Nguyễn Đăng Mạnh Viết về Nguyễn Tuân Trong cuốn Hồi Kí của mình

Thảo luận trong 'Tủ sách Tuỳ Bút - Biên Khảo' bắt đầu bởi Foli, 3/10/13.

  1. Foli

    Foli Lớp 10

    Nguyễn Tuân

    Từ nhỏ tôi đã đọc Nguyễn Tuân trong kho sách của bà chị cả tôi. Tất
    nhiên chẳng hiểu gì lắm! Nhưng cũng muốn bắt chước chủ nghĩa xê dịch của
    Nguyễn Tuân: thích lang thang ngắm trời, ngắm đất.Thời kháng chiến chống
    Pháp, một mình đi trên đường Việt Bắc, lội suối, leo đèo, rất khoái – thực sự
    cảm thấy cái khoái “Đường vui” của Nguyễn Tuân quả là có thật. Hồi về Hà
    Nội học Đại học Sư phạm (1957), tôi có lần dắt xe đạp thử đi suốt đêm ở Hà
    Nội, từ phố này sang phố khác, bắt chước Nguyễn Tuân làm “Một người lữ
    hành trong thành phố chúng ta”, xem Hà Nội sinh hoạt về đêm như thế nào,
    thưởng thức những tiếng rao đêm có giọng điệu riêng của các hàng quà rong
    xuất hiện rất đúng hẹn cho mỗi thời khắc.
    Tôi chính thức được tiếp xúc với Nguyễn Tuân khi dạy ở Đại học Sư
    phạm Vinh. Trường Vinh cử tôi ra đón Nguyễn Tuân vào nói chuyện về ký
    chống Mỹ. ấy là vào năm 1965, 1966 gì đó.
    Xe đi từ sáng sớm, nhưng đến cầu Khuất thì phải dừng lại rất lâu. Cầu
    sắt bị phá. Người ta bắc cầu phao. Nhưng buổi sáng người ta phải dỡ phao cho
    thuyền bè qua lại. Vì thế mãi đến trưa xe mới đến đồi Kim Tân. ở đây có một
    hàng bán miến gà. Xe dừng lại để ăn trưa. Nguyễn Tuân không ăn, tuy tôi bảo
    nhà hàng làm cho một bát miến gà đặc biệt (Hồi chiến tranh chỉ có loại miến
    làm bằng bột đao, nhưng vào thời ấy, thế là đã sang lắm rồi). Ông lấy trong túi
    ra gói cơm nắm, xắt ra mấy lát, ăn với ruốc. Sau đó lấy bi đông rượu rót ra cái
    nắp uống.
    Trong cuộc đi này, tôi thấy Nguyễn Tuân biết rất nhiều chuyện, nào là
    các làng nghề chung quanh Hà Nội (làng này chuyên chữa kính, làng kia
    chuyên cắt tóc, làng nọ chuyên làm thợ may...), nào là những nhân vật có tiếng
    ở xã này, huyện nọ, nào là những chuyện vui thời kháng chiến chống Pháp trên
    đường số 6 từ khu Ba lên Việt Bắc... Và ông hay đố chữ. Nhờ Nguyễn Tuân
    hôm ấy tôi mới biết được, tiết canh đánh giỏi là “tiết canh xâu lạt”, người theo
    đạo Thiên chúa mà bỏ đạo, gọi là “dở người”. Thí dụ “ông tôi đã dở người”,
    “Nam Cao đã dở người”...
    Trường Đại học Sư phạm Vinh lúc ấy sơ tán ở huyện Thạch Thành,
    tỉnh Thanh Hoá. Khi xe chúng tôi về đến nơi, thấy Ban Giám hiệu đều có mặt ra
    đón long trọng lắm, sau đó bầy tiệc lớn chiêu đãi. Tôi thấy Nguyễn Tuân không
    có vẻ mặn mà gì, ông chỉ gắp vài miếng trứng tráng.
    Từ hiệu bộ, tôi đưa Nguyễn Tuân về khoa văn ở một địa phương gọi là
    Thạch Yến. Trần Văn Hối, phó chủ nhiệm phụ trách sinh hoạt, thủ sẵn một chai
    vang ngoại đợi Nguyễn Tuân vào thì đưa ra. Trông thấy chai vang, Nguyễn
    Tuân nói: “Rượu đàn bà, uống làm gì!”. Hối cụt hứng, buồn quá!
    Hồi ấy Nguyễn Tuân rất nổi về những bài ký chống Mỹ viết về những
    tên giặc lái tàu bay bị bắn cháy, bật dù xuống đất và bị nhốt ở các trại giam.
    Chúng tôi mời ông vào để nói chuyện về những bài ký ấy. Giữa buổi nói
    191
    chuyện, sinh viên nhờ tôi đề nghị ông nói về Vang bóng một thời. Tôi lựa lời
    nói với Nguyễn Tuân. Ông hình như không thích thay đổi bài nói đã chuẩn bị,
    cứ tiếp tục nói về ký chống Mỹ. Tôi nài thêm lần nữa, ông mới thủng thẳng nói
    mấy câu: “Tôi đọc lại Vang bóng một thời, tôi thấy phục tôi quá! Tôi nhớ ngày
    trước tôi làm gì có quan điểm lao động, thế mà tôi lại ca ngợi những người thợ
    mộc Tràng thôn lên sửa đền cho thánh Tản viên. Hồi ấy tôi cũng chưa lên núi
    Tản Viên, Ba Vì, kháng chiến mới có dịp tới. Vậy mà sao tôi tả đúng thế”. Rồi
    ông cười hóm hỉnh: “ấy nói thế người ta lại bảo nhà văn không cần đi thực tế
    thì chết” (Nguyên Ngọc cho rằng, nếu Nguyễn Tuân lên núi Tản Viên trước khi
    viết Trên đỉnh non Tản thì có khi lại viết hỏng)
    Từ lúc bị Nguyễn Tuân từ chối chai vang, Trần Văn Hối bèn sục tìm
    trong làng kiếm được một chai cuốc lủi, lặng lẽ đặt ở nơi nghỉ của ông. Lúc ông
    rời Thạch Thành, chai rượu vẫn còn nguyên. Ông có rượu riêng đem đi, không
    uống tạp như Nguyên Hồng, Hoàng Trung Thông hay Đoàn Phú Tứ...
    Bữa tiệc cuối cùng khoa văn tiễn ông có nhiều rau tươi: xà lách xanh
    non, cà chua, ớt màu đỏ. Nguyễn Tuân có vẻ thích. Ông khen bữa ăn rất đẹp.
    Ông kể chuyện từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó
    ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục
    vừa thanh, vừa có vị chát của nhựa sen vừa có hương thơm của hoa sen.
    Tôi nghĩ bụng, thịt chó mà dám cho vào toà sen, lão sư nào mà hỗn thế.
    Nhưng vừa ăn vừa nghĩ đến cái tục cái thanh của nó, chắc cũng thú.
    Lần thứ hai, tôi được gặp Nguyễn Tuân là vào mùa thu năm 1967.
    Cũng là tình cờ thôi. Tôi ra Hà Nội, có việc đến Nhà Xuất bản Văn học (49
    Trần Hưng Đạo) và gặp Nguyễn Tuân ở đó. Hình như ông đến làm việc với Nhà
    Xuất bản về việc in một tập ký chống Mỹ thì phải (Nghe nói NXB đề nghị loại
    bỏ bài Tờ hoa, còn ông thì nhất định đòi giữ lại, không in thì thôi).
    Dịp may hiếm có, tôi đề nghị được gặp ông. Ông đồng ý, không tỏ vẻ
    khó khăn gì cả.
    Tôi hỏi ông về những tác phẩm gần đây của ông, về quan niệm và cách
    viết của ông.
    Ông nói liền một mạch, rất sôi nổi:
    - Người ta viết văn, giảng văn, nói đã nhiều về tư tưởng, về đạo đức.
    Điều ấy không phải không cần. Nhưng tôi muốn giúp độc giả nâng cao trình độ
    thẩm mỹ, đem đến cho họ cảm xúc về cái đẹp. Đó là điều băn khoăn của tôi. Tôi
    cung cấp cho họ những gợi ý bằng những suy nghĩ của tôi. Còn họ phản ứng
    thế nào, tuỳ.
    - Về độc giả, tôi không quan niệm là công nông hay trí thức mà chỉ chú
    ý phục vụ con người mới, có tư tưởng mới, có văn hoá, có trí thức. Bao giờ độc
    giả được tất cả như thế, tôi không biết, nhưng nhất định sẽ như vậy, tôi rất tin
    điều đó.
    - Về kinh nghiệm viết văn?
    Tôi cho tác phẩm văn học mà không tạo ra được cái atmosphère thì
    không có giá trị gì. Cái atmosphère nó làm cho cùng một hiện tượng, cùng một
    192
    sự việc mà thành màu sắc xanh đỏ tím vàng khác nhau. Cái chi tiết nước sông
    Hồng dâng cao trong bài “Hà Nội giải tù Mỹ qua phố Hà Nội” là cái chi tiết
    tạo không khí như thế.
    Kinh nghiệm tạo không khí là phải có quan điểm lịch sử, quan điểm
    địa lý, quan điểm thiên nhiên, có óc tưởng tượng mới tạo ra được.
    Bài Nguyễn Văn Trỗi, tôi viết ngay khi có tin ấy. Tôi muốn tạo ra cái
    résonnance toàn thế giới. Lúc đó tài liệu gầy guộc nghèo nàn quá, tôi phải cố
    tạo ra không khí bằng cách ngồi trước quả địa cầu và bản đồ thế giới mà tưởng
    tượng.
    Có người nhận xét tôi lan man, không phải không đúng. Nhưng bài văn
    đâu phải bản báo cáo mà phải có các mục 1, 2, 3, hay như bài rédaction, bài
    composition của học trò, cũng không phải bài thơ Đường luật có đề, thực, luận,
    kết... Nó tuỳ theo nhà văn định nói gì và cách nói của anh ta. Lan man là hiện
    tượng, nhưng nó có cái fil d’idée của nó. Nó không có hại gì về bố cục, về tư
    tưởng là được.
    Sông Đà bảo là lan man, thực ra là cái fil d’idée của nó là vấn đề giao
    thông vận tải...
    Có người lại bảo tôi là thiên nhiên chủ nghĩa không nói đến người. Thế
    thì bài Xoè của tôi bỏ đi đâu? Người ta có định kiến sẵn khi phê bình nên không
    nhìn toàn diện.
    Tôi cho nội dung không thiếu. Cái quan trọng là cách nói cho nổi cái
    nội dung đó lên, thế mới gọi là có đóng góp. Cách nói, nói thế nào là điều tôi
    băn khoăn nhiều và thế mới có ích.
    - Tôi không thích khẳng định nhiều quá... Có lối viết đưa ra kết luận rõ
    ràng, dứt khoát, có cách viết không kết luận, để tự người đọc kết luận lấy, gọi là
    lối nóng, lối lạnh. Tôi thích lối thứ hai này. Người nước ngoài thường than
    phiền văn học ta trop d’ affirmatifs, trop de superlatifs, đáng lẽ nói tốt thì lại
    nói “rất tốt”, “rất vĩ đại”..
     
  2. Foli

    Foli Lớp 10

    Khi tôi và Nguyễn Tuân trò chuyện với nhau thì cuộc tranh luận về
    thể ký còn đang tiếp tục sôi nổi trên các báo chí (1966, 1967). Tôi bèn hỏi quan
    niệm của Nguyễn Tuân về thể văn này.
    Ông nói: “- Đúng, người ta đang tranh luận về thể ký. Ký và cấu.
    Nhiều người tham gia tranh luận nhưng có viết ký đâu. Tôi thì cứ viết. Có người
    hỏi làm thế nào để viết ký cho hay, không nhạt. Tôi cho rằng phải có vốn văn
    hoá, vốn kiến thức. Người viết có nhiều dụng cụ thì đồ chế tạo nhất định phải
    tinh xảo hơn. Kiến thức lịch sử, địa lý, thiên nhiên..., rồi vận dụng các ngành
    nghệ thuật. Mà nói chung thì nghệ thuật nào chẳng phải mượn các cách của
    nghệ thuật khác để thể hiện. Khi anh không chỉ tả mặt mà còn tả cái gáy, cái
    vai, tả người cúi xuống, cái mông bóng lên, là vô tình đã phải vay mượn điêu
    khắc rồi”.
    Nói ký là bước sơ bộ của truyện, không đúng. Các thể loại văn học đều
    bình đẳng. Mỗi thể văn được chọn viết là do cái tài khác nhau. Một ký hoạ chì
    than có thể giá trị hơn một bức sơn mài lớn. Cùng một matière có thể người này
    193
    viết truyện ngắn, làm thơ, người kia viết ký. Không có tài không viết ký được.
    Ông A. France, nhà xuất bản bảo ông viết truyện ngắn. Ông ấy nói, tôi
    làm gì có thời giờ viết truyện ngắn.
    Viết truyện, phải có nhân vật. Nhân vật truyện không bị gò bó trong
    không gian, thời gian hay ước lệ sân khấu. Nhân vật truyện muốn làm gì thì
    làm, tự do.
    Ký không bắt buộc có nhân vật, hay đúng ra chỉ có bóng dáng của
    nhân vật. Nên nhân vật không cần có lí lịch, tính cách, số phận rõ ràng.
    Ký ghi sự việc, thấy ẩn ẩn hiện hiện một nhân vật nào đó. Thoáng một
    tý hình ảnh, ký là sự việc. Sự việc thì cũng phải có thằng người.
    Bốn n
     
  3. Foli

    Foli Lớp 10

    Sự uyên bác của Nguyễn Tuân cũng có chỗ độc đáo: ông muốn những
    tư liệu của ông chỉ mình ông có, nghĩa là độc quyền tư liệu. Thí dụ, có bao
    nhiêu tấm ván trên cầu Hiền Lương, hoặc Hà Nội có bao nhiêu cây tươi... Tìm
    cho được nhưng tư liệu ấy cũng phiền phức, công phu lắm: phải đóng vai sỹ
    quan quân đội đổi gác trên cầu Hiền Lương để đếm được các tấm ván ở cả đầu
    Bắc lẫn đầu Nam, phải tìm đến công ty quản lý cây xanh Hà Nội để biết con số
    cây tươi của thành phố. Những tư liệu ấy có ý nghĩa gì quan trọng đối với nội
    dung và hình thức bài ký? Tôi ngờ rằng ý nghĩa không nhiều. Nhưng Nguyễn
    Tuân có lẽ ít quan tâm đến điều ấy. Cái quan trọng đối với ông là: tư liệu ấy chỉ
    mình ông có, “đếch” thằng nào biết.
    Đầu năm 1980, bỗng nhiên Nhà xuất bản Văn học cho người đến mời
    tôi làm Tuyển tập Nguyễn Tuân.
    Tất nhiên là tôi rất mừng và cảm động.
    195
    Hồi ấy tôi ở một căn phòng thuộc tầng năm của một chung cư gọi là
    nhà B2, khu tập thể cán bộ trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh Lê Khánh,
    biên tập viên NXB Văn học đến thông báo cho tôi và cùng tôi làm Tuyển tập.
    Lê Khánh nói, ngày mai ta đến gặp Nguyễn Tuân để bàn chuyện. Tôi
    nhất trí ngay. Tôi cũng thấy cần gặp Nguyễn Tuân để hỏi nhiều điều cần thiết để
    viết về ông.
    Sáng hôm sau, 8 giờ, chúng tôi có mặt ở nhà Nguyễn Tuân. Ông chấp
    nhận đề nghị của tôi, hẹn gặp làm việc 8 giờ sáng hôm sau. Ông dặn: “Anh cứ
    chuẩn bị sẵn những câu hỏi, đến làm việc cho nhanh”. Hôm sau tôi và Lê
    Khánh lại đến.
    Tôi bắt đầu hỏi. Nguyễn Tuân gạt đi: “Thôi để lúc khác”. Rồi ông nói
    đủ thứ chuyện nhưng không dính dáng gì đến việc viết tiểu sử và làm tuyển tập
    cả. Tôi lấy làm lạ bèn hỏi: “Thế bao giờ ta làm việc?”. “Mai, 8 giờ sáng”, ông
    lại hẹn đúng như hôm trước.
    Tôi không hiểu, nhưng Lê Khánh biết ý. Khi ra về, anh nói với tôi:
    “Ngày mai tôi không đến nữa, anh đến một mình thôi. Ông ấy không thích tôi”.
    Ngày mai tôi đến một mình. Quả nhiên làm việc rất nhanh chóng trôi
    chảy. Tôi hỏi, Nguyễn Tuân trả lời, rất gọn.
    Mấy ngày sau, tôi đem chuyện này nói với Xuân Diệu. Xuân Diệu nói:
    “Đúng quá còn gì nữa, cậu chẳng hiểu gì cả. Trai gái yêu nhau, nói chuyện tâm
    tình với nhau, có người khác ngồi đấy, nói sao được!”. Cái gì Xuân Diệu cũng
    liên hệ đến chuyện trai gái.
    Khác với Xuân Diệu, Nguyễn Tuân không hề quan tâm gìn giữ những
    tài liệu của mình. Làm tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi không khai thác được tài liệu
    gì quan trọng của ông hết, ngoài hai cuốn kiếm đâu cũng được: cuốn tuỳ bút
    Tình chiến dịch và tiểu thuyết Quê hương (Sài Gòn in lại, vất đi nhiều chương
    một cách rất tuỳ tiện). Ngoài ra có tập Tôi đọc, tập hợp những bài tiểu luận phê
    bình viết sau cách mạng tháng Tám. Cuốn sách này vừa in ra đã bị cấm, phải
    huỷ hết. May mà Nguyễn Tuân giữ lại được một bản. Thực ra những bài in
    trong Tôi đọc cũng không khó tìm. Toàn những bài đã đăng trên sách báo sau
    cách mạng.
    Thành ra làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi phải tự xoay xoả lấy cả. May
    mà tôi đã nghiên cứu Nguyễn Tuân từ hai mươi năm trước (1960) nên biết được
    hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Tuân đã in thành sách hay đăng lên các loại
    báo chí. Có những tờ báo không tên tuổi, chẳng ai để ý như tờ Tuần lễ. Tôi đã
    tìm được ở đấy bài Răng người tình của Nguyễn Tuân, viết năm 1938.
    Khi bắt đầu làm tuyển tập, Lê Khánh nói với tôi: “Tuyển văn Nguyễn
    Tuân phải cẩn thận, thí dụ như bài Chém treo ngành thì không nên tuyển”.
    Nhưng tôi rất thích truyện này, một truyện rất Nguyễn Tuân. Tôi đi tìm
    nguyên bản tác phẩm này khi chưa bị kiểm duyệt, đăng trên Tao đàn thời Mặt
    trận dân chủ Đông Dương. Mới thấy bọn kiểm duyệt thời Tây rất tinh. Nó cắt đi
    ba chi tiết mà tác phẩm chuyển hẳn tư tưởng. Quả là chi tiết trong truyện ngắn
    cực kỳ quan trọng: một là nó bỏ cái tên tác phẩm Bữa rượu máu, thay bằng
    196
    Chém treo ngành, hai là hình ảnh thằng công sứ Tây và thằng tổng đốc ta chuốc
    cho nhau hai tuần rượu và cái chi tiết cơn lốc lớn chạy giữa hai hàng tử tù, đuổi
    theo và lật cái mũ thằng công sứ quẳng xuống cho lăn lộn mấy vòng trên bãi cỏ
    pháp trường.
    Tôi đưa ngay tác phẩm này vào Tuyển tập một cách đắc ý. Nguyễn
    Tuân rất khoái. Ông mời tôi uống rượu và chửi Hoàng Trung Thông: “Thế mà
    Hoàng Trung Thông nó bảo nhấm nháp chém đầu người. Thằng cha cũng làm
    văn mà sao nó ngu thế!”.
    (Vậy mà mãi sau này, trong “Chân dung và đối thoại”, Trần Đăng
    Khoa vẫn lặp lại ý kiến của Hoàng Trung Thông).
    Tôi để ý thấy có hai trường hợp, Nguyễn Tuân không đồng ý cho vào
    Tuyển tập. Một là bài ông viết về tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, hai là bài ông
    viết về Dostoievsky. Bài thứ nhất có lẽ do Nguyễn Phan Chánh là bố vợ Lê
    Quang Đạo, khi chết được đặc cách đưa vào Mai Dịch. Ông ghét Lê Quang Đạo
    chăng? Còn bài thứ hai là vì lý do khoa học. Ông tự thấy chưa đọc hết các công
    trình về Đôxtôi, và đọc ai, mượn ý của ai, giờ ông không có điều kiện tra cứu để
    chú thích cho sòng phẳng. Về mặt này, Nguyễn Tuân tỏ ra rất nghiêm khắc về
    mặt khoa học (Sau , chúng tôi nài mãi ông mới chịu. Nhưng ông yêu cầu phải
    cho ông viết mấy dòng gọi là “Tái bút” để thanh minh với độc giả).
    Hồi năm 1929, ông học ở trường Thành Chung Nam Định, do tham gia
    một cuộc bãi khoá để phản đối một giáo viên người Pháp nói xấu người Việt
    Nam, ông bị đuổi học. Trường học ghi vào học bạ, phạt những người tham gia
    bãi khoá năm năm không được học ở trường nào, không được làm ở công sở
    nào. Ông về Thanh Hoá rủ một người bạn (theo Tô Hoài, là Lương Đức Thiệp)
    đi chơi qua Lào, sang Thái Lan, đến Băng Cốc, thì mật thám bắt giải về nước
    theo đường Cămpuchia về Sài Gòn, rồi đưa ra quản thúc ở Thanh Hoá, nơi cụ
    thân sinh ra ông làm việc.
    Khi làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi hỏi ông, sang Thái Lan làm gì?
    Ông nói: “Người khác sẽ nói là đi tìm đường cứu nước. Nhưng tôi thì nói thật,
    vì đi chơi không có giấy phép nên nó bắt, thế thôi”. (Theo Tô Hoài, Nguyễn
    Tuân rủ Lương Đức Thiệp sang Xiêm để tìm ngọc ở Pâylinh).
    Trong quá trình làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tôi có điều kiện tiếp xúc
    luôn luôn với ông. Ông quả là người khó tính, không phải ai đến, ông cũng tiếp.
    Có lần ông đuổi một anh thanh niên đường đột đến thăm ông: “Anh đến gặp con
    gái tôi đấy à? Nó đi vắng rồi!”. Lại nghe nói có một cán bộ lãnh đạo ông không
    ưa, đến chúc Tết ông, ông mở cửa sổ nhìn xuống nói: “Nguyễn Tuân đi vắng”,
    rồi đóng sập cửa lại...Nguyễn Văn Hạnh muốn đến ông, nhưng cũng ngại... Vậy
    mà đối với tôi, ông tỏ ra rất dễ dãi. Ông cho phép tôi đến ông lúc nào cũng
    được, không cần báo trước, miễn là đến sau 10 giờ sáng. Trước giờ đó, ông có
    thói quen đi dạo mấy vòng ngoài phố, 10 giờ thì về ăn cơm.
    Có điều này, ông nói tôi mới biết: Anh Lý Hải Châu, giám đốc Nhà
    xuất bản Văn học đề nghị hai người làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, tuỳ nhà văn
    quyết định. ấy là Vũ Ngọc Phan và tôi. Nguyễn Tuân đã chọn tôi. Tất nhiên tôi
    197
    rất cảm động, nhưng vinh dự này cũng đặt lên vai tôi một gánh nặng: phải chọn
    lựa tác phẩm và nhất là phải viết bài giới thiệu sao cho xứng đáng với sự tín
    nhiệm của ông.
    Bài viết chỉ có hơn 60 trang (in chữ nhỏ), mà tôi đã phải viết trong hơn
    sáu tháng. Rất may đã được Nguyễn Tuân cho là được. Ông chỉ nói vắn tắt “Tôi
    không có ý kiến gì khác”.
    Tuyển tập Nguyễn Tuân gồm hai cuốn, xuất bản năm 1981, 1982.
    Ngày 29 – 5 – 1982, Nguyễn Văn Bổng, hồi đó làm tổng biên tập tuần
    báo Văn nghệ, tổ chức một cuộc toạ đàm về Tuyển tập Nguyễn Tuân ở trụ sở
    Văn nghệ. Hôm ấy có mặt Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Hổ, Lý
    Hải Châu, Lê Khánh,Từ Sơn, Ngọc Trai, Nguyễn Bao, Thiếu Mai... và tôi.
    Tôi nhớ hôm ấy, Xuân Diệu nói: “Nghe nói văn Chùa Đàn rất hay,
    nhưng không có trong Tuyển tập. Phải trích vài trang Chùa Đàn cho người ta
    biết mặt mũi tác phẩm này chứ. Tại sao không cho người ta có cái thú đọc văn
    hay nhỉ! Qua Tuyển tập, tôi mới hiểu được anh Nguyễn Tuân. Tại sao lại cứ đòi
    văn phải có ý nghĩa. Trai gái nó hôn nhau thì cần gì ý nghĩa. Sự sống có ý
    nghĩa gì đâu. Tôi rất thích truyện “Một vụ bắt rượu lậu”. Dân mình thông
    minh, hóm thật đấy. Xưa tôi đã từng làm đoan, tôi cũng đã từng đi bắt rượu lậu
    mà không biết.”
    Hôm ấy, Nguyễn Tuân rất vui. Ông phát biểu rất hào hứng: “Hiện nay
    có một Tuyển tập Nguyễn Tuân ở California, một cuốn ở Paris, một cuốn ở Sài
    Gòn, tôi tặng tướng Trần Văn Trà do bài hồi ký của ông ta.”
    Hôm ấy, ông cũng nói công khai về việc chọn tôi làm Tuyển tập: “Vũ
    Ngọc Phan hồi xưa làm báo Revue Franco – Annamite, đi xe nhà, làm cái “Nhà
    văn hiện đại" chữ nghĩa chằn chẵn ra, chẳng có trouvaille gì, gọi là cái
    catalogue St étienne littéraire. Có vẻ accadémique. Giữa hai người, chọn
    Nguyễn Đăng Mạnh còn đỡ hơn”.
    Ông phê bình việc cắt xén truyện Rượu bệnh tôi trích và đổi tên là Bố
    Ô: “Trích như thế làm cho không còn có tính chất yêu ngôn nữa, đó là
    fantaisiste và fantastique kia mà, lão Bố Ô còn huýt sáo, còn có chuyện cháy
    nhà...
    Tôi còn có truyện Thạch tinh, không nhớ đăng báo nào: một anh ăn
    chơi, bị sỏi thận. Đêm, hai viên sỏi thận (thành tinh) nói chuyện với nhau,
    người đó nghe được”.
    Ông nói tiếp: “Còn Như Phong, còn Mao, thì không thể có Tuyển tập
    Nguyễn Tuân. Ông Như Phong có lần nói, văn Nguyễn Tuân để cho người hút
    thuốc phiện và hát ả đào đọc. Tôi giận lắm. Tôi bảo Như Phong: “Tôi giận anh
    lắm, thế trước cách mạng, tôi hút, anh cũng hút. Thế có phải lúc đó vì đọc sách
    của tôi mà anh hút không?”
    Ông Vũ Đức Phúc rất ghét văn tôi, vậy mà gần đây ông ấy phải viết
    khen văn tôi. Nhưng mà sau khi khen ông ấy lại sợ người ta hiểu sai, đề cao tôi
    quá, lại nói Nguyễn Tuân không phải là nhà văn lớn. Nào tôi có muốn là nhà
    văn lớn đâu, tôi chỉ mong làm một nhà văn trung bình, viết về cái gì mình thích,
    198
    thế thôi.
    Hồi Tạp chí Văn hoá – Nghệ thuật có phân ra các ban về văn hoá: ăn,
    mặc, ở. Hà Huy Giáp bảo tôi: Anh hay chú ý về cái ăn, vậy anh suy nghĩ xem có
    cái gì viết, tìm ra lý luận gì về ăn uống. Tôi viết về giò chả. Ông Vũ Đức Phúc
    phê phán là phục vụ bọn phe phẩy mặc áo phin nõn, áo nilông. Sau có chuyện
    mậu dịch ta bán phở, thế là phục vụ phe phẩy à?
    ở Hàng Buồm có quán Bạch Ngọc cơm tám giò chả rất ngon, mở từ
    thời xưa, có thanh toán hết nợ cũ (tháng trước) thì mới bán tiếp. Bà chủ quán
    bảo tôi: “Ông ăn uống mãi mà ông dại. Người ta ăn gấp mấy ông nhưng không
    nói. Ông ăn, ông nói, nên ông chết”.
    Lúc ấy có một anh nhiếp ảnh của báo Nhân dân đến chụp. Nguyễn
    Tuân lại chuyển sang nói về chụp ảnh: “Camus nói, le photographe, c’est
    l’histoire de l’instant. Có người lại ví quay phim là lia một băng liên thanh, còn
    chụp ảnh là lẩy phát một. Chụp ảnh là làm một việc rất thiện ý mà người ta khó
    chịu”.
    Cuối cùng ông lại quay về chuyện Tuyển tập. Ông nói: “Cái người đàn
    bà không đẻ được nữa, người ta gọi là tắt kinh, còn nhà văn không viết nữa,
    già, hết thời, tôi gọi là đến thời kỳ “tuyển hồi” (viết hồi ký và làm tuyển tập). In
    tuyển tập tập I là un pieds dans la tombe rồi, in tập II thì là đưa cả hai chân...”
    Từ sau chuyện Tuyển tập, thấy Nguyễn Tuân dễ dãi với mình, tôi thỉnh
    thoảng lại đến ông. Tuy vậy lần nào đến cũng phải kiếm một cớ gì đấy, gọi là có
    việc, chứ không phải đến chơi suông.
    Hôm ấy, nhân nghe nói, ông có những nhận xét rất ác về giới phê bình
    văn học, tôi đến ông để dò hỏi về điều này. Quả là ông không mấy lạc quan về
    tình hình phê bình văn học.
    Ông nói: “Nước mình không qua tư bản chủ nghĩa, người ta thấy có
    trở ngại về kinh tế, song chưa thấy trở ngại về tư tưởng. Lão Khổng Tử ghê
    gớm lắm!
    Phê bình hiện nay cứ có lối aurait écrire, lối conditionnel. Vào hàng
    phở lại đòi ăn cơm và phê bình không nấu cơm, lẽ ra nấu cơm thì sẽ ... hay hơn.
    Thành ra để tránh conditionnel, người viết phải dùng toàn inpératif hay
    infinitif.
    Tây phương nó đòi dân chủ, bàn đã khá triệt để, đòi được tự do, được
    quyền phạm sai lầm, revendiquer le droit de l’ erreur. Không phải để làm bậy
    đâu mà đòi một cái marge cho tự do tìm tòi. Nếu bắt phải đúng thì ai dám tìm
    tòi. Mà sao phạm sai lầm lại là độc quyền của một số người!
    Trong lịch sử ta đã có lúc giương lá cờ độc lập tự do để tập hợp nhân
    dân, nhưng không mấy khi dám giương riêng lá cờ dân chủ.
    On trouve quand on cherche. Quand on cherche, on trouve quelque
    chose. Khi người ta tìm có thể không tìm ra cái định tìm, nhưng nhất định tìm
    ra cái gì đó, một cái khác với dự định.
    Hiện nay đang hình thành một thứ provincialisme, một thứ chủ nghĩa
    tỉnh xép trong quan niệm, trong tình thần lãnh đạo.
    199
    Người ta phê bình Tình rừng của tôi cũng theo lối aurait écrire.
    Còn cuộc tranh luận chung quanh thể ký thì cứ cãi nhau ký với cấu, ký
    không cấu, đúng là trò cười.
    Về Vũ Trọng Phụng thì tôi biết, chả có trốt – kít gì cả đâu. Hồi ấy viết
    lách lung tung lắm.
    Hiện nay người ta ách nhiều thứ quá. ách truyện ngắn Gogol, ách Le
    Rouge et leNoir, ách Guy de Maupassant, Le Boule de suif, định dịch Le steppe
    sau lại thôi. ách cả La peau de chagrin... Phê bình thì theo kiểu aurait écrire.
    C’ est une gratuité. Tôi ghét nhất loại chính thống orthodoxe mà lại giả vờ thắc
    mắc, để do thám, aux écoutes người khác. ách Miếng da lừa vì cho là chủ nghĩa
    sống gấp. ách Le Rouge it le Noir vì cho rằng ông cha ta, vợ chồng ngủ với
    nhau cũng khăn áo chỉnh tề, nay nó lại dám cởi quần áo ra thì láo quá!
    ở ta, một mặt khuyến khích réalisme, mặt khác lại tránh cái réel. Tạo
    ra một thứ littérature abstraite, hình như không đúng phương pháp nghệ thuật.
    Chỉ nói ý, không có hình tượng thật. Theo tôi cần làm một essai có hệ thống về
    vấn đề này.
    Tôi thấy cần chuyển câu chuyện sang hướng khác, và muốn tìm hiểu
    xem khuynh hướng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân như thế nào khi đọc các sách vở
    ngoài nước (từ 1945 đến 1975, sách vở nước ngoài vào nước ta chủ yếu là sách
    Liên Xô, Trung Quốc)
    Nguyễn Tuân tỏ ra có tình cảm với văn học Nga hơn. Ông nói, thích
    Gogol, Tchékhov, thích Le Manteau. Thích Paoutovsky. Cuốn Histoire d’ une
    vie, sáu tập của Paoutovsky có đoạn văn rất tuyệt: trên tàu điện, người ta phân
    phát cho mỗi người một bông hoa. Một đoạn văn có cái lyrisme rất hay.
    Nguyễn Tuân rất ghét lối phê bình văn học kiểu Mao-it của Tầu lúc
    bấy giờ. “Cuốn Ballade d’un soldat nói về một anh lính lúc đầu nhát, sau có
    thành tích. Họ phê phán: “Sao lại đưa ra một anh lính nhát”. Tra từ điển
    Larousse, tôi thấy nó định nghĩa: le courage, c’ est triompher la peur. Không
    phải can đảm sinh ra đã có, phải có quá trình chứ. Người ta không thích quá
    trình, cứ phải sinh ra đã can đảm rồi.
    Chung quy là do thiếu văn hoá. Thiếu văn hoá thì sinh ra hẹp hòi. Đó
    cũng là tư tưởng của phong kiến và của nông dân”.
    Một lần khác, vào đầu tháng 11 năm 1986, tôi lại đến thăm Nguyễn
    Tuân. Nhân đang làm tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tôi muốn hỏi ông một vài chi
    tiết cụ thể về nhà văn này mà tôi biết ông rất quý. Ngoài ra muốn ông viết cho
    một bài về Vũ Trọng Phụng để in vào Tuyển tập.
    Lúc tôi đến, ông đang nằm xem sách. Ông ngồi dậy, có vẻ mệt mỏi.
    Trên bàn thấy có một mâm cơm rất đạm bạc. Một bát cơm ăn dở. Vài miếng
    dứa trên một cái đĩa.
    Tôi hỏi ông về ngôi nhà của Vũ Trọng Phụng ở Cống Mọc, Vũ Trọng
    Phụng chết ở đó. Tôi nói anh Vũ Đình Liên cho tôi biết đó là một ngôi nhà lá.
    Nguyễn Tuân cau mặt:
    - Tôi ghét cái anh Vũ Đình Liên. Nhà ở Chợ Đuổi, chả biết vợ con xích
    200
    mích thế nào, không ở được với nhau, cứ đến ở nhà Vũ Trọng Phụng. Đúng là
    một anh thần kinh!
    - Tôi ghét anh Vũ Đình Liên. Tôi biết hồi trước anh ta có chơi bời gì
    đâu. Thế mà cứ nói dối là ngày xưa tôi cũng chơi bời cô đầu, cô đít, ra vào tiệm
    ăn, tiệm hút... Giống như cái anh Vũ Ngọc Phan. Hay gì, đẹp đẽ gì cái đó mà
    cũng phải nói dối, cứ “hư cấu” ra làm cái gì.
    Ông lắc đầu, để tay lên ngực; “mùa rét, mệt”. Ông lấy một miếng dứa
    ăn tự nhiên, uống một hớp rượu trong cái ly uống sâm banh – ly tròn có chân.
    - Tôi đã viết trong bài đăng ở Tao đàn: Vũ Trọng Phụng chết ở ngôi
    nhà ngay ngoài phố, gần Cầu Mới, chỗ Ngã Tư Sở, đường Hà Nội – Hà Đông.
    - Tôi hỏi: Vũ Trọng Phụng có hút thuốc phiện?
    - Có, Vũ Trọng Phụng có hút thuốc phiện, để kéo dài cuộc sống, vì anh
    ta bị ho lao. Có đem bàn đèn về nhà.
    - Bác quen Vũ Trọng Phụng từ hồi nào?
    - Không nhớ.
    - Từ hồi còn ở Hàng Bạc?
    - ờ.
    - Bác có đến chỗ ở cuối cùng của Vũ Trọng Phụng và có đưa ma Vũ
    Trọng Phụng?
    - Có. Tôi không thể nào nhầm, nhầm thế nào được! Tôi ghét cái anh
    Vũ Đình Liên...
    Tôi tranh thủ chuyển sang hỏi ông cái điều mà tôi luôn trăn trở:
    “Người ta hay nói về phong cách Nguyễn Tuân. Nhưng bác lại ít nói về phong
    cách. Quan niệm của bác về phong cách là thế nào?
    Nguyễn Tuân ngồi im lặng, vẻ mặt như sắp nói một điều gì đã có quan
    niệm rất rõ, Nghĩa là sắp phát biểu một tuyên ngôn rành mạch. Một lát, rồi ông
    chỉ tay ra trước mặt, nói chậm rãi:
    - “Những người viết mà được chế độ này chấp nhận, hay hay dở chưa
    biết, nhưng được chế độ này chấp nhận về thế giới quan, nhân sinh quan. Trên
    cơ sở cái nhân sinh quan, thế giới quan chung ấy, mỗi người lại có một cái
    nhỡn quan riêng, tiếng Pháp gọi là vision. Đó là cái đẻ ra phong cách. Vì cái
    đó mà anh thì thích tả gió, tả nắng, anh thì thích tả mây, tả mưa, người có sở
    trường này, người có sở trường nọ. Rồi cách đưa vấn đề cũng khác nhau... Nó
    đẻ ra tất cả.
    Văn học có cái rất vui là phong cách, cách nói, cách quan niệm về
    nghệ thuật khác nhau. Anh giảng dạy lại không đi vào đấy, chỉ nói về nội dung,
    về tư tưởng nên trở thành nhạt nhẽo vô duyên. Tại anh thôi, cái chỗ phong phú
    nhất, vui nhất, “xôm” nhất anh lại đếch đi vào nên người ta chán”.
    Như đã nói, lúc này tôi đang làm Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (1986).
    Vì thế tôi thử dò ý xem Nguyễn Tuân có muốn viết gì cho tuyển tập này không.
    Ông lắc đầu nói, giờ không viết gì được nữa.
    Tôi nói có ý định làm một cuốn sách gọi là “Việt Nam, đất nước,
    phong tục, con người qua các trang văn của Nguyễn Tuân”. Ông tán thành và
    201
    nói cứ làm đi.
    Tôi lại hỏi ông, vì sao Tờ hoa bị phê phán? Ông Hoài Thanh, anh Chế
    Lan Viên cho là ông ám chỉ sai lầm của cải cách ruộng đất?
    Nguyễn Tuân nói:
    - Vì ông Trường Chinh không thích nên tất nhiên là họ cũng không
    thích.
    Tôi gợi ý:
    - Tờ hoa chỉ có cái chi tiết con ong bị đập, nó đốt lại thế thôi.
    Nguyễn Tuân nói:
    - ờ. Còn cái này nữa: con bướm – Con bướm cánh phấn sặc sỡ, đẹp
    như những khẩu hiệu. Nhưng mà chả ai nói đến mật bướm cả. Còn con ong nó
    rất hiền, nhưng đập nó, trêu ghẹo nó thì nó mới đốt cho.
    Ông Trường Chinh không thích. Ông ấy nói với tôi như thế ở một cuộc
    hội nghị văn nghệ gì đó trước giờ khai mạc. Ông ấy và tôi cùng ngồi chủ tịch
    đoàn. Ông ấy nói: “Đả thằng phi công Mỹ thì anh viết mới được, nhưng tôi
    không thích bài Tờ hoa của anh”.
    Tiếp xúc nhiều với Nguyễn Tuân, tôi thấy ông không nói yêu ai, mến
    ai bao giờ. Điều này trái hẳn với Xuân Diệu. Qua các bài viết của ông, tôi biết
    ông rất quý Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Hoàng Phủ Ngọc
    Tường, Nguyễn Văn Bổng, Lý Hải Châu... Quý nhưng không thích nói ra
    miệng. Theo anh Lý Hải Châu, ông cũng rất quý bác sĩ Trần Hữu Tước. Khi
    Trần Hữu Tước mất, ông nói: “Sao những người tử tế thì chết, mà mấy thằng
    đểu giả mất dạy thì cứ sống mãi!”.
    Nguyễn Tuân đặc biệt rất quý Nguyên Hồng. Hôm làm lễ truy điệu
    Nguyên Hồng ở Hà Nội (ngày 11 – 8 – 1982, tại 51 Trần Hưng Đạo), tôi được
    chứng kiến tận mắt Nguyễn Tuân thương tiếc Nguyên Hồng như thế nào. Từ
    hàng ghế quãng giữa hội trường, ông chống gậy lọm khọm đi lên phía sân khấu.
    Ông khóc mãi không nói được.
    Một lúc sau mới chậm rãi thuật lại một số kỉ niệm của ông với Nguyên
    Hồng. Ông kể lại cái lần gặp Nguyên Hồng trên một chuyến tàu Hà Nội – Nam
    Định. Nguyên Hồng được phóng thích từ Căng Bắc-Mê ra, còn ông thì bị đưa ra
    đối chất với một số người bị bắt rồi cũng sẽ bị đưa đi tù. Một người ra tù, một
    người vào tù. Ông nói với Nguyên Hồng: “Anh là người chuyên tô tượng đúc
    chuông, còn tôi thì chuyên phá đình phá chùa”.
    Cả hai cùng đi tù. Chi tiết này mấy anh ở Liên Xô không hiểu: sao
    khác quan điểm mà đều bị tù? Tôi có đưa chi tiết này vào bài tựa viết cho tập
    truyện ngắn của Nguyên Hồng in ở Liên Xô. Chính cái chuyện viết bài tựa này
    cũng là một kỉ niệm khó quên. Ông nói: “Hôm ấy tôi hứa viết xong bài, nhưng
    rồi lỡ hẹn. Bẩy giờ sáng, anh con trai Simonov dựng tôi dậy, bắt ra xe đến chỗ
    làm việc. Anh ta nói: “Chúng ta chỉ đi ăn trưa khi nào viết xong bài tựa”. Cách
    làm việc như sau: Tôi nói, một người dịch, một người đánh máy. Vì Nguyên
    Hồng mà lần đầu tiên tôi phải làm việc như thế đấy.”
    Ông nói tiếp về Nguyên Hồng:
    202
    “Người ta có bốn cái khổ: sinh, lão, bệnh, tử. Nguyên Hồng bỏ qua hai
    khâu lão, bệnh, đi thẳng từ sinh đến tử. Ai dám bảo Nguyên Hồng là lão. Văn
    còn trẻ lắm!
    Trước khi giác ngộ cộng sản, Nguyên Hồng theo đạo. Anh tin thiên
    đường ở trên trời, dưới đất chỉ có khổ não và tội lỗi. Sau này giác ngộ cách
    mạng, anh biết thiên đường có thể có trên mặt đất này. Nói đến đấy, ông dừng
    lại và bỗng hô to: “Hồng ơi! Hãy yên nghỉ! Hồng ơi! Hãy yên nghỉ”. Ông vừa
    nói vừa khóc.
     
  4. Foli

    Foli Lớp 10

    Nguyễn Tuân cũng rất quý Ngô Tất Tố. Ông đã viết một bài ca ngợi
    hết lời tiểu thuyết Tắt đèn và nhận đóng vai Chánh tổng trong phim Chị Dậu.
    Theo Nguyên Ngọc, Nguyễn Tuân đóng phim Chị Dậu chẳng qua vì có tình với
    Ngô Tất Tố. Lúc ấy ông yếu lắm. Tuy chỉ đóng một thoáng thôi, nhưng phải đi
    ngựa (phim quay ở đình Đồng Kỵ). Đêm trước ông bị sốt. May, sáng hôm sau
    khỏi, ông lại uống rượu rất vui.
    Nguyễn Tuân cũng rất quý Lý Hải Châu. Hồi làm giám đốc Nhà Xuất
    bản Văn học, Lý Hải Châu đã đấu tranh cho việc làm Tuyển tập Nguyễn Tuân,
    Xuân Diệu... Anh Châu làm tình báo cách mạng từ trước 1945, đã từng bị thực
    dân kết án tử hình. Anh là một trí thức rất có bản lĩnh. Tôi nhớ khi Tuyển tập
    Nguyễn Tuân được xuất bản, Nguyễn Tuân nói: “Không có Lý Hải Châu thì
    không thể có Tuyển tập Nguyễn Tuân”.
    Nguyễn Tuân cũng có cảm tình với Nguyễn Văn Bổng và Hoàng Phủ
    Ngọc Tường. Ông khen Hoàng Phủ Ngọc Tường viết được, có văn hoá.
    Nguyễn Tuân cũng rất quý ĐTM. Nhưng ông không đánh giá cao
    ĐTM về tư cách nhà văn. Hồi ông vào Đại học Sư phạm Vinh sơ tán ở Thạch
    Thành, Thanh Hoá, ông nói với tôi: “Anh ĐTM là người tôi rất quý. Nhưng nếu
    có ai hỏi, ĐTM có những tác phẩm gì, thì tôi lúng túng quá!”. Tôi để ý thấy
    Nguyễn Tuân tỏ ra rất thích thú câu tâm sự rất riêng này của ĐTM vì ông nhắc
    lại với tôi hai lần: “Tôi là thằng đàn ông biết độc có một cái l”. (ĐTM nói tiếng
    Pháp: je suis un homme d’ un seul vagin). Nguyễn Tuân nói xong cười thích
    thú, cuống mũi nhăn lại, cái mũi đã to, càng to hơn trên bộ ria Hoa Kỳ rất
    Nguyễn Tuân.
    Đối với Tố Hữu, một mặt ông không quên cái việc nhà thơ đã đánh giá
    cao uy tín của ông đối với giới văn nghệ. Sau cách mạng tháng Tám, được Đảng
    gọi ra Hà Nội lãnh đạo văn nghệ, người đầu tiên Tố Hữu thấy cần phải gặp là
    Nguyễn Tuân và đến năm 1948 thì đưa ông lên làm tổng thư ký Hội Văn nghệ
    Việt Nam. Ngoài ra Tố Hữu cũng là người giới thiệu ông vào Đảng. Dù sao ông
    cũng không quên thiện ý ấy. Vì có lần tôi hỏi ông về Tố Hữu, ông nói: “Tố Hữu
    là người đỡ đầu cho tôi về tư tưởng” (ông nói tiếng Pháp: parrain idéologique).
    Và trong liền mấy năm, cứ vào dịp đầu xuân, ông lại gửi cho Tố Hữu một cái
    thiếp chúc tết (bonne année) có in nghiêng một cành hoa tím (Tố Hữu có làm
    một bài thơ gọi là Hoa tím tặng Nguyễn Tuân in trong tập Gió lộng). Nhưng về
    sau, bẵng đi, Nguyễn Tuân không gửi nữa. Tố Hữu buồn lắm, nhờ Hà Xuân
    Trường hỏi xem. Hà Xuân Trường nhờ Hoàng Ngọc Hiến. Nhưng Hiến ít có
    203
    quan hệ với Nguyễn Tuân nên lại nhờ tôi. Rất tiếc là tôi quên mất.
    Đầu năm 1987 (1.1.1987), trong một cuộc liên hoan nhẹ ở Nhà xuất
    bản Tác phẩm mới (65 Nguyễn Du), tôi có được dự, Nguyễn Tuân kể chuyện
    vừa đến thăm Tố Hữu (lúc này Tố Hữu đã mất hết mọi chức vụ). Ông nói: “Văn
    bây giờ chỉ viết về tương lai hay quá khứ thôi. Hiện tại không viết. Chỉ viết cái
    lẽ ra nên như thế. Vì thế không thấy cái xấu, chỉ thấy cái tốt. Chỉ viết toàn cái
    tốt là không tốt. Tôi nói thế với anh Lành, anh ấy cũng tán thành.
    Ông Tố Hữu phải có một phen bị quật hẳn xuống như thế ông ấy mới
    tỉnh ra, ông ấy phải rơi xuống như bọn mình thì mới thấy khác. Hôm tôi đến
    thăm, ông ấy mừng lắm, vui lắm, tiễn tôi mãi ra xa. Tôi xua tay bảo ông về và
    hỏi: “Cây táo của anh còn không? Cây táo ông Lành còn không? Cho tôi xin
    mấy quả. Người ta nói cây táo có ma nên không có quả?”.
    Tố Hữu cười một cách đau khổ - Nguyễn Tuân nhận xét một cách hóm
    hỉnh.
    Nguyễn Tuân yêu ai, quý ai thì không thích nói ra, nhưng ghét ai thì
    nói thẳng, nói công khai, không chút dè dặt. Mà đã ghét thì thường phát ra
    những câu rất ác.
    Những người ông ghét khá nhiều. Theo tôi được biết, ấy là : Như
    Phong, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Phùng Bảo Thạch, Hoài Thanh, Vũ
    Đình Liên, Vũ Ngọc Phan, Bùi Huy Phồn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự
    Đệ, Anh Thơ, Huy Cận, Hoàng Văn Hoan, Trường Chinh...
    Nhưng theo tôi, chỉ kể trong số người viết văn, ông ghét nhất ba người:
    Như Phong, Hoàng Trung Thông và Chế Lan Viên.
    Như Phong chết rồi, ông còn gọi là thằng mặt lợn.
    Ông ghét Hoàng Trung Thông kể ra cũng dễ hiểu. Thông có thời gian
    làm Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật và từng quy chụp chính trị nhiều tác phẩm của
    Nguyễn Tuân .
    Tôi đã chứng kiến Nguyễn Tuân nổi nóng và đã chửi Hoàng Trung
    Thông như thế nào khi tôi tìm được nguyên bản Bữa rượu máu để đưa vào
    Tuyển tập Nguyễn Tuân.
    Vào năm 1973, tôi từng được nghe Hoàng Trung Thông và Lưu Quý
    Kỳ nói chuyện về một hiện tượng mà các anh gọi là luồng gió đen hay luồng
    gió độc gì đó thổi vào nền văn học miền Bắc nước ta, trong đó có những bài
    Tình rừng, Giò lụa... của Nguyễn Tuân.
    Nhưng Hoàng Trung Thông vẫn phục tài Nguyễn Tuân. Và khi về già,
    cũng muốn có mối quan hệ tốt với ông. Năm 1986, Thông đăng trên Văn nghệ
    bài “Anh Nguyễn Tuân”, một bài thuộc loại chân dung văn học. Thông lấy làm
    đắc ý lắm. Anh nói với tôi: “Anh là nhà nghiên cứu, anh viết khác. Tôi là người
    sáng tác, tôi viết khác”.
    Tôi chắc Hoàng Trung Thông nghĩ rằng bài ấy Nguyễn Tuân có xem
    và không ghét mình nữa, nên Tết năm ấy (1987) anh bảo con đèo đến chúc Tết
    Nguyễn Tuân. Chẳng ngờ Nguyễn Tuân không tiếp.
    Nghe nói Hoàng Trung Thông đã khóc.
    204
    Biết chuyện này, tôi bèn tìm đọc bài viết của Hoàng Trung Thông xem
    thế nào. Tôi thấy viết như thế Nguyễn Tuân ghét là phải. Đại khái bài viết có
    những câu như thế này: Anh nói Thiếu quê hương,”song chúng ta làm gì mà
    phải đến nỗi thiếu quê hương”, “có những lúc tưởng như anh xa rời Đảng, rồi
    anh lại gắn chặt với Đảng. Vì anh biết rằng anh không thể xa rời Đảng được”,
    “Anh đã viết Tình rừng, dẫu rằng những bài văn đó có đôi chỗ sai sót, nhưng
    trong đó vẫn đầy rẫy những tâm tình về sông nước, con người”, “Tôi biết có
    lúc Nguyễn loạng choạng, nghiêng ngả. Nhưng khi anh vịn vào từng câu, từng
    trang văn, anh đứng thẳng dậy, rồi anh đi, đi đàng hoàng và có lúc đi nghênh
    ngang nữa để cùng với những bạn văn của mình đi đến đỉnh cao của văn
    chương Việt Nam”...
    Đúng là có giọng tuyên huấn! Vẫn viết theo giọng tuyên huấn!
    Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn ghét điều này nữa ở bài viết ấy: nguyên là
    ngày xưa, có một lần Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông về Đông Anh cùng
    với vợ chồng Nguyễn Hồng Phong – Ngọc Trai. Phong quê ở Đông Anh. Đêm
    ấy họ đi xem một đoàn cải lương Nam Bộ biểu diễn vở gì đó ở bên cạnh thành
    Cổ Loa.
    Nguyễn Tuân nhớ gần đó có làng Quậy – rượu Quậy rất ngon – quê
    một đào hát ông đã quen rất lâu. Họ bèn đến hỏi thăm thì được biết cô đào ấy đã
    thắt cổ tự tử rồi vì bị quy là phản động gì đó trong cải cách ruộng đất. Buồn
    quá! Họ uống rượu, rượu rất ngon, đúng là rượu Quậy. Nguyễn Tuân vừa uống
    vừa khóc, vừa hát đi hát lại bài hát rất buồn của Đặng Thế Phong: “Ngoài hiên
    giọt mưa thu thánh thót rơi...”
    Trong bài viết của mình, Hoàng Trung Thông có đưa chuyện này vào.
    Nhưng Nguyễn Tuân cho là anh đã diễn đạt không đúng tâm sự của mình lúc ấy
    nên càng ghét: “Mình buồn cho những kiếp người chịu oan khuất, buồn cho
    đời. Nó lại viết như mình khóc nhân tình vậy” – Chị Ngọc Trai nói lại với tôi
    như thế.
    Nguyễn Tuân cũng rất ghét Chế Lan Viên.
    Một lần tôi đến Xuân Diệu. Xuân Diệu bảo tôi: “Mình nghe nói
    Nguyễn Tuân vừa phát biểu một câu rất hay về Chế Lan Viên”. Và anh nhắc lại
    cho tôi nghe cái câu rất ác ấy. Nhưng tôi muốn biết đích xác câu nói ấy từ chính
    miệng Nguyễn Tuân kia, nên tìm đến ông. Tôi gạ chuyện: “Vừa rồi anh Xuân
    Diệu cho tôi biết bác có nói một câu gì đó rất hay về Chế Lan Viên”.
    Nguyễn Tuân ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Cái anh Xuân Diệu từ ngày
    vợ bỏ đến giờ có khá hơn” (Cho đến nay tôi vẫn không hiểu ý nghĩa của câu nói
    đó. Khá hơn là thế nào? Tại sao vợ bỏ lại khá hơn?
    Nguyễn Tuân nói tiếp: “Có hai chữ thi nhân và thi sĩ. Tôi thích chữ thi
    nhân hơn. Thi sĩ là chỉ anh có nghề làm thơ. Còn thi nhân thì sang và đẹp từ
    bản chất con người. Chế Lan Viên không đáng gọi là thi nhân. Thi sĩ thì có thể
    được bao nhiêu phần trăm đấy”. Như thế nghĩa là, theo Nguyễn Tuân, Chế Lan
    Viên cũng chưa được coi là thi sĩ trăm phần trăm.
    Ông tiếp tục: “Một hôm tôi đi vào phòng văn thư của Hội nhà văn. Tôi
    205
    đi vào đúng lúc Chế Lan Viên đi ra. Hình như anh ta đến để lấy vé máy bay đi
    vào Sài Gòn. Anh giơ tay bắt tay tôi. Tôi không bắt. Chế Lan Viên ra rồi, các cô
    văn thư hỏi tôi: “Sao bác không bắt tay anh ấy? Tôi hỏi lại: “Thế các vị có biết
    vì sao có tục bắt tay không? Các cô không biết. Tôi nói: Ngày xưa ở phương
    Tây, hai người tin cậy nhau, không mang theo vũ khí, họ bắt tay nhau. Tôi
    không bắt tay anh Chế Lan Viên vì anh ấy trong người có hàng bồ dao găm”.
    Ông lại nói tiếp một chuyện khác: “Anh Chế Lan Viên ở trong Nam
    bắn tin ra ngoài này cho tôi, không hiểu sao, anh Nguyễn Tuân cứ thấy tôi là
    lảng tránh không muốn gặp. Hôm ấy họp chi bộ, tôi nói với cô Lê Minh là bí
    thư: “Cô ghi lại rồi bắn tin cho anh Chế Lan Viên hộ tôi: “Đúng là tôi tránh
    mặt anh ấy thật. Lý do là tôi đã già rồi. Người già tính khí bất thường. Tôi sợ
    gặp anh ấy, lỡ tôi nổi nóng lên, tát cho anh ấy một cái thì làm thế nào. Đồng
    chí với nhau mà tát nhau thì phải kiểm điểm thôi”.
    Nguyễn Tuân ghét Vũ Ngọc Phan vì, cũng giống như Vũ Đình Liên,
    vốn xưa sống khuôn phép như một anh viên chức, thế mà bây giờ cứ nói là hồi
    Pháp thuộc mình cũng chơi bời dữ lắm (Tô Hoài cho là Vũ Ngọc Phan không
    dám chơi bời vì sợ Hằng Phương). Tô Hoài còn cho biết một lý do khác: ngày
    trước túng tiền, Nguyễn Tuân thường đến vay Vũ Ngọc Phan nhưng từ khi đi tù
    về (khoảng 1941, 1942, Nguyễn Tuân bị bắt giam ở Căng Nho Quan), Phan
    không cho vay nữa. Nguyễn Tuân sai con trai là Toản đến vay, Vũ Ngọc Phan
    từ chối. “Nó sợ liên quan đến thằng tù dây đây mà!” - Nguyễn Tuân nói thế.
    Ông cũng rất ghét Phùng Bảo Thạch. Thạch chết, Nguyễn Tuân không
    đến viếng. Thạch là tay thân Nhật, Nguyễn Tuân cho ẩn náu ở nhà riêng tại Ngã
    tư Sở (ông gọi là Am Sông Tô). Vậy mà Thạch đã làm cho ông bị tù. Vì chứa
    Thạch nên cũng bị coi là thân Nhật. Thạch bị bắt, bị tra hỏi, đã khai là Nguyễn
    Tuân đang nằm ở xóm hát Khâm Thiên và đưa mật thám đến bắt. Nguyễn Tuân
    vừa buông màn ngủ thì bị gọi dậy, còng tay luôn.
    Ông cũng không ưa Phan Cự Đệ. Có lần ông nói với tôi: “Nghe nói
    anh Phan Cự Đệ làm Tuyển tập Nguyên Hồng, tôi buồn quá!”.
    Hoài Thanh cũng bị nhiều nhà văn không ưa. Nguyễn Tuân cũng vậy.
    Ông gọi Hoài Thanh là thằng nịnh. Hồi Hoài Thanh ốm nặng, Nguyễn Tuân nói,
    tôi định đến thăm Hoài Thanh để nhắc lại lời ông ta nói khi đi Trung Quốc về:
    Mao Trạch Đông có một cái nốt ruồi rất lớn ở cằm, đúng là tướng đế vương.
    Còn Anh Thơ thì Tô Hoài kể chuyện này. Một lần Nguyễn Tuân và
    Anh Thơ cùng đi công tác ở Lai Châu. Hồi ấy không sẵn khách sạn như sau
    này, còn hoang vu lắm. Lại vào lúc mưa to gió lớn. Người ta kiếm được một cái
    phòng đưa hai người vào nghỉ. Tất nhiên mỗi người một giường. Nhưng Anh
    Thơ nhất định không chịu, vì sợ... Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân rất bực và chắc
    cũng ngượng nữa. Khi về Hà Nội, gặp lại trong một cuộc họp, Nguyễn Tuân nói
    vào mặt Anh Thơ: “Bà làm như tôi chực hiếp bà hay sao!”.
    Còn Nam Mộc? Nam Mộc từng viết một bài về tập Tuỳ bút Sông Đà
    của Nguyễn Tuân. Tay này có vết về chính trị nên lên gân lên cốt ghê lắm. Nam
    Mộc phê Nguyễn Tuân trong Sông Đà là “ngựa quen đường cũ”, chưa dứt bỏ
    206
    được những căn bệnh cũ như chủ nghĩa xê dịch, tư tưởng hoài cổ, rồi nào là
    buồn rớt, nhắm nháp thiên nhiên... Tôi chắc Nguyễn Tuân ghét Nam Mộc lắm
    nên có lần nói với tôi: “Thằng cha Nam Mộc, vợ nó bỏ là phải lắm!”. Ngoài ra
    có chuyện này nữa, nhiều người biết: một lần kia, Nguyễn Tuân bệnh nặng phải
    cấp cứu ở bệnh viện Việt Xô. Người ta đưa ông vào một phòng bệnh, đã có
    Nam Mộc ở đó. Nguyễn Tuân không chịu ở chung với Nam Mộc, nhất quyết từ
    chối không vào: “Hoặc tôi đi chỗ khác, hoặc Nam Mộc phải đi”.
    Bệnh viện đành phải giải quyết theo nguyện vọng của ông.
    Có một điều này, cho đến nay, tôi vẫn chưa hiểu được: gia đình
    Nguyễn Tuân ngày xưa ở Thanh Hoá rất lâu. Cụ Tú Lan làm việc ở Toà sứ
    Thanh Hoá rồi nghỉ hưu luôn ở đó. Nguyễn Tuân có thời gian bị giam giữ, quản
    thúc ở Thanh Hoá. Có lúc làm thư ký ở nhà máy đèn, đồng thời làm thông tín
    viên cho báo Trung Bắc Tân Văn thường trú ở Thanh Hoá. Viết văn, ông
    thường ghi nơi viết là Thang Mộc ấp, tức Thanh Hoá gọi theo địa danh thời
    phong kiến.
     
  5. Foli

    Foli Lớp 10

    ấy thế mà có lần tôi thấy ông xử quá tệ với Thanh Hoá.
    Một hôm có mấy anh ở Nhà xuất bản Thanh Hoá đánh xe ra Hà Nội
    thăm Nguyễn Tuân. Họ đến Hoàng Ngọc Hiến nhờ đưa đi. Hiến chưa đến
    Nguyễn Tuân bao giờ, giới thiệu tôi thay anh.
    Tôi đi cùng với họ đến trước nhà Nguyễn Tuân ở 90 Trần Hưng Đạo.
    Tôi bảo xe đỗ ngoài đường đợi tôi vào xem ông có nhà không. Tôi thấy ông
    đang ngồi một mình ở phòng riêng. Tôi nói: “Có mấy anh ở Nhà xuất bản
    Thanh Hoá muốn đến thăm bác. Họ đang đợi dưới kia. Ông xua tay: “Thôi anh
    bảo họ về, tôi cám ơn”. Tôi nài thêm: “Họ có rượu ngon muốn biếu bác”. Ông
    nói: “Tôi có rượu rồi, cám ơn”. Tôi lại nài thêm một lần nữa: “Họ nói muốn xin
    bác cho in lại những bài bác viết về Thanh Hoá”. Ông vẫn một mực từ chối
    “Được, anh cứ bảo họ, tôi đồng ý. Thôi bảo họ về đi”.
    Người ta đánh xe từ Thanh Hoá ra thăm mà nhất định không tiếp. Rất
    lạ!
    Sau này Tô Hoài cho tôi biết , ông rất ghét Thanh Hoá. Ngày xưa ông
    viết truyện Đôi tri kỷ gượng, giễu cợt lối văn bằng phẳng, thiếu cá tính của một
    nhân vật tên là Mợi. Mợi là Thanh Châu, người Thanh Hoá. Nhưng Thanh Châu
    thì có liên quan gì đến Nhà Xuất bản Thanh Hoá?
    Nhân dịp tác phẩm Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng được tái bản, vợ chồng
    Sơn – Hằng (Hằng là con gái, Sơn là con rể Vũ Trọng Phụng), tổ chức một cuộc
    liên hoan ăn mừng tại nhà riêng ở Mọc Giáp Nhất (ngày 23.01.1983). Rất nhiều
    nhà văn được mời tới dự: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Huy Phồn, Lưu Trọng Lư
    và vợ con (vợ lạc đường không đến được), Như Phong, Hoàng Trung Thông,
    Ông Lưu, nhà nhiếp ảnh từng quen biết Vũ Trọng Phụng. Bà Tuệ, vợ Nguyễn
    Tuân, hàng năm đều có đi viếng mộ cụ Tú Lan, nhân tiện cũng viếng mộ Vũ
    Trọng Phụng ở gần đấy. Vì thế cũng đến dự liên hoan.
    Trong khi chờ đợi dọn tiệc, người ngồi trong nhà, người ở ngoài sân
    trò chuyện với nhau.
    207
    Nguyễn Tuân nói chuyện với tôi và Bùi Huy Phồn ở ngoài sân. Ông
    nói, lẽ ra kỷ niệm Vũ Trọng Phụng 70 tuổi tổ chức năm 1982, mọi người đã
    đồng ý cả, nhưng Hoàng Trung Thông, Hoàng Trinh, Phong Lê, Vũ Đức Phúc
    phản đối.
    Nguyễn Tuân hỏi: “Phong Lê là thằng nào, tên thật là gì, tướng gian
    ác có lộ ra mặt không, có phải dân Nghệ không? Vũ Đức Phúc, Phong Lê, Như
    Phong đúng là cùng một băng đảng với nhau.”
    Tôi ngỏ ý mời Nguyễn Tuân đến nói chuyện với học viên sau đại học.
    Ông nói, ngại đăng đàn diễn thuyết lắm, sẽ trả lời sau, nhưng không hứa hẹn gì.
    Ông nói với Đồ Phồn, lát nữa chỉ dự ăn một lát rồi xin về sớm, vì còn mấy đám
    cưới phải đi. Vả lại sợ rượu vào nói cà khịa, phiền : “Không phải sợ nói sai mà
    sợ nói đúng mới gay go. Mình là loại quý tôc lọt lưới mà!”.
    Nguyễn Tuân nhìn bao quát ngôi nhà của vợ chồng Sơn – Hằng, chê
    kiến trúc không ra gì. Ông cười nói: “Đã lâu không đánh nhau với ai đâm ngứa
    ngáy, lại cà khịa với cái nhà này”.
    Tôi hỏi thăm Nguyễn Tuân về sức khoẻ. Ông nói, chả biết trả lời ra
    sao. Già rồi, khoẻ yếu không biết thế nào. Hỏi thế cứ như là nhạo, là chế giễu.
    Phải hỏi như hỏi những ông thủ trưởng chứ: “Anh có khoẻ không ạ!”.
    Bùi Huy Phồn hỏi về chuyện bà Chu Thị Năm (Chủ cô đầu ngày xưa,
    bồ của Nguyễn Tuân). Nguyễn Tuân nói: “ấy có bà ấy kia (bà Tuệ, vợ Nguyễn
    Tuân), ông hỏi thế phiền lắm. Bà Tuệ nói: “Không, ngày xưa bà Năm đến chơi,
    tôi vẫn tiếp bình thường”. Nguyễn Tuân chỉ bà Tuệ: “Những cái cách mạng
    cho tôi được hưởng không nhiều lắm. Được hưởng nhiều là bà này này!”.
    Tô Hoài đến góp chuyện. Tôi hỏi anh đang viết gì. Anh nói, sắp in một
    tiểu thuyết feuilletion cho Thiếu niên tiền phong về loài chim. Viết để cho thiếu
    nhi biết về loài chim, nó sinh hoạt, làm tổ, đẻ con, nuôi con như thế nào. Mình
    có một cái vốn như thế, không viết, phí.
    Tô Hoài nói riêng với tôi, vì có mặt Lưu Trọng Lư: “Người ta viết có
    thời, tài có thời, hồn thơ có thời, có một lúc nào đó thôi. Như ông Lư ngày xưa
    làm thơ mới thì chân thật, có hồn thơ, sau này tôi cho chẳng còn nữa. Nhiều
    người như thế.
    Còn viết văn học sử thì không phải cứ có tài liệu nhiều mà đủ. Phải
    viết có hồn. Có tài liệu và có hồn. Anh Đệ, anh Đức có tài liệu mà viết không có
    hồn. Anh (Mạnh) viết vừa có tài liệu vừa có hồn. Còn bọn mới thì chả có tài liệu
    gì, cứ phóng ý ra thôi”.
    Nguyễn Tuân bỗng xoay ra nói về Hoàng Văn Hoan: “Hoàng Văn
    Hoan có viết một bài tiểu luận về Vũ Trọng Phụng, hình như gửi cho báo Nhân
    dân. Tôi có đọc rồi để đâu, tìm mãi chưa thấy. Đúng là lưới trời lồng lộng thật.
    Nó chửi Kiều là ă n cắp của Tầu và cho đề cao Kiều là đề cao con đĩ. Đấy là
    một tội. Tội thứ hai là nói Vũ Trọng Phụng cũng viết về đĩ. Bây giờ ai là đĩ?
    Chính nó là con đĩ. Nhưng nó chết thì lại có thằng Hoàng Văn Hoan khác. Có
    những thằng Hoàng Văn Hoan ở Hà Nội này, khối ra đấy, lại có chức có quyền
    nữa cơ chứ!”.
    208
    Như Phong đến góp chuyện, nói năm 1937, hai mươi tuổi, có đến nhà
    Nguyễn Tuân ở Thanh Hoá. Rồi ông nhắc đến bài thơ của Nguyễn Vỹ ví nhà
    văn Annam khổ như chó. Nguyễn Tuân cười nói: “Bây giờ nên sửa lại là nhà
    văn Việt Nam khổ như sư tử, sư tử bị bẻ hết vuốt, hết móng”. Rồi ông chuyển
    luôn sang giọng tâm tình: “Ngày xưa, nhà văn có tình với nhau lắm, hơn bây
    giờ. Cái đêm trước ngày đưa ma Phụng, không ai ngủ được. Cánh ở Gia Quất,
    cánh ở nhà chú Trô Mã Mây... không ai ngủ được”.
    Tôi nói với Nguyễn Tuân: “Bài Một đêm họp đưa ma Phụng bác viết
    rất hay”. Ông nói: “Bây giờ không viết được như thế nữa”.
    Các mâm cơm dọn ra. Như Phong, Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông,
    Lưu Trọng Lư ngồi một mâm, vừa nói chuyện vui, vừa khích bác lẫn nhau.
    Hoàng Trung Thông nói không tán thành lời bình của Nguyễn Tuân về câu thơ
    Kiều: “Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần”. Nguyễn Tuân nói: “Cái đó tuỳ ý mọi
    người chứ, tôi không theo ai cả”.
    Bỗng nhiên thấy Lưu Trọng Lư đùng đùng bỏ ra về. Hình như là do
    Như Phong khen Nguyễn Vỹ thế nào đó. Lưu Trọng Lư chạnh lòng, vì do
    Nguyễn Vỹ mà Lưu Trọng Lư bị mang tiếng là ăn cắp thơ của Nhật (Bài Tiếng
    thu).
    Lưu Trọng Lư nhất quyết bỏ về, bắt con không ăn nữa, đưa bố về ngay.
    Hôm ấy chụp rất nhiều ảnh kỷ niệm.
    Nguyễn Tuân rất vui tính. Bốc lên cũng hò cũng hát rất nhộn.
    Theo Tô Hoài, những lúc ấy ông thường hò chèo đò hoặc hát đường
    trường. Ông cũng hay diễn trò nhại giọng điệu người này người khác để giễu
    cợt. (cũng chính trong buổi liên hoan ở nhà con gái Vũ Trọng Phụng ăn mừng
    tái bản Vỡ đê, tôi đã được nghe Nguyễn Tuân nhại giọng Huế của một viên
    chức thời Tây (Bố Hoàng Xuân Tuỳ, phán đầu toà, cùng làm việc ở toà sứ
    Thanh Hoá với cụ Tú Lan, bố Nguyễn Tuân). Ông này thường nói với lớp trẻ
    ngày nay: “Cạc anh giừ sưởng lẳm, cách mạng rồi cạc anh sưởng lẳm! Tui
    trước làm việc với thằng Tây, khổ lẳm. Đêm nỏ còn gọi lên hỏi, có chi không? –
    Dạ bẩm quan lớn, không thấy sở liêm phóng báo sang có việc chi. Thế mà nỏ
    cũng xà lù mẹc. Tui bực quả, chào rồi ra về, đóng cửa đánh sầm một cải. Đấy,
    thời trước làm với thằng Tây, khổ rửa!”.
    Nguyễn Tuân nói xong, cười thích thú. Ông nhại giọng Huế rất đạt và
    có duyên.
    Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra Nguyễn Tuân vốn là một diễn viên kịch nói có
    tài từng đóng vai chính trong các vở Kim tiền của Vi Huyền Đắc và Ngã ba của
    Đoàn Phú Tứ. Và đã từng được tuyển vào đoàn tài tử đi sang Hồng Kông đóng
    phim Cánh đồng ma.
    Nguyễn Tuân rất thích truyện tiếu lâm, tiếu lâm ta, tiếu lâm Tây. Tôi
    nhớ có một hồi, ở trong nhân dân ta, phát triển rất mạnh một loại truyện vui gọi
    là tiếu lâm hiện đại nhằm giễu cợt những sự việc, những nhân vật đương thời.
    Nguyễn Tuân có vẻ rất thích những truyện ấy. Có lần ông kể tôi nghe một
    truyện về Phạm Tuân: “Cái hôm người ta phóng con tầu đưa Phạm Tuân lên vũ
    209
    trụ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt có tới dự. Một điều lạ là khi nhiên liệu
    đã nổ rầm rầm mà con tầu không thấy bay lên. Các công trình sư Liên Xô chạy
    đôn chạy đáo kiểm tra kỹ thuật mọi mặt đều chẳng có gì trục trặc cả. Võ
    Nguyễn Giáp ngẫm nghĩ một lát rồi đề nghị cho mình đến gặp Phạm Tuân. Tuy
    biết Võ Nguyên Giáp không hiểu gì về kỹ thuật, nhưng vì nể một vị đại tướng lại
    là uỷ viên Bộ Chính trị Việt Nam nên họ đồng ý.
    Võ Nguyên Giáp vào gặp Phạm Tuân một lát , vừa quay ra thì con tầu
    đã vọt thẳng lên trời. Các vị có mặt hôm ấy hỏi tướng Giáp đã làm thế nào.
    Giáp không nói, chỉ tủm tỉm cười.
    Khi về nước, Lê Duẩn lập tức triệu ngay Giáp đến để hỏi. Giáp vẫn
    không chịu nói. Duẩn nghiêm mặt: “Anh giữ bí mật quốc gia là đúng. Nhưng
    tôi là tổng bí thư mà anh cũng giữ bí mật sao? Võ Nguyên Giáp đành phải nói
    thật: “Có gì đâu, tôi thọc tay ngay vào túi quần nó. Quả nhiên thấy có mấy cái
    đinh ốc nó vừa xoáy ở con tàu. Tôi quát: “Muốn sống lắp trở lại ngay!” Thế là
    con tàu bay vọt lên trời”.
    ông còn kể tôi nghe một truyện nữa – một truyện tiếu lâm Tây. Đó là
    lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Tuân. Buổi sáng hôm ấy, như mọi ngày, ông có
    thói quen đi dạo quanh phố xá mấy vòng rồi tạt vào Hội Nhà văn một lúc. Lúc
    đó tôi nhớ đang có mặt Nguyễn Khải, Bùi Bình Thi, Xuân Quỳnh, Hà Minh
    Đức và tôi. Ông đến sau, thấy tôi, ông nói, đã lâu lắm không gặp. Chính hôm ấy
    ông lại nhắc lại với tôi một cách thích thú cái tâm sự rất riêng của Đặng Thai
    Mai đã nói trên kia. Rồi ông kể tôi nghe một truyện tiếu lâm của Pháp: “Có một
    lão giám mục kia, vào lúc hấp hối, phát biểu một nguyện vọng cuối cùng là
    muốn được xem “cái ấy” của đàn bà ngoại đạo nó như thế nào. Người ta thông
    cảm, đáp ứng yêu cầu của ông. Xem xong, ông ta nói: “Tưởng thế nào, hoá ra
    cũng chẳng khác gì của các nữ tu sĩ”.
    Nói dứt câu, Nguyễn Tuân cười khoái chí.
    Nghe nói ở kỳ Đại hội văn hoá toàn quốc tại Việt Bắc năm 1948,
    Nguyễn Tuân, ngay trên diễn đàn, dám kể chuyện “cái rắm thơm, cái rắm thôi”.
    Hồi ấy sinh hoạt văn nghệ còn thoải mái lắm mới có thể có chuyện tếu như thế
    được. Từ năm 1951 trở đi, đừng hòng được như vậy: Đảng ra công khai, biên
    giới phía Bắc thông với phe xã hội chủ nghĩa, sự đổ bộ của tư tưởng Xtaline và
    Mao Trạch Đông, chỉnh huấn về lập trường giai cấp chuẩn bị cải cách ruộng
    đất... Rồi yêu cầu của chiến tranh giải phóng dân tộc phải tập trung cổ vũ chiến
    đấu: Ta là chính nghĩa, là anh hùng, không được giễu cợt! Tiếng cười hầu như
    mất hẳn trong đời sống văn học.
    Tôi cho rằng, ở Nguyễn Tuân, luôn tiềm tàng một cái gọi là chất trẻ
    trung tinh nghịch, thể hiện ở người và ở văn.
    Trong cuốn 40 năm nói láo, Vũ Bằng tỏ ra biết khá nhiều về cá tính
    độc đáo của Nguyễn Tuân. Đọc tập hồi ký này, thấy Nguyễn Tuân bày ra lắm
    trò tinh nghịch rất oái oăm, kỳ quái. Chẳng hạn, ngủ lại xóm hát, bỗng dưng leo
    lên mái nhà ả đào chơi. Rồi bắt ả đào giả vờ chết để diễn trò khóc lóc ầm ĩ khiến
    hàng xóm láng giềng tưởng thật chạy sang chia buồn... Cụ Nguyễn Lương Ngọc
    210
    còn kể tôi nghe chuyện này về Nguyễn Tuân: đang ngồi ở nhà ả đào, tự nhiên
    phóng tay đấm mạnh vào cửa kính cho vỡ toang ra. Chả để làm gì cả. Y như
    người dư thừa sinh lực vậy. Hay là đang nửa đêm, dạy cặm cụi đánh giầy cho
    tất cả quan viên... Nguyễn Tuân hay có những ý nghĩ nghịch ngợm: chẳng hạn,
    tuyên bố, khi chết, muốn người ta đốt xuống cho mình vài hình nhân nhà phê
    bình. ở dưới ấy rỗi rãi, trò chuyện với mấy tay phê bình chắc cũng vui. Hoặc
    đến các vị trong Ban chấp hành Hội nhà văn, đề nghị cho biết khi mình chết thì
    sẽ thuê mấy ô tô đi đưa. Hỏi thế để bây giờ xin trước vài cái đi uống rượu, sau
    này xin cứ trừ đi... Trong văn cũng thế. Như trong Một chuyến đi chẳng hạn,
    ông nẩy ra ý nghĩ đem giam chung với nhau mấy thằng nghiện thuốc lá nặng,
    rồi theo dõi xem chúng ứng xử với nhau như thế nào khi cạn bao thuốc. Còn
    trong Sông Đà thì lại tưởng tượng tượng ra cái cảnh ở một bến nước kia, đàn
    ông, đàn bà đang tắm táp, tự nhiên nước sông đột ngột rút sạch, mọi người thấy
    mình bỗng tênh hênh tô hô cả ra (chi tiết này trong những lần in lại, không thấy
    nữa)...
    Các vị Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Như Phong, Phan Cự Đệ... chắc cho
    thế là nhảm nhí, là vớ vẩn. Tôi thì cho đấy chính là cái chất trẻ trung hồn nhiên
    rất có duyên của Nguyễn Tuân.
    * *
    *
    Nguyễn Khải nhiều lần nói, Nguyễn Tuân là người sướng nhất: ngông
    nghênh, khinh bạc, chẳng trọng ai, chỉ trọng mình, vậy mà đi đâu cũng được
    chiều chuộng, đón rước, nể trọng. Lại có người tự nguyện điếu đóm, phục vụ
    tận tình.
    Nguyên Ngọc có lần cùng sang Liên Xô với Nguyễn Tuân. Họ ở
    Lêningrát vào đúng dịp tuyết đầu mùa. Người ta biết Nguyễn Tuân rất thích
    xem tuyết rơi, nên dành cho ông một căn phòng rất thuận tiện để ngắm tuyết (về
    nước, ông có viết một bài đăng trên Văn nghệ gọi là Lêningrat, tuyết đầu mùa).
    Nam sau Nguyễn Tuân lại sang Liên Xô. Đến Mạc Tư Khoa đúng vào dịp tuyết
    đầu mùa. Người ta lại đưa ông về đúng cái căn phòng năm trước ở Lêningrát để
    xem tuyết rơi. Theo Nguyên Ngọc, ở Liên Xô, Nguyễn Tuân được coi như một
    thượng khách. Lại có một anh tên là Marian, chuyên dịch Nguyễn Tuân sang
    tiếng Nga. Trong nhà mình, Marian chỉ treo độc một bức chân dung Nguyễn
    Tuân.
    Nguyễn Khải kể với tôi chuyện này: Sau 1975, có lần Nguyễn Tuân
    vào Sài Gòn. Ông bị khớp nặng, nằm liệt trên lầu. Trịnh Công Sơn ngày nào
    cũng tự nguyện lo chuyện ăn uống theo khẩu vị Nguyễn Tuân: nấu cơm niêu đất
    ăn với cá bống kho tiêu là món Nguyễn Tuân thích.
    ở tầng dưới thì Nguyễn Khải và Nguyễn Thành Long đóng vai tiếp
    khách cho Nguyễn Tuân. Ai đến thăm thì lên báo cáo xem ông có tiếp không.
    Nhiều người ông không tiếp, phải để quà đấy đi về. Có một lần Marian lúc ấy
    đang ở Sài Gòn, đến thăm. Nguyễn Khải và Nguyễn Thành Long nghĩ là trường
    hợp này không phải báo cáo, cứ cho lên luôn. Marian hôm ấy lại dắt theo một
    211
    tay Liên Xô nữa. Nguyễn Khải cứ thấy ông mắng Marian xơi xơi: “Sao mày lại
    đưa thằng ấy lên!”. Khải nói: “Lần đầu thấy một thằng “tiểu quốc” mắng một
    thằng “đại quốc”, nghĩ cũng mát ruột”.
    Nguyễn Minh Châu cũng cho Nguyễn Tuân là sướng. Sau 1975, Hội
    An có tổ chức một cuộc kỷ niệm gì đó, mời Nguyễn Tuân vào viết cho một bài.
    Lúc ấy Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đang ở Đà Nẵng, muốn có xe vào
    Hội An chơi, bèn bịa chuyện cần một ôtô vào trước để sửa soạn đón Nguyễn
    Tuân hôm sau vào. Thế là được cấp luôn một chuyến xe. Thực ra bịa thế thôi
    chứ có sửa soạn gì đâu! Nguyễn Tuân vào đã có xe riêng, một mình một xe. Hồi
    ấy chuyện xe cộ không sẵn như bây giờ.
    Nghe nói, ngày xưa, Nguyễn Tuân chơi cô đầu cũng rất sang. Thường
    bồ bịch với đào hát nổi tiếng hoặc bà chủ nhà hát. Không phải bao gái mà lại
    được gái bao. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, ông được cô
    đào hát nhân tình nào đó gửi vàng từ Hà Nội ra cho ông tiêu.
    Riêng tôi được chứng kiến một chuyện cũng lạ.
    ấy là ngày làm lễ bế giảng trường Nguyễn Du khoá một long trọng
    lắm. Quan khách đến dự rất đông. Có đủ bộ trưởng, thứ trưởng, trung ương uỷ
    viên và các nhà văn có tên tuổi ở Hà Nội. Anh điều khiển buổi lễ, giới thiệu lần
    lượt các đại biểu. Giới thiệu ai thì người ta cũng chỉ ngồi vỗ tay tại chỗ thôi.
    Nguyễn Tuân đến muộn. Không hiểu sao, cả hội trường không ai bảo
    ai, cùng đứng dậy vỗ tay dài.
    Vì thiên hạ vốn trọng người tài chăng? Nguyễn Tuân đúng là một cái
    tài. Nhưng người tài đâu chỉ có Nguyễn Tuân? Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
    Viên, Nguyễn Đình Thi... không tài à?
    Tôi cho Nguyễn Tuân được trọng vì vừa có tài vừa có nhân cách.
    Nhưng giữ được nhân cách đâu có dễ. Cái nghèo, cái đói, cái sợ (sợ cấp trên)
    khiến người ta khó giữ được nhân cách, tuy biết thế là hèn. Vì thế người có
    nhân cách càng hiếm, càng quý. Cho nên có một người như Nguyễn Tuân là rất
    sang cho giới nhà văn.
    Trong nhiều tác phẩm của mình, nhất là trong Chiếu lư đồng mắt cua,
    Nguyễn Tuân thường vẽ mình như một kẻ bê tha, trác táng, bẩn thỉu, nhếch
    nhác, rượu chè be bét, suốt ngày chui rúc vào cái màn hôi hám của ông Thông
    Phu, một con nghiện bị bệnh bại liệt bán thân bất toại. Uống rượu thì say đến
    mức úp mặt vào mâm bát mà gào, mà hò hét như thằng điên...
    Thực ra trong đời thực, ông có phải như thế đâu. Hồi ở Việt Bắc bà
    Trần Minh Tước cùng làm việc với tôi ở Sở Giáo dục Liên khu Việt Bắc vốn
    quen thân với Nguyễn Tuân, nói với tôi: “Ông ấy đến cái maillot, cái quần lót
    cũng giặt là cẩn thận”.
    Còn uống rượu thì không bao giờ quá chén. Tô Hoài gọi là uống rượu
    ngữ, nghĩa là có chừng mực chứ không say bét như Hoàng Trung Thông...Ông
    Hoài Thanh chê Nguyễn Tuân có lắm lệch lạc về tư tưởng, từng bị cánh nhân
    văn lợi dụng, nhưng ông vẫn thấy Nguyễn Tuân không bê tha truỵ lạc như nhiều
    tay trong nhóm Nhân văn, nghĩa là Hoài Thanh cũng rất nể Nguyễn Tuân về
    212
    nhân cách.
    Tôi lại nghe nói, sau 1975, một số nhà xuất bản ở Sài Gòn tự nguyện
    trả tiền nhuận bút cho những nhà văn “tiền chiến” sống ở miền Bắc, mà trước
    1975, họ có in lại sách này sách khác để bán. Các vị đều nhận cả, riêng Nguyễn
    Tuân từ chối.
    Trở lại câu chuyện Nguyễn Tuân và Nguyên Ngọc ở Liên Xô. Trong
    thời gian Nguyễn Tuân ở Liên Xô, người ta cử một cô gái Nga làm phiên dịch
    cho ông. Cô gái rất đẹp - đẹp như tượng – Nguyên Ngọc nói thế (Chắc là đẹp
    như tượng thần Vệ nữ ở Milô chăng?). Nguyễn Tuân nhờ cô gái mua cho mình
    mười bông hồng tươi. ở Nga, giữa mùa rét, hoa hồng rất đắt: 12 rúp (trong khi
    một cái bàn là điện hay một cái áo bay có 7 rúp). Hỏi mua để làm gì, ông không
    nói. Mua về, ông tặng luôn cho cô gái phục vụ mình. Cô gái Nga lấy làm lạ, vì
    cô biết Việt Nam còn nghèo lắm, lại đang có chiến tranh, sao ông nhà văn này
    lại chơi sang thế, không dành tiền mua quà cáp gì về nhà. Cô ta áy náy, bèn tự
    mình đi mua một ít hàng rồi gói ghém, bắt Nguyễn Tuân mang về. Cô hỏi, các
    nhà văn nước ông có như thế cả không? Nguyễn Tuân nói, tôi chỉ là một nhà
    văn xoàng ở Việt Nam thôi. Ông nói thế, chắc là để làm sang cho giới văn nghệ
    Việt Nam vốn rất nhếch nhác mỗi khi ra nước ngoài.
    Hoạ sĩ Đào Đức còn kể chuyện này: Một lần Nguyễn Tuân cùng Kim
    Lân sang Liên Xô. Mấy ngày đầu người ta chưa cấp tiền. Nhà văn Simônốp ngỏ
    ý biếu mỗi người 50 rúp tiêu tạm. Nguyễn Tuân từ chối, Kim Lân chả lẽ lại
    nhận, nhưng tiếc quá, nói với Đào Đức: mình cảm thấy cứ y như là bị móc ví
    mất 50 rúp.
    Mọi người đều biết, Nguyễn Tuân là người ham chơi, ham “xê dịch”.
    Nhưng không vì thế mà vất bỏ nhân cách. Vào lúc đã cao tuổi, ông có được mời
    sang Pháp, nhưng ông từ chối. Ông nói với tôi: “Già rồi sang đấy mà chết ở
    đấy thì nhục quá!”.
    Đấy, Nguyễn Tuân sở dĩ được trọng là vì thế. Mình không giữ được
    nhân cách thì ông ấy giữ hộ - đại diện giới nhà văn giữ hộ.
    Nguyễn Tuân nổi tiếng là ngông. Đúng thế. Nhưng chơi ngông không
    dễ đâu. Không có tài, không có đức, chơi ngông làm sao được! Ngông có cả
    một cơ sở đạo lý của nó đấy. Cho nên những bậc chơi ngông xưa nay đều là
    những tấm gương đạo đức cả - Tản Đà gọi là “thiên lương”:
    “Hai chữ thiên hương thằng Hiếu nhớ”
    Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Nguyễn Tuân
    đều thế cả. Sau Nguyễn Tuân, hình như trong giới văn học, không còn ai dám
    chơi ngông nữa thì phải.
    ở Nguyễn Tuân tôi thấy có một cái gì rất cổ điển, không phải chỉ trong
    văn đâu mà trong lối sống, tác phong sống. Ông không chỉ viết văn cho hay, cho
    đẹp mà còn muốn sống đẹp nữa.
    Chất cổ điển chính là ở chỗ đó. Các cây bút hiện đại chỉ lo sản xuất văn
    chương cho nhiều, cho tốt, còn sống thế nào cũng được, cốt sao cho khoẻ, cho
    sướng. Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi... là
    213
    như thế.
    Người xưa tư duy nguyên hợp (syncrétique), óc phân tích chưa phát
    triển nên thường không phân biệt thực và hư, chân và ảo, con người và thiên
    nhiên, cuộc sống và nghệ thuật. Cho nên người quân tử nói năng cũng có văn
    vẻ, ăn uống cũng có phép tắc, chào hỏi cũng có điệu bộ, ngôn ngữ tình yêu cũng
    kiểu cách, khóc than cũng lên bổng xuống trầm (văn tế), thậm chí đánh nhau mà
    như vũ đạo... Cho nên Trần Hưng Đạo truyền hịch mà thành văn chương,
    Nguyễn Trãi viết cáo mà hình tượng tầng tầng lớp lớp... Từ đó, không phân biệt
    sự sống và nghệ thuật, cuộc đời hay sân khấu...
    Nguyễn Tuân là một trí thức Tây học, một cây bút hiện đại. Những tác
    giả phương Tây mà ông chịu ảnh hưởng sâu sắc là những nhà văn vào loại hiện
    đại nhất như Marcel Proust, André Gide... Tuy nhiên ở ông vẫn có một cái gì
    giống như Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà... Không phải chỉ làm nghệ
    thuật mà trước hết sống cho đẹp, cho nghệ thuật. Và về nhân cách vẫn phảng
    phất cái cốt cách trượng phu quân tử.
    Nguyễn Tuân là cây bút có phong cách nghệ thuật rất sâu. Nhưng trong
    cung cách sống nhiều khi ông cũng cố tình tạo cho mình một phong dạng
    (manière) riêng khá kiểu cách: từ cách để ria mép, cách cầm cái can, ngậm cái
    píp, cách đi đứng... không phải ông không có ý tạo dáng cho đẹp. Ông sành sỏi
    hát ả đào, đấy cũng là một cái thú chơi cổ điển. Trước cách mạng tháng Tám,
    hồi còn ở Thanh Hoá, ông mở một hiệu sách đặt tên là Thư Trang, về Hà Nội,
    làm cái nhà ở Cống Mọc, ông gọi là Am Sông Tô...nghĩa là cũng thích văn vẻ
    Ngay sau cách mạng tháng Tám, đến dự Hội nghị Văn hoá cứu quốc
    giữa Hà Nội, ông vẫn mặc áo gấm, đội khăn xếp... tôi cho cũng là một cách
    “diễn” đấy thôi – diễn trò ngông nghênh nghệ sĩ trước bàn dân thiên hạ...
    Một con người như thế, tất không thích ai đến thăm khi ốm đau. Ông
    có bệnh thấp khớp mãn tính nặng, mỗi lần phát bệnh, chân tay sưng tấy, co
    quắp, phải vệ sinh tại chỗ, trông chẳng “mĩ thuật”, chẳng “nghệ sĩ” tí nào.
    Một lần tôi đến ông, đúng lúc ông ốm. Ông đang ngồi ở mép phản,
    thõng chân xuống. Có một người nữa quay lưng lại hình như một người nhà
    đang làm gì để giúp ông. ông nheo mắt nhìn tôi từ xa, lúc đầu ngờ ngợ, sau
    nhận ra, ông có vẻ bối rối, luống cuống:
    - Sao, có việc gì thế?
    - Không có gì. Đến thăm bác thôi.
    - Thế thì cám ơn, cám ơn. Thôi để lúc khác nhé.
    Sợ tôi chưa hiểu, ông chỉ xuống cái bô ở gậm phản...
    Tôi ngượng quá, vội bỏ ra.
    Một lần khác, tôi đến thăm ông cũng đúng vào lúc ông ốm. Nhưng lần
    này cửa đóng. Ngoài cửa tôi thấy có dán một tờ giấy lớn ghi mấy dòng chữ:
    “Bệnh nhân Nguyễn Tuân không tiếp khách, bao giờ khỏi sẽ xin đến tạ. Ai đến,
    xin gọi và xướng tên hai lần. Không có tiếng trả lời thì xin vui lòng lui cho.
    Cám ơn”.
    Đến thăm mà phải xướng tên, ai còn đến làm gì!
    214
    Như đã nói, tôi gặp Nguyễn Tuân lần cuối cùng vào buổi sáng ngày
    thứ bẩy 25 – 7 – 1987 ở trụ sở Hội nhà văn, 65 Nguyễn Du.
    Trông ông rất đẹp lão. Nguyễn Khải nhận xét và nói một câu rất gở:
    “Đẹp lão thế là sắp sửa đấy!” Nguyễn Tuân nói, ông không sợ chết, chỉ sợ ốm
    kéo dài thôi. Hôm ấy, ông nói rất nhiều chuyện vui. Tôi đã từng nghe câu nói
    của ông về các nhà phê bình: khi chết đi, muốn người ta đốt xuống cho mình vài
    anh phê bình... Hôm ấy ông lại cho ra thêm một câu nữa: “Vừa rồi có mấy anh
    nhà văn nước ngoài đến hỏi tôi: “Ông thường có thói quen viết vào lúc nào?”.
    Tôi nói, thường vào ban đêm. Họ hỏi lý do. Tôi nói: “Vì lúc ấy các nhà phê
    bình họ đi ngủ cả rồi!”.
    Tôi thấy ông cầm trên tay một điếu thuốc lá nhưng không hút, lại còn
    xin thêm Nguyễn Khải điếu nữa. Ông nói: bác sĩ nói phải hạn chế hút. Mỗi ngày
    một điếu thôi, tránh hít sâu vào. Còn rượu thì cấm hẳn. Và phải tránh có xúc
    động mạnh. Rồi ông cười: “Làm nghề viết văn mà phải tránh xúc động thì còn
    viết gì được nữa!”.
    ấy thế mà đúng 3 ngày sau ông qua đời.
    Bửu Chỉ ở Huế ra Hà Nội. Chị Ngọc Trai tổ chức một bữa nhậu.
    Nguyễn Tuân uống rượu. Hôm sau vào bệnh viện và tịch luôn.
    Anh Đình Quang nói, lẽ ra ông chưa chết. Ông tự tử đấy. Ông nằm
    cùng với một bệnh nhân nào đó. Ông khó ngủ, dậy bật đèn lên. Ông kia tắt đi.
    Người bật lên, người tắt đi, cứ thế mấy lần. Bực quá, ông uống một liều thuốc gì
    đó và đi luôn.
    Chuyện chả biết có thật thế không. Nhưng anh Nguyễn Xuân Đào, con
    trai Nguyễn Tuân lại bảo không phải. Ông chết là vì đêm ấy ông uống đến nửa
    chai rượu. Thế thì có trời cứu!.
    Nhưng như thế thì cũng là một cách tự sát chứ sao! Vì chính ông đã
    biết phải kiêng rượu kia mà! Thuốc lá còn được hút mỗi ngày một điếu. Còn
    rượu thì cấm hẳn.
    Như vậy thì điều anh Đình Quang nói không hẳn đã sai.
    Chung quanh những người nổi tiếng và độc đáo, thiên hạ thường thêu
    dệt ra lắm giai thoại. Chung quanh Nguyễn Tuân xưa nay cũng lắm giai thoại.
    Thí dụ, nhiều người, tôi cũng thế, nghe nói và tin ở câu chuyện này: Võ
    Hồng Cương, bí thư đảng đoàn Bộ Văn hoá đến thăm Nguyễn Tuân. Đứng dưới
    sân, Cương gọi vọng lên lầu (Nguyễn Tuân ở trên tầng 3, nhà số 90 Trần Hưng
    Đạo): “Anh Nguyễn Tuân có nhà không?”. Nguyễn Tuân mở cửa sổ nói chõ
    xuống: “Nguyễn Tuân có nhà nhưng không tiếp khách” (Có “dị bản” khác:
    Nguyễn Tuân mở cửa sổ trả lời Võ Hồng Cương: “Nguyễn Tuân đi vắng”).
    Nghe có vẻ rất Nguyễn Tuân đấy chứ!. Nhưng sự thật có chuyện ấy không? Tô
    Hoài nói, Nguyễn Thành Long nó bịa ra thế thôi. Tôi hỏi Nguyễn Tuân rồi.
    Chuyện bịa, không có đâu.
    Một thí dụ khác: Tạ Tỵ trong Nam, hồi trước 1975, có viết một cuốn
    sách về chân dung một số nhà văn. Anh ta dựng đứng lên một chuyện về
    Nguyễn Tuân: Nguyễn Tuân ốm nằm ở bệnh viện Phủ Doãn. Ông thèm rượu
    215
    quá mà bị cấm, đang đêm bèn leo tường chốn ra bờ hồ Hoàn Kiếm uống rượu
    và chết luôn trên ghế đá. Cũng có vẻ rất Nguyễn Tuân đấy chứ!
    Tôi đọc bài viết này của Tạ Tỵ đúng vào thời gian luôn tiếp xúc với
    Nguyễn Tuân để làm Tuyển tập.
    Giờ lại nghe chuyện anh Đình Quang. Chả biết thực hư thế nào!.
    Quan Hoa, cuối thu năm 2006.

    P
    osted by ki_ki
     

Chia sẻ trang này