Nhật ký Nhật ký chiến trường - Dương Thị Xuân Quý

Thảo luận trong 'Tủ sách Hồi ký - Tiểu sử' bắt đầu bởi Song Ngư, 1/10/13.

Moderators: Vivi1101
  1. Song Ngư

    Song Ngư Lớp 11

    [​IMG]

    Nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19-4-1941 tại Hà Hội, quê quán thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên trong một dòng tộc trí thức, nghệ sĩ yêu nước chống thực dân Pháp. Ông nội chị, cụ Dương Trọng Phổ, từ rất sớm đã vận động cho Đông Kinh Nghĩa Thục, bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn. Phụ thân chị, ông Dương Tụ Quán là một nhà giáo sau chuyển sang làm báo, chủ trương tờ Văn Học tạp chí, rồi tạp chí Tri Tân. Bác ruột chị, ông cử Dương Bá Trạc vừa tham gia tích cực trong Đông Kinh Nghĩa Thục vừa viết báo viết văn. Sau khi đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, thực dân Pháp mời ông làm tri huyện nhưng ông từ chối và tiếp tục hoạt động chống Pháp, bị chúng đày ra đảo Côn Lôn trước cụ Dương Trọng Phổ ít ngày. Một người bác ruột nữa của Dương Thị Xuân Quý là nhà nghiên cứu nổi tiếng Dương Quảng Hàm. Hai người anh con bác ruột của chị là các họa sĩ Dương Bích Liên, Dương Cẩm Chương.
    Có năng khiếu và say mê văn chương, cô bé Dương Thị Xuân Quý đã thích ghi nhật ký từ 7 tuổi, khi đang sống với gia đình tại Thái Nguyên thuộc chiến khu Việt Bắc. Sau ngày giải phóng thủ đô, Dương Thị Xuân Quý về Hà Nội học trường phổ thông cấp 2 Trưng Vương, rồi ra Quảng Ninh học trường trung cấp mỏ, sau đó về học khóa báo chí do Ban Tuyên huấn trung ương mở. Tốt nghiệp khóa học, chị về làm phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968. Là một phóng viên năng nổ và xông xáo, Dương Thị Xuân Quý đã có mặt ở nhiều vùng nông thôn trên miền Bắc. Mang thai con đến tháng thứ sáu, chị vẫn về Quảng Nạp (Thái Bình), đi cấy đi gặt với bà con xã viên để vừa viết báo vừa viết văn. Khi giặc Mỹ ném bom miền Bắc, Dương Thị Xuân Quý đã có mặt ngay tại các vùng trọng điểm tuyến lửa Nghệ An, Hà Tĩnh năm 1965. Cùng năm ấy, chị viết đơn tình nguyện xin được vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Tháng 4 năm 1968, chị lên đường vượt Trường Sơn vào miền Nam, khi con gái mới 16 tháng tuổi, và chồng chị, nhà thơ Bùi Minh Quốc thì đã có mặt ở chiến trường từ một năm trước đó. Đêm 8-3-1969, Dương Thị Xuân Quý anh dũng hy sinh tại thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân (nay là Duy Thành) huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trong một trận càn quét ác liệt của giặc Nam Triều Tiên khi chị cùng đồng đội từ dưới hầm bí mật bò lên cố tìm cách thoát ra khỏi vòng càn.

    Ngã xuống giữa tuổi 28 phơi phới thanh xuân, Dương Thị Xuân Quý để lại cho đời tác phẩm “Hoa rừng” (gồm các truyện ngắn, bút ký viết trên miền Bắc và trong thời gian ngắn ngủi ở miền Nam) cùng tấm gương ngời sáng của một nhà văn - chiến sĩ hy sinh vì sự nghiệp độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người.

    BÙI MINH QUỐC


    ---

    Thông tin ebook

    Tên sách: Nhật ký chiến trường
    Tác giả: Dương Thị Xuân Quý
    Nhà xuất bản Văn Nghệ
    Năm xuất bản 2007
    -----
    Nguồn: Báo Quảng Nam
    Làm ebook: Cotyba
    Ngày hoàn thành: 28-08-2007

    File Kèm Theo



    [​IMG] View attachment NhatKyChienTruong.rar (512.8 KB, 5570 lần tải)
     
  2. lamtam

    lamtam Lớp 11

    Bản epub:
    [​IMG]
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 10/4/20
    atdau, p04ttmt and trungkho like this.
  3. Nga Hoang

    Nga Hoang Lớp 5

    Nhà văn Bùi Minh Quốc cũng là chồng của Dương Thị Xuân Quý.
     
  4. quang3456

    quang3456 Lớp 8

    Bài thơ về hạnh phúc
    (Tưởng nhớ XQ thân yêu)
    I
    Thôi em nằm lại
    Với đất lành Duy Xuyên
    Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
    Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.

    Trời chiến trường không một phút bình yên
    Súng nổ gấp. Anh lên đường đuổi giặc
    Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
    Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
    Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
    Anh mất em như mất nửa cuộc đời
    Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
    Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy
    Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
    Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi
    Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.
    Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc
    Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
    Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
    Anh nổ súng.

    II
    Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng
    Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra
    Cho đến ngày cất bước đi xa
    Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.

    Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
    Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
    Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
    Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
    Bao dốc cao em cần cù đã vượt
    Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh
    Em nói tới những điều em định viết
    Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
    Con sông Giàng gầm réo miên man
    Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan
    Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc.

    Và em gọi đó là hạnh phúc...

    Nhớ chăng em, ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân
    Em lên đường phơi phới bước chân
    B.52 bom nghìn tấn dội
    Kìa dáng em băng rừng bước vội
    Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi.
    Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi
    Nắng long lanh trong mắt người bám biển
    Giặc mới lui càn khi em vừa đến
    Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
    Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
    Đã lại mở những chiến hào gai góc
    Những em bé, dưới mưa bom, vẫn đi làm đi học
    Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
    Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
    Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.

    Và em gọi đó là hạnh phúc...

    Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
    Em mải mê, đi giữa bao người
    Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hà, Xuyên Phú...
    Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
    Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
    Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
    Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
    Cô du kích dịu dàng dũng cảm
    Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư
    Có tiếng hò như thực như hư
    Em đã đến, tắm mình trong sóng nước
    Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thủa trước
    Em mở mắt nhìn kinh ngạc những làng thôn
    Và kêu lên khi được thấy cội nguồn
    Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ.
    Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ
    Đã cùng họ sẻ chia
    Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa
    Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
    Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể hết
    Của một thời nô lệ đau thương
    Em lớn lên bên họ can trường
    Giữa bom gào đạn réo
    Em đã thấy những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
    Những con người như ánh sáng lung linh
    Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình
    Để làm nên buổi mai đầy nắng
    Em bối rối, em sững sờ đứng lặng
    Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
    Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
    Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.

    Và em gọi đó là hạnh phúc...

    III
    Em ra đi chẳng để lại gì
    Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
    Và anh biết khi bất thần trúng đạn
    Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
    Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
    Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
    Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống
    Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu
    Em trong anh là mùa xuân náo động
    Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu.


    8 tháng 3 - 1969
    6 tháng 9 - 1969
    Bùi Minh Quốc
     
    trungkho thích bài này.
Moderators: Vivi1101

Chia sẻ trang này