trọng. Nhưng xin ông hãy cho chúng tôi biết những khả năng có thể có.”

    “Ôi dào! Có hàng trăm khả năng ấy. Có thể là quản gia của bà đang thả kính vỡ vào cốc cà phê sáng của mình, hoặc giả ông ta đã nuốt phải chiếc dĩa xiên cá và quên nói với tôi, hoặc giả -“

    “Vậy được rồi,” Rothewell cắt ngang. Anh cố ép ra một nụ cười khắc nghiệt. “Chúng ta kết thúc ở đây thôi. Cảm ơn sự thành thật của ông, bác sĩ.”

    Nhưng viên bác sĩ vẫn lặng thinh trong ghế. “Hoặc rất có thể,” cuối cùng ông nói, “ngài là người sắp tự tay giết chính mình bằng rượu.”

    “Bằng rượu?” Rothewell nhướng mày, xoa xoa cái quai hàm chưa cạo. “Tôi hơi nghi ngờ điều đó. Tôi vẫn cố tự sát bằng rượu mấy năm nay mà chẳng thấy kết quả.”

    Bác sĩ Hislop chỉ nhún vai. “Những người nào uống vô độ thường chẳng bận tâm đến sức khỏe của mình cho đến khi đã quá muộn. Đó là một thói quen xấu. Lần cuối ngài không động đến một giọt rượu cả ngày cách đây bao lâu?”

    Rothewell ngẫm nghĩ. “Vài tuần rồi,” anh thành thực đáp. “Lúc đó tôi cần tỉnh táo đầu óc trong một hai ngày.”

    Thực ra là hai tuần trước đám cưới của Xanthia, anh đã ngừng uống. Anh muốn đánh giá chồng tương lai của con bé cho thật cẩn thận, và muốn làm thế anh phải tỉnh như sáo. Và anh ngừng uống một lần nữa trước bữa tiệc định mệnh của Xanthia hai ngày, vì anh muốn mình phảt thật sáng suốt.

    Ông bác sĩ đặt hai tay lên cái bụng trống chầu và gõ gõ những ngón tay. “Và khi làm thế, ngài có bị tác dụng phụ nào không? Run rẩy? Ảo giác?”

    Rothewell nhìn chằm chằm ông ta. “Giỏi cho ông! Những lần lên cơn kì dị ấy hả?”

    “Chứng ảo giác,” bác sĩ sửa lại. “Ngài có trông thấy những hình ảnh đáng sợ không?”

    “Chắc chắn là không.” Rothewell thấy bị si nhục. Theo cách nghĩ của anh, ảo giác chi dành cho những kẻ nghiện ngập và yếu đuối – về căn bản đàn ông uống rượu không phải vì lẽ đó.

    Ông bác sĩ gật gù vui vẻ. “Vậy trước đấy là bao lâu?”

    Rothewell cố nở nụ cười chế giễu. “Lắm lúc dạng như tôi buộc phải đầu hàng một thói xấu để chạy theo một thói xấu khác đỡ bại hoại hơn – là trước đám cưới của tôi,” anh bổ sung thêm. “Nếu tôi có cai rượu một hai ngày vì tìm được một thứ đủ sức hút và đủ bắt mắt để bản thân sao lãng thì cũng chẳng có gì bất thường.”

    “Ha ha!” Ông bác sĩ vỗ đùi, đoạn nháy mắt với Camille. “Ngoài những khao khát trần tục thì còn cái gì có thể can ngăn được ngài không?”

    “Không nhiều lắm. Tôi nhớ vào chuyến vượt biển từ Barbados năm ngoái, rất nhiều người chúng tôi bị ốm. Gần nửa tháng trời tôi không muốn động đến một giọt rượu, thậm chí cả ăn uống và hít thở. Đầu bếp trên tàu đã chết vì căn bệnh đó, bất kể nó là bệnh gì.”

    “Trên một con tàu? Chỉ có Chúa mới biết!” Bác sĩ gãi đầu. “Dù sao thì ngài cũng sẽ không nghiện rượu nữa.”

    “Brandy là một gia nhân đắc lực, nhưng không bao giờ được để nó lên làm ông chủ, bác sĩ ạ.” Rothewell nói.

    “Một triết lý đáng chú ý,” Hislop khô khan đáp lại. “Tuy nhiên ngài lại uống quá nhiều – mà lại là rượu mạnh. Và chuyện đó phải tạm ngừng, ít nhất là một thời gian.”

    “Làm thế thì tôi sẽ khỏi ư?” Rothewell hỏi đầy hy vọng. Đột nhiên brandy trở thành một sự hi sinh vặt vãnh.

    “Khó mà nói thế được. Nhưng dù gì thì gì, một người đàn ông ở tuổi ngài không thể cứ uống như định tự sát thế được – nhất là người đó lại có một cô dâu trẻ trung xinh đẹp nhường này, có lẽ uống một chút thì không sao? Song những chẩn đoán này tôi chỉ có thể đưa ra sau một cuộc khám xét qua loa.”

    “Ý ông là cuộc khám xét xấu số,” Rothewell thở dài. “Vậy thì phán đoán ấy chẳng sáng sủa gì.”

    Viên bác sĩ nhún vai. “Chắc chắn ngài bị viêm dạ dày không hề nhẹ. Ngoài ra, còn có thể bị loét tá tràng. Đó là đoạn nối giữa dạ dày và ruột ngài.”

    Rothewell cau mày. “Như thế có nguy hiểm không?”

    “Ồ có chứ! Thường là vậy mà.” Xem ra Hislop đã xác định Rothewell là đối tượng có thể nói chẻ hoe mọi vấn đề. “Đặc biệt là nếu nó ăn thủng ruột ngài, vì ngài chưa bị hoại tử, sốt cao, hoặc chết, nên tôi cho rằng nó không rơi vào trường hợp đó. Song có khả năng nó là thứ đã bắt đầu khoét vào ruột ngài.”

    Con quái vật. Anh đã luôn cảm nhận được nó. Rothewell cân nhắc lợi thế của mình.

    “Cái gì gây ra – chỗ loét này, thưa ông?” Camille hỏi.

    “Rượu, sự lo lắng, và thuốc là những nghi phạm chủ yếu, thưa bà – và nó là vấn đề không dễ gì giải quyết.”

    “Vậy không còn hy vọng nó là chứng khó tiêu thông thường ư?” Camille hỏi dồn.

    Ông bác sĩ mỉm cười dứt khoát. “Không không, một chút cũng không.”

    “Được rồi.” Rothewell gật đầu cụt lủn. “Nếu không phải ung nhọt, thì là gì?”

    Hislop gục gặc đầu từ bên này sang bên kia một cách nước đôi. “Ờ, như bác sĩ Redding đã chẩn đoán đấy, một khối u ở gan – hoặc có lẽ là khối u ở dạ dày đã di căn sang gan – cả hai đều có khả năng.”

    “Một khối u,” Rothewell lặp lại.

    Lại nữa rồi. Sự hung ác trắng trợn. Một lần nữa anh cảm thấy cơn ớn lạnh kì lạ, gần như tê liệt phủ lên mình, bao bọc trái tim, đè nặng lên tứ chi, và để lại một tiếng gầm ì ầm trong tai anh. Chúa lòng lành. Anh đang ở thời kì đẹp nhất – hoặc nhất định nó phải là thời kì đẹp nhất – của cuộc đời. Và lần đầu tiên, anh biết yêu là gì. Giờ anh mới nhận ra mình đã có tất cả trong cuộc sống. Một người vợ và một mái nhà. Một cô em gái và một gia đình. Kể cả một con chó như cái nùi bông lố bịch mà quái thay anh dần trở nên gắn bó. Rothewell muốn được sống. Để yêu vợ mình. Để chăm sóc đứa trẻ mà anh hy vọng cô đang mang. Chỉ là những điều hết sức bình thường.

    Một thời gian dài, anh thực lòng muốn chết, nhưng mãi đến hôm nay anh mới chính thức thừa nhận. Có lẽ vì thế mà anh ngồi đây với sự chắc chắn lạnh lùng đè nặng lên ngực, mà không hoảng loạn hay phủ nhận. Anh dám chắc hai cái đó rồi sẽ đến, nếu chuyện tồi tệ nhất xảy ra. Con người ta ai chẳng sợ chết. Chúa biết là anh cũng vậy.

    Nhưng lần này thì không! Một thằng đàn ông sống như thế nào thì phải chết như thế ấy. Anh đã đối mặt với cơn ác mộng đáng sợ nhất ở cánh đồng mía vào cái đêm tháng Tư định mệnh đó. Thế giới bên kia hẳn không thể tệ hơn được. Bằng cách nào đó, anh hắng được giọng. Khi cất tiếng, giọng anh hết sức bình thản. “Cảm ơn sự thẳng thắn của bác sĩ. Ông còn gì dặn dò không?”

    Bác sĩ Hislop giơ hai tay lên. “Trời đất ơi! Tôi nghĩ ngài có một vết loét đã chảy máu. Tôi xin cá bằng chiếc xe hai ngựa của mình, bởi tôi đã có kinh nghiệm với bệnh này bốn mươi năm có lẻ. Ngài uống rượu hút thuốc vô độ. Ngài bị mất ngủ - và có trời biết ngài đã ăn những gì – hoặc cái gì đang ăn ngài. Ngài cần thứ gì đó để ngăn chặn tình trạng ấy, tôi chỉ có thể nói với ngài như vậy.”

    Camille thở dài thành tiếng.

    “Ông nghĩ chỉ thế thôi sao?” Rothewell khấp khởi hỏi.

    Đôi mày hoa râm của Hislop nhíu hết cả lại. “Không phải là tin tốt đâu!” ông lớn giọng. “Có thể nó không phải ung thư, nhưng nó sẽ giết ngài dễ như bỡn, và nhanh như chớp nữa. Chúng ta phải chữa cái dạ dày ấy, và việc đó không dễ đâu.”

    “Nói chúng tôi biết phải làm thế nào đi.” Từ trong ghế Camille nhích người tới trước, hai bàn tay mảnh mai chống lên tay ghế. “Tôi sẽ thực hiện bằng được.”

    Hislop nhìn cô từ trên xuống dưới. “Thật không?” ông hỏi lại, rồi lục túi áo lấy ra một mảnh giấy nhăn nhúm và mẩu bút chì. Ông tì mảnh giấy lên đầu gối và bắt đầu thảo ra một danh sách. Rothell cố thả lỏng người trong ghế, cẩn thận quan sát vẻ mặt Hislop. Anh tin ông bác sĩ đang nói thật. Hơn thế nữa, ông già này hình như có một năng lực nhạy bén.

    Hislop cầm tờ danh sách lên, đằng hắng. “E hèm, đây là những thứ ngài có thể ăn, và hãy nhớ kỹ lời tôi nói, vì ngài không được thay đổi một ly! Rau củ luộc – khoai tây, củ cải, và những loại tương tự. Cháo đặc, nước thịt bò luộc –“

    “Nước luộc bò?” Rothewell lặp lại. “Nước luộc bò? Thứ đó thì có tác dụng quái gì với tôi?”

    Hislop ném cho anh một cái nhìn cáu kỉnh. “Cho anh ta một trận đi,” ông hất hàm về phía Camille.

    Rothewell giơ tay đầu hàng. “Tôi sẽ làm quen với nó vậy,” anh nhượng bộ. “Tiếp đi.”

    “Gà hầm, trứng chần, đậu Hà Lan nghiền, đậu que – nhớ là nấu kỹ - và có khi thêm một lát bánh mì – không bơ.”

    “Chắc tôi chết mất!” Rothewell cảm khái.

    “Ồ, và nước soda thật loãng,” viên bác sĩ khoái chí bổ sung, nheo mắt viết vào tờ danh sách. “Nó sẽ trung hòa những chất bài tiết của dạ dày, và còn có khả năng giảm đau. Không dùng đồ uống dưới bất kỳ dạng nào khác – kể cả rượu vang pha nước. Đó là thực đơn ăn kiêng của ngài trong sáu tuần tới.”

    “Sáu tuần?”

    Hislop phe phẩy tờ giấy như trêu tức anh. “Đúng thế, và tuần đầu tiên phải nằm nghỉ ngơi hoàn toàn trên giường,” ông nói tiếp. “Nghỉ ngơi hoàn toàn. Tuần tiếp theo ngài phải tĩnh dưỡng tại nhà, không được hoạt động mạnh dưới mọi hình thức – tôi nghĩ ngài hiểu ý tôi rồi đấy. Khi đó, và chỉ khi đó, có lẽ ngài có thể vận động một chút. Và đến cuối chương trình, ngài sống hay chết mới xác định được.”

    “Hoặc chết đói,” Rothewell chán chường nói. “Hoặc chết rũ vì buồn chán.”

    Hislop khinh khỉnh ngó lơ anh. “Miễn là ngài vẫn sống và hít thở sau sáu tuần,” ông tiếp tục. “Và miễn là hiện tượng chảy máu và những cơn đau chấm dứt, chúng ta có thể yên tâm khẳng định nó không phải là ung thư.”

    Camille thốt ra một âm thanh nhẹ nhõm và nhắm nghiền mắt.

    “Mặt khác,” ông bác sĩ lại tiếp tục, “nếu ngài cứ tiếp tục như hiện giờ - uống rượu, hút xách, và động một tí là cau có như ngài đang cau có lúc này – và một trong những vết loét kia ăn thủng ruột ngài, có khi lúc ấy ngài lại ước mình bị ung thư đấy.”

    “Anh ấy sẽ làm như ông dặn,” Camille chộp lấy tờ danh sách. “Tôi sẽ đảm bảo chuyện đó.”

    Rothewell cười lạnh. “Vậy là hai người định bỏ đói tôi đến chết phải không?” anh chế giễu. “Thậm chí không cho tôi chút brandy an ủi? Đây đúng là một cách chầu trời khốn khổ, bác sĩ ạ.”

    Ông bác sĩ còn cả gan nghiêng người tới vỗ vào đầu gối Rothewell. “Cứ giữ phong độ này đi,” ông lặp lại, “rồi ngài sẽ cầu ước được gặp thần chết đấy. Xảy ra chuyện gì tôi cũng không giải quyết được đâu, nên làm ơn đừng tìm đến tôi. Thực sự tôi ghét phải chứng kiến những người trẻ tuổi vạm vỡ quằn quại trong đau đớn, nhất là khi chỉ cần kiêng khem một chút là tránh được.”

    Ông ta đã vẽ ra một bức tranh cực kì sinh động trong tâm trí Rothewell. “Phải,” anh chịu thua. “Có vẻ nó thật thê thảm.”

    “Đúng đó!” Hislop đứng dậy, khớp xương đầu gối kêu răng rắc để điều chỉnh vị trí. “Tôi đã trích máu ngài ấy bằng lưỡi trích, chỉ để ngài ấy chú ý, nhưng giờ ngài ấy không thể lãng phí nó được nữa.”

    “Vâng,” cô bắn cho Rothewell một ánh mắt cảnh cáo. “Lần này chúng tôi sẽ lo liệu kỹ càng cho anh ấy.”

    Hislop cầm túi lên. “Mỗi lần khám bệnh là mười bảng sáu xu,” ông nói. “Mạn phép đề nghị ngài hãy chuẩn bị tiền từ bây giờ.”

    “Mười bảng sáu xu?” Rothewell lặp lại, thất kinh. “Đến ăn cướp cũng không bằng.”

    “Vâng, nhưng tôi thấy một khoản thù lao cắt cổ sẽ làm tăng hẳn trọng lượng lời khuyên của tôi. Và tôi muốn những bệnh nhân ốm nặng phải thanh toán sòng phẳng. Xét cho cùng, chẳng ai biết trước điều gì.”

    Rothewell chớp mắt hoang mang. “Nhưng…nhưng tôi tưởng ông đã nói…nếu tôi ăn gà hầm…?”

    “Ha ha!” bác sĩ huých Camille. “Chỉ là làm rõ vấn đề thôi, thưa ngài! Sáu tuần – và không được gian lận đâu đấy.”

    Camille tiễn bác sĩ xuống dưới nhà và bảo Trammel đi lấy tiền. Ra đến cửa, cô dừng lại nói lời cảm ơn ông bác sĩ.

    Ông bác sĩ phồng má. “Xin đừng cám ơn tôi vội,” ông khuyên. “Chuyện này sẽ không suôn sẻ đâu. Tôi biết kiểu người như nam tước mà.”

    “Có lẽ vậy,” cô thừa nhận. “Nhưng ông cũng không biết rõ kiểu người như tôi.”

    Bác sĩ Hislop mỉm cười trong lúc một gia nhân mở cửa. Khi họ vừa chào tạm biệt, một chiếc xe ngựa bốn bánh sang trọng dừng lại nơi vỉa hè, và Mr. Kimble thanh tao bước xuống, ôm trước ngực một cái bọc bằng vải bạt.

    Camille ngỡ ngàng. “Chào ngài Kemble,” cô cố gắng lên tiếng. “Chúng tôi không ngờ là ngài đến.”

    Kemble gật đầu với vị bác sĩ đã ngả mũ chào trên đường đi ra. “Vâng, là tôi cố ý đến đây,” anh chàng vui vẻ đáp. Đoạn, ghé lại gần cô. “Quelle horreur! Nghĩa là gì?”

    “Tôi e rằng đó là một câu chuyện dài,” cô gượng gạo nói.

    Kemble lập tức chuyển hướng. “Tôi vào nhà một phút được chứ? Có cái này tôi muốn cho cô xem.”

    “Một lúc thôi nhé. Vì tôi sợ là chồng tôi đang ốm.”

    Kemble tức khắc nghiêm mặt. “Vậy thì tôi càng phải vào!” anh ta đáp, đi lướt qua cô, đặt cái bọc xuống sàn.

    “Ngài mang theo cái gì thế?” Camille bối rối hỏi.

    Kemble cúi xuống nhấc cái bọc lên gây ra tiếng sột soạt! Một khối lộng lẫy gồm những bát thủy tinh lấp lánh và những cành nhánh bằng bạc dựng trên thảm, cao tới hông Camille. Cô hít vội một hơi.

    “Đồ trang trí đây!” anh ta tuyên bố. “Cô thấy đẹp không? Jean-Claude đã sơ suất loại nó ra, và Lady Sallwart suýt nữa đã có được nó, nên khi không thấy cô đến, tôi nghĩ tốt nhất là đem nó qua đây – nhưng đừng áy náy làm gì! Rothewell đâu rồi? Giờ cậu ta lại làm gì bản thân nữa không biết?”

    “Giờ?” Camille hỏi vặn.

    Kemble cười cười. “À, cậu ta cứ muốn chết ấy mà, tôi tin rằng cô có thể làm cho cậu ta tỉnh ngộ?”

    “Chắc chắn rồi,” cô nói dứt khoát. “Ngài có thể yên tâm về điều đó.”

    Kemble bước lên cầu thang như thể biết rõ đường đi lối lại trong nhà. “Thẳng thắn mà nói, quãng đời cậu ta đã trải qua khiến người khác lạnh gáy,” anh ta khoa tay một cách rất kịch. “Tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết kẻo làm cô hoảng hồn – nhưng đừng nói là tôi đã không cảnh báo cậu ta.”

    “Thật thế à? Ngài đã cảnh báo anh ấy?”

    “Dĩ nhiên! Chưa tới sáu tháng trước, tại chính ngôi nhà này. Chúng tôi đã cãi nhau kịch liệt một trận, Rothewell đúng là người cứng đầu cứng cổ nhất.”

    “Vậy sao? Tôi không nhận ra đấy.” Camille khô khan nói.

    Tới đầu cầu thang Kemble xoay người nhưng đã đi quá cửa phòng Rothewell chút xíu.

    “Là lối này,” Camille chạm nhẹ vào vai anh ta. “Chúng tôi đã đổi phòng.

    Kemble quay lại và đi theo cô.

    “Em đưa một vị khách đến cho ngài đây,” cô lên tiếng.

    Kieran nhấc đầu khỏi gối. “Trời, ra là cậu.”

    “Chính là tôi đây!” Kemble hoan hỉ nói. “Cậu ráng kìm nén lòng hiếu khách đi nhé.”

    “Ngài ngồi đi, Monsieur Kemble,” Camille nói, đi sang bên kia giường và bắt đầu giũ nhẹ những chiếc gối cho Rothewell. “Tôi háo hức muốn nghe câu chuyện của ngài lắm rồi.”

    Rothewell lườm cô. “Câu chuyện nào?”

    “Chuyện Mr. Kemble đã cảnh báo ngài về tình hình sức khỏe của ngài,” cô nói tỉnh khô. “Là sáu tháng trước phải không?”

    “Lâu hơn chút,” Kemble đáp, hạ mình xuống chiếc ghế anh ta đã kéo lại gần giường. “Chính xác là ngày Quốc tế Lao động. Tôi vẫn nhớ rõ.”

    “Thế à?” Rothewell lầm lì. “Tôi lại không nhớ tí nào.”

    Kemble quay sang Camille. “Tôi cảnh báo cậu ta rằng câu lạc bộ Satyr là một chốn bẩn thỉu, độc hại, cậu ta đừng có qua lại thường xuyên –“

    Camille thả chiếc gối xuống. “Câu lạc bộ Satyr?” Cô xen vào. “Cái tên thật kinh tởm.”

    “Đích thị, một nơi đầy rẫy tệ nạn – tôi sẽ không nói cụ thể đâu – và thuốc phiện,” Kemble tỏ ra am hiểu. “Hơn nữa, cái thằng quỷ này gần như ăn dầm nằm dề trong cái hố địa ngục ấy.” Đoạn Kemble hạ giọng cho thêm phần u ám. “Tôi còn cảnh cáo là cậu ta rất có nguy cơ tàn phai nhan sắc vì ăn chơi sa đọa nữa,” anh ta nghiêm trang. “Bi kịch đó còn khủng khiếp hơn, cô thấy có phải không?”

    “Ôi trời!” Rothewell lặp lại. “Vớ vẩn! Cậu chẳng hề nói thế.”

    Kemble cười mỉm. “Có đấy, Rothewell thân mến của tôi ạ, và cậu biết rõ điều đó,” anh ta ném cho anh một ánh mắt trách cứ. “Tôi đã nói khá rõ ràng với cậu rằng cậu có tất cả sức quyến rũ và sắc đẹp của một kẻ chết bất đắc kỳ tử. Màu da cậu nhợt nhạt, mắt đỏ ngầu, và có vẻ một tay thợ đá đã đùng búa với đục khắc những đường kia vào mặt cậu trong lúc hắn say rượu. Tôi đã nói chính xác như thế.”

    “Buồn cười nhỉ,” Camille nói. “Giờ xem ra chồng tôi đã hình thành thói quen phớt lờ những lời khuyên hữu ích.”

    Rothewell nhìn chằm chằm trần nhà. “Tôi không nhớ gì cả.”

    “Có lẽ là do lúc ấy cậu đang ngà ngà say và tâm trạng rất xấu,” Kemble nói bô bô. “Nhưng đừng lo. Phần còn lại tôi cũng nhớ hết.”

    “À, có phải ngay trước lúc tôi quăng cậu ngã giập mông không?” Rothewell gợi ý.

    “Khoảng chừng đó.” Kemble đặt ngón tay trỏ lên má. “Để tôi xem nào! Tôi đã cảnh báo là da cậu đang mất độ đàn hồi, và nếu không có chút rám nắng vùng biển nhiệt đợi, thì cậu đã bợt bạt ra rồi. Và sau đấy tôi tự hỏi – thấy tôi tiên tri chuẩn không – cậu sẽ trở thành thứ gì trong sáu tháng tới.”

    Rothewell nhìn anh chàng giễu cợt. “Và tôi nói sao?”

    Kemble bắt tréo chân, đặt hai tay lên đầu gối. “Cậu nói cậu mặc xác mình ra sao! Nguyên văn thế này: khi mã ngoài mất đi, thì người ta còn mục đích gì để sống nữa? Một bộ cánh đẹp và cái áo nịt ngực chặt cứng chỉ có tác dụng trong chừng mực nào đó.”

    “Chúa lòng lành!” Rothewell đảo mắt lên trời. “Tôi không thực sự có ý đó.”

    Camille đi vòng qua giường và nhẹ nhàng ngồi xuống dưới chân Rothewell. “Tôi sợ rằng vấn đề còn nghiêm trọng hơn việc ngoại hình của anh ấy xuống cấp,” cô nói, đặt một tay lên mắt cá chân Rothewell vỗ về. “Cái đó có thể chịu đựng được. Nhưng bác sĩ Hislop lo rằng chồng tôi có thể có những vết loét – có phải là từ đó không?”

    Xuôi xị, Rothewell gật đầu.

    “Vâng, những vết loét trong dạ dày,” cô tiếp tục. “Ông ấy bảo nó rất nguy hiểm, và chồng tôi phải nghỉ ngơi dài ngày.”

    “Và ăn uống cực kỳ kiêng khem,” Kemble gật gù. “Đó là điều quan trọng nhất. Và cậu không muốn ăn bất cứ thứ gì người ta dọn cho cậu ở câu lạc bộ Satyr đâu, ông bạn ạ, nếu cậu hiểu ý tôi.”

    Vừa lúc ấy, một gia nhân bê một khay lớn đậy kín bước vào. “Xin phép ngài một chút,” anh ta dừng phắt lại. “Miss Obelienne bảo vì ngài không xuống dưới nhà, nên tôi phải mang bữa sáng muộn lên đây.”

    “Chết thật!” Camille như nói với chính mình. “Mình phải bàn với bà ấy về thực đơn ăn kiêng mới.” Rồi cô quay sang gã gia nhân, “Đức ngài không thể ăn cái đó được, Randolph. Anh phải mang nó trở xuống thôi.”

    Gã gia nhân nuốt khan. “Bắt buộc phải thế sao, ma’am? Miss Obelienne sẽ không thích đâu.”

    Kieran chỉ chỗ trống bên cạnh giường. “Cứ đặt ở đây đi, Randolph,” anh nói. “Điều gì Obelienne không biết ắt sẽ không làm bà ấy buồn lòng.”

    Tên gia nhân làm theo lời anh, liếc nhìn Camille vẻ cáo lỗi, rồi vội vàng rời khỏi phòng.

    Chin-Chin lập tức nhảy lên đệm, đuôi vẫy rối rít. Rõ ràng con chó đang đầy kỳ vọng – chắc chắn nó sẽ sớm được thỏa nguyện thôi.

    Mr. Kemble hỏi thêm câu nữa về đánh giá của bác sĩ Hislop. Camille lặp lại phần lớn những điều ông bác sĩ đã nói, và những chi tiết tỉ mỉ của thực đơn ăn kiêng mới, trong lúc đó vẫn quan sát qua khóe mắt khi Kieran mở nắp đậy chiếc khay và bắt đầu lấy thức ăn trong đó bón cho Chin-Chin.

    “Vậy ra chính đồ ăn thức uống đã làm hỏng dạ dày cậu ta?” Kemble trầm ngâm khi cô kể xong.

    “Vâng, nhưng tôi nghĩ không chỉ có thế.” Camille đáp.

    Vừa lúc ấy, Kieran quệt một ngón tay đầy bơ, rồi đưa cho Chin-Chin liếm. Cuối cùng cũng hết chịu nổi, Camille xoay người về phía giường. “Ngài làm thế được bao lâu rồi?”

    Kieran e dè ngước mắt lên. “Làm gì cơ?”

    Camille chỉ con chó. “Trời ạ, nó sắp nổ tung vì béo rồi đó, Kieran. Và đồ ăn kia không phải dành cho chó.”

    “Nhưng Jim thích nó,” chồng cô biện bạch. “Với lại chỉ là cá trích muối và bánh bột sắn thôi mà.”

    “Jim-?” Kemble nói, đứng lên vươn người qua giường. “Jim không phải tên dành cho chó, Rothewell à. Và bọn họ đã làm cái quỷ gì với mấy con cá trích kia thế? Mùi của nó làm tróc cả lông mũi tôi rồi.”

    “Món này ư?” Kiearan dùng nĩa gẩy con cá trích. “Mấy loại gia vị của Tây Ấn ấy mà. Bà Obelienne là một bậc thầy về gia vị.”

    Mặt Kemble méo xệch. “Ăn sáng bằng cá trích muối? Đó là một tội ác chống lại tự nhiên.”

    Kieran nhún vai. “Tôi thích chúng, và chúng chữa chứng váng đầu khá là hiệu nghiệm.”

    “Có thể là thế,” Camille nghiêm nghị nói, “nhưng ngài không nên ăn chúng nữa.” Cô đi sang toan đậy lại nắp chiếc khay.

    “Đợi đã!” Kemble nói, chọc chọc ngón tay vào món bánh sắn. “Con chó sẽ không động đến món này phải không?”

    Kieran lắc đầu. “Tôi có nói thế đâu nhỉ?”

    Mr. Kemble nhìn Camille. “Chó là một loài vật thông minh,” anh ta nhìn thẳng vào mắt cô. “Và sắn rất độc, nếu người ta không biết cách dùng. Chỉ cần chế biến sai, tôi dám chắc nó có thể ăn mòn thành ruột.”

    “Không đâu.” Camille lắc đầu. “Bà Obelienne cẩn thận với nó lắm. Bà ấy thậm chí không cho tôi chạm đến nó nữa kia.”

    Mím môi, vẻ mặt đầy hoài nghi, Kemble lại ngồi xuống. “Cậu thuê bà ta được bao lâu rồi?” anh ta hỏi Rothewell. “Bà ta có lí do gì để mong cậu bị ốm không – tức là ngoài cái tính khó ưa của cậu ra ấy?’

    “Nói bậy. Bà ấy là một người tử tế.”

    Mr. Kemble nhìn người qua lăng kính khá u ám, Camille nghĩ. Cô xùy con chó đi, đậy khay lại, và đem ra để trên chiếc bàn gần cửa ra vào.

    “Cũng vậy cả,” Kemble nói, thình lình lại đứng lên, “tôi nên đi thăm Miss Obelienne một chuyến. Được không, Lady Rothewell?”

    Camille nhìn sang chồng. “Tất nhiên, tôi cũng phải xuống gặp bà ấy về thực đơn ăn kiêng của bác sĩ Hislop bây giờ. Bọn em đi nhé, Kieran!”

    Họ tìm thấy Miss Obelienne đang ngồi ở bàn mạng lại mớ khăn trải bàn. Sau khi được giới thiệu với Mr. Kemble, bà nhìn anh ta vẻ ngờ vực. “Vâng, Mr. Kemble thì tôi biết mà. Xin chào ngài!”

    Camille nhanh chóng giải thích những yêu cầu của bác sĩ Hislop. Một lần nữa bà đầu bếp tỏ ra khó chịu. “Nhưng ai sống nổi với cái thực đơn như thế chứ, madame!” bà phản đối. “Nó vừa nhạt nhẽo, lại chẳng có tinh thần.”

    “Vấn đề là ở chỗ đó, Miss Obelienne,” Camille kiên nhẫn giải thích. “Rothewell có rất ít - ờ, tinh thần trong cuộc sống của anh ấy – bà hãy nghĩ cho anh ấy. Với lại chỉ cần thực hiện trong sáu tuần thôi. Tôi e rằng bác sĩ Hislop rất cương quyết.”

    Obelienne nhét tờ danh sách vào túi với ánh mắt hầm hầm.

    Camille mỉm cười, cám ơn bà ta. “Giờ Monsieur Kemble đây muốn hỏi bà mấy câu về những củ sắn của bà, vì ngài ấy chưa nhìn thấy nó bao giờ,” cô nói, không chắc là mình đang nói sự thật. “Phiền bà giải thích cho ngài ấy như bà đã giải thích cho tôi nhé? Và cho ngài ấy xem tủ gia vị của bà nữa?”

    “Tất nhiên rồi, monsieur,” bà đứng lên một cách uy nghi.

    Mr. Kemble nghiêng đầu. “Cảm ơn bà Trammel!” anh ta điệu bộ chắp hai tay vào nhau. “Tôi là một nhà nghiên cứu nghiệp dư về thảo mộc, đôi khi lại thích nấu nướng.”

    Miss Obelienne ngoảnh đầu lại, vẻ mặt nghi ngờ. “Xin mời theo tôi, monsieur,” bà lấy trong túi ra một xâu chìa khóa.

    “Thật phấn khích khi được trông thấy cây sắn ở đảo,” anh ta nói. “Chắc chắn là một món đồ hiếm. Không biết bà có nó bằng cách nào?”

    “Cô Xanthia đem tới cho tôi, nó được vùi trong bột mì, hoặc đóng trong những thùng đất ẩm.” Bà mở khóa lớp cửa lớn bằng gỗ gụ và đẩy rộng chúng ra để lộ những tủ thuốc.

    Giống như lúc trước, bà mở ngăn kéo cuối cùng. Lần này chỉ còn hai còn hai củ, nom đã hơi héo. Miss Obelienne lấy một củ đưa cho anh ta. “Sắn là một nguyên liệu tốt,” bà nói chắc nịch. “Nhưng không bao giờ được ăn sống nó. Phải chế biến kỹ lưỡng.”

    Mr. Kemble xăm soi cái củ vẫn còn dính đất. “Chế biến như thế nào, hả bà Trammel?”

    Bà nhún vai. “Còn tùy thuộc ngài muốn ăn nó kiểu gì. Nhưng luôn phải khử độc trước. Thường nó được luộc hoặc ủ cho lên men, hoặc chiết xuất tinh bột.”

    Kemble trả nó lại cho bà. “Làm sao ta biết được nó có an toàn hay không?”

    “Nếu nó chuyển đắng, thì nhất thiết không được ăn,” bà đầu bếp cao ngạo nói. “Nhưng chỉ có kẻ ngốc mới làm thế. Vị của nó chẳng dễ chịu gì cho cam.” Bà đứng đó bình thản, vẫn đượm vẻ nghi ngờ, chờ câu hỏi kế tiếp của Kemble.

    “Như thế là khá rõ ràng rồi?” Kemble nhận xét. “Tôi sẽ để món sắn này cho các chuyên gia thẩm định. Cảm ơn bà đã giảng giải cho tôi.”

    “Miss Obelienne, sao bà không cho Mr. Kemble xem những loại gia vị và thảo mộc của bà?” Camille phỉnh phờ, tìm cách xoa dịu bà đầu bếp. “Bộ sưu tập của bà hết sức lí thú.”

    Một lần nữa, mặt Kemble sáng lên. “Phải đấy!” anh ta nói hăm hở. “Hãy cho tôi xem đi. Tôi dám chắc với những con tàu đi vòng quanh thế giới của Lady Nash, bà sẽ có một danh sách quý hiếm. Ồ, tôi ngửi được mùi nghệ tây rồi này – ôi trời! kia là quả me phải không?”

    Niềm nở hơn chút ít do động đến chuyên môn của mình, bà đầu bếp mau mắn kéo mở những cánh cửa nhỏ và những ngăn tủ, giới thiệu những cái tên lạ tai giống như đã làm với Camille, và để Mr. Kemble ngửi và xem những loại anh ta muốn.

    “Chủ yếu là từ những con tàu của cô Xanthia,” bà Obelienne giảng giải, “một số ít là mua ở chợ.” Bà mở một ngăn kéo đựng chiếc rễ trắng quắt queo Camille đã từng trông thấy. “Như cái này chẳng hạn,” bà đổ nó từ trong túi vải ra lòng bàn tay Kemble. “Hiếm lắm đấy. Ngay cả cô Xanthia cũng không kiếm ra.”

    Đột nhiên Mr. Kemble hơi rùng mình như con chó săn phát hiện ra con mồi. Anh ta nhón tay cầm nó lên. “Cái gì đây, bà Trammel?” anh ta hỏi độp một cái. “Chẳng phải là nhân sâm sao?”

    Obelienne lắc đầu. “Không, thưa ngài, nó được gọi là rénshēn.

    “Từ đâu bà có nó?” vẻ công tử bột dẻo miệng biến mất, giọng Kemble thoắt cái trở nên sắc bén.

    Obelienne thối lui. “Ở chợ Covent Garden,” bà nói một cách hơi phòng thủ. “Một người Trung Quốc tên là Ling bán ở đó. Tôi đã dùng hạt tiêu xanh vùng Bangalore để trao đổi với anh ta.”

    Camille chạm nhẹ vào cổ tay Kemble. “Sao vậy, Monsieur Kemble?”

    Kemble quay sang nhìn cô, đôi mắt nâu bừng sáng. “Tôi thường xuyên mua sắm ở Covent Garden nên cũng biết qua Mr. Ling. Cái rễ này là nhân sâm Trung Quốc.”

    “Vâng,” Camille đỏ mặt. “Bà Obelienne bảo là nó giúp cho đàn ông tăng cường – tăng cường…”

    “Sinh lực,” Kemble lịch thiệp đỡ lời. “Nhiều nơi còn gọi nó là ‘rễ tráng dương,’ và nó đắt khủng khiếp.” Anh ta lại quay sang bà đầu bếp. “Đã bao giờ bà cho Lord Rothewell ăn cái rénshēn sống này chưa, bà Trammel?
    Obelienne rướn thẳng lưng. “Tất nhiên là rồi. Mr. Ling nói nó sẽ giúp ngài ấy duy trì sức khỏe và bản lĩnh đàn ông. Chồng tôi bảo ngài Rothewell nhất định phải có con trai. Giờ ngài ấy đã có vợ. Và tôi lại có rénshēn. Suy cho cùng, phải có người giữ cho ngài ấy khỏe mạnh chứ, đúng không nào?”

    Những khớp ngón tay của Kemble trắng bệch ra ở chỗ anh ta nắm cái rễ. “Bà làm cách nào, bà Trammel? Và với tần suất ra sao? Mong bà hãy nói chính xác.”

    Bà đầu bếp bỗng chốc trở nên sợ hãi. “Tôi…tôi đã cho một ít vào bánh sắn. Giống như bỏ gừng ấy? Chỗ này một ít chỗ kia một ít. Bất cứ cái gì có vị nồng để át mùi sâm đi. Với lại ngài ấy khó tính lắm.”

    “Vâng vâng, chúng tôi biết mà,” Camille trấn an bà. “Mức độ thế nào, bà Obelienne? Được bao lâu rồi?”

    Bà đầu bếp chớp chớp mắt. “Hàng ngày, thưa cô. Từ dạo chớm đông.” Giọng bà nhỏ như muỗi kêu. “Hồi ở trên thuyền, chao ôi, ông chủ cứ ốm lả đi. Chồng tôi sợ ngài ấy không qua khỏi. Sao cô lại hỏi tôi chuyện này? Làm thế không được à, monsieur? Mr. Ling bảo tôi là nó chứa nhiều sức mạnh làm Lord Rothewell khỏe lại. Anh ta đã nói dối tôi sao?”

    Ánh mắt Kemble và Camille gặp nhau. “Nhân sâm vô hại đối với hầu hết mọi người,” anh ta đáp khẽ, “nhưng nếu lạm dụng có thể gây chảy máu.”

    Obelienne thốt lên một tiếng đứt quãng, đưa tay bịt miệng. Xâu chìa khóa của bà rơi xuống sàn đá thành tiếng kêu chói tai. “Trời đất! Chảy máu ư? Tôi…tôi đã gây ra chuyện này?”

    “Không, bà không gây ra chuyện này,” Kemble khẳng định, nắm lấy cánh tay bà bếp dìu bà trở lại chiếc ghế bên bàn. “Bà không gây ra chuyện gì hết, bà Trammel,” anh ta nhắc lại khi bà đã ngồi xuống. “Một lượng nhỏ nhân sâm quả thực có thể trị chứng khó tiêu. Nhưng quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng xấu.”

    Mắt bà Obelienne nhòe nhoẹt nước mắt. “Tôi – tôi đã đầu độc ngài ấy?” bà nói không ra hơi. “Tôi đã đầu độc ông chủ?”

    Kemble ngồi xuống cạnh bà. “Tuyệt nhiên không phải. Lord Rothewell đã tự đầu độc mình bằng thói ăn chơi trác táng, và tất cả chúng ta đều biết vậy. Nhưng một khi cậu ta bị chảy máu dạ dày….thì một lượng lớn nhân sâm có lẽ không phải là điều hay. Tôi nghĩ từ giờ trở đi bà nên giữ lại hạt hồ tiêu xanh của mình và không qua lại với Mr. Ling nữa.”

    “Ngài nghĩ sao, Monsieur Kemble?” Camille hỏi khi họ đi lên lầu. “Bà Obelienne có vẻ thành thật đấy chứ?”

    Họ đã trấn tĩnh tinh thần bà Obelienne bằng một ấm trà cùng những lời trấn an được lặp đi lặp lại của Camille, rồi gọi Trammel xuống ngồi cùng bà và nghe một phiên bản có phần nhẹ nhàng hơn của điều có thể đã xảy ra do nhân sâm. Camille chưa từng trông thấy bà đầu bếp quẫn trí. Và cô có cảm tưởng rõ rệt rằng cả Trammel cũng vậy. Cuối cùng, bà Obelienne cam đoan sẽ theo sát thực đơn của Hislop và không bao giờ sử dụng vị thuốc thần thánh của tay Ling lần nào nữa.

    “Tôi không tin đó là cố ý,” Kemble đồng tình. “Nếu Obelienne muốn giết cậu ta, bà ấy sẽ dùng sắn, hoặc thạch tín, món truyền thống trứ danh trong hóa học.”

    Camille chưa bao giờ có ý nghĩ đó là dự tính sẵn. Mặc dù đúng là Obelienne đã theo Annemarie đến Barbados, nhưng xem ra bà rất tận tâm với Kieran. Chắc chắn Trammel cũng vậy. Có lẽ bà Obelienne chỉ quá sốt sắng mà thôi, chứ không có ác ý.

    “Chính xác thì loại rễ cây này có tác dụng gì?” cô hỏi.

    Dừng lại nơi chiếu nghỉ, Kemble ngập ngừng. “Như tôi đã nói đấy, cái này rất khó xác định. “Tôi chỉ tiếp xúc sơ sơ với nó. Chắc chắn nó gây kích thích cho cơ thể, giống như cà phê đặc. Thường không nên dùng chung chúng với nhau.”

    Cái gì đó trong óc Camille dường như đã ráp đúng chỗ. “Chứng mất ngủ và kích động của anh ấy,” cô thì thầm. “Kieran thường thức trắng đêm, và thường xuyên cáu kỉnh. Xanthia nói anh ấy đã như thế từ mấy tháng nay.”

    Môi Kemble mím lại. “Tôi dám chắc có sự liên quan. Thông thường người ta dùng cách pha chế hoặc chỉ điểm một chút, đằng này bà Obelienne mài sâm như mài gừng. Chúng ta không cách nào biết được cái tay Ling kia đã hướng dẫn cách sử dụng cho bà ấy như thế nào. Tiếng Anh của bà già ấy thật đáng sợ, theo chất giọng réo rắt kia thì tiếng mẹ đẻ của bà ấy ắt hẳn là tiếng Pháp bồi?”

    “Vâng, bà ấy toàn nói kiểu đó,” Camille trả lời.

    Kemble tiếp tục bước lên cầu thang. “Dù nó không phải nguyên nhân khiến cậu ta gặp họa, song gần như chắc chắn nó đã làm trầm trọng thêm mọi chuyện,” anh ta trầm ngâm nói. “Bất kể nó có tác dụng gì với Rothewell, cậu ta cũng không được đụng đến món đó nữa. Và tôi nghĩ chúng ta đã dọa cho bà Obelienne tội nghiệp một mẻ hết vía rồi.”


    Rothewell ngồi một mình trên giường, nghĩ tới việc mình đã suýt chết trong lúc xoa cái đầu mượt của con chó. Chỉ thiếu chút nữa là thành hiện thực. Và nó chưa kết thúc. Nhưng Hislop cho rằng căn bệnh này – con quái vật này – có thể nằm trong tầm kiểm soát của Rothewell. Hislop đã cho anh tia hy vọng.

    Thực ra, mặc dù anh tạo ấn tượng rất oách về một người đàn ông hoàn toàn kiểm soát được số phận mình – và gần như mọi thứ xung quanh anh ta – nhưng trong thâm tâm Rothewell biết đó chỉ là cái vỏ ngoài. Anh đã để cho đời mình sa vũng bùn từ mấy năm trước, và chẳng bao giờ vọng tưởng có thể lôi nó lên.

    Nhưng có khả năng le lói. Và chỉ cần manh nha thôi, thì anh sẽ làm được. Anh sẽ ăn theo cái thực đơn chết tiệt của Hislop và nằm yên như phỗng trên giường chắc chắn là mất vài tuần với người vợ xinh đẹp quyến rũ ở xa tầm tay anh – chí ít là theo nghĩa quan trọng nhất. Phải, anh sẽ làm bất cứ việc gì và mọi yêu cầu bắt buộc để vượt qua căn bệnh này và đảm bảo nó bị trục xuất vĩnh viễn khỏi cuộc sống của anh. Anh sẽ cầu nguyện Chúa trời cho Hislop nói đúng. Bởi vì anh còn một cuộc đời để sống. Thực ra anh luôn có đấy thôi, nhưng không hiểu sao phải đến Camille mới làm cho anh nhận ra điều đó.

    Anh nhắm mắt, nhớ lại sự ngu xuẩn của mình. Anh đã mất rất nhiều máu – nhiều hơn mức anh muốn cho bất kỳ ai biết. Anh đã đày đọa bản thân tới gần kiệt lực, và vì những lí do đến bây giờ anh vẫn chưa hoàn toàn nắm bắt được. Nhưng giờ cuộc đời anh có lẽ đã có bước ngoặt, và anh không ngốc đến độ bỏ phí cơ hội thứ hai Chúa ban cho.

    Như cảm nhận được tâm trạng của anh, Jim dịch lại gần, gối đầu lên đùi Rothewell. Nó ngước đôi mắt nâu nhìn anh và phát ra tiếng khụt khịt dò hỏi.

    “Phải, tao cũng đang băn khoăn đây, Jim,” anh nói, tay không rời con chó. “Cô ấy đi đến giờ này cũng lâu rồi phải không?”

    Đột ngột con chó dỏng tai lên. Rồi Rothewell nghe thấy tiếng chân lên cầu thang, nhẹ và nhanh. Giờ thì anh không thể nhầm lẫn. Giống như mùi hương thanh mát của cô, âm thanh của những chuyển động của cô và thậm chí cả tiếng thở nhẹ của cô khi ngủ - tất cả đều có một không hai, đầy an ủi, và lập tức trở nên quen thuộc với anh.

    Khi cô bước vào phòng, ánh mắt cô trùm lên anh, và cô mỉm cười, đôi mắt nâu dịu hẳn xuống. Kemble bước vào sau cô, trông vẫn chảnh chọe như thường lệ. Như thể không biết đến sự hiện diện của Kemble, Camille băng qua phòng và cúi xuống đặt một nụ hôn lên môi anh.

    “Anh yêu,” cô nói bằng giọng cổ ấm áp của mình, “em nhớ anh. Và anh sẽ không bao giờ tin được câu chuyện Mr. Kemble vừa phải tiết lộ…”
     
    lynx, nhungnhinh783, lechat and 16 others like this.
  12. hathao

    hathao Lớp 1

    Lâu rồi mới thấy Sóng Vàng tái xuất. Cảm ơn bạn rất nhiều
     
    song vang and hoahuynh2011 like this.
  13. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Xuất hiện rồi nha bạn, cám ơn bạn nhiều
     
    song vang and hoahuynh2011 like this.
  14. Breeze

    Breeze Mầm non

    song vang and hoahuynh2011 like this.
  15. meocontb

    meocontb Lớp 2

    lechat and song vang like this.
  16. Đức Sơn

    Đức Sơn Mầm non

    Rất vui vì bạn đã quay trở lại và bọn mình được theo dõi các chương tiếp theo !
     
    song vang and hoahuynh2011 like this.
  17. hoahuynh2011

    hoahuynh2011 Lớp 1

    Hoan hô song vang đã tái xuất. Cảm ơn bạn thật nhiều.
     
    song vang and Breeze like this.
  18. tienbach2013

    tienbach2013 Mầm non

    Truyện hay quá! Cảm ơn Song Vang rất nhiều! Chờ mãi mới thấy Song Vang tái xuất.
     
    song vang thích bài này.
  19. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG MƯỜI LĂM


    Rothewell uể oải duỗi người trên chiếc ghế dài dưới ánh mặt trời nửa buổi trong nhà kính, tận hưởng cuộc sống của một bệnh nhân nửa vời. Vợ anh bước vào với dáng vẻ tươi tắn. Trong nửa tháng kể từ chuyến khám bệnh của bác sĩ Hislop, cô săn sóc anh một cách tận tình và la rầy anh không thương tiếc. Rothewell uống lấy từng khoảnh khắc ấy.

    Hôm nay Camille mặc chiếc váy lụa màu vàng tương phản một cách hài hòa với mái tóc đen huyền, và một nụ cười tươi trẻ và vô cùng rạng rỡ mà chỉ đến bây giờ anh mới hết lạ lẫm. “Bonjour,” cô vui vẻ nói, đặt tờ tạp chí Times lên lòng anh. “Trammel mang báo cho anh này.”

    “Em làm xong việc nhà chưa?” anh hỏi bằng giọng hơi hờn giận. “Nếu em muốn bắt tôi sống ẩn dật, chí ít em cũng có thể bầu bạn trong lúc tôi bị lưu đày chứ.”

    Camille toét miệng cười và giơ quyển sách cô giấu sau váy lên. “Tất nhiên rồi,” cô nói. “Trammel đã đến tiệm sách Hatchard và mang về cho em một cuốn tiểu thuyết của Mrs. Radcliffe - Gaston de Blondeville. Chiều nay em sẽ làm một quý bà nhàn rỗi.”

    Rothewell quan sát cô ngồi xuống chiếc đi văng thoải mái phía đối diện, gập một chân lại dưới mình như một cô gái nhỏ - tư thế chẳng hề ra dáng quý cô. Nhưng nhìn kiểu gì Rothewell cũng thấy Camille là một quý cô đến tận chân tơ kẽ tóc: tinh tế, thông minh, và đáng yêu. Rothewell vẫn chưa hết kinh ngạc vì mình đã giành được cô, và tự hỏi liệu có khi nào anh chấm dứt được cảm giác tội lỗi về cách thức mình đạt được mục đích đó.

    Ánh mắt cô nhìn anh lúc này tràn đầy niềm vui và hy vọng. Như thể là cô yêu anh; gương mặt cô bừng sáng, nụ cười và đôi mắt cô bỗng chốc trở nên dịu dàng. Có thể nào cô đã yêu anh? Và có khả năng nhỏ nhoi nào để anh đền đáp tình yêu ấy một cách xứng đáng? Có lẽ. Có lẽ ít nhất anh có thể cho cô thấy anh cảm thấy thế nào về cô khi nào anh thoát khỏi tay bác sĩ phiền nhiễu mà họ đã kiếm về cho anh.

    Bức bối, Rothewell giở soạt tờ báo ra, rồi tỉnh trí xua tâm trạng đó đi. Thực tình thì, lời khuyên của Hislop, sự can thiệp của Kemble, và sự chăm sóc của Camille có thể đã cứu mạng anh, anh âm thầm thừa nhận. Anh đang cảm thấy khá hơn hẳn so với những năm qua. Anh không quan tâm đến cái thực đơn gồm những trứng chần, nước thịt bò, và gà luộc. Những điếu xì gà thân thương của anh đã bị tịch thu vĩnh viễn, và rượu brandy có thể cũng gặp số phận tương tự. Anh thức dậy lúc bình minh và đi ngủ khi trời tối hệt như một anh nông dân thuần phác. Nhưng chí ít bây giờ anh đã ăn được một chút và ngủ như chết. Mắt anh không còn những tia máu, và Miss Obelienne cuối cùng đã qua cơn hoảng sợ vì đã suýt giết anh.

    Nhưng chuyện đó có thực sự nghiêm trọng không? Thực ra anh vốn đang băng băng trên đà giết chính bản thân – và Obelienne đã nhìn thấy những dấu hiệu đó. Bà chỉ cố giúp anh theo cách của bà mà thôi. Có lẽ nếu anh bớt kiêu ngạo đi, và biết tiếp thu những lời khuyên hơn chút nữa…nhưng anh đã chẳng hề làm thế.

    Không, anh chỉ suốt ngày giận dữ, tự kiêu, đắm chìm trong nỗi đau của bản thân và quyết tâm tự làm hại mình mà không buồn để ý xem anh đang làm gì với những người xung quanh. Những người quan tâm sâu sắc đến anh. Xanthia, Pamela, vợ chồng Trammel, Gareth, và hơn hết thảy, là Camille, anh hy vọng thế.

    Tất nhiên có cả Luke. Luke chưa bao giờ biết thù oán. Anh ấy luôn che chở cho anh, cho Xanthia. Cho Annemarie và con gái cô ấy. Luke sẽ chẳng bao giờ mong anh ốm, và tiếc thương sự ra đi của Luke trong một chai brandy sẽ chẳng bao giờ mang được anh ấy trở lại. Trong đầu Rothewell luôn biết thế, nhưng chỉ đến bây giờ con tim anh mới bắt đầu chấp nhận điều đó.

    Rothewell cựa mình tỉnh khỏi cơn mơ mộng bởi tiếng một gia nhân đang đến gần. Một trong những người hầu dưới nhà bước vào nhà kính và trình chiếc khay bạc ra trước mặt Camille. Cô giật mình ngẩng lên từ cuốn tiểu thuyết.

    “Thưa cô, cô có khách,” gã người hầu bẩm. “Là bá tước Halburne.”

    “Lạ nhỉ.” Hơi mất bình tĩnh, Camille cầm tấm danh thiếp lên. “Lord Halburne?”

    Rothewell ngồi thẳng lên. Anh đã nghe nói kha khá về những câu chất vấn khó chịu của Halburne đối với vợ anh. Nhưng cô đã đi đến chỗ thỏa hiệp với sự cay đắng của ông ta và cho qua nó.

    “Em không việc gì phải gặp ông ta nữa,” anh nói. “Em có muốn tôi mời ông ta về không?”

    Trong một lúc, cô lưỡng lự, bàn tay còn hơi run run. “Không,” cuối cùng cô nói. “Em sẽ gặp ông ta. Còn điều gì ông ta có thể nói về mẹ để khiến em cảm thấy tồi tệ hơn mức vốn có nữa đâu?”

    “Vậy được,” Rothewell nói với người hầu. “Chúng ta sẽ tiếp ông ta ở đây.”

    Camille gật đầu. “Cảm ơn anh.”

    Rothewell thấy Camille duỗi thẳng chân ra và vuốt lại những nếp gấp trên váy. Cô đang lo lắng, và điều đó khiến anh tức giận một cách có lí. Cô không đáng bị xúc phạm bởi ngón đòn chỉ trích của Halburne. Cô không còn phải chịu trách nhiệm cho những hành động của mẹ cô cũng như của lão khốn Valigny.

    Nhưng Camille cũng mang nặng mặc cảm về những thói xấu của Valigny. Và Rothewell đang bắt đầu hiểu ra điều mà cô, có lẽ, vốn đã biết. Là một bậc sinh thành, mẹ cô đúng là ích kỷ, nhưng Valigny cũng đáng bị khiển trách – và biết dòng máu của một kẻ phóng đãng như thế chảy trong huyết mạch mình có lẽ là gánh nặng lớn nhất Camille phải chịu.

    Rothewell ngạc nhiên khi bá tước Halburne bước vào gian nhà kính chan hòa ánh sáng. Bên dưới bộ trang phục đắt tiền được cắt may khéo léo, Halburne có nét gì đó yếu đuối hơn Rothewell đã nghĩ, dù quả thực trông ông ta không thể tới ngưỡng sáu mươi. Và dẫu ông ta có phong thái của một người tự tin quyền thế, vẫn phảng phất một sự mệt mỏi không thể nhầm lẫn ở ông ta; sự mệt mỏi mà Rothewell thề rằng không phải là bản chất của ông ta.

    Rothewell đứng lên khi vợ anh giới thiệu hai người. “Xin mời ngồi, ngài Halburne,” anh lạnh nhạt nói. “Nhưng vì vợ tôi, tôi mong chuyến thăm này có thể kết thúc sớm.”

    Halburne nhìn qua nhìn lại giữa hai người, như đánh giá sự chào đón của anh và nhận ra là nó không hề có. “Tôi e rằng không được,” ông ta lẳng lặng nói. “Cảm ơn Lady Rothewell, vì đã cho ông già này chút thời gian.”

    “Ngài đừng nói vậy.” Camille mỉm cười yếu ớt. “Tôi hy vọng quản gia của ngài đã bình phục sau cú ngã?”

    Halburne chớp mắt nom gần như một con cú vọ. “Thực ra, đó là một phần nguyên nhân đưa tôi tới đây.”

    Camille tỏ ra cảnh giác. “Ông ấy vẫn chưa khỏi sao?”

    “Nghe này ngài Halburne,” Rothewell cộc cằn nói, “đây là một chuyện đáng buồn, nhưng vợ tôi chẳng làm gì ngoài gõ cửa nhà ngài, chỉ với mong muốn – “

    “Không, không.” Halburne giơ tay ngăn lại, đột nhiên nom đích thực là một nhà quý tộc. “Không phải tôi có ý đó, Rothewell – và chuyện này đáng buồn hơn là anh nghĩ.”

    Camille lo lắng. “Xin ngài nói tiếp đi, monsieur,” cô thúc giục.

    Trong Halburne như đột nhiên mất sạch vốn từ. “Fothering, như tôi đã kể với cô, là một ông già,” ông vụng về giải thích. “Ông ấy đã phục vụ cho cha tôi, và một khoảng thời gian ngắn trước đó – là ông nội tôi. Và hôm đó khi ông ấy nhìn thấy cô đứng trước ngưỡng cửa. Tôi cho rằng ông ấy đã biết cái điều mà không một ai trên thế gian này biết, trừ một người – bá tước Valigny.”

    “Là điều gì?” Rothewell hỏi. “Và quản gia nhà ông có thể có liên quan gì đến vợ tôi?”

    Một vẻ khó xử lướt qua mặt Halburne. “Bởi vì vợ anh, Lord Rothewel,” ông nói nhỏ, “là con gái tôi.”

    Im lặng chết chóc bao trùm trong một giây, rồi, “Lạy Chúa, hẳn là ngài điên rồi,” Camille nói không ra hơi. “Làm sao ông ta có thể tưởng tượng ra một điều như thế? Sao ngài có thể tin được nó?”

    Halburne lắc đầu. “Thực ra ông ta tưởng tượng rất ít, Lady Rothewell,” bá tước nói. “Ông ta biết đích xác mình đã nhìn thấy gì, khi vừa tỉnh lại. Tôi cũng đã nghi hoặc từ lúc nhìn thấy tên cô trên danh thiếp và thấy gương mặt cô. Nhưng tôi phải đảm bảo chắc chắn. Chúa tôi, sau chừng ấy năm…Tôi phải đảm bảo chắc chắn.” Giọng ông hạ xuống thành tiếng thì thầm. “Tôi không sao hình dung chuyện này xảy ra bằng cách nào. Sau gần nửa tháng, tôi vẫn - ờ, vẫn tuyệt vọng, chính là như thế.”

    Sự bàng hoàng hiện rõ trên mặt Camille. “Chuyện này không thể nào là thật.”

    Rothewell thấy lo. Mặt Camille đã thất sắc. Anh chống hai tay lên đầu gối và nghiêng người tới trước. “Chuyện này nghe hết sức vô lý, ngài Halburne,” anh nói một cách thô lỗ. “Ngài định bảo rằng Camille là con gái ngài, và ngài không hề biết? Mẹ cô ấy phải biết chứ. Ngài giải thích sao? Rằng bà ấy đã nói dối à?”

    Rothewell nhận ra một nốt sự thật trong lời nói của chính mình. Mẹ của Camille hẳn là đầu óc phải có vấn đề mới từ bỏ một quý ông như Halburne để chạy theo loại vô tích sự như Valigny.

    Halburne đã đưa tay ra thay cho lời nói, ánh mắt không rời Camille. “Có thể là Dorothy không biết,” ông nói gần như xin lỗi. “Hoặc giả bà ấy đã tự thuyết phục mình theo hướng khác.”

    Camille chậm chạp lắc đầu, nước mắt đã chực trào ra. “Không thể nào, không có chuyện đó được. Ngài muốn tôi tin rằng ngài là cha tôi? Chứ không phải người đàn ông tôi vẫn tin là cha mình kể từ lúc sinh ra đến giờ? Sao ngài có thể nói ra một điều như vậy sau chừng ấy năm?”

    “Con gái, xin hãy tha thứ cho ta.” Mặt Halburne hằn lên vẻ đau khổ. “Ta không hề muốn làm con buồn. Song ta đã có cảm giác rằng con không … ờ, không quá gắn bó với bá tước? Ta biết đã quá muộn để sửa chữa nhưng sai lầm cũ. Con có muốn ta đi khỏi ngay bây giờ không? Con chỉ cần nói một lời, ta sẽ đi ngay tức khắc.”

    Rothewell vẫn quan sát vợ mình. “Không,” anh đứng dậy sang ngồi cạnh vợ trên đi văng. “Tốt nhất ta hãy làm rõ sự thật, em yêu.”

    “Vâng.” Camille liếc nhìn anh, và anh bắt được tia hy vọng trong mắt cô. “Tốt nhất – nếu đó có thể là sự thật.”

    “Ta cam đoan là đúng như vậy.” Bằng bàn tay duy nhất, bá tước Halburne lục trong túi áo vét bên dưới ống tay áo được buộc cẩn thận và lấy ra một bao lụa nhỏ. “Chính chiếc váy đỏ của con đã làm Fothering bị tăng huyết áp,” ông nói, vụng về lắc một khung ảnh mạ vàng ra khỏi túi. “Ông ấy nghĩ mình đang trông thấy ma.” Ông đưa khung ảnh cho Rothewell.

    Rothewell cẩn thận đón lấy bức tiểu họa và xoay nó ra ánh nắng. Khó khăn lắm anh mới không há hốc miệng. Người phụ nữ trong tranh giống Camille như tạc. Mái tóc đen của của bà búi cao, và đường cổ áo vuông xếp nếp của chiếc váy màu rượu vang gợi nhớ lại thời trang của sáu hoặc bảy thập kỷ trước. Nhưng đôi mắt … và nước da sẫm ngọt ngào…lạy Chúa.

    Với ánh cảnh báo trong mắt, anh xoay bức họa về phía Camille. Cô hít vào một hơi. “Trời ơi!” cô nói. “Ai vậy?”

    “Mẹ của ta,” Halburne lặng lẽ đáp. “Tên bà là Isabella, và bà luôn thích màu đỏ. Bà rất đẹp phải không?”

    “Mê hồn,” Rothewell nói.

    “Khi còn rất trẻ, Fothering chính là người hầu thân cận bên bà. Ông ấy rất gắn bó với bà.”

    “Isabella,” Camille thì thầm, vẫn nhìn chằm chằm bức họa. “Bà ấy…bà ấy là người Pháp?”

    Halburne lắc đầu. “Andalusian (thuộc Tây Ban Nha),” ông nói. “Xuất thân từ một gia đình thương gia lớn ở Cádiz, nhưng cha của bà là một nhà ngoại giao. Đó là một cuộc hôn nhân sắp đặt, và ngắn ngủi. Bà qua đời khi ta mới lên sáu.”

    Rothewell nhướng cả hai chân mày. “Sự giống nhau này thật đáng kinh ngạc.”

    Halburne bật ra tiếng cười khan. “Lord Rothewell, cái đó còn chưa là gì đâu,” ông nhận xét. “Gainsborough đã vẽ chân dung mẹ tôi không lâu trước khi tôi chào đời. Bức tranh vẫn được treo trong thư viện ngôi nhà nghỉ ở nông thôn của tôi cho đến khi tôi đem nó về tuần trước. Tôi mong cả hai người được nhìn thấy nó. Bức tranh ấy nếu đem so sánh với Lady Rothewell ắt sẽ khiến người ta sửng sốt. Cùng mái tóc ấy, với đường chân tóc hình chữ V trên trán, cũng gò má cao và sống mũi mảnh. Đôi mắt giống hệt nhau. Chẳng có gì lạ khi Fothering ngất xỉu.”

    Camille nhìn vẫn chưa tin. “Nhưng mẹ tôi….bà luôn bảo Valigny là cha tôi. Tôi được sinh ra ở Paris gần mười tháng sau khi mẹ tôi rời nước Anh.”

    “Làm sao em biết?” Rothewell hỏi nhỏ. “Em còn bằng chứng nào khác không?”

    Cô chậm chạp lắc đầu. “Có một quyển Kinh thánh, một ít giấy tờ.”

    Đều dễ dàng giả mạo, Rothewell nghĩ. Chuyện này đang trở nên hết sức hợp lí.

    Vẻ mặt Halburne dịu lại. “Đôi khi trẻ con bước vào thế giới này theo thời gian biểu của chúng, không phải của chúng ta. Mười tháng không phải chưa từng có.”

    “Nhưng nếu bà ấy nói dối thì sao?” Camille hỏi. “Sao bà ấy lại làm thế? Sao bà ấy lại làm thế với tôi?”

    Lord Halburne tỏ ra hơi xấu hổ. “Ta chẳng có tư cách để bào chữa cho mẹ con. Chúng ta chỉ ở bên nhau một thời gian rất ngắn. Ta có thể nói với con điều này: bà ấy chưa bao giờ trông thấy những bức chân dung của mẹ ta. Bà ấy không cách nào biết được mẹ ta trông như thế nào.”

    “Tôi thường xuyên được nghe rằng trông tôi chẳng hề giống mẹ,” cô thú nhận, “mà giống hệt Valigny. Tôi cũng có nước da màu olive và màu mắt đen, nhưng ngài phải tha thứ cho tôi vì tôi vẫn thấy nghi ngờ. Sự giống nhau về ngoại hình có thể gây nhầm lẫn.”

    “Những nghi ngờ ấy nói lên tính cách của con. Khi con đến gặp ta, ta đã trông chờ…ờ, ta đã trông chờ một điều hoàn toàn khác.”

    Mắt Camille tối lại. “Ngài đã trông chờ tôi đưa ra những câu hỏi.”

    Ông gật đầu, vẻ mặt trầm xuống. “Ta đã tức giận, ta đã hoang mang,” ông thừa nhận. “Ta không hiểu nổi mình đang nghĩ gì. Con muốn gì ở ta. Và không, ta đã không chắc chắn – nhưng Fothering thì khác, vì ông biết mẹ ta rất rõ. Ông ấy đã nhìn con ra về từ cửa sổ trên gác. Nhưng ta…ta cần nhiều hơn.”

    “Ngài nói nhiều hơn nghĩa là sao?” Rothewell hỏi, nắm lấy tay Camille.

    Dáng người gầy gò của Halburne cựa quậy một cách không thoải mái trên ghế. “Tôi đã cử Mr. White, người chạy việc của tôi, lên đường sang Pháp ngay tối hôm đó. Tôi muốn biết nhiều hơn về bá tước Valigny và quá khứ của hắn ta.”

    “Và ông ấy đã tìm thấy gì?” Giọng Rothewell chua chát. “Một bồ dối trá nữa à?”

    Halburne nhướng cặp lông mày đã hoa râm. “Không, là sự thật. Gia đình bên ngoại của Valigny có gốc gác từ một ngôi làng vô danh ở Pyrenees, và đây là nơi cuộc điều tra của White lần ra hắn. Hồi trẻ Valigny đã kết hôn với con gái của một chủ mỏ than giàu có ở đây.”

    Rothewell hừ mũi. “Hay thật.”

    Halburne thoáng mỉm cười. “Tôi nghĩ gia đình cô gái đã nhanh chóng hiểu ra bản chất Valigny. À còn nữa, không có chuyện ly dị, mà cuộc hôn nhân bị hủy bỏ.”

    Camille há hốc miệng. “Bị hủy bỏ? Dựa vào đâu mà nó bị hủy bỏ?”

    “Nguyên cớ chắc là ghê gớm lắm,” Rothewell lẩm bẩm. Ở Pháp, ly hôn là một chuyện, nhưng hôn nhân bị hủy bỏ không dễ gì làm được.

    “Một trong những nguyên nhân là không có con cái.” Một lần nữa, nụ cười của Halburne trông thật yếu ớt. “Năm mười bẩy tuổi, hình như Valigny đã mắc bệnh quai bị - ở một số người đàn ông, điều này được coi là đem lại hậu quả nặng nề. Nhưng ông ta đã giấu nhẹm chuyện đó với gia đình giàu có nhà cô dâu. Nhà thờ Công giáo lưu giữ rất kỹ những tài liệu về các vụ việc kiểu đó.”

    “Ông ta…không có khả năng làm cha?” Rothewell hỏi vẻ ngờ vực.

    Bá tước nhún vai. “Có vẻ thế. Cô con gái ông chủ mỏ than lập tức quay sang cưới người anh họ, và không lâu sau chết trên giường đẻ, nên không phải cô ấy bị vô sinh. Còn Valigny tất nhiên được bồi thường hậu hĩ để đi thật xa và quên chuyện mình từng quen biết cô gái tội nghiệp đó – rất có khả năng đó là hy vọng của hắn ta ngay từ lúc đầu.”

    “Sao ông ấy lại nói dối?” Camille thì thầm. “Tại sao lại nói dối Maman? Cũng như nói dối tôi?”

    Rothewell siết tay cô, cố dằn cơn giận xuống. “Dù sao ta cũng hãy nhìn nhận cho công bằng, anh dám chắc ông ta cũng thích mẹ em theo cách của mình. Ban đầu chắc hẳn ông ta tin rằng ông ngoại em sẽ tha thứ cho bà, và họ có thể cưới nhau. Có lẽ ông ta nuôi hy vọng moi được tiền từ cha vợ - hoặc nếu không, ông ta hy vọng em được thừa hưởng gia tài. Và cuối cùng, sự kiên nhẫn của ông ta đã được đền đáp, dù không phải theo mức ông ta mong đợi.”

    Lần này nụ cười của Halburne sa sầm. “Đàn ông thường không thích thừa nhận họ không thể làm cha. Ngay cả với chính họ, vì nó đánh vào tính sĩ diện nam nhi. Nhưng trong suốt những năm qua, bất chấp bao chiến tích tình ái, tôi thấy thật kì lạ vì Valigny chưa hề có con với bất cứ cô nhân tình nào.”

    “Phải, và bọn họ nhiều vô số,” Camille nói. “Để đến cuối cùng, ông ta ném hết vào mặt Maman.”

    Mặc dù nói những lời xoa dịu Camille, Kieran vẫn chật vật dằn xuống cơn thôi thúc muốn đấm một ai đó đã quá quen thuộc. Thái độ ôn hòa hình như không chế ngự được sự tức giận của anh. “Tên khốn tráo trở đó đã biết sự thật ngay từ đầu, hắn chỉ không nói cho em biết thôi,” cuối cùng anh nói. “Điều đó giải thích được rất nhiều chuyện.” Tỉ như lí do Valigny đối xử với đứa con được cho là máu mủ của mình như một gánh nặng dư thừa – hoặc một trò cười để đem ra mua vui cho những kẻ khác.”

    “Ta rất xin lỗi,” Halburne lại nhắc lại. “Nếu biết được sự tồn tại của con, ta sẽ đón con về, theo luật pháp cho phép, và chăm lo cho con thật đầy đủ.”

    Camille dường như sắp òa khóc, song Rothewell cảm thấy cô chưa bị thuyết phục hoàn toàn. “Thế còn mẹ con?”

    Halburne nhìn đi nơi khác. “Chúa giúp ta, nhưng ta không thể tha thứ cho bà ấy. Sau khi bà ấy bỏ mặc ta ở đó, cho rằng ta sẽ chảy máu đến chết. Sau khi bà ấy làm nhục tất cả chúng ta bằng cách bỏ trốn cùng tên đàn ông đó đến Pháp. Không, có thể ta chẳng bao giờ đón nhận bà ấy trở về. Nhưng ta ắt sẽ không ly dị mẹ của con ta.”

    Rothewell như sực nhận ra điều gì. “Vậy là ngài đã tái hôn?” anh hỏi. “Ngài đã có những đứa con khác. Camille…Camille có thể có các em trai và em gái?”

    Bá tước buồn bã lắc đầu. “”Tôi cũng có ý định đó. Nhưng sau khi Dorothy, tôi…chẳng tìm được ai. Nhưng tôi có một người cháu trai, người thừa kế của tôi, cùng nhiều cháu gái và cháu trai khác. Ta tin họ sẽ chào đón con, Lady Rothewell, như một người trong gia tộc. Sự lựa chọn tất nhiên tùy thuộc ở con.”

    Rothewell buộc mình phải thả lỏng nắm đấm. “Điều đó chẳng bao giờ bù đắp được những gì Valigny đã cướp đi của cô ấy,” anh nói. “Hắn đã cướp mất của cô ấy một tuổi thơ hạnh phúc, lành mạnh. Một cuộc sống thoải mái sung túc chứ không phải cuộc sống của một người họ hàng nghèo. Nếu tất cả những điều ông nói là thật, thì Valigny nên chuẩn bị hối tiếc cái ngày tính tham lam của hắn bị phát hiện đi là vừa.”

    Giọng Halburne cất lên rất điềm tĩnh. “Chúng ta hãy quên đi sự xảo trá của Valigny được không,” ông đề nghị. “Chồng con muốn bảo vệ con, và điều đó thật đáng ngưỡng mộ. Nhưng ta có ý kiến rằng sống thật tốt chính là sự trả thù đích đáng nhất.”

    Rothewell không đồng ý, nhưng anh không bất lịch sự đến độ thể hiện ra.

    “Ý ngài nói sống tốt là sao?” Camille đang nhìn, có lẽ với hàm ý châm biếm, vào ống tay áo trống không của Halburne – thêm một thứ nữa mà Valigny đã tàn nhẫn cướp đoạt.”

    “Khi nào con sẵn sàng, khi nào con thực sự tin những gì ta nói là thật, hãy tới và trở thành một thành viên trong gia đình ta,” bá tước đề nghị, giọng đột nhiên trở nên rụt rè. “Con và chồng con và cả gia đình chồng con nữa. Hãy cho ta được tìm hiểu về con, và được ôm con. Sau bao nhiêu năm, ta đã có một đứa con! Nhưng ta chẳng biết được bao nhiêu về màu sắc mà con thích, bài thơ mà con thích. Con có thể tưởng tượng, dù chỉ một khắc, điều đó có ý nghĩa như thế nào với ta không?”

    Lạ thay, Rothewell có thể hình dung được. Có lẽ là do niềm hy vọng anh ấp ủ trong lòng – niềm hy vọng rằng anh và Camille sẽ sớm có một đứa con, và sau này, là cả một đàn con. Hoặc có lẽ kỳ thực là anh chưa bao giờ thật sự biết đến tình thương của một người cha và lâu nay đã chấp nhận rằng mình sẽ chẳng bao giờ biết được. Dù thế nào đi nữa, nó cũng làm anh chua xót, và nghĩ đến tình cảnh của vợ mình – và có lẽ cả Halburne nữa – anh càng thêm tức giận.

    Nhưng Camille và người đàn ông anh đang hết sức hy vọng là cha của cô vẫn đang nói chuyện. Halburne đã nhích về phía trước trên ghế và cầm lấy tay Camille.

    “Đành rằng những gì chúng ta đã mất chẳng thể nào lấy lại,” ông hạ giọng, “ta rất muốn nghe chuyện của con. Con đã lớn lên như thế nào. Con học hành ra sao. Và khi nào hai con có ” – nói đến đây Halburne ngập ngừng, và nhắm mắt lại – “có những đứa con, nếu trong tim con còn chút tha thứ, nếu con có thể tin những gì ta nói là thật, xin hãy để ta làm ông ngoại chúng. Con sẽ làm thế chứ? Được không con? Điều đó sẽ làm cho những năm cuối đời của ta hạnh phúc gấp nhiều lần so với ba thập kỷ qua.”

    Mắt Camille lại long lanh nước, lần này là chất chứa những tia hy vọng. Đột ngột, Rothewell đứng dậy.

    Camille liếc nhìn anh thắc thỏm và đưa mu bàn tay quệt nước mắt. “Anh đi đâu vậy, Kieran?”

    Anh mỉm cười với cô. “Đi dạo một chút,” anh nói nhỏ, cọ những khớp ngón tay vào má cô một cách trìu mến. “Anh nghĩ hai người nên có thời gian ở một mình với nhau. Halburne, ngài ở lại ăn tối với chúng tôi được không. Trong thời gian đó, hai người có thể - ồ, tôi cũng không biết nữa. Đi hóng gió bằng xe ngựa chẳng hạn?”

    Halburne mỉm cười. “Không có cảnh tượng nào làm cho tôi – hoặc những kẻ ngồi lê đôi mách trong thành phố - thấy vui hơn việc nhìn thấy con gái tôi ngồi trong xe ngựa của tôi dạo quanh công viên Hyde Park.”

    Camille ngước nhìn Rothewell và bật cười có phần hơi lo lắng. Anh biết cô đang nghĩ chuyện này sao mà khác xa lần cô chạm trán Lord Halburne ở Hyde Park hồi trước. Rồi cô cúi mặt xuống. “Không được đâu, Kieran,” cô do dự. “Em nghĩ anh thật sự không đủ sức khỏe để đi bộ.”

    Rothewell không để nụ cười nhạt đi. “Em nên nhớ là Hislop đã nói anh có thể vận động nhẹ,” anh dịu dàng nói. “Vả lại mới cách đây nửa tháng anh còn làm những chuyện hết sức tồi tệ, và trong tình trạng hết sức tồi tệ. Một chuyến dạo bộ nhàn tản dưới trời thu chính là thứ anh cần.”

    “Vâng, có lẽ vậy,” cô miễn cưỡng chấp nhận, vẫn nắm tay cha mình. “Nhưng anh phải hứa đó là một chuyến đi bộ nhẹ nhàng.”

    “Hết sức nhẹ nhàng,” anh đồng ý. “Thực ra anh nào có cử động được mấy đâu.”

    “Mà anh định đi đâu?” cô truy hỏi. “Cho đến khi anh hoàn toàn bình phục, em nhất định phải biết nhất cử nhất động của anh.”

    “Rồi, và khi nào anh bình phục, em vẫn cứ nhất định thế cho xem,” anh trêu cô. “Hôm nay ở Tattersall có phiên giao dịch. Nếu ngài cho phép, ngài Halburne, tôi sẽ đến nói cho Lord Nash và một số người bạn về những mối nghi ngờ giật gân của ngài. Người ta cũng có thể phát tán tin đồn đó chứ, ngài thấy thế không?”

    Rothewell để hai cha con lại nhà kính, đang nghiêng lại gần nhau khi Lord Halburne giải thích cho Camille về sự phức tạp trong cây phả hệ lâu đời và đại quý tộc của gia đình mình. Anh lên gác, đi giày và mặc một chiếc áo khoác ấm hơn, rồi cầm lấy cây gậy đi bộ. Tim anh tràn ngập sự nhẹ nhõm và buồn bã – và bên dưới tất cả những cái đó, là cơn tức giận sôi sục trước những gì Valigny đã làm.

    Khi anh bước xuống đường, làm lơ ánh mắt liếc đầy bất mãn của Trammel, Rothewell cảm thấy tự do một cách kì lạ. Anh tin rằng, cho dù Camille không thể tin đi nữa, Halburne đã đúng trong nhận định của mình, và như thể một gánh nặng vừa được cất khỏi anh. Đó là nỗi đau luôn thường trực của Camille. Sự bức bối khi phải chịu đựng một kẻ mà anh đã đi đến chỗ khinh miệt. Giờ Valigny không là gì – gần như không còn là gì – với anh hết.

    Về phần Camille, cô cần gạt Valigny khỏi trí nhớ. Chừng nào cô chưa thể làm được điều đó, phần quá khứ ác mộng của cô sẽ không bao giờ chấm dứt hoàn toàn. Cô cần bắt đầu một cuộc đời mới, với một người cha sẽ yêu thương và nâng niu cô như một con người đặc biệt. Và cô xứng đáng được đi giữa cuộc đời và xã hội với mái đầu ngẩng cao, không cần lo sợ có kẻ chắn ngang đường và hủy hoại niềm vui của cô. Nhưng quan trọng hơn hơn cả, cô cần được vững tâm.

    Đó là điều tối thiểu anh có thể làm trong hoàn cảnh này, Rothewell quyết định vậy khi anh rời Mayfair để băng qua Park Lane. Anh không bị nỗi ham muốn Camille che mờ đến mức không nhìn ra sự thật trần trụi. Camille lấy anh vì cô không còn lựa chọn nào khác. Và phần vì – bất chấp vẻ tự tin bề ngoài của cô – cô cảm thấy mình không được yêu mến và chẳng gây được cảm tình cho ai. Mẹ cô ích kỷ về mặt tình cảm, cha cô thì là dạng độc ác thành thần.

    Men theo lề công viên Hyde Park, Rothewell dừng bước, nhìn gần như trân trân vào đàn thiên nga đang bơi trên hồ Serpentine. Anh nhớ lại ngày anh đưa cô đến đây. Anh đã phơi bày tâm hồn mình ra sao, và chờ đợi sự chỉ trích của cô. Sự ghê tởm của cô trước những việc làm của anh đối với anh trai mình. Nhưng chỉ có sự thấu hiểu, và sự thông cảm hơn mức anh xứng đáng.

    Giờ Camille đã có cha; một người cha sẽ thương yêu cô trọn đời nếu ông có cơ hội. Và cô con gái cưng của Lord Halburne – dù có dính bê bối hay không - ắt sẽ chẳng đời nào hạ thấp mình để lấy một người như Rothewell.

    Lúc này đây có thể Camille đang vịn tay Halburne bước lên cỗ xe lộng lẫy của bá tước. Cô sẽ bắt đầu bước vào cái thế giới thanh cao mà anh đã từng hy vọng tặng nó cho cô, nhưng là con gái của Halburne, cái thế giới đó hiển nhiên thuộc về cô. Giờ đây cô có hối hận vì đã lấy anh không? Điều đó đâu còn quan trọng. Nó đã xảy ra rồi. Giờ nhiệm vụ của anh là giảm nhẹ những hối hận của cô. Rothewell quay lại vỉa hè. Trái tim anh có nặng trĩu hơn. Nhưng lí do của anh vẫn chính đáng.

    Tại Tattersall, phòng đặt tiền rộng lớn của Jockey Club chỉ còn độc những con bạc rắn mặt nhất. Những người mua thuần túy đã tràn ra ngoài chờ phiên đấu giá buổi chiều khai mạc. Như thường lệ, Lord Nash ngồi ở chiếc bàn của mình, xung quanh là các tay cá ngựa bạn hữu. Cả đám chụm đầu tranh cãi sôi nổi về chủ đề được ghi trong sổ cá cược. Nhiều người gật đầu với Rothewell khi anh rẽ đám đông đi vào, một số còn gọi tên anh. Vừa quét mắt nhìn quanh. Rothewell vừa lơ đãng gật đầu đáp lại họ.

    Đương lúc băng qua phòng, Nash trông thấy Rothewell và gọi anh. Rothewell giơ tay đáp lại, nhưng không dừng bước. Đến cổng vòm dẫn ra sân trong, anh nhìn thấy đối tượng của mình. Bá tước Valigny dựa vai vào khung cửa, đang thao thao kể một câu chuyện về tầng lớp nô lệ cho một đám các gã choai choai có khiếu thưởng thức tầm thường.

    Valigny, có lẽ cảm nhận được ánh nhìn chiếu tướng của Rothewell, ngước lên và tắt ngay nụ cười buồn nôn của mình. “Ngài Rothewell!” Bá tước giơ cả hai tay chào hỏi. “Này các anh, con rể tôi đấy.”

    “Valigny.” Giọng Rothewell lãnh đạm.

    Rothewell đi đến đâu, đám đông rẽ ra như sóng biển đến đấy, nhiều người trong số đó chọn thời điểm này để tản đi với những tia nhìn khó chịu. Có lẽ sự căng thẳng đã hiển hiện rõ rệt.

    “Anh bạn, anh đã bỏ rơi cô dâu xinh đẹp của mình rồi sao?” Valigny hỏi trong tiếng cười ha hả. “Tôi hy vọng anh không gửi trả lại con bé! Suy cho cùng một giao kèo dù khó nhằn đến đâu vẫn cứ là giao kèo, phải không?”

    Một trong những gã trai bật cười hinh hích. Ánh mắt lạnh lùng từ Rothewell nhanh chóng dập tắt nó – rất nhanh. Tuy nhiên khi gã quay lại để cảnh báo cho Valigny, nắm đấm của Rothewell nhằm đúng lúc ấy thu lại và thụi vào mặt Valigny.

    Cú đấm có thể không định trước, nhưng nó thỏa mãn tợn. Như trong động tác quay chậm, con mắt bá tước trợn tròn, đầu giật ra sau, và lão loạng choạng lùi vào khoảng sân lót đá cuội, hai cánh tay khua loạn. Rothewell thong thả bước theo.

    Sâu trong các góc tối của hành lang, một sự im lặng nặng nề bao trùm phòng đặt tiền và không gian xung quanh. Rothewell túm lấy cổ áo hoa hòe hoa sói của Valigny và kéo giật lão lên. “Ông biết Camille là con gái của Halburne từ bao giờ?”

    Hoảng sợ bày ra mặt Valigny, nhưng lão nhanh chóng khôi phục lại. “Cứ cho thế gian thấy anh là một con lợn thô lỗ như thế nào đi, Rothewell.” Giọng lão khinh khỉnh. “E rằng tôi phải yêu cầu một cuộc đấu súng vì danh dự.”

    “Tốt nhất là thực hiện luôn đi, đồ khốn.” Rothewell lắc cho lão phát nữa. “Chỉ có loại ngu xuẩn mới tin ông trên đấu trường – và tôi đang vô cùng thích thú được giết ông bằng hai bàn tay trần.”

    Bá tước ngẩng dần lên – và nét sợ hãi nhá lên trên mặt lão. “Cứu tôi với!” Valigny kêu toáng lên, mắt đảo khắp sân. “Tên này bị điên rồi! Hắn tấn công tôi như thú dữ ấy.”

    Nhưng tiếng tăm của Valigny đã quá nổi. Những người có mặt trong sân chỉ quay về tiếp tục câu chuyện dang dở của mình. Valigny cất tiếng cười gượng gạo.

    “Trả lời câu hỏi của tôi không thì bảo!” Rothewell tròng nốt bàn tay kia quanh cổ Valigny, nhấc lão đứng chới với trên đầu ngón chân, rồi bóp mạnh. “Bao lâu rồi,” anh chậm rãi nhắc lại. “Từ khi ông biết Camille là con gái của Halburne.?”

    Miệng bá tước méo xệch. Lão vùng về phía sau, bất thần tung nắm đấm vào Rothewell. Cú đấm trúng đích, nhưng nhẹ hều.

    Rothewell thả lão xuống, rồi chọc đầu ngón tay vào ngực lão. “Tôi đã hỏi thì nhất định phải có câu trả lời, đồ khốn kiếp,” anh gầm gừ.

    Valigny cười khẩy. “Thằng nhà quê thuộc địa kia! Mày tưởng tao ngu sao?”

    Có gì đó trong Rothewell vỡ ra, và một cơn thịnh nộ khủng khiếp tràn ngập trong anh. Anh tung một cú đấm móc từ dưới lên, nó đáp ngay dưới cằm Valigny, khiến đầu lão một lần nữa bật ngửa ra sau. Cơn giận dồn nén suốt ba mươi năm bùng nổ, và Valigny là một cái bao cát hoàn hảo.

    Valigny bám vào trụ vòm giữa sân, điên cuồng nhìn xung quanh. Thấy chẳng còn lối thoát nào khác, lão liền lao vào Rothewell. Rothewell xoay người khiến cú đấm sượt qua tai trái. Được đà, Valigny tung một cú đấm mạnh hơn, trúng quai hàm Rothewell. Đúng cái anh cần đây. Một lí do để dần cho lão già này nhừ tử.

    Sau đấy đúng là một cuộc loạn đả, với cảnh Rothewell đấm Valigny như giã gạo dưới nền sân bẩn trong lúc xung quanh có chí ít hai chục quý ông lẳng lặng đánh dấu danh sách đấu giá của mình, như thể chẳng có gì bất thường đang diễn ra. Bá tước phản công được vài đòn, rồi túm eo Rothewell và thúc vào hạ bộ anh trong một cố gắng vô ích. Lập tức Rothewell quật lão xuống đống rác trong sân và chèn đầu gối lên ngực lão, nhưng Valigny đã đẩy ngã anh.

    Cả hai cùng lăn tròn một vòng rồi loạng choạng đứng lên, Valigny lúc này mới hổn hển thở lấy hơi. Rothewell tiến tới định cho lão đo đất lần nữa, nhưng bằng một động tác nhanh gọn và liều lĩnh, Valigny dùng giày ngáng vào sau chân anh khiến Rothewell khuỵu xuống. Cả hai cùng ngã xuống nền sỏi, quần thảo nhau bằng nắm đấm và những cú đá, nhưng bá tước nhẹ hơn ít nhất cũng gần hai chục ký, và rõ ràng cả đời không phải đấu tranh để sinh tồn. Chẳng mấy chốc Valigny đã nằm thẳng cẳng, không ngừng nôn ọe ra đất. Phải vận hết tự chủ Rothewell mới không bóp cổ lão.

    “Đừng có quằn quại nữa,” anh gằn giọng, “kẻo tôi giết ông đấy.” Rothewell chặn một đầu gối lên xương ức lão và ấn xuống.

    Valigny rối rít xua cả hai tay. “Đừng đừng!” lão kêu lên. “Đừng đánh vào mặt nữa! Lạy Chúa, đừng có nhằm vào mặt!”

    Rothewell cho lão một cú đấm giữa mặt. Máu trào ra từ mũi lão, chảy xuống cằm và loang trên cổ áo. Một niềm thỏa mãn xác đáng ngập tràn trong Rothewell. “Cú đấm đó,” anh nghiến răng, “là dành cho tôi. Cú còn lại là phần của Camille.”

    Đầu tiên anh xoay mặt Valigny ấn một bên má lão xuống bãi nôn mửa pha lẫn máu của lão. Rồi anh cúi thấp xuống, gần như kề miệng vào tai bá tước. “Giờ thì trả lời câu hỏi của tôi mau,” anh nói giọng lạo xạo. “Ông biết Camille là con gái Halburne từ bao giờ?”

    Một lần nữa cười khan đầy lo lắng. Valigny ngước lên, hai mắt đảo qua đảo lại như một con ngựa khiếp đảm. “Đúng thế, tôi đã khẳng định với nó.” Cuối cùng lão nói. “Là con gái của Halburne thì có ích lợi gì cho tôi chứ?”

    “Lady Halburne bảo đứa trẻ là con ông?”

    Valigny cố gắng nhún vai. “Phải, bà ta đã bóng gió như thế.” Lão cất tiếng cười rời rạc. “Mất gì mà tôi không phủ nhận hả? Giường của Lady Halburne luôn ấm bất cứ khi nào tôi cần? Nếu tôi kiên nhẫn chờ có khi còn moi được ít tiền của bố cô ta nữa đó?”

    “Thế là để nhỡ đâu món bở rơi vào đầu, ông đã hủy hoại cuộc đời cô gái ấy và phủ nhận người cha ắt sẽ yêu thương và muốn có cô ấy?” Rothewell nhếch mép cười khinh bỉ. “Ông còn chẳng xứng để liếm gót giày Camille – và thực ra ông cũng chẳng thể làm cha nếu có ai muốn đẻ cho ông một đứa.”

    Bá tước cố gắng làm ra vẻ bị xúc phạm. “Tất nhiên là có chứ sao không!” lão tuyên bố. “Nhưng tôi dại gì. Không, ngài Rothewell ạ, con nhỏ đanh đá đó không phải con tôi – tạ ơn thượng đế đã nhân từ.”

    Rothewell xốc Valigny đứng lên, và lôi xềnh xệch lão quay lại chỗ mái vòm. Nash đứng trong bóng tối cùng hai người bạn thân, một bên vai tựa vào tường, hai ngón tay cái ngoắc vào đỉa quần khi họ đi qua.

    “Trừng trị có hơi nặng tay, ông bạn ạ,” một người nói, liếc nhìn Valigny. “Nhưng đáng lẽ phải làm từ lâu rồi kia.”

    Rothewell lầm bầm trong miệng, kéo Valigny lại, giúi lão vào lối đi bên kia. Bá tước lảo đảo cố đứng vững. “Cho ông từ giờ đến trưa mai phải cuốn xéo khỏi nước Anh,” Rothewell lạnh lùng nói. “Nếu tôi còn thấy ông lảng vảng, thì trận đòn chiều nay sẽ thành gãi ngứa so với những gì ông sẽ nhận được khi đó đấy.”

    “Anh không thể bắt tôi đi đâu được,” Valigny rít lên. “Những người trong kia đã chứng kiến anh làm những gì với tôi. Đúng là trẻ người không biết cách thương lượng. Bọn họ biết rõ anh là thứ gì – một tên côn đồ ngu đần to xác.”

    Rothewell nhìn lão kinh tởm. “Điều những người trong kia biết ấy là ông từng giở trò gian lận bắn Halburne trong một trận đấu súng, suýt nữa đã giết chết ông ấy,” anh độp lại. “Và chẳng mấy chốc họ sẽ biết ông đã chia cắt cha con ông ấy. Nhưng họ không biết bất cứ chuyện gì về trận đòn ông hứng phải hôm nay. Nếu không tin tôi, cứ mời một chánh án trong khu đến đây để xem ông có tìm được một nhân chứng không.”

    Trong một chốc, Valigny xoay sở để ưỡn thẳng người như một chú trống choai. Rồi vai lão đột nhiên sụm xuống. Ném cho Rothewell một ánh mắt phẫn hận sau chót, lão nhổ nước bọt xuống chân anh, rồi quay người lẳng lặng bước vào lối đi hẹp dẫn tới Hyde Park Corner.

    Rothewell xoay người và thấy Nash đã theo anh ra ngoài này. Ông em rể lặng thinh nhìn theo bóng Valigny, hai tay uể oải khoanh trước ngực. Vẻ hài hước, và một ánh thông cảm nào đó lập lòe trong mắt cậu ta.

    “Hãy coi đó là một bài học cho tất cả chúng ta,” cậu ta nói. “Sic transit gloria mundi.”

    Rothewell nhướng một bên mày. “Cậu định chơi chữ với thằng ít chữ nhất đấy à?”

    Nash tủm tỉm cười. “Cõi đời chỉ là phù du,” cậu ta nói đúng lúc Valigny rẽ nơi góc đường và mất dạng. “Lão ta sẽ sớm bị cho vào quên lãng thôi.”

    Rothewell bắt đầu cười.

    Nash rời khỏi khung cửa. “Không phải là thành tích tồi đối với một người bệnh,” cậu ta bình thản nói. “Nhưng anh đang làm cái quái gì dưới đây thế, Rothewell?”

    “Luyện tập nhẹ nhàng,” Rothewell đáp, đưa ống tay áo khoác lau trán.

    “Quả là vậy.” Ánh mắt Nash quét qua anh.

    “Đấy là câu chuyện của tôi,” anh lầm lì nói. “Và là câu chuyện cậu sẽ nói lại với vợ tôi.”

    Nash chỉ mỉm cười, quay sang thân mật vỗ vai Rothewell. “Valigny nói đúng,” cậu ta nói khi cả hai cùng đi vào trong. “Anh hơi có tính côn đồ đấy.”
     
    lynx, nhungnhinh783, thanhbt and 7 others like this.
  20. song vang

    song vang Lớp 7

    Cuối cùng cũng xử lí xong quyển này, về cuối ông Kieran nói những câu thật sến súa làm mình dịch chậm, vì dịch những câu đó muốn nổi da gà luôn. Cám ơn các bạn đã đọc truyện nha!!!

    CHƯƠNG MƯỜI SÁU


    “Xảy ra chuyện gì vậy?” Camille khẽ hỏi trên giường đêm hôm đó. Tất nhiên cô đang nhìn vào vết tím mờ đang bắt đầu xuất hiện bên góc mắt trái của anh.

    Rothewell kéo cô lại gần và ngả đầu lên gối cạnh cô. “Anh va vào cột đèn,” anh nhìn vào mắt cô nói. “Cái cột đèn ở phố St.James hiểm ghê.”

    Camille ngóc đầu lên vẻ dò xét. “Sao lại thế được?” cô lập tức trở nên lo lắng. “Mà anh làm gì ở phố St.James? Em tưởng anh bảo anh đi dạo dọc công viên Hyde Park cơ mà?”

    Anh nhìn cô, vuốt ve gò má thanh tú của cô bằng mặt sau các ngón tay. “Ban đầu anh đến Hyde Park, sau đấy tới St. James. Có ít việc anh cần ngó qua.”

    “Và anh nghĩ đó là vận động nhẹ nhàng hả?” cô có vẻ mất bình tĩnh. “Thật là may vì em vẫn ngồi xe hóng gió trong công viên với…với Lord Halburne lúc anh về nhà.”

    Rothewell ôm lấy gương mặt cô. “Anh mong một ngày nào đó em có thể gọi ông ấy là Papa. Phải thừa nhận là anh thấy mến Halburne. Anh có thể hình dung ông ấy muốn nghe những lời đó tới nhường nào.”

    Camille trở mình nằm ngửa và nhìn lên trần nhà. Cô trút tiếng thở dài, bộ ngực trần nâng lên hạ xuống theo nhịp thở. “Thật khó để chấp nhận chuyện này,” cô thì thầm. “Và chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết chắc chắn, đúng không? Em cảm thấy…cảm thấy mình như một kẻ lừa đảo ấy, Kieran. Chưa bao giờ em có ý nghĩ mình thuộc về nơi đây, ở thế giới này. Mà giờ…chuyện đó có thể là thật không?”

    Kieran xoay nghiêng người. Trong ánh lửa gần tàn, anh quan sát gương mặt cô, rồi hôn phớt lên môi cô. “Hôm nay anh đã gặp ông ta, Valigny ấy,” anh buột miệng nói.

    Cô nhấc đầu lên. “Thật ư? Ở Tattersall?”

    Rothewell gật đầu. “Bọn anh có một cuộc trao đổi khá thẳng thắn,” anh giải thích. “Và Valigny nhận ra cuộc chơi đã kết thúc. Nên ông ta đã thừa nhận điều đó - ồ, không phải chuyện ông ta vô sinh, ta chẳng thể trông mong chuyện đó được. Mà ông ta nói là…ngay từ đầu ông ta đã biết em không phải là con ông ta. Nó đã được ông ta xác nhận, Camille. Những gì Halburne nói với chúng ta hôm nay hoàn toàn là sự thật.”

    Đầu Camille lại ngả phịch xuống chiếc gối mềm. “Trời ơi! Ông ta…ông ta đã thừa nhận?”

    Rothewell vén một lọn tóc ra sau tai cô. “Với tính thuyết phục kha khá,” anh nhẹ nhàng nói. “Nên chuyện đã kết thúc rồi, Camille. Bất kể giữa em và Valigny đã có chuyện gì – bất kể ông ta đã khiến em khốn khổ thế nào – tất cả đã kết thúc. Em quyết định ra sao với Halburne là ở em. Không phải ở ông ấy, và không phải ở anh. Nhưng quãng đời em trải qua với Valigny đã hết.”

    Ánh mắt hai người giao nhau, Camille lại thở dài, lần này đầy nhẹ nhõm. “Tạ ơn Chúa! Ôi Kieran! Em không muốn máu ông ta chảy trong người mình một chút nào. Em giống hệt ông ngoại, phải không? Và em mặc kệ. Em thấy nhẹ hẳn người. Em không biết mình muốn cám ơn Valigny hay muốn bóp cổ ông ta nữa.”

    Rothewell không đủ can đảm nói với cô rằng vụ bóp cổ được tiến hành rồi. “Em sẽ chẳng có cơ hội làm hai chuyện đó đâu. Ngày mai Valigny sẽ quay về Pháp.”

    “Chà!” Có thể cô mang một phần tư dòng máu Tây Ban Nha, nhưng ngôn ngữ của cô vẫn tráng một lớp men khinh thường kiểu Pháp. “Valigny chẳng thể nào trụ lâu ở một nơi. Ông ta luôn trốn chạy các chủ nợ. Rồi ông ta sẽ quay lại thôi.”

    “Lần này thì không.”

    Camille quay sang nhìn anh, đôi lông mày đen thanh tú nhíu vào nhau.

    “Lần này thì không, Camille.” Kieran cố gắng tỏ ra vô can, nhưng không chịu được nhiệt. “Anh đã thuyết phục ông ta rằng không khí ở Cựu Lục địa sẽ tốt cho sức khỏe của ông ta hơn.”

    Mắt cô nheo lại bực mình. “Kieran, anh đã khỏe lại đâu!” cô quở trách. “Anh đã làm ra chuyện gì nào?”

    Anh nhún vai. “Chẳng có gì đáng kể. Em cứ hỏi Nash đi. Cậu ta cũng có mặt ở đó.”

    “Được, em sẽ hỏi,” cô đáp, rồi nhắm mắt lại như tận hưởng thời khắc này. “Nhưng hỏi anh là chắc nhất mà, phải không? Ôi chao, thế là cất được một gánh nặng lớn. Còn về chuyện anh đã gây ra thì cuối cùng em sẽ biết được sự thật thôi, và chắc chắn sẽ tố cáo anh với bác sĩ Hislop – nhưng bây giờ em sẽ chỉ buông mình trong cảm giác của sự nhẹ nhõm và…và hy vọng này thôi.”

    Không cầm lòng được, Rothewell lùa tay vào đám tóc mềm ở thái dương cô và hôn cô, lần này triệt để hơn. Họ vừa trải một màn ân ái nhẹ nhàng chưa đầy nửa giờ trước, thế nhưng anh lại muốn cô nữa rồi.

    “Ước muốn đời này của anh,” anh nói khi môi cô đã trông như bị cưỡng đoạt không chừa chỗ nào, “là khiến em được hạnh phúc, Camille. Anh làm lại cuộc đời là nhờ có em – và nhờ có em, đời mới trở nên đáng sống. Anh yêu em, Camille. Em có biết điều đó không? Em có thấy được nó trong tim anh không?”

    Cô cắn cắn môi dưới rồi lắc đầu. “Em…em không biết. Nhưng anh là một người tốt, Kieran. Em biết anh sẽ luôn là một người chồng tốt – ”

    ”Một người chồng đích thực và chung thủy,” anh xen vào.

    Cô gật đầu, làm những lọn tóc đen lay động trên gối, mắt cô mờ hơi nước. ”Em biết. Em tưởng mình chỉ lấy một người chồng hờ. Nhưng chẳng bao lâu em đã nhận ra anh là một kẻ lừa đảo không hơn không kém.”

    Cô vòng tay ôm cổ anh. Người cô áp vào người anh. Đôi môi cũng như thân hình họ hòa làm một. Thời khắc ấy tinh khiết và vĩnh hằng, và Rothewell biết chắc rằng sự an bình mà nhận thức ấy đem lại sẽ an ủi anh trong những năm tháng xế chiều.

    Nhưng đời anh đâu đã xế chiều. Nó chỉ vừa bắt đầu thôi. Anh càng lúc càng chắc chắn về điều đó. Nhẹ nhàng, anh nhích ra, đặt những nụ hôn êm dịu hơn lên khắp miệng cô, má cô, và cả mũi cô. ”Anh có cái này cho em,” anh thì thầm. ”Đợi ở đây nhé.”

    Rothewell lăn người qua lục ngăn kéo chiếc bàn đầu giường. Lúc quay lại, anh đặt vào tay cô một chiếc hộp gỗ hồng sắc chạm trổ.

    Cô chớp mắt nhìn. ”Là gì thế?”

    Anh mỉm cười với cô. ”Mục đích anh tới St.James đấy. Chúc mừng sinh nhật em. Phải, là sinh nhật sớm. Nhưng anh chưa bao giờ kiểm soát được tính kiên nhẫn của mình?”

    Camille cười, tiếng cười hết sức vui sướng. ”Ôi, bao năm nay em chẳng hề có quà sinh nhật!”

    Rothewell dùng ngón tay nâng cằm cô lên. ”Và đó là một bi kịch,” anh hạ giọng. ”Anh yêu em, Camille. Em đã làm thay đổi cuộc sống của anh – không phải, em đã trả lại cuộc sống cho anh. Và chỉ cần chúng ta còn bên nhau, hàng năm chúng ta sẽ kỷ niệm sinh nhật của em – tất nhiên là kèm theo một món quà.”

    ”Sao vậy?” cô nhẹ nhàng hỏi. ”Hành động này nghe đáng yêu thật đấy, nhưng không cần vậy đâu.”

    Rothewell do dự, tìm lời diễn tả cho đúng. ”Anh sẽ làm lễ kỷ niệm vì chính sinh nhật của em đã mang chúng ta lại với nhau,” cuối cùng anh nói. ”Là sinh nhật này, Camille. Bằng không – thừa nhận đi - em sẽ chẳng đời nào dành cho anh nhiều hơn một cái liếc mắt khinh khỉnh – và những cái liếc mắt của em thì khinh khỉnh thôi rồi, tin anh đi.”

    Trong thoáng chốc, cô lộ vẻ ngượng ngùng. ”Em đã nghĩ sai về anh,” cô mở đầu.

    ”Không đâu,” anh ngắt lời.

    Camille đặt ngón tay lên môi anh, nhẹ nhàng chặn lại. ”Em đã nghĩ sai về anh,” cô nhìn vào mắt anh. ”Và điều tệ nhất là, anh đã nghĩ sai về anh. Anh đã nghĩ sai về bản thân mình từ rất rất lâu. Và em yêu anh, Kieran.”

    ”Thật không?”

    Đôi mắt cô dịu hẳn lại, gần như mơ màng. ”Em nghĩ em đã yêu anh từ lúc nhìn thấy anh đứng ở hậu sảnh nhà Lady Sharpe,” cô thú nhận. ”Anh...đang gõ roi ngựa vào giày một cách rất sốt ruột, và trông – ô la la! Rất to lớn và xấu xa.”

    ”Thôi nào, Camille!” Anh cười phản đối.

    ”Không, là thật đó,” cô khăng khăng. ”Anh đã làm em nghẹn thở. Em đã không sao thở được mất một lúc. Từ ấy em đã biết rằng mình sẽ gặp rắc rối. Với anh. Và em sợ rằng em đã bị trời định...là phải yêu anh. Anh thấy đấy, từ giây phút đầu tiên trông thấy anh, trái tim em đã biết điều mà lí trí không biết – rằng anh là một người đàn ông tốt và trọng danh dự. Rằng em có thể tin anh.”

    ”Camille,” anh đưa cả hai tay ôm lấy gương mặt cô. ”Camille thân yêu của anh.”

    Anh lại bắt đầu hôn cô – lần này với những ý định nghiêm túc hơn – và rồi anh nhớ ra chiếc hộp. ”Anh tưởng phụ nữ được cho là những sinh vật tò mò,” anh trêu chọc, lùi lại. ”Em có định mở cái hộp đó tối nay không? Hay nó phải đợi cho đến thời điểm chính thức ngày mai?”

    ”Không,” cô cười tươi rói. ”Không đâu, em không đợi được.”

    Cô cúi xuống và mở bàn tay ra để lộ chiếc hộp nhỏ. Một cách cẩn trọng, cô mở nắp, rồi há hốc miệng. Một chuỗi kim cương ngắn nằm trên nền nhung trắng, ở giữa rủ xuống một viên hồng ngọc hình giọt lệ. ”Ôi chao, thật quý giá!” cô thì thào.

    ”Để hợp với nhẫn cưới của em. Bởi vì anh yêu em. Bởi vì anh rất đỗi tự hào khi em là vợ anh – dẫu anh chẳng xứng với em. Và bởi anh nghĩ rằng, giống như bà nội em, đỏ thẫm được mặc định là màu sắc dành cho em rồi.”

    Anh nhấc chuỗi hạt khỏi hộp. ”Quay người lại nào, cô bé.”

    Camille nghe theo, chiếc cổ cao thanh mảnh của cô dưới ánh lửa đầy sức quyến rũ. Những hạt kim cương lấp lánh khi anh nâng chúng lên, khiến cô lại thở dốc lần nữa. Rothewell thận trọng vòng nó qua cổ cô và cài móc lại.

    Nó vừa như in.

    Đoạn kết


    Lady Rothewell ngồi ở bàn làm việc, mải mê với bản đối chiếu công nợ cuối kỳ, cô không nghe thấy tiếng bản lề cửa kêu rin rít, hay cảm thấy một luồng gió mát lùa lên gác làm lay động những tấm rèm sau lưng cô.

    ”Công chúa nhỏ của ông đâu rồi?” Một giọng trầm trầm cất lên ngoài ngưỡng cửa.

    Cô ngẩng phắt lên và trông thấy gương mặt xương xương thân thuộc ló qua cánh cửa. ”Papa!” cô kêu to, quẳng bút chì qua một bên. ”Một bất ngờ thú vị!”

    ”Chào con gái.” Lord Halburne bước vào khi con gái ông từ sau bàn chạy tới.

    Cô ôm choàng lấy ông. ”Con không ngờ được gặp ba hôm nay,” cô đẩy ông ra một chút để có thể nhìn kỹ gương mặt khắc khổ của ông. ”Cơn gió nào đưa ba đến Wapping vậy?”

    Vẻ mặt ông trở nên đăm chiêu. ”Tất nhiên là vì công chúa của ba rồi,” ông vắt áo choàng lên ghế. ”Ba chợt nảy sinh mong muốn được gặp con sáng nay. Con nên nhớ ba là một ông già, và người già phải được chiều chuộng.”

    Camille cười và hôn lên má ông. ”Được chiều chuộng ba là niềm vui nhất đời của con,” cô nói. ”Isabella đang ở phòng trẻ bên cạnh. Ba dùng một tách cà phê trước nhé?”

    ”Một sự chào đón không thể tuyệt hơn.” Ánh mắt Halburne lướt quanh phòng. ”Con biết không, ba vẫn chưa thể hiểu hết chuyện này.” Giọng ông trầm ngâm, nhưng không chê trách. ”Việc con đến đây – đi cả chặng đường như thế - chỉ để ... thực ra để làm gì?”

    ”Papa!” cô cằn nhằn, kéo ông lại một chiếc ghế. ”Chỉ hai ngày trong một tuần thôi, và bởi vì con muốn thế, chứ không phải vì –”

    ”Ồ không.” Halburne vỗ vỗ bàn tay cô đầy yêu thương, rồi ngồi xuống. ”Ba đâu có chỉ trích con. Ba không hiểu được những việc con làm, nhưng ba biết đây là điều con muốn.”

    ”Cảm ơn ba.” Cô mỉm cười trìu mến với ông.

    Ánh mắt Halburne chạm phải tấm bản đồ treo trên bức tường kề bên. ”Những gì ba hình dung ở con là một quý cô sống thảnh thơi nhàn nhã cơ, còn giờ ba thấy điều đó ắt chẳng bao giờ thành hiện thực.”

    Camille cười to. ”Con là một người nhàn nhã mà ba – năm ngày trong tuần.”

    ”Nói nhảm không,” ông điềm đạm đáp. ”Năm ngày còn lại con vùi đầu vào mớ giấy tờ và sổ sách mà các luật sư của ông ngoại con không ngừng chuyển đến. Ba đã thấy hàng chồng trong văn phòng ở quảng trường Berkely.”

    ”Kieran giúp con giải quyết hết chỗ đó. Xét cho cùng nhà máy đường với nhà máy bông cũng chẳng khác nhau mấy? Chúng con đang cùng tìm hiểu cách quản lí.”

    Ánh mắt cha cô dịu lại khi quay nhìn mặt con gái. ”Con có một người chồng thật tốt. Nếu ba có được vinh dự chọn chồng cho con, ba cũng không thể chọn được đám tốt hơn. Ba thấy ba thật may mắn vì con đã tự lo cho mình rất ổn.”

    Camill lại vỗ nhẹ tay ông và chớp mắt để ngăn dòng nước mắt. Cha cô – người cha cô mới tìm thấy, đầy tình yêu thương đã đến với cô bằng một bước ngoặt bất ngờ của số phận – chỉ là một trong nhiều niềm hạnh phúc vừa ập đến trong cuộc đời cô. Từ khi Isabella chào đời, cô thầm công nhận rằng người phụ nữ hiếm khi khóc lóc này đã trở thành một kẻ mít ướt đáng xấu hổ.

    Sau khi cà phê được mang đến, hai cha con tán gẫu một lúc về thời gian nửa tháng không gặp mặt, bàn luận về chuyến đi về điền trang của Halburne. Bá tước đã lưu lại London gần như cả năm, thậm chí còn tái xuất trong giới thượng lưu một đôi lần cùng con gái. Những lời xì xào về Valigny đến giữa mùa hội đã tan dần, và cùng với đó, là sự ẩn dật và trầm uất của Halburne.

    Halburne vừa nêu lên việc ông muốn mua cho Isablella một con ngựa gỗ thì Mr. Bakely bước vào cùng xấp thư từ buổi sáng, phân chia chúng ra ba chiếc bàn mới được kê trong văn phòng.

    ”Chà!” Cha Camille cảm thán, đứng dậy. ”Bakely có việc cho con làm rồi. Ba không làm phiền con nữa. Có lẽ hôm nay bảo mẫu của Isabella sẽ lại cho phép ba đọc truyện cho con bé nghe?”

    ”Cô ấy chẳng dám ngăn cản ba đâu.” Camille đứng lên hôn tạm biệt ông. Mới được ba tháng tuổi, Isabella chưa quan tâm đến sách vở, nhưng con bé đã nhận biết được giọng nói của ông ngoại. ”Thứ Tư này ba đến ăn tối với chúng con nhé?”

    Khi Halburne đã vui vẻ an tọa trong phòng trẻ, Camille quay lại với bản báo cáo trên bàn, nhưng chưa được bao lâu Kieran đã huých cửa bước vào, một chiếc giỏ liễu gai ngoắc trên cánh tay.

    ”Cam đây,” anh đặt chiếc giỏ xuống bàn. ”Tàu Nữ hoàng Anne vừa cập bến. Anh liền nhặt ngay những quả này từ chiếc thùng tươi ngon nhất.”

    ”Kieran.” Camille đứng dậy, áp hai lòng bàn tay lên ve áo chồng và hôn phớt môi anh. ”Làm sao anh tìm được những thứ này ở bến tàu?”

    ”Tất cả đều có quy trình, như Xanthia đã nói.” Kieran hất đầu về phía chiếc áo choàng xám vắt trên lưng ghế. ”Halburne đến chơi à?”

    Camille mỉm cười. ”Ba vừa từ quê ra và nóng lòng muốn gặp Isabella.”

    ”Công chúa nhỏ của ông mà,” Kieran nói, nhìn chăm chú vào gương mặt vợ.

    Cô cười. ”Vâng, ông cũng đối xử với con bé y như một cô công chúa.”

    Kiera lại hôn cô, chớp nhoáng nhưng cháy bỏng. ”Anh nghĩ có người nên đối xử với em như một nàng công chúa,” anh nói vẻ ướm lời. ”Đêm nay chẳng hạn?”

    Camille ghé lại gần hơn. ”Ồ, chắc chắn anh có thể làm thế,” cô thì thầm bên tai anh. ”Nhưng em không phải là công chúa.”

    Bàn tay anh khum lấy má cô khiến cô bất ngờ. ”Nhưng anh nghĩ có thể đấy,” giọng anh nhẹ nhàng kỳ lạ. ”Thực ra anh nghĩ trong thâm tâm em đã biết từ lâu.”

    Cô lùi lại và bật cười. ”Anh đang nói về chuyện gì thế?”

    ”Em còn nhớ câu chuyện em từng kể cho anh chứ? Chuyện về một nàng công chúa bị bắt cóc?”

    Cô gật đầu. ”Câu chuyện tưởng tượng của một đứa trẻ. Em e rằng những đứa trẻ cô đơn có nhiều câu chuyện tưởng tượng lắm.”

    Anh đặt hai tay lên vai cô. ”Nhưng nếu em nghĩ kĩ, câu chuyện này hóa ra lại có thật. Em quả thực đã bị tên bá tước ác độc Valigny bắt cóc. Em thật sự đã bị đánh cắp khỏi cha em. Có lẽ... có lẽ tận sâu trong trái tim em đã biết điều đó ngay từ đầu? Có lẽ em luôn biết có cái gì đó đang vuột mất?”

    Camille chưa bao giờ nghĩ theo chiều hướng này. Nghe thật thảm. ”Nhưng có sự khác biệt giữa tưởng tượng và hiện thực,” cô nói, mặt sáng lên. ”Trên thực tế, không phải người cha vương giả cứu em khỏi tên bá tước ác quỷ, mà là một hoàng tử u tối và liều lĩnh – em sẽ gọi người đó là Hoàng tử Hắc ám.”

    ”Còn em là Nữ hoàng Hắc ám của anh,” anh nói, ánh mắt ôm trọn ánh mắt cô. ”Chí ít anh đã từng nghĩ về em như thế. Quá ghê gớm. Cực kỳ xa cách và hết sức vương giả trong cách em khinh thường anh. Em khiến anh cảm thấy mình như một tên thường dân mạt hạng ấy.”

    ”Không đời nào có chuyện đó,” cô thì thầm. ”Mỗi sáng thức giấc thấy anh bên cạnh em lại thấy mình giàu có không để đâu cho hết. Hôm nay em lại cảm thấy điều đó khi Papa bất ngờ đến đây. Em thật may mắn vì có ba người trong cuộc đời mình khi mà, mới hơn một năm trước em còn trắng tay. Không, còn hơn cả trắng tay nữa kia.”

    Chồng cô lắc đầu. ”Không đâu, ba người bọn anh mới may mắn khi có em, hạt nhân trong vũ trụ nhỏ bé của bọn anh. Mang lại ánh sáng và hơi ấm cho bọn anh.”

    Cô nhìn lảng đi, hơi xấu hổ trước sự nồng nhiệt trong giọng anh. Sau hơn một năm kết hôn, Kieran vẫn là người rất kiệm lời, nhưng dần dà...anh có thể nói những câu đủ khiến cô đỏ mặt.

    ”Hôm nay anh khác thường thật đấy,” cô quay lại bàn. ”Thôi đừng lãng phí thời gian nữa. Chẳng phải Mr. Hayden-Worth vẫn mong anh đến ăn trưa sao?”

    Vẻ mặt Kieran chuyển sang nghiêm túc hơn. ”Phải, bọn anh đã hẹn ăn trưa với hiệp hội giải phóng nô lệ.” Anh nhìn đồng hồ. ”Mr. Buxton dự định ủng hộ chiến dịch bãi bỏ chế độ nô lệ của cậu ta, bọn anh muốn xem xem có thể giúp gì không?”

    ”Em vẫn không hiểu,” Camille cao giọng. ”Tại sao Quốc hội chẳng hề có động thái? Ai lại có thể nghi ngờ sự đúng đắn trong lí do của Buxton chứ?”

    Kieran lắc đầu, mắt tối lại. ”Whitehall đang câu giờ bằng việc kéo dài đàm phán với chính phủ các nước thuộc địa,” anh nói, bắt đầu máy móc phân loại số thư từ của mình. ”Hayden-Worth nói đã đến lúc chúng ta thổi lửa to hơn một chút, anh thấy cậu ta nói đúng.”

    Camille nhướng mày. ”Em tự hỏi ngọn lửa Anthony dự tính là loại lửa nào?”

    ”Bunxton bảo chúng ta phải đưa vụ việc ra trước công chúng Anh.” Thư từ có vẻ không níu giữ nổi tâm trí Kieran, anh vứt chúng xuống và bước tới cửa sổ trông ra sông Thames. ”Một khi mọi người hiểu được bản chất của chế độ nô lệ,” anh nhìn ra cảnh sắc sáng lạnh buổi sớm mai, ”một khi các công dân của đất nước nhận ra rằng chỉ chấm dứt việc mua bán nô lệ không thôi chưa đủ, và những điều khủng khiếp sẽ tiếp diễn cho đến khi chúng ta phải bãi bỏ hoàn toàn nó – khi ấy Quốc hội sẽ phải hành động. Bởi áp lực sẽ rất lớn.”

    Camille tới đứng cạnh anh bên cửa sổ, vai kề vai. Giờ đó là cách sống của họ. Nền móng của cuộc hôn nhân của họ. Sát cánh bên nhau.

    Cô vô cùng tự hào về anh, và về những nỗ lực của anh – giúp Xanthia điều hành hãng Neville ở đây. Coi sóc dinh thự và tất cả những lĩnh vực kinh doanh khác đòi hỏi anh phải liên tục chú tâm. Nhưng cô đặc biệt tự hào về sự cộng tác mới đây của anh với Anthony Hayden-Worth, một chính trị gia còn khá trẻ và khá nhiệt huyết để nghĩ rằng mọi vấn nạn của thế giới đều có thể giải quyết chỉ cần người ta làm việc chăm chỉ. Có lẽ anh ta đúng.

    ”Với Anthony trong Hạ viện, còn anh và Nash trong Thượng viện...” cô trầm ngâm. ”Em nghĩ ba người các anh sẽ tạo nên một sức mạnh ghê gớm, nếu liên minh với Mr. Buxton.”

    Anh quay sang nhìn cô, nụ cười nhạt đi. ”Nhân nói đến chuyện liên minh, anh nghĩ tốt nhất anh nên quay lại Westminster.” Anh vươn tay ôm lấy cô. ”Anh sẽ đi hôn tạm biệt Isabella, hẹn gặp hai mẹ con ở nhà?”

    ”Kieran, đợi đã,” cô theo anh ra cửa. ”Em phải làm gì với những quả cam này đây?”

    Anh nhìn cô với vẻ hơi ngượng ngùng. ”Anh thèm được ăn một trong những chiếc bánh xốp cam của bà Obelienne muốn chết,” anh thú nhận. ”Xét cho cùng, anh đâu đã đến nỗi béo. Và anh đã nghĩ – nếu ta vắt một quả cam rồi cho thêm ít đường thì Isabella chắc sẽ thích lắm.”

    ”Ôi Kieran, con bé còn quá nhỏ!” Camille không nhịn được cười. ”Với lại Isabella có phải là thú cưng đâu để anh đem đồ ăn vặt trong túi ra dụ khị. Nhân nói đến đồ ăn vặt, sáng nay anh có tình cờ tuồn cho Chin-Chin một con cá trích hun khói tẩm gia vị không?”

    Mặt Kieran nghệt ra.

    Camille lườm anh. ”Đừng có trưng bộ mặt vô tội ra với em,” cô nghiêm giọng. ”Như Mr. Kemble nói thì chúng rất khó tiêu hóa. Trammel đã tìm thấy bằng chứng sót lại cạnh tủ bát – và nó còn vương ra thảm nữa.”

    Kieran kéo cô vào lòng và lại hôn cô, lần này sâu hơn. ”Đừng cau có,” anh nói khi cuối cùng môi họ đã rời nhau. ”Anh đã cảnh báo em khi em đồng ý lấy anh rồi mà.”

    ”Cảnh báo điều gì cơ?” cô hỏi.

    ”Thì anh là một kẻ rất khó ưa,” anh nói. ”Và ngoan cố hết thuốc chữa.”

    ”Chà,” mắt Camille lấp lánh, ”chí ít điều đó sẽ làm Chin-Chin hạnh phúc, nó thực sự rất ưng những thói quen xấu của anh.”
     

Chia sẻ trang này