Đang dịch NC-17 Người đi tìm giấc mơ - Laura Kinsale

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi song vang, 2/7/21.

  1. song vang

    song vang Lớp 7

    Đọc được truyện này thấy hay nên dịch cho các bạn đọc cùng.
    Tóm tắt theo kiểu trần thuật thì truyện nói về một anh tử tước ưa lang bạt, bỏ lại cơ ngơi giàu có ở nước Anh để lùng tìm một con ngựa quý nơi sa mạc. Anh thuê một cậu thiếu niên bản xứ làm người dẫn đường, nhưng không mảy may biết rằng cậu này là một cô gái, từ đó mà rắc rối xảy ra khiến anh suýt chết, từ đó mà xuất hiện một câu chuyện tình.
    Truyện của Laura Kinsale đã có hai cuốn được xuất bản ở Việt Nam là Thạch thảo trong cơn bão và Bóng tối và ánh sao. Hai cuốn đều dày, đều hay, đều đã có trên tve, các bạn đọc thấy hay thì mua sách giấy ủng hộ bản quyền nhé.

    DREAM HUNTER
    Tác giả: Laura Kinsale​

    MỞ ĐẦU​

    London, năm 1838

    “Anh nghĩ họ sẽ làm gì với kẻ khốn khổ đó?”

    “Chắc là chặt đầu hắn,” Tử tước Winter dửng dưng nói. “Nếu như đám đông không ném đá hắn đến chết.”

    “Lạy Chúa.” Sir John Cottle kinh hãi nhìn tử tước, người ngồi dưới dãy cửa sổ đường bệ cao tới trần nhà, đôi chân dài duỗi ra thoải mái với một bình rượu sherry cạnh bên. Trong ánh sáng vẫn còn đọc được sách của buổi chiều tháng Mười Hai mù sương ảm đạm, khuôn mặt của Lord Winter có một sự khắc nghiệt tao nhã, vẻ cứng rắn gai góc thường thấy ở những người đàn ông có mặt trời và sự xa cách là những bạn đồng hành thân thuộc. Vẻ nghiệt ngã của anh được in đậm bởi đông lông mày đen sẫm hắc ám, đôi gò má cao với cái miệng và quai hàm cương quyết. Mấy cuốn sách thuộc bộ sưu tập quý của câu lạc bộ xếp chồng xung quanh anh trên bàn và dưới sàn nhà.

    Sir John lướt ánh mắt mông lung qua những tựa sách như Tường thuật một chuyến thám hiểm ở H.M.S Nỗi kinh hoàng trên những bờ biển Bắc Cực; những chuyến đi Nam Mĩ; Vòng qua mũi Cape Horn: Quang cảnh, sự kiện và những cuộc phiêu lưu từ nhật ký của thuyền trưởng W.M. Alexander. Tâm trí anh không ở trong thư viện câu lạc bộ, hay trong những cuốn sách, mà tràn ngập những cảnh tượng man rợ và bạo lực của phương Đông. Trong nỗi lo sợ anh quay sang người bạn bộc trực của mình là Lord Gresham. “Tôi cảm thấy có trách nhiệm. Cậu ta là người theo đạo Thiên Chúa, cho dù cậu ta đến từ Naples đi nữa. Hay là chúng ta đừng truy cứu nữa, Gresham.”

    “Vớ vẩn.” Gò má gầy của Lord Gresham đỏ rực lên. “Tên người Ý ấy đã tuyên bố hắn là người theo đạo Hồi. Chúng ta đã trả hắn một khoản tiền chuộc khổng lồ - nếu hắn đã không biết làm việc, được thôi! Chúng ta mất tiền, hắn phải mất mạng.”

    “Chặt đầu, lạy Chúa lòng lành! Tôi không biết liệu – “

    “Anh có muốn con ngựa không?” Lord Gresham nhìn xoáy vào Sir John.

    “Có! Có chứ.” Sir John nhấm nhấm ria mép, cặp mắt xanh nhạt băn khoăn. “Nhưng để đẩy người thứ hai đến chỗ chết – ” Anh nhìn tử tước, người đã chuyển sự quan tâm trở về đám sách của mình, rõ ràng hứng thú ghi chép hơn là dõi theo cuộc trò chuyện. “Anh nghĩ sao hả Winter?”

    Tử tước không ngước mắt khỏi việc viết lách. “Nếu không biết món tiền cược là gì, thì tên người Ý của anh là thằng ngu,” anh nhận xét.

    “Nhưng có thể trót lọt không?” Sir John hỏi. “Tên này đã ở phương Đông nhiều năm rồi.”

    “Hắn nói tiếng Ả Rập như người bản xứ,” Lord Gresham bổ sung, “ và Chúa biết là hắn trông hệt người bản xứ luôn.”

    Lord Winter đưa mắt lên, nụ cười nhạt làm cong khóe miệng anh. “Làm sao các vị biết?”

    Cả hai người đàn ông nhìn anh. “Ờ thì,” Sir John nói, “hắn đã mặc nguyên bộ trang phục của tộc Bedouin cho chúng tôi xem. Đội khăn xếp và các thứ.”

    “Khăn xếp!” Tử tước Winter nhướng một bên mày, lắc đầu, và quay lại với những tờ ghi chú.

    Sir John chĩa ánh mắt tóe lửa vào Lord Gresham. “Tôi đã bảo anh là ta nên tham khảo ý kiến của Winter ngay từ đầu!” Anh kêu lên, vẻ hung dữ tương phản với gương mặt phúng phính hồn hậu. “Làm sao chúng ta có thể xác định kẻ ấy có thực sự biết việc hắn sắp làm hay không?”

    “Thì giờ chúng ta đang hỏi ý kiến anh ấy đây,” Lord Gresham nói qua kẽ răng. “Gay go quá, Winter ạ. Chúng tôi cần sự chỉ dẫn tốt hơn. Ai đó ở Cairo, hoặc Damascus, để tìm được một tay lành nghề đi vào sa mạc cho chúng tôi và bắt được con vật. Nhưng đám lãnh sự cứ ra sức cản đường chúng tôi. Chúng tôi hy vọng anh có thể đề xuất một cái tên.”

    Lord Winter ngước mắt, sắc xanh cobalt sâu thẳm của nó tạo nên sự tương phản đột ngột với hàng mi đen và nước da rám nắng. “Hai vị đang lãng phí thời gian và tiền bạc đấy. Tôi rất ngờ rằng con ngựa này không tồn tại.”

    “Chúng tôi có giấy - ” Sir John mở miệng.

    “Từ tên người Ý xấu số của anh?” Tử tước ngắt lời. “Chắc là một con ngựa nòi? Dòng giống thuần chủng từ những tàu ngựa của vua Solomon, được chứng thực bởi các tù trưởng tóc bạc trắng – đại loại thế?”

    “Đúng vậy. Kiểu như thế.”

    “Tôi có thể bán cho anh một tấm thảm bay được không?” Lord Winter lễ độ hỏi.

    Sir John ú ớ phản đối. Lord Gresham nói, “nếu anh muốn đọc nó - ”

    “Ôi, tôi dám chắc nó là một câu chuyện cổ tích. Không người Bedouin nào trong sa mạc lại nói dối về dòng máu của một con ngựa, vì bọn họ biết rõ mọi con ngựa như biết về mẹ họ - nhưng trước sức mua của các vị, họ sẽ nhiệt thành nói láo vung vít trên giấy: ký tên, đóng dấu và lạy thánh Allah ba lần. Các vị đã trả tay người Ý đó bao nhiêu?”

    “Một ngàn,” Lord Gresham nói thẳng. “Đúng đúng, tôi biết anh cho chúng tôi là lũ khờ, Winter, nhưng vấn đề là, tờ giấy không đến từ tên người Ý.” Anh hạ giọng. “Tôi lấy nó từ ông anh rể làm bên bộ ngoại giao. Nó đến trong một tàu đưa thư bị chặn ở Jeddah, lẫn lộn với một số tài liệu bí mật.” Anh huơ tay. “Người Thổ và người Ai Cập, những đợt hành quân, anh biết mấy chuyện đó đấy. Palmerston quan tâm đến chúng, Chúa phù hộ con người đáng thương đó. Nhưng ông ta không để ý đến ngựa nghẽo, và sau khi chúng được dịch ra, và không mang mật mã gì, ông ta đã bảo Harry ném mảnh giấy vào lửa.”

    Vẻ thờ ơ trong mắt Lord Winter biến mất; anh nhìn chăm chăm vào hai người đàn ông nhiệt huyết đã cố công tìm đến anh. “Tờ giấy ấy đâu?”

    Lord Gresham lập tức rút từ túi áo trong ra một văn bản sờn rách, buộc bằng dây thô, lẳng lặng đưa cho tử tước.

    Lord Winter đọc lướt những chữ Ả Rập. Thư viện câu lạc bộ chìm trong yên lặng khi hai người đàn ông vươn người về phía trước, chờ đợi. Anh đọc xong văn bản, cuộn vào rồi đưa trả lại, gương mặt vô cảm. “Một lần nữa, tôi tha thiết đề nghị các anh hãy tiết kiệm tiền bạc và thời gian của mình.”

    “Anh nghĩ nó là giấy lộn sao?” Lord Gresham hỏi.

    “Không, tôi nghĩ nó là thật.” Miệng tử tước sắt lại. “Đó là một lời nhắn gửi cho một người đàn ông tên là Abbas Pasha. Đó là cháu trai của phó vương Ai Cập, và những con ngựa sa mạc là niềm đam mê của gã ta. Gã là một hoàng tử trẻ sống theo đúng truyền thống của Thành Cát Tư Hãn – kẻ nào lừa gạt gã trong những vấn đề liên quan đến ngựa có thể yên trí rằng sẽ bị dí sắt bỏng vào hai bàn chân.”

    “Vậy con ngựa cái mang tên Chuỗi Ngọc Trai này thực sự tồn tại! Và nó đang mất tích đâu đó trong bán đảo Ả Rập. Hẳn phải có một người dẫn đường thích hợp có thể tìm ra nó. Anh chỉ việc cho chúng tôi lời khuyên về loại người chúng tôi cần và nơi để tìm hắn.”

    “Bức thư đó viết chưa có một con ngựa nào nhanh hơn, Winter!” Sir John sôi nổi nói. “Anh chắc đã nghe nói Gresh và tôi đã mua Ngọn Gió Đêm hồi năm ngoái. Nó là tia chớp! Lạy Chúa, nó đánh bại mọi con ngựa nó đua cùng – và nó cũng nóng máu nữa, mới có ba thế hệ sinh ra từ cùng một dòng giống Phương Đông này. Không có con ngựa cái thuần chủng nào trong nước có thể phù hợp với nó, nhưng nếu chúng tôi tìm được con Chuỗi Ngọc này và gây giống lại dòng máu sa mạc, tôi biết chúng tôi sẽ có một sự kết hợp mà thế giới chưa từng chứng kiến.”

    “Chúng tôi sẽ không tiếc thứ gì để tìm ra nó,” Lord Gresham tuyên bố.

    “Tìm ra nó là hy vọng xa xôi nhất của các vị,” tử tước chốt hạ, ngả người ra ghế và mở lại cuốn sách. “Tin tôi đi.”

    “Nhưng nếu anh nói nó đúng là thật, bức thư đó - ”

    Sir John ngẩng lên, giọng ngừng bặt khi một quý ông tao nhã dừng lại nơi ghế của Lord Winter. “Cố nhiên ta sẽ tìm thấy anh ở đây,” người đó lạnh lùng nói.

    Gương mặt Lord Winter không thay đổi mấy, nhưng anh đặt cuốn sách sang bên và đứng dậy, không cần quay lại nhìn để nhận ra cha mình. “Nó chỉ là câu lạc bộ của những người thích chu du thôi,” anh nói, đưa tay ra cho bá tước Belmaine. “Làm sao là nhà thổ được.”

    Bá tước làm ngơ cái chào và khẽ gật đầu với những người bạn của Lord Winter. Nom ông giống hệt con trai mình, trừ sắc trắng quý phái của gương mặt và đôi bàn tay, và vóc dáng gầy hơn của một người ít nhu cầu hơn nhiều đối với sức mạnh thể chất. Môi ông nhếch lên ghê tởm khi ông quan sát đống sách rải rác quanh ghế của tử tước. “Ta nói riêng với anh vài lời được không?”

    “Xin mời,” Lord Winter đáp.

    “Một nơi kinh tởm,” bá tước nói, dẫn con trai ra một góc khuất của thư viện.

    “Cha về hưu đi,” Lord Winter đề xuất chân thành.

    “Và mất đi phương cách cuối cùng để nói chuyện với người thừa kế quý báu của ta? Ta dám chắc ta sẽ quên mặt mũi anh. Ta tin mẹ anh đã quên rồi.”

    “Không may mắn thế đâu,” người thừa kế quý báu của ông nhận xét. “Bà ấy đã tóm được con ở Picadilly mới tuần trước, với một trong những cô nàng vừa ra mắt tẻ ngắt trong thành phố của bà.”

    “Ta đoán bà ấy đã buộc phải gặp anh ngoài đường,” bá tước gay gắt, “vì anh không thấy cần thiết phải đến nhà thăm bà ấy.”

    “À, con không đủ can đảm.” Lord Winter nhìn cha bằng ánh mắt khô khan. “Xét cho cùng đâu có phải như chúng ta có chuyện gì để nói. Con không hứng thú với những thứ bà ấy dọn lên ở tiệc vũ hội lần trước, cũng như những cô gái bà khao khát muốn con lấy về làm vợ, và bà không hứng thú với bất cứ cái gì ở con trừ những khuyết điểm. Một chủ đề quá cũ kỹ để bàn luận sâu hơn.”

    “Ta nghĩ rằng lòng yêu mến tự nhiên của một đứa con trai đối với mẹ nó - ”

    “À, từ lâu rồi chúng ta đã đồng ý rằng con là một đứa con trai hoàn toàn phi tự nhiên!” Tử tước ngắt lời với một chớm sốt ruột. “Con sẽ cho họa lại gương mặt bán diện của mình. Bà ấy có thể treo nó trong phòng khách, và chỉ cho khách khứa nhằm chứng minh sự tồn tại của con.”

    “Anh thật chu đáo,” bá tước mỉa mai. “Nhưng ta không tìm anh để khen ngợi tác phong lịch sự lừng danh của anh với mẹ anh. Ta vừa từ phòng chơi bài của Hiệp hội Địa lí Hoàng Gia ra.” Ông cho tay vào trong áo khoác. “Anh sẽ vui mừng khi là người đầu tiên nhìn thấy danh sách những cái tên trong đoàn thám hiểm của thuyền trưởng Ross đi đến Nam Cực.”

    Nét mặt của tử tước Winter hơi xao động. Anh đứng nhìn cha mình. Bá tước quăng hai trang giấy gấp lên chiếc bàn giữa họ.

    Chúng nằm mở hé. Nỗi kinh hoàng H.M.S, đầu đề một tờ; Bóng tối H.M.S là tiêu đề tờ kia, với một cột những cái tên bên dưới. Lord Winter không cần đọc. Tên anh không có ở cả hai.

    “Theo ta nhớ thì hôm nay là sinh nhật anh,” bá tước nói. “Quà tặng của ta đó.”

    Lord Winter vẫn không nói năng gì. Một ánh xa cách, trơ lì đã len vào khuôn mặt anh, một vẻ lạnh nhạt chua chát.

    Cha anh càng tức khí. “Tính ra hôm nay anh đã tròn ba mốt. Nếu ta có cháu trai, thằng bé sẽ lên mười.”

    Miệng Lord Winter sắt lại. Hàng mi đen của anh hạ xuống.

    “Nếu như có cháu trai,” bá tước nói nhẹ tênh, “anh có thể đào mồ cho mình trong lớp băng ở Nam Cực cùng lời chúc phúc của ta. Hoặc trong biển cát của sa mạc Ả Rập quý hóa của anh, hoặc trong khu rừng hôi hám nào đấy – bất cứ nơi mọi rợ nào anh muốn đâm đầu tự sát.”

    Với vẻ ung dung cố ý, tử tước Winter nhấc tờ danh sách khỏi mặt bàn. Anh cầm chúng trong tay một cách nhẹ nhàng đáng sợ. Có những thành viên khác của câu lạc bộ rải rác trong những góc xa của thư viện. Bọn họ ngước lên, rồi vội vàng cúi xuống những cuốn sách của mình. Sir John và Lord Gresham chuyên chú vào một cuộc bàn luận về chất lượng rượu sherry của câu lạc bộ.

    “Chuyện đó miễn bàn đến,” bá tước tiếp tục với ác ý dai dẳng, “chừng nào anh còn là người thừa kế của ta, chưa kết hôn và sinh con, ta buộc phải quan tâm đến anh, và đập tan những kế hoạch thú vị anh lập ra để để khiến bản thân chết yểu này.”

    “Sự tận tâm của cha thật vĩ đại, như mọi khi,” – tử tước Winter lẩm bẩm, trả lại tờ giấy cho cha anh. “Con hy vọng cha đã không phải bán quá nhiều phiếu bầu trong thượng viện để đạt được kết quả này. Chắc là việc con bị loại khỏi đoàn thám hiểm đã góp được một khoản kinh phí kha khá cho xã hội?”

    “Nhà ta sẽ nghỉ Giáng Sinh ở Swanmere,” bá tước đáp không liên quan.

    “Cha không cần phiền gia nhân thông khí cho phòng con đâu. Con sẽ ra nước ngoài.”

    Bá tước Belmaine đứng đối mặt với con trai, hàm răng nghiến chặt đằng sau nụ cười. “Khỏi lo,” ông nhã nhặn nói. “Ta sẽ chẳng làm phiền đến cả một tên chăn lợn vì anh.”

    Lord Winter nghiêng đầu. “Xin phép chúc cha một ngày tốt lành.”

    “Chào.” Bá tước quay đi. Đến cửa ra vào có cột chống của thư viện, ông dừng bước và ngoái lại. “Chúc anh sinh nhật vui vẻ.”

    Tử tước Winter không trả lời, vẫn trơ như đá.

    Bá tước Belmaine đã định đi với vẻ cay nghiệt đó. Nhưng ông nhìn người con trai cao lớn của mình, nhìn khuôn mặt đẹp trai lạnh lùng không bộc lộ một tia giận dữ hay xúc cảm, không bộc lộ bất cứ điều gì trong ánh mắt bình thản, và bá tước không thể đoạn tuyệt hẳn. Cho dù khi ông hỏi, sự yếu đuối của bản thân làm ông tức tối. “Ta có hân hạnh được biết anh sẽ đi đâu không?”

    “Để cha tìm cách ngăn chặn con sao?” Tử tước lạnh nhạt hỏi. “Không, con nghĩ là không.”

    Bá tước nén giận, ý thức rõ ông đã đưa ra sự khiêu khích đủ để châm ngòi cho bất cứ hậu quả khôn lường nào. Ông sẽ không đẩy tử tước đến chỗ đem về nhà một người đàn bà trát đầy son phấn từ một hậu cung và giới thiệu với cha mẹ là vợ mình. Ông chẳng hiểu được khiếu hài hước cũng như đam mê phiêu lưu bạt mạng của anh, nhưng ông đã học được, với phần nào khó khăn, rằng đừng bao giờ khinh suất với cả hai. “Vậy thì chúc anh Giáng Sinh vui vẻ,” ông nói cộc lốc.

    “Con cũng chúc cha như vậy,” Lord Winter đáp.

    Cha anh rời đi, để lại gian phòng lặng như tờ, không có cả một tiếng lật trang. Tử tước đứng nhìn theo ông, gương mặt vô cùng điềm tĩnh. Rồi anh quay lại chiếc bàn gần cửa sổ nơi Sir John và Lord Gresham vẫn đợi bên cạnh chồng sách và những tờ ghi chú.

    Lord Winter ngồi lại ghế. Anh rót cho mình một ly rượu sherry. Anh nhìn đăm đăm xuống ly rượu, rồi nhấp một ngụm và đặt ly sang bên.

    “Hai vị,” anh lẳng lặng nói, “Tôi quyết định giúp một tay trong vụ con ngựa Ả Rập của các ngài.” Một nụ cười nhẹ, châm biếm thắp sáng đôi mắt kỳ lạ của anh khi anh ngước lên. “Thực ra, tôi sẽ đích thân lo chuyện đó.”

    Thư viện câu lạc bộ các nhà lữ hành vẫn yên tĩnh sau khi Sir John và Lord Gresham rời khỏi cùng với những lời cám ơn rối rít và nồng nhiệt. Suốt cả buổi chiều, những âm thanh duy nhất là tiết rít của lò sưởi, tiếng lật sách của tử tước và tiếng ngáy khe khẽ của một nhà ngoại giao người Pháp nằm dài trên sofa với một tờ báo của thành Viennese trải trên mặt. Cuối cùng, khi tiếng nói chuyện ồn ào của bữa tối bắt đầu vẳng xuống từ phòng ăn, một dấu hiệu dường như tự lọt vào ý thức của Lord Winter. Anh đứng dậy và vươn vai, chọn một cuốn sách để mang theo và cứ để nguyên số còn lại mở toang trên bàn.

    Anh leo lên cầu thang hai bậc một, lướt qua những thành viên khác đang đi xuống. Một bộ ba của câu lạc bộ lảng vảng trước cửa phòng ăn, dựa vào tường cười nghiêng ngả trong lúc một người hút nốt tẩu thuốc.

    “Ngài ấy đây rồi!” Một người kêu lên, trông ngang thấy tử tước. “Quý ngài Sa mạc của chúng ta!”

    Lord Winter dừng chân và nhìn từ người nọ qua người kia. “Tôi đây,” anh nói. “Chào các ngài.” Anh dợm bước định đi qua.

    “Quả là chàng Winter kỳ thị xã hội.”

    Họ nhăn nhở cười với anh. Có vẻ họ có ý tốt, nhưng anh cảm thấy sự khó chịu cứng nhắc cố hữu trào lên. Anh nở nụ cười gượng gạo. “Tôi e rằng tâm trí tôi đang lang thang.”

    “Cho nó vào guồng đi, ông bạn, và ăn tối với bọn tôi.”

    Lord Winter do dự. Rồi anh nghiêng đầu. “Cám ơn, nhưng tôi là kẻ đồng hành chán chết.” Anh giơ tay làm cử chỉ chào ngắn gọn và đi cùng họ vào phòng ăn.

    Chiếc bàn quen thuộc của anh chỉ cách cửa vài bước chân, một chiếc bàn đơn. Khi anh ngồi xuống, một phần sự lệch tâm của âm thanh khiến giọng nói hạ thấp của bọn họ trở nên rõ rệt với anh trong tổ hợp tiếng rì rầm.

    “Kẻ cô độc.”

    “Ngài quen hắn à? Chẳng bao giờ thấy hắn ở cùng ai.”

    “Có mấy khi hắn ở trong nước đủ lâu để người ta trông thấy đâu. Toàn lang thang ở mấy cái sa mạc Syria, nhưng giờ hắn sẽ đi Nam cực.”

    “Nam Cực, lạy Chúa. Đó sẽ là cái tát vào mặt câu lạc bộ những người lữ hành các ngài. Hắn học trường nào?”

    “Chắc là bảo mẫu và gia sư. Không thể liều cho hắn đến trường được. Ngài không biết hắn là người thừa kế của Belmaine sao?”

    “À!” Âm tiết đơn sắc ấy hàm chứa một phát hiện lớn. “Belmaine.”

    “Con một. Không có đứa nào khác. Gia tài kếch xù – tất nhiên kèm theo tước hiệu. Hắn thật tốt số.”

    “Thật sung sướng khi một mình trên ngai vàng như thế.”

    “Xem ra hợp với tên khốn đó. Tôi đã chẳng mời hắn ăn tối cùng chúng ta đó thôi?” Dừng một lát; một cái nhún vai có thể nghe rõ. “Bạn đồng hành chán chết, đúng như hắn nói.”

    Lord Winter lật cuốn sách của mình và bắt đầu đọc.
     
    Cynir, NHTB, Levananh and 10 others like this.
  2. oiseauparadis

    oiseauparadis Mầm non

    Chào mừng bạn đã trở lại rất vui được đọc tiếp những truyện dịch của bạn ! Thân mến
    :rose:
     
  3. loveQWE

    loveQWE Mầm non

    Chào mừng chị Sóng Vàng trở lại :rose:. Dạo này diễn đàn nhộn nhịp thích quá đi.
    Btw thì Laura Kinsale là tác giả yêu thích của em, đọc Thạch thảo trong cơn bão thích lắm luôn ấy.
     
    tienbach2013, hathao and song vang like this.
  4. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 1​

    25 tháng 6, năm 1839

    Syria

    Đức cha Thomson run lập cập là điều dễ hiểu. Ít phút trước ông có thể trấn tĩnh trước đống xương người chất cao bên ngoài hầm mộ, trên đỉnh là cái đầu lâu, cảnh tượng rùng rợn được thắp sáng chỉ bằng hai cây nến cắm vào mỗi bên hốc mắt của thứ đang cười nhe nhởn ấy. Những mảng tối kỳ dị chập chờn trên quan tài gỗ ván và những gương mặt u ám của đám người hầu dáng vẻ hoang dã của Mohammean quây xung quanh.

    Ông không muốn bị lạc đường giữa khu vườn rối rắm trong những bức tường pháo đài của Dar Joon. Nhưng đã quá nửa đêm được hai giờ đồng hồ, và sau khi những người hầu, quấn khăn xếp và để ria mép rậm, đã nhấc quan tài lên để đưa Lady Hester Stanhope đến nơi yên nghỉ cuối cùng, cha Thomson đã nấn ná lại phía sau một lúc ôn lại những nghi thức tang lễ của nhà thờ Anh, để ông có thể đọc chúng lên mà không có sự ngập ngừng thiếu tôn kính hoặc lần giở trang sách.

    Hành động ấy hóa ra lại thất sách nhất. Ngay sau khi đoàn đưa tang cùng với đèn đuốc rời khỏi sân trong, biến mất vào khu vườn um tùm tối đen của Lady Hester, một cơn gió nóng đen đủi đã nhận chìm nhà truyền giáo người Mĩ vào bóng tối. Ông buộc phải tìm đường giữa một mê cung của những lối mòn lộng gió, những giọng nói êm nhẹ và ánh sáng mờ tỏ của một cây đuốc luôn vừa vặn vượt ra khỏi một vùng lờ mờ khác hoặc một chỗ rẽ dường như chẳng dẫn đến đâu. Mất một lúc ông đi lạc, vấp phải những rễ cây và gạt đi những dây hoa nhài, cuối cùng ông cũng đến được chỗ vòm cây.

    Hình ảnh rùng rợn đập vào mắt khiến ông hốt hoảng. Nhưng viên lãnh sự Anh là ông Moore bước đến cạnh ông, khoát nhẹ tay về phía đống xương, và thì thầm, “Đừng để ý đến anh ta. Chỉ là một gã người Pháp thôi.”

    Ông Thomson liếc mắt sang viên lãnh sự như một con ngựa bồn chồn. “Tôi hiểu,” ông nói.

    “Đó là đại úy Loustenau,” Mr. Moore thì thầm. ‘Phải bỏ anh ta ra để lấy chỗ cho bà ấy. Con người tội nghiệp đó đã đến đây trong một chuyến đi chơi, bị đau bụng và chết đột ngột. Nhiều năm trước. Bà ấy đã say mê xương cốt của anh ta.” Ông ta khẽ nhún vai. “Nghe nói là một kẻ lười biếng, thực dân. Nhưng khá hợp với phong cách của bà ấy, nếu ông hiểu ý tôi.”

    Mr.Thomson hắng giọng vẻ thắc mắc.

    “Trẻ và bảnh trai,” Mr. Moore nói rõ hơn.

    “À,” Mr.Thomson mơ hồ.

    “Thời hoàng kim của bà ấy thì ông già Baker làm lãnh sự,” Mr. Moore bổ sung trong tiếng thì thào gợi ý, “và ông ta thường nói Michael Bruce là thằng cha đẹp trai nhất từng đi bằng hai chân.”

    “Ra vậy,” nhà truyền giáo nói.

    Mr. Moore nhìn ông trêu chọc. “Người tình của bà ấy, ông biết đấy.”

    Mr. Thomson cắn môi.

    “Bà ấy đưa gã lên giường mình khi gã hai ba tuổi,” viên lãnh sự nói. “Bà ta - ồ, ít nhất đã ba tư ba lăm. Là một bà cô chính hiệu rồi. Hai người bọn họ cùng nhau đi khắp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria. Bà ta tự hào như một lãnh chúa; mặc kệ thiên hạ nghĩ gì. Mặc quần dài và cưỡi ngựa như một viên tổng trấn Thổ. Không bao giờ lấy Bruce, mặc dù nghe bảo gã đã năn nỉ bà ấy. Bắt gã bỏ lại bà ấy ở đây. Ông già Baker bảo bà ấy khoác lác về chuyện đó. Coi đấy là một sự hy sinh quý tộc, để gã có thể về nhà và trở thành một người đàn ông vĩ đại.” Mr. Moore lắc đầu. “Gã còn chưa kịp thử sức. Tiếc thay.”

    “Tôi hiểu,” Mr. Thomson nói. “Thật là – hiếm thấy.”

    Hai người nhìn đăm đăm cỗ quan tài, nghĩ về cái thi hài trắng toát quắt queo họ vừa tìm thấy, sau một chuyến đi đường trường cả ngày, nằm phơi mình trong cái nóng ngột ngạt. Mr. Thomson cảm thấy mình nên đưa ra vài nhận xét về những hậu quả của tội lỗi, nhưng cái kết cục thê lương này, chết cô độc giữa những người xa lạ vô thần và tàn tích của pháo đài bỏ hoang của mình, dường như là hình phạt đủ nặng cho một cái tội hẳn đã xảy ra cách đây một phần tư thế kỷ. Còn Mr. Moore chỉ nghĩ rằng thật không thể tin nổi việc mụ Hester Stanhope kỳ dị, nữ hoàng điên của sa mạc, lại có khả năng thu phục được một tay sát gái như Bruce theo lời đồn. Dù Mr. Moore chưa từng gặp bà ta hồi còn sống, ông vẫn biết về tiếng tăm của bà ta, chưa kể mối thù khôn nguôi của bà với mọi viên lãnh sự Anh, bao gồm cả ông, quá xúi quẩy khi bị đưa vào tầm ngắm của bà. Nhưng Mr. Moore không sao hình dung ra một Lady Hester nào khác ngoài một bà già sống ẩn dật tuôn ra những lời tiên tri và phá rối công việc của lãnh sự quán, gửi những bức thư cay độc cho tất cả mọi người và phàn nàn về những món nợ của mình từ pháo đài không thể xâm phạm trên núi.

    “Một người đàn bà quỷ quái,” ông lẩm bẩm. “Đến miệng lưỡi trong đầu bà ta cũng hiểm độc, tôi xin nói với ông như thế.”

    “Cầu Chúa thương lấy linh hồn bà ấy,” nhà truyền giáo nói khẽ.

    “Amen,” Mr. Moore nói. “Tốt hơn hãy làm cho xong trong cái nóng này.”

    Mr. Thomson lí trí trở lại, cầm quyển kinh lên và bắt đầu đọc. Khi những tiếng nói ồm ồm vang lên trong vòm cây, một quý ông người Anh khác lặng lẽ tiến vào rìa vùng sáng chập chờn.

    Viên lãnh sự liếc nhìn sang, gật đầu lịch sự, rồi ngoan đạo cụp mắt xuống trở lại. Cha Thomson ngừng bài đọc, phòng khi đây là một người đến viếng có quan hệ gắn bó với người đã khuất, có thể muốn an ủi bản thân với một vị trí gần quan tài hơn. Nhưng người đến sau này không len lên trước, vẫn đứng hơi tách biệt với cả đám người hầu lẫn những người làm lễ.

    Đó là một người đàn ông cao lớn, vóc người cân đối, đi giày ống và mặc áo khoác đi săn, một túi thuốc súng kẹp vào dây đai vắt qua ngực. Tóc anh ta đen như miệng hầm mộ. Trong ánh sáng lập lòe, đôi mắt anh ta đen như hắc ín, và diện mạo anh ta, đối với những dây thần kinh đã bị mài mòn của cha Thomson, quỷ quái một cách khó chịu.

    “Lord Winter,” Mr. Moore lẩm bẩm.

    Vì cái tên này không có ý nghĩa gì với nhà truyền giáo người Mĩ – và vì Lord Winter đáp lại cái gật đầu mời của Mr. Thomson chỉ bằng một cái nhìn chằm chằm lặng lẽ - ông liền tiếp tục công việc của mình. Đức cha vẫn đang cảm thấy xáo động, nhưng ngẫm thấy cái đám tang kỳ dị này, cùng với vài sự việc khác trong những ngày lưu lại vùng đất phương Đông tối tăm đã được ông ghi chép lại trong nhật ký, chí ít nên gom lại thành một tập hồi ức du hành khi thời gian chín muồi.

    Về phần mình, Lord Winter không biểu lộ một chút ngạc nhiên hay thất đảm trước cảnh tượng khác thường. Cái xác được chôn cất trong sự im lặng trang nghiêm, chỉ có một người hầu da đen bày tỏ nỗi tiếc thương thực sự trong những giọt nước mắt lặng lẽ. Bên cạnh bà, một thằng bé người Bedouin đứng im thẳng tắp, mái tóc rối tung xõa đến vai, hai bàn chân trần lấm lem, một con dao găm giắt ở thắt lưng và một cây súng hỏa mai cổ xưa đặt trên vai như thể nó đã đến như một con báo trẻ từ sa mạc. Ánh mắt tìm kiếm của Lord Winter dừng lại ở nó trong chốc lát, để ý đến hàng mi đen như đánh phấn kohl của con gái, đôi môi đầy đặn và cái cằm thanh tú đặc trưng của thanh niên Ả Rập du cư, và lướt qua. Giống như người Bedu, anh chắc chắn rằng sự mỏng manh bề ngoài này hoàn toàn là đánh lừa, và thằng bé có một nghị lực rất mãnh liệt và tay nghề cướp bóc lạnh lùng. Nhưng nó không phải là người mà Lord Winter đang tìm.

    Xem ra con người đặc biệt đó không muốn ban vinh dự cho đám tang bằng sự hiện diện của mình. Tử tước Winter không để cho sự vắng mặt của hắn khiến anh bận tâm, chuyện bình thường khi sự xuất hiện của những người Frank xa lạ khiến cho một người như thế cảnh giác với việc bước vào những bức tường của Dar Joon.

    Vẻ mặt anh trở nên mỉa mai rõ rệt khi viên lãnh sự giở ra một lá cờ Union Jack và phủ nó lên quan tài của Lady Hester. Trong tất cả những kẻ thù của mình, bà căm ghét những nhà truyền giáo và những viên lãnh sự Anh nhất: bị đặt trong mộ dưới lá cờ Union Jack và bị thuyết pháp bởi một mục sư Thiên Chúa giáo ắt sẽ làm bà tức uất.

    Mặc dù tử tước đến đám tang của Lady Hester chỉ là tình cờ, trùng hợp với cuộc hẹn riêng của anh ở pháo đài trên đỉnh đồi của bà, anh vẫn cảm thấy một niềm hối tiếc rằng anh đã không đến gặp bà thêm một lần trước khi bà chết. Nhưng miệng anh nhếch lên thành nụ cười lầm lì trước sự đa cảm ấy. Không; nếu như anh biết kết cục sắp đến, anh ắt sẽ thuê những người Bedouin hoang dã nhất có thể tìm được và ra lệnh tấn công vào pháo đài, để bà có thể chết trong lúc chiến đấu.

    Bà đã luôn muốn như thế. Bà đã nói với anh như vậy.

    Lẽ ra anh nên làm thế.

    Thủ tục đã xong, xương cốt của người đàn ông Pháp được đưa trở lại nằm cạnh quan tài của Lady Hester và hầm mộ được đóng lại, Mr. Moore tức thì quay sang đưa tay ra. “Chào buổi tối, thưa ngài! Chắc phải là chào buổi sáng. Công việc này khổ thế đấy. Ngài thật tử tế khi đến đây.”

    “Tôi đã ở trong vùng,” Lord Winter nói ngắn gọn.

    Mr. Thomson hỏi bằng giọng hy vọng, “Ngài có phải là bạn của người quá cố?”

    “Đúng vậy,” Lord Winter nói. Anh dừng lại. “Tôi đã có vinh hạnh đó.”

    “Một người phụ nữ tài ba, tôi chắc chắn là vậy,” Cha Thomson nói, vẻ tiếc thương.

    “Phải,” viên lãnh sự vội nói. “Một cuộc đời phi thường. Ngài dùng bữa khuya cùng chúng tôi dưới làng chứ, thưa ngài? Họ bảo rằng chúng ta đã có sẵn giường ở đó.”

    “Thật hân hạnh,” Winter nói, “nhưng tôi muốn ở lại đây đêm nay, nếu ông cho phép.”

    Mr. Moore tỏ ra kinh ngạc. “Ở đây? Nhưng tôi phải đóng cửa nơi này. Tôi không thể để cho đám người hầu lưu lại.”

    “Có lẽ - ” nhà truyền giáo nhẹ nhàng gợi ý, “là một người đau buồn, Lord Winter muốn được ở một mình để tưởng niệm nỗi mất mát.”

    “Ồ. Vâng. Đúng vậy.” Mr. Moore ném cho người được cho là đau buồn một ánh mắt ngờ vực, không quen coi quý ngài đáng kính Arden Mansfield, Tử tước Winter, ở phương diện một người đàn ông giàu cảm xúc. “Ờ, nếu là trường hợp đó, thì hẳn là có thể.”

    “Cảm ơn ngài.” Lord Winter cúi đầu. “Tôi vô cùng cảm kích.”

    Mr. Moore nom như muốn buột ra mấy lời nhận xét, nhưng rồi ông ngậm miệng. Ông chỉ mỉm cười sáng suốt và cúi đầu đáp lại.

    Viên lãnh sự ắt sẽ ngạc nhiên lắm khi biết Lord Winter xúc động sâu sắc trước cái chết này. Sau khi tất cả gia nhân bị xua ra ngoài, những ngọn đuốc của họ tha hồ cháy rừng rực soi sáng con đường mòn dốc nghiêng dẫn xuống đồi cho nhà truyền giáo và Mr. Moore nhưng thực chất phục vụ một mục đích đáng giá hơn là ngăn ngừa ma quỷ trong đêm và lũ linh cẩu – Lord Winter cài cổng và quay trở lại khu vườn tối om tới ngôi mộ. Anh ngắt một bông hồng từ bụi cây vươn ra, trầm mặc nhìn chỗ đất bị giày xéo và những hòn đá xám xịt phía trước mộ. Tình trạng thô tục của nơi đây chứng tỏ sự bỏ bê nhiều thập kỷ. Thế nhưng bên dưới sự đổ nát vẫn là Dar Joon, cung điện thần thoại của Nữ Hoàng Sa Mạc.

    Sa mạc – và Lady Hester. Chúng đã từng là bùi nhùi cho những ước mơ của một cậu bé, tia lửa và ngọn lửa cho tuổi trưởng thành của anh. Sương mù nước Anh, những khu vườn xén tỉa gọn ghẽ của Swanmere, chẳng cái nào có vẻ chân thực với Arden như không khí dữ dội của miền hoang dã. Và không có người phụ nữ nào từng ám ảnh tâm trí anh như Lady Hester Stanhope.

    Anh không thể nhớ có thời gian nào trong cuộc đời anh không biết về bà. Khi anh năm tuổi, bà đã bất chấp những băng cướp Bedouin và vượt qua sa mạc để trở thành người phụ nữ Anh đầu tiên đặt chân đến Palmyra; khi Arden vẫn còn bận áo khoác ngắn, chọc phá đàn cá hồi của cha mình bằng một sợi dây và cây gậy, bà đã đi tìm kho báu trong những phế tích của Ascalon; khi anh đang tập leo lên lưng con ngựa con đầu tiên thì bà đã chỉ huy đội quân của quan tổng trấn, phá hủy một vùng nông thôn trong trận báo thù đẫm máu cho cái chết của một người bạn; trước khi anh trở thành một người đàn ông thì bà đã khiêu chiến một vị hoàng thân, thách thức hoàng tử Phương Đông gửi con trai đến điều đình với bà, để bà có thể đích thân giết hắn. Bà đã ăn mặc như thổ dân và như người Thổ Nhĩ Kỳ; bà đã che chở những người Druse bị thương và những người Albania nổi loạn, những trẻ mồ côi và những người Mameluke thất trận. Khi viên tổng trấn quyền lực, bách chiến bách thắng ra lệnh cho bà giao nộp những kẻ thù của hắn, bà chỉ trả lời, “Đến đây mà lấy.” Và ông ta đã không dám thử.

    Bà chưa bao giờ làm Arden thất vọng, cho dù tuổi tác đã đẩy bà sa vào chủ nghĩa siêu hình không tưởng và theo đuổi thuật chiêm tinh và phép thuật. Thời kỳ xế chiều bà vẫn uy nghi hơn bất cứ người đàn bà nào anh từng gặp. Người ta đồn bà đã đòi làm cô dâu của Đấng Cứu Thế mới, nhưng Arden chưa hề nghe bà nói thế - mà là bà sẽ cưỡi ngựa bên cạnh Người tiến vào Jerusalem. Bà sở hữu tính tự phụ cao ngất và sự dí dỏm chua cay, một bộ óc bị lung lạc bởi những lời tiên tri ngớ ngẩn, nhưng nó là trái tim của một con sư tử cái đã bảo vệ đỉnh núi này, một mình giữa những chính thể bạo ngược xấu xa của Phương Đông, và giữ cho nó thoát khỏi mọi luật lệ trừ luật lệ của bà.

    Arden ném bông hồng xuống trước mộ. Anh đã sinh ra quá muộn. Hester Stanhope đã chết. Cả đời anh sẽ không tìm được người phụ nữ nào sánh với bà, và đêm nay, sự cô độc bồn chồn không thể định nghĩa đã lôi anh – luôn lôi kéo anh đến những nơi hoang vu tàn bạo của trái đất, cứ như anh có thể tìm thấy ở đó mảnh tâm hồn anh đã mất từ lúc sinh ra – dường như sắc nhọn hơn sau một thời gian dài.

    Khẽ thốt một tiếng chửi thề, anh tắt chiếc đèn của mình và quay khỏi ngôi mộ. Bằng ánh sao, anh đi xiên xẹo giữa những mảnh sân im ắng, dò dẫm tìm đường qua những lối mòn quanh co tới nhà của những người lạ nơi anh định nghỉ lại, hai lần lạc đường trong mê cung của cây cối và lối đi. Cuối cùng, đột ngột hơn anh dự tính, anh vòng qua một chỗ rẽ vào một vuông sân mọc đầy cỏ.

    Anh dừng lại. Trong thanh vắng, tiếng khóc vẳng đến chỗ anh – không phải là khóc bình thường, mà là những tiếng nức nở dữ dội, vò xé của một linh hồn chìm trong tuyệt vọng.

    Với cặp mắt đã thích nghi với bóng tối, anh trông thấy ánh sáng leo lét từ một cánh cửa mở bên kia sân. Ngạc nhiên trước dấu hiệu bất ngờ của người ở trong một căn phòng đáng lẽ phải niêm phong cùng với tất cả những gian phòng khác, Lord Winter đi qua thảm cỏ, để đôi giày kéo lê thành tiếng động cảnh báo. Anh nhìn vào gian phòng phát ra tiếng than khóc và thấy một hình người trong chiếc abah kẻ sọc cáu bẩn, gập người xuống trong dáng vẻ thống khổ cùng cực giữa những rương hòm mở nắp và những thùng đầy giấy tờ.

    Lord Winter không tìm cách ẩn mình, mà đứng giữa khung cửa. Dù vậy, khi anh cất tiếng thằng bé vẫn nhảy dựng về phía sau, làm đổ cái ghế đẩu và khiến giấy bay vung vãi trong lúc giật mình. Âm thanh loảng xoảng như một tiếng súng dội lại giữa các bức tường.

    “Bình an cho bạn hữu.” Lord Winter chào bằng tiếng Ả Rập, nhận ra thằng bé người Bedouin của những lọn tóc bay bay và khẩu súng hỏa mai cũ kỹ. Thằng nhóc chẳng nói gì, chỉ nhìn anh trân trân khiếp sợ, thở dốc giữa những tiếng nấc nặng nhọc, đứt quãng.

    Thằng bé Bedui có đủ lí do để hốt hoảng. Viên lãnh sự đã định đuổi tất cả người hầu ra ngoài. Không một ai có chút hiểu biết về người Bedouin lại tin rằng đứa con trai của những tên cướp sa mạc này nán lại sau với ý định nào khác ngoài trộm cắp. Cả người thằng bé căng thẳng, như sắp sửa lao vút đi trong tích tắc.

    Lord Winter đáp lại ánh mắt sợ hãi đó bằng cái nhún vai. “Ma’aleyk, không có gì phải sợ, sói con ạ. Lại đây uống cà phê với ta.”

    Nếu anh trông đợi lời mời hiếu khách này sẽ mua được sự thân thiện hay cảm kích từ vị khán giả của mình, anh đã lầm. Thằng bé không tỏ ra là người cả tin. Nó vẫn đứng yên giữa ngổn ngang giấy tờ.

    “Yallah!” Arden quay đi. “Bắt đầu cướp giật rồi đấy. Chúa thật vĩ đại!”

    “Lord Winter,” thằng bé thốt lên bằng giọng khàn khàn, chuẩn Anh. “Tôi không phải kẻ trộm.”

    Tác động khi nghe thấy tên mình và giọng Anh thuần thục trên môi thằng bé sa mạc bất hảo này choáng váng hơn mức Arden muốn để lộ. Anh ngoái nhìn, một bên mày nhướng lên.

    “Ngài sẽ giao tôi cho ông lãnh sự phải không?” Thằng bé hỏi đầy tuyệt vọng.

    “Ta không quan tâm chú mày khuân được bao nhiêu trong đống đồ tạp nham này,” anh đáp, trở lại với giọng Anh của mình. “Nhưng có vẻ như những hầu cận trung thành của bà ấy đã cuỗm sạch đến cái thìa cuối cùng.”

    “Tôi không ăn cắp!” Thẳng bé quả quyết.

    Lord Winter dựa vào khung cửa và gật đầu ngờ vực. “Cứ cho là vậy đi.”

    “Ông lãnh sự - ”

    “Nhóc à,” Winter nói, “nếu cậu nghĩ ta bép xép mọi cái ta biết với những kẻ như Mr. Moore, cậu nhầm to về con người ta rồi. Ta dám chắc ngay đến ông ta cũng sẽ ngạc nhiên trước ý nghĩ ấy. Lady Hester đã dạy cậu tiếng Anh à?”

    Thằng bé chần chừ, rồi nói bằng tiếng Ả Rập, “Vâng, ma’alem. Có lẽ đó là ý của đức Allah.”

    “Xem ra bà ấy đã thành công ngoạn mục. Cậu phục vụ cho bà ấy được bao lâu rồi?”

    Nhưng thằng bé đã rút vào cái vỏ nhút nhát trước những câu hỏi gặng như thế. “Nhiều mùa hè, thưa ma’alem,” nó cúi mặt lí nhí.

    Căn cứ vào giọng nói và gương mặt nhẵn nhụi của nó Arden nghĩ nó không quá mười lăm tuổi, có lẽ nhỏ hơn. Nó đứng cao hơn một đứa trẻ Bedu bình thường – nhưng nó có cái chất hoang vu thuần khiết của sa mạc bao phủ, mọi cái ở nó đều giống người Bedu từ đôi bàn tay nhỏ thanh nhã bên dưới ống tay áo rách rưới cho đến hai bím tóc rủ từ má xuống chấm vai, đặc trưng cho một chàng trai du cư mã thượng, và con dao găm lớn cong cong buộc nơi thắt lưng. Mảnh khảnh như cây sậy, với gương mặt buồn, sưng lên vì khóc và nước da mịn màng rám nắng.

    Arden quyết định thích nó, không vì lí do nào khác ngoài việc nó là người Bedouin, và là một thành viên của chủng tộc tự do nhất trên trái đất. “Lại đây, sói con, uống với ta, và đức ngài sẽ bỏ qua cho cậu,” anh nói.

    Thằng bé ngước lên dưới hàng mi ướt. Nó dường như miễn cưỡng nhận lời mời, đôi mắt to đen chan chứa nước mắt và cảnh giác như mắt một con linh dương. Lord Winter không quá thông thạo lĩnh vực khóc lóc, vì anh ít dính dáng đến trẻ con và tìm kiếm sự bầu bạn của phụ nữ với một mục đích duy nhất, có sự cao ngạo khách quan với phụ nữ nói chung và cực kỳ ghét thể loại tiểu thư Anh ẻo lả, sực mùi hương hoa nói riêng thường xuyên được dâng lên cho anh với hy vọng anh có thể thực hiện bổn phận nhà quý tộc và chọn một người làm cô dâu của mình. Nhưng nhìn bờ môi run run và đôi mắt đẫm lệ, anh sợ nó sắp òa ra đến nơi.

    “Con trai của sói, không được khóc – cậu là người Ả Rập cơ mà!” anh ra lệnh, chặn trước cơn lũ sắp đến. Tuy nhiên lời nhắc nhở cứng rắn này dường như có hiệu quả ngược lại, vì thằng bé bật ra một tiếng nức nở và đưa hai tay ôm mặt.

    Ngao ngán, Lord Winter nhìn cái dáng người gầy gò ấy một lúc. Anh vác cây súng trường lên vai và đẩy cửa ra. “Vậy tùy cậu thôi.” Anh trở ra sân, để lại thằng bé với nỗi đau buồn kiên định của nó.
     
    NHTB, Levananh, dakedo and 7 others like this.
  5. hathao

    hathao Lớp 2

    Cảm ơn @song vang . Đã lâu không được đọc các truyện dịch của Bạn, mừng quá. Hóng thôi.
     
  6. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 2​


    Con người khốn khổ khiến anh bỏ đi vì khóc lóc khuỵu xuống giữa những chồng giấy lộn. Zenobia vẫn còn run lên hoảng sợ vì phát hiện này, không thể ngừng cơn khóc làm Lord Winter chán ghét.

    Lord Winter! Giá như đó là bác sĩ Meryon đáng tin cậy, hoặc Monsieur Guys tốt bụng ở lãnh sự quán Pháp, hoặc thậm chí một trong những nhà phiêu lưu người Đức; chỉ cần người đến không phải là Lord Winter, với sự dửng dưng lạnh lùng và khiếu hài hước cay độc như của mẹ cô.

    Cô tin chắc anh ta sẽ giao cô cho viên lãnh sự vì tội trộm cắp. Và viên lãnh sự sẽ giao cô cho Emir Bechir để chặt tay cô nếu ông ta nghĩ cô là một thằng bé người Bedu, hoặc đòi hàng nghìn bảng mà Lady Hester chưa trả các chủ nợ nếu ông ta phát hiện Zenobia thực sự là ai. Người Anh đã lấy tiền trợ cấp của mẹ cô để bù vào các khoản nợ, và Lady Hester đã tức giận viết thư cho nữ hoàng Anh, từ bỏ tư cách công dân ở một đất nước toàn nô lệ. Nhưng nếu viên lãnh sự biết được Lady Hester có một cô con gái, có gì họ không dám làm với cô để lấy lại được tiền? Ông ta sẽ báo với những người cho vay Do Thái và những lái buôn Thổ Nhĩ Kỳ và nữ hoàng Anh; Zenia có thể bị bán đi làm nô lệ để trả nợ, bởi vì bên dưới những lớp áo tồi tàn cô là người da trắng và có giá, thứ duy nhất có giá mà Lady Hester đã để lại. Zenia sẽ không bao giờ có cơ hội trốn thoát, để tới nước Anh và tìm cha cô ở đó; cô sẽ không bao giờ nhìn thấy cả một miền đất giống như một khu vườn; cô sẽ không bao giờ ở giữa những đồng bào của mình hoặc có một chiếc váy chỉnh tề mà các cô gái người Anh vẫn mặc.

    Ý nghĩ về chiếc váy khiến nước mắt lại lăn dài trên má cô. Cô đã hai lăm tuổi, và đi chân đất. Zenia không ngạc nhiên khi Lord Winter nhầm cô là một thiếu niên người Bedu. Khi còn bé, mẹ không cho cô mặc thứ gì khác ngoài trang phục nam của người Thổ. Chỉ có hầu gái của Lady Hester là Miss William, bị bà chủ bỏ mặc giữa những người vô đạo, đã lén lút may những bộ quần áo Anh cho Zenia, và khi Lady Hester ngủ thì luyện tập cho cô bé cung cách và những cái cúi chào của người Anh. Nhưng Miss William đã chết, và Zenia bị đưa tới chỗ những người Bedouin ở sa mạc, và từ đó trở đi cô chưa bao giờ có một chiếc váy hay đôi giày hay đôi tất. Tộc Bedu cho Zenia một cây súng hỏa mai và một con lạc đà và một cái tên Ả Rập, và hỏi cô về phép thuật, vì cô là con gái của nữ hoàng Englezys.

    Cô ôm lấy người, vùi đôi tay và hai bàn chân chai sần vào những nếp gấp của áo choàng. Ôi, một nàng công chúa đích thực, công chúa của một vùng đất đói kém không luật lệ, một nữ hoàng hư danh khốn khổ.

    Nếu như trong ít ngày khấp khởi hy vọng khi Lady Hester gọi cô về Dar Joon, cô đã tin rằng mẹ muốn cô về xuất phát từ nỗi cô đơn hoặc lòng yêu thương, hoặc định gửi cô về nước Anh, thì những ước đoán lạc quan ấy sớm bị uốn nắn. Zenia không được phép cởi bỏ bộ trang phục Bedouin; cô thậm chí không được thay bộ khác, vì không có tiền. Bằng cách nào đó những gián điệp của Lady Hester được trả thù lao, quà biếu vẫn có cho các quan tổng trấn và những thầy tu nghèo đói được cho ăn uống trước cửa nhà bà; nhưng không có tiền may quần áo mới cho Zenia. Năm năm qua cô đã nghe theo những ý muốn điên rồ của mẹ cô và sống ẩn náu trở lại sau những bức màn che, nghe Lady Hester nói với những vị khách người Anh hiếm hoi như Lord Winter rằng bà thà ngủ với những con la còn hơn phải ngủ với phụ nữ, khiến anh ta cười và đáp rằng bà quá cực đoan, rằng ngủ chỉ là một hoạt động mà anh ta thấy có thể chịu đựng được với phụ nữ.

    Giá như người đến không phải là Lord Winter.

    Zenia nắm chặt bức tiểu họa đeo ở cổ bên dưới những nếp gấp của chiếc abah kẻ sọc sờn rách. Đó là đồ vật duy nhất cô có, một sợ chỉ mỏng manh: thứ duy nhất, đôi khi, khiến cô tin tưởng bất chấp những gì đã trải rằng thực ra cô không phải một thằng bé rách rưới người Bedouin. Nhiều năm trước, trong một cơn điên loạn vì u uất, Lady Hester đã ném vật kỷ niệm này qua cửa sổ xuống vách đá. Nhưng Miss William đã sai Hanah Massad tìm về. Người hầu cận hiền lành của mẹ cô đã ấn bức họa nhỏ vào tay Zenia cùng ánh mắt lo sợ, thì thầm, “Đây là cha cháu. Đừng quên! Không được để bà ấy biết là cháu biết điều đó!”

    Đối với một đứa trẻ, nỗi sợ trong đôi mắt người bạn duy nhất của cô đã để lại một ấn tượng sâu sắc. Tất cả họ đều sợ cơn thịnh nộ của Lady Hester và những hình phạt Phương Đông của bà. Bà sẽ không do dự cho đánh vào gan bàn chân một người hầu có khả năng phạm lỗi đến què quặt suốt đời, và bà lấy làm tự hào về sức lực bà có thể dùng để vả mặt một người hầu gái hỗn xược. Zenia đi rón rén qua phòng bà trong sợ hãi, tuân thủ mọi mệnh lệnh, vì lẽ đó mà cô thường xuyên bị chế nhạo là một đứa nhu nhược nhát chết.

    Được cảnh báo trước, Zenia luôn giấu bức họa hết sức cẩn thận khỏi mẹ cô. Cô yêu quý nó. Cô chỉ lấy nó ra khỏi áo choàng những lúc riêng tư nhất, và ghi nhớ những đường nét của người đàn ông trẻ điển trai với đôi mắt đẹp và nét gợn của một nụ cười âu yếm trên vẻ mặt, như thể ông đang nhìn xa xăm vào thứ gì đó ông yêu mến. Trong những giấc mơ của Zenia, ông đang nhìn cô. Bên trong bức họa có một lọn tóc và một cuộn giấy viết bằng một bàn tay vội vàng: gửi người yêu dấu nhất đời anh, tạo vật tuyệt vời nhất thế gian, Mic. Bruce thương yêu của em.

    Tất nhiên người yêu dấu nhất là mẹ cô. Tạo vật tuyệt vời nhất thế gian. Nhưng nụ cười của ông – Zenia áp bức họa vào ngực và đánh cắp nụ cười yêu thương ấy cho riêng mình.

    Cô đứng lên, nắm chặt trong tay món đồ lưu niệm, nuốt nước mắt. Lau mặt bằng ống tay áo. Cô xếp lại tất cả giấy tờ vào rương hòm và tắt đèn, ôm cây súng hỏng cuộn mình vào một góc. Mẹ cô chưa bao giờ chịu đựng được việc Zenia nói đến chuyện đi tới Anh. Nhưng có một lần, sau khi Lady Hester hồi tưởng lại thời con gái của mình giữa những nhà chính khách Anh nổi tiếng ngày đó, hút ống điếu narguile thơm sực và kể cho bác sĩ Meryon những câu chuyện đầy kính trọng về bác Pitt và ông nội Lord Chatham của bà, cả hai đều là bộ trưởng, bắt chước kiểu nói nhịu của Lord Byron và cười cợt cái cách Lamartine hôn con chó poodle của mình, bà đã gọi Zenia đến trong ít giờ của buổi tối hôm đó và hứa dành ra một khoản tiền để Zenia có thể về nhà.

    Giờ đây cô thấy mình thật ngu ngốc khi tin lời mẹ. Lady Hester có khả năng dẫn dắt trí tưởng tượng của những ai ngồi suốt đêm dài nghe bà nói. Zenia đã quá nhẹ dạ cả tin, cô khao khát điều này hơn hết thảy. Bây giờ cô không tin từng có khoản tiết kiệm đặc biệt nào được cất giấu như Lady Hester đã hứa với cô, hoặc nếu có, nó đã được tiêu từ lâu vào một cặp súng lục hoặc một bộ yên cương lạc đà viền vàng để hối lộ một viên tổng trấn miệng lưỡi dẻo quẹo nào đấy, hoặc bị ăn cắp bởi những tên đầy tớ tham lam của Lady Hester.

    Cô sẽ tự mình tìm cách. Nếu cô không xu dính túi, nếu cô đi chân đất, nếu cô không biết ông sống ở đâu hoặc thậm chí ông còn sống không, ngay cả thế Zenobia vẫn kiên định với mục tiêu của mình. Cô ghét sa mạc và Dar Joon. Cô sẽ về nhà, ngôi nhà cô chưa từng ở. Cô sẽ đi tìm cha ở nước Anh, và sống như một phụ nữ Anh như cô vốn là.

    Cô tìm một tư thế dễ chịu hơn, dựa vai vào bức tường. Cô đã không đặt lưng ngủ suốt bốn ngày qua, ngồi bên cạnh Lady Hester nằm bó trong mấy lớp áo choàng trắng lướt thướt của bà, ho khù khụ và há miệng hớp không khí trong khi đám người hầu lảng vảng khắp Dar Joon và ăn cắp những thứ đầu thừa đuôi thẹo còn sót lại. Mẹ cô rền rĩ bảo cô ngăn bọn chúng, nhưng khi Zenia vừa đứng dậy thì Lady Hester kêu gào cô quay lại.

    Co ro trong góc, Zenia sợ không dám ngủ. Có những lối đi bí mật vào Dar Joon, và những con chó sói thỉnh thoảng vẫn leo qua các bức tường. Cô chưa bao giờ cô độc thế này, và ao ước giá mình đã đi xuống làng cùng mọi người. Bây giờ cô không thể đi, bởi bóng tối và những yêu ma quỷ quái. Tiếng khóc điên loạn của mẹ cô săn đuổi cô ngay khi cô nhắm mắt lại. Nó len lỏi vào trong những giấc mơ như thật, và cô run lên, lo sợ mình sẽ tỉnh giấc và thấy hồn ma của Lady Hester đang gọi cô. Những giọng nói như âm vang trong các căn phòng trống, và những bàn tay trắng bệch trong những chiếc áo choàng nhợt nhạt vươn ra túm giữ cô.

    Tiếng súng nổ khiến cô giật mình. Những giọng nói đột nhiên rõ rệt, những tiếng la hét và tiếng chân chạy, cô rúc vào góc tường, nhìn chằm chằm ra cửa. Ánh sáng chập chờn, ném những mảng tối kỳ dị ra khu vườn bên ngoài.

    Một bóng người trong chiếc áo choàng Phương Đông màu trắng án ngữ khung cửa. Zenia thở dốc. Đó là mẹ cô – Zenia dựa sát lưng vào tường, nhìn sững bóng ma của mẹ. Cô ngồi bất động vì khiếp sợ, nhìn nó tan vào những vệt tối mơ hồ ngay cạnh cửa chính. Trong giây lát cô trông thấy một ánh kim loại, rồi nó cũng biến mất vào bóng tối. Cô nghe thấy tiếng lên đạn.

    “Sói con!” tiếng suỵt của một người đàn ông.

    Chữ tiếng Anh làm cô giật mình. Cô thở dốc trong im lặng vì sợ. Cô không muốn trả lời, hay để lộ vị trí.

    “Cậu có biết đường ra không?” anh ta thì thầm. “Chúng đã kiểm soát cổng chính, và đường hầm từ tàu ngựa.”

    Zenia quá sợ không thể trả lời. Cô nghe thấy những tiếng nói hung dữ, tiếng vỡ của một cánh cửa bị đá vào.

    “Mẹ kiếp – cậu có đó không?” anh ta hỏi khẽ.

    “Có,” cô thì thầm.

    “Vậy thì giúp ta cái coi!”

    “Cạnh đài phun nước,” cô đáp, giọng run run lẫn trong tiếng thở. “Bên dưới giàn dây leo.”

    Anh ta buột ra một câu chửi thề tiếng Anh. “Không có đường nào gần hơn à?”

    “Không, thưa ngài.”

    “Dẫn đường đi.”

    Cô ngồi dán vào tường, run lẩy bẩy.

    “Đi thôi?” Anh ta khẽ ra lệnh. “Bọn này không phải những kẻ đáng kính đâu, sói con. Chúng là dân sa mạc đấy.”

    Dân sa mạc! Cô chụp cây súng hỏng và đứng lên, cả tứ chi đều run. Cô có thể nghe thấy những kẻ khác đang đến. Ánh sáng đột nhiên tăng lên khi bọn chúng xông vào mảnh sân bên ngoài.

    Cô lại nhìn thấy ánh kim loại, khi anh ta nhắm bắn từ sau trụ cửa. Tiếng nổ khiến cơ thể cô giật nảy, một ánh vàng thắp sáng gương mặt anh ta và gian phòng, rực lên trên mi mắt cô, rồi tất cả đột ngột tối đen và vang lên những tiếng hét giận dữ.

    “Đi!” Lord Winter quát, và Zenia di chuyển, vấp vào những chiếc hòm trên đường ra cửa. Trong bóng tối anh ta dò dẫm túm lấy cánh tay cô, đẩy cô ra sân.

    Ai đó va vào cô. Cô nén lại tiếng kêu vào rúm người vào gần Lord Winter. Cô cảm thấy anh ta di chuyển khi những bàn tay cứng rắn nắm lấy tay cô – một cú đánh mạnh, một tiếng làu bàu, và những ngón tay kìm kẹp buông ra. Báng súng đập vào cô khi Lord Winter lấy lại thăng bằng, xương đòn cô đau điếng và nòng súng của họ vướng vào nhau, nhưng cô lao bừa vào bức tường bao quanh sân.

    Lord Winter theo sát cô. Những ngón chân cô sục vào đất khi cô ngoặt vào một ngã rẽ, đi theo trí nhớ và cảm nhận, vì cô không nhìn thấy gì. Bàn tay của Lord Winter nắm lấy vai cô.

    Một tiếng súng nổ sau lưng họ, dội lại quanh các bức tường. Zenia bước hụt, chân cô mắc dưới một rễ cây. Mắt cá chân vặn đi. Cô ngã nhào, cơn đau lạnh ngắt bùng lên ở một bên chân và những gai nhọn đâm vào hai bàn tay và mặt cô khi cô đập mặt vào giữa một bụi hoa hồng.

    Lord Winter kéo cô dậy, nhưng một thân hình khác lăn vào, hỗn loạn những xô đẩy và vật lộn. Cô không thể biết là con dao hay đám gai cứa vào mặt mình. Cô lăn người và lảo đảo bò dậy, tựa vào cây súng, lại một tiếng nổ sát tai cô. Cô nhìn thấy một khoảnh khắc như thời gian đóng băng: Lord Winter quỳ một chân với cây súng trường ngang khuỷu tay, tia lửa đạn từ họng súng găm thẳng vào ngực một tên đàn ông rậm râu. Hình ảnh hoa mắt sau đó che đi tất cả, nhưng cô nghe được tiếng cơ thể gã đổ rầm vào bụi hoa hồng.

    Cô cố gắng chạy, lại sụm xuống vì cái mắt cá. Lord Winter đỡ cô lên. Cô dùng cây súng hỏng làm nạng, bước cà nhắc, tay sờ soạng phía trước.

    Bất thần cô va vào đài phun nước, đụng phải mép đài bằng đá cẩm thạch với một tiếng thở dốc và tiếng nước bắn tóe lên. Dò dẫm đi sang bên, cô cào bới trong bụi kim ngân sum suê để tìm một cánh cửa bí mật.

    Ánh sáng hắt bóng lên tường. “Cúi xuống!” Lord Winter ra lệnh, và cô thụp xuống. Những ngón tay cô lướt trên bức tường, tìm kiếm, sợ anh ta bị loại khỏi vòng chiến. Anh ta không thể nào nạp lại đạn trong lúc họ bỏ chạy, và cô không thấy anh ta mang theo súng lục.

    Trong lúc cô nghĩ thế, anh ta nổ súng – hai phát liên tiếp. Ánh sáng biến mất.

    Những ngón tay cô tìm thấy cái chốt gỗ. Cô đẩy cánh cửa sập mở ra.

    “Ở đây!” cô thì thầm.

    Anh ta đi theo cô, đám dây leo sột soạt, trèo xuống một cái hố nghiêng. Zenia trườn sấp xuống với khẩu súng hỏa mai bên mình. Ở lối vào bên dưới, cô gạt một bụi cây khuất ra bằng bàn chân lành lặn, trượt ra không gian ngoài trời cạnh bức tường. Dưới ánh sao, thung lũng và những ngọn núi đá vôi nằm trắng xóa và yên lặng, vách đá ở chân tường dốc xuống lởm chởm trong ánh tranh tối tranh sáng.

    Mắt cá chân cô giật giật, một cơn đau kinh khủng như cướp đi hơi thở của cô. Lord Winter vượt lên trước, chiếc khăn quấn đầu Ả Rập phất phơ qua vai, gương mặt anh ta chìm trong bóng tối.

    Zenia cố đứng lên và bật ra một tiếng rên khẽ. Nhưng từ lâu cô đã học được rằng trong sa mạc kẻ rớt lại sau sẽ dễ dàng bị bỏ quên. Cô khập khiễng đuổi theo, cố gắng bám vào dấu chân anh ta trên mặt đất gồ ghề. Họ vòng ra xa cổng chính và ngôi làng, đi theo dấu chân dê cực kỳ mờ nhạt. Zenia dùng hai bàn tay và những ngón chân và móng tay để lê người giữa đám đá cuội.

    Cô chỉ có thể theo kịp tốc độ thoăn thoắt của anh ta được một lúc, rồi chậm dần với từng bước khổ sở, cho đến cuối cùng cô bị tụt lại xa đến nỗi mất cả bóng dáng mờ nhạt của anh ta.

    Một mình cô ở trong bóng tối. Cô vẫn tập tễnh thật nhanh, kể cả sau khi tới đáy thung lũng, sợ những gì mình có thể trông thấy nếu dừng bước và nhìn lại đằng sau. Có những điều kỳ dị ngoài trời buổi đêm – đêm nay, khi mẹ cô nằm trong hầm mộ. Lady Hester đang giận dữ: Zenia có thể cảm nhận được điều đó. Bà biết Zenia định bỏ bà. Mẹ cô đã cố ý chọn Dar Joon vì sự biệt lập đáng sợ của nó, để ngăn ngừa đám người hầu của bà không chạy được quá xa ngôi làng bé xíu nơi họ có thể dễ dàng bị bắt và lôi trở về. Giữa Zenia và đường đến nước Anh là một đất nước trập trùng đồi núi khô cằn đầy những chó rừng và chó sói và nội chiến liên miên. Cô chẳng có gì ngoài bộ áo choàng trên người, một khẩu súng hỏa mai hỏng không có thuốc súng, và nỗi kinh hãi phải đi bộ một mình qua những hẻm núi lảng vảng hồn ma bóng quế.

    Một tiếng kêu hoang dại vọng đến từ đâu đó trên những đỉnh núi phía trên cô. Cô trượt chân, sụm đầu gối xuống và lại bò dậy, cố lắng tai nghe âm thanh ngoài tiếng thở hổn hển của mình. Thoạt đầu cô không nghe thấy gì, nhưng khi cô gục xuống khẩu súng, một con chó rừng cất tiếng cười. Cô ngoái nhìn về hướng Dar Joon. Mặt trăng vừa lên, khiến những cái bóng lạnh lẽo như sống dậy. Khi cô trân trân nhìn chúng, chúng trườn qua mặt đất về phía cô cho đến khi cô phải nhắm chặt mắt để không òa lên khóc.

    Rồi cô nghe thấy tiếng gõ móng. Âm thanh phát ra từ trong bóng tối, dội vào những vách đá xung quanh cô, khiến cô không sao biết được nó đến từ hướng nào. Cô loạng choạng đứng lên đúng lúc con vật lù lù trước mặt cô, một hình dáng đen thẫm to lớn – một con djinni, một con quỷ có hơi thở nóng bỏng sinh ra từ bóng đêm với mẹ cô cưỡi trên nó trong chiếc áo choàng trắng tung bay. Móng guốc của nó gần như giẫm lên cô, làm bắn tung cát đá khi nó dừng lại. Zenia hét lên và bò ra xa, nhưng mắt cá chân cô tê liệt, cơn đau khủng khiếp làm cô ngạt thở và và đầu óc mù mịt.

    Điều tiếp theo cô biết, là nền đá áp vào gò má đau rát của cô, khẩu súng của cô lùng nhùng bên dưới người cô, và giọng nói lãnh đạm của Lord Winter bảo cô đừng có là tên đầu đất.

    “Djinni,” cô rên rỉ, túm lấy áo anh ta. “Có một con djinni!”

    “Vớ vẩn.” Một cánh tay vững chãi đỡ lấy vai cô. “Đứng lên đi.”

    Zenia run cầm cập, không thể buông anh ta ra. Cô chật vật đứng lên, nhưng cái mắt cá không đỡ nổi trọng lượng cơ thể. Cơn đau khiến tầm nhìn của cô mờ đi và lệch lạc. “Một con quỷ - ”

    “Cậu không sao đâu, sói con,” anh ta nói ngắn gọn. “Có ta ở đây.”

    Ngước nhìn gương mặt thô ráp của anh ta trong ánh trăng, chiều cao vững vàng và bờ vai rộng của anh ta, tâm trí Zenia quay cuồng đảo lộn. Cô không còn nhìn thấy tử tước Winter của những lời nhận xét chua cay và sự cao ngạo hắc ám. Cô không thấy một trong những người bạn bí ẩn nữa của mẹ cô; cô không thấy một người đàn ông tính khí nham hiểm luôn khiến cô e sợ kể cả sau những tấm màn che.

    Cô nhìn thấy vị cứu tinh của mình.

    Lord Winter đã đến Dar Joon. Và dù anh ta có thể là thứ gì đi nữa, anh ta cũng không sợ ma quỷ.
     
    NHTB, Levananh, minhnguyethk and 10 others like this.
  7. LanNP

    LanNP Lớp 6

    ủn cho nàng. Cố lên nha!
     
    song vang thích bài này.
  8. Angry Bird

    Angry Bird Mầm non

    Mình rất thích truyện của tác giả Laura Kinsale . Cám ơn bạn nhiều nha . Cố lên !
     
    song vang thích bài này.
  9. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 3​


    “Nhưng chúng ta đang ở trong dãy núi!” cậu thiếu niên gầy nhom kêu lên, loay hoay ngồi thật thẳng và né khỏi Lord Winter trên yên ngựa. Tử tước chỉ kéo cậu ta trở lại, giữ thân hình mảnh khảnh, run rẩy ấy tựa vào ngực mình mà chẳng tốn mấy sức. Vóc người mỏng manh của cậu ta chao đảo như chiếc lá, nhẹ đến nỗi Arden đã lấy làm lạ khi anh lần đầu xốc thằng bé lên ngồi trước anh trong bóng tối.

    “Coi cậu thảm quá,” anh nhận xét. “Ta sẽ phải cho cậu ăn uống đều đặn hơn, kẻo một cơn gió mạnh cuốn cậu đi mất.”

    “Chúng ta đang ở trong dãy núi!” Thằng bé lại lắp bắp.

    “Cậu đã thông báo rồi.” Lord Winter quan sát những đỉnh nhọn và sống núi lờ mờ trong ánh bình minh lạnh giá, luôn để mắt đến xung quanh không chỉ vì lí do quang cảnh ngoạn mục. Con la của anh đang ì ạch leo lên một dải đất hẹp nằm bên tàn tích của một nông trại bị đốt cháy, kéo theo một con lừa sưng sỉa chở hành lý đi qua những cây cỏ trồi lên qua đám tro than. “Cậu có tiết lộ gì thêm về chủ đề này không?”

    “Chúng ta phải quay lại!” thằng bé thốt. “Ngài không thể đi đường này!”

    “Đây là đường ta muốn đi,” anh nói bình thản.

    “Vậy thì ngài điên rồi!” Hành khách của anh bất thần chộp lấy dây cương. “Chúng ta sẽ bị giết ở đây!”

    Con la khựng lại và đi chệch hướng khi Lord Winter giật mạnh hai bàn tay phá rối của thằng bé ra sau, kềm chặt chúng. Tử tước khống chế con vật đang nhớn nhác trong lúc đá cuội lăn rào rào xuống bờ đất dốc bên cạnh họ.

    “Quay lại đi!” thằng bé hét, giãy giụa để thoát khỏi tay anh. “Ngài không biết đâu; ngài không hiểu – vùng đất này là đất chết!”

    “Sáng nay cậu đến là khó chịu?” Arden thả tên tù nhân của mình ra, ghìm con la lại và nhảy xuống một vạt lúa mạch cháy sém. “Chắc là do đói. Và ta đoán cái mắt cá đang hành hạ cậu, dù xem ra cậu không bị thương quá nặng.”

    Thằng nhóc Bedouin túm lấy dây cương. Gió thổi mớ tóc dài rối bù của nó bay qua mặt khi nó thúc chân điên cuồng vào mạng sườn con la, cố gắng kéo con vật quành sang rìa dải đất.

    “Một trường hợp kém may mắn - ” Lord Winter đứng lùi lại khỏi cuộc vật lộn. “Nếu cậu tính bỏ chạy – ta thấy nên chỉ ra rằng cậu phải tha một con lừa chở nặng đằng sau.”

    Thằng bé ngoái đầu nhìn, nơi con lừa nhỏ đứng cắm bốn chân xuống đất, kiên quyết gặm bụi cây gần nhất.

    “Ta e rằng cậu sẽ không thể phi nước đại với cái thứ đó,” tử tước nhận xét, âu yếm vỗ vào mông con la. “Nếu con vật này bị thuyết phục mà phi nước đại đi nữa, thì chẳng biết thế nào. Ta còn chưa có đặc ân nhìn thấy nó đạt tới nước kiệu bình thường.”

    Buộc phải rút ra kết luận tương tự, và tệ hơn, Zenia thả dây cương khỏi những ngón tay lóng ngóng vì sợ và lạnh. Cô cảm thấy quẫn trí, thức dậy từ một cơn ác mộng kiệt sức để phát hiện mình đang cheo leo trên những con đường dốc đi vào núi Lebanon, một dãy núi thực sự, ở đất nước của người Druze nổi loạn nơi cô không dám leo xuống khỏi lưng la và bắt đầu hành trình một mình ngay cả nếu cô có gan đương đầu với viên lãnh sự và Dar Joon. Cái mắt cá trật khớp của cô giật thon thót. Những ngọn núi bị quấy phá bởi quân phiến loạn từ quân đội Ai Cập, những nông trại bỏ hoang, bị cướp bóc và hủy diệt bởi những người Druze và Metouley quyết tâm báo thù cho thủ lĩnh của họ.

    Lord Winter dường như hoàn toàn xem thường tình hình nguy hiểm của họ, dù cô thấy chưa chắc là anh ta không hay biết về hiểm họa như anh ta tỏ vẻ. Anh ta ăn vận như một người Ả Rập trong chiếc áo trùm màu trắng, chiếc khăn kuffiyah quấn quanh đầu bằng một sợi dây vàng đơn giản. Đôi mắt anh ta, xanh thẳm, ẩn chứa một vẻ cứng rắn không phải xuất phát từ sự thiếu kinh nghiệm. Trên vai anh ta khoác một khẩu súng trường, một loại vũ khí mà đến Zenia cũng chưa từng trông thấy, báng gỗ mượt mà của nó chạm vàng và bạc, cơ chế nhả đạn của nó thì lạ lùng: một khẩu súng sẽ thu hút sự quan tâm của bất cứ người Ả Rập nào trông thấy nó. Một đôi súng lục, cũng hiện đại như vậy, và một khẩu súng kíp ngoắc trên yên cương, tất cả được chế tác tinh xảo; tất cả đều sạch bong và dữ tợn.

    Hiển nhiên Lord Winter biết mình đang đi đâu và định làm gì. Khi cô nhìn anh ta, sự nổi bật trong trang phục và vật dụng của anh ta gây cho Zenia một tác động sâu sắc.

    “Wellah!” cô thốt lên bằng tiếng Ả Rập. “Sao ngài lại mặc trang phục này?”

    “À – ta chưa tự giới thiệu sao?” anh ta đáp trôi chảy, hơi nghiêng mình. “Cậu đang diện kiến Abu Haj Hasan, một người Moghreb của xứ Seville, một người Ma rốc ở Tây Ban Nha trở về với tín ngưỡng của tổ tiên. Ta vừa làm một chuyến hành hương tới Mecca và giờ đây tiến vào sa mạc theo sự dẫn dắt của thánh Allah và ý thích của ta.” Anh ta mỉm cười với cô bằng vẻ trêu đùa. “Ơn Chúa là mẹ ta lại là một nàng công chúa da trắng vùng Andaluz. Cậu có thể thấy là ta có đôi mắt của bà.”

    “Thưa ngài!” Zenia rên lên. “Ngài sẽ không làm thế!”

    “Ta nghĩ ta sẽ làm thế, sói con ạ.”

    “Ngài là một người Thiên Chúa Giáo! Người ta sẽ giết ngài ngay khi ngài bị phát hiện là giả mạo!”

    “Chuyện đó,” anh ta nói không nao núng, “tất nhiên là một rủi ro mà ta sẽ cố tránh.”

    “Tôi xin ngài, tôi van ngài hãy nghe tôi. Đó là việc làm điên rồ. Bất cứ người nào theo đạo Hồi cũng sẽ biết ngài là người Công Giáo ngay giây phút ngài phải cầu nguyên!”

    “Này, cậu coi ta là đồ ngốc chắc?” anh ta nói với vẻ sốt ruột đột ngột. “Ta rành bài cầu nguyện như bất cứ người Bedouin nào – rành hơn cậu nữa đó, căn cứ vào thái độ thiếu ngoan đạo ta thấy ở cậu cho đến giờ. Cậu đã chịu lễ muzayyin chưa đấy, nhóc?”

    Zenia biết rõ anh ta nói gì. Là con gái của nữ hoàng Englezys, Zenia được coi là điềm may mắn giữa những căn lều đen, và thường xuyên được một bà mẹ đầy lo lắng mời tới chứng kiến nghi lễ cắt bao quy đầu. Cô cảm thấy nóng rực cả người. “Tất nhiên!” cô vội vã nói dối. “Đội ơn thánh Allah.”

    Anh gật gù, trong mắt ánh lên một tia kính trọng mới, và đột ngột cười. “Ta sẽ thú nhận là ta đã phải dùng chloroform,” anh nói bằng tiếng Anh.

    Cô rên khẽ, thất kinh trước ý nghĩ một người đàn ông trưởng thành và là người theo đạo Thiên Chúa chủ tâm chịu đựng một chuyện như vậy. “Ngài đúng là điên! Sẽ không ai tin chuyện đó hết. Ngài là Lord Winter cơ mà.”

    “Ay billah, ta lấy làm buồn phải thông báo với cậu rằng Lord Winter đã bị sát hại,” anh ta đáp. “Lũ côn đồ mà chúng ta bỏ lại đêm qua đã bị bắt giữ, nếu Moore có can đảm để hành động mau chóng theo thông tin ta để lại cho ông ta. Tuy nhiên người ta không nên đặt quá nhiều niềm tin vào sự sốt sắng của những viên lãnh sự.”

    “Nhưng ngài đâu có bị sát hại!” Hoang mang, cô vuốt mái tóc bay tung ra sau.

    “Không ư?” Lord Winter ngước lên, đôi mắt xanh châm chọc của anh ta tràn đầy thích thú, nhưng vẻ mặt anh ta thay đổi khi anh ta quan sát cô. Lông mày anh ta nhướng lên. Zenia lập tức hạ tay xuống, quay đi vì sợ anh ta có thể nhìn ra nước da cô cũng trắng bên dưới màu nâu do rám nắng, như da anh ta; và mắt cô màu xanh sẫm, không phải đen; và cô trông giống mẹ cô cho dù Lady Hester luôn phủ nhận điều đó.

    Anh ta túm lấy tay cô, kéo cô xoay người lại. Cô để anh ta nhìn diện mạo mình, tim cô đập thình thịch, miệng đột nhiên nhệch xuống.

    “Nhưng cậu đúng là thần Adonis!” anh ta lẩm bẩm. “Khi mặt mũi không sũng nước mắt thì cậu là một mỹ nam.” Anh ta lắc người cô, quai hàm sắt lại. “Cẩn thận bằng không cậu thấy mình bị bán cho đám người Thổ đó, nhóc. Cậu thật liều lĩnh khi lang thang một mình.”

    “Ôi, ma’alem!” cô nói, những ngón tay co lại, “đấy là nỗi sợ lớn nhất của tôi.”

    Lập tức cô ước sao mình đã không nói quá nhiều, nhưng có vẻ anh ta không định chế nhạo cô. “Vậy thì ở trong tầm mắt ta,” anh ta nói cụt lủn. “Đừng đi đâu xa.”

    Chỉ đạo cộc lốc này ném Zenia vào mớ cảm xúc rối bời. Anh ta là người đầu tiên từng tỏ ý bảo vệ cô, nhưng anh ta đã làm cô mắc kẹt ở đây, khiến việc đi tới Beyrout và từ đó đi Anh trở thành bất khả. Trong sự cảnh giác và tuyệt vọng, một ý nghĩ khích động choán lấy tâm trí cô.

    Cô quan sát anh ta vỗ vào mũi con la và bước lại chỗ con lừa. Cô không biết cách sử dụng cặp súng lục lạ lẫm kia, nhưng ngay khi sự chú tâm và đôi tay anh ta bận rộn với những dải dây da buộc hành lý, cô liền rút khẩu súng hỏa mai khỏi bao súng trên yên.

    Anh ta quay lại. Zenia giương khẩu súng lên, nhắm vào đầu anh ta. Cô kéo cò ra sau.

    Lord Winter nhìn vào tầm ngắm của cô, không động đậy. Anh ta không có động thái với đến khẩu súng trường hoặc thậm chí buông sợi dây buộc hành lý ra. Cô tìm lời lẽ trong cổ họng khô rang của mình, những lời lẽ buộc anh ta nghe theo cô, nhưng sự thản nhiên của anh ta làm nổi rõ sự thật rằng khẩu súng cô cầm không được nạp đạn và nhồi thuốc nổ. Họ chằm chằm nhìn nhau qua ánh thép đùng đục. Đôi tay cô đang run. Chậm chạp, cô nghiêng nòng súng, chúc nó xuống đất.

    “Hạ cò súng đi, nếu cậu vui lòng,” anh ta nói nhẹ nhàng. “Tức là, nếu cậu đã quyết định không bắn ta nữa.”

    Zenia nhận ra mình đã lầm; nó được nạp đạn. Nhưng cô vẫn cay đắng thừa nhận, “Tôi sẽ không bắn ngài.”

    “Ta đã hy vọng là không.” Anh ta đưa tay gạt họng súng sang bên và giữ nó ở đó. “Trong trường hợp ấy, chúng ta hãy chĩa thứ này ra ngoài.”

    Cô thả khẩu súng chốt cò ra. “Tôi không có một chút tinh thần nào.”

    Anh ta cười. “Không sao – ta có đủ cho cả hai chúng ta.”

    “Tôi không muốn tinh thần của ngài,” cô ủ rũ nói. “Ngài rất điên.”

    “Khắt khe quá, sói con. Cha ta chỉ đinh ninh rằng ta là đứa trái tính trái nết. Hoặc ông đã bị số mệnh chơi cho một vố hiểm.” Anh ta lấy cây súng khỏi tay cô và chống báng súng xuống đất, nụ cười nhạt đi thành cái cười mỉm, một vẻ dễ thương lạ lùng trên gương mặt rám nắng. “Cứ đề phòng ta nếu thích, nhưng ta là một tay súng giỏi, và không phải bạn đồng hành tệ nhất của cậu trong hoàn cảnh khó khăn.” Anh ta nhấc khẩu súng lên tay và cúi xem kim hỏa.

    “Bạn đồng hành!” cô thốt lên. “Ngài có biết ở đây người ta bàn tán sao về ngài không? Ngài bị dẫn dắt rời khỏi nhà bởi một con quỷ xấu xa, nó xúi giục ngài đi vào những vùng sa mạc khắc nghiệt nhất, để ngài phải chịu đựng những đau đớn cho mọi tội lỗi kinh khủng ngài đã phạm. Họ nói về ngài như vậy đấy!”

    Đôi tay anh ta khựng lại trong thoáng chốc, gương mặt khuất khỏi tầm mắt cô. Rồi anh ta cài chốt an toàn, lướt nhẹ ngón tay cái qua cò súng. “Giờ đã có một tiền đề hữu dụng. Con quỷ trong chính ta. Hẳn là khiến mọi người nơm nớp sợ chạm mặt ta. Ta tự hỏi đã có ai đề cập chuyện đó chưa.”

    “Họ sẽ không muốn nói thế trước mặt ngài.”

    “À, phong cách của người Thổ! Nhưng cậu là người Bedu, và không có những sự đắn đo kiểu ấy.” Anh ta ngẩng đầu, đưa khẩu súng cho cô. “Của cậu đây. Ta đã cho món đồ cổ này về hưu trong danh dự, nếu gặp bất trắc với một con djinni.”

    Cô nhận lấy vũ khí, chất thép của nó truyền hơi ấm của anh ta vào lòng bàn tay cô. “Sao ngài lại đưa nó cho tôi?” cô ngờ vực hỏi.

    “Nó trợ giúp cậu tốt hơn một con quỷ, ở nơi chúng ta sẽ đến.”

    “Ngài định đi đâu?” cô hỏi bằng giọng lạc đi.

    “Ồ, đương nhiên là những sa mạc khủng khiếp nhất,” anh ta trả lời với vẻ tươi cười quá đáng. “Vượt qua những miền cát đỏ tới Nejd.”

    Zenia lập tức đưa khẩu súng ra. “Ngài phải lấy lại nó. Tôi sẽ đi Beyrout.”

    “Vậy ư?” Anh ta nở nụ cười u ám và quyến rũ. “Ta tự hỏi bằng cách nào?”

    Cô liếm môi. “Xin ngài đấy,” cô nói. “Ngài không thể có ý định mang tôi theo cùng.”

    “Không. Nhưng ta cũng không định kéo cậu tới Beyrout, nên hãy bỏ mọi hy vọng khỏi đầu cậu đi. Ta sẽ để cậu lại ở trạm đầu tiên chúng ta đến, nếu cậu muốn. Có lẽ là Mezarib, hoặc Bozra, nếu chúng ta xuống đến cực nam như ta dự định.”

    “Bozra!” Cô đã nghe về nó, một thị trấn nằm trên chặng đường hành hương hajj đến Mecca, cách Damascus vài ngày đường. Chẳng bao lâu cô sẽ không còn ở trong dãy núi kia – cô sẽ rơi vào tình cảnh tệ hơn thế này, xa tít tắp khỏi Beyrout, bị bỏ lại bên rìa sa mạc nơi người Bedu thường phục kích nhất; và một phần sa mạc nơi cô không có bạn bè hay đồng minh nào.

    Vẻ mặt hốt hoảng của người bạn đồng hành không qua được mắt Lord Winter. “Nếu cậu lại định khóc lóc, ta sẽ vứt cậu lại đây,” anh nói cay độc. “Xuống khỏi con la và làm gì có ích đi. Mà cậu tên gì?”

    Zenia, bị trấn áp bởi mệnh lệnh, cúi đầu và leo xuống. Cô kìm một tiếng rên vì đau khi bàn chân lạnh cóng và sưng tấy đặt xuống đất.

    “Selim, thưa ngài,” cô nói, cái tên Ả Rập đầu tiên đến trong đầu cô.

    “Có thức ăn trong bọc,” anh ta nói, “và mấy con vật cần lúa mạch và nước.”

    Cô khập khiễng đi làm theo lệnh của anh ta, những tảng đá lạnh buốt và gồ ghề bên dưới bàn chân trần của cô. Cô run cầm cập trong khí lạnh của núi nên loay hoay mãi không tháo được dây buộc con lừa.

    Lord Winter dường như không quan tâm đến công việc của cô. Anh ta bước lên một vỉa đá cao và quỳ xuống, phóng mắt nhìn ra sườn núi, khẩu súng trường đẹp đẽ gác ngang một đầu gối. Zenia không có ý kiến với chuyện đó: cô mừng khi biết anh ta canh chừng xung quanh. Cô dẫn mấy con vật ra suối và lấy đầy một bình da dê nước sạch.

    Cô mang nó cho Lord Winter. Anh ta cầm lấy cái bình. Zenia đứng run rẩy trong cái lạnh trong khi anh ta uống nước.

    “Đem thức ăn qua đây ngồi,” anh ta bảo, chỉ vào bên dưới. “Khuất gió. Chúng ta sẽ nghỉ một giờ.”

    Cô lẳng lặng lục trong hành lý, tìm thấy bánh mỳ không lên men và quả olive, và mang chúng lại chỗ anh ta đang đợi. Họ ăn trong im lặng, Lord Winter vẫn ở trên mỏm đá và Zenia co ro phía dưới, trong lúc những ngôi sao cuối cùng bắt đầu biến mất và gió thổi qua những đỉnh núi.

    “Cậu thuộc tộc Ả Rập nào?” Lord Winter hỏi.

    “Tôi là người Nezy.”

    “Ồ, hữu ích đấy!” Arden khô khan nói. Đó là một bộ lạc lớn, lớn nhất trong sa mạc, với các chi trải từ Syria tới điểm đến của anh giữa bán đảo Ả Rập. “Tộc người nào ở Anezy?”

    Lần này sự im lặng kéo dài hơn. Cuối cùng, thằng bé đáp, “El-Nasr.”

    “Wellah,” Lord Winter lẩm bẩm, có phần thất vọng. Nasr là một fendi nhỏ của bộ tộc, suy yếu nhiều kể từ thời họ là đồng minh Bedu cũ của Lady Hester. Tộc trưởng của họ vẫn được kính trọng trên khắp Anezy, Arden nghĩ, nhưng họ là một tộc người phương bắc. Anh nên đoán ra mới phải – thằng nhóc gầy quắt queo, nhưng quá cao, và quá nhút nhát, để lớn lên trong chảo lửa khắc nghiệt của sa mạc phương nam.

    Dẫu vậy, một thành viên của el-Nasr sẽ là giấy thông hành dẫn tới những anh em họ hàng xa của cậu ta ở phương nam.

    “Dân el-Nasr có mối thù truyền kiếp nào không?” anh hỏi.

    “Không,” thằng bé miễn cưỡng nói. “Nhưng tôi không chắc lắm – tôi đã không ở sa mạc trong - ” Nó dừng lại, và nhún vai. “Trong một thời gian dài.”

    “Dài bao lâu?”

    “Nhiều mùa hè,” nó đáp mập mờ.

    Lord Winter mỉm cười. “Cậu đã nhìn thấy bao nhiêu mùa hè trong đời rồi, bậc cao niên?”

    Selim tỏ ra vô cùng chăm chú nhằn hạt quả olive của nó. “Tôi không biết, thưa ngài.”

    Tử tước nhìn xuống mái đầu đen của thằng bé. Selim là một câu đố lớn. Người Bedu ít có khái niệm về thời gian - ở sa mạc các mùa đi qua không có điểm nhấn nào khác thường, nhưng Selim nói tiếng Anh rất tốt, chỉ có một chút nhấn giọng, đôi chỗ nhịu, nên Arden đoán Lady Hester hẳn đã dạy nó khá lâu. Chắc chắn nó biết nó đã ở với bà ấy bao lâu.

    “Cậu biết đọc biết viết không?” anh hỏi.

    “Có, thưa ngài!” Câu trả lời đến nhanh và chắc chắn. “Tiếng Anh và tiếng Ả Rập.”

    “Vậy,” Arden nói, “chắc cậu muốn đến Beyrout làm một thư ký.”

    “Tôi không muốn làm thư ký. Tôi muốn - ” Thằng bé dừng lại đột ngột.

    “Làm gì?”

    “Điều đó không quan trọng, thưa ngài.”

    “Đi với ta đi,” Arden đột ngột nói, ngạc nhiên với chính mình. “Tộc El-Nasr không có xung đột lớn, và trả tiền cho bất cứ ai đổi lấy sự bảo vệ. Bằng không ta sẽ phải thuê một rafik mới để đưa ta vượt qua từng bộ lạc.”

    “Tôi không muốn làm rafik cho ngài.”

    “Tại sao không? Ta sẽ trả cậu rất hậu.”

    “Vì khi đó tôi không thể rời bỏ ngài. Tôi sẽ phải đi cùng ngài đến lúc chết, và tôi không muốn chết.”

    Anh bật ra một tiếng cười ngắn. “Một kết thúc tất yếu, theo quan điểm của cậu!”

    “Người ta nói không có nước cho mười lăm con lạc đà vượt qua những vùng cát đỏ.”

    “À, nhưng hãy nghĩ cậu sẽ làm cho tất cả những người quen của cậu một phen phấn khích với câu chuyện ra sao, và trở nên nổi tiếng đời đời như một con người đặc biệt dũng cảm.”

    “Ngài đúng là điên,” Salim nói kiên quyết. “Tôi muốn đi Beyrout.”

    “Sao cậu lại khao khát Beyrout thế, sói con? Ở với phu nhân khiến cậu trở nên quá yếu nhược trước sa mạc à?”

    “Vâng, thưa ngài.” Thằng bé cắn mạnh một quả olive và nhổ hạt ra. “Tôi ghét sa mạc.”

    “Đáng tiếc. Bà ấy đã không giúp được cậu chuyện đó.”

    Thằng bé bỗng quay sang Arden. “Thưa ngài!” nó hỏi bằng tiếng Anh, “có phải ngài là gián điệp?”

    “Không. Nhưng chắc chắn ta sẽ bị xem là gián điệp, và cậu cũng thế, nếu hai chúng ta xổ tiếng Anh vào bất cứ giây phút không đúng lúc nào.”

    “Vậy sao ngài lại đến đây? Ngài có thể muốn gì ở một nơi thế này?”

    Anh nhìn ra bầu trời xanh lồng lộng và miền đất hoang vắng. “Cậu không thấy nó rất đẹp sao?”

    Selim vòng hai tay ôm người, run rẩy. “Ngài thật là dại! Khi mà ngài có thể ở lại nước Anh!”

    Anh cười. “Cậu nói hệt như bà cô của ta. Cậu biết gì về nước Anh hả?”

    “Tôi biết mọi người ở đó đều ngủ trên giường đệm lông vũ,” thằng bé nói gay gắt, “chứ không phải trên lưng một con la nơi sườn núi.”

    “À! Vậy ra cậu muốn một chiếc giường lông vũ ở Beyrout.”

    “Tôi không muốn giường lông vũ ở Beyrout. Tôi muốn - ”

    Lord Winter quan sát gương mặt căng thẳng của thằng bé. Dù là gì đi nữa, thằng bé cũng rất muốn thứ đó. Một khao khát như vậy không phải điều bình thường.

    “Vàng chăng?” Tử tước gợi ý. Tất cả người Bedu đều có ham muốn cháy bỏng với những đồng vàng.

    Selim ném cho anh một ánh mắt tự trọng, phân vân, một sự pha trộn kỳ lạ của khinh thị và quan tâm. Vậy là, Lord Winter nghĩ, cho dù chú mày muốn gì, nó cũng có thể mua được bằng vàng.

    “Cậu tính xem là bao nhiêu đồng sovereign,” anh trầm ngâm, “giá cho một rafik đi đến Nejd và quay lại?”

    Thằng bé lặng thinh.

    “Hai con lạc đà thuần chủng?” Lord Winter đề xuất. “Ta đã thấy chúng được bán với ba mươi đồng ở Damascus.”

    Selim cau có nhìn xuống đất. “Tôi không cần lạc đà.”

    “Cậu có thể mua thứ cậu thích bằng những đồng sovereign. Xem nào, một con ngựa cái Keheilan thuần chủng, một trăm đồng.”

    Thằng bé bắt đầu tỏ ra bị dồn ép. “Tôi không muốn một con ngựa cái,” nó lẩm bẩm.

    Lord Winter nhướng mày. “Cho ta biết cậu muốn gì, để chúng ta cùng bàn bạc. Biết đâu lại có lợi cho cả hai.”

    Selim nhìn anh chằm chằm, gần như xuyên qua anh, thở gấp như đang vật lộn với một phép tính hóc búa. “Ngài sẽ trả những đồng sovereign vàng? Tiền Anh?”

    Lord Winter gật đầu.

    “Bao nhiêu – thưa ngài – một chuyến đi đến London sẽ mất bao nhiêu?”

    Arden, trí tò mò nổi lên, đã điểm qua các khả năng trong đầu: chi phí trả một bác sĩ hoặc một thầy cúng cho một người bà con đau bệnh, sính lễ của một cô dâu đắt đỏ, giá của một vườn chà là – nhưng điều này khiến anh nhìn xuống thằng bé với vẻ kinh ngạc.

    “London! Cậu muốn gửi ai đến London?”

    Quai hàm thanh tú của Selim cứng lại. Nó cúi gằm mặt, mớ tóc rối đổ về phía trước che đi sắc diện. “Là tôi muốn đi, thưa ngài.”

    Trong im lặng kéo dài, Zenia cảm thấy mình là đối tượng bị soi mói kỹ lưỡng. Bất chấp cung cách khắc nghiệt, cô biết Lord Winter không khinh thường chú sói con của anh ta. Nhưng cô không dám để anh ta phát hiện mình là con gái. Lord Winter có cùng quan điểm với Lady Hester trong cách coi thường phái yếu. Chừng nào cô còn là một cậu bé người Bedu trong mắt anh ta thì cô còn có hy vọng anh ta sẽ khoan dung với cô, hoặc mở rộng tầm che chở của anh ta. Anh ta sẽ bỏ rơi một cô gái ngay lập tức, rất có thể là giao thẳng cho thủ lĩnh một thôn làng gần nhất, người sẽ nộp cô cho quan tổng trấn nếu ông ta không gả cô cho người đàn ông đầu tiên, theo đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi, trả tiền mua cô. Cô có thể trốn lên miền bắc, nếu đi bộ được xa đến thế, tập tễnh xin ăn dọc đường, mà không bị giết hoặc bắt làm nô lệ. Trong sa mạc một người lạ nghèo khổ sẽ được tiếp đãi nồng hậu, ít nhất là vài ngày, nhưng ở đây nơi phiến quân và lính của tổng trấn Ibrahim đã giày xéo vùng đất bao lâu nay, thì không có sự chắc chắn như vậy, và nếu Chúa phù hộ cho cô đến được bộ lạc Nasr cũ, cô sẽ chỉ rơi vào nơi cô sợ hãi, một lần nữa chìm nghỉm vào sự huyền bí hung bạo của cuộc sống sa mạc, không có lấy một tia hy vọng nhỏ nhất về nước Anh.

    Nhưng Lord Winter – Lord Winter có thể gửi cô về London nếu anh ta muốn. Những viên lãnh sự sẽ cúi chào anh ta, dâng lên những đồng sovereign theo ý anh ta. Những con tàu sẽ đến theo mệnh lệnh của một đức ngài người Anh – cô đã từng chứng kiến cảnh đó; mẹ cô thường đưa ra những mệnh lệnh như thế thời bà còn quyền lực, trước khi tiền bạc của bà tiêu tán và nợ nần chồng chất.

    “Cậu là một đứa trẻ kì lạ,” anh ta nói trầm ngâm. “Ta nghĩ đó cũng là chuyện bình thường. Một người Bedouin ghét sa mạc và nói tiếng Anh rất giỏi – ta không thể hình dung bà chủ của cậu dự định những gì cho cậu.”

    “Bà ấy chưa bao giờ nói tới chuyện đó, hay chuẩn bị cho nó,” Zenia nói vô cùng thành thật.

    “Bà ấy có muốn cậu đến Anh không?”

    “Là tôi muốn đến Anh,” cô nói quả quyết. “Bà chủ tôi chết rồi, cầu thánh Allah phù hộ bà yên nghỉ.”

    “Rất thật,” Lord Winter nói, thích thú. “Qua đó ta hiểu ý cậu muốn nói rằng bà ấy không muốn cậu đặt chân đến đó.” Anh ta đứng dậy, khoác súng lên vai. “Ta thì không có những đắn đo như thế, sói con. Nếu cậu khao khát nhìn thấy nước Anh, thì, ay billah, cậu sẽ đi. Sau khi cậu làm rafik dẫn đường cho ta tới Riyadh và Hayil rồi quay lại.”

    Zenia nhìn lên anh ta. Cô chưa từng đến Nejd, trung tâm của bán đảo Ả Rập – những năm tháng ở với người Bedu của cô chỉ quanh quẩn trong những vùng đồng bằng nóng cháy phía bắc và đông Damascus. Một fendi nhỏ người El-Nars trong bộ tộc lớn Anezy chưa bao giờ có lí do hay ý chí để băng qua miền cát đỏ nefud tới miền nam. Không một người nào Zenia quen biết từng tham gia cuộc hành hương đến Mecca. Sa mạc phương nam như một vùng đất truyền thuyết đối với họ, vùng đất của tổ tiên họ; lãnh thổ Riyahd ngày nay thuộc về những hoàng tử theo chủ nghĩa Wahhabi, những người sẽ dùng vũ lực giành lại thế giới cho người Hồi, những người căm ghét bất cứ ai không theo đạo nhưng khinh miệt người theo đạo Thiên Chúa hơn cả, những người thậm chí cắt lưỡi người Hồi Giáo vì đã hát, bởi những tộc trưởng độc đoán của họ bảo rằng bài hát vô hại có thể dụ dỗ quỷ dữ. Đó là những câu chuyện cô được nghe về vùng đất bên kia những miền cát đỏ nefud.

    “Thưa ngài,” cô nói thận trọng, “nếu ngài bằng lòng đưa tôi tới Anh, tôi sẽ làm bất cứ việc gì, nhưng tôi phải thấy tiền trước đã.”

    “Ô hô, thế cơ à? Vậy thì đi kiếm đi, nhưng trừ phi cậu có thể đến Damascus và quay lại trong vòng một phần tư giờ, không thì thỏa thuận xóa bỏ.”

    Zenia liếm môi và cụp mắt xuống. Anh ta khẽ cười trước sự bối rối của cô.

    “Một kẻ liều mạng gian xảo,” anh ta lẩm bẩm. “Ta không mang theo những túi đầy tiền vàng cho đám lưu manh các cậu cướp bóc. Hai đồng sovereign bây giờ, nhóc, cho lời tuyên thệ sẽ không bỏ rơi ta không lời từ biệt, và chuyến đi London của cậu sẽ được thu xếp trên đường chúng ta trở về.” Một ý nghĩ chợt đến với anh ta, gương mặt anh ta sáng lên với nụ cười ranh mãnh. “Lạy Chúa, ta sẽ đích thân đưa cậu đến đó. Chúng ta sẽ dùng trà ở Swanmere với mẹ của ta, và tỏ ra đạo mạo kinh khủng.”

    Zenia ngước mắt băn khoăn. “Mẹ ngài sẽ tiếp tôi sao?”

    “Ta dám chắc bà ấy sẽ tiếp cả quỷ sứ nữa kia, nếu điều đó khiến ta rơi trở lại nanh vuốt bà ấy.” Anh ta xuống khỏi mỏm đá bằng một sải chân dễ dàng và đưa tay ra. “Cậu nghĩ sao? Nejd và nước Anh cho chúng ta chứ?”

    Cô nuốt khan, gần như không thở nổi. Một cơ hội đầy may rủi. Tuy nhiên cô không còn hy vọng nào khác.

    Ngập ngừng, cô đưa tay ra. Anh ta nắm lấy nó bằng những ngón tay mạnh mẽ. “Nếu cậu làm bạn đồng hành của ta,” anh ta hứa bằng tiếng Ả Rập, “Ta sẽ đưa cậu đến London trên đường về từ Nejd.”

    Zenia đứng lên với những ngón tay nằm trong tay anh ta. “Số phận chúng ta là một trên hành trình,” cô nói, giọng run run trong lời thề trang trọng của một rafik, “bất kể chúng ta sống hay chết. Tôi sẽ đưa ngài tới địa điểm ngài nói, và thề trước Chúa tôi sẽ không bỏ rơi ngài.” Cô cảm thấy bàn tay anh ta bắt đầu rút lại, liền đột ngột níu lấy nó. “Có đức Allah, Chúa trời chứng giám, tôi sẽ ở dưới sự bảo vệ của ngài!”

    Đó là một lời thề khác – dakhilak – rằng anh ta có trách nhiệm với mạng sống của cô nếu anh ta chấp nhận nó.

    Cô ngước mắt lên. Anh ta nhìn xuống cô, đức ngài người Anh điên rồ này, và nở nụ cười thoải mái khắc nghiệt của anh ta. Anh ta có thể bảo vệ cô khỏi bất cứ chuyện gì, cô nghĩ. Cô sợ anh ta, vì anh ta cười cợt quỷ dữ và yêu sa mạc. “Ngài làm ơn,” cô nói bằng giọng nhỏ xíu, “đừng để tôi chết trước khi tôi có thể trông thấy nước Anh.”

    Nắm tay anh ta siết lại, bàn tay cô chìm trong sức mạnh của nó. “Thề có Chúa và danh dự của ta, Selim,” anh ta nói điềm tĩnh, “cậu ở dưới sự che chở của ta. Ta sẽ bảo vệ cậu bằng cả tính mạng mình.”
     
    NHTB, Levananh, hathao and 6 others like this.
  10. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 4​


    “Tôi không muốn một cô vợ,” Zenia lặp lại đầy kiên quyết, chắc chắn không phải là lần đầu tiên.

    “Lạc đà cũng đâu có muốn một bộ yên cương, nhưng đó là số phận rồi, lạy thánh Allah,” người Moor Haj Hasan đáp, ngồi theo kiểu Ả Rập trên mặt đất với cốc cà phê trong tay.

    Vòng tròn nhỏ những người đàn ông Bedouin nghe vậy cười ầm ĩ. Ngồi quanh đống lửa vào lúc chập tối, họ bàn tán rôm rả về chủ đề này. Zenia không nhận ra ai trong những người của bộ tộc Beni Sakkr mà họ đi cùng này, nhưng cô giữ chiếc khăn kuffiyah che kín mặt để đề phòng, ngày cũng như đêm, vì bất cứ ai trong bọn họ cũng có thể biết cô, dù cô đã rời sa mạc bảy năm.

    “Tôi nghèo lắm, thưa ngài,” cô khẳng định, “tôi chẳng có gì để cho vợ.”

    “Chẳng phải ta đã bảo sẽ cho cậu một con lạc đà và giết một con cừu, thề có con mắt của ta? Và tặng cậu một khẩu súng trường làm quà sao? Cậu nói chẳng có gì là sao?”

    “Haj Hasan nói hay lắm,” một người Bedu nói. “Thế là rất nhiều rồi, lạy thánh Allah.”

    Zenia tiếp tục cúi mặt. “Không hay gì cả,” cô bất mãn phản đối.

    “Yallah, thế ta không có râu thì hay hả?” Haj Hasan hỏi đầy khoa trương. “Ta, giống như một người cha đối với cậu! Ta đã phải cắt bộ râu đẹp của mình vì cậu. Giờ trông ta như một đứa con gái cằm nhẵn!”

    ‘Ngài có thể nuôi lại mà, el-Muhafeh!” cô thốt lên, gọi anh ta là người giám sát và bảo vệ trong tiếng Ả Rập. “Tôi còn quá trẻ để lấy vợ.”

    “Quá nhút nhát!” Một người trong bọn góp ý.

    “Ay billah, quá vô ơn,” một người khác nói chua cay.

    “Quá rụt rè!”

    ‘Quá xấu, lạy đức Allah!” người thứ tư kêu. “Đó là lí do thằng nhỏ giấu mặt. Sẽ không có cô thiếu nữ nào ưng nó!”

    “Để bọn ta xem nào!” Họ nghiêng về phía Zenia, những ngón tay háo hức đe dọa chiếc khăn kuffiyah của cô, nhưng ắt sẽ là thô lỗ tột bậc nếu đặt tay lên người cô. Cô lùi khỏi bọn họ mà không bị cản trở, dịch ra bên rìa ánh sáng.

    “Này, đừng có đuổi cậu ta khỏi đống lửa,” Haj Hasan hài lòng nói. “Thánh Allah nhắn rằng Selim đẹp lắm. Mấy người lầm rồi.”

    Zenia không quan trọng việc không được ngồi gần đống lửa. Dãy núi đã ở sau họ mười hai ngày đường, và ký ức của họ về cái lạnh căm căm giờ đây trở thành một hồi ức thú vị trong buổi tối nóng bức của sa mạc. Cô đứng dậy và bỏ đi, giả bộ bận rộn với mớ hành lý.

    “Yallah, sói con à, quay lại đi,” những giọng Bedouin giục giã, nhưng Zenia ngồi nguyên tại chỗ. Đây là cảnh tượng đã trở thành quen thuộc, vì Haj Hasan mắt xanh không thể kìm chế mà bỏ qua bất cứ cơ hội nào để kể cho người khác nghe anh ta đã cắt bỏ bộ râu và thề sẽ không nuôi lại cho đến khi chứng kiến người anh em bé nhỏ Selim làm đám cưới. Anh ta đã bập vào câu chuyện hoang đường này ở những cái lều Bedu đầu tiên, không báo trước cho Zenia, và đã lan truyền nó đi xa đến nỗi nó quay lại gặp họ trên đường. Cô đoán phân nửa các bộ lạc ở sa mạc ắt đã biết về nó, vì tin tức thú vị bay nhanh như gió giữa những người Bedouin.

    Tối tối anh ta đều hành lễ cạo râu, nhưng bị tra hỏi ráo riết đến mấy cũng không hé lộ thêm tí gì, thành thử nó biến thành một trò chơi với người Bedu, bản tính tò mò và phấn khích của họ dâng lên bừng bừng. Không được thỏa mãn với nguyên nhân bí ẩn đã khiến Haj Hasan lập lời thề kỳ lạ như vậy, giờ đây họ bổ nhào vào sự bí ẩn của Selim.

    “Thằng nhỏ là người Ba Tư,” một người trong bọn đoán.

    “Nó là người Ả Rập,” Haj Hasan nói.

    “Nó là một Emir. Một hoàng tử!”

    “Wellah, hoàng tử trong mớ giẻ rách,” một người cố chấp chế nhạo. “Cậu ta là một người Bedu nghèo như chúng ta thôi, cậu ta che mặt chỉ để làm bộ.”

    “Ê, cậu ta là người vùng Andaluz, giống Hasan,” một người khác xen vào. “Thề trên bộ râu của tôi!”

    “Không, cậu ta không đủ cao để làm một người Mogreby. Nhìn Haj Hasan mà xem – Chúa trời chỉ đường cho anh, Selim sẽ không bao giờ cao tới mức độ khổng lồ đó.”

    Lord Winter đứng dậy, nổi bật trong chiếc áo choàng trùm đầu trắng, với khẩu súng trường luôn ở trên vai, và khoát tay cúi chào theo kiểu Châu Âu khiến Zenia run lên trong lòng. Không một ai nghi ngờ mẹ anh ta, con bồ câu trắng xinh đẹp vùng Andaluz, hoặc không tin anh ta khi anh ta thề trên bộ râu bóng bẩy của cha anh ta, một tù trưởng người Algeri nổi loạn có địa vị mơ hồ nhưng cao quý, người vì một động cơ nào đó mà Zenia chưa bao giờ hiểu tường tận dường như đã để mặc con trai mình được nuôi dưỡng ở ít nhất là ba nơi khác nhau thuộc miền nam Tây Ban Nha – chắc hẳn là vì cậu Hasan trẻ tuổi đã bộc lộ tiềm năng trở thành một kẻ ba que xỏ lá đại tài, cô hậm hực nghĩ. Những câu chuyện của Lord Winter về Cordoba và Seville và Granada khiến người Bedu mê mẩn, vì họ mơ tưởng về Andalusia và đế chế cũ, mất tích từ nhiều thế kỷ, và chảy nước mắt khi nghe được rằng những khoảng sân và đài phun nước duyên dáng của người Hồi Giáo giờ bị đổi thành những nhà thờ Thiên Chúa Giáo và những lâu đài của người vô thần.

    Tất cả xúm lại khi anh ta gọi Selim mang bộ đồ nghề đến. Họ ngồi tròn mắt theo dõi anh ta cạo chỗ râu mọc sau một ngày khỏi quai hàm, những cử chỉ của anh ta quá thiện nghệ để Zenia cảm thấy bình tâm. Cô lo một bước đi sai lầm nào đấy làm lộ tẩy, sợ ai đó sẽ thắc mắc trước việc một người đàn ông mang theo một con dao cạo xịn và một cái gương trong một cái ví gấp, nhưng Abu Haj Hasan người Mogreby, với mái tóc đen và cặp mắt xanh và khẩu súng trường hấp dẫn, đã là quá bất thường khiến những chi tiết đó dường như bị bỏ qua không bình luận, chí ít là trước mặt anh ta. Cô không dám dự đoán những câu chuyện nào đang lan tỏa khỏi khu lều trại này bay vào sa mạc.

    Cô cưỡi một con lạc đà khỏe đẹp mà anh ta đã mua của người Beni Sakkr, và tính chuyện bỏ trốn cùng với nó trong đêm đến Damascus, bán nó đi ở đấy lấy tiền về Anh. Nhưng cô đã thề sẽ làm rafik của anh ta – và bên cạnh đó, cô không có sức mạnh ý chí, hay lòng can đảm cho một hành động như vậy, cho nên cô đành ngủ bên cạnh anh ta dưới mái lều của anh ta, một nơi trú ẩn an toàn.

    Hiện giờ họ đã rời bộ tộc Beni Sakkr. Haj Hasan đã thuê thêm một rafik trẻ từ bộ lạc Rowalla, vừa làm giấy thông hành vừa là hoa tiêu vì Jof ở bên rìa vùng cát đỏ. Zenia cảm thấy anh ta đã lựa chọn tồi và trả quá đắt, nhưng cô ngậm miệng, không muốn lôi kéo sự chú ý về mình bằng việc đấu khẩu với ông chủ. Giữa khu lều trại màu đen của người Bedu không thể nào có một cuộc trò chuyện riêng tư – nếu ai đó đi ra một góc để thì thào, tất cả những người khác sẽ bám theo để hóng xem có chuyện gì.

    Sáng sớm họ lên đường cùng với Rowalla, một nhóm nhỏ ba người trong thời gian ở trên đất của bộ lạc của cậu ta. Thanh niên người Bedui bủa vây cô bằng những câu hỏi tò mò. “Tại sao anh không muốn có vợ?” cậu ta hỏi, thúc lạc đà đi sát lạc đà của cô. “Anh thích con trai hơn à?”

    “Không, tôi thích một mình hơn, cầu ơn trên phù hộ anh!” cô trả lời gắt gỏng.

    Cậu ta nghe chừng không thèm hiểu lời bóng gió, vỗ lạc đà để nó đi song song với lạc đà của cô. “Lạy thánh Allah, anh có khẩu súng tuyệt quá. Nó là khẩu súng đẹp nhất tôi từng thấy.”

    Đây là một lời bóng gió rõ ràng khác. “Vậy thì sao?”

    Thanh niên Rowalla thở dài. “Tôi chẳng có khẩu nào.”

    “Haj Hasan đã trả anh một đồng riyal, và trả thêm một đồng nữa khi chúng ta đến Jof.”

    “Nhưng tôi không có súng. Anh cho tôi súng của anh đi?”

    “Nó không phải súng của tôi. Nó thuộc về el-Muhafeh.”

    Thanh niên Rowalla thúc con lạc đà gày gò của mình vượt lên trước. Trong một lúc cậu ta kỳ kèo Lord Winter cho mình khẩu súng trường, nhưng Haj Hasan né tránh sự năn nỉ của cậu ta một cách khéo léo, gạt nó sang bên bằng một câu hỏi Rowalla đã đi xa đến đâu về phương nam. Thanh niên xăm xắn trả lời. Khi họ đi trong nắng nóng, vượt qua một đồng bằng toàn đá, thanh niên Rowalla thú nhận rằng cậu ta chưa từng băng qua vùng cát đỏ, nhưng cậu ta đã đến tận Baghdad ở cực đông. Cậu ta khoe khoang về những chuyến đi của mình suốt mấy dặm đường, tuyên bố Andaluz chẳng có cái gì có thể sánh được với nhà thờ Hồi giáo của Baghdad. Haj Hasan chỉ bảo rằng mình chưa đến Baghdad, nên không thể nói gì. Zenia, người đã đến, và biết nó là một nơi tiêu điều, cuối cùng cũng hết kiên nhẫn với sự phóng đại ngày càng quá quắt của Rowalla và nói rằng cậu ta chẳng biết gì về nó.

    “Anh chỉ là một gã Bedu dốt nát,” cô nói khinh khỉnh. “Anh chưa từng đến bất cứ địa điểm quan trọng nào.”

    Thanh niên Rowalla lập tức tụt lại đi cạnh cô. “Vậy anh đã đến những đâu, lạy thánh Allah?”

    “Baghdad và Damascus và Beyrout,” cô đáp. “Anh nghĩ chúng là những nơi hùng vĩ nhất trên thế giới, nhưng chúng chỉ như tảng đá nhỏ trước dãy núi, so với những thành phố của người Frank và người Englezy!”

    “Cầu Chúa dẫn đường cho anh, điều đó không đúng. Đức Sultan sẽ không bao giờ cho phép các kaffir có những thành phố lớn hơn các thành phố của ngài!”

    Zenia những muốn cầu khẩn Lord Winter trong vụ này, nhưng việc đó quá nguy hiểm. Tuy nhiên thanh niên Rowalla lại không có những đắn đo kiểu ấy.

    “Abu Haj Hasan!” cậu ta kêu to, “ngài phân giải đi. Ngài đã đến những bộ lạc của người Frank chưa?”

    Wellah, đến rồi,” Lord Winter nói, không ngoái đầu lại.

    “Vậy thì, Muhafeh thông thái, những thành phố lớn nhất của họ tên là gì?”

    “London,” anh đáp ngay. “Nơi ở của nữ hoàng của người Englezy, những người đã đưa tàu chiến của bà đến cứu đức Sultan lúc ngài nguy cấp.”

    “Nữ hoàng, lạy thánh Allah! Bà ấy cứu đức Sultant để nghiền nát quan tổng trấn Ibrahim và người Ai Cập! Wellah, điều này tốt, nhưng vì sao một bộ lạc lớn lại để một người đàn bà cai quản?”

    “Đó là ý của đức Allah,” Haj Hasan nói.

    “Thế đức vua chồng bà ấy đâu?”

    “Bà ấy còn trẻ, và chưa kết hôn. Nhưng tên bà ấy là Victory, và một con sư tử với một con chó săn thỏ canh gác giường của bà ấy.”

    “Chúa trời phù hộ ngài,” thanh niên khịt mũi. “Không phải thế.”

    “Thề trên mạng sống của ta, đó là sự thật. Và thành phố của bà ấy lớn hơn cả Damascus và Baghdad và Stamboul cộng lại, với năm mươi nghìn lính, tất cả được trang bị súng ống, chiến đấu theo lệnh của bà.”

    Cặp mắt Rowalla mở tròn như cái đĩa. “Chúa thật vĩ đại!” cậu ta buột miệng.

    “Yallah, Chúa thật vĩ đại,” Haj Hasan lẩm bẩm.

    “Đó là nữ hoàng của người Englezy.”

    “Đúng vậy, lạy thánh Allah.”

    “Và ngài đã gặp bà ấy, el-Muhafeh.”

    “Ta đã gặp bà ấy, lạy thánh Allah.”

    “Bà ấy có đẹp không? Bà ấy sẽ cưới đức Sultan chứ?”

    “Bà ấy là một nữ hoàng. Chẳng phải mọi nữ hoàng đều đẹp sao? Bà ấy sẽ không cưới đức Sultan, vì bà ấy không phải là một cô gái ngốc nghếch để bị nhốt cùng dàn hậu cung, nhưng hiện giờ bà ấy đang tìm kiếm khắp thế giới một người chồng xứng với mình.”

    “Ay billah, bà ấy nên đến bộ lạc Rowalla mà tìm! Tôi là con trai của tộc trưởng đây, và nếu ngài cho tôi một khẩu súng trường, tôi sẽ cưới bà ấy, cho dù bà ấy là một người Công Giáo đi nữa!”

    Haj Hasan ngửa đầu cười lớn. “Subbak, chú mày đúng là một đứa trẻ khôn lanh!”

    “Không, nhưng Selim không thích cưới vợ, dù ngài đã tốt bụng chu cấp cho anh ta đủ mọi thứ! Cho tôi khẩu súng của anh ta đi, để tôi có thể trở nên giàu có và rước được một cô dâu. Yallah, cứ mặc kệ anh ta ở đây với tinh thần nhu nhược của anh ta! Tôi sẽ theo ngài, Haj Hasan, vào vùng cát đỏ. Những kẻ thù của ngài sẽ là kẻ thù của tôi. Tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi ngài!”

    Lord Winter ngoái đầu nhìn Zenia. “Cậu thấy sao?”

    Cô cảm thấy nhói lên một nỗi sợ, rằng anh ta sẽ bỏ cô lại giữa sa mạc vì một tên Rowalla đần độn khoác lác. Nhưng cô sẽ không để nỗi sợ hiện lên trên gương mặt hay trong giọng nói, nữa là để tên Rowalla bổ nhào vào nó. “Tôi thấy rằng , thưa el-Muhafeh,” cô đáp thẳng thừng, “cậu ta chỉ muốn một cây súng trường từ ngài thôi.”

    Lord Winter nhìn xéo cô, tấm khăn trắng của chiếc kuffiyah che khuất gương mặt anh ta khỏi thanh niên Rowalla. “Nhưng sáng nào cậu cũng nói với ta cậu không muốn đi xuống phương nam.”

    “Tôi không muốn, el-Muhafeh. Đó là một việc làm ngu ngốc.”

    “Cậu Bedu trẻ tuổi này bảo cậu ta sẵn lòng đi, lạy thánh Allah. Làm sao ta biết được cậu sẽ không bỏ rơi ta trong sa mạc, Selim?”

    “Chúng tôi là raffik. Tôi đã thề sẽ không làm thế.”

    Lord Winter nhìn cô, những suy nghĩ trong đầu anh ta không thể đọc được qua vẻ mặt. “Cậu Rowalla này cũng là raffik của ta.”

    “Vậy hãy để chúng tôi cùng đến vùng cát đỏ, Muhafeh,” cô nói, “và xem ai trong chúng tôi sẽ ở bên ngài.”

    Anh ta cười nhạt. “Inshallah,” anh ta nói. “Xin theo ý Chúa.” “Inshallah,” thanh niên Rowalla ngoan ngoãn lặp lại. “Chúng ta sẽ thuê một trăm con lạc đà, và băng qua sa mạc nefud, và đến gặp ngài hoàng thân ở ar-Riyadh.”

    “Sao kia, một trăm con lạc đà, lạy bộ râu của đức Allah?” Zenia thốt lên. “El-Muhafeh không cần đến một trăm con lạc đà. Ngài ấy chu du dưới sự bảo vệ của một con quỷ dữ, và chỉ cần mình tôi phục vụ ngài.”

    “Một con quỷ!” Thanh niên Rowalla trố mắt. “Haj Hasan, đúng thế không?”

    “Đúng thế,” Lord Winter thản nhiên đáp.

    “Wellahi!” Cái tin mới này có vẻ làm giảm đáng kể nhuệ khí đồng hành với họ của thanh niên Rowalla. Cậu ta bắt đầu tách xa một chút khỏi họ, vượt lên trước với cái cớ là đi trinh sát.

    Lord Winter đợi đến khi thanh niên Rowalla đã ra khỏi tầm nghe. “Một kẻ đáng khinh!” anh lẩm bẩm bằng tiếng Anh. “Đo ván ngay cú đánh đầu tiên.”

    “Anh ta sẽ không dám đi qua vùng cát nefud,” cô nói hậm hực. “Anh ta chỉ muốn một khẩu súng trường. Nếu ngài đưa nó cho anh ta, anh ta sẽ đánh bài chuồn.”

    “Ta bắt đầu thấy ta may mắn thế nào khi có cậu, sói con. Cậu vẫn đi cùng ta, dưới sự đe dọa của cát và một cô dâu.”

    “Tôi không muốn một cô dâu, thưa ngài.”

    “Cậu làm ta ngạc nhiên. Ta tưởng cậu sẽ phấn khích chứ. Một thiếu nữ xinh đẹp, với đôi mắt như mắt linh dương và đôi môi như hoa hồng – một người như thế không quyến rũ được cậu sao?”

    “Không, thưa ngài.”

    “Kể cả vì một con lạc đà cũng không?”

    “Ngài đã kết hôn chưa?” cô hỏi sắc lẻm.

    Anh ta cười toét miệng, ánh mắt thích thú. “Một cú đấm trực diện. Cậu buộc ta phải thú nhận là chưa.”

    “Tôi muốn được như ngài. Tôi nghĩ con gái thật ngu ngốc.”

    “Quả vậy!” Anh ta thúc lạc đà đi đủng đỉnh, nhìn cô với khóe miệng cong lên. “Có khi cậu phải trẻ hơn ta tưởng.”

    “Tôi không muốn kết hôn, thưa ngài,” cô quả quyết.

    “Phải, chúng ta đã xác lập quan điểm đó theo mong muốn của chúng ta. Súng ống không có nghĩa lý gì với cậu, và lạc đà với cô dâu chỉ là bụi cát trong miệng cậu mà thôi.” Anh ta mỉm cười với cô theo một cách khiến cô cảm thấy bối rối và bất an kỳ lạ. Anh ta có đôi bàn tay mạnh mẽ đáng ngưỡng mộ, những ngón tay đặt thảnh thơi trên khẩu súng lục khi anh ta giơ khẩu súng trường lên bằng một tay, báng súng tỳ vào đầu gối. “Nhưng tại sao lại là nước Anh mới được?”

    “Nó xanh,” cô đáp.

    Chân mày anh ta nhướng lên. “Ta hiểu.”

    “Như ở khắp nơi đều là vườn.”

    “Ai bảo cậu thế? Lady Hester?”

    “Không đúng sao?” Cô hướng đôi mắt lo lắng về phía anh ta.

    “Ta cho rằng nó cũng xanh thật. Cực kỳ xanh. Xanh đến ngột ngạt, có thể nói như thế. Nhưng cậu có thể ngắm cây cối ở Damascus cơ mà. Cậu không cần phải bôn ba tới tận Anh.”

    “Ngài đã hứa với tôi!” cô kêu lên. “Tôi không thiết những cái cây ở Damascus!”

    “Bình tĩnh nào, sói con! Cậu sẽ nhìn thấy tất cả cây nước Anh trong khả năng chịu đựng của cậu, ta cam đoan thế. Ta chỉ tò mò cậu moi đâu ra cái khao khát bất thường này.”

    Cô ném cho anh ta một cái nhìn cháy sém. “Ngài khao khát tới Nejd trong bộ dạng cải trang, một việc làm ngu ngốc và nguy hiểm, ngài cũng hơi điên đấy.”

    “Ta đang tìm một con ngựa.”

    “Con ngựa nào?” Zenia cảnh giác hỏi.

    “Nó được gọi là Shajar al-Durr. Chuỗi Ngọc Trai.”

    Cô có vẻ nghi ngờ về lai lịch của người đàn ông đi bên cạnh cô. “Nó thuộc về ai?”

    “À, đó chính là câu hỏi – ai sở hữu nó, và nó đang ở đâu? Cậu còn chưa đẻ, sói con, và ta mới chỉ là một thằng bé khi quan tổng trấn Ibrahim đưa quân Ai Cập đến Nejd, để giành lại Mecca từ những kẻ cuồng tín và phá vỡ quyền lực của chủ nghĩa Wahhabi. Ông ta bắt giữ hoàng tử của bọn họ, ibn-Sau, cùng với bộ sưu tập lớn nhất những con ngựa từng sống ở sa mạc – tất cả những con dòng giống tốt nhất thu hoạch của người Bedouin được gom về ar-Riyadh, và khi ibn-Saud thua trận, ông ta mất đàn ngựa. Tổng trấn Ibrahim đòi chúng làm đồ cống nạp, và đưa chúng về Ai Cập.”

    “Phải,” Zenia nói, “Tôi có nghe về chuyện này. Và đức Allah báo rằng lũ ngựa đã chết ở Ai Cập, vì tổng trấn Ibrahim đã phạm tội tham lam khi đưa chúng ra khỏi sa mạc.”

    “Đúng vậy. Đó là một bi kịch cho dòng giống. Nhưng người Bedu có khi nào thiếu mưu mẹo, hoặc chua chát đâu? Không phải tất cả những con ngựa đều bị đưa đi – một số được che giấu, và một số ít những con ngựa quý được phép ở lại với những người của bộ lạc Muteyr, những người đã liên minh với tổng trấn Ibrahim chống lại hoàng tử Saudi. Khiến cho người Saudi không được vui, cậu có thể tin như thế.”

    Zenia u ám lẩm bẩm tán thành. Vị hoàng tử của chủ nghĩa Wahhabi xưa đã bị chặt đầu ở Stamboul, và nếu có bộ lạc nào đã chiến đấu ở phe người Ai Cập để lật đổ ông ta, thì nhiệm vụ trả thù đẫm máu sẽ kéo dài qua nhiều thế hệ.

    “Ngay khi tổng trấn Ibrahim và quân Ai Cập của ông ta lấy lại Mecca cho đức sultan, Ibrahim đã ra đi theo một cuộc chơi lớn hơn,” Lord Winter nói, “và thế là suốt hai mươi mùa xuân qua, người Saudi thoải mái tiêu khiển cho mình bằng việc trả thù người của bộ lạc Muteyr. Họ tự an ủi mình bằng những con ngựa quý, cho đến khi số ngựa nhỏ nhoi còn lại bị đưa đi vì lí do an toàn. Trong đó có những con ngựa cái tốt nhất thuộc giống ngựa tốt nhất, giống ngựa Jelibiyat.”

    “Đưa đi đâu?” Zenia gồng mình chờ điều tồi tệ nhất.

    “Tù trưởng bộ lạc Muteyr giao những con ngựa cái cuối cùng của ông ta vào tay hai người thân cận nhất, và ra lệnh đưa chúng tới ibn-Khalif, trên một hòn đảo thuộc Bahreyn.”

    Bahreyn chẳng mang ý nghĩa gì với Zenia; cô nghĩ nó ở biển đông mãi bên kia sa mạc. “Vậy chúng ta sẽ đi Bahreyn phải không?” cô nghi hoặc hỏi.

    “Không. Khi con ngựa cái giống Jelibiyat rời bộ lạc Muteyr, nó đã mang thai với con tuấn mã Kuhaylan dũng mãnh nhất của họ. Khi đến nơi, nó không dẫn theo ngựa con, cũng không mang thai nữa, sữa của nó đã cạn. Người của tù trưởng bảo nó đã mất con trong chuyến đi.” Anh ta nhìn sang cô, chiếc khăn kuffiyah che khuất gương mặt và khiến đôi mắt anh ta xanh như bầu trời không một gợn mây. “Nhưng có người nói không phải thế. Có người nói nó đã sinh một con ngựa cái non vẫn còn sống để trở thành khadra barda, trắng như tuyết, với một vệt đốm giống như chuỗi ngọc trai quanh cổ.”

    “Có người sẵn sàng nói những điều ngớ ngẩn.”

    “Đúng vậy, lạy thánh Allah,” anh ta đồng ý.

    “Hoặc tin vào bất cứ ảo tưởng ngớ ngẩn nào.”

    Anh ta cười nhẹ. “Nó không phải là ảo tưởng, sói con. Abdullah ibn Rashid đã giấu nó trong những ngọn núi của Jabal Shammar.”

    “Rashid! Hoàng thân của Hayil và Shammar?” Zenie rên lên lo sợ. “Thưa ngài – ngài không hy vọng mua nó đấy chứ?”

    “Không,” anh ta đáp, “ta không có hy vọng mua nó.”

    “Ngài định làm gì?”

    Anh ta không trả lời. Zenia cảm thấy không khí nóng đặc quánh lại và không thể hít vào phổi. “Thưa ngài – làm ơn - ” Cô thì thầm khó nhọc. “Ngài sẽ không mạo hiểm đến mức ấy chỉ để nhìn thấy nó.”

    “Ờ, không, sói con ạ,” anh ta nói vẻ xin lỗi. “Ta e rằng ta định đánh cắp nó.”

    “Lạy thánh Allah thương xót!” Cô há hốc miệng.

    Như thể vọng lại lời của cô, một tiếng hét vang lên từ ngọn đồi xa, nơi thanh niên Rowalla phi ngược trở lại trên lưng lạc đà, la lớn, “Ghrazzu! Ghrazzu! Bọn cướp, yallah! Chạy đi!”

    Ngay sau lưng cậu ta là một toán kỵ sĩ leo lên đồi, cất lên những tiếng hét xung trận inh tai của bộ lạc mình. Trước khi Zenia kịp giật cương, Lord Winter đã thúc lạc đà chạy hết tốc lực về phía toán ghrazzu đang đến. Zenia hét lên hốt hoảng, trong thoáng chốc định vươn tay ghìm con vật bất kham lại – và rồi nhận ra anh ta đã giương súng trường lên, anh ta lao thẳng vào bọn họ là có mục đích, con lạc đà đang phi nước kiệu điên cuồng.

    Phát súng đầu tiên của anh ta làm rơi cây giáo khỏi tay một kỵ sĩ. Bọn họ xông tới, trong lúc Zenia há hốc miệng nhìn Lord Winter, rồi thúc lạc đà chạy theo sau, hét bảo Rowalla ngăn Haj Hasan lại trong khi cô lần tìm sừng đựng thuốc súng anh ta đã đưa cho cô. Cô không biết về súng lục; cô không thể mở cái sừng đựng thuốc súng to cộ khi con lạc đà đang phi nước đại. Cô nghe thấy một tiếng súng nữa khi cuối cùng cô cũng nắm chặt được cái sừng và giật nắp ra.

    Tiếng súng khiến cô ngẩng phắt lên sợ hãi. Lord Winter không thể nào đã kịp nạp đạn. Nhưng toán cướp đã tản ra, một kỵ sĩ ngã xuống, tuy nhiên anh ta vẫn lao vào bọn họ với khẩu súng trường giương sẵn. Một phát súng nữa. Tên Rowalla bỏ trốn chạy qua anh ta, rên la tru tréo. Phát súng thứ tư, và tên kỵ sĩ gần nhất đang loay hoay quay đầu lạc đà bị loại khỏi cuộc tấn công.

    Bàng hoàng, cô nhận ra mọi phát đạn đều từ khẩu súng trường của Lord Winter. Đối phương vật lộn để quay lui những con lạc đà của mình, một khắc nhốn nháo xung quanh người đàn ông bị ngã, nhưng Lord Winter lại nổ súng, hai và ba phát mỗi lần, và bọn họ đành từ bỏ ý nghĩ cứu người. Khi anh ta lên đến đỉnh đồi thì bọn họ đang lao xuống phía bên kia.

    Zenia đi qua con lạc đà được buông cương và cúi xuống cái người Bedui, nòng súng của cô chĩa vào hắn, mặc dù nó không có đạn. Hắn đã mất cây giáo, và hình như không có súng ngắn. Bộ mặt có đôi mắt to ngẩng nhìn lên cô khi cô lướt qua, và hắn kêu lên, “Tôi xin được anh che chở!”

    Cô giơ khẩu súng trường lên cao, chấp nhận lời đầu hàng, và chạy lên chỗ Lord Winter dừng lạc đà trên mỏm đồi. Cô thở hổn hển qua lớp vải của chiếc khăn kuffiyah, không phải vì gắng sức, mà vì tức tối. Khi con lạc đà của cô dừng khựng lại bên cạnh anh ta, cô nhìn khẩu súng trường kỳ lạ với vẻ kinh ngạc.

    Anh ta đúng là điên, điên hết chỗ nói. Mắt họ gặp nhau. Cô nhìn anh ta trừng trừng, thở hổn hển, và nhìn khẩu súng trường đã bắn mười phát không dừng của anh ta trước cả khi cô có thể nhồi thuốc nổ vũ khí của mình. Anh ta tháo nó ra và buông cò súng.

    Anh ta cười với cô. Cô đã biết anh ta sẽ làm thế, đồ điên.

    “Con quỷ của ta đấy, sói con,” anh ta nói ôn hòa, mỉm cười âu yếm với khẩu súng kỳ diệu. “Mr. Samuel Colt của Connecticut.”
     
    NHTB, iusach, Levananh and 6 others like this.
  11. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 5​


    Cái túi nước bằng da trên lưng con lạc đà của Selim đang rỉ nước. Một sự nhỏ giọt tai hại; cực kỳ đều đặn. Arden đánh dấu bước chân của mình bằng những giọt nước, mỗi bước ứng với một vết sẫm trên cát, khi con vật loạn choạng leo lên một cồn cát đằng trước anh.

    Dắt con lạc đà của mình, Arden di chuyển chậm chạp qua vùng cát đỏ lún sâu. Thanh niên Rowalla đã rời bỏ họ bốn ngày trước, chạy khỏi toán cướp không một lần ngoái lại. Selim đã ném cho anh một ánh mắt chế nhạo kiểu Tôi-đã-bảo-mà, khiến Arden đã rất ngỗ ngược đáp lại bằng một cái nháy mắt, nhưng chẳng ai trong bọn họ quá nhớ nhung thanh niên Rowalla.

    Arden vốn không định vượt qua sa mạc nefud trước khi dừng lại ở thị trấn Jof để tích đầy nước và tìm một người dẫn đường. Nhưng họ đã có sẵn một người dẫn đường, rơi vào tay họ theo đúng nghĩa đen – người đàn ông thuộc bộ lạc Shammar bị hạ trong toán cướp. Bin Dirra đầu hàng hết sức ngoan ngoãn. Vừa uống cà phê của Haj Hasan vừa chửi rủa đồng bọn đã bỏ rơi mình, hắn đã thông báo cái tin tức ghê gớm rằng người Ai Cập đã đóng quân ở Jof và chắc chắn sẽ bắt giữ bất cứ người lạ mặt nào không có “thư.”

    Arden có thư – thực ra là một xấp giả mạo đủ kiểu – nhưng không có ý định mạo hiểm để bị bắt. Bằng mọi giá, anh phải tránh xa bàn tay của người Ai Cập. Tin tức mới nhất là về một trận đánh lớn ở miền bắc; nước Anh đã công khai ủng hộ vua Ottoman để thách thức tướng Ai Cập là tổng trấn Ibrahim và quân đội của ông ta, và Arden vô cùng không mong muốn bị nhận ra là người Englezy bởi bất cứ tên lính nào thuộc Ai Cập.

    Bin Dirra, không có lạc đà và phẫn nộ đồng bọn vì đã bỏ mặc mình với đôi chân trần, đã khẩn nài Haj Hasan để cho hắn dẫn họ xuống miền nam qua tuyến đường trực tiếp tới Hayil, nơi hắn có thể đích thân kiện đám chiến hữu bội bạc lên hoàng thân Abdullah ibn Rashid.

    Bin Dirra khẳng định hắn biết rành đường đi qua vùng cát đỏ. Arden, cẩn thận, lần này đã nhìn sang Selim, ngầm hỏi ý kiến cậu ta về tay người Shammar. Thằng bé bắt Bin Dirra giơ hai tay và thề trên tính mạng của con trai hắn rằng hắn đang nói sự thật.

    Arden nghĩ hắn nói thật. Anh hy vọng hắn nói thật. Họ đổ đầy các túi nước trong một dãy đồi đá, nơi Bin Dirra đẩy những tảng đá phẳng sang bên làm lộ ra những vũng nước bí mật, những cái giếng nhỏ chứa đầy nước mưa.

    Thế là họ hướng về miền nam tiến vào sa mạc nefud. Và nó giống như bước ngập đến đầu gối trong một lò than cháy rừng rực, những bức tường đỏ dựng lên ở mọi phía để phản chiếu lại ngọn lửa.

    Suốt bốn ngày họ đi qua những cồn cát hình móng ngựa, với Bin Dirra dò đường, leo lên một đồi cát rồi lại thử một quả đồi khác, như một con chó săn lần theo một cái mùi mờ nhạt. Với Arden, cồn cát nào cũng giống cồn cát nào.

    Cát nặng là địa ngục của lạc đà. Trong những chỗ trũng của hầu hết những cồn cát lớn điệp trùng là những bộ xương. Có cả xương lạc đà lẫn xương người. Không có ai được chôn trong sa mạc nefud; họ bị bào mòn bởi gió nóng. Tối hôm trước Bin Dirra đã kể một câu chuyện nhỏ tươi sáng về việc người Bedu dẫn một đoàn năm trăm lính Ai Cập vào sa mạc nefud, giả bộ là đưa họ đến Damascus. Con suối tiếp theo ở rất gần, họ nói với người Ai Cập. Chỉ đi thêm một đoạn nữa thôi! Cho đến khi những người lính khuỵu xuống, và người Bedu cao chạy xa bay, chỉ nán lại để bẫy vài con ngựa và lạc đà lang thang gần những người chết.

    Arden hy vọng câu chuyện không phải là một ám chỉ. Nhưng anh không dư hơi lo về những nỗi khiếp sợ mơ hồ. Anh có một cái la bàn giấu trong hành lý, và sa mạc nedfud không kéo dài vô tận. Những con lạc đà của họ ở trong tình trạng tốt. Và hiện giờ họ không còn đường lui.

    Anh quan sát túi nước, và cất bước, chìm đắm trong nỗi phiền muộn và cô đơn cùng cực. Những dặm dường tàn bạo trải dài của sa mạc, nơi cơ thể anh tìm thấy những giới hạn của những gì có thể chịu đựng, và tâm hồn anh đến gần với sự bình yên.

    Anh đã khao khát điều đó, một nỗi khao khát khủng khiếp. Thế nhưng ngay cả khi đã ở đây, anh vẫn đang tìm kiếm thứ gì đó mà anh không thể xác định.

    Cả đời anh luôn tìm kiếm. Anh không biết để làm gì: không phải một con ngựa, mặc dù có một nốt vui sắc lạnh điểm vào sự mạo hiểm; không phải để trêu tức cha anh, bởi sự can thiệp đó chỉ khiến anh chuyển sang một sa mạc toàn đá và cát thay vì băng. Đôi khi anh nghĩ mình đã tìm thấy nó vào buổi tối, khi họ dừng chân để nghỉ ngơi và những triền cát đỏ chuyển sang màu tím biếc và màu chàm, ngập trong ánh sáng như mặt biển sóng cồn đóng băng, và anh dời mắt khỏi cảnh sắc huy hoàng đó sang chỗ Selim đang vùi những viên bột mỳ sơ sài vào đống lửa, và bị bỏng tay khi lấy chúng ra khỏi tro nóng.

    Đôi khi anh nghĩ mình tìm thấy nó vào buổi sáng, khi anh thức dậy và đi lên đỉnh một đồi cát, và đắm mình vào vòm trời trong vắt và sự tĩnh lặng. Đôi khi anh nghĩ mình tìm thấy nó trong một cái miệng khô rang và một ngụm nước uống trong bóng tối của con lạc đà nhẫn nại của anh, và có khi là tiếng gầm gừ của chính con vật khi nó phàn nàn vì phải đứng dậy đi tiếp, khi cơ thể anh than phiền rằng đủ lắm rồi, vất vả quá, anh quá nóng và mệt để mà tiếp tục đi. Tuy nhiên con lạc đà đi, nên anh cũng vậy.

    Anh nghĩ anh tìm thấy điều mình đang tìm kiếm, trong những thời khắc xuất hiện rồi biến mất, mà anh không thể nắm giữ. Kể cả trong chuyến đi bộ khó nhọc dài vô tận sau lưng Selim và gã người Shammar, bàn chân anh bỏng rát qua những chiếc tất len là tất cả những gì anh có thể xỏ để đi trong cát – anh cầu nguyện cho nó chấm dứt, và anh muốn nó tiếp tục mãi mãi.

    Họ lầm lũi đi trong tia sáng cuối cùng, và sửa soạn nghỉ ngơi tới lúc trăng lên. Arden nằm trong bầu không khí mát mẻ ân phước, nhìn lên những vì sao. Giọng nói của Bin Dirra dường như khàn khàn, vọng lại từ đâu đó, đặt những câu hỏi mà Selim đáp lại bằng những tiếng lẩm bẩm ngắn gọn.

    Một hồn ma dai dẳng, Selim. Đẹp một cách gần như khó chịu, với thói quen phát bực là ngủ sát vào Arden. Ban đầu nó quấy rầy sự nghỉ ngơi của anh – dù anh biết rằng bất cứ người Bedui nào cũng thù ghét sự cô đơn và sẽ muốn chung lều với anh, anh không được chuẩn bị để chia sẻ cả tấm chăn bên dưới. Đêm này qua đêm khác anh nhích lui từng tấc một, chỉ để thức dậy và thấy Selim đã lại dán vào lưng anh, cho đến khi họ ra tới mép lều. Cuối cùng, anh đã suýt ra lệnh cho thằng bé ngủ bên ngoài, điều sẽ dấy lên nhiều câu hỏi và chú ý, tính chất kỳ cục của cái mâu thuẫn nhỏ ấy làm anh kinh ngạc.

    Anh đã đầu hàng điều không thể tránh khỏi, giảng hòa bản thân với sự gần gũi của Selim bằng cách nghĩ về thằng bé như một thứ gì đó như con chó chẳng hạn, hẳn là nó luôn phải chạm một chân vào chủ của nó. Nhưng với cái chạm nhẹ ấy vào anh trong giấc ngủ, anh lại mơ đến đàn bà với một tần suất khó chịu và bất tiện. Anh đã trông chờ thử thách cực hạn của miền cát đỏ, nơi anh biết sự gian khổ thể chất sẽ chế nhạo anh bằng những ảo ảnh về nước uống và thức ăn. Quả là có vậy, trừ việc giờ đây anh mơ đến nước uống và thức ăn và đàn bà.

    Sáu con lạc đà để hành quân đến Jubbeh, và bốn con đi tiếp đến Hayil, Bin Dirra nói, theo ý thánh Allah. Nước là một vấn đề. Bin Dirra nghĩ họ chỉ vừa đủ dùng, nếu họ cẩn thận, tính cả việc bay hơi và rỏ nước dọc đường. Có những giếng nước ở Sakik, nhưng như thế có nghĩa là mất ba ngày đi theo một con đường nhỏ, và nước ở độ sâu hai trăm feet, đòi hỏi nhiều dây thừng hơn số họ có, trừ phi họ gặp một người Bedu nào đó có thể kéo cho họ. Vào mùa đông, các bộ lạc chăn thả gia súc trong sa mạc, nhưng hai năm qua không có một giọt mưa nào, và hiện giờ mùa hè ụp xuống họ, giết chết mọi thứ nó chạm vào. Hy vọng gặp được người Bedu ở Sakik là đánh cược với điều bất khả. Tốt hơn là cứ đi thẳng đến Hayil, và bổ sung nước ở Jubbeh, nơi có một ngôi làng và những giếng nước được đào bởi những con lạc đà.

    Sáu ngày. Buổi sáng Arden đặt một cái bát dưới túi nước nhỏ giọt để hứng nước, và Bin Dirra cười toe toét khoe hàm răng trắng. Đến cuối ngày có đầy cát và nước bẩn trong bát, thoảng mùi lạc đà. Arden đưa nó cho Selim, cậu ta lắc đầu và đi dỡ đồ trên lưng con lạc đà kia.

    Nhưng Bin Dirra cũng từ chối. “Nó là của ngài, Cha của Mười Phát Súng! Ngài uống đi!”

    Gã người Shammar đứng cười anh khi Arden dốc ngược cái bát. Nước có vị rất ghê, nhưng nó mát và ướt. Khi anh hạ bát xuống, Bin Dirra cười và lùi lại một bước.

    Selim hét lên, cùng lúc với tiếng rú của Bin Dirra. Kẻ du mục nhìn xuống, và trong giây lát nom như Selim đang tấn công hắn dữ dội bằng một cây gậy lạc đà và con dao găm.

    Gã người Shammar loạng choạng lùi về sau, la oai oái, và Arden trông thấy một con rắn đuôi chuông quằn quại dưới chân hắn, cố gắng trườn khỏi những cú đánh của cây gậy lạc đà. Anh buông cái bát và giật khẩu súng lục khỏi yên cương.

    “Yallah!” Anh xô Selim ra. Ở tầm rất gần phát súng của anh cắt đứt đầu con rắn và để lại một cái xác co giật.

    Bin Dirra ngồi phịch xuống cát, thở hổn hển, ôm bàn chân. Arden tháo sợi dây anh dùng để buộc cái bát và quỳ xuống bên cạnh gã Shammar. Anh buộc nó quanh bắp chân người đàn ông phía trên vết cắn. Thật bất bình thường khi anh rạch da ra và cúi xuống hút – đó là vì anh biết nếu gã người Shammar chết, cơ hội để họ thoát khỏi cảnh hiểm nghèo sẽ là con số không.

    Anh nhổ máu ra, và thấy cái bát được đẩy tới trước mặt mình, chứa đầy nước. Anh súc miệng rồi lại cúi xuống, và lặp lại hành động, cầu trời cho mình không có vết xước nào trên đôi môi khô nẻ. Anh làm cho đến khi cái chân sưng vù và Bin Dirra bắt đầu run rẩy và ngất xỉu.

    Arden ngẩng đầu lên. Selim giữ vai gã Shammar, nhìn Arden bằng đôi mắt đầy hoảng sợ. Anh cầm bát lên súc miệng lần nữa và lần nữa, thậm chí không tiết kiệm nước, nhưng vẫn ghê tởm vị máu và nọc độc đắng dường như dính vào lưỡi anh, làm anh ghê người.

    “Mẹ kiếp,” anh lẩm bẩm. “Mẹ kiếp, mẹ kiếp, mẹ kiếp.”

    Anh nói bằng tiếng Anh, nhưng Bin Dirra đâu còn tỉnh để mà chú ý. Selim lặng thinh. Arden đứng dậy. Anh nhìn ra sa mạc, vào những lớp sóng triền miên bất tận của cát.

    Còn năm ngày nữa để tới Jubbeh. Năm ngày, và nếu họ đi lạc dù chỉ một dặm, thì không gì cứu được họ hết.

    ****

    Trước khi mất đi ý thức, Bin Dirra đã lẩm nhẩm rằng họ phải tìm thấy những tảng đá của Ghota. Nhìn thấy những tảng đá ấy là họ có thể định vị được Jubbeh.

    Dưới ánh lửa, Arden đã rạch chiếc túi đựng đồ cạo râu của anh và giở những tấm bản đồ cất trong đó ra, nhưng trong toàn bộ số chúng, như anh vốn biết, sa mạc nefud là một khoảng trắng. Không có vị trí cho của Jubbeh hay những tảng đá của Ghota. Anh đã âm thầm xem la bàn trong lúc đi đường. Anh biết Bin Dirra đã nhằm hướng nam – đông nam, nhưng đường đi của người dẫn đường quá ngoắt ngoéo và thất thường khiến Arden chỉ có thể phỏng đoán vị trí hiện tại của họ.

    Selim ngồi bên cạnh Bin Dirra, giữ hắn khi hắn giãy giụa trong đau đớn, cái chân sưng to và đổi màu khủng khiếp. Cuối cùng, vào nửa khuya, gã người Shammar đã rơi vào trạng thái bất động như chết. Arden không nghĩ hắn còn sống đến sáng mai.

    Anh nhịn uống để tiết kiệm nước, và nhìn bữa tối của họ gồm bánh mỳ và quả chà là với vẻ ghê tởm, không thể ăn vì khát và dư vị lợm giọng trong miệng. Anh nằm xuống cố ngủ, nhưng cứ lắng nghe tiếng thở nặng nhọc của Bin Dirra, mong nó dịu xuống. Bất cứ khi nào Arden nhìn về phía gã Shammar, anh đều thấy Selim ngồi bất động bên cạnh người đàn ông hấp hối.

    Cuối cùng Arden từ bỏ giấc ngủ. Anh đứng dậy, bước ra ngoài bầu trời quang đãng đầy sao bên kia lũ lạc đà.

    Anh đứng nhìn về phía đông nam. Sa mạc cát đỏ nối tiếp nhau, tấm bản đồ nói ngắn gọn, không thêm gì.

    Sao trời, và sa mạc. Nơi những ngôi sao dừng lại, sa mạc đen bắt đầu. Đó là tất cả những gì anh có thể thấy. Anh cảm thấy Selim bước đến sau lưng anh và đứng im lặng.

    “Ta có thể tìm đường,” Arden nói.

    Anh quay lại. Gương mặt thằng bé hiện mờ mờ trong ánh sao. Arden nghĩ nó tràn đầy sự nghi ngờ.

    “Ta đã hứa sẽ đưa cậu đến Anh,” anh nói. “Và ta sẽ giữ lời.”

    Anh nghĩ thằng bé sẽ bảo Inshallah, theo ý Chúa, lời nhận xét thành kính của người Ả Rập về bất cứ mảnh tương lai nào.

    “Tôi biết ngài sẽ làm được,” thằng bé lẳng lặng nói. “Tôi mang nước tới cho ngài.”

    Arden khát tới mức anh có thể làm một hơi hết bát nước. “Giữ lại đi,” anh nói. “Chúng ta phải có nước đến phút cuối cùng.”

    “Đây là nước của tôi,” Selim nói, giơ cái bát ra. “Tôi sẽ uống sữa lạc đà.”

    “Không.”

    “Tốt hơn ngài nên nghe lời tôi trong chuyện nước uống và thức ăn, thưa ngài. Tôi đã chứng kiến những hành động của người Châu Âu. Họ từ chối bản thân cho đến khi họ không chịu nổi, và rồi họ phung phí hơn mức họ cần, vì họ mất khả năng đoán định.”

    Arden do dự. Rồi anh đón lấy cái bát, và thấy nó chỉ còn được vài ngụm. Anh uống, mùi lạc đà ẩm mốc như cao lương mỹ vị trên lưỡi anh, sau đó Selim đưa anh cái bánh mỳ và những quả chà là mà anh đã quá đói và lợm giọng để ăn tối. Bây giờ chúng dường như dễ nuốt hơn.

    ****

    Họ không thể nán lại, mặc dù Bin nằm hôn mê suốt đêm. Trước lúc trời sáng, họ buộc hắn vào con lạc đà lớn nhất, phủ chiếc khăn kuffiyah lên đầu hắn để che nắng, và lên đường ngay khi có đủ ánh sáng để xem la bàn.

    Arden vẽ đường đi trên la bàn, nhưng Selim mới là người chạy tới chạy lui, trinh sát những cồn cát để tìm đường dễ đi nhất, leo lên đỉnh một số cồn cát, bò quanh dưới chân số còn lại, và cuối cùng, khi không còn lựa chọn nào khác, mới dẫn họ đi theo một đường thẳng lên dốc xuống đèo.

    Kết thúc ngày đầu tiên, Arden bắt đầu nghĩ họ sẽ làm tốt, chừng nào họ không bỏ lỡ Jubbeh. Nhưng sang ngày thứ hai, hình dạng và đường nét của cát bắt đầu đòi hỏi họ leo trèo càng lúc càng thường xuyên hơn, bằng không sẽ đi xa khỏi sự tính toán của chiếc la bàn một cách nguy hiểm. Arden phải dắt cả hai con lạc đà, trong khi Selim dò đường – khi những con vật dần đuối sức, rên rỉ và thở khò khè, anh phải vất vả kéo chúng đi tiếp qua cái nóng gay gắt. Anh đến được nơi mà cuối cùng Selim chọn để hạ trại với sự mệt lử đến run người mà anh không muốn thừa nhận.

    Bin Dirra vẫn sống. Chân hắn đen lại và sưng to, mặt hắn lốm đốm. Khi đêm xuống, người Bedui bắt đầu bị ảo giác, gào la dữ dội. Selim ngồi bên hắn, cố gắng cho hắn uống nước. Arden nghỉ ngơi, ngoan ngoãn nuốt khẩu phần thức ăn Selim đưa cho anh. Y như nhai gỗ. Anh mệt tới mức ngủ gật tại chỗ.

    Anh mơ thấy một thiên thần bay đến lơ lửng phía trên anh, cất tiếng hát. Đó là âm thanh đáng yêu nhất anh từng được nghe trong đời, như một bài thánh ca ngọt ngào vút lên trong một nhà thờ lớn. Thỉnh thoảng anh tỉnh giấc trong đêm, má anh tì vào cát ấm, và qua ánh than hồng yếu ớt trông thấy Selim đang nhỏ từng giọt nước vào miệng Bin Dirra.

    Những tiếng rên của gã người Shammar đánh thức Arden lúc bình minh. Lúc ăn sáng bằng những quả chà là mốc và sữa lạc đà Selim đưa, anh móc một lọ cồn thuốc phiện trong túi hành lý ra và nhỏ ba giọt vào nước của người bệnh.

    Selim nhấc một bao đồ lên và chật vật mang nó tới chỗ những con lạc đà, nhưng Arden đỡ gánh nặng khỏi tay thằng bé. “Cậu có ngủ tí nào không thế?” anh hỏi cộc cằn.

    “Có chứ,” thằng bé đáp. “Tôi đã quen hầu hạ bà chủ suốt đêm rồi.”

    Ở sa mạc Selim cứ như ở nhà, uống sữa lạc đà và đi chân trần trong cát bỏng, khiến Arden gần như quên mất thằng bé chỉ là một người Bedouin chính cống. Lady Hester nổi tiếng là ngồi suốt nhiều giờ đồng hồ, ra những mệnh lệnh cấm cảu cho gia nhân. Arden nghĩ đến những đêm anh ngồi cùng với bà, uống trà và ăn những món bà gọi mang đến. Đột nhiên anh tự hỏi liệu Selim có là một trong những người hầu tất bật, khúm núm đã cúi đầu trước anh ngày đó không.

    Ý nghĩ ấy làm anh tức giận. Anh quyết định rằng thằng bé không nên phải gồng gánh quá nhiều công việc, và lệnh cho nó ngồi xuống. Arden tự hoàn thành việc chất đồ. Selim ngoan ngoãn ngồi yên, uống sữa. Một nhận thức khác đánh vào Arden: anh chưa hề nhìn thấy Selim ăn bánh mỳ hoặc chà là từ hai hôm nay.

    Thằng bé đang sống bằng sữa lạc đà. Nó hoàn toàn bổ dưỡng; trong một năm đói kém người Bedu sống qua cả mùa hè nhờ vào sản lượng sữa của những con lạc đà của họ, nhưng trong biển cát khắc nghiệt này, không có cỏ ăn, một con lạc đà cái chỉ có thể cho nửa lít tới một lít sữa mỗi ngày, và Arden đã uống hơn nửa cho bữa sáng.

    “Chúa nguyền rủa cậu,” anh quát Selim, “nếu cậu gầy thêm chỉ một chút, ta sẽ để cho gió cuốn bay bộ xương của cậu đó.”

    Thằng bé nhìn anh với vẻ kinh ngạc. “Tôi xin lỗi, el-Muhafeh,” nó nói, như thể không biết phải xin lỗi vì điều gì.

    “Lỏi con chết tiệt,” Arden lầm bầm với sự vô lý quá đáng. Anh ý thức rõ rằng không có Selim anh ắt chẳng còn hy vọng sống. Anh giật mạnh cái nút thắt bằng dây da ở túi đồ trên lưng lạc đà. Tâm trạng cáu kỉnh vô lối đeo lấy anh suốt cả buổi sáng giày vò, nhưng đến trưa mọi cảm xúc bị đốt cháy, chẳng để lại gì ngoài tiếng tim đập trong tai anh khi anh chật vật kéo lũ lạc đà leo lên cồn cát ngập đến đầu gối. Cái tất len của anh đã bị thủng một lỗ, bước một bước là gót chân anh lại nhói đau. Khi thuốc phiện hết tác dụng, Bin Dirra bắt đầu rên rỉ không ngớt, thì thào những lời cầu nguyện sai lạc.

    Cát đổ xuống ào ạt, tràn quanh mắt chân Arden, giam giữ anh. Anh phải đẩy con lạc đà cái, nó đang gầm gừ không chịu đi tiếp, trong lúc Selim kéo dây thừng buộc đầu nó. Lúc lên được tới đỉnh, con lạc đà đứng run rẩy vì kiệt sức còn Arden khuỵu xuống, lần tìm la bàn.

    Phía trước, anh không thể trông thấy gì ngoài cát đỏ, những đợt sóng triền miên trong một không gian vô tận. Selim đứng bên cạnh anh. Arden cố đọc, nhưng mặt la bàn dập dềnh trước mắt anh. Tai anh ù đặc. Anh dựa vào Selim. Chỉ một khắc thôi, anh nghĩ, chỉ nghỉ một chút thôi. Thằng bé đứng nhẫn nại, đỡ lấy anh. Arden có thể cảm nhận được sự nâng lên hạ xuống gấp gáp trong nhịp thở của Selim.

    Anh rướn người thẳng lên và tiếp tục đọc. “Kia - ” anh nói khàn khàn, chỉ vào một đường cong lớn tiếp theo của cát trong một dãy trùng điệp. “Rặng cây đó, cậu có thấy không?”

    Selim nhìn chăm chú về hướng đông nam. “Thưa ngài,” nó đáp, giọng hơi cao lên. “Còn một cái nữa trên cồn cát sau đó.”

    Arden không hiểu ý nó lắm, nhưng anh nghe được một nốt phấn khích và đứng bật dậy, mỏm cát đổ rào rào dưới chân anh.

    “Đó là một mốc dấu! Một cái nữa kìa!” Selim kêu lên. “Ngài thấy chúng không? Chúng ta đã tìm thấy con đường!”

    Arden phóng tầm mắt ra xa. Những đụn cát nối tiếp trùng trùng. Nhưng anh có thể thấy được một lùm cây nhỏ, và một lùm nữa phía sau, với những đợt sóng khí nóng dâng lên quanh chúng.

    Nếu nó là một con đường, anh lơ mơ nghĩ, nó chỉ có trong trí tưởng tượng của một con quỷ nào đấy vừa thoát khỏi địa ngục.

    Đêm đó anh lại mơ thấy thiên thần. Anh muốn cầu khẩn xin ít nước, và ráng hết sức nói thành lời đến độ tỉnh giấc.

    Thoạt tiên anh nghĩ mình chưa ngủ, bởi vì thiên thần đã tan biến vào những tri giác về thực tại, cái chăn trải dưới người anh, bụng anh trống rỗng và cổ họng khô rang, thế nhưng anh vẫn nghe thấy tiếng hát.

    Nó siêu phàm, đẹp và thực đến mức gần như làm anh hoảng sợ. Một bài thánh ca của Anh – anh thậm chí biết rõ lời.

    Anh ngồi phắt dậy, theo bản năng với tay đến khẩu súng.

    Tiếng hát ngừng bặt. Giọng Selim thất thần: “Chuyện gì thế, thưa ngài?”

    Arden trút tiếng thở phào. Anh chống tay ngả người ra sau. “Lạy Chúa – là cậu hát đấy à?”

    Im lặng một lát. Anh có thể thấy bóng thằng bé, ngồi như mọi khi bên cạnh Bin Dirra.

    “Vâng, thưa ngài,” Selim đáp lí nhí.

    Anh liếm môi. Âm hưởng siêu thực của bài hát dường như quấn lấy anh, khiến anh khó mở miệng nói.

    “Bin Dirra sẽ không nhớ gì đâu,” thằng bé bảo. “Nó làm anh ta yên lặng.”

    Arden nằm xuống, nhìn lên trời.

    “Ngài không thích à?” Selim hỏi.

    Anh nhìn lên cái giếng khổng lồ đầy sao dường như treo rất gần và lấp lánh sáng khiến anh có thể rơi ngược vào trong đó, trôi không trọng lượng vào một tấm gương đen với ánh sáng phản chiếu từ mọi hướng.

    “Hay lắm,” anh thì thầm, giọng anh rào rạo vì khát và buồn ngủ. “Hát tiếp đi.”

    Thằng bé không nói gì. Và rồi nó bắt đầu hát trở lại, giọng nhỏ và rõ trong sự im lặng chập chờn.

    ****

    Arden nghĩ những con lạc đà sắp chết. Chúng run rẩy và chần chừ, mỗi lần con lạc đà cái nằm xuống, anh lại sợ nó sẽ không đứng lên nữa. Anh phải dỡ đồ khỏi lưng nó, trong khi Selim dỗ dành con lạc đà đực đằng trước với Bin Dirra nằm lả trên yên.

    Arden mang nước, chỉ còn lại một gallon. Năm ngày đã trôi qua; mặt trời buổi chiều đang nung đốt, thiêu rụi ngày thứ tám của họ, và anh chắc chắn họ đã đi qua Jubbeh và giờ đang nhích từng phân khúc khuỷu vào địa ngục. Anh nhận thấy mình chẳng quan tâm lắm.

    Họ đã không nhìn thấy những lùm cây đánh dấu hai đêm vừa qua, bằng việc cố gắng đi dưới ánh trăng. Anh kéo cái dây buộc con lạc đà khốn khổ, hối thúc nó đứng lên. Anh ngã xuống khi nó đột ngột nhỏm dậy. Anh nhìn chằm chằm vào cát bỏng bên dưới, ngạc nhiên một cách mơ hồ vì nó còn đứng được, và chắc chắn anh không thể. Cái nóng làm cháy sém hai lòng bàn tay anh và nướng chín ngực anh. Rồi anh nhấc túi nước và hành lý lên vai. Anh đứng lên, loạng choạng và lẩy bẩy.

    Khoảng cách giữa anh và Selim dường như là một chặng đường dài, một cú kéo giãn của mặt đất. Anh không ngước nhìn lên, mà cứ đặt chân này lên trước chân kia. Selim luôn luôn ở phía trước anh, di chuyển, một thiên thần khắc nghiệt của sự kiệt sức, và anh phải đi theo.

    “Đi nào, lạc đà,” anh nói trệu trạo bằng tiếng Anh, đi tới chỗ yêu và ghét con vật có cặp mắt hiền dịu này. “Đi nào, đi nào, cô gái tội nghiệp. Không còn xa nữa đâu. Không xa đâu, cô gái xinh đẹp của ta.”

    Nó rền rĩ và do dự, tiếng nói của linh hồn anh. Cùng với nhau họ chệnh choạng tiến về phía trước, cho đến khi anh bắt kịp Selim, người đã dừng lại.

    Arden nghĩ trong cơn mụ mị rằng còn quá sớm để dừng chân. Anh chớp mắt nhìn thằng bé.

    Selim đang khóc, đầu lắc lắc. Arden phóng mắt nhìn vào một cồn cát dựng lên phía trên như một bức tường khổng lồ chạy dài hút tầm mắt anh về phía đông và nam.

    Chúa tôi, anh nghĩ. Chúng ta kết thúc rồi.

    Thằng bé khẽ nấc lên. Arden nói, “Đừng khóc, cậu đang lãng phí nước.” Anh thả hết những túi và bao xuống dưới chân và dừng lại, nhấc bổng Selim lên lưng con lạc đà cái. Thằng bé nhẹ hơn những túi nước, khó mà là gánh nặng đối với con vật. “Dắt con kia đi,” anh nói, đưa dây buộc con lạc đà đực lên.

    Arden uống một hơi dài, làm cho túi nước còn nhẹ hơn, và lẳng hành lý lên vai.

    Từng bước một, anh leo lên con dốc. Anh đã học được địa hình nào nên bước ngắn, và cái gì sẽ sụt xuống dưới chân, cứ ba bước lại bị thụt lùi hai bước. Nhưng anh đang hấp hối. Lên được lưng chừng dốc, không khí khò khè trong cổ họng anh, và cảm giác chóng mặt kéo anh xuống một cái giếng xoáy lộn. Máu anh sắp nổ tung trong đầu. Anh nghĩ mình nghe thấy những tiếng chuông nhà thờ, và có người đang gọi anh.

    “Dừng lại,” Selim đang nói. “Dừng lại, dừng lại!” Bằng cách nào đó thằng bé xuất hiện trước mặt anh, đã xuống khỏi lưng lạc đà, loạng choạng trong cát. “Bin Dirra - ” nó thở hổn hển. “Jubbeh!”

    Arden giữ cho mình đứng thẳng bằng một nỗ lực đau đớn. Anh ngước nhìn gã người Shammar.

    “Ngài đang đi đâu vậy?” Hắn thều thào. Arden gần như không nghe được gì ngoài tiếng tim anh đập. Bin Dirra nhấc tay, yếu ớt chỉ dọc theo dải cát dài. “Đó. Tôi có thể trông thấy những tảng đá của Ghota. Sao ngài lại leo lên đây?”
     
    NHTB, Angry Bird, dakedo and 10 others like this.
  12. Chuotchit84

    Chuotchit84 Mầm non

    Bạn dịch rất rất hay! Mong chờ chương tiếp theo!
     
    huyenhanoi and song vang like this.
  13. Levananh

    Levananh Lớp 1

    Chào Sóng Vàng. Mình rất vui khi được gặp lại bạn. Mong chờ những phần dịch tiếp theo của bạn. Thank yuuuo!
     
    song vang thích bài này.
  14. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 6​


    Selim ngồi ủ rũ trong ánh sáng từ khung cửa hắt vào, tết mái tóc dài quá vai. Bên ngoài, những con phố của Hayil tấp nập và yên ắng, với sự yên ắng của những bức tường quét vôi trắng lấm bùn phía đông nơi chưa từng có bánh xe nào lăn qua. Đến những tiếng nói cũng dường như xa xăm, bị nuốt chửng bởi không khí sa mạc, trừ vài tiếng cãi cọ nổ ra gần đó và tấn công tai người bằng một tiếng ồn ào đột ngột như tiếng lừa be be.

    Thằng bé bị hành hạ đủ kiểu, vì Arden đã bắt nó bôi phấn kohl quanh mắt, đưa cho nó một cái áo choàng mới và một chiếc khăn kuffiyah trắng tinh viền vàng, và chuỗi ngọc lam sáng để bện lẫn vào hai bím tóc của nó. Một sự tô điểm đầy nam tính trong sa mạc. Arden nghĩ anh đã tạo ra một thanh niên vô cùng xinh đẹp, cho dù phần còn lại của đầu nó là một mớ bù xù bụi bặm vô vọng bên dưới chiếc khăn kuffiyah.

    “Ay billah, cậu sẽ trở thành đối tượng của hậu cung,” anh nói, quỳ xuống tự tay hoàn thành khâu cuối cùng: một viên ngọc trai lớn đung đưa bên tai Selim.

    Thằng bé cau có. “Tôi không thích làm đối tượng của hậu cung.”

    “Cưỡng lại chỉ khiến bọn họ càng thêm mê mệt, ta e là thế. Phụ nữ là những sinh vật ngoan cố.”

    Zenia liếc anh ta oán giận khi anh ta cúi xuống cô. Trong sa mạc, mặt trời đã nung anh ta thành nâu sẫm.

    “Và tôi cho là ngài rất am hiểu về phụ nữ, thưa ngài?”

    “Hiểu quá ấy chứ. Phần lớn bọn họ tẻ nhạt đến ngớ ngẩn.” Lord Winter hất tấm phủ của chiếc khăn kuffiyah ra sau vai cô. Bàn tay anh ta sượt qua cổ cô chẳng hề khách sáo khi anh ta tách một lọn tóc của cô bằng những ngón tay. “Nhưng ngọt ngào như mật ong.

    “Họ có thể ngọt ngào thế nào, nếu như họ quá tẻ nhạt?” cô ấm ức hỏi.

    “À, ta đảm bảo với cậu nó không phải là mớ chuyện phiếm khó chịu của họ. Nhưng ơn Chúa là họ không thể nói suốt cả ngày.” Mặt sau những ngón tay của anh ta áp vào da cô khi anh ta buộc bông hoa tai. “Cơ thể bọn họ chính là mật ong, sói con ạ.”

    Zenia nhìn xuống lòng, hai má nóng bừng. Từ lúc ở sa mạc nefud, cô đã có những cảm xúc mới mẻ và nhức nhối về Lord Winter. Cô không còn sợ anh ta nữa. Cô nghĩ về anh ta mọi thời khắc, lo lắng và khổ sở và khao khát.

    Anh ta cười và giật nhẹ tóc cô khi ngồi xổm xuống. “Cậu sẽ khám phá ra, sói con. Khi thời điểm chín muồi.”

    Cô cảm thấy nghẹt thở và bực mình, vì cô thích cái chạm của hai bàn tay anh ta lên cô. Bởi vì nếu anh ta biết sự thật anh ta sẽ khinh miệt cô vì giới tính của cô. Bởi vì cô không có một cơ thể ngọt như mật ong. Nếu cô có, ắt hẳn anh ta đã nhận thấy rồi. Nhưng không có người đàn ông nào nhận thấy cả. Và tất nhiên cô không muốn Lord Winter nhận thấy. Toàn bộ hạnh phúc của cô phụ thuộc vào việc anh ta không nhận thấy. Vậy nhưng cô lại không vui vì điều đó.

    “Phụ nữ Ả Rập đều ngốc nghếch,” cô nói. “Tôi nghĩ phụ nữ Anh thú vị hơn.”

    “Xin cậu thứ lỗi,” anh ta lẩm bẩm, nhướng đôi mày đen. “Ta không hề biết cậu là một tay sành sỏi.”

    “Phụ nữ Anh đẹp hơn. Da họ mượt như lụa.”

    “Mọi phụ nữ đều có làn da như lụa nếu cậu nhìn vào đúng chỗ, sói con của ta.”

    “Phụ nữ Anh đi giày,” Zenia nói, co chân lại bên dưới mình. “Hai bàn chân họ mềm mại.”

    “Điều đó thì đúng,” anh ta trả lời, thích thú.

    “Họ mặc những bộ váy đẹp hơn.”

    “Dù sao cũng để lộ nhiều hơn.” Miệng anh ta cong lên trong nụ cười chế nhạo. “Ít nhất ta có thể nhìn thấy hàng họ của họ.”

    “Họ không ngốc nghếch, như những bà vợ của người Bedouin.”

    “E rằng ta phải bất đồng ý kiến với cậu về điểm đó,” anh ta nói. “Phụ nữ nước Anh cực kỳ ngu ngốc.”

    Đáng lẽ cô nên giữ im lặng, nhưng vẻ khinh thị thoải mái của anh ta kích thích cô buột miệng, “Ngài đâu có nghĩ bà chủ tôi ngu ngốc.”

    “À, bà sư tử đó. Một con người hiếm có. Ta đã từng nghĩ ta có thể - ” Anh ta ngừng lời. Gương mặt đanh lại thành bình thản. Với vẻ ác ý lạnh lùng, anh ta nói, “”Hồi ta còn rất trẻ. Ta sợ là phụ nữ biến tất cả chúng ta thành lũ hề.”

    Zenia thận trọng nhìn anh ta. “Tôi không tin có người phụ nữ nào có thể biến el-Muhafehthành thằng hề. Làm sao một kẻ tẻ nhạt ngu ngốc có thể làm nổi chuyện đó.”

    “Ồ, dễ như bỡn!” anh ta nói, giọng chợt gằn lên tàn nhẫn. “Lừa gạt không đòi hỏi phải quá thông minh – chỉ cần một vẻ đoan trang thích hợp.”

    Cô liếm môi. “Lừa gạt là rất xấu,” cô nói. “Nhưng – có lẽ - nếu một người phụ nữ nói dối – cô ấy có lí do buộc phải làm thế.”

    “Tất nhiên rồi.” Anh ta mỉm cười, nhưng mắt lấp lóe một tia ác ý. “Những lí do thuyết phục nhất. Cô ta quá sợ hãi về những gì có thể xảy ra nếu cô ta nói thật.” Anh ta nhún vai. “Cô ta đã nhận định sai, khi nó xảy ra. Đáng lẽ cô ta nên sợ ta mới đúng.”

    “Ngài đã đánh cô ấy sao?” Zenia yếu ớt hỏi.

    Anh ta cất tiếng cười lạnh. “Ta đã giết cô ta, sói con ạ.”

    Zenia quay mặt đi, nhìn nghiêng anh ta qua tấm khăn kuffiyah của mình. Anh ta dường như không có biểu cảm, không một dấu vết cảm xúc nào trong đôi mắt xanh.

    Anh ta mỉm cười, hàm răng sít lại. “Tại sao cậu lại cho rằng một con quỷ đã lôi kéo ta tới chốn hoang vu này?”

    Cô bận bịu với những đường viền của chiếc khăn kuffiyah, gấp vào rồi lại mở ra, kinh hoàng và tuyệt vọng không dám thú thực. “Tuy nhiên,” cô nói, ra vẻ thờ ơ, “Tôi nghĩ phụ nữ Anh duyên dáng hơn.”

    “Wellah, cậu thích nghĩ sao cũng được. Chuyện đó chẳng đáng để tranh luận.” Arden đứng lên, ngẫm thấy rằng ở một vùng đất nơi một người đàn ông có quyền giết em gái mình chỉ vì có một cuộc nói chuyện bất nhã về cô ta, thì anh không nên ngạc nhiên khi thằng bé chẳng tỏ vẻ gì là hoảng sợ. Liếc xuống, anh thấy Selim bắt đầu đeo khăn lên che mặt.

    “Không,” Arden ra lệnh, túm lấy cổ tay nó, “Ta không muốn cậu che giấu diện mạo mình.”

    “Thưa ngài,” thằng bé nói, “Tôi phải làm thế!”

    “Vớ vẩn. Tại sao? Người ta sẽ nghĩ có vấn đề gì đó với mặt mũi cậu?”

    “Xin ngài hãy nghe tôi! Tôi không muốn kết hôn!”

    Arden búng viên ngọc sau tai thằng bé. “Có phải chú mày đẹp trai đến mức chỉ phô gương mặt ra là sẽ bị một cô vợ tóm sống không?”

    “Nhưng tôi dám chắc tôi sẽ không muốn bất cứ cô con gái của gia đình nào ở đây - ”

    “Chúa cứu vớt cậu, Selim – nếu cậu có ý nghĩ ấm ớ nào đó về một cô dâu Anh, hãy tin ta là việc đó không thể được! Người ta sẽ khép cậu vào tội xúc phạm ở Anh.”

    Thằng bé co rúm người như bị đánh. Trong giây lát môi nó run lên, đôi mắt nó to tròn và đen sẫm và đầy nữ tính bởi phấn kohl. “Thật ư?” nó thì thào.

    “Cứ bình tĩnh, sói con,” Arden nói cộc lốc. “Và hãy biết rằng cậu đáng giá bằng một ngàn người phụ nữ Anh ngu ngốc.”

    Selim ném cho anh một ánh mắt khổ sở.

    “Đúng đấy,” Arden nói. Anh gặp khó khăn khi thốt ra. “Mười ngàn.”

    Thằng bé cắn môi. Nó ngước nhìn lên với một vẻ mặt khiến Arden cảm thấy xấu hổ.

    “Đi thôi nào,” anh giục.

    “Nhưng tại sao chúng ta phải đến quán cà phê và - ?”

    “Hsst! Bởi vì ta muốn thế.”

    Thế nhưng Selim vẫn nắm lấy những ngón tay của Arden khẩn khoản. “Thưa ngài, ngài không hiểu đâu – tôi không thể - ”

    “Selim!” Arden vỗ mạnh lên vai thằng bé. “Đàn ông lên đi.”

    Selim lập tức cụp mắt xuống, giấu mặt sau màn tóc rủ xuống.

    “Và đừng có khóc, mẹ kiếp,” Arden ra lệnh bằng tiếng Anh. “Không thì ta sẽ ném cậu xuống cái giếng gần nhất, và cậu sẽ không bao giờ được cắn ngập răng vào một cái bánh pudding mận.”

    Đây là một trong những ao ước cháy bỏng của cu cậu, lời đe dọa có tác dụng. Với tất cả lòng kiêu hãnh của sự quyết tâm bị bắt ép phải chấp hành mệnh lệnh, Selim đứng lên, quay người đi ra cửa.

    Một khi thằng bé đã đầu hàng, nó không thu mình nữa. Arden đã trở nên quý trọng con sói nhỏ của anh, đầy những tiên đoán ác nghiệt về thảm họa – vô cùng can đảm khiến Arden chưa tìm được lời nào xứng đáng để nói về nó. Anh giữ một niềm kiêu hãnh độc đoán về cậu thiếu niên đang rảo bước qua khu chợ ồn ào của Hayil bên cạnh anh, chuyển động với những sải chân thoải mái, duyên dáng, chiếc khăn kuffiyah viền vàng dập dờn theo mỗi bước đi, như thể họ đang đi giữa sa mạc bao la thay vì trong bóng râm của những bức tường lâu đài dày hơn hai mét.

    Người trong bộ lạc Shammar của Bin Dirra đợi họ ở con đường rộng trước chợ, một sự hộ tống long trọng đến quán cà phê. Với việc đưa Bin Dirra còn sống ra khỏi vùng cát đỏ, sự hiếu khách của gia đình hắn và những căn lều của người Shammar đã đổ dồn vào Haj Hasan và cậu em trai của ngài mấy tuần qua. Ban đầu, họ rất cần được nghỉ ngơi và hồi phục, nhưng trước sự tiếp đãi nồng nhiệt của người Bedu và vòng chu du không thay đổi ngày này qua ngày khác khiến Arden bắt đầu mơ hồ không biết mình đã ở trong sa mạc bao lâu. Khi anh nhận ra mình đang trôi vào nhịp sống chậm rãi mơ màng của xứ cát, anh quyết định phải tiếp tục cuộc hành trình. Khi anh rời khỏi những căn lều của người Shammar, mười một người đàn ông đã lặng lẽ đứng lên đi cùng anh.

    Một hành động lịch thiệp, vì chân của Bin Dirra vẫn còn đen sẫm và sưng vù để hắn đích thân đi đến Hayil, nhưng có một tin đồn lan truyền. Nó chỉ là lời thì thầm, nhưng người Shammar đã lang thang trong sa mạc, dừng chân ở mọi nơi cắm trại của người Bedu, không ngừng hỏi thăm tin tức. Hoàng thân Rashid đã không kêu gọi ai tới Hayil cả, tuy nhiên các tộc trưởng đang tìm đủ lí do để tụ họp ở đó, cùng với người của họ.

    Nghe nói nữ hoàng của Englezy đã đến trong bí mật, tìm một người chồng và một hoàng tử, và kích động một cuộc nổi dậy chống lại sự thống trị của người Ai Cập trong sa mạc.

    Selim đã ném cho Arden một ánh mắt đầy báng bổ khi họ nghe được tin đồn khiến anh khó khăn lắm mới giữ được vẻ mặt nghiêm trang. Trên thực tế, anh mừng thầm về sự xôn xao mà những lời lẽ xuyên tạc của anh có vẻ đã gây ra, dựa vào nó để làm lu mờ bất cứ sự tọc mạch thái quá nào ở Hayil về Haj Hasan người Moor Mắt Xanh. Nếu sa mạc bị nhiễu loạn, càng dễ dàng đánh cắp một con ngựa cái thuần chủng.

    Ở Hayil này hoàng thân Abdullah ibn Rashid cai trị, trên danh nghĩa là cống nạp và khuất phục trước vua Saudis của ar-Riyadh, nhưng quyền lực ở trên một cán cân mong manh. Những ngôi nhà của el-Rashid và el-Saud dòm chừng nhau qua mười cuộc hành quân của lạc đà tới ar-Ryadh ở phương nam, và cả hai cùng nung nấu dưới ách thống trị Ai Cập với ác tâm gần như không che giấu. Mặc dù có lính Ai Cập trên đường phố, một đơn vị đồn trú sống trong sự canh chừng khó chịu với kẻ thù bị mình đánh bại, người Bedouin ở đây vẫn coi Rashid là thủ lĩnh của trái tim và cuộc sống của họ.

    Dù sao thì cũng trong phạm vi mà người Bedu từng tôn bất cứ người nào làm thủ lĩnh của mình.

    Đội hình tộc Shammar của Arden hiên ngang đi trước anh vào quán cà phê của hoàng thân, không dừng lại trước sự thay đổi đột ngột từ ánh sáng trắng gắt sang tối sầm của hàng trăm giọng nói rì rầm và tiếng reo như chuông của những cối giã cà phê. Ánh sáng rực rỡ từ cửa chiếu vào một cây cột lớn trong một dãy cột nối nhau hút vào bóng tối. Những tia sáng rọi xuống từ những cửa sổ bé xíu trên cao. Người Shammar đi thẳng tới một góc nơi những người nô lệ trông nom vô số ấm cà phê lớn trên bếp lửa, nhập bọn với những vị khách ngồi trên những tấm thảm hoặc dựa vào tường. “Salaam aleyk!” được vui vẻ đáp lại bằng, “Aleyk – salaam!” khi họ chào hỏi nhau.

    “Cầu Chúa, anh khỏe chứ?” ai đó hỏi theo phép xã giao.

    “Nhờ ơn Chúa, tôi khỏe!” là câu trả lời hợp thức – luôn là vậy, bất kể tất cả lạc đà của anh ta có bị cướp sạch và vợ lớn vợ nhỏ của anh ta bị lột quần áo và đàn cừu của anh ta bị lấy cắp.

    “Kia là người anh em của tôi,” một người Shammar nói, hất đầu về phía Arden, “Haj Hasan, Cha của Mười Phát Súng.”

    Arden tháo súng trường khỏi vai khi ngồi xuống. Anh đặt tay lên trụ quay bọc da của khẩu súng. “Đức Chúa vĩ đại!” anh nói.

    Danh tiếng của anh đã đi trước anh. “Con quỷ buộc ở đó đấy à?” Mọi người vươn cổ về phía khẩu súng với sự trầm trồ thận trọng.

    “Nói về nó là nguy hiểm lắm,” anh nói. “Wellah, chúng ta hãy giới thiệu đã. Đây là Selim el-Nasr, con trai của cha tôi. Tôi đã thề bằng bộ râu của mình là sẽ tìm một cô dâu cho cậu ta trong những cô gái đẹp nhất của Nejd.”

    “Không!” Selim kêu lên. “Lạy thánh Allah, tôi sẽ không lấy một cô dâu.”

    Im lặng sửng sốt bao trùm. Arden liếc sang nó. Thằng bé nhìn trả lại thách thức, vẻ lo lắng cuống cuồng trong mắt nó và sắc đỏ trên má nó khiến Arden một lần nữa bàng hoàng trước vẻ đẹp yêu tinh phong trần của nó, sự hoàn hảo tinh khiết, gợi cảm, thanh tú của gương mặt nó bên dưới lớp phấn kohl Bedouin và những phụ kiện tô điểm rực rỡ.

    Một cảm giác kỳ lạ choán lấy Arden; một cảm giác xa lạ sâu hơn bất cứ cảm giác nào anh từng có, kể cả trong những chốn hoang dã nhất hay phòng vũ hội tẻ nhạt nhất, một sự tách biệt với không gian xung quanh anh ngoại trừ thằng bé này, thằng nhóc hoang dại với đôi mắt đánh phấn kohl, đang nhìn lên anh cầu khẩn, và hơn thế. Với một sự tha thiết tuyệt vọng, không lời.

    Và đột nhiên Arden nghĩ, Ôi Chúa ơi.

    Những cảm xúc của thằng bé đang sáng bừng trong mắt nó. Arden quay mặt đi trong cơn sốc. Nhưng đây không phải là lúc đánh mất lý trí. Không đáp lại, không một tiếng khiển trách hay bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ sự bột phát của Selim đã làm anh khó chịu, Arden đón lấy cái tách nhỏ xíu chứa cà phê nâu ánh xanh từ một người nô lệ và nhấp một ngụm. “Có tin tức gì mới không?” anh ôn tồn hỏi.

    Như thể không hề có việc thằng bé chen ngang, những người Ả Rập lại tiếp tục nói chuyện. Selim cụp mắt, miệng nhệch xuống thành một đường cong buồn rầu. Thằng bé cúi gục đầu thấp đến mức chỉ thấy mỗi chỏm tóc của nó. Viên ngọc trai và chuỗi ngọc lam đung đưa vui vẻ.

    Sự phản đối nhất thời của nó bị làm ngơ hoàn toàn. Khi Arden ngồi bên cạnh thưởng thức cà phê, mọi người nhao nhao nói về những cô dâu và những lời đồn. Ibn-Aruks có bốn cô con gái đến tuổi kết hôn, cô trước đẹp hơn cô sau. Hoàng thân Rashid định đoàn kết các bộ lạc và nổi dậy chống lại người Ai Cập. Không, Rashid định tấn công người Saudis trong lúc họ suy yếu do thất bại của cuộc nổi loạn năm ngoái. Cô con gái út của ibn Shalaan xinh hơn và gia thế tốt hơn các cô gái nhà Aruk, nhưng ông ta cưng chiều con lắm và sẽ không cho cô ta lấy chồng cho đến khi cô mười ba tuổi, nhưng chắc hẳn một cái giá hợp lý cho một cô dâu có thể khiến ông ta nghĩ lại. Rashid sẽ không dám tấn công ar-Riyadh, khi mà người Ai Cập còn đặt khẩu súng thần công lớn của họ ở đó, cùng những khẩu súng của người Franjy không theo đạo.

    “Nhưng bây giờ nữ hoàng Englezy đã đến,” một người Bedouin mặt sẹo nói đầy tự tin.

    “Ý Chúa.”

    “Ay, wellah!” Tất cả cùng đồng thanh. ‘Nữ hoàng!”

    “Nếu người Saudi không đến trước, lạy thánh Allah,” một người nói hung hãn. “Ngài Harb bảo thậm chí bây giờ họ còn cưỡi ngựa cùng quân lính Ai Cập ở đây, để ngăn chặn bất cứ kế hoạch nào mà Rashid mưu tính.”

    “Vậy thì Chúa sẽ để nữ hoàng mang theo quân đội của người.” Một người râu ria xồm xoàm nhìn người Bedui với vẻ đe dọa. “Quân đội của Englezy!” anh ta nói cung kính.

    “Chúng ta cần gì đội quân của những kẻ vô đạo?” Một người khác kêu to. “Billah, chúng ta chẳng phải là người Bedu sao?”

    “Chị vợ tôi lấy một người chú của hoàng thân,” một thanh niên du mục đẹp trai sốt sắng giới thiệu. “Em họ chị ấy nghe bảo là một cô gái đáng yêu, và sẵn sàng làm đám cưới.”

    “Các bộ lạc không hòa thuận. Bộ lạc Muteyr sẽ không ở lại chiến đấu với người Saudis,” ai đó nhận xét. “Họ đã thu lều trước cả khi nữ hoàng đến.”

    “Aye, Rashid và người Muteyr ghét nhau lắm. Họ sẽ không chiến đấu vì ông ấy đâu.”

    “Nhưng họ thù người Ai Cập.”

    “Nếu nữ hoàng đến, ơn Chúa, họ sẽ chiến đấu vì bà ấy!”

    “Anh nghĩ Rashid có cưới bà ấy không?”

    “Không, bà ấy là người Thiên Chúa Giáo!”

    “Không phải!” Tiếng la ó phản đối kịch liệt. “Bà ấy không phải người Thiên Chúa Giáo, không thì bà ấy sẽ chẳng đến giúp người Hồi Giáo!”

    Một ông lão già lụ khụ lò dò đi đến và ngồi im lặng hút thuốc cạnh bếp lửa. Giữa một khoảng lặng, ông ta vươn tay sờ hạt ngọc trai của Selim. “Ay billah,” ông ta lẩm bẩm. “Nếu hoàng tử trẻ tuổi không quan tâm đến những thiếu nữ của Hayil, lão có một người em họ ở Mogug có một cô con gái…nghe Chúa bảo là con bé có giá bằng một chuỗi ngọc trai!”

    Arden hạ tách cà phê xuống và đón ánh mắt ông già. Những tiếng chế nhạo nổi lên xung quanh họ. “Mogug!” những người khác la lối. “Chẳng có cô gái nào như thế ở nơi nghèo xác ấy cả!”

    Ông lão làm một cử chỉ khẩn nài và đứng dậy, rút lui. “Lạy Đức Allah phù hộ! Vậy thì có lẽ là ở Anezyah.”

    Arden mỉm cười với lão. “Khi nào bố nhớ ra, hãy đến nói với tôi ngay đấy.”

    Lão già chạm tay vào trán và thong thả bỏ đi. Arden nhận thêm cà phê, đóng vai một vị khách lịch sự, nhưng khi anh ngồi với những người khác trên sàn nhà trải thảm, tâm trí anh chu du ở nơi khác.

    Anh cảm thấy khá chắc chắn là lão già sẽ đến thăm anh – đó là mục đích anh tết chuỗi ngọc, dấu hiệu được chỉ định trong bức thư đã bị chặn lại gửi cho Abbas Pasha, vào sau tai Selim, và nhẫn tâm bắt ép chàng chú rể miễn cưỡng phải thể hiện. Nhưng nó bộc lộ một điều khác nằm ngoài tính toán của anh, khiến cho anh nhìn trừng trừng vào người nô lệ đang định thêm cà phê cho anh dữ tợn đến nỗi người này thối lui vì sợ Mắt Quỷ của người Mogreby.

    Arden tức giận với chính mình. Anh chưa bao giờ xem bản thân là một kẻ cố chấp, tất nhiên không phải là một người tốt, nhưng anh thấy hoàn toàn bối rối trước nhận thức mới này. Cùng lúc đó anh nghĩ mình đúng là thằng đần khi không tính đến nó – khí chất thanh nhã của thằng bé đã hiển hiện ngay từ đầu, nhiều người Ottoman quan sát những chuyện như thế với vẻ khoái trá, thậm chí coi trọng tình yêu giữa một người đàn ông và một cậu bé hơn là giữa đàn ông và đàn bà. Arden cố gắng nhìn nhận nó với tinh thần tương tự, song anh cảm thấy như thể mình đã đập mặt vào một bức tường đá – có nhiều thứ anh có thể chấp nhận, và một số cái anh có thể ngưỡng mộ sâu sắc trong văn hóa Phương Đông, nhưng anh nhận ra anh không thể chịu được việc Selim nghĩ về anh theo cách đó.

    Bây giờ anh đã chú tâm trở lại, anh thấy rằng ít nhất có một tên đàn ông, một tay lái buôn lạc đà béo tốt đến từ Damascus, đang nhìn chằm chằm thằng bé với vẻ gì đó vượt lên sự tò mò đơn thuần – một ánh mắt hau háu lùng sục. Những ngón tay lo lắng của Selim níu chặt cánh tay Arden với sự e sợ hơn cả bình thường. Arden quắc mắt cảnh cáo tên đó. Tay lái buôn lạc đà cười cười và nhanh nhẹn cúi chào trước khi chuồn đi.

    Khi hội đồng được gọi, tất cả đứng lên tham dự lễ tập trung hàng ngày của hoàng thân ở con phố rộng bên ngoài. Arden rảo bước cùng với Selim đi sát sau anh. Anh không, không thể nhìn vào thằng bé khi họ tìm được một chỗ trong bóng râm của một bức tường, ngồi khoanh chân cùng với những người Shammar, nhưng anh cảm thấy người Bedu và người dân thị trấn đang quan sát anh với Selim, có phần tò mò thô lỗ khiến anh nghi ngờ. Anh vô cùng cảm kích sự đồng hành của những người Shammar, bởi những ánh mắt như thế có thể chuyển thành xấu xa.

    Hoàng thân tới, an tọa trên một cái bục dựng cao, một chiếc ghế dài xây gắn vào tường và phủ những tấm thảm Baghda và gối xa hoa. Ông ta mang phong thái hoàng tộc khá rõ, Abdullah ibn Rashid, vận đồ lụa Ấn Độ màu tía và sơ mi dài trắng tinh bằng vải linen, mặc ngoài một áo gi lê đen abah không cài cúc. Một đôi dao găm cán vàng giắt nơi thắt lưng. Chiếc khăn kuffiyah sặc sỡ bao quanh gương mặt hẹp, nghiêm nghị, một chiếc khăn bịt đầu rủ xuống đằng sau, quấn quanh trán bằng những sợi dây vàng. Với bộ râu tỉa tót rất mảnh, ông ta là hình ảnh cô đọng của một hoàng tử sa mạc, mắt đen và vóc người xương xương, vẻ ngoài của ông ta linh hoạt một cách bồn chồn trong đám đông, luôn hoạt động và tìm kiếm ngay cả trong lúc lắng nghe những lời kiến nghị và thỉnh cầu và hôn má những tù trưởng bộ lạc.

    Hoàng thân Rashid có địa vị cao nhất. Ông ta đã giành được vị trí của mình bằng vũ lực, thay thế cho một kẻ nổi loạn Saudi hiện đang sống mòn ở Cairo, là tù nhân của phó vương Ai Cập. Người Saudi, những người cuồng tín theo chủ nghĩa Wahabi cũ, bị tan tác. Những người Ai Cập lấy ar-Riyadh là thủ phủ đóng quân, một hòn đảo nhỏ của những người lính bao quanh bởi kẻ thù người Bedouin, theo đuổi chính sách cổ xưa là kích động lòng căm ghét và chia rẽ giữa các bộ lạc. Và Rashid kiểm soát hội đồng bằng một sĩ quan người Ai Cập bên cạnh mình – nhưng họ buộc chân con chim ưng này bằng một sợi dây mỏng manh.

    Các tù trưởng đang dồn về một chỗ. Nếu hoàng thân Rashid có thể đoàn kết họ, nếu ông ta có thể giữ họ ở bênh nhau dù chỉ một mùa, họ có thể lật đổ những tên bạo chúa của mình và phá vỡ sự kìm kẹp của người Ai Cập.

    Lần lượt, những sự vụ trong ngày được trình lên hoàng thân và được phân xử chóng vánh. Một vụ bị sĩ quan người Ai Cập phản đối, và hoàng thân Rashid tăng thêm hình phạt đánh đòn đối với một người đàn ông đã nhổ vào một người lính Ai Cập.

    Chốc chốc ông ta lại tham vấn kady, một người chuyên về luật tôn giáo, khi cần giải thích hoặc về một đoạn kinh Koran.

    Nó kéo dài và khá nhàm chán. Arden trông thấy tay lái buôn lạc đà đã nhìn chằm chằm Selim đứng dậy và len qua đám đông, tiến tới nói với một người đàn ông ngồi cạnh hoàng thân – một trong những người anh em của hoàng thân, Arden nghĩ. Người em nghiêng mình nói nhỏ vào tai Rashid. Hoàng thân gật đầu. Ánh mắt tìm kiếm của ông ta quét qua đám đông và trong khoảnh khắc dường như chiếu vào Arden.

    Hoàng thân giơ tay lên, vẫy vẫy.

    Mẹ kiếp, Arden nghĩ.

    “Tới đây, ta muốn hỏi thăm tin tức về tộc Shammar yêu quý của ta,” Rashid nói bằng giọng thúc giục. “Lại đây, lại đây, tạ ơn Chúa các anh đã đến và mang theo khách của mình.”

    Selim nấp kín sau lưng Arden khi anh và những người Shammar đứng dậy, đi lên để chào hoàng thân. Thằng bé ắt sẽ ở lại sau, nhưng Arden ngoặt tay kéo nó lên, đẩy nó ra phía trước anh với chút thô bạo hơn mức cần thiết.

    Yah tù trưởng!” người tộc Shammar chào hoàng thân của họ; hoặc thậm chí “Yah Abdullah!” chẳng có khuôn phép lịch sự gì hết, theo cách của người Bedouin. Hoàng thân đã đuổi bất cứ người dân thị trấn nào có cử chỉ tự hào về hoàng gia, nhưng ông ta hòa nhã với dân du mục sa mạc. Đương nhiên rồi, Arden nghĩ, vì họ đông đảo và hùng mạnh, ba nghìn cây giáo và lạc đà bên ngoài những bức tường thành của ông ta, và ông ta, xét cho cùng, chỉ là một người trong số họ - được bầu ra bằng vũ lực và danh dự cá nhân, uy quyền của ông ta được chấp nhận chừng nào ông ta còn quyền lực và công bằng, nhưng dễ dàng bị loại bỏ nếu có lí do chính đáng. Và với người Bedu, bất cứ lí do nào cũng có thể được chứng minh là chính đáng.

    Arden lịch sự hơn, làm một người khách lạ theo ý của hoàng thân. Anh đã không đòi hỏi một nhóm khán giả; anh không muốn thu hút sự chú ý về mình, nhưng ánh nhìn cau có của hoàng thân Rashid lập tức dán vào mặt anh.

    “Lạy thánh Allah,” ông ta nói nhỏ với một người Shammar, “Ta nghe bảo anh ta là người Mogreby, nhưng anh ta có đôi mắt của quỷ Satan!”

    Arden cụp đôi mắt xanh ma quỷ của mình xuống. “Tôi đến từ Andaluz, một vùng đất lâu đời,” anh nói. “Mẹ tôi là công chúa của đất nước đó.”

    “Ngẩng lên nhìn ta! Ta không sợ đâu.”

    Arden ngước mắt lên. Anh cho phép mình nở nụ cười nhẹ, một nụ cười nói rằng, Tôi không nghĩ là ngài sợ. Nhưng anh không nói to thành lời.

    Rashid đột nhiên tươi cười. “Ngồi đi!” Ông ta nói, vẫy tay sang bên phải.

    Đó là một biểu hiện nể trọng và ưu ái, không có nó Arden ắt chẳng nghe theo. Nhưng thu mình lúc này là điều không thể. Anh ngồi khoanh chân trên những tấm thảm cạnh hoàng thân. Kady của hoàng than ném cho Arden một cái nhìn nheo nheo, khấp khởi. Arden hy vọng ông ta không phải đang bị kích động bởi một chủ đề tôn giáo.

    Với một cái búng tay, hoàng thân Rashid mời những người Shammar còn lại ngồi. Selim đang cố hết sức để trở nên vô hình, chui vào một chỗ dưới chân Arden.

    “Mục đích chuyến đi của anh là gì?” Rashid hỏi.

    “Tôi phải tìm cho con trai của cha tôi một cô dâu, vì tôi đã thề sẽ làm điều đó, dù có phải đi đến tận cùng trái đất.”

    “Anh tìm cho cậu ta một cô dâu, wellah!” Rashid lặp lại, thích thú. “Đây là một nhiệm vụ đầy vinh dự, nhưng tại sao anh phải đi xa thế?”

    “Bởi vì tên satan trẻ này không chịu lấy vợ!” Arden thốt lên. “Hãy hỏi những người trong quán cà phê xem có đúng thế không!”

    Câu nói làm rộ lên tiếng cười và tiếng xì xầm trong đám đông. Selim ép lưng vào đầu gối Arden. Anh nghĩ mình cảm thấy thằng bé đang run rẩy. Nhưng anh không có lựa chọn nào ngoài trơ mặt ra, mặc kệ Selim muốn gì.

    “Để ta xem nào,” hoàng thân Rashid vẫy tay. “Đứng lên, cậu bé.”

    Bây giờ Selim run rẩy thấy rõ. Nó chậm chạp đứng dậy, đầu cúi gằm.

    “Đến đây,” hoàng thân nói. “Gần hơn nữa.”

    Selim bước một bước miễn cưỡng.

    “Đến đây!” Rashid nói to, cau mặt. Arden nắm lấy khuỷu tay Selim và đẩy thằng bé ra trước mặt hoàng thân.

    Trong một lúc lâu, Rashid cứ nhìn thằng bé. Kady của ông ta nghiêng người thì thầm vào tai ông ta. Rashid không rời mắt khỏi Selim, nhưng cái miệng khắc nghiệt của ông ta trễ xuống.

    Bất thần ông ta đứng dậy, đưa tay túm cằm thằng bé và ngửa mặt nó lên.

    Selim nấc lên một tiếng khe khẽ, một âm thanh khiếp sợ khiến Arden đứng dậy. Thằng bé giơ một bàn tay thanh mảnh lên, như muốn với tới anh – nhưng Arden không nhìn vào đó.

    Anh đang nhìn chằm chằm vào Rashid và Selim – vào diện mạo của họ, đứng sát cạnh nhau.

    Như một khung cảnh bị ánh chớp chiếu rọi, để anh nhìn rõ nó.

    Rashid: ngăm đen, thô cứng, râu đen, người Ả Rập. Đàn ông. Và Selim: không có một đặc điểm nào trong số đó.

    Không một đặc điểm nào.

    Hoàng thân quay đầu, nhìn Arden với cái miệng nhệch xuống thành một đường cong ác nghiệt và đôi mắt đen của ông ta sáng rực.

    “Có phải cô ta không?” ông ta rít lên.

    Không phải đến khi Rashid nói từ đó Arden mới cảm thấy tâm trí anh có thể hoàn thiện nó.

    Cô ta.

    Cô ta! Anh muốn ngẩng mặt lên bầu trời xanh gay gắt và hét lên trong điên cuồng. Cô ta!

    Anh đã biết điều đó. Cơ thể anh đã biết, mơ về đàn bà, mơ về cô, bàn tay mềm mại trong giấc ngủ của anh, thiên thần đã hát trong những ảo ảnh khát cháy của anh.

    Cô ta.

    Cổ họng anh nghẹn cứng. Anh chỉ biết trừng mắt nhìn lại Rashid, câm nín.

    “Đến đây!” hoàng thân nói, nửa như gầm gừ. “Có lẽ nó làm thánh Allah vui lòng – cô là của ta!”

    Ông ta xoay người, những lớp áo dài xoay tròn. Nhưng viên sĩ quan Ai Cập bước lên chắn trước ông ta. Rashid dừng lại, rồi đưa tay gạt người đó sang bên. Ông ta quay ra đám đông và giơ hai tay lên.

    “Nữ hoàng!” ông ta hét bằng giọng vang rền lan khắp đám đông nhốn nháo. “Nữ hoàng của Englezy! Cô ấy đã đến với ta!”

    “Nữ hoàng!” Nó là một tiếng rì rầm, một làn gió thổi trong đội ngũ những chiến binh sa mạc. “Cô ấy đã đến.”

    Họ đứng cả dậy, tộc Shammar, tộc Annezy, tộc Kahtan hung dữ và tộc Sherarat, những tù trưởng và người của một trăm bộ lạc, với những đội quân của họ hạ trại bên ngoài tường thành.

    Họ bắt đầu ào tới. Gã kady nhảy lên bục của hoàng thân.

    “Allah akhbar! Cuộc chiến thần thánh bắt đầu!”

    “Jihad!” Mọi người gầm lên đáp lại. “Allah akhbar! Thibahum bism er rassoul!”

    Những người nô lệ và những người lính ở gần hoàng thân nổ ra một cuộc loạn đả. Arden chộp lấy cánh tay Selim, nhưng hoàng thân đã tóm chặt thằng bé – cô gái, đẩy về một cánh cửa thấp vào lâu đài. Arden bám sát theo, ném tay sĩ quan Ai Cập vào tường với một khuỷu tay chặn cổ họng hắn.

    “Jihad!” đám đông vẫn la hét, như một tiếng sấm truyền trong các bức tường. “Giết, nhân danh nhà tiên tri!” Điều cuối cùng Arden nhìn thấy trước khi anh chui vào một đường hầm tối om là tay sĩ quan Ai Cập gục xuống dưới những con dao cong của hai mươi người Bedouin gào thét.
     
    hathao, iusach, NHTB and 4 others like this.
  15. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 7​


    “Cô là ai?” Lord Winter hỏi qua hàm răng nghiến chặt.

    Zenia ngồi dựa lưng vào tường, mặt giấu trong hai đầu gối.

    “Nói đi, mẹ kiếp!” anh gầm lên. Giọng anh dội lại từ những bức tường trong căn phòng trống, một hậu cung không sử dụng rải đầy thảm và gối, ánh sáng duy nhất là từ những cửa sổ có chấn song trên cao hắt xuống. “Nói đi!”

    “Lady Hester là mẹ tôi,” cô lí nhí.

    “Tất nhiên,” anh lầm bầm. “Tất nhiên sẽ là Lady Hester. Nữ hoàng của cái sa mạc trời đánh. Nữ hoàng của nhà thương điên trời đánh!”

    Cô có thể cảm thấy anh ta đang nhìn cô trừng trừng. Cô không thể ngẩng lên; thậm chí không dám khóc. Hai tay cô sẽ không ngừng run rẩy.

    Đột ngột cô cảm thấy những ngón tay anh ta trên má mình, ép mặt cô ngửa lên như hoàng thân đã làm. Đôi mắt xanh của Lord Winter rà soát những đường nét của cô.

    “Cô biết cha cô không?” anh ta hỏi. “Cô có biết cha cô là ai không?”

    Cô liếm môi. Bằng những ngón tay lẩy bẩy, cô tìm trong áo, và đưa anh ta bức tiểu họa.

    Anh ta thậm chí không nhìn nó. “Đó là Bruce,” anh ta nói, vẫn nhìn chằm chằm vào mặt cô. “Là Michael Bruce đúng không? Chúa tha thứ cho con. Cô là người Anh.”

    Zenia gật đầu.

    “Cô đã khiến tôi làm ra chuyện gì thế này?” anh ta hỏi dữ dội, đứng bật dậy, đi đi lại lại trong phòng. “Cô là người Anh! Cô là một phụ nữ Anh!” Anh ta dừng lại đột ngột, ngoái đầu nhìn cô. “Cô bao nhiêu tuổi?”

    “Hai lăm,” cô trả lời yếu ớt.

    Anh ta cười phá lên. “Ôi Chúa.” Anh ta đưa hai tay ôm mặt và ngửa đầu ra sau. “Chúa ơi!”

    Zenia nhìn đăm đăm xuống đầu gối mình. “Tôi xin lỗi.” Cô nuốt khan. “Tôi không hề muốn đến đây.”

    “Cô không muốn - ” anh ta cười to. “Cô là một phụ nữ người Anh! Lạy Chúa, thế quái nào mà tôi lại - ” Anh ta ngừng bặt. “Không!” Anh ta quay về phía cô. “Không – hãy nói với tôi là không phải để cô về được Anh. Hãy nói với tôi là cô không phải một kẻ ngu ngốc đến mức đó!”

    Cảm giác như cô không hít thở nổi. “Cha tôi!” cô kêu lên, không thể đưa thêm một lời giải thích trước sự bài bác kịch liệt của anh ta về mong ước của mình. “Tôi định đi tìm cha tôi!”

    Vẻ mặt anh ta làm cô sợ hãi. Có một tia sáng kỳ lạ trong mắt anh ta, một sự giận dữ lạnh lùng khiến cô dựa sát vào tường.

    “Vậy tại sao cô không đi?” anh ta hỏi, giọng êm ái đến mức làm cô rùng mình.

    “Làm sao tôi đi được?” cô nức nở hỏi. “Tôi không thể nói với lãnh sự; Tôi không có tiền; Tôi chỉ có một mình!”

    “Không thể nói với lãnh sự?” Anh ta lại lớn giọng. “Sao lại không thể? Việc của ông ta là lo cho cô!”

    “Những món nợ của mẹ tôi!” cô khóc. “Họ ắt sẽ bán tôi đi để trả nợ!”

    Anh ta nhìn cô trân trối. “Ngu xuẩn!” Anh ta thì thầm. “Cô đúng là ngu ngốc thiếu hiểu biết! Cô nghĩ chúng ta là ai, những kẻ mọi rợ à? Cô chỉ cần nói ra. Chỉ cần bảo, ‘Tôi là một phụ nữ, tôi là người Anh, tôi cần giúp đỡ,’ và chúng tôi ắt sẽ xoay chuyển cả đất trời để đưa cô ra khỏi đó!”

    “Ồ vâng!” cô nói với sự cay đắng nhói lòng. “Mẹ tôi cần giúp đỡ, và họ lấy đi thu nhập của bà, và để bà chết đói trong cô độc.”

    “Mẹ cô,” anh ta quát, “lẽ ra phải đem bắn bỏ?”

    Cô loạng choạng đứng lên. “Tôi chắc chắn điều đó sẽ hợp với ngài hơn, Cha của Mười Phát Súng! Tôi ngạc nhiên vì ngài đã không đích thân làm việc đó!”

    “Tôi ắt sẽ làm, nếu tôi đến đủ sớm,” anh ta nói độc địa. “Nếu như tôi biết về cô!”

    Cô cảm thấy một thôi thúc mãnh liệt muốn bảo vệ mẹ mình, và tấn công lại anh ta. “Ngài là một người bạn đặc biệt của mẹ tôi! Lẽ ra ngài có thể giúp bà!”

    “Không cách nào giúp nổi bà ta.” Anh giật cái khăn kuffiyah xuống và ném xuống đất, đi tới đi lui. “Tôi đưa cho bà ta một nghìn bảng mỗi lần đến, để trả một phần nợ cho bà ta, nhưng bà ta đã tiêu sạch trước khi tôi kịp ra đến cổng, mua champagne Pháp và quần áo lụa cho những tên tổng trấn mắc dịch của bà ta!” Anh ta dừng lại trước mặt cô, nhìn cô với đôi mắt nheo lại. “Tôi chẳng bao giờ quan tâm bà ta làm gì với số tiền – đó là cuộc sống của bà ta, bà ta muốn sống thế nào tùy ý, nhưng lạy Chúa, nhìn cô xem! Nếu cô có một chiếc áo mới trên người trong mười năm qua, tôi sẽ kinh ngạc tột bậc khi nghe điều đó.”

    Một tiếng nức nở dâng lên trong cổ cô, làm nghẹn lời phản bác gay gắt. Cô ấn nắm tay vào miệng.

    “Vì Chúa, đừng có bắt đầu - ” Anh ngừng lời, quai hàm đanh lại.

    Cô cố kìm, nhưng những giọt nước mắt ấm nóng cứ trào ra. “Tôi đã muốn một đôi gi-giày của nước Anh.”

    Ánh mắt anh ta lia xuống đôi chân đất của cô, và trở lại gương mặt cô. Anh ta nhắm nghiền mắt, lắc đầu với tiếng cười méo mó. “Tôi ắt sẽ lo liệu để đưa cô về Anh.” Giọng anh ta, khi nói, dường như bất lực một cách lạ lùng. “Tôi không hiểu tại sao cô không nói với tôi.”

    “Tôi sợ ngài,” cô trả lời yếu ớt.

    “Tại sao?” Anh ta lại lắc đầu, như hoang mang. “Tại sao chứ?”

    Cô liếm môi và nhìn xuống. “Tôi đã nghe ngài và mẹ tôi nói chuyện,” cô hạ giọng rất thấp. “Ngài không thích phụ nữ.”

    “Cái gì?” anh ngây người.

    “Ngài đã đồng tình với bà ấy. Ngài nói ngài căm ghét phụ nữ.” Cô ngập ngừng. “Tôi sợ ngài sẽ bỏ rơi tôi nếu ngài biết. Hoặc – hoặc…ngài đã giết một phụ nữ vì tội lừa dối. Tôi đã nghĩ – chừng nào tôi còn là Selim – ngài sẽ chịu đựng tôi là bạn đồng hành. Ngài sẽ không bỏ tôi lại đây.”

    Im lặng kéo dài. Cô nuốt khan bằng cổ họng khô khốc và ngước nhìn anh ta. Mái tóc đen của anh ta bù rối bởi chiếc khăn kuffiyah, dính mồ hôi và bụi.

    “Chịu đựng cô.” Anh ta cau mặt khi giơ tay lau nước mắt trên má cô bằng những khớp ngón tay. “Lạy Chúa, tôi còn sống là nhờ cô.” Cái chạm của anh ta lướt trên da cô, hơi ram ráp với nước mắt và vài hạt cát dính trên những ngón tay anh ta. “Sói con! Tên cô là gì?”

    “Zenobia,” cô trả lời.

    Những ngón tay anh ta khựng lại. “Đương nhiên rồi,” anh ta nói khô khan. “Ồ, đương nhiên!” Anh ta lùi lại và dang hai tay. “Zenobia, nữ hoàng của Palmyra!” anh ta nói với vẻ cường điệu cay nghiệt. “Tôi có thể đoán sự phù phiếm ấy nhằm phục vụ cho ai.”

    “Ngài có thể gọi tôi là Zenia, nếu ngài không thích nó,” cô nói. “Mẹ tôi cũng vậy. Bà nghĩ tôi quá yểu điệu để mang cùng tên với Zenobia.”

    “Vậy ư?” anh ta cười khẩy. “Tôi cá là bà ta chưa từng trông thấy cô kéo một con lạc đà lên đồi cát.”

    Zenia nhìn xuống sàn. “Chưa.”

    “Nhưng cô đã sống với người Bedu. Một thời gian dài.”

    “Tám năm. Bà đã gửi tôi tới chỗ họ. Để sống như thế này.” Cô nói dữ dội, “Tôi ghét sa mạc! Tôi ghét nó! Tôi không muốn chết ở đây!”

    Anh đứng nhìn cô. Zenia đưa tay bịt miệng, cố kìm tiếng thổn thức nghẹn ngào.

    “Cô sẽ không chết đâu,” anh ta nói, đôi mắt xanh của anh ta điềm tĩnh và chắc chắn. “Tôi đã hứa với cô. Tôi sẽ giữ lời, sói con ạ - trừ phi bọn họ giết tôi trước.”

    ****

    Họ là những quân cờ. Cô là quân cờ. Arden không chắc vai trò của mình là gì, nhưng anh sẽ làm mọi cách để đưa cô an toàn ra khỏi đây.

    Anh sợ rằng nó sẽ đòi hỏi một chuyến đi trầy trật qua binh lửa của cuộc nổi loạn. Hoàng thân Rashid gọi riêng anh đến mà không có cô, muốn biết nước Englezy có thể mang đến những lực lượng nào, và Arden nói dối trắng trợn. Tàu thuyền và súng và người – anh mô tả chúng thật chi tiết, và đặt ra ngày đến của chúng xa hết mức anh dám.

    “Hai tháng, billah,” Rashid nói, không hài lòng. Ông ta rít thuốc từ cái ống điếu dài.

    “Đáng ra chúng tôi đã có thể thu xếp riêng với ngài,” Arden nói. “Ngài hành động quá sớm.”

    Đôi mắt đen của Rashid hơi nhướng lên trước lời nói thẳng tuột này. “Không còn cách nào khác. Quân Saudi chỉ cách đây nửa ngày đường.” Môi ông ta nhếch lên khinh bỉ. “Mấy con chó Wahhabi đó bị dắt mũi bởi những ông chủ Ai Cập của chúng. Tôi sẽ tiếp Hoàng tử Khalid el-Saud vào tối nay.”

    “Với lòng hiếu khách,” Arden hỏi, “hay với mùi thuốc súng?”

    Rashi đưa mắt nhìn những người ngồi quanh ông ta trong phòng. “Chúng ta sẽ xem xem, Englezy. Chúng ta sẽ xem xem. Nó là ý Chúa.”

    “Nữ hoàng của tôi có được ngài bảo vệ không?”

    Ông ta cúi đầu tỏ ý đã hiểu. “Cô ấy ở dưới sự bảo vệ của tôi.” Với một nụ cười nhẹ, ông ta nói, “Có lẽ tôi nên cưới cô ấy vào hôm nay.”

    Arden không nói gì.

    “Cô ấy là gì đối với anh, Cha của Mười Phát Súng?” Rashid hòa nhã hỏi.

    “Nữ hoàng của tôi. Tôi là thanh gươm và lá chắn của cô ấy.”

    “Thật tốt. Cô ấy là trinh nữ?”

    “Phải.”

    Rashid gật đầu. “Chúng tôi đã nghe nói về mẹ cô ấy, nữ hoàng Esther người Anh. Nghe bảo lòng can đảm của bà ta khiến cho đàn ông phải xấu hổ. Cô con gái cũng vậy – cô ấy đã đương đầu với toán cướp và vượt qua sa mạc. Đó là một kỳ tích của thánh Allah. Cô ấy sẽ sinh ra những đứa con trai dũng cảm, theo ý Chúa.”

    “Inshallah,” Arden lẩm bẩm. “Ngài phải bảo vệ cô ấy.”

    “Và cái giá của cô dâu?” Hoàng thân hòa nhã hỏi.

    Arden nhìn vào cặp mắt đen khôn ngoan của ông ta. Anh chợt nhận ra vụ việc đã đi quá tầm cảnh giác. “Một con ngựa cái,” anh nói. “Chuỗi Ngọc Trai.”

    Trong một lúc Rashid không nói gì. Rồi ông ta nhún vai. Ông ta bất ngờ đứng dậy, với một vẻ hách dịch, tất cả người của ông ta đứng lên theo. “Khi nào đến lúc, tôi sẽ đưa anh đi xem những con ngựa cái của tôi. Anh sẽ tìm thấy đủ ngọc trai trong số chúng, lạy thánh Allah.”

    ****

    Đó là một cuộc nổi loạn lặng lẽ chết tiệt. Sự yên lặng khiến Arden bồn chồn khi anh giả bộ ngủ qua cái nóng giữa trưa.

    Anh và cô gái không nói chuyện. Sau khi cơn giận dữ ban đầu lắng xuống, anh cảm thấy bất lực và lúng túng, không nghĩ ra được bất cứ lời trấn an nào mà không phải là dối trá. Dường như tốt hơn là không nói gì, như cái cách họ đã không nói gì trong sa mạc.

    Thay vào đó Arden đi loanh quanh căn phòng, tìm lối thoát, nhưng các cửa sổ cao gấp ba anh tính từ sàn, hàng cột tròn ở giữa quá lớn để hữu dụng cho bất cứ mục đích nào, kể cả giả sử anh có thể xoay được một sợi dây thừng, và cửa ra vào không thể xuyên thủng bằng lửa hay rìu. Cuối cùng anh ngồi xuống, ngả lưng vào một cái đệm đầy bụi.

    Trong nhiều giờ họ chỉ chờ đợi, số phận của họ như chỉ mành treo chuông, anh nằm trên thảm, lắng nghe và suy nghĩ và quan sát.

    Không có gì mềm mại hay khêu gợi ở cô. Cô là phụ nữ như một giống cái, vẻ đẹp của cô sắc lạnh; gần như nhói đau, sắc như một lưỡi kiếm.

    Zenia. Zenobia. Dường như anh không thể khớp hai cái tên ấy với cô. Cô là Selim; con sói con của anh, đứa trẻ phóng khoáng nơi sa mạc của anh.

    Anh nhắm mắt lại. Và nhỏm dậy khi những tiếng la hét và phá khóa cuối cùng cũng đến.

    ****

    Zenia biết trước cả khi bất cứ lời nào được nói ra là họ đang ở trong tình thế cực kỳ nguy hiểm. Trong căn phòng của quân lính, chất đầy giáo mác và vũ khí, những chiến binh Wahhabi và quân Ai Cập đồn trú đứng lạnh lùng khi cô và Lord Winter đi qua.

    Cô đi trước, vẫn trong chiếc áo cánh sa mạc rách rưới và chân đất. Lord Winter đi sau cô; khi họ đã thoát khỏi cảnh giam cầm thì anh ta đứng lùi lại như tỏ lòng tôn kính với cô, và bây giờ ở chếch sau cô như một hộ vệ.

    Cô nhận thức được cái vai mình phải đóng, dù họ không hề nói đến nó. Như thể từ giây phút những người lính đến giải thoát cho họ, cô đã gắn bó với anh ta về ý thức và tinh thần, đọc được tâm trí anh ta như đọc tâm trí mình.

    Đến cửa dẫn vào gian sảnh của hoàng thân, cô dừng lại. Bữa tiệc chiêu đã những vị khách quý đang dở dang, và lúc này từng nhóm người túm tụm quanh những khay lớn, cào vét cơm và thịt cừu còn sót lại. Hoàng thân Rashid đứng nhìn bao quát, hai tay khoanh trước ngực, một vị chủ nhà khoan thai lịch sự. Hoàng tử Saudi ngồi trên một chồng thảm, những lớp áo chùng trắng tinh, chân phương bên cạnh sắc tía và xanh và đỏ rực rỡ của Rashid. Chiếc agha buộc khăn quấn đầu của hoàng tử Saudi bằng len đen giản dị chứ không phải vàng. Ngồi ở vị trí danh dự bên phải ông ta là một viên tướng Ai Cập, nổi bật bởi chiếc quần chẽn Thổ Nhĩ Kỳ, áo choàng đỏ và chiếc mũ fez có núm tua dài. Ông ta đặt khẩu súng trường ổ quay của Lord Winter ngang lòng, say sưa xem xét nó đến độ không cả ngẩng đầu lên khi mọi tiếng trò chuyện đã lắng xuống.

    Zenia đứng trước cửa. Cô cảm nhận được sự hiện diện của Lord Winter sau lưng mình. Trong im lặng cô nghe được hơi thở của anh, nhẹ và ổn định, sự bình tĩnh của anh như một bàn tay vững chãi đặt lên vai cô.

    Cằm cô ngẩng cao. Cô nghĩ đến mẹ; cô noi theo mẹ, Lady Hester bất chấp mọi nguy hiểm, thách thức chính quan tổng trấn Ibrahim. Mẹ cô, cả cuộc đời không lùi bước, ngược ngạo, can đảm và kiêu hãnh. Cô bước đến giữa sảnh và dừng lại.

    “Ông là ai?” cô hỏi hoàng tử Saudi bằng giọng ngân vang cao vút.

    Quai hàm ông ta hơi trễ xuống dưới chỏm mũi khoằm. Đôi mắt đen của ông ta trở nên giận dữ, và trong thoáng chốc, ông ta như thể sắp đứng dậy.

    Ông ta kìm lại kịp thời. Nếu ông ta đứng lên trước cô ắt sẽ là một sự xác nhận địa vị của cô. Những người đàn ông tập trung quanh ông ta thì thào to nhỏ, rồi im lặng khi hoàng thân Rashid giơ tay lên.

    “Khalid ibn Saud, trường thọ và thịnh vượng đời đời, lạy đức Allah phù hộ cho hoàng tử,” Rashid nói, xoa dịu giây phút đó. Ông ta hơi quay đầu về phía hoàng tử Wahhabi. “Con gái của Esther, nữ hoàng Englezy, người tìm khắp sa mạc một hoàng tử để kết hôn.”

    “Thánh Allah chặn họng cô ta lại!” một trong những người đi cùng Khalid kêu to, cả đám này cũng mặc đồ trắng toát, một tù trưởng tôn giáo dẫn kinh Koran. “Để cho cô ta bị bôi nhọ, và cha mẹ cô ta bị bôi nhọ, và gia đình cô ta, và toàn bộ nước Englezy, như lời đức tiên tri!”

    Zenia bước lên một bước, giơ tay lên như sắp tát hắn ta. Những người đứng gần cô nhất rụt lại, hơi giật mình, nhưng bàn tay cô sững lại chốc lát, rồi hạ xuống. “Hèn nhát,” cô quát bọn họ. “Billah, các người run sợ trước một phụ nữ sao?”

    “Một phụ nữ trong trang phục đàn ông! Thật ghê tởm!” tên tù trưởng hét. “Che đậy sự nhục nhã của ngươi lại, thánh Allah có thể moi bụng ngươi ra!”

    Cổ họng Zenia tắc nghẹn vì hoảng sợ. Mặt cô đông cứng dưới vẻ bình tĩnh. Cô làm ngơ tên tù trưởng, chỉ nhìn đăm đăm vào hoàng thân Rashid. Lord Winter đã nói rằng hoàng thân sẽ bảo vệ họ.

    “Tôi phải chịu đựng chuyện này sao?” cô hỏi.

    “Cô là khách của ta,” ông ta đáp.

    “Không.” Giọng nói gay gắt của hoàng tử Saudi xen ngang. “Cô ta không được áp dụng luật đãi khách. Người đàn bà trước mặt ta đây đã phạm tội phóng đãng đồi trụy. Cô ta phải bị trừng phạt. Và người đàn ông đi cùng cô ta, một tên gián điệp của Franky.”

    Viên tướng Ai Cập nhìn lên. Với vẻ mặt buồn chán, ông ta tì lên báng súng và quan sát hoàng tử bằng cặp mắt đen không chớp.

    “Vào giờ thích hợp ngày mai, trước những thần dân của Chúa, người đàn ông sẽ bị chặt đầu bằng một thanh kiếm,” hoàng tử Khalid tuyên bố, “và ả đàn bà bị ném đá đến chết. Đó là phán quyết của ta, nhân danh nhà tiên tri và thánh Allah, lòng khoan dung, sự trắc ẩn!”
     
    hathao, Levananh, dakedo and 3 others like this.
  16. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 8​


    Họ ngồi im lặng, sau khi quay lại căn phòng giam giữ họ. Arden chèn một tấm đệm sau lưng và tựa đầu vào bức tường quét vôi trắng. Trong một lúc lâu, anh ngồi nhắm nghiền mắt. Có một cuộc chiến diễn ra trong anh. Tâm trí anh từ chối hiện thực, và anh tập trung vào cảm giác thể xác làm chỗ bám víu: sự ram ráp của bức tường nơi vai anh, tấm thảm bên dưới anh, âm thanh rời rạc của một guồng nước bên ngoài những cửa sổ gắn chấn song. Anh hít vào không khí khô, không mùi, thì thầm trong sa mạc xa xăm.

    Anh mở mắt. Hình bóng đối diện anh dường như quá nhỏ bé, hiện ra ở một trong hai cây cột lớn chống đỡ căn phòng.

    Anh nhìn thấy một cậu bé người Bedu; Selim trẻ tuổi không râu, rụt rè và can đảm, một đứa trẻ đẹp đẽ với những lọn tóc hoang dã và đôi mắt to đen như vẽ, đôi bàn tay và bàn chân nhỏ nhắn chai sạn. Một thằng bé mang án tử hình đè nặng lên vai Arden, khiến anh đau lòng khôn tả.

    Nhưng nhận thức ấy giống như một bức tranh anh từng xem, một hình ảnh đen trắng mà mới nhìn tưởng là một chiếc bình hoa mỹ, và phút tiếp theo là hai gương mặt nhìn nhau. Hệt như cách anh đã cau mày trước hình ảnh ấy và chỉ nhìn thấy một chiếc bình, anh nhìn mãi và không thể phân biệt được ai ngoài Selim, cho đến một khoảnh khắc biến đổi và tâm trí anh rẽ ngoặt và anh thấy một hình ảnh khác.

    Một người phụ nữ, hoàn toàn trưởng thành. Vóc người mảnh mai, nước da bị mặt trời nhuộm thành vàng sẫm – và có cùng đôi mắt to nhìn lại anh trong đau khổ - một người phụ nữ anh không quen biết, nhưng anh lại biết. Một phụ nữ người Anh. Con gái của mẹ cô ta, nhưng xinh đẹp, lôi thôi lếch thếch và đẹp đến mức tâm hồn anh như chìm trong đau đớn, không thể chịu nổi sự mãnh liệt của nó.

    Anh cảm thấy Selim đã mất rồi. Anh tức giận, từ bỏ một người bạn; tiếc thương một cậu bé chưa từng tồn tại, nhưng khi anh nhìn vào nhận thức mới này, những cảm xúc của anh vượt quá sức chịu đựng. Anh không chịu nổi chúng, anh bị tê liệt.

    “Tôi xin lỗi,” cô nói, và anh nghe thấy giọng một phụ nữ, vang lên với âm sắc trong trẻo như không khí sa mạc.

    Anh lắc đầu. Đôi môi cô hé ra như định nói tiếp.

    “Đừng,” anh ra lệnh. Anh sợ rằng cô sẽ nói đó là lỗi của cô, trong khi là lỗi của anh. Là anh đã mù quáng, mù quáng, mù quáng. Sự ân hận không phải là một cảm giác quen thuộc đối với anh. Nếu người ta có thể chết vì một cảm xúc, thì anh đang chết vì nó. Bị nghiền nát và hủy diệt bởi nó, cho đến khi anh gần như không hít được không khí vào ngực.

    Cô không nói gì nữa. Chỉ quỳ lên, hai bàn chân thu lại dưới mình, bờ vai mảnh dẻ tựa vào cây cột lớn. Những lọn tóc rối ôm lấy khuôn mặt.

    Một lúc lâu sau, cô nói, “Lẽ ra tôi nên nói với ngài.”

    Và anh sẽ trả lời sao? Rằng lẽ ra cô nên nói; rằng anh ắt sẽ không bao giờ đưa cô theo; anh ắt sẽ bỏ cô lại nơi dừng chân đầu tiên có thể nếu như anh biết? Bởi vì cô là phụ nữ, và anh chẳng đời nào tin một phẩm chất can trường có thể tồn tại lặng lẽ trong trái tim một người phụ nữ.

    Cô dè dặt ngước nhìn anh. Ánh sáng cuối chiều bừng lên trên tóc cô, làm lấp lánh những sợi tóc nhỏ phơ phất, và đem lại sắc hồng cho nước da vàng sẫm của cô. Cứ như anh đã đi cùng một cái kén xơ xác, một bí mật, và một điều huyền diệu và mong manh và ngắn ngủi đột ngột hiện ra từ trong đó.

    Anh nghĩ – cô sẽ chết vào ngày mai. Bọn họ sẽ ném đá cô đến chết. Giá như hoàng thân Rashid, cầu Chúa đày hắn thối rữa trong địa ngục, đã đứng lên giúp họ…

    Nhưng hắn không làm thế. Hắn đã cúi đầu trước hoàng tử của hắn và những tên tù trưởng cuồng tín và những sĩ quan Ai Cập và buông dao đầu hàng trước cuộc nổi loạn với một nụ cười điềm tĩnh.

    Sâu thẳm trong Arden có một nỗi sợ mà anh không thể chạm đến, không dám cảm nhận. Anh có thể nghĩ đến cái chết của chính mình. Một hình phạt thích đáng cho chuyện này, vì đã đưa cô tới đây. Cô đã muốn đi tới nước Anh, và anh đã dẫn cô tới chỗ chết thay vào đó. Cô đã rất dũng cảm, cảnh báo anh, nài nỉ anh quay lại, tuy nhiên vẫn đi cùng anh vào bất cứ cái địa ngục nào anh chọn.

    Kể cả khi cô nhìn anh lúc này, không nước mắt hay oán trách. Cái cách cô nhìn anh – hết sức tin cậy, một sinh vật hoang dã lạc vào chỗ hạ trại của kẻ đi săn.

    “Nói tôi hay,” anh hỏi. “Cô muốn được biết đến là Miss Stanhope, hay Miss Bruce?”

    Vừa nói xong anh liền thấy nó thật ngu xuẩn. Anh chưa bao giờ biết chính xác điều cần nói, cách để tỏ ra thoải mái và hấp dẫn và dễ chịu. Nhưng cô trả lời ngay lập tức, mặt ngước lên.

    “Miss Bruce, tôi thích được coi là Miss Bruce.”

    Anh nói, “Miss Bruce, lại đây.”

    Cô đứng lên với vẻ duyên dáng dường như mới mẻ đối với anh, như thể anh chưa từng thấy cô đứng lên hàng trăm lần trước đây. Khi cô ngồi xuống tấm thảm trước mặt anh, hai chân gập lại dưới mình, anh cảm thấy một cơn khao khát xác thịt mãnh liệt, một sự thèm muốn dường như là tột bậc trong tất cả những ngày anh đã quan sát cô và không biết về bản thân mình hay cô.

    Anh nâng bím tóc rơi xuống từ sau tai cô, sờ vào nó. Những bím tóc là niềm kiêu hãnh của những thanh niên người Bedouin, món trang sức để họ quyến rũ các cô gái. Những ngón tay anh tháo sợi dây thắt bím tóc, và bắt đầu chải mái tóc cô.

    Anh làm việc trong sự im lặng, đôi bàn tay anh nhẹ nhàng. Anh trải rộng những bím tóc, sau đó bắt đầu lùa những ngón tay qua những lọn tóc rối, cả đời chưa được gỡ. Anh chưa bao giờ chải mái tóc dài của một người phụ nữ, nhưng anh tìm ra cách, những sợi tóc nhỏ xíu, mỗi chỗ rối được ngón tay anh giữ lại để không làm đau cô. Anh nhận biết ánh mắt cô trên mặt mình, nhưng anh không thể nhìn thẳng vào chúng. Anh chỉ chăm chú vào việc đang làm.

    “Lord Winter,” cô thì thầm, “ngài kể cho tôi về nước Anh được không?”

    Anh vuốt tóc cô qua lòng bàn tay. “Ý cô là sao?”

    “Nó như thế nào? Nhà của ngài – có vườn không?”

    “Có. Một khu vườn. Một vườn hồng.”

    “Và nước?”

    “Một hồ nước. Với những con thiên nga đen bơi lội.” Anh xoay cằm cô để với đến một lọn tóc rối khác. “Nhà của tôi được gọi là Swanmere.”

    Một nụ cười nhẹ làm cong khóe môi cô. “Và những cái cây lớn? Có một khu rừng đúng không?”

    “Rất nhiều cánh rừng. Những bãi cỏ nằm giữa chúng. Và những con đường mòn len lỏi giữa những thân cây, đưa những nhà thám hiểm vĩ đại đến những ngôi đền Hy Lạp nhỏ ngớ ngẩn nơi các bà các cô thích ngồi uống trà.”

    “Ồ đúng rồi,” cô nói, với ánh mắt vui vẻ liếc nhìn anh.

    “Và gặp gỡ các tình lang của họ,” anh nói.

    Mắt cô cụp xuống xấu hổ. Cô nghịch một lọn tóc buông trên vai. “Swan-mere của ngài nằm ở đâu?”

    “Buckinghamshire. Trái tim xanh của nước Anh.”

    “Ôi,” cô thở dốc. “Và là ngôi nhà rất cổ?”

    Anh đã không ở đó mười một năm nay. Nhưng anh thấy mình đang miêu tả chính xác đến từng chi tiết, từ những cánh cổng sắt và con đường xe chạy rộng rãi kéo dài tới những con sư tử đá canh giữ các cầu thang, những nơi mà anh đã theo đuổi các giấc mơ khi còn là một cậu bé và chỉ chơi một mình.

    “Và thành phố?” cô hỏi, và anh cũng miêu tả nó, những cỗ xe ngựa lăn bánh với vành bánh xe sơn vàng và những xe bò chất đầy cỏ khô, nhà thờ và bãi cỏ xanh và những con chó giữ nhà đuổi theo đàn ngỗng.

    “London,” cô nói, và khi hoàng hôn chiếu luồng ánh sáng đỏ thành một hình vuông trên tường, anh kể cho cô về London. Anh dệt nên giấc mơ về một nơi thanh nhã, loại bỏ khói bụi và các loại mùi và nói về những ngôi nhà cao và những chiếc mũ bonnet thời trang, về những dải ruy băng đủ màu sắc trong các cửa tiệm, những viên nước đá ướp hương và pháo hoa trong những công viên.

    Cô mỉm cười khi nghe, nhưng anh thấy ẩn dưới nụ cười là nỗi sợ hãi và sầu muộn. Anh đứng lên trong tia sáng cuối cùng, và đỡ cô lên. Tóc cô buông xuống vai, một đám mây đen mờ, vẫn quăn lại một cách bất trị. Nó hòa lẫn vào bóng tối, khiến anh chỉ có thể trông thấy khuôn mặt cô.

    “Miss Bruce,” anh nói, nghiêng đầu trước bàn tay cô. “Cho tôi vinh dự được mời cô điệu nhảy này?”

    Cô cắn môi. Và rồi, run run nắm lấy tay anh, cô làm động tác nhún gối chào vụng về.

    “Nó là một điệu waltz,” anh nói điềm đạm. “Vì bây giờ là tháng Năm, và London, và cô là cô gái đáng yêu nhất trong thành phố, và tôi muốn có cô trong vòng tay.”

    Và cô mỉm cười rạng rỡ với anh. Anh mỉm cười đáp lại, bởi vì lần đầu tiên anh đã nói điều gì đó dễ nghe, một lần ăn may. Chân trần, trên những tấm thảm êm, anh đưa cô vào điệu vũ. Cô biết chút ít về nó, như thể rất lâu trước đây cô đã học các bước nhảy, dù anh không thể hình dung là bằng cách nào. Với lòng bàn tay cô nằm trong tay anh, và cánh tay anh ôm quanh vòng eo mảnh dẻ của cô, họ xoay vòng mà không cần tiếng nhạc.

    “Cô nhảy rất đẹp, Miss Bruce,” anh nói, một nỗ lực nữa.

    “Miss William đã dạy tôi đấy,” cô nói.

    Anh không còn thấy được gương mặt cô nữa ngoài một hình dáng trăng trắng trong bóng tối. cô đi rồi, mất hút trước mặt anh. Nếu những kẻ cai ngục của họ đến trước khi trời sáng, anh sẽ không bao giờ nhìn thấy gương mặt cô nữa.

    “Có rất nhiều nến,” anh nói. ‘Hai nghìn cây nến trong những chúc đài pha lê. Tất cả đều sáng rực và lấp lánh.”

    “Nhưng tại sao ngài lại bỏ đi? Hẳn là nơi ấy đẹp lắm.”

    “Cô biết không, sói con, tôi đã giết một cô gái ở đó,” anh nói, trong dòng chảy mơ màng của đêm và điệu waltz. “Thế cho nên tôi không thể bắt mình ở lại.”

    Cô ngước nhìn anh không hề ác cảm hay hoảng hốt. Với vẻ nghiêm trang đơn thuần, một đứa trẻ sinh ra giữa bầy sói, đã quen với những chuyện như vậy.

    Anh khó lòng lòng tin được anh đã nói với cô. Dường như anh không hề làm thế, tuy nhiên anh vẫn nghe thấy giọng mình cất lên, “Tôi đã dìm chết cô ta.” Anh dừng điệu nhảy và áp mặt vào mái tóc dính bụi của cô. “Tôi không muốn cưới cô ta. Tôi đã say, say bí tỉ. Và con thuyền chòng chành. Tôi đã không cố gắng cứu cô ta. Tôi không muốn cô ta, và tôi đã để cô ta chết đuối.”

    Bàn tay cô bao lấy bàn tay anh. Cô không nói gì. Anh ngẩng đầu nhìn lên những ô cửa sổ, nơi bầu trời vẫn giữ một vệt hồng cuối cùng trong một vùng đen thẫm.

    “Cô ta sợ mẹ mình,” anh nói. “Cô ta sợ bố tôi. Cô ta sợ sự bế tắc của bản thân. Tôi ghét cô ta, vì cô ta sẽ nhốt tôi trong nỗi sợ hãi của cô ta. Nhưng giữa chúng tôi đến một nụ hôn cũng chưa hề có. Chúa ơi, tôi cứ nghĩ bọn họ có thể đoán ra, tôi là một con quỷ thô kệch - quá xấu hổ để duy trì một cuộc trò chuyện mạch lạc. Chúng tôi hẳn là một cặp đôi vụng về lắm!” Anh bật ra một tiếng cười nhạt, không hề vui vẻ. “Tôi nghĩ cô ta cũng chẳng quan tâm lắm đến tôi.”

    Gương mặt cô ngẩng lên. Anh đưa tay khum lấy má cô, lướt những ngón tay trên làn da mịn. “Cô đã ở đâu, hả sói con? Mười một năm trước, lúc tôi cần cô.”

    “Tôi ở với người Bedu,” cô nói.

    “Định mệnh,” anh lẩm bẩm. “Định mệnh chết tiệt. Tôi đã tìm cô suốt cả đời.” Anh chạm vào cô, lần theo gương mặt mà anh không thể thấy. “Và hôm nay mới gặp cô.”

    “Tôi không như những gì ngài nghĩ đâu. Tôi luôn luôn sợ hãi,” cô nói trong ngực anh khi anh kéo cô sát lại. “Lúc này tôi đang sợ hãi.”

    “Tôi biết,” anh thì thầm. “Tôi biết, sói con.”

    Cô rùng mình, bám lấy anh. Anh cúi đầu hôn vào má cô, nhưng không phải để an ủi. Cô rên khẽ và cúi mặt xuống, nép mình vào anh, và anh lập tức bốc cháy.

    Nó xảy ra trong nơi sâu thẳm nhất của tâm trí và cơ thể anh, một sức mạnh vượt qua khuôn phép và văn minh. Cái ôm của cô, hình dáng mong manh của cô, bóng tối: nỗi sợ của cô, và của anh, đột ngột, khao khát đòi hỏi sự sống và sự hòa quyện bên bờ cái chết.

    Anh ấn cô vào cây cột đằng sau, mở hai cánh tay và đặt hai ngón cái dưới quai hàm cô. Anh đẩy mặt cô lên để gặp đôi môi anh. Anh hôn cô đói khát, giận dữ, ngấu nghiến. Anh không thể chịu nổi việc phải đối mặt với thời khắc vĩnh cửu đang đến rất gần và chưa bao giờ là một phần của cô.

    Zenia bám lấy anh, để cho cơ thể anh ép chặt cô vào đá. Cô muốn anh chạm vào cô; cô muốn theo cách này, thô bạo – sự dịu dàng của anh sắp khiến cô vỡ tan thành nước mắt và những mảnh vụn, và cô muốn đối diện nỗi sợ hãi một cách can đảm; cô muốn anh tự hào về cô. Anh đã không nói vậy, nhưng cô biết là anh tự hào, và cô sắp sụp đổ mà la hét vì hoảng loạn nên cô muốn miệng anh thật gay gắt và dữ dội trên miệng mình. Cô kéo anh vào sát hơn, để ngăn nỗi sợ, sát hết mức có thể, cơ thể anh rất nặng và nhịp thở của anh nghiền nát cô. Bên dưới những ngón tay cô đang ôm cổ anh cô cảm nhận được hơi nóng và mạch đập dồn dập của anh – mạng sống của anh đang ở dưới đôi bàn tay cô.

    Anh phát ra một âm thanh thống khổ và lùi ra. Căn phòng đã trở nên tối om, khiến cô không thể trông thấy anh ngoài một hình dáng lờ mờ.

    “Đừng,” cô nói, dùng cả hai tay túm lấy vạt áo anh. “Đừng bỏ tôi.”

    “Không có chuyện đó đâu,” anh nói.

    Họ đứng bất động, hai bàn tay anh đặt trên vai cô, như có một thứ thần chú nào đó giữ chúng.

    “Tôi muốn mình can đảm,” cô thì thầm. “Tôi không muốn khóc.” Cô nuốt nước bọt. “Tôi sẽ khóc mất nếu ngài không ôm tôi.”

    “Chẳng sao hết.” Anh có vẻ tức giận. “Cứ khóc đi! Nếu cô khóc thì có gì khác biệt?”

    “Xin hãy ôm tôi!” cô nói tuyệt vọng.

    Hai bàn tay anh đặt trên vai cô siết lại. Những ngón tay anh ấn vào da thịt cô.

    Bất thần Zenia rướn lên kéo đầu anh xuống. Cô dán môi mình vào môi anh, tìm kiếm.

    Arden cảm thấy bờ vực sụt lở dưới chân mình, chút danh dự cuối cùng của anh đổ sụp. “Tôi là kẻ đê tiện,” anh nói bên miệng cô. “Tôi muốn cô. Tôi muốn ở bên trong cô.”

    Cô hiểu anh. Anh cảm nhận nó theo cái cách làm cô lắng dịu.

    “Ngăn tôi lại đi,” anh nói, môi anh áp vào da cô. “Mẹ kiếp.”

    Trong vòng tay anh, cô bất động hoàn toàn. Anh có thể cảm nhận cô đến từng chân tơ kẽ tóc, dễ vỡ như một bức tượng thủy tinh; mảnh mai đến mức làm anh muốn khóc.

    “Tiếp tục đi,” cô nói bình tĩnh. “Có khác biệt gì đâu?”

    Ngày mai họ sẽ không còn sống nữa. Vậy thì có gì khác biệt?

    Anh vùng ra khỏi cô. Anh đi loanh quanh trong bóng tối, cảm nhận cái lồng nhốt như một con thú, và quăng sấp mình xuống thảm. Anh đã luôn cho rằng những người bị kết tội hẳn phải tê liệt không còn cảm giác; họ luôn có vẻ như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong số họ bị nhốt chung với người phụ nữ sẽ chết cùng họ? Để tra tấn thể xác và tinh thần họ?

    Cô đã bảo anh ôm cô. Đó là một lời năn nỉ. Anh có thể nhận lời, chí ít – anh có thể ôm cô. Chỉ ôm thôi. Anh chống khuỷu tay nhỏm dậy, và đột nhiên cô đã ở đó, ngã xuống thảm bên cạnh anh, rúc vào anh giống như Selim đã dụi vào lưng anh bao nhiêu đêm.

    Anh ôm cô thật chặt. Anh nằm nghiêng và ấp mặt cô vào vai anh và ôm sát cô vào người anh. An ủi. An ủi. Anh vuốt tóc cô. “Ngủ đi,” anh nói khẽ. “Ngủ đi.”

    Đôi tay cô vòng qua người anh. Khi anh thả lỏng được chút ít khỏi vòng ôm căng thẳng, cô lại nhích vào sát hơn. Cô ấn hông vào anh, một áp lực từ từ ép vào phần đã thức dậy của anh.

    Cảm giác thật tuyệt diệu. Cảm giác như sự sống. Nhịp thở của anh tăng lên, anh lùa những ngón tay vào mái tóc cô. Cô có mùi của cát và lạc đà và khói gỗ và mùi thiếu nữ. Giờ đây anh đã nhận ra, nguồn cơn của mọi giấc mơ chế nhạo trong sa mạc nơi cơ thể anh đã biết điều mà tâm trí anh không biết.

    Không thể chịu đựng nổi. Anh sợ anh mới là người sẽ bật khóc.

    Có gì khác biệt chứ?

    Không, nhưng mà anh muốn cô phải muốn anh. Anh không muốn chỉ là bên nhận. Anh muốn trao đi. Nhưng trong vài giờ mọi đắn đo sẽ trở thành vô nghĩa. “Ngủ đi,” anh thì thầm lần nữa.

    “Tôi không nghĩ tôi có thể ngủ,” cô nói bằng giọng khe khẽ, nghèn nghẹt nơi ngực anh.

    Anh vuốt tóc cô. Anh biết cách làm một người phụ nữ sung sướng. Anh đã tự dạy bản thân điều đó. Anh luôn không thoải mái với những người khác, luôn tách mình ra, nhưng phụ nữ không phải con người. Họ là một giống loài hoàn toàn khác, giống loài anh có thể giao tiếp bằng cơ thể mình. Với khoái lạc và sự đơn giản ngọt ngào. Với sự mê ly ngây ngất.

    Anh rà miệng qua chỗ da mềm sau tai cô, chạm vào nó bằng lưỡi. Anh không nhìn thấy gì, nhưng tay anh lần lên đường cong ở hông cô. Anh vò nhàu lớp vải bông thô trong nắm tay, kéo nó lên. Cái chạm đầu tiên vào da cô là một cú sốc, nó rất mượt và mát lạnh. Nó làm bùng cháy ngọn lửa trong anh, như một chiếc lá khô bị ném vào than hồng, bùng lên thành ngọn lửa.

    “Zenia,” anh nói, như thể tên cô là một từ lạ lẫm, vô cùng kỳ lạ trên lưỡi anh.

    “Vâng?” cô hỏi yếu ớt. Cô được ôm gọn trong vòng tay và vai anh. Dường như anh đủ to lớn và mạnh mẽ để trốn vào. Ngay từ đầu cô đã muốn ngủ bên cạnh anh, được che chở khỏi thế giới. Nhưng thế giới cũng sẽ giết cả anh.

    “Tôi muốn làm cho cô ngủ,” anh nói nhỏ. Những ngón tay anh giật những sợi dây buộc áo ở cổ cô. Chúng tháo thắt lưng cô ra cùng với con dao găm. Lớp vải bông lỏng lẻo dễ dàng di chuyển khi anh đẩy nó lên trên eo cô.

    Sự tiếp xúc của tay anh với da cô thật mới mẻ, bề mặt và sức sống của lòng bàn tay anh, bị thô ráp đi bởi sa mạc, song vẫn dịu dàng. Cô mừng vì có bóng tối, xấu hổ và nhức nhối. Cô biết anh đẩy áo cô lên để anh có thể đi vào cô như một người đàn ông đi vào vợ của mình. Nhưng cô không phải là vợ anh. Thế nhưng cô vẫn khao khát anh chạm vào cô và ôm cô và hôn cô như thể người cô là mật ong.

    “Zenia,” anh nói nhẹ nhàng. “Như bông hoa đó, loài hoa với những cánh nhỏ và cứng, mọc được ở bất cứ đâu.” Anh sờ vào bầu ngực trần của cô trong khi nói, vuốt ngón tay qua núm vú. “Những cánh hoa nhỏ và nhọn như thế này.”

    Cảm giác ấy khiến cô hít một hơi sâu.

    “Một câu nói ngu ngốc.” Anh bật ra một tiếng cười gượng, vùi mặt vào tóc cô. Anh cúi đầu hôn núm vú cô, kéo nó vào giữa lưỡi và răng mình.

    Cô thốt lên, “Ôi!” trong một tiếng thở dốc.

    Cánh tay anh bên dưới cô đẩy người cô ưỡn lên. Miệng anh ngấu nghiến đói khát bầu ngực cô. Cô buông mình cho cảm xúc, buông mình cho anh.

    Và anh trao lại cô khoái lạc. Anh trao lại cho cô sự quên lãng. Anh khiến cô quên đi nỗi sợ. Anh khiến bản thân làm mọi thứ trong vũ trụ của cô, đẩy lui kinh hoàng bằng vòng lặp của lưỡi anh trên da cô, với hơi thở nóng rực của anh bên tai cô. Với sự êm ái mà rắn chắc của bản thân anh, cái sức sống nam tính và cơ bắp, khi anh quỳ bên cô và kéo chiếc áo trùm Ả Rập lỏng lẻo qua đầu cô, và cô có thể trông thấy ánh sao trên đôi vai anh.

    Ngày mai – ôi, cô sẽ không nghĩ đến chuyện đó, cô không thể, nó vượt ra ngoài niềm tin hay nhận thức.

    Cô với về phía anh khi anh chống hai tay trên cô. Cô đặt hai tay quanh cổ anh và cảm nhận mạch đập của anh dưới làn da. Cô cảm nhận quai hàm anh và sự ram ráp của bộ râu mới mọc, khác biệt và xa lạ song vẫn là anh.

    Anh đang nhìn xuống cô. Cô không thể trông thấy anh, nhưng cô cảm nhận được.

    “Tôi có giống mật ong không?” cô hỏi, xấu hổ, lí nhí.

    “Không,” anh đáp. Anh cúi xuống hôn cô, cả cơ thể anh ép vào cô. Anh lùa hai tay vào tóc cô và ôm giữ gương mặt cô giữa hai lòng bàn tay. “Cô giống như nước. Như nước trắng sáng.” Anh áp mặt vào cổ cô. “Ôi Chúa, sáng rực và lạnh và trong đến mức làm người ta đau khi uống.”

    Cô cảm thấy anh, cơ thể anh sẵn sàng chiếm lấy cơ thể cô. Anh đang nằm trên người cô, rất nặng. Cô chưa bao giờ thấy một người đàn ông không mặc quần áo, cho dù cô đã sống giữa bọn họ, vì người Bedu kín đáo một cách khổ hạnh ngay cả giữa đồng bào mình. Nhưng cô đã nhìn thấy gia súc, và trẻ em, và cô biết. Nó làm cô hơi sợ, nhưng nỗi kinh hoàng nằm ở xa, bên ngoài vòng tròn nhỏ mà cơ thể họ quấn lấy nhau, lớn đến mức nỗi lo sợ của cô dường như giống niềm hân hoan.

    “Một câu nói ngu ngốc? Tôi có thể sống thiếu mật ong,” anh nói nghèn nghẹt bên cổ cô. “Tôi không thể sống thiếu nước.”

    Kỳ lạ thay, hạnh phúc thay, cô bắt đầu khóc. Cô choàng tay qua vai anh. “Không, nó không ngu ngốc.”

    Anh im lặng, hơi thở anh phả vào da cô. Rồi anh nói. “Cô đang khóc.”

    Zenia lướt tay xuống tấm lưng trần của anh. Tất cả sức mạnh của anh dường như lơ lửng dưới lòng hai bàn tay cô trong những đường cong mạnh mẽ và mềm dẻo. Cô chạm vào thắt lưng anh, bàn tay cô duỗi phẳng, khám phá hình dáng của anh.

    Anh rên lên, ấn mạnh xuống. Một cơn rùng mình ngọt ngào của cảm giác lan khắp mạch máu cô. Anh nhỏm dậy. Và khi anh đi vào trong cô, khi anh làm đau cô, thúc đau nhói vào màng chắn của cô, cô vẫn cong người đón nhận anh. Anh giữ yên trong giây lát, miệng anh khóa lấy miệng cô, bàn tay anh luồn xuống dưới hông cô. Anh chuyển động một cách hung hăng, thúc vào trong cô khi anh nâng cơ thể cô lên để gặp anh, xé rách màng trinh của cô.

    Cô thổn thức, trở thành một người đàn bà, trọn vẹn, hoàn toàn, lần đầu tiên trong đời, và anh ôm lấy mặt cô và hôn cô, vuốt má cô và nói, “Đừng khóc. Đừng khóc.”

    Anh ở sâu trong cô, đè nặng lên cô. Một tiếng rên vừa sung sướng vừa đau đớn bật khỏi môi cô. Cô muốn anh ở đây, một phần của cơ thể cô. Đâm xuyên và duỗi căng và xâm chiếm cô. Nó đủ để ngăn cản nỗi kinh hoàng. Cô nghĩ bây giờ mình có thể ngủ rồi. Như thế này.

    Nhưng giấc ngủ không đến. Đôi bàn tay cô vuốt ve chầm chậm trên lưng anh, và như thể chúng chứa một thông điệp nào đó, cùng một thông điệp trước đấy, anh phát ra một âm trầm trong cổ họng và ép mạnh vào cô, chậm rãi, một lần nữa mang sự ngọt ngào đến trái tim cô. Chầm chậm, và lặp lại, khi cô vuốt ve anh. Chầm chậm. Cô có thể nghe tiếng anh thở qua kẽ răng, cuối mỗi nhịp thở và cú thúc sâu là một tiếng rên của khoái cảm. Hơi thở của cô gần như mắc lại trong họng, cơ thể cô uốn cong đáp lại, vươn lên đỉnh điểm sung sướng với mỗi lần xâm nhập nhức nhối.

    Cô lại bắt đầu thổn thức, trong háo hức. Nỗi đau đớn tan dần khi anh lấp đầy cô hoàn toàn. Cơ thể cô siết chặt, giữ lấy anh, giữ lấy đôi vai và hai chân anh, giữ anh cương cứng bên trong cô.

    “Ôi Chúa ơi. Chúa tôi!” Tiếng thì thầm khàn khàn của anh lấp đầy tai cô khi cơ thể anh lấp đầy cơ thể cô, một nhịp điệu dữ dội.

    Đúng rồi, cô nghĩ, là thế, nó là sự siết chặt của cô thể cô với anh, như thể cô sẽ không, không thể để anh đi; nó khiến anh thúc sâu và rút ra và đâm mạnh trở vào, cho đến khi cô nức nở, đầu cô ngửa ra sau khi anh hôn lên cổ cô và hai bầu vú cô, ưỡn cong lên tới thiên đường và tới anh, run rẩy không ngừng như một vật vô tri, cho đến khi cơn rùng mình giam chặt cô trong một khoảnh khắc mê ly kéo dài, ngọt ngào đến ngây dại, sự sống của anh rần rật bên trên cô và bên trong cô và bao trọn lấy cô.

    Anh dịu xuống với một cơn rùng mình và rên khẽ, nằm trên người cô, thở hổn hển. ‘Cảm ơn,” anh nói bên cổ cô. ‘Cảm ơn.”

    “Cảm ơn,” cô thì thầm.

    Anh cười nhỏ. Cô cảm thấy nó trong ngực anh. Ngoài ra còn cảm giác ươn ướt trên bờ vai trần của cô nơi má anh đặt lên.

    Họ không nói gì nữa, ngoài sự nhã nhặn đó ra. Sau một thời gian dài, khi Zenia nằm không nghĩ ngợi, chỉ cảm thấy anh nặng nề và thả lòng trên người cô, thì anh nhỏm dậy.

    Cô không nài xin anh trở lại, dù cô muốn thế. Với những cử chỉ cẩn trọng, anh vuốt phẳng lại áo cô, kéo nó xuống che phủ sự trần trụi của cô. Một sự lịch thiệp nữa, lặng lẽ và ngọt ngào. Anh ngồi lên, và cô nghe thấy tiếng vải sột soạt khi anh xỏ áo qua đầu.

    “Giờ cô sẽ ngủ được chứ?” anh hỏi, nằm xuống bên cạnh cô và kéo cô vào sát mình.

    “Vâng,” cô nói. “Cám ơn ngài.”

    Anh hôn lên thái dương cô, và nằm với miệng áp vào da cô, cánh tay choàng qua người cô.

    Không ai trong hai người ngủ.
     
    hathao, Levananh, dakedo and 3 others like this.
  17. luckycat

    luckycat Mầm non

    Chào mừng Song Vang trở lại. Lúc nào cũng yêu thích giọng văn của bạn
     
    song vang thích bài này.
  18. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 9​


    Arden ngồi bật dậy trước âm thanh đầu tiên. Trời tối đen như mực, còn lâu nữa mới sáng. Anh không nghĩ nhiều giờ đã trôi qua – không thể sớm như thế này.

    Tim anh đập thình thịch trong tai. Anh cảm thấy bàn tay cô nắm lấy tay anh trước tiếng cọt kẹt của then cửa bị kéo ra bên ngoài.

    Còn quá sớm, còn quá sớm, chưa đến lúc!

    Anh siết chặt tay cô. Tình trạng tê liệt giờ đã phủ lên anh, sự hư ảo anh đã trông đợi. Giờ phút ấy đã tới. Bọn họ đang đến.

    Anh đứng lên trong bóng tối, đỡ cô đứng lên bên cạnh anh. Anh đã trông chờ ánh sáng. Lẽ nào mọi chuyện sẽ diễn ra trong cảnh tối thui này?

    Cánh cửa nhẹ nhàng mở ra. “Englezy!” một giọng nói thì thào. “Đi thôi, cùng với cô gái. Lũ lạc đà đang đợi.”

    Một cái gì như ánh chớp nhá lên trong các mạch máu của Arden. Sự tê liệt vỡ tan.

    Rashid! Anh nghĩ dữ dội. Tạ ân nhà tiên tri và chín mươi chín cái tên của thánh Allah và Cái Tên Thứ Một Trăm, cầu Chúa nhuộm đen mặt ông và cho ông cuộc sống trường thọ và sức mạnh, đồ cáo già!

    ***

    “Dhai!” ai đó rít lên trong đêm tối đầy sao, và con lạc đà của Zenia nhỏm dậy. Nó rên rẩm, một âm thanh thân quen hạnh phúc, nửa người trước của nó nhâng lên khi cô khom xuống để giữ thăng bằng, rồi qua hai cú giật phần thân sau của con vật lắc lư tới độ cao hoàn toàn trong lúc cô ngả người ra sau, như đi xuống một quả đồi dốc, rồi hai khuỷu chân nó bật dậy đứng thẳng trên hai chân trước. Chưa bao giờ cô mong muốn được vươn người ôm cái cổ nhấp nhô của một con lạc đà như thế khi con vật di chuyển bằng những nước kiệu dài uyển chuyển của một tay đua dũng mãnh.

    Họ đã ở xa những bức tường thành của Hayil, đi bộ và chạy thật nhanh qua những đường phố tối, qua những lùm cọ và ra tới sa mạc nơi những con lạc đà đợi sẵn. Lính gác cổng thành đã mở cửa cho họ mà không hỏi một lời. Hoàng thân Rashid, thoạt đầu Zenia nghĩ thế, nhưng hai người đàn ông đi với họ không phải người Bedu. Họ là người Ai Cập, một sĩ quan da đen và một người lính của lực lượng đồn trú. Và mặc dù đây rõ ràng là một cuộc đào thoát, vẫn có cảm giác của bắt giữ bao quanh: những con lạc đà của họ bị dắt bởi những người khác, bị thúc giục bởi những người Bedu lặng lẽ mà cô không thể nhận ra trong bóng tối.

    Không khí ban đêm tạt vào hai má cô. Cô phóng đi như một người đàn ông, như trước nay vẫn thế, đầu gối ngoắc vào khung ngang, nhưng lần đầu tiên nó có cảm giác kỳ lạ và tư thế đau nhức. Cô cảm nhận được sâu sắc về giới tính của mình – cô cảm thấy tất cả đều sai mà lại vẫn đúng. Nỗi kinh hoàng dường như đã trở nên không thật, như thể điều đó chẳng hề xảy ra, rằng cô có thể chết – nhưng cảm giác về Lord Winter ở trong cô và bao quanh cô lại chân thật đến mãnh liệt, sắc nét như mùi hương của anh trên da cô.

    Cô thấy xấu hổ về điều đó. Những người Ai Cập có thể không để ý, nhưng cô dám chắc người Bedu có thể ngửi thấy nó trong không khí ban đêm trong lành. Với cái mùi ấy trên người, cô ước gì có thể trốn vào một cái kiệu lạc đà quây kín, như phụ nữ du mục khi di chuyển. Cô ước gì mình có thể che mạng như những phụ nữ trong thành phố, nhưng cô thậm chí không có một chiếc khăn kuffiyah. Cô muốn giấu mình, và giữ riêng nữ tính cho bản thân, và trao bí mật về nó cho chỉ mình anh.

    “Chúng ta đang đi đâu vậy?” Lord Winter thấp giọng hỏi, nghe bập bõm giữa tiếng chân lạc đà rào rạo trên cát.

    “Anh sẽ đến Cairo, Englezy,” viên sĩ quan đáp.

    “Cairo!” Lord Winter thốt lên.

    “Tới gặp wali. Mohamed Ali.”

    Tim Zenia thắt lại. Phó vương Ai Cập, cha của tổng trấn Ibrahim, kẻ thù quyền lực nhất mà mẹ cô từng chọc giận. Lady Hester đã chống đối Mohammed Ali nhiều năm về trước, phá rối ông ta và quân đội của ông ta bất cứ khi nào có dịp.

    Nhưng Lord Winter cười khẽ. “Wellah, Chúa đã giúp ông ấy nhận ra giá trị thực của cô!”

    “Inshallah,” tiếng viên sĩ quan vang lên từ bóng tối, vui vẻ. “Khalid ibn Saud là một con chó và là tên ngốc.”

    “Đủ ngu ngốc để giết một phụ nữ người Anh,” Lord Winter lẩm bẩm. ‘Sẽ có sự báo thù đẫm máu cho chuyện đó. Ngoài sức tưởng tượng của anh.”

    Viên sĩ quan cằn nhằn. “Anh còn ngốc hơn khi đến sa mạc, Englezy, và đem theo người phụ nữ cải trang này. Tôi không thể hiểu được sự điên rồ ấy. Nhưng chúng tôi sẽ cứu anh khỏi bị mất đầu, lạy thánh Allah. Tổng trấn của tôi sẽ lo việc đó.”

    “Tổng trấn của anh lẽ ra hôm qua phải lên tiếng, cứu chúng tôi khỏi một đêm khốn khổ.”

    “Làm cách này tốt hơn. Ngay cả lũ chó Wahhabi cũng giết theo bầy mà.”

    Lord Winter cười. “Rất đúng. Và người Englezy sẽ hàm ơn Mohamed Ali?” anh nói. ‘Khi giữ cho chúng tôi còn nguyên đầu trên cổ. Chúa sẽ mãi nhớ đến ông ấy!”

    “Và có thể người Englezy sẽ nhận ra sự vô nghĩa của cuộc chiến ủng hộ vua sultan,” viên sĩ quan thêm vào vẻ châm biếm.

    “Thề trên bộ râu của tôi, anh có thể yên tâm là tôi sẽ chỉ ra điều đó cho bọn họ.”

    Lũ lạc đà chạy nước kiệu thoăn thoắt dưới trời sao. Zenia giữ kín nỗi lo âu của mình. Cô sẽ phải tìm cách nói chuyện với Lord Winter, bảo với anh rằng cô không dám đặt niềm tin vào ý thích nhất thời của Mohammed Ali. Khi mà cách đây ba mùa hè, mẹ cô đã kích động cuộc khởi nghĩa của người Druze bằng tất cả sự khéo léo và xảo quyệt mà bà có thể huy động. Bất cứ khi nào một tù trưởng Druze đến Dar Joon, Lady Hester lại chào đón ông ta bằng lời nhắc nhở giễu cợt về sự phục tùng của họ trước quân lính của con trai Mohammed Ali mà không cần một phát súng. “Sao kia, ông không có một viên đạn dành riêng cho tổng trấn Ibrahim ư?” là lời chế nhạo không ngớt của bà đối với những bộ lạc miền núi đầy tự hào. Tia lửa đã xẹt và bùi nhùi sẵn sàng. Cuộc khởi nghĩa nổ ra, lan khắp Lebanon, cho đến khi Lady Hester mỉm cười khi nghe được Mohammed Ali đã tuyên bố rằng người đàn bà Anh kia gây cho ông nhiều phiền phức hơn tất cả những kẻ nổi loạn của Syria và Palestine cộng lại.

    Zenia không thể nộp mạng cho Mohammed Ali được. Nhưng lúc này họ đang ở trong sa mạc, phải đi một hành trình dài mới tới Cairo. Cô sẽ tìm cách nói chuyện riêng với Lord Winter, và họ sẽ bỏ trốn, an toàn đến một cảng biển nào đó và lên tàu về nước Anh. Cả hai người họ, như anh đã hứa.

    Anh thì thầm to nhỏ một đôi lần với những người Ai Cập, nhưng không nói nửa lời với cô. Cô tự hỏi anh đang nghĩ gì. Cô đã cảm thấy rằng mình biết, lúc còn ở trong phòng giam tại Hayil, rằng tâm trí anh và tâm trí cô tương thông, nhưng lúc này trong sa mạc cô không dám chắc. Sau sự căng thẳng tột độ, những giờ phút kéo dài, sự im lặng phập phồng của cuộc đào tẩu, con lạc đà đưa cô đi, đưa cô đi mãi với nước kiệu lắc lư không ngừng. Cô mệt lả bám vào khung yên cương.

    Dần dần những hình ảnh của những con lạc đà đang chạy, những ngọn núi và bầu trời, bắt đầu trở nên rõ nét hơn. Cô quay đầu khi có thể nhìn được – họ có chín người, hai người Ai Cập, trang bị đến tận răng bằng súng hỏa mai và súng lục và kiếm, hai người Bedu hộ tống Zenia và Lord Winter, một người dẫn đường và một người hộ vệ đi sau cùng với hai con lạc đà chở hành lý. Cô trông thấy khẩu súng trường ổ quay của Lord Winter đeo trên một người trong nhóm, cùng với những túi đồ đạc quen thuộc của họ.

    Zenia không biết họ đã đi được bao xa. Khi trời sáng dần, người Ai Cập khẽ nói câu gì đó, thế là người dẫn đường thúc lạc đà. Tất cả bọn họ tăng tốc độ. Người đi đầu chuyển sang nước đại và những người còn lại bám theo.

    Bình minh trong mờ cho họ thấy ngay dưới những vách đá nhọn kỳ dị của những ngọn núi, một đường lởm chởm cắt vào giữa những đụn cát trắng dồn lại trên các sườn núi, bao phủ dưới chân những bức tường ửng hồng cao vọi. Những mảng tối trong các khe và hẻm núi nổi bật lên.

    Người dẫn đường dường như đang hướng tới một trong những thung lũng tối tăm này. Lũ lạc đà chạy men theo một cồn cát lớn, quành qua một khúc cong lớn dẫn vào một khe núi lởm chởm đá.

    Họ dừng lại trong bóng tối lạnh lẽo của các bức tường, những ngôi sao cuối cùng đang dần tắt trên trời. Zenia quay đầy. Khi cô gặp ánh mắt của Lord Winter anh khẽ nhíu mày rồi ngoảnh đi, ngoắc chân vào cổ con lạc đà đang đứng và nhảy xuống.

    Một người Bedu leo thoăn thoắt lên bức tường đá dốc để canh gác. Zenia xuống khỏi lạc đà giống như Lord Winter và những người Bedouin đã làm, không bắt con lạc đà phải quỳ xuống. Cô đi đến đứng cạnh Lord Winter, nhưng anh vẫn không nói với cô hay nhìn cô.

    “Chúng ta sẽ chờ ở đây đến tối,” viên sĩ quan nói.

    “Quá gần Hayil sao?” Lord Winter hỏi.

    “Tổng trấn của tôi ra lệnh thế,” người Ai Cập đáp. “Ông ấy sẽ cản trở người Saudi không đuổi theo. Khalid là một con chó.”

    Zenia nghĩ đến viên tướng Ai Cập mắt lạnh ngồi bên tay phải của hoàng tử, im lặng và buồn chán như một ông chủ với con chó con gắt gỏng bị buộc xích.

    “Các người không được để bị nhìn thấy hoặc nói chuyện với bất cứ người nào của các bộ lạc,” viên sĩ quan thêm vào. “Nếu các người thề không tìm cách làm những việc đó, tôi sẽ để các người được thoải mái.”

    “Tôi thề, trên cuộc sống của thánh Allah,” Lord Winter nói ngay lập tức.

    Viên sĩ quan da đen nhìn Tjema. “Còn cô?”

    Đứng hơi lùi về sau bên cạnh Lord Winter, cô thề một cách lí nhí và sốt sắng.

    “Cô phải ăn mặc và che mạng đúng như một người phụ nữ,” người Ai Cập nói, lôi xuống một cái bọc. Anh ta lấy ra một mớ trang phục đen và ném nó cho cô.

    Zenia cảm thấy nóng bừng và bối rối. Cô cúi xuống nhặt mớ quần áo, với mọi con mắt của họ chiếu vào cô, và chui ra sau một tảng đá để mặc vào bộ đồ thùng thình màu đen trùm kín từ đầu đến chân. Cô chật vật mặc những áo chùng trùm lên chiếc áo cánh rộng, gần như không biết cách sắp xếp các lớp áo. Khi cô trở ra, viên sĩ quan nói ngắn gọn, “Mặt cô.”

    Zenia che mặt lại. Và cô thấy mình thay đổi hẳn trước mặt họ - trở nên gần như trong suốt trong bộ đồ đen; vô hình. Một người phụ nữ. Họ nhìn vượt qua cô và vòng qua cô chứ không bao giờ nhìn vào cô. Ngay đến Lord Winter cũng không ngước mắt lên nhìn cô.

    Anh giống như một người xa lạ. Zenia sôi lên phẫn nộ với anh, muốn giật phăng tấm mạng và bắt anh quay mặt nhìn cô. Nhưng cô không làm thế. Một nhận thức vốn có đang bò lên cô – nhận thức rằng đêm hôm trước không phải là hôm nay, rằng họ đã hành xử như không có tương lai, và chỉ bây giờ mới biết là có.

    Ánh xanh lam nhuộm lên những bức tường cao màu hồng ở lối vào hẻm núi. Những người đàn ông ăn uống, ngồi quây thành một vòng tròn loại trừ cô. Zenia đứng bên con lạc đà của mình, quan sát từ bên trong tấm mạng kín mít. Khi họ đứng lên, có thức ăn để lại cho cô ăn một mình.

    Lord Winter ngồi lại một lúc sau những người khác. Cô nghĩ anh đang đợi cô. Nhưng khi cô vừa bước lên một bước, anh bỗng đứng bật dậy, bắt đầu chạy về phía cô.

    Zenia lùi lại trước vẻ mặt anh. Có một tiếng nổ – con lạc đà bên cạnh cô rên to và khuỵu xuống – và trong một khoảnh khắc bàng hoàng tê liệt cô nhận ra nó đã bị bắn.

    Hỗn loạn xảy ra xung quanh cô. Tất cả mọi người đang chạy tới những con lạc đà đang dậm chân. Một tiếng hét vang lên khi người canh gác quăng mình xuống đụn cát ở đầu hẻm núi. Hắn ta nổ súng. Con lạc đà của Lord Winter chồm về phía trước và ngã xuống giữa đám lạc đà và người. Nhưng Lord Winter ở trước mặt cô; lừng lững phía trên cô – anh túm lấy eo cô và tung cô lên cao. Mặt đất và bầu trời xoay tròn khi cô lao vào đôi tay của một trong những người Ai Cập ngồi trên một con lạc đà đang di chuyển. Khi cô rơi vào giữa viên sĩ quan và bộ yên cương, con lạc đà rống lên và chuyển sang nước đại phi về phía lối vào hẻm núi, bị điều khiển bởi một cú đánh dữ dội.

    Những con lạc đà khác chạy tán loạn cùng với họ, những người Bedouin tự leo lên những con lạc đà của mình khi những con vật lao đi. Zenia cố ngoái lại; cô thoáng thấy Lord Winter giật khẩu súng trường từ con lạc đà chở đồ khi anh lắc lư trên lưng nó. Anh nổ súng vào tên canh gác phản bội mà cô không còn trông thấy. Họ phóng ra khỏi hẻm núi, đi lên cồn cát với cát bay mù mịt.

    Trong bầu trời bình minh tĩnh lặng bốc lên một cột bụi của những kẻ đuổi theo họ, tuy nhiên vẫn bị che khuất dưới mỏm cao của cồn cát. Cô nghe thấy viên sĩ quan phát ra một mệnh lệnh cụt lủn; người Ai Cập kia và một người Bedu liền quay lạc đà phóng ngược trở lại. Người đàn ông cô cưỡi chung lạc đà không chạy ra khoảng trống bên kia cồn cát, mà thúc lạc đà men theo chân các vách đá, ẩn trong bóng tối lạnh lẽo.

    Zenia nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng viên sĩ quan Ai Cập quất vào con lạc đà, thúc nó chạy như điên trên mặt cát ánh xanh. Cô cố ngoái lại nhìn lần nữa, nhưng hắn dúi mạnh lưng cô.

    “Ngồi yên, không thì tôi bóp cổ cô!” hắn rít vào tai cô. “Thánh Allah nguyền rủa cô! Nguyền rủa bọn người Englezy, và tất cả những con chó Bedouin phản bội!”

    Tên lính còn lại, nóng bức và bám đầy bụi đường, được một người Bedui ủ rũ dẫn đường, đuổi kịp họ vào giữa trưa. Trong một vùng cát trắng và những ngọn núi đen thấp, hoang vu như trên mặt trăng, Zenie nheo mắt nhìn đăm đăm vào nhóm người đang tiến đến qua làn khói mờ nóng gắt.

    Chỉ có hai người đàn ông. Họ dẫn theo một trong những con lạc đà chở hành lý. Khi họ đến gần, cô có thể trông thấy một vết sẫm màu trên cái bao, và máu đã khô lại trên lông con vật.

    Zenia nhìn trân trân vào nó. Cô ngước nhìn người Ai Cập mệt lử với vẻ hoảng sợ.

    “Anh ta đã rơi vào tay chúng, thưa ngài,” người đàn ông nói, cúi đầu làm động tác chào với chỉ huy. “Bị bắn ngã khỏi con lạc đà này. Bọn chúng trấn giữ lối vào, chúng tôi không thể vào hẻm núi để cứu anh ta.”

    “El-Saud?”

    “Mặc toàn đồ trắng, thưa ngài, và quấn một đống vải trên đầu.”

    “Chắc chắn là bọn Wahhabi! Chúa trời nguyền rủa ngươi! Người Saudi sẽ hành hình anh ta, nếu anh ta vẫn chưa chết.”

    Người lính cúi đầu xấu hổ. “Đó không phải toán cướp thông thường, thưa ngài. Chúng đã bám theo chúng ta từ Hayil.”

    Viên sĩ quan Ai Cập ngồi lặng im một lúc. Rồi hắn quay lạc đà về phía tây. “Ý Chúa đã định,” hắn lẩm bẩm, quất gậy vào con vật, phóng đi.
     
    Levananh, hathao, Mimi2010 and 3 others like this.
  19. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 10​


    Zenia ngồi trong văn phòng ở Alexandria của Công ty Tàu Hơi Nước Peninsular, hai bàn tay nắm chặt nhau trên lòng để giữ chúng không run rẩy lộ liễu. Cô vẫn mặc bộ đồ đen, chiếc mạng che mặt và váy đen, nhưng giờ đây nó là chiếc váy kiểu Pháp, với đôi giày bó bàn chân đến đau nhức và những lớp váy lót nóng bức.

    Cô cảm thấy những hành khách khác chắc hẳn đang chằm chằm nhìn mình. Cô biết họ đang nhìn. Ở Suez, giữa sự hỗn loạn lặng lẽ của một khu chợ phương đông, cô đã tách khỏi những kẻ giam giữ người Ai Cập một cách đơn giản, hòa vào một nhóm phụ nữ đi ngang qua, tất cả đều ăn mặc giống hệt cô, kín mít từ đầu đến ngón chân với màu đen.

    Cô đã nghe thấy những tiếng la hét phía sau khi họ phát hiện cô biến mất. Nhưng trong một ngõ nhỏ cô đã vứt bỏ trang phục phụ nữ và trở lại làm Selim – rồi tìm được một tên du thủ du thực thuộc loại mẹ cô thường cưng chiều, một lái buôn người Algeria, một kẻ lừa đảo có bạn bè ở mọi ngóc ngách và chẳng yêu mến gì quan tổng trấn địa phương. Cô trả tiền để có chỗ trú chân và giữ bí mật trong khi người của quan tổng trấn và binh lính lùng sục thành phố và chửi rủa những nhóm phụ nữ vì tội che giấu cô. Một lần bọn họ đã tiến sát đến mức cô phải cầm lên một cái ấm đồng vỡ và gõ chan chát lên nó, giả bộ sửa chữa, trong lúc tên thuộc hạ của quan tổng trấn la mắng người Algeria vượt lên cả tiếng ồn.

    “Lord Winter?” viên thư ký của Công ty Peninsular ngẩng lên dò hỏi, bộ ria mép to bự của ông ta rung rung.

    Zenia đứng lên. Cô cảm thấy như bị phơi bày – chiếc váy đen là bộ đồ duy nhất của phụ nữ Pháp có thể mua được ở Suez, bị lôi ra nhăn nhúm và mốc meo từ một chiếc rương vô thừa nhận trên một con tàu hàng khởi hành ở Bombay đã lâu lắm. Nó được may cho người nào đó rất to béo đến nỗi rủ xuống thành các lớp thùng thình trên người cô. Cô cảm tạ cái mạng che dạng lưới phủ qua mắt, che khuất nửa trên gương mặt cô, và đôi găng tay đen che phủ những móng tay cáu bẩn của cô.

    Khi cô bước tới cái bàn, viên thư ký đứng dậy. Ông ta cầm giấy thông hành của Lord Winter dùng để mua một vé tàu, cắt từ bên trong đường may chiếc túi đựng đồ cạo râu của tử tước vào một trong những đêm Zenia ngủ riêng sau một bức rèm trong lều của viên sĩ quan Ai Cập. Cô có mười đồng vàng trong ví cũng từ chỗ đó.

    Nó là của cô, cô đã nghĩ thế khi ăn cắp nó. Anh đã hứa đưa cô tới nước Anh. Anh ắt sẽ làm điều đó.

    Dù sao nếu cô không lấy thì nó cũng vào tay Mohammed Ali.

    “Lord Winter, ông ấy không đi cùng bà sao?” viên thư ký hỏi.

    Cô đứng đó, nhìn qua mạng che vào viên thư ký người Hy Lạp. Đây là con tàu duy nhất trong tháng này; đây là cơ hội duy nhất của cô – nếu họ không cho cô sử dụng giấy thông hành mở của Lord Winter cho chặng về, cô không còn đủ tiền mà trả.

    “Không,” cô nói. Giọng cô khàn và trầm, gần như vỡ ra vì lo sợ. “Lord Winter sẽ không đến.”

    Viên thư ký chần chừ một lúc, rồi gương mặt ông ta mang một vẻ kỳ lạ, vẻ nhăn nhó của một sự thương cảm trang trọng. “Ah! Tôi xin chia buồn, Lady Winter!” Ông ta nhìn xuống bản kê khai của mình. “Tàu đã hết chỗ, nhưng bà mong được trở về với gia đình đúng không? Bà hẳn phải về! Chúng tôi sẽ nghĩ cách!”

    Zenia cắn môi. Cô có thể cảm nhận ánh mắt của những người Anh khác đang chờ đợi, những hành khách đã lên bờ ở Suez và đi đường bộ bằng xe lửa đến Alexandria. Không có ai đi một mình như cô; ngay cả những phụ nữ không đi với chồng thì cũng có người hầu và con cái.

    Viên thư ký đang chăm chú xem giấy thông hành. “Có một con ngựa lên tàu phải không, Lady Winter?”

    “Không,” cô trả lời. Và tự dưng hai mắt cô nóng lên và cô cảm thấy nước mắt nóng hổi chảy xuống má. Cô nuốt xuống. “Không có con ngựa nào cả.”

    “Mời bà ngồi,” viên thư ký nói. “Tôi phải nói chuyện với thuyền trưởng.”

    Zenia ngồi xuống. Cô cúi đầu, cố ngăn những giọt nước mắt, nhưng chúng cứ rơi, thành những đốm sẫm màu trên đôi găng tay đen của cô. Cô cảm thấy mệt và chóng mặt.

    Nhiều tuần qua cô không hề khóc; giờ cô không biết tại sao, trước mặt những người Anh, cô lại không thể ngừng khóc. Cái nóng ẩm ướt của Alexandria dường như ép vào cô cho đến khi cô không thở nổi. Cô chưa bao giờ thấy nóng như thế, thậm chí là trong sa mạc. Hai bàn chân cô có cảm giác như bị khóa trong cái mỏ cặp nung đỏ, và đầu cô bồng bềnh trong hơi nước ngột ngạt.

    Cô nghĩ cô phải ra ngoài một lát, và gượng đứng dậy. Nhưng mắt cô đột nhiên tối sầm. Cô nghe thấy những tiếng nói lao xao, và sau đó mọi thứ dường như trở lại, mũi cô đau điếng, và cô đang nằm trên sàn với những gương mặt và giọng nói kích động bao quanh cô.

    “Chà, hầu như chẳng có gì cần nới lỏng,” tiếng nói cáu kỉnh của một người đàn ông. “Cái váy này xem ra rộng gấp mấy lần so với cô gái tội nghiệp.”

    Zenia chớp chớp mắt. Một sĩ quan trẻ người Anh trong chiếc áo jacket màu xanh hải quân đang cúi xuống cô. Anh ta rút ra một chiếc kính đặt lên sống mũi, nhòm săm soi.

    “Tôi không sao,” cô nói, cố gắng ngồi dậy một cách vội vã.

    “Cô phải nằm một lát nữa, madam,” anh ta nói cương quyết. “Cứ nghỉ ngơi, và bình tĩnh. Đây, thuyền trưởng nói cô sẽ có một buồng.” Anh ta thấm mũi cô bằng một chiếc khăn tay và ngước nhìn người nào đó mà Zenia không thể thấy. “Có lẽ tốt nhất là đưa thẳng cô ấy lên tàu, thưa ngài. Ở đấy mát hơn. Tôi tin là cô ấy có thể - ờ - ” Cổ anh ta ửng đỏ. “Ngài hiểu ý tôi đấy?”

    “Tôi sẽ giúp cô ấy, cô bé tội nghiệp!” Một người đàn bà quỳ bên cạnh Zenia, mặc toàn màu hồng và tỏa mùi phấn thơm. “Đến với Iris nào, cô bé!”

    Zenia đứng lên, người phụ nữ đỡ eo cô. “Tôi không sao – thật mà - ”

    “Tào lao. Tôi có bốn đứa con, đều ở Bombay! Tôi biết cái nóng này sẽ tác hại ra sao. Nó sẽ giết cả cô và đứa bé, nếu cô không cẩn thận. Đi nào, chỉ một bước nhẹ thôi – các quý ông đây sẽ dẫn đường cho chúng ta. Hành lý ư? Tôi không - ” Mái đầu đen của quý bà quay lại. “Hầu gái của cô đâu, và rương hòm của cô nữa?”

    “Ôi!” Zenia giơ tay, chỉ vào cái rương mòn vẹt cô đã mua để cho chắc chắn, để ra vẻ như cô không hoàn toàn có mỗi người không. Nó trống rỗng ngoài trừ một ít cát để nom như có quần áo bên trong.

    “Nhưng hầu gái của cô? Không phải cô ta đã bỏ đi và để cô một mình trong tình trạng này đấy chứ?”

    Zenia cảm thấy môi mình run lên. Cô lắc đầu thật mạnh, và lại khóc. Quý bà tên Iris ôm vai cô và vỗ vỗ vào tay cô. “Đừng bận tâm! Cô sẽ kể cho chúng tôi sau. Đi thôi. Tội nghiệp – cô gầy trơ xương thế này. Tôi có thể chăm sóc cho cô!”

    ***

    Zenia thấy mình ở trên con tàu hơi nước Edward Rule, chung cabin với Mrs. Iris Smith, hầu gái của bà đã bị chuyển đi một cách không hề khách khí. Không khí mát mẻ của biển không khắc phục được sự lắc lư của con tàu đầu tiên cô từng đặt chân lên, và Zenia trải qua hành trình bốn ngày tới Malta trong sự khổ sở của trận ốm mê man khiến cô gần như không nói năng gì được. Cô lờ mờ ý thức được Mrs. Smith săn sóc cô rất tận tâm, nhưng ngay cả lời cám ơn cô cũng không nói nổi.

    Mãi đến khi con tàu neo lại ở Malta để tiếp than thì Zenia mới gom đủ lí trí để ngồi dậy thổn thức bày tỏ lòng biết ơn với Mrs. Smith. Người phụ nữ vững vàng này, người tự tuyên bố bản thân là một người Angl-India ưu việt, và chẳng hề hấn gì bởi chứng say sóng, chỉ giục Zenia tập trung vào món súp của cô.

    “Vì rất có thể cô đang ăn cho cả hai người, đúng không nào?” Mrs. Smith nhìn cô sắc sảo. “Cô biết phải không?”

    Zenia ngồi trên giường, mặt cúi gằm. Cô không trả lời, chỉ vặn vẹo hai bàn tay vào nhau.

    Mrs. Smith đặt bàn tay mát rượi lên trán Zenia, vuốt mái tóc ẩm ướt của cô ra sau. Zenia lại bắt đầu khóc. “Tôi xin lỗi!” cô nói bất lực. “Tôi xin lỗi vì cứ như thế này!”

    “Tôi biết là rất khó khăn. Vô cùng khó khăn.” Mrs. Smith cũng bắt đầu khóc theo. “Tôi đã mất người chồng đầu tiên khi tôi mười tám tuổi, và bơ vơ một mình ở Ấn Độ, ở trong tình trạng y như cô. Người thân của cô là ai, cô bé?”

    Zenia nuốt xuống, lau nước mắt. “Mr. Michael Bruce là cha tôi.”

    Cô rất sợ Mrs. Smith sẽ hỏi thêm, nhưng bà chỉ nói, “Đây, ăn thêm một thìa súp nữa. Và chúng ta có món dưa hấu ngon lành. Xứ nhiệt đới cũng có nhiều cái bù lại đấy nhỉ? Thế mới là cô gái ngoan.” Bà đợi đến khi Zenia gắng gượng ăn hết, rồi đứng dậy. “Tối nay có chuyến xe thư, và tôi muốn gửi một bức. Nó nên đến trước chúng ta,” bà nói. “Cô có muốn lên bờ không? Tôi đã đặt trước một phòng và một người gội đầu, chúng ta có thể tắm bồn thỏa thích. Bản thân tôi rất cần điều đó. Không gì bằng một bồn tắm nước lạnh và một người gội đầu phương Đông; người ta sẽ cảm thấy vô cùng sảng khoái.”

    ***

    Anh trai của Mrs. Smith đón bà ở Gibraltar. Ông nhìn Zenia vẻ hơi kỳ lạ.

    Dần dần, cô đã kể cho Iris Smith cô đã một mình tìm đường về nước Anh ra sao, để lại Lord Winter trong sa mạc. Cô chưa bao giờ nói mình là Lady Winter – tất cả mọi người đã gọi cô như thế ngay từ đầu. Cô chưa từng nói mình là vợ góa của anh – họ chỉ nhìn bộ váy đen và mạng che mặt và bày tỏ niềm cảm thông của họ. Và cô mệt mỏi nghĩ, Thì cũng khác gì đâu.

    Anh đang đưa cô về nhà. Anh đã hứa sẽ làm thế.

    “Iris,” một tối nọ cô nghe được Mr. Harrow nói nhỏ với em gái, “em có biết cô ấy là ai không?”

    Zenia dừng bước, nắm chặt tay vịn cầu thang trong lúc con tàu nhẹ nhàng lướt trên mặt sóng dập dềnh của Đại Tây Dương.

    “Người phụ nữ Stanhope đó, có, em biết,” Mrs. Smith đáp. “Ngay cả ở Ấn Độ chúng em cũng nghe được chuyện đó, Robert! Nhưng em sẽ không làm một kẻ xấu xa trong chuyện đó.”

    “Phải, nhưng - ”

    “Cô bé cần sự giúp đỡ.” Giọng Mrs. Smith có đôi chút kích động. “Anh có thể tin em, em biết cảm giác chỉ có một mình và mang thai ở một nơi xa lạ là như thế nào!”

    Mr. Harrow im lặng một lát. “Anh xin lỗi,” ông nói gượng gạo.

    “Bây giờ mọi chuyện đã qua rồi,” em gái ông nói. “Em sẽ không bỏ rơi cô ấy vì sự đắn đo nào đó về lai lịch của cô ấy! Em muốn đưa cô ấy an toàn về với người thân.”

    Sự im lặng của Mr. Harrow kéo dài hơn. Cuối cùng, ông nói vẻ mỉa mai, “anh chỉ hy vọng họ sẽ cảm ơn em vì chuyện đó.”

    Zenia xoay người trên cầu thang và bỏ đi, về cabin nằm và ghì chặt bức tiểu họa của cha cô trong hai bàn tay.

    Đừng khóc, mẹ kiếp, một giọng nói mắng cô thô bạo. Như thế là lãng phí nước.

    Cô nhắm mắt và hít thật sâu. Cô sẽ không khóc. Cô muốn anh tự hào về cô.

    ***

    Zenia tê liệt vì phấn khích và sợ hãi và vì lạnh. Cô ngồi run rẩy trong giường, nghe mọi âm thanh của London bên ngoài, ngửi các mùi, không khí đặc quánh khói. Trời lạnh đến nỗi cô có thể thấy hơi thở của mình ngay cả trong cabin, và bên ngoài mọi thứ có vẻ tối tăm, mặt đất lấm tấm than, những tòa nhà lớn tối tăm, những con người lạnh lùng, mặc áo khoác đen, nói lớn giọng. Tất cả đều xấu xí; xấu và hôi hám khủng khiếp.

    “Đừng khóc, đừng khóc,” cô thì thầm với bản thân, như một lời cầu nguyện. “Đừng khóc, sói con.”

    Mrs. Smith ào vào cửa với một chiếc áo choàng. “Xong rồi. Mọi chuyện đã được thu xếp.”

    Zenia đi với bà. Cô không hỏi về những sự thu xếp của Mrs. Smith; chúng là lí do duy nhất khiến cô vẫn còn sống, cô nghĩ. Còn sống, và ở nước Anh. Ôi, lạnh quá. Nó không xanh – đến một cái cây cũng không thấy, chỉ có những cái que chết cao nghều là cột buồm của các con tàu.

    Cô đi xuống cầu tàu với Mrs. Smith khoác tay cô và Mr. Harrow đi sau họ. Có một nhóm nhỏ người đang đợi trên bến tàu, đứng yên giữa những thủy thủ tất bật. Trong khoảnh khắc, Zenia dừng bước.

    Cô nhìn thấy một hồn ma; cô trông thấy Lord Winter trong một người đàn ông cao lớn nhìn lên cô, gương mặt người đó bị ẩn một nửa giữa chiếc mũ và cổ áo dựng cao.

    Rồi ảo ảnh biến mất, cô nhận ra đó là một người lớn tuổi hơn nhiều, người đó nhìn cô với vẻ xa lạ. Và Mrs. Smith đang dẫn cô xuống, hướng cô về phía một người khác, một quý ông khác đang hết nắm lại mở hai bàn tay mang găng.

    Zenina dời mắt khỏi hai bàn tay nắm chặt của ông. Trước khi nhìn cô đã biết – cô biết Mrs. Smith đã làm gì; tim cô nảy lên tận cổ họng và cô ngước mắt nhìn lên gương mặt của cha cô.

    Ông già hơn cô nghĩ, với những nếp nhăn lo âu quanh mắt và in hằn hai bên má, với những đường nét điển trai trở nên cứng đờ, gió thổi mái tóc xám của ông dán vào vành mũ. Trong giây lát ông nhìn đăm đăm vào gương mặt cô, một cái nhìn tìm kiếm, vào cô và xa hơn cô, như thể ông đã trông chờ nhìn thấy một người khác ở đó.

    Cô rướn thẳng người và đưa tay ra. “Mr. Bruce?” cô hỏi, cằm hơi hếch lên kiêu hãnh, để không một ai thấy được cô đang chết ở trong lòng.

    Đột ngột, kỳ quặc, ông bắt đầu cười to. “Lạy Chúa tôi,” ông thốt lên. “Ta nhớ rồi.” Và ông nắm chặt bàn tay cô trong tay mình, kéo cô vào lòng và ôm chặt cô, vừa nói vừa cười. Ông khỏe hơn so với vẻ ngoài; ông gần như làm cô nghẹt thở trong vòng tay mình, rồi ông giữ cô lùi lại và nhìn cô say sưa. “Xin hãy trở về nhà,” ông nói, giọng run run. “Về nhà đi. Có rất nhiều thứ cần sửa chữa.”

    London biến đổi. Từ một nơi lạnh lẽo, ồn ào, xám xịt, nó bắt đầu sáng dần lên.

    ***

    “Đây là đường Bentinck,” cha cô nói, khi cỗ xe rẽ vào một dãy nhà gạch nâu trang nghiêm với những cửa sổ hai cánh trắng. “St. Marylebone. Nhà ta đấy.” Ông mỉm cười với cô. Khi ông mỉm cười, cô có thể trông thấy chàng trai trẻ trong bức họa, và cô mỉm cười đáp lại. “Con có lạnh không?” ông hỏi.

    “Lạnh lắm ạ!” cô đáp. “Con yêu nó.”

    Ông cười với cô. Tất cả nhu cầu được khóc đã rời bỏ Zenia, nhưng cha cô cứ sụt sịt và mỉm cười, đôi mắt đẹp của ông đỏ lên vì xúc động. “Chúng ta sẽ giữ lò sưởi luôn cháy mùa đông này.” Cỗ xe đã dừng bánh, ông nắm lấy tay cô. “Bây giờ, cha phải nói với con, Zenia, là vợ của cha đang ốm. Nhưng bà ấy biết con sắp về, và muốn gặp con không kém gì cha. Bà ấy là người phụ nữ đặc biệt. Con đừng sợ bà ấy.”

    Zenia gật đầu.

    “Con biết rằng cha chưa bao giờ cưới mẹ con,” ông nói, đầu cúi xuống. “Nhưng con là con gái của cha.” Bàn tay ông siết chặt tay cô. “Khi cha nhận được thư của Mrs. Smith – cha chưa ngủ được một đêm nào kể từ đó, vì băn khoăn và ân hận.”

    “Bà William bảo - ” Zenia nói ấp úng, khó có thể cất lời. “Bà ấy tin là mẹ chưa bao giờ nói với cha.”

    Ông ngẩng lên, đan tay vào tay cô. “Zenia, đời cha đã làm nhiều chuyện khiến cha xấu hổ. Mẹ con – cha không thể biện hộ, cha đã bỏ bà ấy khi bà ấy đuổi cha đi – nhưng có một điều cha muốn con biết và tin. Cha ắt sẽ không để con lại đó. Cha ắt sẽ không bỏ rơi con. Cha thề bằng tính mạng mình.”

    “Con rất mừng,” Zenia thì thầm. “Con luôn vui mừng vì cha là cha của con.”

    “Cha ước – con không bao giờ nghĩ tới chuyện viết thư cho cha sao?”

    “Ồ, không!” Zenia lắc đầu. “Không có thứ gì ra khỏi Dar Joon mà qua được mắt mẹ.”

    Mắt ông hơi nheo lại. “Con sợ bà ấy.”

    Zenia khẽ nhún vai. “Mẹ không thích bị trái ý.”

    Ông nắm hai bàn tay cô hồi lâu. Rồi ông lên tiếng, “Con không phải sợ nữa.” Ông lấy cây can chọc vào nóc xe, người xà ích liền nhảy xuống xe và mở cửa.

    ***

    Vợ ông nhất định bắt Zenia gọi mình là Marianne. Bà ít nói và thanh tao, với một vẻ mong manh trong suốt. Bà có phong cách dễ thương, dịu dàng không che giấu sự chào đón niềm nở dành cho cô con gái ngoài giá thú của chồng mình.

    Zenia khó có thể ngừng nhìn bà, mê mẩn. Cô không thể tưởng tượng có người phụ nữ nào khác biệt với mẹ cô đến thế. Cha cô hơi có khuynh hướng che chở vợ, hai lần hỏi bà có cần khăn san không. Zenia gặp người em trai cùng cha khác mẹ của mình, một Michael khác, một thiếu niên sôi nổi mười sáu tuổi bắt tay cô một cách hồi hộp, hỏi cô về chính phủ ở Ai Cập, và nói nửa tiếng đồng hồ về chính trị Châu Âu cho đến khi cha cậu xua cậu đi với một tiếng cười lúng túng, khuyên cậu hãy làm xong bài tập tiếng Latin trước bữa trà.

    Zenia cảm thấy như trong mơ. Cô được chào đón trong ngôi nhà trên đường Bentinck; mọi người tiếp đón cô cực kỳ nồng hậu, như thể có một chỗ trống, và cô vừa vặn lấp đầy nó. Không ai hỏi quá những điều bình thường về chuyến đi của cô, và Marianne thậm chí bộc lộ sự thương cảm kín đáo đối với cái chết của mẹ cô.

    Không có dấu hiệu của những đứa trẻ khác, và Zenia dần dần hiểu ra, mà không cần được nói, rằng chúng đã qua đời. Khi Marianne dẫn cô lên phòng ngủ, rõ ràng nó từng thuộc về hai cô bé. Có hai chiếc giường với gối thêu và vải trải giường viền đăng ten, và hai bức vẽ nhỏ trang trí ruy băng treo trên tường mỗi đầu giường.

    Marianne dừng lại trước khi đóng cửa. “Con phải tin khi ta nói ta mừng vì con đã đến với chúng ta,” bà dịu dàng nói. “Michael luôn yêu các con trai của ta từ cuộc hôn nhân đầu tiên, và ta mừng được yêu thương con, vì ông ấy và vì con.”

    “Cảm ơn dì,” Zenia nói một cách ngốc nghếch.

    “Cảm ơn con,” Marianne nói, “đã đến với chúng ta. Ta hy vọng con sẽ quyết định ở lại. Điều đó sẽ làm cha con rất hạnh phúc.”

    ***

    Trong phòng ngủ của vợ ông, Michael Bruce đứng chắp tay sau lưng, nhìn đăm chiêu xuống khu vườn mùa thu cằn cỗi sau nhà. “Anh không biết phải làm thế nào,” ông nói. “Anh không biết, Mari ạ.”

    “Không có gì nghi ngờ rằng cô bé là con gái anh,” vợ ông nói, với nụ cười nhẹ. “Những đường nét của nhà Bruce rất rõ ràng.”

    “Thật ư?” Ông quay lại, cau mày. “Nhưng – con bé là người đẹp nhất anh từng trông thấy trong đời.” Rồi ông nhăn mặt. “Tất nhiên là ngoài em ra. Lời nói của tinh thần hiệp sĩ muộn màng!”

    “Em bảo rồi mà,” Marianne tựa người vào giường.

    Ông cười trêu chọc. “Có cần tâng bốc không, em yêu? Sau từng ấy năm qua?”

    “Sao em lại không lấy làm tự hào vì đã chinh phục được Mr. Bruce ưu tú chứ?” bà nói dịu dàng. “Anh là người đàn ông tài ba, và con gái anh là viên kim cương ở nước đầu tiên. Khi chúng ta khôi phục lại vẻ ngoài của con bé, và làm nó đỡ gầy gò, con bé sẽ xinh đẹp hơn hết thảy.”

    “Nếu thế giới nghĩ vậy, thì cầu Chúa cho nó khôn ngoan hơn anh hồi ở tuổi nó,” ông nói. “Con bé chắc đã hai lăm tuổi, Mari! Và rất gầy đúng không? Anh mong là nó không bị ốm.” Ông đi vòng quanh phòng, rồi dừng lại, ngồi xuống giường bên cạnh bà. “Em có một kẻ điên thay vì một người chồng. Vì ba ngày vừa qua anh là một kẻ điên. Hẳn là em nghĩ - ” ông ngừng lời.

    Bà đặt tay lên tay ông. “Michael. Không sao đâu.”

    “Nhưng mang con bé về đây, Mari; bắt em và con trai chúng ta chấp nhận nó.”

    “Con bé là con anh cũng như Michael vậy. Em chỉ cần nhìn con bé là thấy được điều đó.” Bà siết những ngón tay ông. “Em đã bao giờ ghen tuông đâu nào? Anh đã kể cho em tất cả từ lâu. Đó là một trong những điều em ngưỡng mộ ở anh, là anh không tìm cách che giấu nó. Em sẽ thú nhận, rằng em đã hơi sợ - ” Bà nhún vai. “Em đã nghĩ con bé có thể sẽ giống mẹ nó hơn. Nếu vậy em không chắc em có thể yêu nó, dù em ắt sẽ cố gắng. Nhưng con bé không thế, Michael. Nó là con anh. Và như vậy là đủ đối với em. Với lại - ” Bà cuộn những ngón tay quanh lớp vải trải giường. “Em vẫn nhớ tiếng nói của con gái trong ngôi nhà.”

    Ông nghiêng người hôn bà. “Anh không xứng đáng với lòng tốt của em.”

    “Có lẽ là không,” bà vỗ nhẹ má ông, “nhưng chúng ta đang nói về cô con gái ngây thơ của anh.”

    Ông thoáng chau mày. “Không ngây thơ lắm đâu. Đã lớn và kết hôn rồi,” ông nói. Ông ngẩng lên, hướng ánh mắt vô định ra cửa sổ. “Thật hết sức kỳ quặc. Anh đã đi tìm hiểu – Mari, em có biết anh chàng Winter này là ai không? Người thừa kế của Belmaine, trời đất!”

    “Belmaine! Ôi, chắc chắn anh đã lầm.”

    “Không đâu. Có thông tin ở bộ ngoại giao. Arden Mansfield, Tử tước Winter. Con trai độc nhất của bá tước Belmaine. Bị giết trong một cuộc nổi loạn ở Ả Rập – báo cáo gửi về từ Cairo, cùng trong chuyến xe thư với bức thư mà bà Smith gửi cho anh.”

    Vợ ông ngồi yên lặng, mân mê vải trải giường. “Nhưng con bé không nói gì?”

    “Không một lời. Anh chẳng biết gì ngoài những điều Mrs. Smith viết. Nhưng Mari – ông ta đã ở đó. Belmaine. Trên bến tàu. Ông ta không tiến lên. Ông ta để cho anh đón con bé.”

    “Vậy là họ không chấp nhận.”

    Ông lắc đầu. “Làm sao họ có thể chấp nhận? Con bé - ”

    ‘Là con cháu của hai vị thủ tướng và bao gia đình quý tộc,” Marianne nói chua chát. “Họ khó có thể phàn nàn về dòng dõi của con bé, dù ngoài giá thú hay không.”

    “Nhưng tại sao nó lại tìm đến anh? Chắc chắn cậu ta đã bảo con bé đi gặp cha mẹ mình nếu nó bị bỏ lại một mình.”

    “Có lẽ con bé muốn đến chỗ anh hơn, Michael.”

    “Nhưng Belmaine! Con bé thậm chí không bắt chuyện với ông ta. Anh không nghĩ nó biết ông ta là ai.”

    “Làm sao biết được? Nó không thể gặp ông ta từ trước, không hơn gì anh. Đứa trẻ tội nghiệp bị quẫn trí. Em sẽ phải mời Mrs. Smith và anh trai bà ấy đến dùng bữa tối. Chúng ta phải cảm tạ bà ấy.”

    “Đúng vậy,” ông lơ đãng đồng ý. “Và ai đã làm lễ cưới cho chúng, Mari? Ở đâu? Sẽ không phải là việc dễ dàng, khi làm lễ kết hôn Thiên Chúa Giáo ở một đất nước theo đạo Hồi – một lễ cưới như thế mới là hợp pháp ở đây.”

    “Em đọc báo thấy nói rằng có một mục sư người Mĩ ở đám tang mẹ con bé,” Mariane khẽ nói.

    Ông liếc nhìn bà. Cái chết của người đàn bà nơi sa mạc không hề được nhắc đến trong ngôi nhà trên đường Bentinck, dù báo chí ngập tràn tin tức và tiểu sử về Lady Hester Stanhope. “Phải,” ông nói, cầm tay bà. “Anh cũng đã đọc.” Ông mím chặt môi. “Anh cho rằng người ta không bao giờ vượt qua được quá khứ của mình.”

    “Không khi mà nó đang di chuyển trên lầu,” bà gượng gạo đáp.

    “Tình yêu của anh, chuyện đó tồi tệ hơn em nghĩ.” Ông thở dài, rồi căng mặt. “Anh chưa nói với em tất cả trong lá thư đó. Con bé – đang mang thai.”

    “Đó là kết quả tự nhiên của hôn nhân.”

    “Em yêu, em không hiểu ư?” Bất thần ông đứng dậy. “Anh không nghĩ con bé đã kết hôn. Và anh không nghĩ là Belmaine cũng nghĩ thế.”
     
    Levananh, iusach, dakedo and 3 others like this.
  20. song vang

    song vang Lớp 7

    CHƯƠNG 11​


    “Úi chà!” cậu Michael trẻ thốt lên, khi chiếc bánh Giáng Sinh rực rỡ, được trang trí bằng cây nhựa ruồi, do Marianne tự tay bê ra, người hầu gái chỉ đỡ nhẹ chiếc đĩa gỗ bên kia. “Giờ chị sẽ nến thử một món đảm bảo chị sẽ thích mê, Zenia!”

    Cây nhựa ruồi và các cây cỏ hiện diện khắp ngôi nhà. Các phòng thơm phức mùi thức ăn và bánh nướng và mùi cây thường xanh, Marianne và Zenia đã mô phòng theo tạp chí cách Nữ Hoàng mừng Giáng Sinh ở lâu đài Windsor, gói kẹo bonbon trong những mảnh giấy bạc sột soạt và nơ treo trên những cành cây nhỏ. Họ sẽ có một kỳ nghỉ lễ yên tĩnh năm nay, Marianne bảo, chỉ có đồng nghiệp của Papa là Mr. Jocelyn, một luật sư ở trường Đại học Dân sự luôn đến ăn bữa tối Giáng Sinh – nhưng với Zenia nó thật huy hoàng.

    “Một chiếc bánh Giáng Sinh,” cô nói đầy tôn kính, ngắm chiếc bánh hình bán nguyệt hoàn hảo, lấp lánh những lánh lửa xanh cuối cùng, đặt trước mặt cha cô.

    “Ngâm từ tháng Mười đấy!” Marianne nói. Bà xoay cái đĩa, điều chỉnh thật kỹ càng, rồi đưa cho chồng con dao. “Miếng đầu tiên là của Zenia,” bà nói, cầm tay ông đặt vào nhát cắt đầu tiên.

    Ông vừa cười vừa nhăn nhó liếc bà. “Anh nghĩ là anh hiểu ý em.” Ông cắt vào chiếc bánh, rồi di chuyển con dao. “Đây phải không?”

    “Bên kia,” Marianne điềm tĩnh nói, và ông nghe lời bà. Khi ông xúc miếng bánh ra, một đồng bạc từ trong những mẩu vụn rơi xuống.

    “Điềm may mắn!” cậu Michael kêu to, chồm người về phía trước trong ghế. “Chị ấy có được đồng bạc! May mắn đã thuộc về Zenia!”

    “Quả thật là may,” Mr. Jocelyn vui vẻ nói. Ông trẻ hơn cha cô, với đôi mắt nâu thông minh hay cười. Zenia cảm thấy thoải mái với ông ngay lập tức.

    Cha cô nháy mắt với ông khi đưa đĩa qua. “Chúc mừng Giáng Sinh, mừng năm mới may mắn và hạnh phúc! Hãy thật tử tế với món sốt đấy, Michael.”

    Zenia cắn môi, phấn khích dán mắt vào chiếc bánh khi cậu Michael thả một tảng sốt bồng bềnh lên trên. Cô biết họ đã sắp xếp để cô nhận được đồng tiền, nhưng việc đó không quan trọng. Nó khiến mọi thứ tốt hơn.

    Cậu Michale đặt đĩa trước mặt cô. Mọi người yên lặng nhìn. Zenia ngước lên với nụ cười run run, và xúc một dĩa bánh kèm sốt.

    Cô suýt nghẹn. “Phù!” Cô bịt tay lên miệng, cười và nhăn mặt. “Ôi, không! Ôi không! Thật kinh khủng!”

    Tất cả rên lên. “Kinh khủng!” Mariane kêu, thảy cho cô một cái bánh quy giòn, nhổ những mẩu giấy sáng màu và vụn bánh ra bàn.

    “Con sẽ ăn!” Michael nói, kéo đĩa của cô về chỗ mình và làm một miếng lớn. Cậu đảo mắt trong vẻ thỏa mãn quá mức. “Hoàn hảo! Ngon tuyệt! Rất bổ dưỡng!”

    Zenia nhặt một chiếc kẹo cạnh đĩa của mình ném vào cậu ta, cười vang khi cú ném làm cậu ta rụt lại.

    “Chị sẽ lấy lại đồng bạc của chị,” Zenia nói, cầm món đồ lưu niệm lên và phủ những vụn bám khỏi nó.

    “Vậy thì chị cứ việc giữ đồng xu cũ kỹ ngu ngốc ấy,” Michael vui vẻ nói. “Nếu chị chẳng có khiếu thưởng thức mà chê chiếc bánh Giáng Sinh nhà em là kinh khủng! Đồ úng não!”

    Zenia lo lắng liếc sang Marianne, hy vọng mẹ kế của cô không bị tổn thương, nhưng Marianne đang mỉm cười, sắc mặt hồng hào. Bà đã bị chứng thấp khớp hành hạ không lâu sau khi Zenia đến, và Zenia vui mừng được làm chân chạy việc và làm mọi thứ có thể. Những tuần ốm nghén đã khiến Zenia cảm thấy thoải mái hơn. Được hữu ích. Cô quen phục vụ, và vui mừng được chăm sóc một bệnh nhân dễ tính. Cô thích nghĩ cho Marianne hơn những gì đang xảy ra với bản thân mình.

    Chiếc váy đen kinh khủng ở Suez đã bị thay thế, nhưng Zenia vẫn mặc màu đen, và người thợ may đến nhà đã đưa ra lời tư vấn thiết thực về một phong cách có thể dễ dàng giải quyết vấn đề ở vòng eo. Không có lời đề cập nào khác về tình trạng của cô. Thỉnh thoảng cô ngẩng lên khỏi việc khâu vá hoặc viết thư hộ Marianne và thấy cha đang nhìn mình, vẻ mặt sầu muộn, nhưng ông luôn mỉm cười ngay tức khắc, với một sự ấm áp khiến cô cảm thấy những sợ hãi của mình lắng xuống.

    Cô chọn không nghĩ đến nó. Cô chọn chỉ sống cho hiện tại, với cây nhựa ruồi và những món quà Giáng Sinh, lắng nghe chăm chú những người hát mừng đến gõ cửa, và đắm mình trong niềm vui được rót rượu punch nóng cho họ. Cô hát một bài song ca được Mr. Jocelyn dạy khi ông chơi đàn dương cầm và hòa theo bằng giọng nam trung khỏe khoắn. Cô thua trong trò chơi thưởng phạt, và thắng ở trò Có và Không, Thế nào và Khi nào và Ở đâu, và diễn kịch câm. Ở vòng cuối cùng, đúng lúc chuông nhà thờ ngân nga báo mười lăm phút nữa là nửa đêm. Cậu Michael diễn vai con lạc đà. Zenia không thắng; cô khiến mình cười thật giòn giã, rồi nói cô phải lên lầu để lấy khăn san.

    Trong phòng mình, cô quàng khăn san lên vai và ngồi xuống, nghịch hai đầu khăn, buộc chúng thành nút rồi lại tháo ra.

    “Đừng khóc,” cô thì thầm với chính mình, nhìn đăm đăm vào những viên than sau tấm chắn lò sưởi. “Đừng khóc!”

    Cô không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, đến khi cô nghe thấy tiếng chân của cậu bé Michael đi lên lầu ngang qua cửa phòng cô. Một lát sau, cha cô gõ nhẹ cánh cửa. Zenia ngẩng lên và riết chiếc khăn quanh người khi ông bước vào.

    “Không cần đứng dậy,” ông ôn tồn nói. “Đã quá giờ đi ngủ rồi.”

    Ông đóng cánh cửa sau lưng lại. Cô ngồi im, hết buộc lại tháo chiếc khăn. Cha cô bước đến chỗ tấm chắn lò sưởi và đứng quay lưng lại nó. Ông có vẻ lúng túng, như thể ông đã quên vì sao mình đến đây.

    “Đây là một lễ Giáng Sinh tuyệt vời,” Zenia nói. “Tuyệt vời nhất trong - ”

    “Xin con,” ông nói. “Cha biết con định cám ơn cha, nhưng nó chỉ khiến cha cảm thấy tồi tệ hơn mà thôi. Đây là lễ Giáng Sinh đầu tiên của con phải không?”

    Cô không trả lời, mà nhìn qua ông vào ngọn lửa.

    “Zenia – cha chỉ muốn con biết rằng con được chào đón ở đây. Khi đứa bé ra đời - ”

    Cô ngẩng phắt lên.

    “Phải, cha biết chuyện, Mrs. Smith đã cho cha biết. Cha không muốn tọc mạch, hoặc làm con không thoải mái. Cha chỉ muốn con biết là con có một mái nhà. Chúng ta không tham gia quá nhiều vào hoạt động giao tế nữa; bấy lâu nay cha đã không quan tâm đến chuyện đó, và Marianne - ờ, con biết tình trạng của bà ấy đấy. Hàng xóm ở đây phóng khoáng, toàn là nghệ sĩ và nhà văn và đại loại. Không ai hỏi han quá nhiều về chuyện của người khác. Cha không biết con đã dự tính gì cho tương lai của mình, nhưng - ”

    “Con sẽ ở với cha mãi mãi!” cô nói thật nhanh. “Nếu con có thể.”

    Ông hơi mỉm cười. “Mãi mãi có thể lâu hơn con nghĩ đấy, nhưng con có thể ở lại cho đến khi nào con muốn đi.” Ông nghiêng đầu. “Con vẫn còn trẻ, và có thể tái hôn.”

    Cô cúi mặt. “Cám ơn cha,” cô thì thầm.

    “Con có cho rằng,” ông nói nhẹ nhàng, “nhà chồng con nên được biết về tình trạng của con không?”

    Cô lắc đầu.

    “Vì đứa bé, Zenia?”

    Chuyện đó dường như không thực lắm đối với cô. Mrs. Smith đã nói thế, và người thợ may, và giờ là cha cô – cô cảm nhận được những thay đổi trong cơ thể mình, cứng và mềm, nhưng tất cả diễn ra quá nhanh; chúng chỉ là một phần của chuyện đó.

    “Vì Lord Winter?” ông hỏi, khi cô không trả lời. “Có công bằng với sự tưởng nhớ cậu ấy không, khi chia cắt con của cậu ấy với gia đình cậu ấy?”

    Cô cắn môi.

    Ông quỳ xuống bên cạnh cô. “Zenia – đó là con của Lord Winter đúng không?”

    “Vâng,” cô nói. Nó vang lên rõ ràng và chắc chắn hơn là cô đã tưởng.

    Một nếp nhăn hằn lên giữa đôi mày của cha cô. Ông nhìn cô hồi lâu, rồi ông hỏi, “Có phải cậu ta đã lợi dụng con? Ép buộc con?”

    “Không.” Cô nhắm mắt. “Ôi không. Anh ấy muốn con ngủ. Con sợ hãi, và anh ấy muốn con ngủ được.”

    Cô nghĩ ông sẽ hỏi thêm. Nhưng ông chỉ yên lặng quỳ bên cạnh cô.

    “Anh ấy hứa sẽ đưa con về Anh,” cô nói. Cô ngước nhìn gương mặt lo âu của cha cô. “Anh ấy đã hứa với con điều đó. Và anh ấy đã làm được.”

    Ông đặt cả hai tay lên tay cô. “Zenia – cha phải hỏi. Cậu ta có cưới con không?”

    Cô túm chặt hai đầu khăn. “Nếu anh ấy không cưới thì mọi chuyện sẽ rất khủng khiếp phải không? Con có bị đánh không? Họ có đưa con đi khỏi cha không?”

    “Không!” Ông siết tay cô. “Không, tất nhiên là không!”

    “Con đã dùng giấy tờ của anh ấy, để có vé về nhà. Và mọi người bắt đầu gọi con là Lady Winter, và giúp đỡ con, và đối xử tốt với con. Và con – con biết làm gì được? Con không có nơi nào để đi – con muốn về nhà! Con muốn tìm cha! Đó là tất cả những gì con muốn, tìm được cha!”

    “Ổn cả rồi!” Ông ôm cô dựa vào vai mình, đung đưa. “Ổn cả rồi. Con gái của cha.”

    “Con không thể khóc!” Cô thốt lên, vùng ra và đứng dậy. Cô đang thở hổn hển và lo lắng. “Anh ấy sẽ không thích nếu con khóc.”

    Cha cô đứng lên. Hình dáng ông mờ mờ trước ánh lửa và bệ lò sưởi bằng đá cẩm thạch trắng. Cô nghiến chặt răng và quẹt tay lau mắt.

    “Nếu con có thể ở lại đây,” cô nói. “Nếu con có thể ở lại đây và giúp Marianne và có lễ Giáng Sinh năm sau và nói với Michael con vui mừng khi cậu ấy được nhận vào trung đoàn bộ binh, mà con chắc chắn cậu ấy sẽ được nhận, cậu ấy mong ước điều đó. Chỉ cần con có thể ở lại đây!”

    “Con có thể ở lại,” cha cô nói. “Và cha sẽ quỳ xuống cầu nguyện hàng đêm để cảm tạ Lord Winter, vì cậu ấy đã mang con đến cho cha.”

    ***

    Đã là cuối tháng Ba khi Zenia ngồi với Marianne trong phòng khách phía sau, rót nước vào một chậu hoa thủy tiên vàng rực. Cô đặt bình nước xuống sàn, thân hình nặng nề khom xuống vụng về.

    Cửa mở. Cha cô bước vào. “Zenia,” ông nói nghiêm nghị, “Con phải xuống dưới nhà, con yêu. Con có khách.”

    Vẻ mặt ông khiến tim Zenia đông cứng. Marianne đứng lên. “Ai thế, Michael?”

    “Đó là bá tước Belmaine.”

    “Trời ơi,” Marianne nói. “Con có cần ta đi cùng không?”

    Zenia đứng lên. Cô nhìn cả hai một cách lo lắng. “Bá tước Belmaine là ai vậy?” cô dè dặt hỏi.

    Cha cô mỉm cười với cô, một nụ cười ấm áp đột ngột. “À, ông ta mà nghe con hỏi câu đó,” ông nói. “Có thể ông ta sẽ bị choáng nhẹ đấy. Ông ta là cha của Lord Winter, con yêu. Con không cần phải sợ ông ta. Cha sẽ ở cạnh con, và Marianne sẽ đi cùng nếu con muốn.”

    Zenia nhìn sang Marianne, người đang có một tuần lễ khó khăn. “Không. Dì không được xuống dưới nhà. Nếu Papa đi với con…”

    “Cha sẽ ở đó,” cha cô nói, giữ cửa mở.

    ***

    Một người đàn ông cao lớn đang đợi trong phòng giấy của cha cô, một dáng hình quý phái đứng bên những tấm rèm kéo cao, ánh nắng mùa đông chiếu sáng một đường cong của gò má và vầng trán khiến Zenia giật mình, sự giống nhau lớn đến mức đánh sập mọi sự đĩnh đạc cô cố gắng gom được trở thành hoang mang. Cô đứng trước cửa, thất thần.

    Ông ta nhìn cô chằm chằm trong một khoảnh khắc kéo dài, căng thẳng, đủ lâu cho cô nhận ra ông cao ngạo hơn con trai mình, đôi mắt ông xanh nhưng lạnh lùng hơn, nước da nhợt nhạt và dáng người thẳng đứng cứng đơ, mái tóc đen điểm vài sợi bạc. Ông nhìn thẳng vào phần eo cô không chút xấu hổ, với vẻ nghiêm nghị lạnh lẽo, rồi chuyển ánh mắt lên mặt cô.

    “Tôi muốn nói chuyện riêng với cô ta,” ông nói.

    “Con gái tôi đã yêu cầu tôi ở lại với nó,” cha cô trả lời. “Zenobia, đây là Lord Belmaine. Belmaine – đây là con gái tôi.”

    “Lady Winter,” bá tước chào vẻ châm biếm. “Hoặc là tôi được thông tin như vậy.”

    “Cho phép tôi làm rõ một việc.” Cha cô nói bằng một giọng mềm mỏng và nguy hiểm, giọng nói Zenia chưa từng nghe ông sử dụng trước đây. “Tôi sẽ không chấp nhận bất cứ sự khiếm nhã hay bóng gió nào nhằm vào con gái tôi trong nhà của tôi. Con bé sống với tôi. Con bé không đòi hỏi gì ở ngài.” Ông kéo một chiếc ghế cho Zenia, đặt nó gần lò sưởi. “Ngài mới là người chủ động đến gặp nó.”

    Zenia ngồi xuống, tựa thân mình vào hai tay ghế. Hai cánh mũi bá tước hơi phập phồng. Ông ta nhìn cô như thể sắp ăn tươi nuốt sống cô – giận dữ, gần như đói khát.

    “Ồ,” ông nói với Zenia. “Cô có giấy kết hôn không? Sổ ghi chép? Người làm chứng?”

    “Không,” cô đáp.

    Ông quay phắt đi và đứng nhìn một giá nến trên tường, hai tay chắp sau lưng. “Không,” ông lẩm bẩm. “Mỗi ‘không’!” Ông nhìn chằm chằm cái giá nến. “Cô đã sử dụng tên của con trai ta.”

    Zenia không nói gì, xấu hổ với sự lẩn tránh của mình. Đó là những lời nói dối, cho dù cô không tự mình nói với họ.

    “Cô có nhìn thấy nó chết không?” Lord Belmaine hỏi cái giá nến trên tường.

    “Không. Anh ấy đặt tôi lên một con lạc đà với một sĩ quan Ai Cập, rồi chạy đi lấy khẩu súng trường, và tôi không nhìn thấy anh ấy nữa, bởi vì người Ai Cập đã đưa tôi đi trước.”

    Mắt bá tước nheo lại. ‘Cho ta biết tên con ngựa nó đi tìm.”

    “Chuỗi Ngọc Trai.”

    “Và cái tên giả nó sử dụng?”

    “Abu Haj Hasan, người Moor.”

    “Và nơi người ta bắt nó?”

    “Hayil, ở Nejd.”

    Lord Belmaine quay lại. “Vậy là cô đã ở với nó. Cô là vị nữ hoàng lố bịch của nước Anh. Ta đã điều tra; ta có những bức thư từ các lãnh sự ở Beyrout và Cairo. Mọi văn phòng chính phủ từ đây đến Calcutta đang xôn xao bàn tán chuyện đó; đứa con hoang của Hester Stanhope, ở với một đám người Bedouin bẩn thỉu trong mấy túp lều!” Ông liếc sang cha cô. “Con của Hester Stanhope – và ông.”

    “Con gái tôi, Belmaine. Ở dưới sự bảo vệ của tôi.”

    “Tôi không quan tâm đến con gái ông, Bruce, trừ phi nó đang mang thai đứa con của con trai tôi! Và nếu đúng thế - thì nó ở dưới sự bảo vệ của tôi. Tôi đã đợi. Tôi cứ nghĩ sẽ có một ả đàn bà hư hỏng đến lừa phỉnh tôi. Tôi đã cho theo dõi ngôi nhà này. Mấy tháng qua tôi đã đợi. Con trai tôi! Con trai tôi đã chết, và tôi cứ đợi. Nhưng cô không đến? Cô không đến đòi tiền. Có đúng là con của nó không?” Ông quay đi và ngồi xuống, giọng run run. “Đây có phải chỉ là trò chơi để làm tôi phát điên không?”

    Zenia nhìn mái đầu cúi gục của ông. Cô nói, “Có lẽ ngài sẽ không tin vào sự thật.”

    Ông ngẩng lên.

    “Tôi đã ở với Lord Winter,” cô nói lạnh lùng. “Một đêm, khi cả hai chúng tôi đều biết chúng tôi sẽ bị hành hình vào lúc bình minh. Tôi chưa từng ở với người nào khác. Anh ấy là cha của con tôi.”

    Con tôi. Đó là lần đầu tiên cô nghĩ về nó như thế. Chỉ của riêng cô thôi. Cô cảm nhận được người đàn ông này muốn nó, và một cơn sóng sở hữu mãnh liệt dâng lên trong cô. Cô phải đan chặt hai tay vào nhau trên ghế để không ôm lấy thân mình cùng với đứa bé trong bụng.

    “Tôi không có bằng chứng,” cô nói, trước khi ông ta có thể hỏi. “Tôi không có bằng chứng nào cả. Nhưng tôi không phủ nhận sự thật trước ngài, vì Lord Winter là con trai ngài.”

    Ông nhìn xoáy vào mắt cô một lúc lâu, mắt ông cũng mang màu sắc tương tự, nhưng nhạt hơn.

    Đột ngột ông đứng dậy. “Cô không có giấy tờ kết hôn,” ông nói bằng giọng đanh thép. “Chúng đã bị thất lạc.” Ông nhìn cha cô. “Ông hiểu ý tôi không, Bruce? Chúng đã thất lạc trong sa mạc. Tôi cảm thấy chúng sẽ được tìm về. Tôi sẽ dùng hết sức để tìm chúng. Tôi sẽ dùng mọi nguồn lực trong tay để chúng được tìm thấy. Ông hiểu không?”

    Cha cô đặt tay lên vai cô, bóp nhẹ. “Zenia?”

    Cô mở miệng toan nói rằng chẳng có giấy tờ kết hôn nào để mà tìm – nhưng Lord Belmaine đang cau mày nhìn cô với quai hàm nghiến chặt, hết sức cau có.

    “Madam,” ông nói. “Đừng lên tiếng. Tôi ngưỡng mộ tính thận trọng. Tôi ngưỡng mộ sự trung thực. Nhưng trước khi cô nói, tôi đặt cho cô một câu hỏi về một nguyên tắc thiết yếu cao hơn. Hơn bất cứ ai cô ắt phải biết làm một đứa con hoang thì như thế nào. Cô có khả năng cho con cô mang họ của cha nó, tên họ hợp pháp và nơi ở - hoặc tước bỏ của nó.” Ông đứng thẳng tắp, hai tay chắp sau lưng. “Madam – Lady Winter – tôi không muốn cô nói dối tôi. Tôi tin rằng cô đã cưới con trai tôi, và cô đã làm mất giấy tờ kết hôn, và chúng sẽ được tìm thấy trong tình trạng nguyên vẹn. Tôi tin như thế. Tôi sẽ hành động dựa trên niềm tin ấy. Tôi chỉ yêu cầu cô điều đó, vì đứa bé, vì tương lai của nó – làm ơn – đừng nói năng thiếu sáng suốt.”

    Con tôi. Cô nghĩ đến mẹ mình, đến cuộc sống của cô, về nỗi xấu hổ và bất lực. Cô quay đầu nhìn lên cha cô. Ông nhìn cô điềm tĩnh, một hình ảnh phản chiếu của bức họa cô đã mơ đến cả cuộc đời. Ông đã nói cô có thể ở lại chừng nào cô muốn. Nhưng tương lai đang ập đến, một cách tàn nhẫn.

    Con tôi. Không tên họ, giống như cô. Không có cha.

    “Không,” cô thì thầm. “Tôi sẽ không nói năng thiếu sáng suốt.”

    ***

    Đứa trẻ chào đời ở Swanmere, trong một căn phòng xanh thiếp vàng đượm mùi thời gian, với một bác sĩ và hai bà đỡ hỗ trợ xung quanh, và Lady Belmaine đứng bên giường như một bức tượng oai nghiêm khi Zenia toát mồ hôi và thở dốc và cảm thấy cơ thể mình bị xé ra từng mảnh. Tuy nhiên, cô vẫn giữ cho mình mở mắt và nhìn Lady Belmaine, thẳng đuỗn và nghiêm trang, mái tóc chải mượt như đôi cánh bồ câu, gò má cao trắng như vải linen, cái miệng đẹp không nở một nụ cười.

    Zenia không la hét, cho dù họ bảo cô nên làm thế. Cô không rên rỉ. Cô là người Bedu, tộc el-Nasr, Selim. Cô đã vượt qua miền cát đỏ. Cô sẽ không để cho Lady Belmaine nhìn thấy cô sụp đổ.

    Một cơn đau trào dâng và sau đó là những tiếng kêu rối rít: những mệnh lệnh và lời khuyên mà cô không nghe được. Tất cả những gì cô nghe thấy là, Đừng khóc, mẹ kiếp; tất cả những gì cô trông thấy là Lady Belmaine; mọi cảm giác của cô là sự đau đớn.

    “Là một bé gái,” ai đó nói từ một nơi nào đó.

    Và trong im lặng Zenia nghe thấy đứa bé bắt đầu ho và khóc.

    “Xin chúc mừng,” một trong các bác sĩ nói hồ hởi. “Một em bé khỏe mạnh xinh đẹp. Nước da hồng hào; buồng phổi rất tốt.”

    Miệng Lady Belmaine mím lại. Bà nhìn xuống Zenia, một vẻ sốt ruột ngắn ngủi lướt qua mặt bà và xuống tới hai bàn tay nắm chặt. “Ta sẽ báo cho Belmaine,” bà nói, quay đi.
     
    Levananh, njkjdream, Breeze and 3 others like this.

Chia sẻ trang này