LS-Việt Nam Ngữ nguyên tiếng Việt: 600 từ vựng cơ bản

Thảo luận trong 'Tủ sách Lịch sử - Địa lý' bắt đầu bởi haitruong, 17/8/20.

  1. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Hán và Đường là quốc hiệu của 2 triều đại cho nên gọi là người Hán và người Đường không sai.

    Trích Wikipedia:
     
    ceon thích bài này.
  2. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    :D nội dung đã được sửa đổi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/9/20
  3. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Sry, edit lại một chút, viết tiếng Anh cùi vi phạm nội quy diễn đàn.
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/9/20
  4. Caruri Tlkd

    Caruri Tlkd Sinh viên năm II

    Tôi không biết nguyên văn zhang (nick anh này trên vnthuquan cách đây gần 15 năm) viết ra sao nhưng nếu triều đại người ta gọi là người thời Hán/Đường chứ không người Hán/Đường như tên một tộc người.

    PS: zhang đồng tuế với bác Tư
     
    Cải and tran ngoc anh like this.
  5. ceon

    ceon Lớp 1

    Mình nghĩ nếu ở vào 2 triều đại đó thì khi gọi người Hán, người Đường tức là đã bao gồm luôn những dân tộc thiểu số trong lãnh thổ đó rồi.

    Cũng giống như thế kỷ 21 này, những dân tộc thiểu số đó vẫn sẽ gọi là người Trung Quốc, bao gồm những người ở các vùng Tân Cương, Tây Tạng.

    Nhưng nếu để phân biệt số dân Trung Quốc mà ta thường hay gọi với những nhóm thiểu số này thì sẽ gọi là là Hán tộc. Bởi vậy, nếu nói không người Hán, người Đường thì sẽ là vô nghĩa.

    Ở Việt Nam cũng dùng chữ dân tộc Kinh để phân biệt với các nhóm thiểu số còn lại. Nhưng tất cả nhóm thiểu số này lẫn dân tộc Kinh đều là người Việt Nam.

    Nhắc đến dân tộc Kinh thì có thấy bài viết Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
     
  6. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Vâng, nếu vậy thì nên gọi là người China, người Trung Quốc, chứ không phải người Hán, người Đường :D Cũng như nước Việt Nam thì có người Việt Nam, nước Trung Quốc thì có người Trung Quốc vậy :D người Đường (Thăng lệnh, Đường nhân) người Hán (Han lệnh, Hán nhân) đều không có! :D
     
  7. ceon

    ceon Lớp 1

    Cách giải thích trên là còn nhắc đến nhóm thiểu số, nhưng nếu không tính nhóm này nữa thì cách gọi người Hán, người Đường vẫn là đúng. Hơn nữa, họ cũng tự nhận là người Hán, người Đường thì làm sao mà không có cách gọi này.

    Chỉ riêng việc gọi tên Trung Quốc thì cũng đã có nhiều cách gọi, chẳng hạn như Hoa Hạ, Trung Nguyên. Nên những người sống trong vùng lãnh thổ này cũng tương tự.

    Bạn cũng nói là: "Nếu nói ở Việt Nam thì triều Lê, triều Nguyễn thì sao? Người Việt, hoặc Kinh chứ chưa có ai gọi là người Lê, người Nguyễn cả".

    Có lẽ ở 2 triều đại này chưa đạt đến mức để dân chúng gọi là người Lê, người Nguyễn? Hơn nữa tên của các triều đại này đều là họ của vua. Còn bên Trung Quốc, vua của triều Hán, Đường đâu có họ mang họ Hán, Đường.
     
    tran ngoc anh thích bài này.
  8. anhTH

    anhTH Mầm non

    Để hiểu được hậu ý sâu xa của một người nào đó cần phải theo dõi kỹ luồng tư duy của họ theo thời gian, qua các mối liên kết giữa các văn bản, nếu không phân tích kỹ sẽ khó nhận ra chủ đích thực sự muốn nói. Để góp thêm vào cách đọc hiểu các tác phẩm của tác giả văn bản " Ngữ nguyên tiếng Việt: 600 từ vựng cơ bản", tôi xin đưa lên nguyên văn bài viết của tác giả đã viết riêng cho trang BBC năm 2009.


    "Về tên gọi cuộc chiến Việt - Trung 1979"


    Trong hơn 1000 năm độc lập của mình, người Việt Nam đánh nhau với Trung Quốc năm lần, không kể ba lần diễn ra khi Mông Cổ làm chủ Trung Hoa.

    1. Năm 981 Tống đánh Lê Hoàn, áp đặt lệ thuộc và ép buộc thường xuyên triều cống.
    2. Năm 1075 – 1076 Tống gây hấn để giải tỏa căng thẳng nội bộ do Vương An Thạch cải cách. Sau khi bãi binh nhà Tống chiếm cứ một số châu huyện biên giới. Năm 1084, trải nhiều lần ngoại giao, các vùng chiếm đóng đều được trả lại, địa giới tái phân định rõ ràng.
    3. Năm 1407 Minh xâm lược và chiếm đóng Đại Việt hai thập niên.
    4. Năm 1789 Thanh can thiệp dưới chiêu bài “phò Lê”.
    5. Năm 1979 Bắc Kinh xua quân “dạy cho Việt Nam một bài học”.

    Đã tròn ba mươi năm từ ngày cuộc chiến thứ Năm (1979) diễn ra. Bài viết này thử phân tích tương quan lịch sử và những vấn đề liên đới, đặc biệt sẽ cố gắng đi sâu vào các tên gọi từ nhiều phía, hầu tiếp cận bản chất cốt lõi nhất của cuộc chiến.

    'Bành trướng xâm lược'

    Trong năm lần dụng quân, chỉ một lần duy nhất Trung Quốc bình định thành công nước Việt (1407). Mọi lý do cho việc động binh đều được “thiên triều” hô hoán “ân đức” như ủng hộ họ Đinh (981), trị phản (1076), phục Trần (1407), phò Lê (1789).

    Do đó có thể khẳng định “ân đức” chỉ là cái cớ, nếu thuận lợi thì chiếm đóng lâu dài (dẫn chứng 1407).

    Tuy vậy, trận chiến 1979 có vẻ rất giống trường hợp 1076, ít nhất khi tham khảo tình hình nội địa Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình là Vương An Thạch của thế kỷ 20.

    Các bước thăm dò ngoại giao và đối nội thận trọng của họ Đặng, kết hợp cùng bối cảnh kinh tế kiệt quệ của Trung Quốc sau mười năm Đại văn cách, cho phép người quan sát uy tín phương Tây đánh giá chiến tranh Việt - Hoa 1979 là “đòn trừng phạt có giới hạn” (1).

    Sự chiếm đóng vào lúc ấy nếu không lỗi thời với nhân loại hậu thực dân, thì cũng khó thực hiện bởi một nước Trung Quốc chưa lo đủ cái ăn, cái mặc cho con dân của mình.

    Song, Hà Nội vẫn gọi những đoàn quân vượt qua biên giới phía bắc của họ là bọn bành trướng Bắc Kinh. Cuộc đối đầu được nhà nước Việt Nam đặt tên là chiến tranh chống xâm lược.

    “Xâm lược” là một từ nhạy cảm cực độ trong lịch sử Việt Nam. Đối với chính thể, nó luôn gây hoang mang và lo lắng, cụ thể là Hà Nội đã lặng lẽ chấm dứt ngay dự án đang triển khai mở rộng thủ đô về bờ bắc sông Hồng. Họ cần con sông làm phòng tuyến tự nhiên. Có lẽ dòng Như Nguyệt ở thời điểm 1076 đã dạy họ như thế.

    Đối với nhân dân, đạo bùa vẽ chữ “xâm lược” mang năng lực thần quyền vô địch. Nó khiến các đám đông cấu thành những cộng đồng trong xã hội Việt Nam chỉ còn biết xả thân, tất cả cho tiền tuyến.

    Nó làm xao nhãng bất cứ mâu thuẫn nội tại nào, dù rất mới, giả như các cuộc đánh tư sản và hợp tác hóa nông nghiệp rộng khắp, khiến bo bo thứ phẩm và mì sợi mốc meo chiếm chỗ trên bàn ăn ở hầu hết các gia đình của một xứ sở có 80% dân số gắn bó với cây lúa nước.

    Né tránh

    Ba mươi năm đã trôi qua, nhà nước Việt Nam hôm nay luôn tránh né mọi chủ đề về cuộc chiến 1979 trước nhân dân. Trả lời câu hỏi tại sao như thế, cũng có thể gián tiếp khơi lộ một phần bản chất thật của cuộc chiến ấy.

    [​IMG]

    [​IMG] Đặt tên cuộc chiến Việt – Trung 1979, không theo bản chất thật của nó, đã giúp nhà nước chiếm được sự ủng hộ vô bờ bến của toàn dân tộc.
    [​IMG]


    1. Né tránh vì tế nhị ngoại giao? Không hẳn vậy. Hiện nay quan hệ Việt – Mỹ không hề ít quan trọng hơn quan hệ Việt – Trung, nhưng tượng đài những anh hùng bỏ mình khi tấn công sứ quán Mỹ năm 1968 trên đường Lê Duẩn vẫn hiên ngang tự tại. Mỗi ngày lễ tết, cờ hoa, băng rôn và khói hương vẫn nghi ngút. Quan hệ Việt – Pháp nói chung là có chiều sâu và đã bền bỉ thử thách qua thời gian, vẫn không làm ảnh hưởng kỷ niệm chiến thắng 1954 và di tích lịch sử Điện Biên Phủ.

    2. Né tránh, vì nhắc đến cuộc chiến là gợi lại sai lầm cũ. Thật vậy, sự kiêu ngạo của những người chiến thắng vào tháng 4.1975 đã phải trả giá, khi họ nghĩ mình có quyền yêu sách chủ động trong quan hệ quốc tế với các trục địa – chính trị toàn cầu. Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc tồn tại dai dẳng trong cuộc chiến Việt – Mỹ, nó chỉ bùng phát khi người Mỹ rút đi.

    Một sự đa dạng trong quan hệ, mềm dẻo và linh hoạt ở đối sách, không quá cực đoan chiều này hay chiều nọ như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng hết sức gìn giữ, giải phóng nhưng không chiếm đóng Campuchia, có thể là những điều kiện cần nhất để tránh xung đột 1979 và những hệ lụy kinh tế xã hội khủng khiếp của nó sau đó.

    3. Trên góc độ nhân văn của nền văn hóa Việt Nam, nhìn nhận lại cuộc chiến 1979 diễn ra khá chậm chạp, tối thiểu là khi so sánh với đối phương cũ Trung Quốc.

    Gần đây tôi đã đọc tiểu thuyết “Ma chiến hữu” của Mạc Ngôn, qua bản dịch Việt văn trên thị trường sách văn học chính thống. Nhà văn lớn tiếng tố cáo chiến tranh phi nghĩa.

    Mạc Ngôn nhận thấy những xác chết của bộ đội Trung Quốc từng được người Việt Nam đếm như xác súc vật cách đây 30 năm ở biên giới phía bắc, đều là di thể của những người nông dân Hoa nam nghèo đói. Họ tòng quân không phải vì “chính nghĩa” của nhà cầm quyền Trung Quốc, mà chỉ bởi ba bữa cơm khéo no nơi doanh trại, những bộ quân phục lành lặn, đủ ấm giữa mùa đông.

    Cùng chủ đề với “Ma chiến hữu”, chỉ có thể kể đến những thứ bán chính thức ở Việt Nam, ví dụ như trên blog Osin, một nhà báo hàng đầu: “Ba mươi năm trước, tự sự của một người từng là lính” (2).

    Ở góc độ nào đấy, trí thức Việt Nam vẫn chưa giải tỏa được đạo bùa “xâm lược” mà nhà nước Việt Nam phóng bút ngày nào. Thậm chí tư tưởng của Osin còn có phần thụt lùi, nếu so sánh với thái độ thù ghét chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” từ năm 1987.

    Chính nhờ “Nỗi buồn chiến tranh” mà thế giới biết đến một nền văn chương phi minh họa vẫn tàng ẩn trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, chỉ đợi nhà nước “cởi trói” để khoe sắc hương giữa bốn biển nhân loại yêu chuộng hòa bình.

    Bài học

    Như đã nêu ra ở trên, cuộc chiến Việt – Trung 1979 có nhiều phần giống với xung đột Việt – Tống (1075 – 1076). Nếu năm 1084 người Trung Quốc làm thơ trách vua của họ “Vì tham voi triều cống của Giao Chỉ, mà đánh mất vàng ở châu Quảng Nguyên (chiếm được năm 1076)” (3), thì năm 2009 này Việt Nam vẫn âm ỉ dư luận tiếc rẻ một phần thác Bản giốc, bãi Tục lãm.v.v.. đã thuộc về Trung Quốc sau khi cắm mốc định giới.

    Hiệp định đường biên Việt – Trung có thể nói là một bức trường thành văn minh, ngăn ngừa mọi cuộc xâm lược thực dân của Trung Quốc đối với Việt Nam từ đây trở về sau.

    Những tranh chấp vô tiền khoáng hậu giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Phillipine, Malaysia, Brunei ngoài biển Đông hôm nay, có vẻ vì dư âm và định kiến từ chiến trận 1979, vẫn thường được dân chúng Việt Nam thu nhỏ thành cuộc xâm lăng mang tên Trung Hoa.

    Đặt tên cuộc chiến Việt – Trung 1979, không theo bản chất thật của nó, đã giúp nhà nước chiếm được sự ủng hộ vô bờ bến của toàn dân tộc. Cho nên nói, năm 1979 người Việt Nam đã chặn đứng đòn thù quân sự từ Trung Quốc, cũng không quá đáng chút nào.

    Trong tương lai gần, nếu không có đột phá khẩu từ khoa học nhân văn, thì tên gọi và diễn biến cuộc chiến Việt – Trung 1979 sẽ không có nhiều cơ may được bàn luận và nhắc nhở thường xuyên trước công luận.

    Chỉ hy vọng, bài học bách chiến bách thắng khi dùng sức dân chống ngoại bang, bảo vệ quyền lợi quốc gia từ hàng ngàn năm nay, sẽ được nhà nước Việt Nam áp dụng thành công trên biển Đông, một cách minh bạch và thẳng thắn.

    *********************
     
    Cải and tran ngoc anh like this.
  9. nhahome93

    nhahome93 Mầm non

    trải qua gần 1100 năm lập quốc là đã có tiếng việt rồi hả ta
     
  10. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Quốc hiệu chứ không phải là triều đại.

    Ví dụ: Triều Đinh và triều tiền Lê có quốc hiệu là Đại cồ Việt nên dân của 2 triều đó là dân Đại cồ Việt

    Bên Tàu thì khác kiểu bên Việt, triều Tống (quốc hiệu là Tống luôn) do họ họ Triệu trị vì. Dân của triều đó gọi là dân Tống. Tôi vẫn nhớ mang máng vụ hồi nhà Trần, có ông quan muốn "nhập Tống" trong cuộc chiến với quân Nguyên. :D
    Không rõ lắm về người Tiều nên không trả lời được. Bên Tàu thì thành phần dân cư có vẻ khá phức tạp. Ngoài người Hán (Hoa), còn nhiều người khác, trong đó có rất nhiều Bách Việt.
     
    tran ngoc anh thích bài này.
  11. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Quốc gia với tiếng nói là 2 cái độc lập với nhau, nhưng dân tộc với tiếng nói thì luôn luôn đi cùng nhau. Ví dụ: không có quốc gia riêng của người Tày, người H'Mong, người Ê Đê, Ba Na... nhưng tiếng nói của các dân tộc đó đã có từ ngàn đời nay.

    Thêm nữa, đất nước của người Việt đã có từ trước khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long rất lâu rồi, cỡ 4000 năm trước cơ.

    Hình như con số 4000 năm được xác định bằng phương pháp định tuổi bằng Carbon phóng xạ:
     
    Chỉnh sửa cuối: 3/9/20
    tran ngoc anh thích bài này.
  12. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Mình nghĩ có lẽ người dân muốn được gọi là người gì thôi. Ở Việt Nam thì trùng hợp tên triều đại được lấy từ họ của Hoàng tộc.
     
  13. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Người ta tự nhận mình là người Hán, chắc vì triều đại đó rất được lòng dân. Tuy nó bị diệt vong từ lâu nhưng dân vẫn nhớ, hy vọng nó phục hưng(????). Rồi dần dần cái tên dân Hán đã định hình, đến mức quen đi, thậm chí nhiều người bình thường không biết tại sao thế.
     
  14. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Bạn có link bài gốc đó không? Tác giả viết thiếu nhiều thế không biết? Hơn cả chục cuộc đối đầu cơ :D
     
  15. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Tính từ năm 938 thì đúng là có 5 lần, à nhà Thanh không phải là người TH đâu nhé, nếu đã đưa nhà Thanh vào thì cần đưa nhà Nguyên nữa.
     
  16. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    10 mấy lần lận, em nhớ là nội thời tống thôi mình kéo quân qua đất Bắc 1, 2 lần gì đó, thời đó người Hoa yếu nhất, bị mình đánh hoài. Bài viết trên viết né một ý là “sau đó trả lại đất đai, phân định rõ ràng”, thật ra bị đánh chiếm lại, chết quá nhiều phải cầu hòa, chứ đất mà trả nghe dễ vậy.
     
  17. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Kể cả như vậy cũng hơn con số 5 một chút.
    Nhưng mà ngộ cái họ quơ hết đó là “Triều Đại Trung Quốc”. Trong khi có thể nói nhà Thanh là lúc Trung Quốc diệt vong. Lúc đó là quốc gia khác do dân tộc khác cầm quyền rồi.
     
  18. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Phải giở sách sử (không phải sách giáo khoa) ra ôn lại bài thôi. :D

    Tranh luận một cách sòng phẳng, nghiêm túc có lợi thế đấy. Kể cả thua cũng sướng! :)
     
  19. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Về lịch sử thì nếu dùng tài liệu chính thống thì không ổn, bị thiếu rất nhiều thứ. Nếu dùng tài liệu mở rộng thì không có căn cứ, không ai tin, giảm số kí đi nhiều :D
    Mà những vấn đề lớn như Quốc gia dân tộc thì nói kiểu gì cho đúng được bây giờ? Trong khi chúng ta chỉ được nghe kể, không biết đã qua bao nhiêu cái lưới lọc quan điểm của người kể rồi.
     
  20. Dr. No

    Dr. No Không Không Thấy Thành viên BQT

    Phải dùng cả lịch sử Trung Quốc để đối chiếu với lịch sử Việt Nam và ngược lại. Bên Trung Quốc thì việc ghi chép tốt hơn bên Việt Nam.
     

Chia sẻ trang này