Thảo luận Nghĩa Ngữ Điển Từ Việt: Văn, Sách… và TVE-4U!

Thảo luận trong 'Bàn Trà' bắt đầu bởi tducchau, 25/3/15.

Moderators: canaximuoi
  1. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    "... Ngày nay, Việt ngữ học đã trở thành một ngành học độc lập, và đã khẳng định được vị trí học thuật cao và giá trị xã hội to lớn trong đời sống khoa học và văn hóa Việt Nam. Nó đã được dạy như một môn học độc lập trong trường phổ thông từ lớp 1 dến lớp 12, vừa được coi là môn học đối tượng, vừa được ý thức như là môn học công cụ, học sinh phải nắm thành thạo để học tốt các môn học khác. Ở trường đại học, tiếng Việt được đưa vào chương trình chính thức... Nhiều trường đại học ở nước ngoài, tiếng Việt cũng đã được dạy chính thức như một ngoại ngữ. Đến nay đã có hàng trăm giáo sư, tiến sĩ, phó giáo sư, phó tiến sĩ chuyên ngành ngôn ngữ học đang làm việc trong các trường đại học và các viện nghiên cứu (trong và ngoài nước). Họ đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo cán bộ ngôn ngữ học cho đất nước (nói riêng) và cộng đồng người Việt (nói chung). Họ cũng là tác giả của hàng trăm bộ sách giáo khoa phổ thông, hàng chục bộ giáo trình Tiếng Việt dùng trong các trường đại học và hàng nghìn công trình nghiên cứu có giá trị, góp phần xác nhận cương vị là một ngành khoa học độc lập và giá trị xã hội to lớn của Việt ngữ học. Không thể nói khác được. Đó là ý thức và trách nhiệm, là nhiệt tâm, là sự cố gắng miệt mài cùa nhiều thế hệ các nhà ngôn ngữ học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay…

    Các ‘bậc thầy’ ấy đã nhen nhúm để rồi cháy mãi trong chúng tôi tình yêu và lòng say mê bền bỉ đối với một ngành học cơ bản, chính xác, rất tinh tế và hào hoa, có từ rất sớm trong đời sống con người nhưng lại được biết đến khá muộn mằn ở Việt Nam, và cho đến nay vẫn chưa được nhiều người ưa thích, đó là, ngành ngôn ngữ học (Linguistics). Không chỉ vậy, ‘Họ’ đã cấy vào trong chúng tôi ý thức và lòng đắm say nghề nghiệp, mà còn luôn ở bên cạnh chúng tôi, rất nghiêm khắc và rất bao dung, dìu dắt, chỉ bảo, uốn nắn, dạy dỗ chúng tôi trong suốt mấy chục năm qua để có được mỗi chúng tôi như bây giờ. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây! Uống nước nhớ nguồn! Công lao ấy thật lớn lao; tình nghĩa thầy trò ấy thật cao đẹp, cảm động và mãi mãi thăng hoa…"


    ‘Lai láng’ chút vậy cho có 'khí thế'! :p!
    Bây giờ mình xin đi vào chi tiết: Mục đích chính của topic nầy là đưa ra ‘thảo luận’ chung, mọi người tự do… ‘viết luận’, ‘chém, ném’ gì gì… thoải mái! … Để rồi cùng reset, cập nhật, hiệu chỉnh sửa đổi, thống nhất lại Quy định về chính tả tiếng Việt trong văn viết, sách và ebook tiếng Việt trên Diễn đàn TVE-4U! Đơn giản vậy thôi! :D!

    Mình dự định là sẽ ‘tập trung’ vào các đề mục, thuật ngữ như: chính tả, chuẩn, chuẩn hóa, chuẩn mực, chuẩn chính tả, chữ cái, chữ hoa, chữ thường, chữ viết, chữ viết ghi âm, chữ viết ghi âm tiết, chữ viết ghi ý, chữ viết tượng hình, chữ viết tắt; dấu câu, dấu chấm, dấu chấm hỏi (dấu hỏi), dấu chấm lửng (dấu lửng), dấu chấm phẩy, dấu chấm than (dấu cảm), dấu gạch ngang, dấu gạch nối, dấu hai chấm, dấu ngang, dấu ngang nối, dấu nối, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu nháy và dấu nháy nháy,…

    Hay các vấn đề liên quan đến: loại thể văn học, ngôn ngữ văn học, tác phẩm văn học, phong cách văn học, nghiên cứu văn học, phê bình văn học,…

    Các mục đề được trình và bày theo dạng thức: Trước là ghi chép lại ý kiến của các bậc thầy về Ngôn ngữ tiếng Việt; Sau là: phẩm bình, lựa loại, rút gọn,… lại thành các định chuẩn tiếng Việt riêng trên Diễn đàn của chúng ta…

    Còn Bạn thì sao?!?... o_O!
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/15
  2. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ... Thêm một bài cho 'lên tinh thần' thêm... :p!

    CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ VỀ
    KHẢ NĂNG DIỄN ĐẠT CỦA TIẾNG VIỆT?


    "Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, nhà thơ cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc, dẫu thiên tài, nếu thiếu công cụ tinh vi, cũng không thể hiện được tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi."

    Liệu tiếng Việt có thể là công cụ đắc dụng cho nỗ lực sáng tạo văn học hay không? Đó là vấn đề cấp thiết mà chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần đặt ra và mong được sự tham gia góp ý đông đảo. Tên người viết dường như còn xa lạ; nhưng xa lạ chưa hẳn đồng nghĩa với non kém vì tác giả, trước 1975, đã từng cộng tác với Đài Tiếng Nói Tự Do tại Sài Gòn và, mới đây, với Ban Việt Ngữ Đài RFI ở Pháp. Bên cạnh những lập luận vững vàng có giải thích, có phân tích, có chứng minh và chỉ thuần dựa trên văn bản, bạn đọc cũng nên để ý tới cách dùng câu chữ của tác giả. Hình thức văn phong ở đây cũng có thể là một dạng biểu hiện cho "thiên tài ngôn ngữ" Việt: hàm súc, hóm hỉnh, ý vị trong cách diễn tả, nhưng cũng có thể rất trí tuệ khi cần diễn ý.
    (ĐỖ BÌNH giới thiệu.)
    Tiếng Việt thường được coi thuộc loại ngôn ngữ thiên về biểu cảm hơn là diễn ý. Sự đánh giá này có lẽ do đặc tính của tiếng Việt là cụ thể, đầy đủ âm sắc rất thuận lợi cho việc sử dụng hình tượng, thanh âm để diễn tả cảm tình cảm nghĩ với âm hưởng sắc thái đặc biệt (avec nuances et resonnances particulières). Nếu đặc điểm này có đóng góp đáng kể cho nghệ thuật thi ca, trái lại, trong trao đổi hàng ngày nó thường được xử dụng dưới hình thức ám chỉ, ví von để gợi ý, tỏ tình, khen tặng một cách tế nhị kín đáo, hoặc để nói bóng nói gió, nói xỏ xiên với ngụ ý chê bai nhưng không gây mất lòng.

    Đặc điểm này có thể được coi là sở trường riêng của tiếng Việt và làm nên điều mà ta có thể coi như thuộc về thiên tài ngôn ngữ (le génie de la langue) của tiếng Việt. Nhưng tiếc thay cái yếu tố thiên tài ngôn ngữ ấy, thay vì nên khai thác làm sở trường, người ta lại biến nó thành sở đoản, chỉ đem ra vận dụng trong các giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong cách nói trào lộng hài hước nhằm chê bai nhạo báng, hoặc nói bóng nói gió, nói xỏ nói xiên để khích bác châm chọc. Hậu qủa là tiếng Việt bị đánh giá thấp, cho là thiếu khả năng để trình bày mạch lạc hay diễn tả ý tưởng thâm trầm sâu sắc.

    Thành kiến này là do thói quen sử dụng chữ nghĩa cẩu thả bừa bãi mà ta có thể phát hiện dễ dàng trên một số trang mạng hay các trang báo hàng ngày. Trong sinh hoạt văn nghệ, tiếng Việt lại thường được khai thác tiêu cực như là thứ ngôn ngữ châm biếm hài hước để chọc cười thiên hạ (Thí dụ như cặp bài trùng M.C Nguyễn Ngọc Ngạn – Cao Kỳ Duyên với những mẩu chuyện đàn bà ghen tuông trong các băng video Thúy Nga, hay cặp Hoài Linh – Vân Sơn nhái lai giọng Quảng, giọng Bắc trong các cuộn băng Asia… để, mỗi lần, lại đánh thức nơi khán giả tới dự buổi thâu băng những tràng cười phản xạ dễ dãi). Thành kiến này, chẳng những không bị phản bác, lại còn được một vài học giả uyên bác tỏ ý tán đồng.

    Trong một bài mang tựa đề "Văn học trong một nước mù chữ" đăng trên tạp chí Hợp Lưu số 38, tháng 12/97 & 1/98, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc có nhận định về tình trạng nhếch nhác, kém phát triển của văn học Việt Nam. Theo ông nguyên nhân chủ yếu là do văn học Việt nam mang đặc tính truyền khẩu hơn là thành văn. "Khuynh hướng truyền khẩu này, (nếu) một mặt làm phát triển tính chất cụ tượng trong tiếng Việt, (thì) mặt khác, lại làm giảm bớt tính chất duy lý trừu tượng của nó… Điều này khiến chúng ta không những không có một nền triết học hoàn chỉnh mà cũng không có, hoặc có rất ít, những thể loại văn học thiên về tư duy trừu tượng như văn chính luận, biên khảo, lý luận và phê bình văn học." (Bdd, HL số 38, tr. 74). Tiếp theo đó ông Nguyễn Hưng Quốc còn tìm cách giải thích nguyên nhân của tình trạng kém cỏi này trong một bài viết chung với Hoàng Ngọc Tuấn mang tựa đề "Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo" đăng trên tạp chí VĂN số 37 & 38, tháng Giêng & Hai-2000 (tr.13-30). Theo nhận định của hai vị học giả, văn học nước ta sở dĩ trì trệ, không phát triển được trước hết là do tiếng Việt là thứ ngôn ngữ thực dụng chỉ thích hợp cho thói quen "nói bóng nói gió, nói cạnh nói khóe; ngay cả khi chửi nhau thì cũng thích xỏ xiên hơn là đốp vào mặt." (Bdd, Văn số 37 & 38, tr. 14). Tệ hại hơn nữa, hai ông Quốc và Tuấn còn cho rằng "tiếng Việt đã được giữ gìn và phát triển với tư cách là ngôn ngữ của một dân tộc nô lệ" (Bdd, tr. 17). Và, với một ngôn ngữ nô lệ như thế, ta khó mà xây dựng được một nền văn học có tầm vóc quốc tế; bởi vì, theo hai ông, "… ở một phương diện nào đó, trước khi viết ra một bài thơ hay một bài văn, chúng ta đã bị viết bởi chính cái ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng. Chúng ta là tác phẩm của ngôn ngữ trước khi và trong khi là tác giả. Điều này giải thích tại sao phong cách của một người viết thường khác nhau khi họ sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau: sự khác nhau ở đây không xuất phát từ cá tính hay trình độ của người viết mà chủ yếu xuất phát từ ngôn ngữ." (Bdd, tr. 26). Nhận định này, tôi e rằng có phần chủ quan và hơi vội vã. Rất có thể hai ông Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã bị chi phối ít nhiều bởi phát biểu của một sinh viên mà hai ông đã trích dẫn trong phần mở đầu cho bài viết: "Viết văn bằng tiếng Việt mà viết rõ ràng như tiếng Anh thì… dở lắm thầy ơi!" (Bdd, Văn số 37&38 tr. 14). Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận đáng tiếc dễ dẫn đến sự rẻ rúng tiếng Việt, coi nó không phải là thứ ngôn ngữ có khả năng dáp ứng được nhu cầu sáng tạo. Hậu quả là các thế hệ con cháu người Việt ở hải ngoại ngày càng lơ là, bỏ rơi tiếng mẹ đẻ. Riêng với các em muốn theo đuổi sự nghiệp văn chương, dường như đang manh nha một phong trào khuyến khích các em nên viết thẳng bằng thứ tiếng quốc gia nơi các em trưởng thành, làm như chỉ sáng tác bằng tiếng nước người các em mới phát triển được tài năng của mình.[1]

    Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc dẫu thiên tài, nếu thiếu dụng cụ tinh vi, cũng không thể hiện được hết tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ nghề tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. Nhà văn Cao Hành Kiện nay mang quốc tịch Pháp, hiện sống tại Pháp và có những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhưng, nếu tôi nhớ không lầm, tác phẩm LINH SƠN đem lại cho ông giải thưởng văn hoc Nobel dường như được viết ra bằng tiếng Hoa rồi sau đó mới được dịch ra đủ thứ tiếng trên thế giới thì phải [2]. Ngày nay tiếng Pháp được coi là ngôn ngữ của một nền văn hóa cao. Nhưng trong suốt thời kỳ Trung cổ tiếng Pháp bị hàng giáo phẩm và giới viện sĩ rẻ rúng, coi là ngôn ngữ tầm thường, dung tục chỉ dành cho giới bình dân thất học. Khi cần soạn bài giảng hay viết sách, các giới này đều thảo bằng tiếng la tinh. Phải chờ tới thời Phục Hưng (la Renaissance) khi Du Bellay đại diện thi đoàn La Pleiade soạn ra bản "Défense et Illustration de la langue française" (1549) để bênh vực và minh sáng cho tiếng Pháp, tiếng Pháp mới được đưa vào trước tác, và từ đó cống hiến cho kho tàng văn học thế giới không ít tác phẩm có giá trị.

    Qua gương nhóm La Pleiade, ta có nên đặt câu hỏi: tiếng Việt liệu có là công cụ hữu hiệu cho phép nhà văn, nhà thơ phát huy được tài năng sáng tạo của mình hay không? Hay, để làm nên những tác phẩm có tầm vóc quốc tế, ta phải kêu gọi tới sự chi viện của các lý thuyết văn học ngoại lai hoặc cầu viện tới một thứ tiếng nước ngoài? Theo nhận xét của tôi, tiếng Việt không phải chỉ có giỏi về ăn nói ngụ ý hàm súc (hay chua ngoa móc méo) đâu. Trái lại, nếu ta chịu khó suy nghĩ đắn đo, cân nhắc thận trọng trong cách sử dụng câu chữ, ta sẽ thấy tiếng Việt có thừa khả năng đáp ứng cho yêu cầu phân tích chính xác hay diễn đạt tư duy trừu tượng chắc gì các ngôn ngữ được coi thuộc loại trí tuệ nhất đã qua mặt nổi.

    Cách đây khá lâu tôi có người quen đi thăm Việt Nam về mua tặng cuốn "Nguyễn Bính, thơ và đời", của Nhà xuất bản Văn Học Hà Nội – 1998. Tôi hoan hỉ đón nhận xong lại đem xếp ngay vào tủ sách ở một vị trí khá ưu đãi, có lẽ do ấn tượng tốt đẹp về những vần thơ lục bát đã đọc hồi còn ở lứa tuổi mười sáu đôi mươi.

    Mãi tuần qua, gặp dịp mấy ngày nghỉ lễ bắc cầu, tôi mở tủ sách định chọn một cuốn để đọc giải trí. Không hiểu sao bàn tay tôi như được ai hướng dẫn tự động mò tới hàng kệ có xếp cuốn "Nguyễn Bính" và tôi cũng ngoan ngoãn cầm lấy. Tôi cho rằng đây là một phản xạ thuộc về chức năng nhằm đáp ứng một nhu cầu ngấm ngầm của cơ thể. Có lẽ thời gian gần đây tôi phải động não quá nhiều để tìm cách giải mã các vần điệu mang hình thức phá thể cách tân, nào là những khoảng ngắt không gian bằng gạch chéo slash, những con chữ bị tách lìa, những câu bị đứt đoạn xuống hàng bất ngờ để, hoặc làm mới ngữ nghĩa hay gây hiệu quả xốc, hoặc tạo ra hơi thở khi lên xuống nhịp nhàng lúc rồn rập hổn hển cho đúng với mạch điệu của mốt sống văn minh dậm dật đua đòi…, thành thử đầu óc mệt phờ. Chắc vì thế tôi đâm hoài niệm đôi ba vần thơ trong sáng bình dị để tâm thần được phần nào thư giãn (cũng như cái bao tử của ta, có lúc anh ách do thừa mứa những món chiên xào béo bổ, bỗng dưng thèm được một bữa rau muống luộc chấm tương bần, lại có thêm bát nước rau vắt chanh tươi để khi húp vào, khiếp, mới thấy nó mát cái ruột làm sao!).

    Tình cờ mở sách rơi đúng trang 34-35, gặp bài thơ mang tựa đề "Chân quê" thấy có vẻ gần gũi thân quen nên quyết định thử đọc chơi. Vì chỉ có ý đọc chơi nên tôi sẽ không đọc với cặp mắt hau háu của nhà phê bình để phân tích, phẩm bình giá trị thi tính của bài thơ. Trái lại tôi sẽ đọc rất buông thả, để mặc cho trí tưởng tượng nương theo lời chữ, vần điệu à ới mà tự do bay bổng. Như cái thuở là thằng cu tí còn mặc quần thủng đít tóc để chỏm trái đào, những lúc nằm rúc nách mẹ tôi một tay ngón cái đút miệng tay kia rờ tí mẹ, cặp mắt riu riu theo tiếng võng đu đưa kẽo kẹt và, tùy theo lời ru của mẹ: khi thì "cái ngủ mày ngủ cho ngoan", khi thì "trăm năm trong cõi người ta", khi thì "em ơi! em ở lại nhà", lang bang nhớ tới các mẩu chuyện lúc thì Thạch Sanh, lúc thì Cô gái quàng khăn đỏ, lúc thì Công chúa ngủ trong rừng… để rồi ngủ quên lúc nào không hay. Vậy là tôi đã chọn đọc bài thơ này không phải như là một bài thơ, mà như là nghe kể một câu chuyện bằng văn vần theo truyền thống một dân tộc mà thực chất, theo nhận định của Nguyễn Hưng Quốc ký tên Nguyễn Ngọc Tuấn, không phải là một dân tộc thi sĩ mà chỉ được tiếng huyền thoại về một nước thơ (Nguyễn Ngọc Tuấn: Huyền thoại về một nước thơHợp Lưu số 18 tháng 8&9 năm 1994, tr.64-75).

    Hôm qua em đi tỉnh về
    Đợi em ở mãi con đê đầu làng

    A, ra đây là lời kể lể của một chàng trai nông thôn đi đón người yêu thăm tỉnh về. Anh không chỉ ra đầu làng nơi hai người vẫn thường hẹn hò, mà leo lên tận bờ đê để có thể thấy nàng từ xa. Anh hồi hộp mong ngóng lắm, phần nhớ nàng, phần thấp thỏm về chuyến đi của nàng. Thời nay, người ta từ Mỹ từ Pháp về Việt Nam cứ xoành xoạch như đi chợ ấy; nhưng vào thời Nguyễn Bính chỉ đầu thôn với cuối thôn cũng cho là xa rồi. Vậy mà nàng lại ra tận tỉnh cơ, là nơi anh nghe nói có nhiều cám dỗ lắm, làm sao anh không bồn chồn cho được. Thế rồi bóng ai thấp thoáng chân đê. Nhìn vào dáng đi, đúng là nàng. Nhưng bóng người càng tiến gần, anh đâm ngờ ngợ. Qua dáng đi thì đúng là nàng, nhưng sao cách ăn vận lại không phải là nàng. Rồi khi nhận ra đúng là nàng, anh bật miệng than:

    Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
    Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

    Quan sát nàng từ đầu tới chân anh tự hỏi:

    Nào đâu cái yếm lụa sồi?
    Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
    Nào đâu cái áo tứ thân?
    Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

    Trời đất ơi, thế này có khổ thân tôi không cơ chứ! Em mới ra tỉnh có một ngày mà đã vội đua đòi cách ăn mặc dân thành thị. Em mà đi về thêm vài lượt nữa tránh sao khỏi bị mấy thằng bẻm mép láu tôm láu cá trổ tài tán tỉnh dụ khị em, tìm cách cuỗm em đi để hại đời em. Khi đó chắc là anh chỉ biết ngước mắt lên trời mà than: "Mất em rồi, xa em rồi! Chiều hôm nay trên đê vắng, anh đi về chỉ có anh!" Và, cho dù một buổi chiều cuối đông mưa dầm gió bấc, nàng có khăn gói quả mướp quay về thì người đẹp mà anh vẫn trăm nhớ ngàn thương, khi ấy, chắc cũng chỉ như bông hoa đã tàn nhụy đã phai mà thôi. Ý nghĩ này làm anh quíu quá nên anh vội nài nỉ bằng lời lẽ bộc trực của một tâm hồn cục mịch:

    Nói ra sợ mất lòng em
    Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
    Như hôm em đi lễ chùa
    Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

    Và để tranh thủ được nàng hơn nữa, anh không ngần ngại cầu viện tới bố mẹ; rồi còn dùng lối nói vè dân gian tính mượn sức mạnh quần chúng gây áp lực:

    Hoa chanh nở giữa vườn chanh
    Thầy u mình với chúng mình chân quê.

    Nhưng vừa đọc tới hai chữ "chân quê" tôi giật mình đánh thót một cái: Thôi hỏng rồi! Cái kịch bản tôi đang dàn dựng theo trí tưởng tượng, thế là không đứng vững được! Phải chi Nguyễn Bính viết câu thơ đó như sau: "Thày u mình với chúng mình nhà quê" thì câu chuyện được xuôi buồm thuận gió biết mấy. Đằng này ông lại chơi khăm, ông định xỏ tôi, ông đi dùng hai chữ "chân quê" mới đâm ra rắc rối cái sự đời. Đành rằng nhà quê hay chân quê đều nói lên bản sắc đồng quê, nhưng chúng lại không đồng nghĩa vì hai từ ghép này bộc lộ hai tâm trạng phản ánh hai trình độ nhận thức khác nhau. Nhà quê có thể coi như đồng nghĩa với quê mùa: chúng cùng mang âm hưởng của một sụ đánh giá thấp, một ngụ ý chê bai dè bỉu; đồng thời chúng còn biểu lộ một thái độ an phận thủ phần. Chân quê, trái lại, là sự kết hợp của chữ "chân" gốc hán với chữ "quê" gốc việt. Mà chữ "chân" khi ghép với một chữ nào đó thường đem lại cho chữ được ghép chung với nó một phẩm tính, một giá trị làm cho chữ đó trở nên sáng giá, thí dụ như chân lý, chân chính, chân phương, chân thực, chân chất, chân thiện mỹ… Bởi vậy tôi không tin là từ "chân quê" có thể được thốt ra từ một nông dân cục mịch như trong kịch bản tôi đang dàn dựng. Thế là mặc dầu đã định bụng nghỉ chơi với trí tuệ một bữa, nhận thức này buộc tôi phải đọc lại chăm chú hơn để tìm hiểu ý nghĩa bài thơ cho đúng với quan niệm sáng tạo của Nguyễn Bính.

    Nhờ sẵn chủ ý đọc lại với tinh thần cảnh giác nên vừa gặp chữ "mãi" trong câu: Đợi em ở mãi con đê đầu làng, tôi hửi ngay ra có cái mùi khang khác. Bình thường ta hay dùng chữ mãi làm trạng tự thời gian và chữ tận làm trạng từ nơi chốn, như lời thỏ thẻ sau đây của cô gái với người tình (nghe đâu là một Việt kiều cao cờ cũng yêu nước lắm thì phải) mà có lần tôi nghe lóm được: "Anh hứa đi, anh hứa yêu em mãi mãi đi (và mua tặng em chiếc nhẫn hột xoàn mười li đi), rồi em nguyện sẽ theo anh tới tận góc bể chân trời". Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại viết: Đợi em ở mãi con đê đầu làng. Như vậy nhân vật là tác giả câu này đã chọn chữ mãi với dụng ý hẳn hoi, nhằm nhấn mạnh tới yếu tố thời gian. Không phải thời gian vật lý mà là thời gian tâm lý: chữ mãi gợi ý cho ta về một sự chờ đợi lâu dài, lâu thiệt là lâu. Nhưng thế nào mới gọi là lâu? Nửa giờ? Một giờ hay nửa ngày? Điều này không quan trọng. Khi người ta nôn nóng trông đợi một điều gì thì chỉ cần khoảnh khắc cũng đã thấy lâu rồi. Bằng chữ mãi để bộc lộ sự sốt sắng nhiệt tình của mình đồng thời cũng là hình thức kể công, tác giả câu nói, nếu không là con cháu ông đồ, ít ra phải có lui tới sân Trình cửa Khổng nên cũng võ vẽ ăn mày được đôi ba chữ nghĩa thánh hiền.

    Sự kiện này có thể kiểm chứng nếu ta để ý tới hai chữ rộn ràng ở câu thơ kế tiếp: Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng. Trước hết là cách dùng chữ táo bạo có thể coi như phá thể cách tân của nó: Thông thường ta quen dùng hai chữ rộn ràng như tính từ đi kèm một danh từ chỉ hành động (bước chân rộn ràng) hay với một danh từ chỉ tâm trạng (lời ca rộn ràng), hầu như chẳng bao giờ với một danh từ chỉ sự vật (tấm áo rộn ràng). Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại có ý sử dụng hai chữ rộn ràng làm động từ chứ không phải tính từ.

    Cách sử dụng làm thay đổi bản chất và chức năng của loại từ (từ tính từ sang động từ) có hai tác dụng: một là, khiến cho câu chuyện đang ở trạng thái tĩnh chuyển sang trạng thái động, đang ở thể kể chuyện và mô tả biến sang hoạt cảnh; hai là, bộc lộ được tâm trạng của cô gái khiến ta nắm bắt được hai phản ứng tâm lý khác nhau giữa nhân vật nông dân cục mịch trong kịch bản một và nhà nho nông dân trong kịch bản hai.

    Trong câu thơ khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, bốn chữ khăn nhung quần lĩnh được nêu lên trước tiên biểu hiện cho cái gì đập ngay vào mắt người đứng đợi. Bởi vậy anh nông dân chất phác mới tá hỏa tam tinh khi thấy người yêu thay đổi hẳn cách trang phục và, sẵn mang mặc cảm thua kém, anh vội van xin nàng hãy giữ nguyên quê mùa để chịu cho anh cưới hỏi mà về ăn ở với anh.

    Nhà nho nông dân trái lại, nhờ có kiến thức hơn nên sáng suốt hơn, rành tâm lý hơn, bình tĩnh hơn. Anh không chỉ dò xét người yêu qua cách ăn vận mà còn qua dáng đi bộ tịch của nàng. Giả dụ cô gái đã ăn phải bả xa hoa thành phố rồi, khi nhìn thấy bộ mặt đưa đám của anh nông dân thế nào cô cũng làm bộ ngúng nguẩy và nguýt xéo một cái ra điều mắng vốn: Nỡm chưa! Đây có bảo đấy đi đón đây đâu mà đấy đến đứng đây làm gì? Trường hợp cô nàng dại dột chẳng may đã lỡ bị với ai mất rồi, thì khi giáp mặt người tình chắc cô sẽ không tránh khỏi lúng túng trong một vài cử chỉ che dấu ngượng ngùng. Đằng này hai chữ rộn ràng cho ta thấy cô gái không chỉ chân bước le te mà hai má còn ửng hồng, khuôn mặt tươi rói. Nàng như vừa muốn làm cho chàng trai phải lé mắt với bộ trang phục tỉnh thành của mình vừa muốn nói rắng: Ngó em đi nè! Em ăn bận đẹp dzầy là dzì anh đó, là muốn được anh thương em nhiều hơn, anh có biết hông!

    Vậy là những bước chân rộn ràng của cô gái đủ trấn an chàng trai nông thôn về mối tình chung thủy của nàng rồi. Ấy thế mà anh nông nho vẫn than: Em làm khổ tôi! Tại sao vậy? Tuy cùng một câu than, nhưng lời than của anh nông dân và của anh nông nho lại không cùng một nội dung nên phản ánh hai tâm trạng khác nhau. Anh nông dân sẵn có mặc cảm quê mùa nên khi thấy người yêu súng sính trong bộ áo tỉnh thành, anh ta chỉ lo đến chuyện mất nàng. Lời than của anh nông nho trái lại biểu lộ một tâm trạng vừa giận vừa thương: Nhìn khuôn mặt hân hoan rạng rỡ của người yêu anh hiểu rằng nàng học cách ăn mặc tỉnh thành chỉ vì muốn làm đẹp để được anh yêu nhiều hơn. Vì vậy anh mới thương nàng, và càng thương nàng anh lại đâm ra giận nàng, hay đúng ra buồn phiền vì nàng: Em yêu! Anh biết rằng con tim em không hề lỗi nhịp với anh nhưng nó lại trật nhịp với tim anh mất rồi! Khổ quá! Hai đứa mình đã bao lần hẹn hò tâm tình với nhau bên bờ giếng cuối thôn hay bụi tre đầu ngõ mà em vẫn chưa hiểu được lòng anh. Anh thương em là thương ở cái nội dung cái nết hay làm chứ đâu chỉ ở cái hình thức nhan sắc của em. Ai đẹp bằng em là anh đã hết biết rồi, em còn bày đặt đua đòi bắt chước làm chi! Vả lại mấy cổ có gì hơn em đâu mà em phải bắt chước. Xí…, đời thuở nhà ai con gái con đứa gì mà lười như hủi ấy. Thêu thùa bếp núc chẳng chịu học, chỉ thích ăn cơm tháng thôi. Bao nhiêu thì giờ đều dành cho việc sửa mắt sửa mũi với lại shopping. Ai mà dám rước mấy của nợ ấy về, rồi sẽ có ngày phải đem thóc giống đi bán lấy tiền để ăn cho mà coi. Bởi vậy tuy thốt ra cùng một lời kêu gọi:

    Nói ra sợ mất lòng em
    Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
    Như hôm em đi lễ chùa
    Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

    nhưng hai chữ quê mùa lại có một ý nghĩa khác. Chúng cần được hiểu như một kêu gọi thách đố, một biểu hiện của tự tin tự hào về phẩm chất của mình: Không việc gì em phải mang mặc cảm quê mùa với mấy cô gái tỉnh thành ấy cả. Mấy cổ lên mặt chê bai em chứ sức mấy họ bằng em được. Em phải biết: cái ngày hội đầu xuân em đi lễ chùa ấy mà, em còn nhớ không? Lần đầu gặp em xinh xắn trong bộ áo tứ thân với chiếc khăn mỏ quạ và tấm yếm lụa sồi là anh đã phải lòng em ngay rồi đấy! Và, tuy cũng ngần ấy lời nhắn nhủ như anh nông dân:

    Hoa chanh nở giữa vườn chanh
    Thầy u mình với chúng mình chân quê
    Hôm qua em đi tỉnh về
    Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

    nhưng với anh nho sinh, hai chữ chân quê đã khiến câu hoa chanh nở giữa vườn chanh không còn là một câu vần vè ví von thường tình nữa. Nó biến bốn câu thơ kết này thành một lời nhắn nhủ đậm đà thi tính, giàu màu sắc, ánh sánh và hương vị như muốn nhắc nhở cô gái quê rằng chỉ có trong bộ y phục nông thôn mộc mạc nàng mới bộc lộ trọn vẹn cái đẹp tự nhiên thôn dã. Nhờ vậy mà hai câu cuối:

    Hôm qua em đi tỉnh về
    Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

    một lần nữa cho phép ta xác nhận rằng tác giả câu chuyện bằng văn vần này đúng là một anh đồ nông dân Bắc bộ phủ. Sau khi tâm sự và nhắn nhủ người yêu rồi, anh còn tập làm Cao Bá Quát, trầm ngâm triết lý ba xu theo kiểu "thế sự thăng trầm quân mạc vấn": Nếu người yêu của anh có đua đòi lối ăn mặc thành thị, xét cho cùng, chẳng có gì đáng trách cả. Nàng cũng chỉ ứng xử theo phương châm sống «người sao ta vậy» thường tình ở đời mà thôi. Nhưng cũng vì thế anh mới ngậm ngùi luyến tiếc cho nàng đã thiếu tự tin không biết tự hào với vẻ đẹp thuần khiết đồng nội của mình, làm hư hao phần nào hình ảnh người yêu lý tưởng trong trái tim anh.

    Kết qủa là ở hai câu kết, câu thơ lục không chỉ có là một lập lại truyền thống vần vè: ý của nó được quyện với ý của trạng từ ít nhiều trong trong câu bát để tạo ra một âm hưởng buồn khơi dậy nơi người đọc một cảm xúc mênh manh diệu vợi. Và cũng bởi có một cảm xúc buồn diệu vợi còn đọng lại nơi tôi nên, tuy có biết tác giả Nguyễn Bính đã chết, nay đã chết rồi và mặc dù có được nghe nhiều người nhắc đến tên các ông nào là Michel Foucault, nào là Roland Barthes, nào là Jacques Derrida v.v…, tôi vẫn không sao ngắt nổi một cành hoa thạch thảo để bắt nhà thơ Nguyễn Bính phải chết theo. Và sở dĩ tôi không đành lòng đi ngắt một cành hoa thạch thảo bởi vì nếu không có Nguyễn Bính thì làm sao có bài thơ Chân quê, và nếu không có bài thơ Chân quê làm sao tôi lại có được cảm xúc mênh mang buồn diệu bữa nay. Bởi vậy càng đọc bài Chân quê và suy ngẫm về cái từ được chọn làm tựa đề, tôi càng thấy tác giả qủa là một nhà thơ sáng tạo. Chỉ với hai chữ Chân quê thôi, Nguyễn Bính đã thay đổi hẳn diện mạo bản văn: Thay vì chỉ là một câu chuyện kể theo truyền thống dân gian bằng những vần điệu du dương à ới để ru em, tôi lại tìm thấy ở Chân quê một bài thơ đúng với nghĩa "thơ" trong nhiều ngôn ngữ Tây phương (poetry, poésie, poesía, Poesia, poesia) hàm ý hành động sáng tạo gắn liền với tri thức và kỹ thuật tinh luyện chuyên biệt trong phạm vi ngôn từ" theo quan điểm của Nguyễn Hưng Quốc & Hoàng Ngọc Tuấn trong bài viết đã dẫn (Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo –Văn số 37 & 38, tr.23).

    Tôi sẽ không đề cập tới vần điệu hay nhạc điệu là những yếu tố sẵn có trong thể lục bát. Ở đây tôi chỉ đề cập tới sự cách tân và tính sáng tạo trong kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ để làm mới ngữ nghĩa. Trên đây tôi đã có dịp phân tích ý nghĩa đặc biệt của các từ mãi, rộn ràng, quê mùa để minh chứng về kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bính. Nay tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm về tính sáng tạo của hai chữ "chân quê" khiến tôi phải đọc lại bài thơ từ đầu và, nhờ đó phát hiện ra cách sử dụng đặc biệt mấy từ trên giúp tôi diễn dịch bài thơ theo một hướng mới làm thay đổi hẳn nội dung, ý nghĩa, giá trị bản văn. Nếu tôi hiểu không sai lắm, thì dường như do đặc tính này, ta cũng có thể tìm thấy ở "Chân quê" một ti tí tân hình thức, một ti tí hủy cấu trúc hay một ti tí hậu hiện đại gì đó thì phải.

    Trước hết ta không thể phủ nhận từ này là một sáng tạo của Nguyễn Bính bởi lẽ nó không chỉ mới lạ ở thời Nguyễn Bính, mà ngay cả bây giờ cũng ít thấy trường hợp sử dụng nó trong những bài thơ hay truyện viết về đồng quê. Tuy chỉ cần thay thế chữ nhà (quê) bằng chữ chân (quê) là ý nghĩa và giá trị bài thơ thay đổi hẳn, nhưng việc làm không dễ dàng như ta tưởng. Trái lại nó đòi hỏi người thực hiện công việc đó phải có vừa một kiến thức tầm vóc vừa một kỹ thuật tinh luyện trong phạm vi ngôn từ mới biết kết hợp chữ chân với chữ quê thành từ chân quê khiến bài thơ bỗng trở nên sáng giá. Bởi vậy ta có thể nói hai chữ chân quê trong trường hợp sử dụng này phải là thành quả tư duy của cả một quá trình phân tích và tổng hợp nên mới đạt được mức trừu tượng hóa cao đến thế.

    Tôi không rành tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga hay tiếng Nhật nên không biết các ngôn ngữ này có một hay hai từ nào tương xứng để dịch được trọn ý từ chân quê trong câu thơ của Nguyễn Bính hay không? Riêng về phần tôi sẽ vô cùng lúng túng nếu có ai nhờ tôi dịch câu thơ này ra tiếng Pháp. Phải chi Nguyễn Bính dùng hai chữ nhà quê như mọi người, tôi sẽ dịch dễ dàng câu thơ: "Thầy u mình với chúng mình nhà quê" ra: "Nos parents et nous deux, nous sommes tous des campagnards". Nhưng để dịch hai chữ chân quê của Nguyễn Bính lúc đầu tôi có ý sửa câu dịch thành: "Nos parents et nous deux, on est paysans de souche" và nghĩ rằng cụm từ paysans de souche nói lên được cái ý nguồn gốc trong nghĩa hán của từ chân, đồng thời từ paysans để đánh dấu sự khác biệt với từ campagnards thường dược dùng với ngụ ý dè bỉu (sens péjoratif). Nhưng khi đọc lại câu vừa sửa, tôi thấy cần phải thêm một vài chữ nữa để bổ nghĩa như sau: "Nos parents et nous deux, on est paysans de souche et on en est fiers", có thế một người Pháp chính gốc mới nhìn ra được cái ý của niềm tự hào về nguồn gốc nông dân tiềm ẩn trong chữ chân. Nhưng tự hào về cái gì cơ chứ? Thế là tôi lại thấy có thêm vào mấy chữ "…et on en est fiers" vẫn chưa đủ, vì trong từ chân còn có ý nói lên cái đẹp, cái khía cạnh tích cực, ở đây là phẩm chất con người và đời sống thuần thôn dã: siêng năng, bình dị, lương thiện, sống hòa hợp với thiên nhiên… Mà muốn câu dịch diễn tả trọn vẹn ý nghĩa cái hay cái đẹp nằm trong câu thơ của Nguyễn Bính chắc là tôi còn phải thêm lời giải thích. Nhưng dịch câu thơ có tám chữ mà phải lời lẽ lòng thòng đến thế thì nó đâm ra là thẩn mất rồi, đâu còn là thơ được nữa.

    Bởi vậy tôi rất mong có những vị thuộc thành phần học thức uyên bác rành ngoại ngữ, bất cứ ngoại ngữ nào dù là tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật hay tiếng … Congo cũng được, xin mấy vị hãy làm ơn làm phúc cũng như làm giàu (đẻ con không sợ trọc đầu) dịch dùm tôi câu thơ trên của Nguyễn Bính ra một thứ tiếng nước ngoài. Nhưng phải dịch cho ra thơ mới được cơ; còn dịch để biến nó thành thẩn là tôi hổng có chịu đâu ... Ứ… Ừ… ! Nếu chỉ với đôi ba từ quí vị dịch lột được ý hai chữ chân quê của Nguyễn Bính, tôi sẵn sàng mua cặp gà mái dầu (gà lành thứ thiệt nuôi tại chuồng nhà chứ không phải thứ gà mắc dịch cúm gia cầm đâu nhá) để xin tôn vinh làm sư phụ.

    Bài "Chân quê" của Nguyễn Bính được viết ra vào năm 1936, tức là vào thời điểm nhân dân ta vừa thoát khỏi họa một ngàn năm nô lệ giặc Tầu lại rơi ngay vào vòng kiềm tỏa của một trăm năm đô hộ giặc Tây (nhưng may quá còn chưa lâm vào cảnh ba mươi năm nội chiến từng ngày). Dưới ánh sáng của các lý thuyết cách tân văn học hiên đại, "Chân quê" chỉ đáng coi thuộc loại văn học truyền khẩu trong một nước mù chữ mà trình độ dân trí, ở thời điểm này, đa số chỉ tới mức bình dân học vụ là cùng. Có lẽ vì vậy Nguyễn Bính đã chọn hầu như toàn những lời lẽ trong sáng giản dị nhất để bài thơ có thể phổ biến rộng rãi trong dân gian. Lời lẽ giản dị trong sáng đến độ Hoàng Tấn có lần trước mặt Nguyễn Bính đã phải thốt lên: "Bài thơ trần trụi tới mức như con nhộng, ai mà chẳng hiểu" (Nguyễn Bính – Một vì sao – trích hồi ký Hoàng Tấn, trong cuốn Nguyễn Bính –Thơ và Đời, tr.152). Đáp lại, Nguyễn Bính đã nhân dịp bày tỏ quan niệm sáng tác thơ của mình: "Tôi chủ trương thơ Việt viết cho người Việt, trước hết phải mang sắc thái và phong cách Việt, do đó giản dị là một điều cốt lõi. (Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường… ") – [Bdd, tr. 153 ]. Về quan niệm sáng tác này, Hoàng Tấn đã có cơ hội kiểm chứng sau một thời gian được chung sống với nhà thơ: "Nếu với thơ, Bính đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ, trước khi đưa in viết sạch sẽ nắn nót bao nhiêu, thì trong cuộc sống Bính bạt mạng buông thả bấy nhiêu." (Bdd, tr.160). Các sự kiện trên đây đều do Hoàng Tấn thuật lại trong hồi ký, nên tôi không dám chắc phát biểu của Nguyễn Bính có đúng là nguyên văn hay không. Riêng về phần câu: Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường, trong trích đoạn hồi ký được in lại, không có chỉ dấu nào cho biết phần phát biểu của Nguyễn Bính tới đâu là chấm dứt nên, mặc dù đọc đi đọc lại tới ba bốn lần, tôi vẫn không dám quyết đoán câu này là lời giải thích thêm của Nguyễn Bính hay là một nhận xét riêng của tác giả hồi ký. Dầu vậy dựa trên bài "Chân quê" và một số bài thơ khác của Nguyễn Bính, tôi cho rằng những điều Hoàng Tấn ghi nhận về Nguyễn Bính là khả tín và phản ánh được trung thực quan niệm sáng tác của nhà thơ.

    Từ đó tôi rút ra hai hệ luận như sau: Một là, văn chương Viêt Nam cho tới thời Nguyễn Bính nói chung, nếu quả đúng chỉ thuộc loại văn chương truyền khẩu gồm những bài hát vè, những chuyện kể vần điệu du dương à ới để ru em mà thôi, thì với những bài hát vè như bài "Chân quê" dân tộc ta, may mắn thay, tuy không phải là một dân tộc thi sĩ, nhưng ít ra cũng có một vài người thuộc loại Nguyễn Bính có mang chút ít tâm hồn thơ; hai là, vào thời điểm của Nguyễn Bính nhân dân ta phải sống dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp nghĩa là còn là một dân tộc nô lệ nên chỉ có thể nói thứ tiếng nô lệ mà thôi, theo đánh giá của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn (bdd). Nhưng với cách vận dụng đầy sáng tạo của Nguyễn Bính qua bài "Chân quê", tôi tin rằng bất cứ nhà bác học thực dân phú lang xa mũi lõ mắt xanh tóc hung nào là thành viên của Viễn Đông học viện (Ecole de l’Extreme-Orient) nếu có đọc bài thơ này và nắm được ý nghĩa của hai chữ chân quê trong câu thơ Nguyễn Bính thì, dù tự cho mình có sứ mạng đến khai hóa cho đám dân ngu cu thâm bản xứ, ông ta với tinh thần phục thiện, chắc cũng phải ngả nón cúi đầu xin chào thua mà thôi.

    Bởi vậy tôi không tin có thứ ngôn ngữ nô lệ của một dân tộc nô lệ và thứ ngôn ngữ tự do dành cho các dân tộc tự do, mà chỉ có những đầu óc nô lệ với quán tính tư duy nô lệ nên bắt chữ nghĩa phải mang thân phận nô lệ do cung cách phát biểu mang tinh thần nô lệ hay do căn bệnh làm biếng suy nghĩ tìm tòi của mình mà ra. Cũng vì vậy, ai muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cứ yêu tiếng nước tôi như thường. Tiếng nước tôi? Vâng tiếng nước tôi là thứ tiếng mà tôi chót yêu từ khi mới ra đời (người ơi!). Còn cái được gọi là nước tôi í à, thì nay nó lại nằm tại Pháp, tại, Đức, tại Mỹ, tại Nga, tại Úc… nghĩa là ở tận đẩu đâu, tại một nơi nào đó trên địa cầu, chứ không còn thuộc về mảnh đất mang hình chữ S bên bờ Thái Binh Dương nữa. Và cũng bởi nước tôi nay không còn là mảnh đất mang hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương nên tôi lại càng thèm được nhận (vơ) tiếng Việt là tiếng nước tôi hơn bao giờ hết…

    NGUYỄN – BẢO - HƯNG
    (Nguồn chimviet.free.fr/ngonngu/nguyenbaohung/)​

    _______

    [1] Không riêng gì các thế hệ con cháu người Viêt hải ngoại, mới đây thôi nhà văn Dương Như Nguyện, đồng thời cũng là luật sư, thẩm phán, giáo sư đại học có cho biết mình "là một con người nhạy cảm, một con người sáng tạo, lãng mạn và thích mạo hiểm, nhiều cá tính, nhưng vẫn trung thành với thông lệ và truyền thống". Trước đó nhà văn tự nhận mình "vẫn luôn có khiếu về ngôn ngữ kể cả tiếng mẹ đẻ". Thế nhưng tác phẩm của bà "Daughters of the River Huong" (Con gái sông Hương) lại được viết ra bằng tiếng Anh, và bà đã trả lời phỏng vấn của Lý Đợi qua điện thư (email) cũng bằng tiếng Anh. (Coi: Dương Như Nguyện "Lịch sử trở thành kẻ hiếp dâm, mà văn hóa là nạn nhân bị hãm hiếp" - Lý Đợi thực hiện TALAWAS, 07-03-2008, mục Văn Học Việt Nam.)

    (2) Ấn bản tiếng Pháp: "La Montagne de l’Ame", traduit du chinois par Noel et Liliane Dutrait, Éditions de l’ Aube, 1995 et 2000 pour la traduction française.
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/15
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]

    (Ghi chú: Những từ viết tắt trong bài: _Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam = UBKHXHVN; _Nhà xuất bản = Nxb.; _Giáo Dục = GD; _Khoa Học Xã Hội = KHXH; _ Đại học và Trung học chuyên nghiệp = ĐH và THCN; Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp = ĐH và GDCN; _trang = tr.; ...)

    PHẦN A

    * Chính tả

    1. Hệ thống các quy tắc xác lập các phương thức giống nhau để chuyển đạt lời nói sang chữ viết.
    2. Cách viết chuẩn các từ.
    (Nguyễn Như Ý. Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học. Nxb GD, H., 2003, tr. 49)​

    "Chính tả theo nghĩa thông thường là "phép viết đúng", thuật ngữ này dịch từ tiếng Hi Lạp Orhos (đúng) và grapho (viết). Nhưng viết thế nào cho đúng là do sự quy định của bản thân hệ thống văn tự của một xã hội nhất định. Chính tả là cái mẫu mực, tiêu chuẩn chung về mặt văn tự".
    (Nguyễn Văn Tu. Khái luận ngôn ngữ học. Nxb GD, H., 1960, tr. 264)​

    "Chính tả là một hệ thống phiên tiếng thành chữ theo các học giả, và không bắt buộc theo đúng ngữ - âm hay âm - vị".
    (Trần Ngọc Ninh. Cơ cấu Việt ngữ. Lửa thiêng 1973, chú thích (1), tr. 34)​

    "Vấn đề chính tả bao gồm nhiều vấn đề cụ thể, từ cách viết các âm vị, âm tiết đến cách viết các đơn vị từ, cách dùng lối viết hoa, các dấu câu v.v... Những vấn đề này có mặt độc lập với nhau, nên thường được bàn và giải quyết riêng rẽ; nhưng lại có mặt quan hệ với nhau, đòi hỏi phải được giải quyết nhất quán theo một số nguyên tắc".
    (Hoàng Phê. Vấn đề cải tiến và chuẩn hóa chính tả. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr. 2)​

    "Còn chính tả chủ yếu lại nhằm vào cách viết, vì nó giúp cho người bản ngữ biết lựa chọn cách viết đúng chuẩn theo những quy tắc được thừa nhận chung".
    (Lý Toàn Thắng. Một vài cơ sở ngôn ngữ học của vấn đề chữ viết. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr. 189)​

    "Nói đến chính tả (orthographe), tức là nói đến vấn đề "viết đúng". Nhưng đúng với cái gì? Chính tả ở đây, phải hiểu là: viết đúng với truyền thống của chữ quốc ngữ đã được sử dụng cho đến ngày nay”.
    (Lê Văn Lý. Tham luận về cải tiến và chuẩn hóa chính tả. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr.90)​

    * Chuẩn

    1. Toàn bộ các phương tiện và các quy tắc thống nhất và ổn định về cách sử dụng ngôn ngữ, được quy định và phát triển trong xã hội và được thể hiện trong lời nói của cá nhân.
    2. Ngôn ngữ trong thế đối lập với lời nói với tư cách là một hệ thống xác định mọi sự đa dạng của thực tiễn nói năng.
    (Nguyễn Như Ý. Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học. Nxb GD, H., 2003, tr. 53)​

    "Chuẩn của ngôn ngữ là kết quả sự đánh giá và lựa chọn của xã hội (cộng đồng sử dụng ngôn ngữ) đối với những hiện tượng ngôn ngữ thực tế (tức là "thực tế sử dụng ngôn ngữ") vào một thời gian nhất định nào đó".
    (Hoàng Phê. Ý kiến về một vấn đề nhỏ: ưu hay iu? "Ngôn ngữ' 4, H., 1973, tr. 57)​

    "Chuẩn của ngôn ngữ cần được quan niệm trên hai diện: chuẩn phải mang tính quy ước xã hội; tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng; mặt khác, chuẩn phải là một hiện tượng thuộc kết cấu ngôn ngữ, tức là phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử".
    (Nguyễn Hàm Dương. Mấy vần đề về chuẩn hóa tiếng Việt. "Ngôn ngữ' 1, H., 1975, tr. 28)​

    "... Theo chúng tôi nghĩ, nên quan niệm chuẩn trong ngôn ngữ là cái thông qua sự đánh giá, lựa chọn giữa những khả năng diễn đạt của một ngôn ngữ, được mọi người hoặc ít nhất là một số khá đông thừa nhận, số khá đông ấy không nhất thiết phải là đa số, nhưng phải gồm số lớn những người có uy tín và ảnh hưởng (...) được coi là mẫu mực về mặt ngôn ngữ".
    (Hoàng Phê. Vấn đề xây dựng và phát triển ngôn ngữ văn hóa dân tộc. "Ngôn ngữ" 4, H., 1976, tr. 8).​

    "Chuẩn của ngôn ngữ ở dạng tồn tại tự nhiên hình thành và phát triển một cách tự phát trong quá trình sử dụng ngôn ngữ: cái chuẩn với cái phổ biến thường là một".
    (Hoàng Phê. Vấn đề xây dựng và phát triển ngôn ngữ văn hóa. "Ngôn ngữ' 4, H., 1976, tr. 9)​

    "Chuẩn là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn, sử dụng trong trường hợp lưỡng khả. Kết quả lựa chọn có thể là chọn một mẫu này, thu hẹp phạm vi sử dụng, đi đến loại bỏ (những) mẫu kia".
    (Hoàng Phê. Chuẩn hóa tiếng Việt về mặt từ ngữ. "Ngôn ngữ" 1, H., 1980, tr.12)​

    * Chuẩn hóa

    Xây dựng, xác lập các chuẩn mực cho một ngôn ngữ ở một giai đoạn nào đó.

    "Chuẩn ngôn ngữ là cái phát triển tự phát, do toàn thể cộng đổng người sử dụng ngôn ngữ hình thành nên, còn việc chuẩn hóa ngôn ngữ thì lại là công việc của một số người nhất định, có ý thức và tri thức về thứ ngôn ngữ ấy, do đó mà biết điều tra, thu thập tư liệu ngôn ngữ để trước hết là miêu tả, rồi sau cùng là quy định, đưa vào thành điển chế".
    (Hồ Hải Thụy. Danh từ riêng nước ngoài. "Ngôn ngữ' 3-4, H., 1979, tr. 56)​

    "Chuẩn hóa ngôn ngữ là sự tiến triển của tiếng nói dân tộc trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của nó (mà chủ yếu là chức năng làm công cụ giao tiếp và chức năng làm công cụ thực hiện tư duy)".
    (Nguyễn Quang Hồng. Về vấn đề chuẩn mực phát âm của tiếng Việt hiện đại. "Ngôn ngữ" 4, H., 1980, tr.52)​

    "Nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh không thể chứa đựng những từ ngữ mơ hồ, không được hiểu ra sao là tùy ý; báo cáo, thông tin cũng vậy. Đó là những lí do trực tiếp của nhu cầu xác định các chuẩn mực của tiếng Việt văn học ngày nay mà người ta thường gọi là "chuẩn hóa".
    (Nguyễn Kim ThảnNguyễn Trọng Báu - Nguyễn Văn Tu. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb KHXH, H., 1982, tr. 217)​

    "Khi nói "chuẩn hóa" một ngôn ngữ thì tức là muốn nói đến việc xác định các chuẩn mực của ngôn ngữ ấy - thông thường là ngôn ngữ văn học - khi nó có những hiện tượng chưa hoàn toàn thống nhất về mặt này hay mặt khác, theo địa phương hay theo nhóm xã hội".
    (Nguyễn Kim Thản - Nguyễn Trọng Báu - Nguyễn Văn Tu. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb KHXH, H., 1982, tr. 225)​

    "Chuẩn hóa ngôn ngữ là xác định, hay xác định lại các quy tắc. Công việc này được ủy giao cho những tổ chức có trách nhiệm cân nhắc về các hiện tượng có bất đồng tức là có vấn đề về ngôn ngữ, để tìm ra cách xử lí tối ưu”.
    (Hoàng Tuệ. Người giáo viên trước các vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt. "Ngôn ngữ" 4, H., 1983, tr. 19)​

    * Chuẩn chính tả

    Cách viết chuẩn các từ.

    "Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc có thể nói là tuyệt đối. Yêu cầu viết đúng chính tả là yêu cầu đối với mọi người trong mọi trường hợp. Một cách viết rõ ràng là không hợp lí, thậm chí vô lí, nhưng đã được công nhận là chuẩn chính tả thì ai cũng phải theo".
    (Hoàng Phê. Vấn đề cải tiến và chuẩn hóa chính tả. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr. 3)​

    "Hơn các chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn chính tả thường là kết quả trực tiếp của công tác chuẩn hóa”.
    (Hoàng Phê. Vấn đề cải tiến và chuẩn hóa chính tả. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr. 4)​

    * Chuẩn mực

    (x. chuẩn.)

    "Chuẩn mực, nói một cách khái quát, là cái đúng. Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chất bỉnh thường được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, ở một giai đoạn nhất định trong một quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ. Cái đúng ấy được xác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát âm, viết chữ, dùng từ và cấu tạo từ mới, và đặt câu...".
    (Hoàng Tuệ. Giữ gìn sự trong sáng cùa tiếng Việt. "Ngôn ngữ" 1, H., 1980, tr.ll)​

    * Chữ cái

    Kí hiệu đồ hình mà tự nó hoặc kết hợp với các kí hiệu khác dùng để biểu thị dưới dạng chữ viết các âm vị và các biến thể cơ bản của chúng hoặc theo những trình tự điển hình cho chúng.

    * Chữ câm

    Chữ cái có mặt trong thành phần kí tự của từ theo thói quen, hoặc để chỉ ra phẩm chất đặc biệt nào đó của các chữ cái khác có mặt ở từ hữu quan, nhưng không được phát âm khi đọc. Ví dụ, e trong từ name, tone của tiếng Anh; e trong từ dette, femmer của tiếng Pháp.

    * Chữ hoa

    Chữ viết phân biệt với chữ thường về chiều cao kích cỡ, hình dáng và đôi khi bằng sự tô đậm các nét, được dùng với chức năng nhất định, phù hợp với hệ thống chính tả và phép chấm câu của một ngôn ngữ nhất định.

    "Chữ hoa trước hết được dùng để biểu thị sự bắt đầu của một câu, có tác dụng phân đoạn về mặt cú pháp. Về mặt này nó thường được dùng kết hợp với các dấu biểu thị sự kết thúc của câu như dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu than, dấu chấm lửng v.v...

    ... Chữ hoa còn chủ yếu được dùng vào việc phân đoạn các đơn vị từ vựng, các tiếng hoặc các từ, các cụm từ, được gọi dưới một cái tên chung là tên riêng.

    ... Khi chữ hoa được dùng để viết những đơn vị không phải tên riêng, danh từ riêng thì nó có tác dụng biểu lộ sự tôn kính, trân trọng...”.
    (Nguyễn Văn Thạc. Những cơ sở để xây dựng quy tắc viết hoa, "Ngôn ngữ" 3-4, H„ 1976, tr. 45- 46)​

    * Chữ thường

    Chữ viết có độ cao kích cỡ, hình dạng bình thường dùng để viết tất cả các từ, trừ những trường hợp phải viết hoa theo quy tắc chính tả và phép đặt câu quy định.

    * Chữ viết

    (x. văn tự.)

    "Ngôn ngữ có hai hình thức: nói và viết. Nói bao giờ cũng là chủ yếu, song từ khi có chữ viết, dần dà chữ viết không chỉ làm chức năng đại diện vỏ âm thanh, mà còn tiến xa hơn: làm kí hiệu trực tiếp. Ban đầu, chữ viết là thứ kí hiệu phải đi qua các kênh mắt nhìn, tai nghe, rồi mới đến óc tiếp nhận. Trình độ văn hóa của con người càng cao, kí hiệu sử dụng càng nhiều, thì con đường đi từ kí hiệu vào óc càng ngắn đi, ngày nay thường là: kí hiệu - mắt nhìn - óc nhận".
    (Hồ Hải Thụy. Danh từ riêng nước ngoài. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979. tr. 56)​

    * Chữ viết ghi âm

    Một kiểu chữ viết có đặc điểm là kí hiệu đồ hình thường biểu thị từng âm riêng rẽ của lời nói hoặc của âm vị.

    *Chữ viết ghi âm tiết

    Một kiểu chữ viết mà kí hiệu đồ hình dùng để truyển đạt, biểu thị âm tiết.

    * Chữ viết ghi ý

    Một kiểu chữ viết mà các kí hiệu đồ hình (dưới dạng các hình vẽ, hình ảnh ước lệ) được dùng để truyền đạt các từ hoặc các hình vị.

    * Chữ viết tượng hình

    Dạng chữ viết có đặc điểm là các kí hiệu đồ hình dưới dạng các bức tranh hoặc các hình ảnh ước lệ được dùng để truyền đạt nội dung của lời nói, nhưng chúng lại không phản ánh các hình thái ngôn ngữ.

    * Chữ viết tắt

    1.Từ được tạo nên từ các yếu tố đầu rút gọn của một tổ hợp từ. ví dụ: Công nông binh < công nhân, nông dân, binh sĩ; Văn xã < văn hóa, xã hội.
    2.Từ được tạo thành bằng sự ghép các chữ cái hoặc âm tố đầu tiên của các từ.

    [...]
     
    Chỉnh sửa cuối: 6/8/15
    Ducko, teacher.anh, andanhtoi and 2 others like this.
  4. hanhdb

    hanhdb Sinh viên năm I

    Âm thầm đọc mà chẳng dám cờm men :) bác Châu bỏ quá cho tội này. Nhân mấy ngày trước đọc "Việt Nam quốc âm tự vị" của Huỳnh Tịnh Của, mới ngã ngửa mình chả biết gì về Tiếng Việt. :eek: Có bài viết khá hay:
    TỪ CỔ TIẾNG VIỆT TRONG "ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ" của HUỲNH TỊNH PAULUS CỦA
    Những từ cổ đã từng tồn tại với tư cách là những từ bình thường, nhưng nay đã hoàn toàn biến mất trong từ vựng hiện đại.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    teacher.anh, Ducko, quocsan and 2 others like this.
  5. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Cám ơn @hanhdb ! :)!
    Đúng là một bài viết khá hay! Song, lỗi dữ... Mình đã soát sơ bộ và hiệu chỉnh chút ít và chuyển đăng luôn bên topic 'Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link'! :p! Về Nội dung bài cũng còn có rất nhiều 'vấn đề' cần xem xét cho thấu đáo hơn... Tuy nhiên: Cứ có bài về tiếng Việt là mình mê tít à! :)!
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/4/15
    teacher.anh and quocsan like this.
  6. bun_oc

    bun_oc VIP

    Vậy khi nào Bún soát xong cuốn Chơi chữ của Lãng Nhân thì nhờ bác soát tổng kết một phát có được không? Bún kiến thức ngữ văn ít ỏi nên khi soát sợ không sạch sạn. :) Chỉ e bác nhiều dự án bận rộn nên cứ đắn đo chưa dám ướm lời.
     
    teacher.anh, whatcsvt100 and tducchau like this.
  7. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    :)! Cung kính sao bằng phụng mệnh! :p! Rất sẵn lòng! :D! Hân hạnh được phục vụ! :)!
     
    teacher.anh, quocsan and bun_oc like this.
  8. hanhdb

    hanhdb Sinh viên năm I

    Bún đúng là nhờ đúng người đúng việc :). Từ giờ em sẽ làm một loạt sách về tiếng Việt chắc phải cậy nhờ bác nhiều nhiều.
    Bác tducchau thì chuẩn rồi, em hỏi nhỏ chút thôi bác có kiểm chính tả lúc vợ bác nói không??? :p (bác đừng giận nha, hơi tò mò thôi)
     
    tducchau thích bài này.
  9. thomas

    thomas Lớp 8

    Bác @tducchau cho hỏi, tại sao lại là "nghĩa ngữ" mà không phải là "ngữ nghĩa" ạ? Hai cái này có giống nhau không ạ?
     
    teacher.anh and tducchau like this.
  10. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    :)! Đã 'chính' là 'phải 'tả'! _ (Quan niệm chung là vậy! Với mọi nghĩa! :D!) _Tuy nhiên, chúng mình là người Trung Đạo! _ (Quan niệm riêng là thế! Với mọi ngữ! :)!)
    Vụ nầy cũng tương tự như 'chơi chữ' và 'chữ chơi'! :p! Vậy, theo @thomas: Hai cái 'ấy' có giống nhau không!?! :D!
     
    teacher.anh thích bài này.
  11. Deathshine

    Deathshine Administrator Thành viên BQT

    Nhìn bài viết mà mình ngáp ngáp như con cá mắc cạn :( :(
    Lướt qua 3 lần rồi mà chưa đọc vì chữ quá nhiều, chữ lại san sát nhau, đau mắt quá @tducchau ơi? Rất xấu hỗ khi nói thiệt cái dở của mình ra nhưng mình có nhiêu nói nhiêu.

    @tducchau có thể ngắt từng đoạn từng đoạn cho dễ đọc hơn được không? Bài viết này đọc 1 lèo xong là hốc ơi ở lại mắt đi nhé! :p
    Bạn ngắt một đoạn 3, 5 dòng thôi đó. Chèn thêm hình minh họa thì càng tốt. Bài viết hay vầy mà mình tự ngắt từng đoạn thì sẽ mang tiếng không tôn trọng tác giả nên hỏi ý trước :(.
     
    tducchau thích bài này.
  12. thomas

    thomas Lớp 8

    Hình như không giống :D Vậy tại sao mình dùng "nghĩa ngữ" ở đây mà không phải là "ngữ nghĩa" ạ?
     
    tducchau thích bài này.
  13. hanhdb

    hanhdb Sinh viên năm I

    Thì bác Châu biến tấu thôi. Cấu trúc tiếng việt là cấu trúc xuôi, ngữ nghĩa là mượn âm hán việt (cấu trúc ngược). Ngữ nghĩa thường được dùng hơn.
    Tiếng Việt nó quá diệu kỳ xuôi cũng xong, ngược cũng được. Cái "ấy" làm sao giống cái "ấy" được :D hehe bác nói thiệt không đó, em đảm bảo có từ không đúng chánh tả mà bác không dám kiểm hà hà
     
    Last edited by a moderator: 18/4/15
    tducchau and Deathshine like this.
  14. thomas

    thomas Lớp 8

    A hiểu rồi... ra là chơi chữ, mình chậm hiểu quá :(
     
    tducchau and Deathshine like this.
  15. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    Được! Cứ 'tự nhiên' đi Bạn! Đây, là Nơi của... Tôi & Chúng Ta! Nhân loại tình là bao la, không có điểm dừng, không có kết thúc, không có giới hạn,... :p!...
     
    Zhiqiang and Deathshine like this.
  16. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]

    * Dấu câu

    Các kí hiệu đồ hình được dùng trong ngôn ngữ viết để chỉ ra sự ngắt đoạn, đồng thời để truyền đạt các đặc trưng của phân đoạn cú pháp - ý nghĩa mà không thể biểu thị bằng các phương tiện hình thái hoặc bằng trật tự từ. Dấu câu còn hỗ trợ cho việc thể hiện cấu trúc cú pháp và tiết tấu, âm điệu của lời nói. Các dấu câu gồm có: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng, dấu ngang, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép.

    "Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp. Nói chung, nó thể hiện ngữ điệu trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có trường hợp nó không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp, mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, về cả tình cảm, thái độ của người viết".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 225)​

    "Dấu câu là kí hiệu dùng trong văn viết. Dấu câu là phương tiện dùng để phân biệt các ý nghĩa, các đơn vị ngữ pháp trong một câu văn. Chúng được dùng để chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần trong câu, giữa các thành tố trong cụm từ, trong các liên hợp cụm từ.

    Nhờ có dấu ngắt câu mà ta đọc đúng, hiểu đúng bài văn viết dễ dàng hơn, đặc biệt là khi đọc diễn cảm bài văn, bài thơ".
    (Bùi Khắc Việt. Vấn đề dấu nối trong chính tả. "Ngôn ngữ" 3-4, H., 1979, tr. 60)​

    [...]
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/15
  17. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]

    * Dấu chấm

    Dấu ngắt câu ".", đặt ở cuối câu trần thuật.

    "Dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm. Dấu chấm là chỗ có quãng ngắt tương đối dài hơn, so với dấu phẩy, dấu chấm phẩy".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 226)​

    * Dấu chấm hỏi

    Dấu câu "?" thường dùng ở cuối câu hỏi (câu nghi vấn). Khi đọc, phải ngắt câu ở dấu hỏi với ngữ điệu hỏi (thường lên giọng ở cuối câu); còn gọi là dấu hỏi.

    "Dấu hỏi dùng ở cuối câu nghi vấn. Thường gặp là, trường hợp dấu hỏi dùng trong đoạn văn đối thoại, có người hỏi, người đáp. Có trường hợp tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời, trong lời đối thoại nghệ thuật. Có trường hợp, một vế của câu ghép được cấu tạo theo tiền đề; trong trường hợp này không dùng dấu hỏi. Ví dụ: Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi. (Phạm Văn Đồng).

    Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hỏi, và nói chung, có lên giọng. Dấu hỏi có thể đặt trong dấu ngoặc đơn (?) để biểu thị thái độ hoài nghi đối với một lời trích thuật. Nếu có dấu chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ, thì dấu này đặt sau dấu chấm".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 226 - 227)​

    * Dấu chấm lửng

    Dấu câu dưới dạng ba chấm "..." cạnh nhau theo chiều ngang, đặt ở cuối câu, giữa câu, hay có khi ở đầu câu, còn gọi là dấu lửng, dùng để:

    - Biểu thị sự ngắt quãng tạo ý châm biếm, mỉa mai.
    - Chỉ ra rằng người nói chưa nói hết (đặc biệt khi liệt kê).
    - Chì ra rằng lời dẫn trực tiếp có bị lược bớt một số câu (trường hợp này dấu chấm lửng thường đặt trong dấu ngoặc đơn "(...)" hoặc ngoặc vuông "[...]").

    "Dấu lửng dùng ở cuối câu (hay giữa câu, hay có khi ở đầu câu) để biểu thị rằng người viết không diễn đạt hết ý. Dấu lửng còn được dùng:

    a) Để biểu thị rằng lời nói bị đứt quãng, vì xúc động, hay vì lí do khác.
    b) Để biểu thị một chỗ ngắt đoạn dài giọng nói ý châm biếm, hài hước. Ví dụ:
    Giơ tav hàng tuốt quân ta,
    Té ra công sự chỉ là công... toi.
    (Tú Mỡ).​
    c) Để ghi lại một chỗ kéo dài của âm thanh. Ví dụ: ù... ù... ù ... Tầm một lượt (Võ Huy Tầm).

    Khi đọc, phải tùy trường hợp mà ngắt đoạn. Nói chung, ở dấu lửng, sự ngắt đoạn kéo dài. Hiện nay, có cách dùng dấu lửng trong ngoặc đơn (...), để chỉ ra rằng người trích dẫn có lược bớt câu văn trích dẫn".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983. tr. 228 - 229)​

    * Dấu chấm phẩy

    Dấu câu gồm một dấu chấm ở trên, dấu phẩy ở dưới ";", dùng trong câu phức hoặc câu đơn mở rộng, để phân chia các thành phẩn tương đối độc lập. Khi đọc phải ngắt câu ở dấu chấm phẩy, quãng ngắt dài hơn so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn so với dấu chấm.

    "Dấu chấm phẩv thường dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, nhất là khi giữa các vế có sự đối xứng về nghĩa, về cả hình thức. Ví dụ: Chị Thuận nấu cơm cho anh em ăn, làm người chị nuôi tần tảo; chị chăm sóc anh em ốm và bị thương, làm người hộ lí dịu dàng, ân cần (...) (Nguyễn Trung Thành).

    Trong những câu ghép song song mà vế sau có tác dụng bổ sung cho vế trước, cũng có thể dùng dấu chấm phẩy giữa hai vế. Ví dụ: Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được (Lê Duẩn).

    Dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ. Ví dụ: Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn chinh các hệ thống thủy nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hóa nông nghiệp; đẩy mạnh cải tạo giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện tích trồng trọt (Báo Nhân dân).

    Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu chấm phẩy; quãng ngắt dài hơn, so với dấu phẩy, nhưng ngắn hơn, so với dấu chấm.
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 232 - 233)​

    * Dấu chấm than

    Dấu câu "!", đặt ở cuối câu cảm thán hoặc ở cuối câu cầu khiến; còn gọi là dấu cảm, dấu than.

    "Dấu cảm dùng ở cuối câu cảm xúc. Ví dụ: Hỡi anh, Người đồng chí quang vinh! (Sóng Hồng); hay ở cuối câu cầu khiến, Ví dụ: Hãy yêu quý thanh niên! Hãy trân trọng và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ! (Tạp chí Học tập).

    Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu cảm và có thể hoặc lên hoặc xuống giọng, tùy hoàn cảnh.

    Dấu cảm có thể được đặt trong dấu ngoặc đơn (!), để biểu thị thái độ mỉa mai; hay dùng kết hợp với dấu hỏi rồi đặt trong dấu ngoặc đơn (!?), để biểu thị thái độ vừa mỉa mai, vừa hoài nghi. Những dấu này cũng thường đặt sau dấu chấm, nếu có dấu chấm (hay tương đương) ngắt câu ở cùng chỗ. Ví dụ: Y còn đòi các nước sản xuất dầu mỏ "hợp tác" với Mĩ dể giải quyết cả vấn đề dầu mỏ lẫn vấn đề lương thực (!). (Báo Nhân dân).

    AFP đưa tin theo cách đưa tin ỡm ờ của AFP. “... họ là 80 người sức lực khá tốt nhưng hơi gầy..." (!?). (Nguyễn Tuân).”
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH. H., 1983, tr. 227 - 228)​

    * Dấu hai chấm

    Dấu câu dưới dạng hai chấm theo chiểu thẳng đứng, chấm này dưới chấm kia ':", dùng trong các câu phức không liên từ hoặc câu đơn, để chỉ ra phần đứng sau nó là phần thuyết minh, giải thích, hoặc là nguyên nhân của phần đứng trước.

    "Nói chung, dấu hai chấm dùng để báo hiệu một điều trình bày tiếp theo sau và có tác dụng thuyết minh đối với một điều đã trình bày trước. Điều thuyết minh là một lời thuật lại theo lối trực tiếp.
    Ví dụ: Khoa nói to:
    - Mình về đây.
    (Nguyễn Khải)

    Hay theo lối gián tiếp. Ví dụ:
    Kha nghĩ: ba giờ đi. (Nguyễn Đình Thi)

    Điều thuyết minh có tác dụng bổ sung, giải thích một từ hay một vế ở trước. Ví dụ: Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya... (Xuân Diệu).

    Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu hai chấm, và cần có ngữ điệu thích hợp đối với điều thuyết minh".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH. H., 1983, tr. 133 - 234)​

    [...]
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/15
  18. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    [...]

    * Dấu mũ
    Dấu hình nón đặt trên một số chữ cái để kí hiệu các âm vị nguyên âm trong tiếng Việt: â, ê, ô.

    * Dấu ngang
    Dấu câu, dưới dạng một nét gạch ngang dài “–“ còn gọi là dấu gạch ngang, thường dùng để:

    - Tách thành phần chêm xen trong câu.
    - Đặt trước những lời đối thoại.

    "Dấu ngang dùng để chỉ ranh giới của thành phấn chú thích. Ví dụ: Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai mươi sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng mười bảy năm (Ngô Tất Tố).

    Dấu ngang còn dùng để:

    a) Đặt trước những lời đối thoại. Ví dụ:
    – Hai bác đã đặt tên cho cháu chưa?
    – Rồi.


    b) Đặt ở đầu những bộ phận liệt kê, mỗi bộ phận trình bày riêng thành một dòng. Ví dụ:

    Thi đua yêu nước để:
    – Diệt giặc dốt.
    – Diệt giặc đói.
    – Diệt giặc ngoại xâm.
    (Hồ Chí Minh).

    c) Đặt ở giữa hai hay ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại, để chỉ một liên doanh, một liên số.

    Ví dụ: Đường Hà Nội – Huế – Sài Gòn.
    Xô viết Nghệ – Tĩnh.
    Thời kì 1930 – 1945.”

    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH. H., 1983, tr. 234 - 235)​

    * Dấu nối
    Dấu gạch ngang ngắn “-“ (so với dấu ngang), có khoảng cách giữa hai đầu bé (so với dấu ngang), còn gọi là dấu gạch nối, dấu ngang nối, dùng để:

    a) Nối ngày, tháng, năm trong trường hợp ghi tắt. Ngày 2 - 9 - 1945.

    b) Đặt giữa các từ ghép tạm (hoặc từ phức tạm). Công - nông - binh. Nhà văn - chiến sĩ.

    c) Nối các âm tiết trong từ phiên âm từ tiếng nước ngoài. Pê-ni-xi-lin ; A -pa-tít ; I - ta-li -a.

    "Dấu gạch nối, hiện nay, thường được dùng trong những trường hợp phiên âm tên người, tên địa phương nước ngoài, ví dụ: Lê-nin, Lê-nin-grát.
    Dấu gạch nối cũng còn được dùng trong những từ chung phiên âm từ tiếng nước ngoài, ví dụ: pô - pa - lin.

    Cho nên, cần phân biệt dấu ngang là một dấu câu với dấu gạch nối không phải là dấu câu".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 235)​

    "Dấu nối "-" là kí hiệu chính tả, thường dùng để nối các thành tố trong từ đa tiết hoặc trong tổ hợp từ.

    Đây là vấn đề chính tả nhưng có liên quan trực tiếp đến vấn đề cấu tạo từ, ranh giới từ".
    (Bùi Khắc Việt. Vấn đề dấu nối chính tả. "Ngôn ngữ" 3 -4, H., 1979, tr. 60)​

    * Dấu phẩy
    Dấu câu “,” dùng để tách các từ, cụm từ, câu, cụ thể là:

    a) Tách các thành phần cùng loại của câu. Ví dụ: Ông ta nói rõ ràng, súc tích, ngắn gọn.

    b) Tách các đoạn của câu ghép không liên từ hoặc câu ghép đẳng lập. Ví dụ: Chúng tôi ngồi xuống, những chiếc xe dựng bên cạnh.

    c) Tách câu chính và câu phụ, hoặc tách các câu phụ trong câu ghép phụ thuộc. Ví dụ: Nếu trời mưa, chúng tôi sẽ ở lại.

    d) Tách các thành phần biệt lập của câu. Ví dụ: Anh, người bạn thân thiết của tôi, đã không bao giờ trở về nữa.

    e) Tách các từ, ngữ, về mặt ngữ pháp không liên quan với các thành phần câu (từ cảm, từ hỏi, từ chêm xen, từ khẳng định, phủ định...). Ví dụ: Vâng, cháu nó có nhà. Dạ, mời anh vào nhà. Của đáng tội, nó hơi gầy. Ôi, mệt quá! Không, anh nói không đúng. Ứ ừ, em chẳng đi đâu.

    "Dấu phẩy được dùng ở những trường hợp khác nhau.

    1. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới bộ phận nòng cốt với thành phần ngoài nòng cốt của câu đơn và câu ghép. Thành phần ngoài nòng cốt có thể là các thành phần than gọi, chuyển tiếp, chú thích, tình huống, khởi ý.

    2. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong liên hợp, nhất là liên hợp qua lại. Ví dụ: Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất dịnh thắng lợi. (Hồ Chí Minh).

    3. Dấu phẩy dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép (song song hay qua lại), ví dụ: Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi. (Hồ Chí Minh).

    4. Dấu phẩy có thể dùng để chỉ ranh giới giữa phần đề và phần thuyết trong những trường hợp sau đây:

    a) Khi phần đề làm thành một đoạn khá dài. Ví dụ: Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là năng cao dân trí. (Hồ Chí Minh).

    b) Khi lược bớt động từ là trong câu luận, Ví dụ: Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động. Tre, anh hùng chiến đấu. (Thép Mới).

    c) Khi phần thuyết được đặt trước phần đề. Ví dụ: Chính nghĩa, những cuộc chiến tranh chống bọn áp bức, bọn xâm lược, giành tự do, độc lập. (Trường Chinh).

    5. Dấu phẩy còn dùng vì nhịp điệu trong câu, nhất là khi nhịp điệu có tác dụng biểu cảm. Ví dụ: Vẫn có Bác, ung dung, trông xuống, dịu dàng. (Tố Hữu).

    6. Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu phẩy. Nói chung, quãng ngắt ở dấu phẩy tương đối ngắn, so với những dấu đã nói ở trên”.
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 229 - 232)​

    * Dấu ngoặc đơn
    Dấu câu kép gồm hai sọc thẳng, nghiêng hoặc cong "| … |, / ... /, ( … )”, dùng để tách các từ, các bộ phận của câu hoặc các câu có các nhận xét bổ sung minh họa, làm sáng rõ phần cơ bản của câu; hoặc dùng để chỉ nguồn gốc của lời trích dẫn.
    Ví dụ: Cá Kình (người ta gọi anh ta như thế) lao xuống sông rồi lao ra giữa dòng. "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" (Hổ Chí Minh).

    "Dấu ngoặc đơn cũng dùng để chỉ ranh giới của thành phần chú thích. Ví dụ: Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tôi làm thuê ở Pa - ri, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ "đồ cổ mĩ nghệ Trung Hoa" (do một xưởng cùa người Pháp làm ra). (Hồ Chí Minh).

    Sự khác nhau giữa dấu ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ; theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia, đối với thành phần chú thích. Tuy vậy, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu đó có sự khác nhau sau đây:

    Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang, nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn. Ví dụ: Anh ấy không đến dự dám cưới của Lan (bảo là bận).

    Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể đóng khung cho một từ hay một ngữ có tác dụng chú thích cho một từ không thông dụng (từ cổ, từ địa phương...). Ví dụ: Tiếng trống của phìa (lí trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rỉ. (Tô Hoài).

    Khi đọc, phải ngắt đoạn ở dấu ngoặc đơn và cũng như trong trường hợp dấu ngang, ngữ điệu phải thích hợp đối với thành phần chủ thích".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp liếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 236 - 237)​

    * Dấu ngoặc kép
    Dấu câu kép có dạng " " dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp, hoặc để tách các từ, ngữ (thường gọi là dấu "nháy nháy") biểu thị ý mỉa mai, châm biếm, trái với nghĩa thực của chúng.

    "Dấu ngoặc kép dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Ví dụ: Sau khi đến được ba ngày, anh hỏi tôi: "Anh Dân, anh có biết chữ quốc ngữ không?" (Trần Dân Tiên).

    Dấu ngoặc kép còn dùng để dẫn lại với thái độ mỉa mai, một từ hay ngữ do người khác dùng; trong trường hợp này, dấu ngoặc kép còn được gọi là dấu "nháy nháy". Ví dụ: Chúng đề xướng nào là văn nghệ "chủ quan", "viễn kiến", nào là triết lí "duy linh"... ( Trường Chinh)".
    (UBKHXHVN. Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb KHXH, H., 1983, tr. 237 - 238)​

    [...]
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/15
    andanhtoi, Deathshine and bichdinh like this.
  19. Deathshine

    Deathshine Administrator Thành viên BQT

    Cảm ơn Bạn Hiền!
    Mình cảm động quá hì hì, con người dễ cảm động nó vậy đó :p

    Để tối về mình đọc hehe :D :D
     
    tducchau thích bài này.
  20. Deathshine

    Deathshine Administrator Thành viên BQT

    Mình thích post thứ 2 Bạn viết về Nguyễn Bính quá.
    Mình cũng thích cách diễn đạt của ông ấy nữa, đơn giản, rõ ràng, thỉnh thoảng chơi chữ 1 chữ ai hiểu được thì hiểu. :D :D
    Mình vốn không thiện cảm lắm với mấy lời phức tạp, hoa lá cành...ai nói một vấn đề phức tạp thành 1 vài câu đơn giản trẻ nhỏ cũng hiểu là mình phục lăn luôn.
     
    chis and tducchau like this.
Moderators: canaximuoi

Chia sẻ trang này