Hồi ký Nhất Linh, cha tôi - Nguyễn Tường Thiết

Thảo luận trong 'Tủ sách Hồi ký - Tiểu sử' bắt đầu bởi Latiku, 17/8/15.

Moderators: Vivi1101
  1. Latiku

    Latiku Lớp 3

    Nguyễn Tường Tam (1906[1] - 7 tháng 7 năm 1963) là một nhà văn, nhà báo với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng Du, Tân Việt, Đông Sơn (khi vẽ); và cũng là chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20.

    Ông là người thành lập Tự Lực văn đoàn và là cây bút chính của nhóm, và từng là Chủ bút tờ tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay. Về sau, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng) và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.
    Thân thế
    Ông sinh ra tại phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Nguyên quán của ông là làng Cẩm Phô, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.[2]

    Ông nội Nguyễn Tường Tam là Nguyễn Tường Tiếp, làm tri huyện Cẩm Giàng, gọi là Huyện Giám, rồi về hưu tại đây. Cụ có người con trai duy nhất là Nguyễn Tường Chiếu (húy Nhu) làm Thông phán, nên được gọi là Thông Nhu, hay Phán Nhu. Ông Nhu mất năm 1918 khi mới 37 tuổi. Ông lập gia đình với bà Lê Thị Sâm,[3] và có được 7 người con:

    • Nguyễn Tường Thụy, tổng giám đốc bưu điện...
    • Nguyễn Tường Cẩm, kỹ sư canh nông, giám đốc báo Ngày Nay
    • Nguyễn Tường Tam, tức nhà văn Nhất Linh
    • Nguyễn Tường Long, tức nhà văn Hoàng Đạo
    • Nguyễn Thị Thế
    • Nguyễn Tường Lân (Vinh), tức nhà văn Thạch Lam
    • Nguyễn Tường Bách, bác sĩ.
    Gia đình Nguyễn Tường Tam sống ở Cẩm Giàng, một huyện nhỏ. Cha ông mất sớm, cả nhà lâm vào cảnh khó khăn. Từ bé, anh em Nguyễn Tường Tam đã tiếp xúc với những người nông dân nghèo khổ, điều đó ảnh hưởng đến văn học của Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam sau này.

    Cuộc đời và sự nghiệp
    Thời niên thiếu
    Thuở nhỏ, Nguyễn Tường Tam theo học tiểu học ở Cẩm Giàng, học trung học tại trường Bưởi ở Hà Nội. Năm 16 tuổi, Nguyễn Tường Tam làm thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, và năm 18 tuổi ông có bài "Bình Luận Văn Chương về Truyện Kiều" trên Nam Phong tạp chí .

    Cuối năm 1923 ông đậu bằng Cao tiểu. Nhưng vì chưa đến tuổi vào trường cao đẳng, nên ông làm thư ký ở sở tài chính Hà Nội. Ông làm quen với Tú Mỡ và viết cho tờ Nho Phong. Thời gian đó, ông lập gia đình với bà Phạm Thị Nguyên.

    Năm 1924, ông tiếp tục học ngành Y và Mỹ Thuật, nhưng chỉ một năm rồi bỏ. Năm 1926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ Đình Di định cùng làm báo. Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh nên hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường đi du học.

    Năm 1927, Nguyễn Tường Tam sang Pháp du học. Ở nơi ấy, ông vừa học khoa học, vừa nghiên cứu về nghề báo và nghề xuất bản. Năm 1930, ông đậu bằng Cử nhân Khoa học Giáo khoa (Lý, Hóa) và trở về nước trong năm đó.

    Hoạt động văn chương
    Trở về nước, Nguyễn Tường Tam xin ra tờ báo trào phúng "Tiếng cười", nhưng lần nào hỏi thăm đều nghe Sở Báo chí của Phủ Thống sứ bảo rằng "chờ xét".[4] Trong thời gian chờ đợi giấy phép ra báo, ông xin dạy học tại trường tư thục Thăng Long. Ở đó ông quen biết với thầy giáo dạy Việt văn là Trần Khánh Giư (tức Khái Hưng).

    Năm 1932, Nguyễn Tường Tam mua lại tờ tuần báo Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai, và trở thành Giám đốc kể từ số 14, ra ngày 22 tháng 9 năm 1932.[5] Ông chủ trương dùng tiếng cười trào phúng để đả kích các hủ tục phong kiến, hô hào "Âu hóa", đề cao chủ nghĩa cá nhân....[6] Trong năm ấy, ông và các cộng sự quyết định thành lập Tự Lực văn đoàn trên nguyên tắc "dựa vào vào sức mình, theo tinh thần anh em một nhà. Tổ chức không quá 10 người để không phải xin phép Nhà nước, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích tôn chỉ, anh em tự nguyện tự giác noi theo".[7] Về sau, tính chuyện lâu dài, văn đoàn này mới chính thức tuyên bố thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1934 (báo Phong Hóa số 87).

    Tháng 6 năm 1935, báo Phong Hóa bị nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa ba tháng vì loạt bài "Đi xem mũ cánh chuồn " châm biếm Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu. Sau đó ra tiếp được hơn một năm, thì bị đóng cửa vĩnh viễn (số cuối 190 ra ngày 5 tháng 6 năm 1936) cũng vì tội "chế nhạo".[8] Tờ tuần báo Ngày Nay,[9] trước ra kèm với Phong Hóa, tiếp tục và kế tiếp Phong Hóa. Tháng 12 năm 1936, trên báo Ngày Nay, Nguyễn Tường Tam cùng nhóm Tự Lực văn đoàn phát động phong trào Ánh Sáng, một tổ chức từ thiện với mục đích cải tạo nếp sống ở thôn quê, trong đó có việc làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo...

    Hoạt động chính trị
    Năm 1938, Nguyễn Tường Tam thành lập Đảng Hưng Việt, rồi đổi tên là Đại Việt Dân chính Đảng năm 1939 mà ông làm Tổng Thư ký. Hoạt động chống Pháp của nhóm Tự Lực trở thành công khai.

    Năm 1940, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt và đày lên Sơn La, đến năm 1943 mới được thả. Trong thời gian này, Thạch Lam và Nguyễn Tường Bách tiếp tục quản trị tờ Ngày Nay. Tháng 9 năm ấy, báo Ngày Nay bị đóng cửa sau khi ra số 224.

    Năm 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu. Thạch Lam mất tại Hà Nội vì bệnh lao. Đại Việt Dân chính Đảng thì đã gần như tan rã. Trong thời gian từ 1942 đến 1944, ông học Anh Văn và Hán văn.

    Tại Quảng Châu và Liễu Châu ông gặp Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh mới ở tù ra. Nguyễn Tường Tam cũng bị giam bốn tháng ở Liễu Châu, được Nguyễn Hải Thần bảo lãnh mới được Trương Phát Khuê thả ra. Nguyễn Tường Tam hoạt động trong Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, rồi về Côn Minh hoạt động trong hàng ngũ Việt Nam Quốc dân đảng, tá túc với Vũ Hồng Khanh. Tháng 3 năm 1944, tại Liễu Châu, Nguyễn Tường Tam được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, tức Việt Cách.

    Giữa năm 1945, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Giang cùng quân đội, nhưng rồi lại quay lại Côn Minh và đi Trùng Khánh. Giai đoạn này đã được phản ánh trong tiểu thuyết Giòng sông Thanh Thủy. Theo lệnh của Nhất Linh từ Trung Quốc gửi về, báo Ngày Nay, với Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Bách, lại tục bản, khổ nhỏ, ngày 5 tháng 3 năm 1945 và trở thành cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

    Tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh, Đại Việt Dân chính đảng sáp nhập với Việt Nam Quốc dân đảng, đồng thời Việt Nam Quốc dân Đảng liên minh với Đại Việt Quốc dân Đảng. Nguyễn Tường Tam làm Bí Thư Trưởng[10] của Việt Nam Quốc dân Đảng. Cuối năm 1945, Đại Việt Quốc dân Đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng thành lập Mặt trận Quốc dân Đảng.

    Sau khi quân Tưởng vào Việt Nam, đầu năm 1946 Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tổ chức hoạt động đối lập chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xuất bản báo Việt Nam. Tháng 3 năm 1946, sau khi đàm phán với chính phủ, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.[11]

    Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.

    Nguyễn Tường Tam được cử làm Trưởng đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị Đà Lạt đàm phán với Pháp mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn.[12] Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp còn theo David G. Marr Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn.[12][13] Ông được cử đứng đầu Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau nhưng cáo bệnh không đi mà rời bỏ Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, lưu vong sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946 và ở lại Hồng Kông cho tới 1951. Sau đó xảy ra sự kiện vụ án phố Ôn Như Hầu, lực lượng công an khám xét các của cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng bắt giữ nhiều đảng viên hai đảng này, và tịch thu được nhiều vũ khí truyền đơn khẩu hiệu chống chính quyền. Khi Nguyễn Tường Tam rời bỏ chính phủ, chính phủ đã tuyên bố Nguyễn Tường Tam đào nhiệm và biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, đem đi[14] nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn.[12]

    Năm 1947, Nguyễn Tường Tam cùng Trần Văn Tuyên, Phan Quang Đán, Nguyễn Văn Hợi, Nguyễn Hải Thần, Lưu Đức Trung thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp ủng hộ giải pháp Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam, chống cả Việt Minh lẫn Pháp, nhưng đến năm 1950 thì mặt trận này giải thể.

    Năm 1951, về nước mở nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn, và tuyên bố không tham gia các hoạt động chính trị nữa. Năm 1953, Nguyễn Tường Tam lên sống tại Đà Lạt. Tuy nhiên trong Quốc dân Đảng vẫn tồn tại phái Nguyễn Tường Tam, cạnh tranh với hai phái khác.

    Năm 1958, rời Đà Lạt về Sài Gòn, ông mở giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn, phát hành được 11 số thì bị đình bản. Năm 1960 ông về Sài Gòn thành lập Mặt trận Quốc dân Đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Đảo chính thất bại, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng.

    Ông bị chính phủ Ngô Đình Diệm gọi ra xử ngày mùng 8 tháng 7 năm 1963. Đêm 7 tháng 7, tại nhà riêng, nghe tin sẽ bị đưa ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam dùng thuốc độc quyên sinh để phản đối chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm, để lại phát biểu nổi tiếng:

    “ "Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do."[15] ”
    Gia đình
    Vợ ông là bà Phạm Thị Nguyên (1909-1981), quê làng Phượng Dực, Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Tuy là người Tây học, nhưng cuộc hôn nhân này do cha mẹ ông quyết định. Vợ ông trước năm 1945 là chủ hiệu buôn cau khô có tiếng ở Hà Nội mang tên Cẩm Lợi ở số 15 phố Hàng Bè. Bà mất tại Pháp ngày 6 tháng 5 năm 1981.

    Ông có 7 người con, gồm 5 con trai (Nguyễn Tường Việt, Nguyễn Tường Triệu, Nguyễn Tường Thạch, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Tường Thái) và 2 con gái (Nguyễn Kim Thư, Nguyễn Kim Thoa).[16]

    Nơi an nghỉ
    Ngày 7 tháng 7 năm 1963, Nhất Linh đã quyên sinh bằng rượu pha độc dược. Theo lệnh của nhà cầm quyền lúc bấy giờ, gia đình phải chôn ông gấp tại nghĩa trang chùa Giác Minh ở Gò Vấp, không cho đợi người con cả của ông ở Pháp về dự lễ tang. Năm 1975, Nguyễn Tường Thạch (con trai Nhất Linh) đã hỏa thiêu di cốt của cha, rồi gửi bình tro tại chùa Kim Cương, đường Trần Quang Diệu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1981, bà Nhất Linh sang Pháp đoàn tụ với các con, rồi qua đời và an táng tại đó. Năm 2001, các con mới quyết định di dời hài cốt của cha mẹ cùng chị gái lớn là Nguyễn Thị Thư về trong khu mộ của dòng họ tại Hội An (Quảng Nam).[17]

    Tác phẩm
    Tiểu thuyết
    • Gánh hàng hoa (cùng Khái Hưng, 1934)
    • Đời mưa gió (cùng Khái Hưng, 1934)
    • Nắng thu (1934)
    • Đoạn tuyệt (1934-1935)
    • Lạnh lùng (1935-1936)
    • Đôi bạn (1936-1937)
    • Bướm trắng (1938-1939)
    • Xóm cầu mới (1949-1957). Trường thiên, viết dở dang.
    • Giòng sông Thanh Thủy (1960-1961). Trường thiên, tác phẩm cuối cùng, gồm ba tập:
    Ba người bộ hành
    Chi bộ hai người
    Vọng quốc

    Tập truyện
    • Nho phong (1924)
    • Người quay tơ (1926)
    • Anh phải sống (cùng Khái Hưng, 1932 - 1933)
    • Đi Tây (1935)
    • Hai buổi chiều vàng (1934-1937)
    • Thế rồi một buổi chiều (1934-1937)
    • Thương chồng (1961)
    Tiểu luận
    • Viết và đọc tiểu thuyết (1952-1961)
    Dịch phẩm
    • Đỉnh gió hú của Emily Bronte (đăng báo 1960, xuất bản 1974)[18]
    Hội họa
    Mặc dầu thời gian theo học Trường Mỹ thuật không lâu, Nhất Linh cũng đã để lại một số tranh vẽ trong đó có bức Scène de Marché de rue Indochinois (Cảnh Phố Chợ Đông Dương) vẽ trên lụa thực hiện khoảng 1926-1929. Bức tranh này năm 2010 được hãng Sotheby's bán đấu giá ở Hương Cảng với giá 596.000 Đô la Hồng Kông, tương đương với 75.000 Mỹ kim.[19]
    (source: Wiki)
     
  2. Latiku

    Latiku Lớp 3

    damrimuabay, tieungao and tamchec like this.
  3. Latiku

    Latiku Lớp 3

    Vài nét về tác giả Nguyễn Tường Thiết:
    Sinh năm 1940 tại Hà Nội. Con út nhà văn Nhất Linh. Cử Nhân Khoa Học tại Đại Học Sài Gòn. Trước 1975 là giáo sư Toán Lý Hóa. Phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang năm 1973. Qua Mỹ năm 1975, làm chuyên viên hóa chất tại tiểu bang Washington. Mới về hưu tháng 5/06. Cộng tác với Thế Kỷ 21 từ năm 2002. Tác phẩm đầu tay: Hồi ký Nhất Linh Cha Tôi xuất bản tháng 7/2006, đúng 100 năm ngày sinh của Nhất Linh.
     
    toidangki and tamchec like this.
  4. Nhà văn Nhất Linh đã đặt 1 nền tảng cho văn học Việt.Lấy bối cảnh khi viết những tác phẩm của ông ,tôi thấy ông rất sáng tạo,nhiệt huyết để dẫn dắt người đọc .
    Đời ông phong phu,đa tài để lại những tác phẩm giá trị ,rất đáng ngưỡng mộ.
     
  5. nguyenthanh-cuibap

    nguyenthanh-cuibap Cử nhân

    FILE EPUB:
     

    Các file đính kèm:

    matnasat, cairong, baothoa and 8 others like this.
  6. Thuquynhnhanhoc

    Thuquynhnhanhoc Mầm non

    Cảm ơn bạn nhé
     
  7. Beringen

    Beringen Banned

    Tặng các bạn một văn bản có bút tích của tác gia Nhất Linh. Di cảo hiện đặt dưới ban thờ cụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam ở Seattle, do trưởng nam Nguyễn Tường Thiết đưa sang năm 1975.

    [​IMG]
    [​IMG]

    KÝ TRÌNH
    Ngày giờ đã khẩn cấp !​
    BÁO CÁO – CỐNG HIẾN Ý KIẾN – YÊU CẦU
    A. VIỆC THỐNG NHẤT CÁC ĐẢNG PHÁI QUỐC GIA

    KHẨU HIỆU: Một chủ nghĩa! Một chỉ huy! Và đối ngoại thì muôn mặt.
    Nguyên Tắc
    Một chủ nghĩa: Duy Dân chủ nghĩa của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (đổi mới).
    Một chỉ huy, một tổ chức: các đảng phái ở trong thống nhất theo một chỉ huy; các đảng phái ở ngoài này đã thống nhất dưới một chỉ huy rồi.
    Ngoại giao muôn mặt: tuỳ sự tiện lợi mà lấy tên riêng. Ở hải ngoại đối với 16 lấy VNQDD, đối với 2 lấy tên khác, ở trong nước lấy Đ V đối với dân chúng, đối với 32 lấy tên khác v.v..
    Một lá cờ.
    Một đảng ca.
    LỜI BÀN THÊM
    Một chủ nghĩa: Nội dung chủ nghĩa đại khái đã giống nhau còn tên thì nên lấy tên Duy Dân vì đúng và gọn nhất. Ở ngoài này huấn luyện toàn thể đã lấy tên Duy Dân. Vậy sinh hoạt Quân bình và Dân tộc sống còn của Đ.V.Q.D.Đ v.v… bắt đầu từ nay đổi ra Duy Dân chủ nghĩa. Vậy: TRONG CŨNG NHƯ NGOÀI LÂY DUY DẤN CHỦ NGHĨA LÀM CĂN BẢN LÝ TƯỞNG VÀ THỰC HÀNH NGAY VIỆC NHẤT NGUYÊN HOÁ VỀ LÝ TƯỞNG NÀY. TỤI CỘNG SẢN MUÔN MẶT NHƯNG CHUNG QUY VẪN LÀ CỘNG SẢN, THÌ CHÚNG MÌNH CŨNG MUÔN MẶT NHƯNG CHUNG QUY VẪN LÀ DUY DÂN. Ngoài này dựng Duy Dân Học Xã để nghiên cứu, thảo sách và gửi về, trong ấy cũng lập Duy Dân Học Xã, lấy cuốn sinh hoạt quân bình và tiếp hợp với anh A (tìm ở 64) làm tài liệu nghiên cứu cho rộng rãi, đầy đủ hơn (B và C và D hãy thương thảo ngay đi). Một chỉ huy: ở ngoài này đã có cơ cấu thống nhất chỉ huy rồi (xem biên bản của HNCHB). Ở trong ấy nếu đã lập rồi thì xin cống hiến ý kiến này: đừng lập một uỷ ban liên hiệp mà tổ chức vẫn riêng. CẦN PHẢI CÓ MỘT CƠ CẤU CHỈ HUY TOÀN THỂ TỔ CHỨC QUY VÀO MỘT theo đúng cái nguyên tắc một chủ nghĩa, một chỉ huy, tổ chức (còn như việc đặt Trung Ương ở ngoài hay trong thì tuỳ ý bên trong quyết định).
    Muôn mặt: 2 cái nguyên tắc trên khi đã theo đúng thì chính sách muôn mặt có thể dùng mà không sợ sự phân chia tị nạnh. Chính sách muôn mặt có nhiều lợi: không sợ tan cả toàn thể khi thất bại, không sợ mất hết tín nhiệm như là nếu chỉ có một tên, sự vận dụng về ngoại giao được mềm mại, uyển chuyển, không sợ phạm đến lòng tự ái rất thông thường của đảng viên lúc nào cũng có cảm tình với tên đảng cũ.
    Cờ: tuỳ trong định liệu. Lá cờ do anh E vẽ rất hợp vì đẹp, khoẻ, hùng, và ý nghĩa đúng với Duy Dân: duy trì một khối dân cho chắc (màu đen) phấn đấu bằng máu (màu đỏ) để bước lên con đường sáng (màu trắng).
    Đảng ca: tùy ở trong định. Đề nghị bài Hồn Nước của F. Chỉ lấy nhạc in thôi (hỏi H). Lời và bản liên lạc (?) gửi ra.
    B. ĐỐI NGOẠI. Xin xem tờ biên bản và người về sẽ báo cáo đầy đủ thêm. Yêu cầu để đối phó với ngoại giao.
    [xóa] 27 [xóa] – Mật mã
    [xóa] 54 [xóa]
    [‘’‘’] 6 và 32 (ghi của người đánh máy: 2 số này đều có gạch chéo)
    Cho biết người mình đem 27 và giấy của I của K đã về tới chưa. Những người chính là L, M, N, O, P (hỏi H thì biết họ).
    C. ĐỐI NỘI. Bá cáo, xem biên bản. Ở trong đối với CS cũng nên một thái độ như ngoài này. Đối với các đảng bạn thì theo như mục A.
    D. TỔ CHỨC. Bá cáo xem biên bản.
    Ở trong lập ngay Trung Ương chấp hành uỷ viên hội.
    Các tỉnh đảng bộ cho thành lập ngay không nên chờ vì sợ tiết lộ.
    Chú trọng đặc biệt về việc lập khu đảng bộ ở biên giới, lập các giao thông trạm: PHẢI LIÊN LẠC ĐƯỢC VỚI NGOÀI VÀ LIÊN LẠC CHO ĐỀU. Đ cũng gửi về mật mã viết thư – định ám hiệu để nhận nhau.
    Chú trọng về việc khuyếch trương tổ chức các nhân sĩ tại dã (những người có thế lực ở nhà quê) để thực hiện việc nông dân cách mệnh (nắm được nông dân là nắm được thắng lợi). Một mặt tổ chức một đội CÁCH MỆNH NHÀ NGHỀ chọn trong bọn trí thức thất nghiệp, chưa vợ con, bọn này không trực tiếp với dân quê vì sợ bại lộ, chỉ trực tiếp với các nhân sĩ tại dã, huấn luyện tổ chức họ cho cứng, bày kế hoạch, cung cấp tài liệu cho họ v.v… rồi để họ trực tiếp với dân quê. Như thế nắm một người được trăm người mà khó bại lộ.
    Thực hành việc lập đội chiến đấu tuyên truyền (theo như tờ báo cáo do H đưa về).
    ĐẶC BIỆT : VIỆC ĐƯA MỘT SỐ NGƯỜI RA
    10 người xung vào chấp hành bộ ở hải ngoại, để tăng cường Hải ngoại bộ, đủ nhân tài đối phó với ngoại giao (cả 16 lẫn 2), với việc tuyên truyền quốc tế và với cuộc nhập Việt đã khẩn cấp gần tới. TƯ CÁCH 5 [ghi chú của người đánh mày: hay ‘’những’’ viết tắt?] người đó: phải trí thức cao, có nhận thức về chính trị, có đủ tư cách để xung vào cơ cấu chỉ huy của đảng ở hải ngoại. Viết văn Pháp giỏi, một hai người viết và nói giỏi tiếng Anh, nếu lại kèm thêm nghề như về thuốc, về vẽ, về kiến trúc thì hay lắm vì giúp thêm được về kinh tế. Bên này mở clinique có thể đủ tiền hoạt động. Người đó trong ấy chọn. Ngoài này đề nghị Q, R, S, T… Những người có nghề cần đem khí cụ ra: thuốc vỉ, thuốc chữa bịnh…
    Một người ra ở bí mật, xem xét tình hình ngoài này rồi về bá cáo.
    Đặc biệt: tìm hết cách đưa U ra để giúp về doanh nghiệp. Một mình U ra được có thể có đủ tiền nuôi hoạt động ở ngoài này: hoăc làm rượu mùi, xà phòng, nước hoa, thuốc đánh răng, kem mặt, son môi v.v… một thứ thành công cũng đủ kiếm 3, 4 trăm vạn một tháng. Đem các produits chimiques cần ra, các essenses aromatiques… chỗ này phải nhờ B hợp sức dẫn dụ U – Những người ra phải đem theo một tờ tuyên ngôn, có đóng giấu (và đưa cả giấu ra để dùng lúc cần) một bản tuyên ngôn bằng chữ Pháp, tốt hơn là chữ Anh, một bản quốc ngữ. Đem ra ít quá, như lá cờ thêu, thuốc quinine… để tặng yếu nhân.
    E. HUẤN LUYỆN. Nhất nguyên hóa chủ nghĩa. Một tên DUY DÂN. Lập Duy Dân Học Xã ở trong cũng như ở ngoài. Sau sẽ luôn luôn trao đổi lý luận. Khuyến khích đảng viên học nói tiếng Anh để đủ người đối phó sau này.
    F. TUYÊN TRUYỀN. Gửi ra các tài liệu về việc tuyên truyền quốc tế: các sách nghiên cứu về Đông Dương, các thống kê về kinh tế, địa dư, lịch sử, lịch sử cách mệnh: các nhân vật (có kèm ảnh); thật nhiều các ảnh về Việt Nam: phong cảnh, nhân vật v.v… ảnh in đen để ngoài này làm clichés đăng báo.
    G. KINH TẾ. Nguyên tắc: Phải tự mình có kinh tế mới có thể làm cách mệnh. Nhờ vào người, mất cả chủ quyền.
    Nguồn gốc :
    Ở trong đưa ra MƯỜI VẠN BẠC ra ngoài làm nền tảng. Bá chủ được mấy nghìn người ở ngoài này, thế tăng rất mạnh. Bận sinh nhai, nhiều người không hoạt động được. Thiếu tiền đành bỏ nhiều người trong tay chỉ huy của Tàu.
    Bọn (?) dược rất mạnh.
    Mở Clinique hay Triển Lãm.
    Tổ chức kinh tế ở trong nước, không dính dáng gì đến đảng: mở hiệu công khai ở Hà Giang, Lào Kay, rồi vận hàng hóa (không kềnh càng) – ở trong bán lấy lời, ngoài này có hàng sang là cũng có lời. Tốt nhất cao su sống, thứ đến : prudents clinique, essenses chế rượu, chế nước hoa, thuốc tây, hạt tiêu v.v… đắt cũng được miễn có thì thôi. Nhất định không mong ô Tàu (gương Đồng Minh Hội) còn đối với Y thì mình có đủ vẫn hơn, nhờ S thôi. Mình có tiền là có giá trị trên ngoại giao.
    H. YÊU CẦU THÊM
    Cho biết tình hình ở trong, lực lượng (đủ chi tiết).
    Chương trình 3 hay 6 tháng ở trong.
    Tình báo về….
    Tình báo về các đảng phái lịch sử, người phụ trách v.v…
    MAU LÊN! MỚI KỊP ĐỐI PHÓ!
    HẢI NGOẠI CHẤP HÀNH BỘ :
    tuongtam, Keto, SH, VH*
    * Nguyễn Tường Tam (tuongtam), Nghiêm Kế Tổ (Keto), Lý Đông A (SH), Vũ Hồng Khanh (VH)
     
Moderators: Vivi1101

Chia sẻ trang này