Văn học nước ngoài G Nữ Phi Công - Kristin Hannah

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi Trúc Quỳnh Đặng, 9/10/21.

Moderators: galaxy, teacher.anh
  1. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    1325.jpg

    Nữ Phi Công
    Tác giả: Kristin Hannah
    Người dịch: Đinh Thanh Vân
    Phát hành: NXB Phụ Nữ Việt Nam 2015

    Kristin Hannah là một gương mặt tiêu biểu ở đề tài viết về người phụ nữ và gia đình. Với văn phong giản dị, sâu lắng và cảm động, bà đã có những 20 tác phẩm thuộc top bán chạy theo bình chọn của tạp chí uy tín New York Times.

    Cuốn tiểu thuyết tình cảm “Nữ Phi Công” được nữ tác giả đầu tư rất nhiều tâm huyết để khắc họa chân thực cuộc hơn nhân đang trên bờ vực của sự tan vỡ thời chiến tranh của Michael và Jolene Zarkades.

    Họ đã bên nhau suốt 12 năm, những áp lực trong cuộc sống cứ thế đè nặng lên đôi vai của đôi vợ chồng khiến họ dần nảy sinh nhiều hơn những mâu thuẫn, mối đe dọa rạn nứt ngày càng hiện rõ. Câu chuyện tiến triển khi Jonene nhận được lệnh đi tập trung chiến đấu bởi cô vốn là một nữ quân nhân. Anh chồng luật sư Michael phải học cách xoay xở với cảnh gà trống nuôi con.

    Liệu chiến tranh và sự xa cách có trở thành một tác động xấu hơn chocuộc hôn nhân này? Jolene và Michael sẽ hành xử như thế nào, cứu vãn hay buông xuôi?

    ***

    Nguồn PDF: @Nga Hoang
    Chuyển text, soát lỗi: Trúc Quỳnh

    Cuốn này thật sự rất hay, mình quyết định post trong PĐTT để các bạn và mọi người cùng được đọc trước những phần text mình đã soát xong.
     
    quang3456 and Bun906 like this.
  2. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Cuốn sách này dâng tặng các nam nữ quân nhân dũng cảm thuộc quân đội Mỹ và gia đình họ, những người đã hy sinh rất nhiều để bảo vệ và giữ gìn lối sống của chúng ta.

    Và như thường lệ, tặng Benjamin và Tucker của tôi.
     
  3. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    PHẦN MỘT
    Từ chốn xa xôi

    Có những điều bạn học được tốt nhất trong bình yên, có những điều chỉ học được trong dông bão.

    WILLA CATHER
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/10/21
  4. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mở đầu
    1982

    Theo cách cô nhìn nhận, một số gia đình giống các công viên được chăm sóc chu đáo, viền quanh bằng những luống thủy tiên hoa vàng đẹp đẽ và những cây to, vươn cành tỏa bóng mời nghỉ ngơi, tránh ánh nắng hè. Một số khác - số này cô biết trực tiếp - lại như bãi chiến trường, tàn bạo và khốc liệt, bừa bãi bom đạn và những mảnh thi thể.

    Chỉ mới mười bảy tuổi, nhưng Jolene Larsen đã quen với cảnh xung đột. Cô lớn lên giữa một cuộc hôn nhân tồi tệ.

    Ngày Valentine là tệ hại nhất. Tình trạng trong gia đình Jolene luôn không ổn định, nhưng trong ngày này khi ti vi chạy những quảng cáo hoa và sôcôla, trên nền những trái tim đỏ thắm, tình yêu trở thành vũ khí trong những bàn tay bất cẩn của cha mẹ cô. Sự việc khởi nguồn từ tật nghiện rượu của họ. Lúc nào cũng thế. Những cốc bourbon đầy ắp, rót lần nữa và nữa. Đó mới chỉ là bắt đầu. Sau đó là la hét và khóc lóc, quăng ném đồ đạc. Suốt nhiều năm, Jolene đã hỏi mẹ tại sao mẹ con cô không bỏ ông ta - cha cô - và lẻn đi trong đêm. Mẹ cô luôn trả lời y như nhau: Mẹ không thể. Mẹ yêu ông ấy. Thỉnh thoảng bà khóc khi thốt ra những lời kinh khủng, đôi khi sự cay đắng của bà quá ư mãnh liệt, nhưng rốt cuộc hình như bà chẳng suy suyển gì; vướng mắc thực tế là mối tình đơn phương thảm thương của bà.

    Dưới nhà có tiếng kêu thất thanh.

    Chắc là mẹ.

    Tiếp theo là tiếng loảng xoảng - một vật gì đó to tướng bị ném vào tường. Tiếng cửa sập mạnh. Ắt hẳn là bố.

    Ông bỏ đi trong cơn giận dữ (còn cách nào khác đâu?), đóng sầm cửa lại sau lưng. Ngày mai hoặc ngày kia ông sẽ trở về, bất cứ lúc nào hết nhẵn tiền. Ông sẽ lẻn vào bếp, tỉnh táo và ân hận, sặc sụa mùi rượu và thuốc lá. Mẹ sẽ lao đến với ông, vừa nức nở vừa đón ông vào vòng tay bà. Ôi Ralph... anh làm em sợ quá... em xin lỗi, cho em thêm một cơ hội nữa, anh biết em yêu anh nhiều biết chừng nào...

    Jolene bước đi trong căn phòng ngủ áp mái cheo leo của mình, cô cúi đầu để tránh chạm vào một trong những thanh rầm gỗ thô tháp. Chỉ có một ngọn đèn duy nhất, một bóng điện treo trên xà nhà giống như chiếc răng cuối cùng trong miệng một ông lão, lung lay và như sắp rời khỏi lợi.

    Cô mở cửa, nghe ngóng.

    Sự việc kết thúc rồi sao?

    Jolene trèo xuống cầu thang hẹp, nghe tiếng kin kít của những tấm ván dưới sức nặng của mình. Cô thấy mẹ trong phòng khách, ngồi sụp trên ghế sofa, điếu Camel đã châm đu đưa trên miệng. Tàn thuốc rơi xuống như mưa, rải rác trên lòng bà. Khắp sàn đầy vết tích của cuộc cãi lộn: chai lọ, gạt tàn và những mảnh thủy tinh vỡ tung tóe.

    Nếu là vài năm trước, Jolene đã cố làm cho mẹ cô cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng quá nhiều đêm như thế này đã khiến cô chai sạn. Giờ đây, cô không chịu nổi những chuyện này nữa, cô mệt mỏi vì vở kịch hôn nhân của cha mẹ. Chẳng có gì thay đổi, và Jolene là người phải dọn dẹp cái đống hỗn độn này. Len qua những mảnh thủy tinh, cô quỳ xuống cạnh mẹ.

    - Để con làm cho, - cô mệt mỏi nói, rút điếu thuốc đang cháy và dụi vào cái gạt tàn trên sàn cạnh bà.

    Mẹ cô ngước nhìn, đôi mắt bà buồn bã, má đầy những vệt nước mắt.

    - Mẹ sống thế nào được nếu thiếu bố con?

    Dường như để trả lời, cửa sau cót két mở. Khí đêm lạnh giá ùa vào phòng, mang theo mùi mưa và mùi rặng thông.

    - Bố con về rồi! - Mẹ đẩy Jolene sang một bên và chạy xuống bếp.

    Em yêu anh, anh yêu, em xin lỗi, Jolene nghe thấy tiếng mẹ nói.

    Jolene từ từ thẳng người lên và quay đi. Cha mẹ cô khóa chặt lấy nhau trong vòng ôm như trên phim, đúng kiểu dành cho những cặp tình nhân tái hợp sau cuộc xung đột. Mẹ cô bám riết lấy bố cô, nắm chặt chiếc sơ mi len kẻ ô vuông của ông.

    Bố cô lảo đảo vì say, dường như chỉ đứng vững được nhờ mẹ cô, nhưng không thể như thế được. Bố cô là một người đàn ông lực lưỡng, cao lớn, đôi bàn tay như những cái đĩa đựng thịt gà tây, còn mẹ cô lại yếu ớt và trắng bệch như vỏ trứng. Jolene đỡ bà khỏi ông.

    - Anh không thể bỏ em, - mẹ cô thổn thức, lời lẽ líu nhíu.

    Bố cô ngoảnh đi. Rất nhanh, Jolene nhìn thấy nỗi đau trong mắt ông - nỗi đau, và tệ hơn là sự tủi hổ, thất bại và ân hận.

    - Anh cần uống một cốc, - ông nói bằng giọng khàn khàn vì nhiều năm hút thuốc không đầu lọc.

    Mẹ Jolene hơi sửng sốt nhưng vẫn mỉm cười ngớ ngẩn, bà loạng choạng đi ngay sau ông, không để ý mình đang chân trần.

    Cho đến lúc cửa sau mở, Jolene mới hiểu sự tình. “Không!” cô gào lên, đứng phắt dậy chạy theo họ.

    Bên ngoài, đêm tháng Hai giá lạnh và tối tăm. Mưa nện sầm sập trên mái nhà và chảy thành nhiều dòng nhỏ ở rìa mái hiên. Chiếc xe tải chở gỗ thuê của bố cô, thứ đồ duy nhất ông quan tâm, đỗ như một con bọ khổng lồ, đen sì trên đường lái xe vào nhà. Cô chạy ra cổng vòm bằng gỗ, vấp phải cái cưa xích và dừng lại.

    Mẹ cô đứng cạnh cửa xe mở, nhìn cô. Mưa khiến tóc bết dính trên gò má hốc hác của bà, làm mascara chảy dài. Bà giơ bàn tay nhợt nhạt và run rẩy lên vẫy.

    - Vào cho khỏi mưa, Karen, - bố cô quát, và mẹ cô tuân theo ngay lập tức. Trong giây lát, cả hai cửa xe đóng sập. Chiếc xe lùi lại, rẽ ra đường cái và chạy mất.

    Jolene chỉ còn lại một mình.

    Bốn tháng, cô đờ đẫn nghĩ. Chỉ bốn tháng nữa thôi, cô sẽ tốt nghiệp trung học và có thể đi khỏi nhà.

    Nhà. Từ ấy có đủ mọi nghĩa.

    Nhưng cô sẽ làm gì đây? Cô sẽ đi đâu? Chẳng có tiền vào đại học, số tiền làm thêm mà Jolene dành dụm được lúc nào cũng bị cha mẹ cô tìm ra và “vay”. Thậm chí, cô không có đủ tiền thuê nhà trong một tháng đầu tiên.

    Cô không biết mình đứng đấy bao lâu, ngẫm nghĩ, lo lắng, và ngắm màn mưa đã biến con đường thành bùn nhão. Cô chỉ thực sự biết là vào một thời điểm, cô bắt đầu nhận ra một ánh đèn màu kỳ dị, không thể chịu nổi lóe lên trong màn đêm.

    Màu đỏ. Màu của máu, của lửa và mất mát.

    Khi ô tô cảnh sát dừng lại trong sân nhà cô, cô không hề ngạc nhiên. Thứ làm cô ngạc nhiên là cách cô cảm nhận khi nghe tin cha mẹ mình đã chết.

    Cô kinh ngạc thấy mình khó mà khóc nổi.
     
  5. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Một
    Tháng Tư 2005

    Sinh nhật lần thứ bốn mươi mốt cũng như bao ngày khác, Jolene Zarkades thức dậy trước rạng đông. Cẩn thận để không quấy rầy người chồng đang ngủ, chị xuống giường, vận bộ thể thao, buộc túm mớ tóc dài, vàng hoe kiểu đuôi ngựa rồi ra ngoài.

    Đó là một ngày xuân đẹp, trời xanh biếc. Những cây mận viền quanh con đường lái xe vào nhà đang nở rộ. Những cây cẩm chướng bé xíu trổ hoa khắp cánh đồng xanh, xanh thắm. Bên kia đường, eo biển là một màu xanh sẫm và sâu thẳm. Những ngọn núi Olympic phủ tuyết trắng xóa, vút lên, nổi bật, hùng vĩ trên bầu trời.

    Cảnh sắc thật hoàn hảo. Chị chạy trên bãi biển đúng ba dặm rưỡi, rồi quay về nhà. Lúc chạy về đến đường dành cho xe, mặt chị đỏ bừng và thở dồn. Lên hiên, chị chọn đường len qua những đồ bằng gỗ ghép bất đối xứng và bằng liễu gai vào trong nhà, mùi cà phê rang kiểu Pháp thơm ngậy như trêu ngươi lẫn với mùi khói củi hăng hăng. Việc đầu tiên chị làm là bật ti vi trong bếp lên, đã đặt sẵn kênh CNN. Lúc rót cà phê, chị nôn nóng đợi bản tin thời sự về chiến tranh Iraq.

    Bản tin sáng nay cho biết không có trận đánh nào lớn. Không có người lính nào - hoặc bạn bè - bị chết trong đêm.

    - Ơn Chúa, - chị thốt lên. Vừa nhấp cà phê, chị vừa lên gác, qua phòng ngủ của các con gái và tới phòng mình. Hãy còn sớm. Có lẽ chị nên đánh thức Michael bằng một nụ hôn dài, từ tốn. Như một lời mời mọc.

    Đã bao lâu rồi kể từ khi họ làm tình vào buổi sáng? Bao lâu rồi, kể từ khi họ làm tình nói chung? Chị không nhớ nổi. Sinh nhật của chị dường như là một ngày tuyệt vời để thay đổi tất cả. Chị mở cửa.

    - Michael?

    Chiếc giường cỡ lớn của họ trống không. Chưa dọn. Chiếc áo phông đen của Michael - mà anh mặc ngủ - nằm một đống nhàu nhĩ trên sàn. Chị nhặt áo lên, gấp thành đúng một phần ba và bỏ xuống.

    - Michael? - Chị gọi lần nữa lúc mở cửa buồng tắm. Hơi nước cuồn cuộn tỏa ra, che mờ tầm nhìn của chị.

    Mọi thứ đều trắng - gạch lát, bồn xí, các mặt quầy. Cửa khoang tắm bằng thủy tinh mở, để lộ bên trong trống không. Một khăn mặt ướt vắt cẩu thả lên bồn tắm cho khô. Hơi ẩm lấm tấm nơi tấm gương bên trên bồn rửa mặt.

    Chắc Michael đã xuống dưới nhà, hẳn đang trong phòng làm việc. Hoặc có lẽ anh đang trù tính một kế hoạch sinh nhật nho nhỏ chăng. Đó là kiểu anh vẫn hay làm...

    Tắm vội xong, chị chải mớ tóc dài ướt rượt rồi xoắn lại thành búi sau gáy lúc chăm chú nhìn vào gương. Mặt chị - giống mọi thứ trên người chị - khỏe khoắn và góc cạnh: chị có đôi gò má cao, lông mày nâu rậm, làm nổi bật cặp mắt to màu xanh và khuôn miệng hơi quá rộng một chút. Phần lớn phụ nữ ở tuổi chị đều trang điểm và nhuộm tóc, nhưng Jolene không có thời gian làm bất cứ việc gì. Chị vẫn đẹp với mái tóc vàng hoe ánh xám, vài năm nay cứ thẫm dần và những nếp nhăn nho nhỏ bắt đầu xuất hiện ở khóe mắt.

    Chị mặc bộ đồ bay vào rồi đi đánh thức các con, nhưng phòng chúng cũng vắng ngắt.

    Chúng đã ở trong bếp. Betsy - cô con gái mười hai tuổi của chị - đang giúp Lulu, đứa em gái lên bốn, đến bàn. Jolene hôn lên bầu má hồng hào, bụ bẫm của Lulu.

    - Chúc mừng sinh nhật mẹ, - bọn trẻ đồng thanh.

    Jolene bỗng cảm thấy trào dâng một tình yêu vô bờ với các con và với cuộc đời mình. Chị biết những khoảnh khắc như thế này hiếm có biết bao. Làm sao có thể không cơ chứ, khi chị lớn lên trong hoàn cảnh mà chị đã trải qua. Quay sang các con, chị cười thật tươi.

    - Cảm ơn các con. Một ngày tuyệt đẹp để bắt đầu tuổi bốn mươi mốt.

    - Thế thì già quá, - Lulu nói. - Mẹ có chắc mẹ già thế không?

    Vừa cười vang, Jolene vừa mở tủ lạnh.

    - Bố các con đâu?

    - Bố đi rồi ạ, - Betsy đáp.

    Jolene quay lại:

    - Thật ư?

    - Thật ạ, - Betsy nói và chăm chú quan sát mẹ.

    Jolene cố nở nụ cười.

    - Chắc bố dự tính một điều bất ngờ cho mẹ sau giờ làm đây. Hay lắm. Mẹ thì tuyên bố mẹ con mình sẽ liên hoan sau khi các con tan học. Chỉ ba mẹ con mình thôi nhé. Có bánh ga tô nữa này. Các con thích không?

    - Bánh ga tô! - Lulu reo lên, vỗ hai bàn tay mũm mĩm vào nhau.

    Jolene có thể khó chịu vì tính hay quên của Michael, nhưng ý kiến của chị có nghĩa gì đâu? Hạnh phúc là một lựa chọn mà chị biết cách tạo ra. Chị quyết không nghĩ đến những điều khiến mình buồn bực; và như thế, chúng liền tan biến. Hơn nữa, sự tận tụy với công việc của Michael là một trong những phẩm chất chị cảm phục nhất ở anh.

    - Mẹ ơi, chơi trò bánh bao đi! - Lulu reo lên, nhún nhẩy trên ghế.

    Jolene cúi nhìn cô con gái út.

    - Ai thích hát bài bánh bao nào?

    Lulu giơ bàn tay lên.

    - Con thích. Con!

    Jolene ngồi xuống cạnh con bé và giơ hai bàn tay lên. Con gái chị lập tức vỗ lòng bàn tay nó vào bàn tay Jolene.

    - Bánh bao nhỏ, bánh bao nhỏ, ông thợ làm bánh ơi, làm cho tôi một... - Jolene dừng lại, ngắm khuôn mặt Lulu sáng ngời lên, chờ đợi.

    - Cái bể! - Lulu nói.

    - Làm cho tôi một cái bể nhanh hết sức nhé. Ông hãy đào, đánh bóng rồi đổ đầy biển cả vào đó, để tôi bơi cùng bé Lulu. - Jolene cho con gái đập tay cái cuối cùng rồi đứng dậy làm bữa sáng. - Mặc quần áo đi, Betsy. Ba mươi phút nữa mẹ con mình đi đấy.

    Đúng giờ, Jolene dẫn các con vào xe. Chị đưa Lulu đến trường mẫu giáo, thả con xuống kèm một cái hôn thật kêu, rồi lái xe đến trường trung học trên một sườn đồi rộng lớn, đầy cỏ. Rẽ vào con đường đưa đón học sinh, chị chạy chậm lại và đến điểm đỗ.

    - Mẹ đừng xuống xe, - từ ghế sau, Betsy nói rành mạch. - Mẹ đang mặc quân phục đấy.

    - Mẹ đoán mình sẽ không đạt trong ngày sinh của mình. - Jolene liếc nhìn con gái trong gương chiếu hậu. Trong mấy tháng qua, đứa con tinh nghịch, dễ thương của chị đã biến đổi thành một thiếu nữ lúng túng về đủ thứ, nhất là có một người mẹ không giống những người mẹ khác. - Thứ Tư là ngày hướng nghiệp, - chị nhắc con gái.

    Betsy rên lên.

    - Mẹ phải đến sao?

    - Thầy giáo của con mời mẹ. Mẹ hứa không nói năng tầm phào hoặc khạc nhổ.

    - Chuyện ấy chẳng có gì buồn cười hết. Không ai mặt dày mày dạn khi có mẹ ở trong quân đội. Mẹ không mặc đồ bay có được không?

    - Đấy chính là công việc mẹ làm, Betsy. Mẹ nghĩ con sẽ...

    - Gì cũng được. - Betsy chộp lấy cái ba lô nặng trĩu - hình như không phải cái này; hôm qua nó đã đòi một cái mới - và ra khỏi xe rồi cắm đầu lao tới chỗ hai cô gái đang đứng dưới cột cờ. Dạo này, chúng - Sierra và Zoe - rất quan trọng với Betsy. Nó rất muốn hòa đồng với bọn chúng. Hình như có một người mẹ lái trực thăng cho Lục quân Vệ binh Quốc gia là điều hết sức phiền toái.

    Khi Betsy đến gần mấy cô bạn cũ, chúng quyết lờ nó đi và nhất loạt quay lưng lại, như một đàn cá tránh mối nguy hiểm.

    Jolene siết chặt nắm tay trên bánh lái, rủa thầm.

    Trông Betsy tiu nghỉu, bối rối. Vai nó xuôi xuống, cằm chảy dài. Nó lùi nhanh lại, làm ra vẻ chưa bao giờ muốn chạy tới trước lũ bạn từng có thời thân nhất. Lủi thủi, nó bước vào trong trường.

    Jolene ngồi đó lâu đến mức có người nhấn còi. Chị cảm nhận thấm thía nỗi đau của con gái. Nếu có một điều chị thấu hiểu sâu sắc, đó chính là sự hắt hủi. Chị đã chẳng đợi mãi để được cha mẹ yêu thương đấy thôi? Chị phải dạy Betsy sống mạnh mẽ, biết lựa chọn hạnh phúc. Không ai có thể làm bạn tổn thương nếu bạn không để họ làm vậy. Tấn công thích đáng là cách phòng thủ hiệu quả nhất.

    Cuối cùng, chị lái xe đi. Đi vòng để tránh giao thông buổi sáng trong thành phố, chị chọn những con đường phía sau xuống vịnh Liberty. Chị rẽ vào con đường cạnh nhà, chạy đến gần nhà hàng xóm - một ngôi nhà lưu động nhỏ màu trắng nép cạnh xưởng sửa chữa ô tô, và nhấn một hồi còi.

    Tami Flynn, bạn thân nhất của chị từ trong nhà đi ra, trên người mặc bộ đồ bay, mái tóc dài đen nhánh cuộn thành một nút xoắn đơn giản. Jolene biết chắc trên gương mặt rộng màu cà phê của Tami không hề có một nếp nhăn nhỏ nào. Tami thề rằng đó là di sản nguồn gốc thổ dân Mỹ của chị.

    Tami là người chị em mà Jolene chưa bao giờ có. Khi gặp nhau, họ đang tuổi thiếu nữ - một cặp gái mười tám gia nhập quân đội vì không biết làm gì hơn với đời mình. Cả hai đều có bằng trung học để được tham gia khóa đào tạo phi công lái máy bay trực thăng.

    Đam mê bay đã đưa họ đến với nhau; quan điểm chung về cuộc sống đã tạo nên một tình bạn vững bền không bao giờ suy suyển. Họ đã trải qua mười năm trong quân ngũ cùng nhau, sau đó cùng chuyển sang Vệ binh, khi đời sống hôn nhân và làm mẹ khiến tình trạng tại ngũ khó khăn. Bốn năm sau khi Jolene và Michael dọn nhà đến vịnh Liberty, Tami và Carl mua mảnh đất kề bên.

    Tami và Jolene cùng mang thai một lúc, cùng chia sẻ chín tháng trời kỳ diệu, cùng kiềm chế nỗi sợ của nhau bằng sự giúp đỡ ân cần. Chồng họ không có điểm gì chung, vì thế không thành những người bạn tốt nhất để cùng đi du lịch với cả gia đình, nhưng Jolene lại thấy như thế cũng được. Điều quan trọng nhất là chị và Tami luôn ở bên nhau. Và họ là thế.

    Tôi là số sáu của bạn, theo nghĩa đen là một chiếc trực thăng ở đằng sau bạn, bay theo vị trí sáu giờ. Ý nghĩa thực sự của nó là Tôi ở đây vì bạn. Tôi yểm trợ cho bạn. Đó là điều Jolene tìm thấy ở quân đội, ở Vệ binh và ở Tami. Tôi là số sáu của bạn.

    Vệ binh đã cho họ những thứ tốt đẹp nhất của cả hai cuộc sống trong đời họ - họ là những người mẹ suốt ngày mà vẫn phục vụ đất nước và ở lại quân ngũ, lái máy bay trực thăng. Họ bay cùng nhau ít nhất mỗi tuần hai buổi sáng, cũng như trong những đợt huấn luyện cuối tuần. Đó là công việc làm nửa ngày tốt nhất trên hành tinh.

    Tami trèo vào ghế hành khách và sập mạnh cửa.

    - Chúc mừng sinh nhật, cô phi công.

    - Cảm ơn. - Jolene cười toét. - Sinh nhật của mình, nhạc của mình. - Chị chỉnh âm lượng trên đầu đĩa và bản Mưa màu tía của Prince(*) om sòm qua loa.

    Họ trò chuyện suốt dọc đường đến Tacoma, từ chuyện quan trọng đến tầm phào. Lúc không nói chuyện, họ hát những bài ca thời trẻ của mình - Prince, Madonna(*), Michael Jackson(*). Họ băng qua doanh trại Murray, ngôi nhà của Vệ binh, lái xe lên pháo đài Lewis, nơi chứa máy bay của Vệ binh.

    Trong phòng thay quần áo, Jolene lấy cái túi bay nặng trĩu, bên trong đựng đầy những dụng cụ cứu hộ. Quàng túi lên vai, chị theo Tami tới bàn, xác nhận thời gian bay huấn luyện bổ sung, ký thanh toán, rồi ra đường băng, vừa đi vừa đội mũ bay.

    Cả nhóm đã ở đó, chuẩn bị cho chiếc Black Hawk sẵn sàng bay. Chiếc trực thăng giống một con chim săn mồi khổng lồ, nổi bật trên nền trời xanh lơ sáng sủa. Jolene gật đầu với nhóm trưởng, kiểm tra nhanh công việc chuẩn bị máy bay, chỉ thị vắn tắt cho cả nhóm rồi trèo vào bên trái buồng lái và ngồi xuống ghế. Tami trèo vào ghế phải và đội mũ.

    (*) Prince (sinh năm 1958): Ca sĩ và nhạc sĩ người Mỹ, là người cách tân dòng nhạc pop và R&B. Bài Mưa màu tía của ông đã giành 3 giải Grammy năm 1985.

    (*) Madonna (sinh năm 1958): Ca sĩ dòng nhạc pop nổi tiếng của Mỹ.

    (*) Michael Jackson (1958-2009): ca sĩ, vũ công dòng nhạc pop nổi tiếng của Mỹ.

    - Kiểm tra các công tắc và cầu dao tự động trên đầu, - Jolene nói và cấp lực cho trực thăng. Các động cơ gầm lên hoạt động, những cánh quạt khổng lồ bắt đầu quay, ban đầu từ từ rồi sau đó quay nhanh cùng tiếng rít the thé.

    - Vệ binh hoạt động. Raptor tám-chín, cho phép chúng tôi ra, - Jolene nói vào mic. Rồi chị chuyển tần số. - Tower. Raptor tám-chín, sẵn sàng xuất phát.

    Chị bắt đầu lấy thăng bằng cực kỳ khéo léo, đưa chiếc trực thăng chầm chậm vút lên không trung. Jolene thao tác rất thuần thục, bàn tay và bàn chân chị cử động không ngừng. Họ bay vào bầu trời xanh biếc, không một gợn mây, dường như thiên đường đang vây quanh chị. Tít xa bên dưới, cây cối nở hoa như một bảng màu đẹp mắt. Một luồng adrenaline chạy khắp người chị. Chúa ơi, chị thích ở trên cao này biết bao.

    - Tôi nghe tin hôm nay là sinh nhật chị, thưa chỉ huy, - nhóm trưởng nói qua hệ thống liên lạc.

    - Đúng thế mới khỉ chứ, - Tami vừa nói vừa cười. - Thế anh tưởng chị ấy điều khiển được sao?

    Jolene cười toét với người bạn thân nhất, chị thích cảm giác này, chị cần nó như cần không khí để thở.

    - Bốn mươi mốt. Mình không thể nghĩ ra cách hưởng thụ tốt hơn.

    Thị trấn Poulsbo, bang Washington, được ví như một cô bé xinh xắn nằm bên bờ vịnh Liberty. Những cư dân đầu tiên chọn vùng này vì nó khiến họ nhớ tới xứ sở Bắc Âu của mình, với làn nước mát mẻ xanh lơ, những ngọn núi vút cao và những triền đồi xanh tươi tốt. Nhiều năm sau, những người sáng lập đó bắt đầu xây dựng các cửa hàng dọc phố Front, tô điểm cho chúng bằng những chi tiết của vùng Scandinavia. Đó là những mảnh in hoa trên mái nhà và những họa tiết hình cuộn ở khắp nơi.

    Theo lời giải thích của gia tộc Zarkades, những trang trí này đã khiến mẹ của Michael xao xuyến ngay lập tức, bà thề rằng ngay khi bước trên phố Front, bà đã biết đây là nơi bà muốn sống. Hàng chục cửa hàng duyên dáng - kể cả những cửa hàng của mẹ bà - bán cho du khách những món đồ trang trí lặt vặt xinh đẹp, làm bằng tay.

    Nơi đây cách khu thương mại Seattle chưa đầy mười dặm theo đường chim bay, song những dặm đường ấy đã tạo nên một sự thay đổi phiền phức. Trong vài năm gần đây, thỉnh thoảng Michael dừng lại ngắm vẻ duyên dáng kiểu Na Uy của thành phố và bắt đầu để ý đến sự thay thế con đường dài dằng dặc từ nhà anh đến bến phà cuối cùng trên đảo Bainbridge và dòng xe cộ không ngừng giữa tuần.

    Từ Poulsbo đến Seattle có hai tuyến đường - đường bộ và đường thủy. Lái xe mất hai giờ. Đi phà mất ba mươi nhăm phút từ bờ đảo Bainbridge tới bến cuối ở cầu tàu Seattle.

    Phiền phức khi đi phà là thời gian đợi chờ. Muốn lái xe lên phà, phải xếp hàng từ sớm. Mùa hè, anh chạy xe máy đi làm, vào những ngày mưa như hôm nay - mà ở Northwest rất hay mưa -, anh lái ô tô. Năm nay mùa đông đặc biệt dài, còn mùa xuân lại ẩm ướt. Hết ngày này sang ngày khác u ám, anh ngồi trong chiếc Lexus ở bãi đỗ, ngắm bình minh trườn theo bề mặt gợn sóng ở eo biển. Sau đó, anh lái xe lên phà, đỗ xe rồi lên tầng trên.

    Hôm nay, Michael ngồi bên chiếc bàn formica nhỏ ở mạn trái trên phà, trước mặt là cái bằng chứng do Woerner cung cấp. Những ghi chú đính dọc bên lề như những phím dương cầm màu vàng, mỗi cái đều nhấn mạnh chứng cứ về tính xác thực đáng ngờ do thân chủ của anh tạo ra.

    Toàn những lời dối trá. Michael thở dài nghĩ đến việc tháo gỡ thiệt hại. Lý tưởng của anh trước kia sáng ngời và rạng rỡ là thế, nay mờ đục vì những năm bào chữa cho tội phạm.

    Trước kia, anh đã nói chuyện với cha mình về việc này, và ông đã cân nhắc mọi nhẽ, nhắc nhở Michael rằng nghề nghiệp của họ tạo nên hiệu quả.

    Chúng ta là thành lũy cuối cùng, là những người đấu tranh cho tự do, Michael ạ. Đừng để những kẻ xấu làm con nhụt chí. Chúng ta bảo vệ người vô tội bằng cách che chở tội phạm. Đó là cách nó có hiệu lực.

    Con có thể lợi dụng vài người vô tội, bố ạ.

    Tất cả chúng ta không thể sao? Chúng ta chỉ đợi có thế... đợi một vụ quan trọng. Chúng ta hiểu hơn ai hết, cứu được mạng sống của một người sẽ cảm thấy ra sao. Đó là công việc của chúng ta, Michael ạ. Con đừng mất niềm tin.

    Anh ngắm cái ghế trống ở bên kia bàn.

    Mười một tháng nay, Michael thui thủi đi làm một mình. Một ngày kia, cha anh ở cạnh anh, khỏe khoắn và sôi nổi, ông nói về một đạo luật mà ông ưa thích, rồi sau đó ông phát bệnh. Ông tàn lụi dần.

    Anh và cha đã cộng tác gần hai mươi năm, kề vai sát cánh trong công việc và sự ra đi của ông khiến anh bị chấn động sâu sắc. Anh đau lòng vì thời gian họ không lấy lại được; hơn hết thảy, anh cảm thấy lẻ loi theo một cách mới mẻ. Tổn thất cũng làm anh nhìn nhận lại đời mình, và chẳng thích gì những điều nhận ra.

    Cho đến ngày cha anh qua đời, Michael luôn cảm thấy mình may mắn và hạnh phúc. Giờ đây, anh không còn cảm thấy thế nữa.

    Anh muốn tâm sự với ai đó về mọi chuyện, chia sẻ nỗi mất mát của mình. Nhưng biết nói với ai? Anh không thể trò chuyện với vợ về việc này. Không thể nói với Jolene bởi chị luôn tin rằng hạnh phúc là một lựa chọn, nụ cười chỉ là cái cau mày lộn trái mà thôi. Tuổi thơ đầy xáo động, đáng sợ của chị khiến chị không chịu nổi những người không thể chọn sống hạnh phúc. Gần đây, sự lạc quan của chị như ngày càng chọc tức anh. Vì mất cả cha mẹ, chị ngỡ mình hiểu được nỗi đau buồn, song chị không hề biết cảm giác bị nhấn chìm trong thương tiếc là như thế nào. Làm sao chị hiểu được? Chị là một loại Teflon(*) bền vững.

    Anh gõ cây bút lên bàn và liếc ra ngoài cửa sổ. Hôm nay eo biển màu xám sẫm, trông hoang vắng và bí ẩn. Một con mòng biển lơ lửng bay qua trong không trung, như thể chết giả.

    Nhiều năm về trước, lẽ ra anh không nên nhượng bộ Jolene khi chị năn nỉ anh dọn nhà đến vịnh Liberty. Anh đã bảo chị là anh không muốn sống xa thành phố đến thế hoặc ở gần cha mẹ anh, nhưng rốt cuộc anh đã chịu thua. Anh bị những lời khẩn khoản dễ thương và lý lẽ vững vàng của chị tác động, rằng họ cần mẹ anh trông con giúp. Nhưng nếu anh không nhượng bộ, nếu anh không lúng túng trong cuộc tranh cãi chúng ta-sống-ở đâu, anh sẽ không phải ngày ngày ngồi trên phà, thiếu vắng người đàn ông thường gặp anh tại chỗ này...

    Lúc phà chạy chậm dần, Michael đứng dậy và thu dọn giấy tờ, cho những biên bản lấy lời khai vào chiếc cặp da cừu màu đen. Hòa vào đám đông, anh xuống các bậc thang tới chỗ gửi ô tô. Rời phà, anh lái xe trong nhiều phút rồi dừng lại ở Smith Tower, trước kia là tòa nhà cao nhất phía Tây New York, nay chỉ như một chú thích kiểu Gothic già cỗi so với một thành phố đang tăng trưởng.

    Ở công ty luật Zarkades, Antham và Zarkades nằm trên tầng chín, mọi thứ đều cũ kỹ - sàn nhà, cửa sổ cần sửa chữa, quá nhiều lớp sơn - nhưng giống như bản thân tòa nhà, ở đây có lịch sử và vẻ đẹp của nó. Bức tường có nhiều cửa sổ nhìn xuống vịnh Elliott và những cần cẩu đồ sộ màu cam chuyển các container lên tàu. Trong hai chục năm qua, một số phiên tòa hình sự lớn nhất và quan trọng nhất do Theo Zarkades bào chữa, xuất phát từ chính các căn phòng này. Tại các cuộc họp của hội luật sư, nhiều người vẫn nhắc đến tài thuyết phục hội đồng xét xử của cha anh với cảm giác gần như kính sợ.

    (*) Nhãn hiệu nhựa không dính; dùng như một lớp phủ ngoài. (Các chú thích của người dịch)

    - Chào Michael, - nhân viên lễ tân tươi cười nói với anh.

    Anh vẫy tay và vẫn bước đi, qua chỗ các luật sư tập sự sốt sắng, các thư ký mệt mỏi, và các trợ lý trẻ đầy hoài bão. Ai cũng cười chào anh và anh mỉm cười đáp lại. Đến căn phòng ở góc - trước kia là văn phòng của cha anh và nay là của anh -, Michael dừng lại nói chuyện với cô thư ký.

    - Chào Ann.

    - Chào Michael. Bill Antham muốn gặp anh.

    - Được. Nói với ông ấy là tôi đã đến nhé.

    - Anh muốn uống cà phê không?

    - Có. Cảm ơn cô.

    Anh vào phòng làm việc, căn phòng rộng nhất trong công ty. Một cửa sổ đồ sộ nhìn xuống vịnh Elliott, thực sự là nét nổi bật của căn phòng và quang cảnh. Còn các thứ khác rất thông thường - trên các giá đầy sách luật, sàn gỗ sứt sẹo vì trải qua nhiều thập kỷ, một đôi ghế bành bọc thật dày, một sofa bằng da đanh màu đen. Một bức ảnh gia đình lẻ loi - chi tiết cá nhân duy nhất trong phòng - đặt cạnh máy tính.

    Anh quẳng cặp lên bàn và đến bên cửa sổ, ngắm nhìn thành phố mà cha anh yêu mến. Anh nhìn thấy hình ảnh của mình như một bóng ma trong tấm kính, tóc đen gợn sóng, hàm vuông khỏe mạnh, cặp mắt đen. Hình ảnh của cha anh khi trẻ hơn. Nhưng ông có từng cảm thấy mệt mỏi và kiệt quệ như thế này không?

    Có tiếng gõ cửa đằng sau anh, rồi cánh cửa mở ra. Bill Antham, người hùn vốn duy nhất trong công ty, trước kia là bạn thân nhất của cha anh, bước vào. Trong nhiều tháng kể từ khi cha anh qua đời, Bill cũng già đi nhiều. Có lẽ tất cả bọn họ đều già đi.

    - Chào Michael, - ông nói và khập khiễng tiến tới, mỗi bước nhắc Michael rằng ông đã qua tuổi nghỉ hưu từ lâu. Năm ngoái, ông đã phải thay hai đầu gối mới.

    - Mời bác ngồi, bác Bill, - Michael nói và chỉ cái ghế bành gần bàn nhất.

    - Cảm ơn. - Ông ngồi xuống. - Tôi cần một ân huệ.

    Michael quay trở lại bàn.

    - Nhất định rồi, Bill. Cháu có thể làm gì cho bác đây?

    - Hôm qua tôi đã có mặt ở tòa, và bị chánh án Runyon tóm gọn.

    Michael thở dài và ngồi xuống. Các luật sư bào chữa cho tội phạm thường bị tòa án chỉ định - đây là một ràng buộc cũ rích nếu bạn yêu cầu một luật sư và không thể trả lấy một đồng. Các chánh án thường chỉ định vụ việc cho bất cứ luật sư nào tình cờ có mặt ở đấy.

    - Vụ gì thế ạ?

    - Một người đàn ông giết vợ. Cứ cho là thế. Hắn ta nhốt mình trong nhà và bắn vào đầu vợ. Đội SWAT(*) kéo hắn ra ngoài trước khi hắn kịp tự sát. Truyền hình đã quay và đưa hết cả lên rồi.

    Một thân chủ có tội đã bị đưa lên ti vi. Hay đây.

    - Bác muốn cháu xử lý vụ này thay bác ư?

    - Tôi không dám đòi hỏi... nhưng Nancy và tôi sắp đi Mexico hai tuần lễ.

    - Được ạ, - Michael nói. - Không vấn đề gì.

    Cái nhìn chăm chú của Bill lướt khắp phòng.

    - Tôi vẫn mong thấy ông ấy ở đây, - ông nói nhẹ nhàng.

    - Vâng, - Michael đáp.

    Họ nhìn nhau giây lát, cả hai đều nhớ tới con người đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ biết chừng nào. Rồi Bill đứng dậy, cảm ơn Michael lần nữa và ra về.

    (*) Đơn vị cảnh sát có vũ khí và chiến thuật đặc biệt.

    Sau đó, Michael lao vào công việc, để nó hoàn toàn cuốn lấy anh. Anh mất nhiều giờ liền, vùi đầu vào những tờ khai, các biên bản và báo cáo tóm tắt của cảnh sát. Anh luôn có niềm tin mạnh mẽ vào giá trị đạo đức do lao động mà có, thậm chí còn mạnh hơn cả ý thức về bổn phận. Trong lúc đau buồn như ngọn triều dâng, công việc đã trở thành vũ đài tồn tại của anh.

    Lúc ba giờ, Ann bấm gọi anh trên hệ thống điện thoại nội bộ.

    - Anh Michael? Jolene ở đường dây số một.

    - Cảm ơn Ann.

    - Anh có nhớ hôm nay là sinh nhật chị ấy không?

    Chết tiệt.

    Anh đẩy người khỏi bàn và chộp lấy điện thoại.

    - Chào Jo. Chúc mừng sinh nhật em.

    - Cảm ơn.

    Chị không trách móc anh, dù chị biết là anh quên. Jolene là người kiềm chế được cảm xúc của mình cừ nhất trong tất cả những người anh đã gặp, và chị chưa từng cho phép mình nổi điên. Đôi khi anh tự hỏi, liệu một cuộc đấu tranh thích hợp có giúp cho cuộc hôn nhân của họ không, song nó sẽ lôi cả hai vào cuộc chiến.

    - Anh sẽ đền em. Ăn tối ở chỗ đó, trên bến du thuyền được không? Hay là ở chỗ mới?

    Trước khi chị cưỡng lại (chị luôn làm thế nếu không đúng ý mình), anh nói:

    - Betsy đủ lớn để trông nom Lulu trong hai giờ. Chúng ta chỉ cách nhà có một dặm thôi mà.

    Đây là một chủ đề tranh cãi diễn ra gần một năm nay. Michael cho rằng một cô bé mười hai tuổi có thể trông em được, còn Jolene không đồng ý. Như mọi việc trong cuộc sống của họ, lá phiếu của Jolene thường là phiếu chống. Anh đã quen với điều này... và phát chán.

    - Em biết anh bận với vụ Woerner, - chị nói. - Nếu em cho các con ăn trước rồi đưa chúng lên gác xem phim, chỉ còn chúng ta ăn bữa tối, có được không? Hoặc em chọn mua đồ ăn ở quán mang về, chúng mình thích món của họ mà.

    - Em chắc không?

    - Vấn đề là chúng ta được ở bên nhau, - chị đáp rành rọt.

    - Được, - Michael nói. - Anh sẽ về nhà lúc tám giờ.

    Chưa kịp đặt máy xuống, anh đã nghĩ đến việc khác.
     
  6. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Hai

    Tối hôm đó, Jolene lựa chọn trang phục thật kỹ càng. Chị và Michael chưa từng ăn tối riêng với nhau, chỉ có hai người, và vẫn thế, nên chị muốn tối nay thật hoàn hảo. Thật lãng mạn. Cho các con ăn xong, chị tắm và ngâm mình trong nước thơm, cạo lông chân, xức nước thơm hương chanh khắp người, rồi mặc quần jeans thoải mái và áo dài tay cổ thuyền màu đen.

    Xuống dưới nhà, Jolene thấy Betsy ngồi bên bàn nước, đang làm bài tập, trong khi Lulu trên ghế sofa, quấn trong tấm chăn màu vàng ưa thích của nó, xem Nàng tiên cá. Những thứ còn lại của bữa tiệc mừng sinh nhật ngẫu hứng vẫn còn trên bàn ăn - bánh ga tô có những lỗ cắm nến, cuốn nhật ký màu hồng Betsy tặng chị, chiếc cặp tóc lấp lánh là quà tặng của Lulu, một đống giấy gói nhàu nhĩ và chiếc nơ bỏ đi.

    - Chị ấy không phải là chủ của con, - Lulu nói lúc Jolene vào phòng.

    - Mẹ bảo nó im đi, mẹ. Con đang làm bài tập, - Betsy đáp. - Nó hát to quá.

    Thế là bắt đầu. Tiếng chúng cao dần, đứa nọ át giọng đứa kia.

    - Chị ấy không phải là chủ của con, - Lulu nhắc lại, cứng rắn. - Mẹ bảo chị ấy đi.

    Betsy trợn mắt và ra khỏi phòng, giậm thình thịch lên các bậc thang.

    Jolene cảm thấy cơn mệt mỏi trào lên. Chị không hiểu vì sao cha mẹ có thể thấy mệt mỏi với một đứa trẻ chưa đến mười ba tuổi. Một cô bé có thể trợn mắt bao nhiêu lần? Nếu Jolene thử làm thế, bố chị sẽ tát cho bay từ đầu này đến đầu kia căn phòng.

    Lulu nhìn cái hộp đồ chơi trong góc phòng và lục lọi thứ gì trong đó. Tìm thấy cái bờm hình tai mèo là một phần trong trang phục Halloween năm ngoái, nó cài lên tóc rồi xoay tròn.

    Jolene không thể nín cười. Đứa con gái lên bốn của chị đứng đó, đeo bờm tai mèo màu xám đã bắt đầu sờn nhiều chỗ, chống tay lên hông. Các hình tam giác màu xám khuôn lấy gương mặt hào hứng của Lulu, trông nó tinh nghịch hơn thường lệ. Không hiểu do ai giải thích, mà Lulu tin rằng khi đeo cái bờm ấy, nó sẽ trở nên vô hình. Nó kêu một tiếng meo.

    Jolene cau mày rất kịch và nhìn quanh.

    - Ôi không, có chuyện gì xảy ra với Lucy Lou của tôi thế? Con bé đi đâu rồi? - Chị nhòm ngó khắp phòng, sau ti vi, dưới ghế bành màu vàng dày cộm, đằng sau cửa.

    - Con đây, mẹ ơi! - Lulu vung tay lên nói và cười khanh khách.

    - Con đây rồi, - Jolene thở dài. - Mẹ lo quá. - Chị nhấc bổng Lulu và bế nó lên gác. Lulu đánh răng và mặc pyjamas rất lâu, còn Jolene kiên nhẫn đợi, chị biết đứa con gái út của chị có tính độc lập mạnh mẽ. Cuối cùng khi Lulu xong xuôi, Jolene trèo lên giường cạnh con, chị kéo nó lại gần, với lấy cuốn Động vật hoang dã. Lúc chị nói “hết”, Lulu đã gà gà ngủ.

    Chị hôn lên má con bé.

    - Ngủ ngon nhé, mèo con.

    - Chúc mẹ ngủ ngon, - Lulu ngái ngủ, lẩm bẩm.

    Jolene xuống hành lang tới phòng Betsy, chị gõ cửa rồi bước vào.

    Betsy vẫn ngồi trên giường, cuốn sách về nghiên cứu xã hội đặt trên lòng. Mớ tóc vàng hoe óng ả của nó đổ thành những búp xoắn dọc cánh tay trần, gầy gò. Rồi sẽ có ngày Betsy giành giải vì nước da trắng sứ, mái tóc vàng hoe và cặp mắt nâu, nhưng không phải bây giờ, khi tóc thẳng đang là mốt và những mụn trứng cá làm xấu da.

    Jolene đến chỗ con gái và ngồi lên mép giường.

    - Con có thể nhẹ nhàng hơn với em.

    - Nó là kẻ hay quấy rầy.

    - Con cũng thế. - Jolene thấy mắt Betsy mở to, và chị mỉm cười dịu dàng. - Mẹ cũng vậy thôi. Gia đình là thế mà. Hơn nữa, mẹ biết chuyện này thực sự là gì rồi.

    - Mẹ biết ư?

    - Sáng nay, mẹ đã trông thấy Sierra và Zoe cư xử với con ra sao ở trường.

    - Mẹ luôn rình rập con, - Betsy nói, nhưng giọng nó vỡ ra.

    - Mẹ ngắm con đi vào trường. Như thế không thể gọi là rình rập. Năm ngoái ba đứa bọn con là bạn bè thân thiết nhất. Có chuyện gì vậy?

    - Không có gì ạ, - Betsy bướng bỉnh, nó mím môi cố che giấu nỗi ấm ức.

    - Mẹ có thể giúp con, hồi mẹ mười hai tuổi cũng vậy.

    Betsy nhìn mẹ, ngụ ý chắc hẳn-mẹ-điên-rồi, cái nhìn ấy đã trở nên quen thuộc trong năm qua.

    - Con ngờ lắm.

    - Có lẽ con nên lang thang ra ngoài với Seth sau giờ học ngày mai. Con có nhớ bọn con đã có thời rất vui vẻ không?

    - Seth là người không bình thường. Ai cũng nghĩ thế.

    - Elizabeth Andrea, con đừng hành động như một cô gái tầm thường. Seth Flynn không có gì khác thường hết. Nó là con trai người bạn thân nhất của mẹ. Nó chỉ thích để tóc dài và... ít nói. Nó là bạn con mà. Con hãy nhớ điều đó. Một ngày nào đó, con có thể cần đến Seth đấy.

    - Gì cũng được.

    Jolene thở dài. Trước kia chị đã xem bộ phim này rồi; mặc cho chị gặng hỏi nhiều lần, Betsy không nói gì thêm nữa. Gì cũng được có nghĩa là chấm hết.

    - Thôi được, - chị nghiêng người và hôn lên trán Betsy. - Mẹ yêu con rất, rất nhiều.

    Những lời này là khẩu hiệu trong gia đình, tình yêu của họ lắng đọng thành một câu đơn nhất. Hãy nói lại câu đó với mẹ đi, Bets.

    Jolene đợi một lúc lâu hơn dự tính và ngay lập tức, chị giận mình vì đã hy vọng. Lại một lần nữa. Tình mẹ trong những năm tháng thiếu thời là một loạt những thất vọng triền miên.

    - Được, - cuối cùng chị nói và đứng dậy.

    - Sao bố chưa về nhà hở mẹ? Hôm nay là sinh nhật mẹ mà.

    - Lát nữa bố về. Con biết là hồi này bố bận thế nào rồi.

    - Bố sẽ lên chúc con ngủ ngon chứ?

    - Tất nhiên rồi.

    Betsy gật đầu và trở lại đọc sách. Lúc Jolene ra tới cửa, nó nói:

    - Chúc mừng sinh nhật mẹ.

    Jolene mỉm cười.

    - Cảm ơn con, Bets. Mẹ rất thích cuốn nhật ký con tặng mẹ. Thật hoàn hảo.

    Betsy cười sung sướng.

    Xuống nhà, Jolene vào bếp và nếm món cuối cùng. Bữa tối của chị là một xoong sườn bò om rượu vang, tỏi và cỏ xạ hương, bổ béo và thơm phức đang sôi lục bục trên bếp, tỏa mùi thơm khắp nhà. Các con chị không thích món này, nhưng nó là món khoái khẩu của Michael.

    Quàng tấm chăn mềm màu hồng lên vai, chị rót một cốc soda và ra ngoài. Ngồi xuống một trong những chiếc ghế đã cũ trên hiên đan bằng cành liễu gai, chị gác bàn chân trần lên cái bàn nước tàn tạ và đăm đăm nhìn ra phong cảnh quen thuộc bên ngoài.

    Tổ ấm.

    Nó bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ với Michael.

    Chị nhớ rất rõ những chuyện đó.

    Những ngày sau cái chết của cha mẹ, Jolene đợi ai đó đến giúp. Cảnh sát, các nhà tư vấn, các thầy cô giáo. Chẳng bao lâu sau, cô nhận ra rằng trong cái chết của cha mẹ cũng như trong cuộc sống của họ, cô chỉ có một mình. Một buổi sáng thứ Tư phủ đầy tuyết, Jolene dậy sớm, phớt lờ khí lạnh thấm qua những bức tường mỏng manh của phòng ngủ, cô mặc bộ đẹp nhất - váy len kẻ ô vuông, áo dài tay bằng hàng Shetland, tất dài đến gối và đi giày da. Một chiếc băng đô rộng màu xanh lơ giữ cho tóc khỏi rơi xuống mắt.

    Cô vừa nhận khoản tiền công giữ trẻ cuối cùng và lên đường đến khu thương mại Seattle. Cô gặp Michael ở văn phòng tư vấn pháp luật.

    Gương mặt điển trai ngăm ngăm đen, nụ cười vui vẻ của anh đã khiến cô ngộp thở theo đúng nghĩa đen. Cô theo anh vào một phòng làm việc nhỏ, xoàng xĩnh và kể với anh khúc mắc của mình.

    - Em mười bảy tuổi, hai tháng nữa là mười tám. Cha mẹ em vừa mất trong tuần. Vì tai nạn ô tô. Một nhân viên xã hội ghé qua bảo em phải sống với bố mẹ nuôi cho đến khi mười tám tuổi. Nhưng em không cần ai hết. Dĩ nhiên là không phải một gia đình giả mạo. Em có thể sống trong nhà mình đến tháng Sáu - là khi nhà băng lấy lại nhà - lúc đó em đã học xong trung học và có thể làm... bất cứ việc gì. Anh có thể làm gì để em không cần phải đến với một gia đình nhận nuôi không?

    Michael chăm chú nhìn cô, mắt anh nheo lại.

    - Vậy là cô sẽ sống đơn độc.

    - Em đang sống đơn độc. Đấy là thực tế, không phải là lựa chọn.

    Cuối cùng, khi anh nói:

    - Tôi sẽ giúp cô, Jolene, - cô những muốn khóc.

    Trong một giờ tiếp đó, cô kể cho anh nghe một bản phóng tác về cuộc sống ngăn nắp của mình. Anh nói gì đó về quyền lợi của thân chủ một luật sư, có thể kể với anh mọi chuyện, nhưng cô đã biết rồi. Cô đã học được cách giữ bí mật sự thật từ lâu. Khi người ta biết cô lớn lên với cha mẹ nghiện rượu, họ thường tỏ ra thương xót cô. Cô ghét như thế, ghét bị thương hại.

    Khi họ trò chuyện xong và giấy tờ đã hoàn tất, Michael dặn:

    - Vài năm nữa cô hãy trở lại gặp tôi, Jolene nhé. Tôi sẽ đưa cô đi ăn tối.

    Nhưng phải sáu năm sau, Jolene mới tìm đường trở lại với anh. Khi đó, Jolene đã là phi công trong quân đội, còn anh là luật sư cộng tác với cha, và họ gần như chẳng có điểm gì chung. Nhưng cô đã nhìn thấy điều gì đó trong con người anh ngay từ ngày đầu tiên, chủ nghĩa lý tưởng thể hiện một cách sâu sắc với cô và ý thức về đạo đức rất hợp với cô. Giống như Jolene, Michael là một nhân viên mẫn cán và có ý thức nhạy bén về bổn phận. Đúng như lời anh nói, Michael đưa cô đi ăn tối... và đó là sự khởi đầu.

    Chị mỉm cười vì hồi ức.

    Xa xa, nhiều ngọn đèn chạy dọc bờ biển, những chấm nhỏ màu vàng cho thấy các ngôi nhà trong bóng tối. Những đám mây mỏng nhẹ như sa lướt qua mặt trăng; lúc không có mây, trăng càng chiếu sáng rực rỡ hơn. Lúc này trời đã tối hẳn. Chị liếc nhìn đồng hồ. Tám giờ rưỡi.

    Jolene cảm thấy nhói lên nỗi thất vọng và cố gạt nó đi. Chắc có việc đột xuất quan trọng. Cuộc sống đôi khi vẫn thế. Mọi việc hiếm khi hoàn hảo. Anh ấy sẽ xuất hiện thôi.

    Nhưng...

    Gần đây, những điểm bất đồng giữa hai người hiển hiện nhiều hơn những việc họ cùng chia sẻ. Michael không thích sự tận tụy với quân đội của chị. Chị đã bỏ tại ngũ vì anh và gia nhập Vệ binh, song việc đó không đủ làm Michael dễ chịu. Anh không muốn nghe về chuyến bay, về những buổi huấn luyện cuối tuần hoặc về các bạn bè đồng đội của chị. Anh hay chống đối quân đội, và từ khi bắt đầu cuộc chiến ở Iraq, ý kiến của anh càng mạnh mẽ hơn và tiêu cực hơn. Sự yên lặng trước kia là hữu hảo của họ nay đã thành khó chịu. Thật cô đơn khi không thể trò chuyện với chồng về những việc quan trọng với mình. Thông thường, chị tránh né thực tế này, nhưng tối nay nó chiếm trọn cái ghế cạnh chị.

    Chị đứng dậy và vào trong nhà.

    Tám giờ năm mươi.

    Chị mở nắp vung màu vàng nặng trịch và đăm đăm nhìn món ăn mình làm. Nước xốt béo ngậy đã cạn quá nhiều, quanh mép xoong trông hơi đen đen. Đằng sau chị, chuông điện thoại reo. Chị lao vội tới.

    - Alô?

    - Chào Jo. Anh xin lỗi vì về muộn.

    - Muộn từ một tiếng đồng hồ trước rồi, Michael. Có chuyện gì thế?

    - Anh xin lỗi. Anh có thể nói gì đây? Anh mải làm việc và quên mất.

    - Anh quên mất, - chị nói, ước gì nó không gây tác hại.

    - Anh sẽ đền bù cho em.

    Chị suýt buột ra như thế nào? Nhưng liệu có hiệu quả không? Sao lại phải làm cho nó tệ hơn? Anh không cố ý muốn làm tổn thương đến tình cảm của chị.

    - Thôi được.

    - Anh sẽ cố về nhà nhanh, nhưng...

    Jolene mừng vì họ nói qua điện thoại, ít nhất chị cũng không phải gượng cười. Một ý nghĩ chợt đến với chị rằng, gần đây anh không đủ thiết tha, rằng gia đình - và vợ - dường như không có ý nghĩa lắm với anh. Còn chị vẫn yêu anh sâu đậm như ngày anh hôn chị lần đầu, từ nhiều năm trước.

    Thời gian, chị nghĩ. Sẽ tốt nếu là tuần sau hay tháng sau. Anh vẫn còn đau buồn vì cái chết của cha. Chị chỉ cần thông cảm.

    - Chúc mừng sinh nhật em, - anh nói.

    - Cảm ơn anh. - Chị đặt máy và ngồi xuống bên bàn bếp. Trong căn phòng sáng lờ mờ, trang trí bằng những bức ảnh gia đình và những vật lưu niệm cùng đồ đạc mà chị đã tận dụng và tự sửa chữa lấy, Jolene cảm thấy lẻ loi đến ngỡ ngàng. Ăn vận thật đẹp rồi ngồi trong căn phòng tối om này. Thật cô đơn.

    Đúng lúc đó, có một tiếng gõ cửa. Jolene chưa kịp đứng dậy, cửa bếp đã bật mở. Tami bước vào nhà, giơ một chai champagne.

    - Cậu có một mình à, - Tami nói khẽ.

    - Anh ấy bận công việc, - Jolene đáp.

    - Mình sợ điều đó lắm. - Nỗi buồn thoáng qua mắt Tami, và Jolene không thích cách cảm nhận của bạn mình. Rồi Tami nhoẻn cười. - Cũng hay. Bắt đầu tuổi bốn mươi mốt mà thiếu một khán giả cũng không sao, - chị nói và đá cánh cửa sập lại sau lưng. - Với lại, mình đang rất muốn biết liệu cậu có nếp nhăn ngay trước mặt mình không, như Gary Oldman trong Dracula ấy.

    - Mình chưa bắt đầu có nếp nhăn.

    - Cậu chẳng bao giờ biết đâu.

    - Champagne cơ à? - Jolene nói, nhếch một bên lông mày, tinh nghịch.

    - Thứ ấy để cho mình. Mình không có cha mẹ nghiện rượu. Cậu có thể nốc soda như mọi khi.

    Tami dễ dàng bật nút chai champagne, rót cho mình một cốc rồi vào thẳng phòng giải trí của gia đình, buông người xuống chiếc sofa dày và nâng cốc lên.

    - Mừng cậu, người bạn thân nhất đang già đi của mình.

    Jolene theo Tami vào phòng giải trí.

    - Cậu chỉ trẻ hơn mình vài tháng thôi đấy.

    - Thổ dân Mỹ chúng tôi không già đi. Đó là một bằng chứng khoa học. Cứ nhìn mẹ mình thì biết. Bà vẫn còn bị hỏi chứng minh thư đấy.

    Jolene ngồi khoanh chân trong chiếc ghế bành dày.

    Họ nhìn nhau. Hồi ức về nhiều đêm như thế này, những bữa ăn Michael bỏ lỡ, những sự kiện mà anh quá bận nên không tham dự đang cuộn xoáy giữa họ lúc này, lơ lửng như bọt champagne. Jolene thường nói với mọi người, đặc biệt là với Tami, chị tự hào biết bao về người chồng tài ba và thành đạt của mình, tất cả đều là sự thật, nhưng gần đây hình như anh không vui. Cái chết của người cha đã khiến anh bị đảo lộn. Chị biết anh không vui, chỉ là không biết giúp ra sao thôi.

    - Chắc việc này làm cậu tổn thương lắm, - Tami nói.

    - Đúng vậy, - Jolene đáp khẽ.

    - Cậu nên nói chuyện với anh ấy, kể với anh ấy cậu cảm thấy ra sao.

    - Để làm gì kia chứ? Sao lại làm cho anh ấy cảm thấy tệ hơn? Khỉ thật Tami ạ. Cậu biết niềm tin vào giá trị lao động của Michael rồi. Nó là một trong những điểm mình yêu anh ấy. Michael không bao giờ bước chệch khỏi trách nhiệm.

    - Trừ khi đây là nghĩa vụ với gia đình, - Tami nói mềm mỏng.

    - Hiện giờ anh ấy bận thật mà. Từ khi bố Michael mất...

    - Mình biết. Và cả hai cậu đều không muốn nói đến chuyện ấy. Thực ra là cậu không nói.

    - Bọn mình có nói.

    Tami nhìn bạn, cái nhìn đầy xét đoán.

    - Mọi cuộc hôn nhân đều trải qua những thời kỳ khó khăn. Đôi khi ta phải lao vào đó và đấu tranh cho tình yêu của mình. Đó là cách duy nhất làm cho nó tốt đẹp hơn.

    Jolene không khỏi chạnh lòng nghĩ đến cha mẹ mình, và cách mẹ chị vật lộn để giành giật tình yêu của một người đàn ông... mà chẳng bao giờ có được gì.

    - Nghe này, Tami. Michael và mình vẫn ổn. Bọn mình yêu nhau. Bây giờ, chúng mình có thể nói về chuyện khác được không, xin cậu đấy.

    Tami giơ cái cốc còn một nửa lên.

    - Mừng cậu, bạn của mình. Trông cậu thật quá đáng vì già đến mức quái đản.

    - Trông tớ quá đáng vì đang hành kinh.

    Tami cười phá rồi kể một chuyện vui về gia đình mình.

    Đã mười giờ bốn mươi trước khi họ nhận ra, và Tami đặt cái cốc rỗng không xuống bàn.

    - Mình phải về nhà đây. Mình hẹn với Carl sẽ về nhà xem Letterman.

    Jolene đứng dậy.

    - Cảm ơn cậu đã đến, Tami. Mình cần điều đó.

    Tami nồng nhiệt ôm ghì bạn. Cả hai cùng đi tới cửa sau.

    Jolene nhìn bạn băng qua đường dành cho xe và nhằm thẳng tới cơ ngơi kế bên. Cuối cùng, chị đóng cửa lại.

    Lặng lẽ, chị lại lẻ loi với bao ý nghĩ, và chị chẳng thích bầu bạn với chúng chút nào.

    Khi Michael đưa xe vào ga ra và đỗ cạnh chiếc SUV của Jolene, đã là nửa đêm. Trên ghế cạnh anh là một bó hoa hồng màu hồng, bọc trong giấy bóng kính. Đã lên phà trên đường về nhà, anh mới nhớ ra Jolene thích hoa hồng đỏ thắm. Tất nhiên rồi. Mềm mại và nữ tính không phải là phong cách của chị, chưa bao giờ là thế, kể cả trong ngày đầu tiên, cái ngày ảm đạm khi chị bước vào đời anh.

    Lúc ấy, Jolene mới mười bảy tuổi. Một đứa trẻ, mặc quần áo bán ở cửa hàng đồ cũ, mớ tóc dài vàng hoe rối tung, cặp mắt xanh tuyệt đẹp sưng mọng vì khóc, và với tất cả bộ dạng như thế, Jolene bước vào văn phòng tư vấn pháp luật, đứng thẳng người, tay nắm chặt cái ví bằng nhựa dẻo nhàu nát. Hồi đó anh là người tập sự, mới là sinh viên năm thứ nhất trường luật.

    Dường như Jolene không còn có thể cứng cỏi trước anh, dù cô vốn từ chối mọi sự giúp đỡ ngay trong những ngày tồi tệ nhất đời mình. Ngay khi đó, anh đã cảm thấy hơi yêu cô, đủ để đề nghị cô trở lại và gặp anh khi cô lớn hơn. Sự táo bạo của cô hiển hiện với anh ngay từ ban đầu, lòng can đảm của cô rõ ràng như chiếc áo vệ sinh bằng sợi hóa học rẻ tiền cô mặc trên người.

    Sáu năm sau, khi trở lại đời anh, Jolene đã là một phi công lái trực thăng quân sự cùng đủ thứ khác. Anh đủ trẻ để tin vào tình yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên và đủ già dặn để hiểu rằng nó không xảy ra hàng ngày. Anh tự nhủ rằng anh đang trong trạng thái ưu tư còn cô là lính, rằng họ chẳng có điểm gì chung cũng chẳng sao. Anh cảm nhận được cô yêu và ngưỡng mộ đến mức ngạt thở. Màn làm tình của họ thực sự đáng ngạc nhiên. Trong ái ân cũng như trong mọi việc, Jo luôn hết mình.

    Anh cầm bó hồng và cái hộp Tiffany bé xíu bên cạnh, phân vân liệu món quà đắt tiền có giúp anh chuộc lỗi được không. Chị sẽ thấy anh đã mua từ trước, rằng anh nhớ sinh nhật của chị lúc khắc vào món quà, nhưng thế đã đủ chưa? Anh đã bỏ lỡ bữa tối sinh nhật chị - anh đã xem nhẹ nó.

    Chỉ nghĩ đến cảnh tượng sắp tới anh đã thấy kiệt sức. Anh sẽ sử dụng sức mê hoặc của mình để khiến chị mỉm cười, van nài chị tha thứ, chị sẽ chấp nhận với vẻ duyên dáng và dễ dàng làm mọi sự nhẹ đi, nhưng anh sẽ thấy vẻ tổn thương trong cặp mắt xanh của chị, trong cách chị cười không hẳn tươi, và anh biết một lần nữa, anh lại làm chị thất vọng. Ở đây, anh là người tồi, chắc chắn là thế rồi, và chị sẽ nhắc nhở anh bằng ti tỉ cách vặt vãnh, cho đến khi anh khó lòng nhìn chị, cho đến khi anh lăn xa chị trên giường và đăm đăm nhìn bức tường rồi hình dung một cuộc sống khác hẳn.

    Anh xuống xe và vào nhà. Trong căn bếp lờ mờ, anh tìm thấy bình hoa và cắm những đóa hồng vào, rồi bưng lên gác.

    Những ngọn đèn trong phòng ngủ của chủ nhân đã tắt, trừ một ngọn đèn trang trí nhỏ trên bàn cạnh cửa sổ. Anh đặt bình hoa lên tủ áo kiểu cổ rồi vào buồng tắm, cởi quần áo và sẵn sàng đi nằm. Trèo lên giường, anh kéo cái chăn lông vịt nặng lên tận ngực và nằm đó trong bóng tối.

    Lắng nghe tiếng thở của vợ thường làm anh dịu lại, nhưng lúc này từng âm thanh của chị chỉ khiến anh tỉnh táo.

    Anh nhắm mắt và hết sức mong mỏi điều tốt đẹp nhất chỉ thấy một lần, tuy biết rằng cố đến mấy cũng phải mất nhiều giờ anh mới cảm thấy buồn ngủ, giấc ngủ của anh chập chờn, bị quấy rầy vì những giấc mơ về một cuộc sống theo cách khác, một con đường không lựa chọn.

    Nhiều giờ sau, khi tỉnh giấc, anh cảm thấy dường như chưa ngủ chút nào. Ánh sáng nhạt lọt qua khe cửa sổ làm các bức tường màu xanh xám trông xám xịt như củi rều. Sàn gỗ màu sẫm nuốt chửng mọi thứ ánh sáng mặt trời.

    Anh chống khuỷu tay ngồi dậy, cảm thấy tấm khăn phủ giường tuột khỏi ngực.

    Jolene nằm thao thức cạnh anh, mớ tóc vàng hoe của chị rối tung về một bên, gương mặt xanh xao của chị hơi quay về phía anh.

    Vẻ tổn thương hiển hiện trong mắt chị.

    - Anh xin lỗi, Jo. - Anh cúi hôn chị thật nhanh, rồi lùi lại. - Anh sẽ đền em.

    - Em biết. Chỉ là sinh nhật thôi mà. Có lẽ vì em đã làm quá nhiều cho nó.

    Anh xuống giường và cầm cái hộp Tiffany trong tủ áo và mang lại chỗ chị.

    Anh chợt nhớ chị đã yêu cầu điều gì đó cho ngày sinh của chị, một điều đặc biệt. Không phải là một món quà, đó không phải là kiểu của Jolene. Chị muốn... một thứ gì đó. Anh không thể nhớ đó là gì, nhưng anh thấy mặt chị hơi nhăn lại lúc nhìn thấy cái hộp; rồi nó qua đi, chị mỉm cười với anh.

    - Hãng Tiffany ư? - Chị ngồi dậy trên giường, xếp mấy cái gối sau chị, rồi mở hộp. Bên trong, một chiếc đồng hồ vàng và bạch kim sáng lấp lánh, nổi bật trên nền da trắng muốt xoắn tròn. Một viên kim cương nhỏ gắn ở con số 12.

    - Đẹp quá. - Chị xoay xoay rồi lật mặt sau đồng hồ, khắc Jolene, lần thứ 41 vui vẻ. - Bốn mươi mốt, - chị nói. - Chà. Thời gian trôi nhanh thật đấy. Betsy sẽ đến trường muộn mất.

    Anh ước giá chị đừng nói thế. Gần đây, thời gian chẳng có ích gì cho anh. Anh đã bốn mươi nhăm - là tuổi trung niên theo bất cứ tiêu chuẩn nào. Chẳng mấy nữa, anh sẽ năm mươi và bất cứ cơ hội nào anh phải có để trở thành bản sao khác của chính mình sẽ qua đi. Anh vẫn chưa có ý tưởng về một bản sao khác sẽ như thế nào; anh chỉ biết sắc thái đã biến mất khỏi con người là anh.

    Anh ngồi xuống giường cạnh Jolene. Anh nhìn chị, bỗng thấy cần chị, muốn cảm nhận chị theo cách anh thường làm.

    - Làm thế nào em qua được... cái chết của họ? Ý anh là, thực sự qua được ấy? Trong chớp mắt, em đã phải thay đổi cuộc sống của em.

    Anh nhìn thấy sự lưỡng lự của chị, và chị hơi ngoảnh đi. Câu hỏi như một cú đánh sượt qua vai chị, làm chị thâm tím. Khi chị nhìn lại anh, chị đang mỉm cười.

    - Thứ không giết ta chết sẽ làm ta mạnh hơn. Em nghĩ là em đã chọn được hạnh phúc.

    Anh thở dài. Càng vô vị hơn. Bỗng nhiên, anh lại thấy mệt mỏi.

    - Anh sẽ làm bữa sáng cho em tại giường, rồi có lẽ chúng mình cùng đi một xe máy.

    Chị để chiếc đồng hồ vẫn còn nguyên trong hộp lên bàn đầu giường.

    - Tối nay có tiệc sinh nhật em ở nhà đại úy Lomand. Anh đã nói là anh có thể đến mà.

    Té ra đó là điều mà chị yêu cầu. Không có gì lạ là anh quên bẵng.

    - Anh chẳng có điểm nào chung với những người ấy. Em thừa biết điều đó. - Anh đứng dậy và đến tủ quần áo, mở ngăn trên cùng của anh.

    - Em là một trong những người đó, - chị nói, như thể họ vấp phải một địa hình quen thuộc và cứng như đá. - Đây là bữa tiệc dành cho em. Anh có thể tới dù chỉ lần này thôi.

    Anh quay lại, đối diện với chị.

    - Tối mai chúng ta sẽ ra ngoài ăn tối. Thế có được không? Cả bốn chúng ta. Chúng ta sẽ đến nhà hàng Ý mà em thích.

    Jolene thở dài. Anh biết chị đang tính toán một quả bóng khác lọt qua cái lưới lý lẽ cũ kỹ này. Chị muốn anh trở thành một phần trong cuộc sống quân nhân của chị, chị luôn mong thế, nhưng anh không thể làm vậy, anh không thể chịu nổi cái thế giới cứng nhắc “một người vì tất cả và tất cả vì một người” được.

    - Thôi được, - cuối cùng chị nói. - Cảm ơn vì chiếc đồng hồ. Rất đẹp.

    - Có gì đâu.

    Họ nhìn nhau chăm chú. Sự im lặng tụ lại trong không khí, đắng và nồng đượm như mùi cà phê. Anh biết có nhiều điều cần phải nói ra, những lời đã bị kìm nén quá lâu, tích lại mơ hồ và ngang ngạnh. Một khi anh bày tỏ, nói ra những điều anh thực sự cảm thấy, sẽ không có đường trở về.

    Chiều muộn hôm ấy, bưng một đĩa thịt hầm bọc giấy thiếc, Tami bước vào bếp nhà Jolene.

    - Sao rồi? - Chị hỏi và đá cửa khép lại sau lưng.

    Jolene liếc vào phòng giải trí, để biết chắc bọn trẻ không ở gần đấy.

    - Anh ấy thực sự hối lỗi, - chị đáp. - Anh ấy mang cho mình hoa hồng và một chiếc đồng hồ rất đẹp.

    - Anh ấy mới là người thực sự cần đồng hồ. - Thấy Jolene nhìn, Tami nhún vai. - Tớ nói thế thôi.

    - Ừ. - Jolene nói. - Mình đề nghị anh ấy đến dự liên hoan. Song anh ấy không muốn.

    - Mình rất tiếc, - Tami nói.

    Jolene cười gượng. Chị không thể không nghĩ cuộc sống của Tami sao khác biệt đến thế. Mặc dù Carl không ở trong quân ngũ, anh ấy vẫn rất ủng hộ Tami, tham dự mọi sự kiện, và thường nói với Tami là anh tự hào vì công việc của chị. Nhiều bức ảnh Tami vận quân phục trang trí các bức tường trong nhà họ, treo cùng với ảnh ở trường của Seth và những cuộc họp mặt gia đình. Còn mọi ảnh Jolene mặc quân phục đều bị giấu kín trong các ngăn kéo đâu đó.

    Chị ngoảnh đi, tránh cái nhìn thất vọng trong mắt Tami và đến chân cầu thang.

    - Các con ơi! - Chị gọi với lên. - Xuống đi. Đến giờ đi dự liên hoan rồi.

    Lulu xuống gác, cười toe toét, kéo lê tấm đắp của nó. Nó mặc bộ váy công chúa màu hồng, đeo vương miện để dự tiệc. Betsy xuất hiện ở đầu cầu thang, hai cánh tay khoanh lại.

    - Xin-in-in-in đừng bắt con đi, - nó nài nỉ.

    - Tích tắc, tích tắc.

    - Bố không phải đi mà.

    - Bố bận làm việc, - Jolene nói. - Còn con thì không.

    Betsy giậm chân thình thịch và quay ngoắt đi.

    - Thôi được, - nó nói và vào phòng riêng.

    - Mình nhớ mình đã thèm có một đứa con gái biết chừng nào, - Tami nói, và đến cạnh Jolene. - Gần đây mình không còn chắc thế nữa.

    - Mình chẳng làm hoặc nói được điều gì cho phải. Nói thật nhé, ngày nào nó cũng làm mình đau lòng một chút. Nó thề sẽ bỏ học nếu mình đến dự ngày hướng nghiệp. Rõ ràng là có mẹ trong quân đội chỉ đỡ bẽ mặt hơn có mẹ trong tù tí tẹo.

    Tami dựa vào bạn.

    - Cậu bị những người độc ác nuôi dạy, nên cậu không biết điều này: chuyện ấy cũng thường thôi. Năm mình mười hai tuổi, mẹ mình đã thề là bà đã cố bán mình cho những người Gypsy(*). Mình không bịa đâu.

    - Hôm nay Seth đi chứ?

    - Tất nhiên rồi. Nó là con trai. Chúng nó như lũ chó con, còn con gái như mèo. Nó chỉ muốn làm mình vui và chơi video game. Những trò kịch tính vẫn chưa xuất hiện trong nhà mình. Tuy vậy, nó sẽ thấy thiếu Betsy.

    Jolene ngước nhìn lên gác.

    - Mình mong con bé sẽ dễ thương hơn với Seth.

    Tami gật đầu.

    - Con trai mình là một thảm họa thời trang. Thằng bé mê các hoạt động trí não, háo hức trả lời từng câu hỏi trong sinh vật học. Betsy lại muốn lang thang với các cô gái tầm thường. Mình hiểu điều đó. Mình hiểu lắm. Thằng bé là kẻ tự sát quần thể, trên thực tế bọn chúng thường là những người bạn tốt nhất song không giúp gì được cho con bé. Seth vẫn không hiểu điều đó. Nó cứ băn khoăn vì sao con bé bỏ chơi trượt ván và không thích đi bắt cua trên bãi biển nữa. Nó vẫn giữ tấm thiếp mừng sinh nhật mà con bé bắt nó đính lên tường.

    Jolene không biết nói sao về việc này. Chị chưa kịp nghĩ gì, Lulu đã xuống bậc cuối cùng và lao tới. Jolene vội nhấc nó lên rồi bế nó ra chiếc SUV. Thắt dây an toàn cho Lulu vào ghế xong, chị trở vào nhà.

    - Đi thôi, Betsy!

    Betsy giậm chân thình thịch xuống cầu thang, tỏ vẻ chống đối ra mặt, và đeo tai nghe iPod. Thông điệp thật rõ ràng: Con sẽ đi, nhưng con không thích. Jolene để mặc sự hiếu chiến nho nhỏ ấy, và theo con gái đến chiếc SUV.

    - Seth đâu? - Betsy vừa hét vừa mở cửa xe.

    (*) Một dân tộc du mục từ miền Tây Bắc Ấn Độ di cư sang Tây Âu từ thế kỷ 15.

    Jolene trèo vào ghế sau tay lái.

    - Nó và chú Carl sẽ gặp chúng ta ở đó. Sáng nay họ đi câu cá. Con hãy đối xử nhẹ nhàng với nó nhé.

    Betsy chẳng buồn nghe. Nó thắt dây an toàn rồi bắt đầu loay hoay với cái iPod.

    - Nghe nhạc nhé? - Jolene hỏi Tami.

    - Thần nghĩ hôm nay là ngày của hoàng hậu. Xin chúc mừng nương nương.

    - Nghe Madonna này. - Jolene ấn đĩa CD vào đầu máy và chuyển đến nhịp quen thuộc của bài Material Girl.

    Chị và Tami hết nói chuyện lại hát; Lulu nói không ngừng, còn Betsy không thốt một lời.

    Chẳng mấy chốc, họ rẽ vào một phân khu trong cảng Gig, gọi là Ravenwood, cách bưu điện khoảng bốn chục phút. Toàn bộ các thành viên của Vệ binh từ khắp các nơi trong bang đổ đến - một số người mất nhiều giờ lái xe đến đây.

    Đại úy sống trong ngôi nhà cư xá màu xanh xám xinh đẹp, viền màu trắng và có hàng hiên bao quanh. Bọn trẻ con chạy khắp sân, chúng cao giọng hòa thành một tiếng kêu ré lanh lảnh. Ngôi nhà và mảnh sân là sự phản ánh của gia đình - của người đàn ông - sống ở đây. Mọi thứ đều được cắt tỉa và chăm sóc chu đáo. Đại úy Benjamin Lomand năm mươi tuổi, là một trong những người đàn ông ưu tú nhất mà Jolene quen biết.

    Phần lớn các nhân viên đội bay và gia đình họ sống ở đây, Jolene có thể nói thế vì dãy ô tô nhiều màu đỗ rồng rắn trong con phố cụt. Mặc dù từ đây không nhìn thấy sân sau, song Jolene biết cánh nam giới và các nữ quân nhân đang tụ tập quanh chỗ tiệc nướng, cầm các chai bia nhà làm hoặc lon Coke, trong lúc vợ họ đứng thành từng nhóm trò chuyện với nhau và trông nom đám trẻ con. Ai cũng tươi cười.

    Jolene ghé vào bên lề đường dành cho xe và đỗ lại. Carl, chồng Tami và Seth, con trai họ đang đứng bên ngoài ga ra. Vừa vẫy tay, họ vừa chạy đến chỗ xe đậu. Vận quần jeans rộng thùng thình, áo len bó, chiếc mũ bóng chày sụp thấp để che mái tóc thưa, nom Carl giống một trong những anh chàng hơi nặng nề, thân hình rắn chắc từng là ngôi sao bóng đá ở trường trung học và vào làm việc ở hãng Boeing. Hình ảnh đó chính xác đến lạ lùng, trừ việc anh là thợ máy và có xưởng sửa chữa ô tô riêng.

    Trông Seth chẳng giống bố tí nào. Ở tuổi mười hai, nó là một cậu bé lập dị và lóng ngóng, đã có mụn trứng cá, cặp mắt dường như hơi quá to so với khuôn mặt hẹp, mái tóc đen nhánh đổ xuống gần giữa lưng. Hôm nay Seth mặc quần Levi’s bó (ai cũng biết nó “bơi” trong các loại quần rộng thùng thình) và áo phông Nine Inch Nails thùng thình đến nỗi càng nổi bật sự gầy guộc của đôi tay.

    Tami xuống xe gần chỗ chồng, tay bưng đĩa thịt hầm bọc giấy thiếc.

    - Tình yêu của đời tôi đây rồi, - Carl nói và dang rộng đôi tay. Tami cười tươi tỉnh và đưa đĩa thức ăn cho anh. Chắc chắn đây là món bảy tầng nổi tiếng của chị.

    - Chúc mừng sinh nhật muộn nhé, - Carl nói với Jolene lúc chị xuống xe.

    - Cảm ơn Carl. - Chị mở cửa sau và tháo dây cho Lulu. Giống hệt thả một con thủy quái. Lulu nhảy tót xuống xe, nó kêu ré lên khoái chí và tìm người để chơi.

    Betsy lừng khừng xuống xe, cái tai nghe vẫn ở nguyên chỗ. Khi nhìn thấy Seth, nó mở to mắt sửng sốt vì bộ đồ cậu bé mặc, miệng nó mím lại. Jolene biết con gái chị sợ bị nhìn thấy nói chuyện với cậu bạn thân nhất thời thơ ấu của nó. Vì thế chị khẽ đẩy con.

    Betsy chúi về phía trước, suýt ngã vào Seth. Cậu bé liền giơ tay ra đỡ Betsy và nói:

    - Chà... - Lời duy nhất gãy vụn, giảm xuống hai âm lượng.

    - Tớ mong không ai trông thấy, - Betsy nói và dứt khỏi cậu bé, rồi bỏ đi. Seth nhìn theo nó một lúc lâu, rồi nhún vai và tiến đến một chỗ trên cỏ. Nó ngồi xuống đó, bắt chéo chân và chơi điện tử. Jolene nhớ kỹ phải nói chuyện với Betsy lần nữa về việc đối xử tử tế với Seth. Thật lòng, chị không hiểu sao con gái chị lại có thể tầm thường đến thế.

    Bưng một bát thủy tinh bọc trong giấy thiếc đầy xà lách trộn làm lấy, Jolene theo Carl và Tami vào sân sau. Họ đi vòng góc nhà, và thấy mọi người ở đó: đội bay, các bạn của chị. Họ thường tụ tập với nhau, cả nhóm cùng được đào tạo từ nhiều năm trước. Trong thế giới “bên ngoài”, họ đến từ các vị trí khác nhau trên đời - nha sĩ, tiều phu, giáo viên và thợ máy. Nhưng cứ mỗi tháng một kỳ nghỉ cuối tuần và mỗi mùa hè hai tuần liền, họ là những người lính, được huấn luyện vai kề vai, tự hào phục vụ đất nước. Dẫu Michael có trợn tròn mắt, sự thật là Jolene yêu quý những con người này. Họ giống chị, họ đều gia nhập quân đội vì tin vào việc phục vụ Tổ quốc, tin mình là người yêu nước, và tin vào việc gìn giữ an toàn cho nước Mỹ. Họ đã tin như thế. Không có người nào trong đội này sẽ không hy sinh thân mình cho Jolene, và ngược lại.

    Thấy chị tới, mọi người hát vang bài Happy Birthday.

    Jolene cười, cảm nhận một niềm vui thuần khiết và ngọt ngào. Chỉ có một sứt mẻ nhỏ nhất trong niềm hạnh phúc của chị: chị ước giá Michael ở đây cùng chị. Lúc này chị sẽ trìu mến quay sang anh và nói với anh rằng những tình bạn như thế này có ý nghĩa với chị biết bao. Khoảnh khắc này có ý nghĩa với chị biết bao. Có Chúa chứng giám, những dịp sinh nhật của chị chẳng bao giờ có ý nghĩa gì với cha mẹ chị.

    Khi bài hát kết thúc, chị đi một vòng, cảm ơn mọi người và trò chuyện với họ. Lúc chị đặt món xa lát xuống cái bàn đã rên rỉ dưới sức nặng của xa lát, thịt hầm, các món tráng miệng và đồ gia vị, Owen “Smitty” Smith mời chị một cốc nước chanh. Cậu là thành viên mới nhất trong đội, một chàng trai hai mươi tuổi mặt lấm tấm tàn nhang, gia nhập Vệ binh để có tiền học đại học.

    - Cảm ơn Smitty, - chị nói.

    Cậu cười toét miệng, để lộ hàm răng niềng.

    - Chúc mừng sinh nhật sếp, - cậu nói. - Chị cùng tuổi với mẹ em đấy.

    - Cảm ơn cậu, - Jolene nói và cười to, sau đó cậu ta bỏ đi, vội bắt kịp cô bạn gái mới nhất của mình.

    - Chuẩn úy Zarkades, - Jamie Hix nói, lướt tới chỗ chị bên bàn, nghiêng chai Corona cho chị. Anh là một pháo thủ khác trong đội chị. Hai mươi chín tuổi và mới ly hôn, Jamie đang cố giành quyền nuôi đứa con trai lên tám khỏi Gina, vợ cũ của anh. Vụ ly dị gần đây của họ đang ngày càng bất đồng gay gắt. - Bốn mươi mốt phải không ạ?

    Chị lấy một củ cà rốt sống trên khay rau trước mặt, trộn vào món rau trộn dầu giấm.

    - Khó mà tin được, nhỉ?

    - Tệ quá, hôm nay Michael không thể đến được.

    Chị không ngạc nhiên vì nhận xét này; chị biết phần lớn các bạn bè chị ở đây đều băn khoăn vì sao Michael hiếm khi xuất hiện tại các buổi họp mặt của họ. Họ bảo vệ chị. Tất cả đã từng huấn luyện cùng nhau lâu đến mức giữa họ chẳng có bí mật gì nhiều.

    - Anh ấy làm việc cần mẫn, và công việc của anh ấy là quan trọng.

    - Phải. Gina cũng không đến đây nhiều.

    Chị không thích so sánh giữa các cặp vợ chồng, dù bằng cách tế nhị. Chị định nói câu đó, nhưng ánh mắt thông cảm của Jamie khiến chị đột nhiên cảm thấy lẻ loi. Nói đại câu gì đó - chị không biết chắc là gì - rồi chị bỏ đi, qua chỗ nướng thịt, mọi người đang cười nói rôm rả, chị vào vườn hồng của đại úy. Chị nhìn xuống những nụ hồng cuộn chặt, rực rỡ. Màu hồng. Màu ưa thích của chị là đỏ thắm. Michael thừa biết điều đó.

    - Cậu ổn chứ? - Tami nói lúc nhẹ nhàng tới bên chị, hông chạm hông.

    - Tất nhiên rồi, - Jolene trả lời quá nhanh.

    - Mình ở đây vì cậu, - Tami dịu dàng nói, dường như chị hiểu mọi thứ đang quay cuồng trong tâm trí Jolene. - Tất cả bọn mình.

    - Mình biết, - Jolene nói, chị nhìn suốt lượt những người có ý nghĩa với chị biết chừng nào. Ai cũng tươi cười và vẫy chị. Họ yêu quý chị, ân cần với chị; những người này chẳng khác gia đình chị, như Michael và các con gái chị. Chị đã có nhiều may mắn trong đời.

    Michael không ở đây lại hóa hay; họ đã kết hôn, chứ không phải anh em sinh đôi dính liền. Họ không phải chia sẻ hết mọi thứ trong đời.
     
  7. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Ba

    Sáng thứ Tư, Jolene chạy bộ về đã thấy Betsy ngồi trên hiên, khoác áo choàng rộng ngoài bộ pyjamas bằng vải flanen và đi đôi giày ống Ugg màu hồng. Mặt nó nhăn nhó cáu kỉnh, một vẻ mặt quen thuộc dạo này.

    Jolene chạy lên đường dành cho xe, chị thở hổn hển, hơi nước tụ lại trước mặt chị.

    - Có chuyện gì không ổn thế?

    - Hôm nay là thứ Tư, - Betsy nói bằng cái giọng khi bạn dùng để thì thầm cậu bị ung thư.

    Ôi chao. Ra thế.

    - Xùy-ùy. - Jolene lùa Betsy vào trong nhà cho ấm.

    - Mẹ đừng đi, mẹ ạ. Con sẽ nói là mẹ bị ốm.

    - Mẹ sẽ đến ngày hướng nghiệp, Betsy, - Jolene nói và bật bình pha cà phê.

    Betsy gần như rít lên vì bất mãn.

    - Được. Cứ phá hỏng đời con đi. - Nó giậm chân thình thịch ra khỏi bếp và lên gác. Rồi sập cửa phòng nó đánh sầm.

    - Ồ không, con đừng thế, - Jolene lẩm bẩm, và theo con gái lên gác. Đến cánh cửa phòng ngủ đóng chặt trên tầng hai, chị gõ mạnh.

    - Mẹ đi đi.

    Jolene gõ lần nữa.

    - Thôi được. Vào đi. Đằng nào mẹ cũng vào. Trong cái ngôi nhà ngớ ngẩn này chẳng có tí riêng tư nào.

    Jolene nhận lời mời hay ho ấy và mở cửa.

    Phòng ngủ của Betsy là hình ảnh phản chiếu của cô bé mười hai tuổi vừa đến ở và cô gái tinh nghịch mới sống ở đây vài tháng trước. Các bức tường vẫn giữ nguyên màu vàng nhạt mà Jolene chọn từ gần một thập kỷ trước. Cái giường cũi màu trắng đã bỏ từ lâu, bàn phấn và những bức tranh đóng khung in hình gấu bông Winnie the Pooh. Thay vào đó là một cái giường bốn chân, bộ ga gối bằng vải bò, một tủ áo kiểu cổ màu vàng có tay nắm màu xanh lơ, nhiều bức tranh lớn in hình các chàng trai đầu tóc bù xù thuộc các ban nhạc thời thượng. Sự đối chọi giữa tuổi thơ và tuổi trưởng thành xuất hiện khắp nơi: trên cái bàn đầu giường, lộn xộn những món đồ trang điểm (nó chưa được phép son phấn khi ra ngoài), một bình thủy tinh đựng đầy cát ở bãi biển và đá mã não, một con bọ trước kia được con bé ưa thích mà Seth đã bắt và tặng Betsy vào dịp sinh nhật lần thứ tám. Những chồng quần áo - mặc thử và loại bỏ trước khi đi học hôm qua - chất đống trên sàn.

    Betsy ngồi trên giường, trông cáu kỉnh, đầu gối thu lên tận ngực.

    Jolene ngồi xuống mép giường. Trái tim chị tràn ngập thương cảm với con gái, đứa con còn chưa học xong trung học cơ sở. Con bé trước kia vui vẻ, tự tin, sôi nổi là thế đã trở thành lạc lõng giữa lũ bạn gái tầm thường và những lựa chọn không thể về mặt xã hội. Gần đây nó thiếu tự tin đến mức không có việc gì đến dễ dàng và không quyết định nào đứng vững nếu không được các bạn cùng lứa tán thành. Chẳng gì quan trọng hơn là hòa hợp, và rõ ràng là việc đó không ổn lắm.

    - Sao con không muốn mẹ đến dự ngày hướng nghiệp?

    - Ngượng lắm. Con đã nói với mẹ rồi: chẳng đứa nào trơ tráo có một người mẹ là lính cả.

    Jolene không muốn để câu nói đó xúc phạm chị, và chị gần như thành công. Nó chỉ khiến chị hơi nhoi nhói, như bị kim châm.

    - Con không phải ngượng đâu, - chị vừa nói dịu dàng, vừa nhớ lại hình ảnh mẹ chị say khướt, loạng choạng trong buổi họp phụ huynh, hỏi nó làm gì bằng giọng líu nhíu.

    - Sierra sẽ chế nhạo con.

    - Thế thì nó không hẳn là một người bạn, phải không con? Sao con không kể cho mẹ đã xảy ra chuyện gì, Bets. Con, Sierra và Zoe hay làm mọi thứ cùng nhau kia mà.

    - Mẹ chẳng cho con làm gì hết. Chúng nó được trang điểm và đi mua sắm cuối tuần.

    Lại lý lẽ cũ rích này.

    - Con còn quá trẻ để trang điểm. Mẹ con mình đã thỏa thuận là mười ba tuổi mới trang điểm và xỏ lỗ tai. Con biết thế mà.

    - Cứ làm như con đồng ý ấy, - Betsy nói chua chát.

    - Nếu chúng không thích con vì con không chải mascara...

    - Mẹ chẳng hiểu gì hết.

    - Bets à, - Jolene nói bằng giọng dịu dàng nhất. - Có chuyện gì thế, con?

    Sự dịu dàng đã phát huy tác dụng. Betsy khóc òa lên. Jolene dịch người trên giường và ôm Betsy vào lòng để mặc con bé khóc. Nó khóc một lúc lâu. Betsy khóc như thể trái tim đang tan nát, như thể người nó yêu đang hấp hối. Jolene ôm chặt con gái, vuốt ve mái tóc quăn của nó.

    - Tuần trước, Si-Si-er-ra mang thuốc lá đến trường, - Betsy nói giữa những tiếng nức nở. - Khi-hi-i con bảo nó như thế là phạm pháp, nó gọ-ọi con là đồ hèn và thách con hút một điếu.

    Jolene hít một hơi bình tĩnh.

    - Và con đã hút?

    - Không, nhưng bây giờ chúng nó không nói chuyện với con nữa. Bọn chúng gọi con là Lên mặt Toàn diện.

    Chị muốn ôm con gái cho đến khi những nguy hiểm này qua đi, cho đến khi Betsy đủ khôn lớn để giải quyết chúng một cách khoan dung và thoải mái. Lúc này Jolene cần nói một điều đúng đắn, một việc làm tuyệt vời của người mẹ, nhưng chị thiếu hẳn yếu tố đó. Cho đến khi vào quân đội - với những điều luật khắt khe về hành vi - chị chưa bao giờ hòa hợp ở bất cứ nơi đâu. Các anh chàng cùng trường biết chị là người không giống ai - chắc chắn là vì những bộ quần áo lỗi thời hoặc những sự kiện chị không bao giờ tham dự, hoặc vì chị chưa bao giờ mời bất kỳ ai đến chơi nhà. Có ai hiểu đâu? Ngay từ hồi ấy, khi còn là một thiếu nữ, Jolene đã tìm ra cách phân định tình cảm của mình và chôn vùi chúng.

    Vì thế chị không hiểu sự thèm muốn hòa hợp mãnh liệt đến mức cảm thấy phát ốm vì một hành động coi thường nhỏ bé nhất. Nói chung, lúc này chị muốn trò chuyện với Betsy về sức mạnh nội tâm, về việc tự tin vào bản thân, và có thể cả việc cắt đứt với những người bạn phất phơ của nó.

    Nhưng việc hút thuốc trong trường đã thay đổi tất cả. Nếu các bạn của Betsy, những đứa trước kia là bạn đều hút thuốc, Jolene cần phải cứng rắn hơn nhiều.

    - Mẹ sẽ gọi cho mẹ của Sierra...

    - Ôi lạy Chúa, mẹ đừng gọi. Mẹ hãy hứa với con là không nhé. Nếu mẹ làm thế, con sẽ không bao giờ kể gì với mẹ nữa.

    Nỗi sợ trong mắt Betsy ở mức báo động.

    - Hứa với con đi, mẹ. Con xin mẹ...

    - Được, - Jolene nói. - Bây giờ mẹ sẽ không nói gì. Nhưng con yêu ạ, nếu Sierra và Zoe hút thuốc lá trong trường, con không cần theo sự dẫn dắt của chúng. Có lẽ con cần có một vài bạn mới. Như các bạn gái trong đội thể thao của con chẳng hạn. Chúng rất dễ thương.

    - Mẹ thì ai cũng dễ thương.

    - Seth thì sao?

    Betsy tròn mắt lên.

    - Khi-i-ếp. Hôm qua nó mang ghita đến trường và chơi đàn vào giờ ăn trưa. Tệ quá thể.

    - Con đã từng thích nghe nó chơi ghita lắm kia mà.

    - Thế sao? Con không biết đấy. Mọi người đều cười nhạo nó.

    Jolene chăm chú nhìn Betsy; nom con gái chị khổ sở vô cùng.

    - À này, Betsy. Sao con có thể cư xử tệ thế với Seth? Con đã biết khi Sierra và Zoe xử tệ với con đã làm con bị tổn thương như thế nào rồi.

    - Nếu con là bạn của Seth, chẳng ai thích con nữa.

    - Con phải học để không sống như một con lemut, Bets ạ.

    - Cái con gặm nhấm ấy là cái thá gì? Mẹ đang bảo con là một con chuột ư?

    Jolene thở dài.

    - Giá như mẹ có thể làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn với con. Nhưng chỉ mình con có thể làm được việc đó thôi. Con cần cố gắng hết sức mình, Betsy ạ. Hãy là một người bạn tốt và con sẽ có nhiều bạn tốt.

    - Mẹ muốn sự việc dễ dàng hơn cho con à? Thì mẹ bỏ ngày hướng nghiệp đi.

    Cứ thế, một lần nữa hai mẹ con trở lại vấn đề ban đầu.

    - Mẹ không thể. Con thừa biết điều đó. Mẹ thực hiện một nhiệm vụ. Khi con hứa với ai, con phải giữ lời đến cùng. Đó là vấn đề danh dự, danh dự và tình yêu quan trọng hơn hết thảy.

    - Vâng, vâng. Mẹ có thể làm mọi thứ.

    - Sang năm mẹ sẽ không xung phong nữa. Thế được chưa?

    Betsy nhìn mẹ.

    - Mẹ hứa nhé?

    - Mẹ hứa. - Jolene cố không để ý rằng rốt cuộc, chị đã lấy được ở con gái một nụ cười miễn cưỡng bằng lời hứa không là một phần trong đời nó.

    Ngày hướng nghiệp tệ hại đúng như dự đoán. Betsy xấu hổ vì sự có mặt của Jolene ở trường trung học. Jolene đã cố hòa nhã hết mức có thể, chị cẩn thận uốn giọng khi kể cho bọn trẻ nghe về chương trình học bay mà chị tham gia năm mười tám tuổi. Bọn trẻ thích nghe về các chuyến công tác của chị trong nước, như cuộc giải cứu những người leo núi trên đỉnh Rainier trong cơn bão tuyết hồi năm ngoái. Chúng hỏi tới tấp về cặp kính lồi, về cảnh bay đêm, về súng và huấn luyện binh lính. Jolene cố làm nhẹ mọi chuyện, bao gồm cả việc không sốt sắng lái chiếc Black Hawk, nhưng lúc nào chị cũng thấy Betsy cố thu mình lại trên ghế, ra sức chìm nghỉm. Đến cuối buổi họp, Betsy là người đầu tiên ra cửa. Ở bên kia phòng thể dục, Sierra và Zoe chỉ vào Betsy và mỉm cười chế nhạo.

    Từ đó trở đi, tính khí của Betsy ngày càng dễ kích động và thất thường; nó la hét, khóc lóc, trợn trừng mắt. Nó không đi mà nện chân thình thịch. Ở mọi nơi. Vào, ra khỏi phòng, lên cầu thang. Các cánh cửa không đóng lại, mà sập mạnh. Khi chuông điện thoại reo, nó nhào tới. Lúc nào cũng vậy, nó thất vọng khi cuộc gọi là của người khác. Không có ai gọi cho nó, khiến cô bé mười hai tuổi chẳng khác nào bị mắc trên tảng băng trôi. Có thể Jolene phản ứng quá mạnh, nhưng chị lo lắng cho con gái. Những ngày này, mọi thứ đều có thể lôi tuột nó, cuốn nó vào trạng thái chán nản.

    - Hôm nay là cuộc thi đấu thể thao đầu tiên. Anh biết nó có ý nghĩa thế nào đấy. Có khả năng bị bẽ mặt. Em lo lắm, - sáng hôm ấy, chị nói với Michael. Anh đang đọc báo bên cạnh chị trên giường.

    Chị đợi anh trả lời, nhưng rõ ràng anh không nói gì, hoặc anh không lắng nghe.

    - Anh Michael?

    - Gì hả? Ồ. Lại thế rồi. Nó ổn mà, Jolene. Bỏ cái kiểu cố điều khiển mọi sự đi. - Anh để tờ tạp chí xuống và ra khỏi giường, vào buồng tắm rồi đóng cửa lại.

    Jolene thở dài. Như thường lệ, chị còn lại một mình với những vấn đề của gia đình. Chị xuống giường rồi lao vào cuộc chạy.

    Chạy xong, chị tắm rồi mặc quần áo thật nhanh, vừa buộc túm mớ tóc ướt ra sau vừa đánh thức các con. Xuống nhà, chị rót một tách cà phê cho mình và bắt đầu bữa sáng trong bếp. Bánh kếp việt quất.

    - Chào em, - Michael nói phía sau chị.

    Chị quay lại và nhìn anh. Anh mỉm cười, nhưng nụ cười mệt mỏi và lơ đãng, không ăn nhập với cặp mắt đen của anh. Thực tế là nó chẳng giống nụ cười của anh chút nào, không phải nụ cười đã lôi cuốn chị trọn vẹn vào mối tình thuở xưa.

    Trong giây lát, chị sững sờ vì anh điển trai lạ lùng. Tóc anh đen nhánh, ẩm ướt và gợn sóng, đã ở tuổi bốn mươi nhăm song chưa hề có dấu hiệu hoa râm. Anh thuộc loại đàn ông rất quyến rũ; mỗi khi Michael Zarkades bước vào một căn phòng, mọi người đều chú ý - anh biết thế và thích thế.

    - Anh sẽ đến cuộc thi đấu chứ? Em biết anh rất bận rộn, và thông thường em biết anh không thể về nhà, nhưng chỉ một lần này thôi, em nghĩ là nó rất có ý nghĩa. Anh biết nó là con gái của một ông bố như thế nào rồi mà.

    Michael dừng lại, tách cà phê còn cách miệng vài phân.

    - Em định nhắc nhở anh bao nhiêu lần nữa đây?

    Chị mỉm cười.

    - Em hơi bị ám ảnh phải không? Bất ngờ thật. Có điều việc anh đến đó rất quan trọng đấy. Đúng giờ nhé. Dạo này Betsy dễ bị tổn thương và em...

    - Mẹ! - Betsy hét váng lên và lao vào bếp. - Cái mũ màu cam của con đâu? Con cần nó!

    Lulu chạy đến cạnh Betsy, đầu tóc rối bù, ngái ngủ, tay giữ cái chăn màu vàng của nó.

    - Cái mũ, cái mũ.

    - Câm mồm, - Betsy quát.

    Mặt Lulu nhăn lại. Nó lê bước tới bàn bếp và trèo lên ghế.

    - Mẹ giặt cái mũ may mắn ấy của con rồi, Betsy, - Jolene nói. - Mẹ biết con cần nó mà.

    - Ồ, - Betsy nói, hơi dịu giọng vì thấy nhẹ nhõm.

    - Xin lỗi em con đi, - Michael nói từ chỗ anh đứng, bên quầy bếp.

    Betsy lẩm bẩm xin lỗi trong lúc Jolene đến buồng giặt lấy cái mũ - món quà của Michael đã trở thành lá bùa may mắn của Betsy, tuy Jolene biết nó chẳng dính dáng gì đến nguồn gốc và phép thuật. Betsy cần bố chú ý, và đôi khi cái mũ là tất cả những gì nó có.

    Betsy vồ lấy cái mũ màu cam và đội vào.

    Jolene thấy con gái chị nhợt nhạt và run rẩy. Chị liếc nhìn Michael xem anh có nhận ra không, nhưng anh đã trở lại đọc báo. Anh ở trong phòng với họ nhưng hoàn toàn tách rời. Cung cách này có từ bao lâu rồi? Chị đột nhiên tự hỏi.

    Betsy tới bàn và ngồi xuống.

    Jolene vỗ vào vai Betsy.

    - Mẹ cược là con rất hào hứng với cuộc thi đấu này. Mẹ đã nói chuyện với huấn luyện viên của con và ông ấy nói...

    - Mẹ đã nói chuyện với huấn luyện viên của con ư?

    Jolene dừng lại, rút tay về. Rõ ràng là chị lại sai lầm lần nữa.

    - Ông ấy bảo con đã tập luyện rất tốt.

    - Thật khó tin. - Betsy lắc đầu và nhìn chằm chặp vào hai cái bánh kếp trên đĩa, mắt là quả việt quất và cái miệng là nước đường đặc sánh.

    - Con muốn bánh kếp đàn ống cơ, - Lulu kêu ré lên, tức tối vì không được là trung tâm chú ý.

    - Con căng thẳng cũng là tự nhiên thôi, Bets ạ, - Jolene nói. - Nhưng mẹ đã xem con chạy. Con là người chạy nhanh nhất, cừ nhất đội.

    Betsy trừng trừng ngước nhìn mẹ.

    - Con không phải là người cừ nhất. Mẹ nói thế vì mẹ là mẹ con. Đây là một thói quen hoặc đại loại thế.

    - Thói quen duy nhất mẹ có là yêu con, - Jolene nói. - và mẹ rất yêu. Mẹ tự hào vì con, Betsy. Thật đáng sợ khi dám ra đấy, nắm lấy một cơ hội. Mẹ tự hào vì con đang cố gắng. Tất cả chúng ta đều cố nhé, - chị nhấn mạnh, những lời của chị nhằm thẳng vào Michael đứng bên quầy, đang đọc báo. Cạnh anh, đính vào tường là tờ lịch của Jolene, ghi mọi việc chị cần làm trong tuần này, và mọi nơi chị cần đến. CUỘC THI ĐẤU viết bằng chữ hoa màu đỏ vào ngày hôm nay.

    Betsy dõi theo vẻ mặt của Jolene.

    - Bố sẽ đến đó chứ, bố? Bắt đầu lúc ba giờ rưỡi.

    Tiếp theo là sự im lặng, chờ đợi. Nó kéo dài bao lâu? Một giây? Một phút? Jolene cầu xin chồng sẽ ngước nhìn, mỉm nụ cười quyến rũ của anh và hứa một lời.

    - Michael, - chị nói lanh lảnh. Chị biết công việc của anh quan trọng biết bao và chị tôn trọng sự tận tụy của anh. Chị hiếm khi đề nghị anh có mặt ở bất cứ sự kiện nào của gia đình, nhưng cuộc thi đấu đầu tiên này rất có ý nghĩa với con gái họ.

    Anh ngước nhìn, bực bội vì giọng nói của chị.

    - Cái gì?

    - Betsy nhắc anh về cuộc thi đấu của con. Vào ba giờ rưỡi hôm nay.

    - Ồ, phải. - Michael để tờ báo xuống và mỉm cười, nụ cười đã cuốn hút nhiều phụ nữ đến thế, kể cả Jolene, làm họ say đắm anh ngay lập tức. Anh tặng nó cho Betsy, gương mặt điển trai, đầy nghị lực của anh nhăn lại hóm hỉnh. - Sao ta có thể quên ngày trọng đại trong đời công chúa của ta chứ?

    Nụ cười của Betsy lan khắp bộ mặt nhỏ nhắn, nhợt nhạt, để lộ bộ răng niềng và những cái răng to, khấp khểnh của nó.

    Anh tới bên bàn, cúi xuống hôn lên đỉnh đầu Betsy và vò rối mái tóc đen của Lulu rồi tiến thẳng ra cửa, túm lấy cái áo choàng vắt trên lưng ghế và cái cặp trên quầy.

    Betsy tươi hẳn lên vì sự chú ý của bố.

    - Bố có biết là...

    Michael đã ra khỏi nhà, cánh cửa đóng lại sau anh, cắt ngang câu nói của Betsy.

    - Bố không nghe thấy con nói đâu, - Jolene an ủi. - Con biết là bố phải bắt kịp chuyến phà mà.

    - Bố nên dừng lại nghe đã, - Betsy nói và gạt cái đĩa của nó sang một bên.
     
  8. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Bốn

    Michael đứng bên cửa sổ phòng làm việc, đăm đăm nhìn ra ngoài. Trong cái ngày giá lạnh, xám xịt này, Seattle như sủi lên dưới cái vung đầy mây nặng trĩu. Màn mưa làm mờ quang cảnh, làm mềm những gờ thép cứng nhắc của các tòa nhà cao tầng. Xa xa bên dưới, những người đưa tin phóng xe đạp chen lách trong dòng xe cộ như những con chim ruồi.

    Điện thoại nội bộ đằng sau anh reo vang.

    Anh quay lại trả lời.

    - Chào Ann. Có chuyện gì thế?

    - Một ông tên là Edward Keller gọi đến.

    - Tôi có biết ông ta không?

    - Theo tôi biết thì không. Nhưng ông ta nói có việc khẩn.

    - Nối máy cho tôi. - Michael ngồi xuống sau bàn. Những cuộc gọi khẩn cấp từ người lạ là việc bình thường đối với một luật sư bào chữa.

    Chuông điện thoại reo, anh nhấc máy.

    - Michael Zarkades đây, - anh nói giản dị.

    - Cảm ơn ông đã nghe tôi, ông Zarkades. Tôi được biết ông là luật sư cho con trai tôi do tòa chỉ định.

    - Con trai ông là ai?

    - Keith Keller. Nó bị bắt giam vì tội giết vợ.

    Vụ chánh án Runyon đã giao cho ông Bill.

    - Đúng vậy, ông Keller. Tôi là người thúc đẩy việc tìm ra sự thật cho vụ này. - Anh lục các chồng hồ sơ và giấy tờ trên bàn, tìm hồ sơ vụ Keller. Tìm thấy rồi, anh nói tiếp, - thực ra, vào lúc hai giờ hôm nay, tôi có hẹn gặp con trai ông.

    Hai giờ.

    Khỉ thật.

    Cuộc thi đấu thể thao.

    - Tôi lo cho nó, ông ạ. Nó không hay trò chuyện với tôi. Tôi muốn đến đó nói chuyện với ông, nếu ông không phiền. Ông cần biết nó là một chàng trai tốt như thế nào.

    Vậy mà mang tội giết người.

    - Tôi tin là sẽ cần nói chuyện với ông sớm thôi, ông Keller, - Michael nói. - Nhưng tôi cần nói chuyện với thân chủ của tôi trước đã. Ông đã cho thư ký của tôi số điện thoại của ông chưa?

    - Thưa ông, đã.

    - Vậy thì tốt.

    - Ông Zarkades? Nó là một người tốt. Tôi không biết vì sao nó lại làm thế.

    Michael ước giá ông ta không nói câu cuối cùng đó.

    - Tôi sẽ gặp ông sau, ông Keller. Cảm ơn.

    Michael gác máy và xem đồng hồ. Mười hai giờ hai mươi bảy phút. Anh đã quên bẵng cuộc hẹn này với Keller, lẽ ra anh nên hoãn vì cuộc thi đấu thể thao.

    Anh vẫn còn có thể. Hoặc anh có thể đi sớm. Không như Keller có một chương trình dày đặc về mặt hệ xã hội.

    Anh nhìn đồng hồ lần nữa. Nếu đi ngay bây giờ, anh có thể đến nhà tù vào lúc mười hai giờ bốn nhăm, gặp thân chủ mới và vẫn còn kịp chuyến phà hai giờ năm phút.

    Căn phòng trong nhà tù quận King nhớp nháp và ảm đạm. Không có gương CSI(*) hai chiều trên tường, thay vào đó là một cặp đèn màu xanh cực tốt, treo cố định bên trên cái bàn, ghi dấu nhiều năm sử dụng và một thùng rác nhỏ bằng kim loại trong góc phòng. Không thứ gì có thể dùng làm vũ khí. Chân bàn gắn chặt xuống sàn bê tông.

    Michael ngồi trên ghế đối diện với thân chủ mới của anh, Keith Keller, một thanh niên tóc vàng hoe cắt ngắn, vóc người thuộc loại vững chắc hoặc gợi đến cái tạ nâng. Gò má cậu sắc nét, đôi môi trông như cậu ta đang cắn vào.

    Chiếc đồng hồ treo tường tích tắc đều đều đếm từng phút trôi qua trong im lặng.

    Mà, không phải sự im lặng.

    Keith ngồi im lìm như một tảng đá, cặp mắt xám đờ đẫn, buồn phiền đến lạ thường.

    Họ ngồi ở đây hơn ba mươi nhăm phút, chỉ có hai người. Keith không nói một lời, nhưng thở to, loại hơi thở khò khè, có đờm.

    Michael liếc nhìn đồng hồ lần nữa, - một giờ hai mươi mốt phút - rồi lại nhìn xuống giấy tờ trên chiếc bàn gỗ, trước mặt anh. Anh chỉ có biên bản bắt giữ, và gần như không đủ cho một luật sư biện hộ. Theo cảnh sát, trong cơn điên tiết, Keith đã bắn tất tần tật, cho đến khi hàng xóm gọi cứu giúp. Khi cảnh sát tới, Keith náu mình trong nhà nhiều giờ. Vào thời điểm nào đó trong khoảng thời gian này, cậu ta - được cho là - đã bắn vào đầu vợ. Biên bản ghi rõ Keith dọa sẽ tự tử trước khi bị đội SWAT bắt giữ.

    (*) Điều tra hiện trường.

    Thật không hiểu nổi. Keith hai mươi bốn tuổi rưỡi, lý lịch sạch sẽ. Không như hầu hết các thân chủ của Michael, trước đây Keith chưa bao giờ bị bắt giữ vì bất cứ tội gì, kể cả ăn trộm vặt ở cửa hàng thuở thiếu thời. Cậu đã tốt nghiệp trung học, gia nhập Thủy quân Lục chiến và giải ngũ một cách vinh dự. Sau đó, Keith đã có việc làm. Cậu ta không tham gia các băng nhóm, không có tiền sử lạm dụng ma túy.

    - Tôi cần hiểu chuyện đã xảy ra, Keith.

    Keith nhìn trừng trừng vào đúng một chỗ trên tường khiến cậu ta chú ý suốt ba phần tư giờ qua.

    Và tiếng thở dễ sợ, run rẩy đó.

    Michael thở dài và xem đồng hồ. Nếu Keller không muốn tự cứu lấy mình, thì đó là việc của cậu ta. Michael phải rời khỏi đây ngay lúc này, hoặc anh sẽ bị nhỡ phà và lỡ lúc khai mạc cuộc thi đấu.

    - Thôi được, Keith. Tôi sẽ đề nghị tòa tiến hành giám định tâm lý cho cậu. Cậu sẽ không có quyền đứng ở phiên tòa nếu cậu không thể hợp tác với luật sư bào chữa cho mình. Cậu sẽ ở trong một bệnh viện tâm thần hay nhà tù? Đây là lựa chọn của cậu.

    Vẫn im thin thít.

    Michael đợi thêm lát nữa, hy vọng có phản ứng. Không thu thập được gì từ thân chủ, anh đứng dậy và sắp xếp hồ sơ.

    - Tôi đứng về phía anh, Keith. Hãy nhớ điều đó.

    Xếp giấy tờ vào cặp, anh khóa lại và xách quai cặp, tiến ra cửa. Anh sắp ấn nút gọi người gác thì Keith cất lời.

    - Sao phải lo lắng làm gì? Tôi có tội.

    Michael dừng lại. Trong tất cả mọi điều Keith có thể nói, đó là câu chắc chắn ít hiệu quả nhất. Một luật sư bào chữa cho bị cáo thực sự không muốn biết điều đó, nó giới hạn những lời bào chữa có thể đưa ra. Anh từ từ quay người lại, mong thấy Keith nhìn anh, nhưng cậu ta lại nhìn chằm chằm các ngón tay mình, như thể điều bí mật ẩn kín vĩnh viễn trong các móng tay bẩn thỉu.

    - Khi cậu nói là có tội...

    - Tôi đã bắn vào đầu cô ấy. - Giọng Keith vỡ vụn. Cậu ta ngước nhìn. Michael lớn lên đã quen với sự ân hận, và anh thấy nó trong mắt người thanh niên. - Tại sao ông lại đứng về phía tôi?

    Của nợ.

    Lúc này, anh phải giải thích mối quan hệ giữa luật sư và thân chủ, khái niệm về hệ thống luật pháp Mỹ, toàn bộ sự vô tội - cho đến khi - chứng tỏ - là - có tội. Anh nhìn xuống đồng hồ. Một giờ ba mươi bảy phút. Không thể đến kịp lúc khai mạc cuộc thi đấu, nhưng anh có thể đến muộn được chứ?

    Anh trở lại bàn và ngồi xuống, rút một tập giấy và hồ sơ ra khỏi cặp.

    - Để tôi giải thích vụ này sẽ tiến triển ra sao...

    Lúc hai giờ hai mươi phút, Jolene đỗ xe trước Green Thumb, cửa hàng bán đồ làm vườn của mẹ chồng và đưa Lulu vào trong.

    Một cái chuông ở trên đầu rung leng keng vui vẻ. Cửa hàng nhỏ, chật hẹp - trước kia là một hiệu thuốc kiểu cổ, có cả một vòi soda - là một kho báu cho những người làm vườn. Mười năm trước, Mila - mẹ của Michael - mở cửa hàng này chỉ để cho vui, nhưng trong những tháng sau khi Theo qua đời, nó đã thành nơi ẩn náu của bà. Giống hệt con trai, Mila có một niềm tin mạnh mẽ vào giá trị đạo đức do lao động mà có, và gần đây bà ở nơi này nhiều giờ liền.

    - Yia Yia! - Lulu reo váng lên, nó lao tới với sự nồng nhiệt thường lệ. - Bà ở đâu?

    Mila lách qua tấm rèm bằng hạt thủy tinh lung linh ở cuối phòng.

    - Bà nghe thấy tiếng cháu gái của bà phải không?

    - Cháu ở đây, Yia Yia! - Lulu kêu ré lên.

    Mila vận trang phục làm việc thường ngày: áo phông dài đến đùi, chiếc tạp dề bằng vải bạt màu xanh (thiết kế để ngụy trang trọng lượng của bà), quần jeans nhét trong đôi ủng cao su màu cam. Trang điểm đậm làm nổi bật vẻ đẹp rạng rỡ trên mặt bà - lông mày vòng cung đen nhánh, cặp mắt nâu lấp lánh, đôi môi đầy đặn, hay cười. Trông bà đúng là một người Hy Lạp khỏe khoắn, và bà nuông chiều các cháu y như đã nuông con trai vậy. Bà cũng trở thành người mẹ mà Jolene luôn ao ước.

    Khi là người mẹ trẻ, Jolene đã nhiều giờ cặm cụi làm việc trên nền đất đen màu mỡ cùng mẹ chồng. Ban đầu, Jolene ngỡ mình đang học về các loài cỏ dại, về tầm quan trọng của bộ rễ khỏe mạnh, lượng nắng cho cây phát triển; sau đó, chị nhận ra mẹ chồng đang dạy chị về cuộc sống, tình yêu và gia đình. Đến lúc Jolene và Michael tậu nhà để gầy dựng gia đình riêng, bà không bao giờ căn vặn về địa điểm chọn lựa. Thành phố này đã trở thành “tổ ấm” của Jolene từ khoảnh khắc Mila ôm chị lần đầu và thì thầm: “Con chính là người dành cho nó, con có biết thế không?”.

    - Chào Lucy Louida, - Mila vừa nói vừa nâng bổng đứa cháu gái trong vòng tay khỏe mạnh và đặt nó lên quầy, cạnh máy đếm tiền.

    - Cháu chào Yia Yia, - Lulu nói, cười toét miệng. - Bà có muốn chơi trò bánh bao nhỏ không?

    - Bây giờ thì không, kardia mou.

    Jolene đến đằng sau mẹ chồng và ôm bà thật chặt. Chừng nào chị còn sống, mùi nước hoa Shalimar còn khiến chị nhớ tới người phụ nữ này.

    Mila ngả người vào vòng ôm. Mái tóc nhuộm đen của bà - búi cao theo mốt gái già Jersey - cù vào má Jolene. Rồi bà vỗ hai bàn tay mập mạp vào nhau.

    - Giờ là lúc đi xem cháu gái của ta chạy như gió đây. Mẹ sẵn sàng để đi rồi.

    Mila dặn dò vài việc cho một người đàn ông già hơn là trợ lý của bà, rồi họ vội vã đến trường trung học. Cuối cùng lúc đến đó, mặt trời đã quét sạch những đám mây.

    Cuộc thi đấu như một đõ ong đang hoạt động; mọi người quanh họ, học sinh, giáo viên và phụ huynh đã có mặt ở đường đua và sân bóng để theo dõi sự kiện. Đội đối thủ túm tụm ở đầu kia sân bãi. Betsy và đội của nó mặc áo màu xanh lơ và vàng, đứng dưới cột gôn. Lúc họ tới, nó ngước nhìn và chạy đến.

    Betsy cười hớn hở.

    - Chào Yia Yia.

    Jolene mỉm cười nhìn con gái, trong chớp mắt nó có vẻ tự hào được mọi người đến đây xem mình chạy. Chị cảm thấy hơi nghẹn trong cổ. Đây là thời khắc trọng đại với con gái chị; là cuộc thi điền kinh đầu tiên ở trường. Jolene ngả người tới trước và hôn Betsy.

    - Ôi. Chúa. Ơi. - Betsy há hốc miệng và loạng choạng lùi lại, mắt mở to.

    - Mẹ xin lỗi, - Jolene nói, cố nén cười. - Không ai thấy đâu.

    Mila cười phá.

    - Khiếp. Khiếp thật đấy. Bố cháu cũng rất ghét bị bà hôn ở nơi công cộng. Song bà không quan tâm đến nỗi kinh hãi của bố cháu. Bà bảo bố cháu phải hãnh diện vì có một người mẹ yêu thương mình như thế.

    - Đúng thế ạ, - Betsy nói. Nó liếc nhìn đội mình và cắn môi dưới, vẻ căng thẳng.

    Jolene bước tới.

    - Con đã sẵn sàng cho việc này rồi, Bets.

    Betsy ngước mắt, và ngay lập tức Jolene lại thấy đứa con gái bé bỏng của chị, đứa trẻ thích đào cát và bắt bướm.

    - Con sẽ thua mất. Mẹ biết thế mà. Có khi con còn bị ngã.

    - Con sẽ không ngã đâu, Betsy. Cuộc sống giống như một quả táo. Con phải cắn một miếng to để thấm thía hương vị của nó.

    - Vâng, - Betsy nói, trông đáng thương. - Câu đó có đủ mọi nghĩa.

    - Nó có nghĩa là may mắn, - Mila nói.

    - Chúng ta sẽ lên khán đài để xem, - Jolene nói.

    - Bố đâu ạ? - Betsy hỏi.

    - Bố sắp đến, - Jolene đáp. - Lúc này phà đang cập bến. May mắn nhé, con yêu.

    Jolene bế Lulu lên hông chị và đưa nó lên khán đài. Ở đây chắc phải có đến bốn chục người, phần lớn là các bà mẹ và trẻ con. Họ lên một ghế ở giữa và ngồi xuống. Khoảng năm phút sau, Tami xuất hiện, hơi thở đứt quãng và mặt đỏ bừng.

    - Mình có bị lỡ gì không ? - Chị nói và lướt tới ngồi cạnh Jolene.

    - Không.

    Đúng ba giờ rưỡi, súng lệnh nổ và bắt đầu môn thi đầu tiên - cuộc thi chạy một dặm của nam sinh.

    Lulu kêu ré lên vì ấn tượng. Nó lảo đảo đến bên chân mẹ, rồi chạy tới chạy lui giữa các hàng ghế, la hét:

    - Nhìn con này, mẹ!

    - Michael đâu nhỉ? - Mila hỏi, lo âu. - Hôm qua mẹ đã nhắc nó rồi.

    - Con chắc anh ấy đang trên đường, - Jolene đáp. - Anh ấy biết rõ mà.

    Tami ném cho chị cái nhìn cậu-đang-lo-rồi-đấy.

    Jolene gật đầu.

    Cuộc thi chạy một dặm kết thúc. Rồi họ gọi đến cuộc thi một dặm của nữ sinh.

    Jolene rút điện thoại trong ví ra và bấm số gọi Michael. Máy chuyển thẳng đến tin nhắn. Chị khẽ giậm chân, lo lắng.

    Anh đến đi, Michael... đến đây đúng giờ nhé...

    Lúc bốn giờ mười phút, họ gọi đến cuộc thi của Betsy - chạy đua một trăm mét. Các đấu thủ, vào chỗ...

    Điện thoại của Jolene reo. Là Michael. Chị cầm lên thật nhanh.

    - Nếu anh ở bãi xe thì chạy đi nhé. Người ta vừa thông báo cuộc thi của nó đấy.

    - Anh đang ở nhà giam, - anh đáp. - Thân chủ của anh...

    - Thế thì anh bỏ lỡ mất, - chị nói gay gắt.

    Bên dưới, trên đường đua, Betsy đã tới vạch xuất phát. Nó cong người xuống, đặt bàn tay lên đường đua, điều chỉnh bàn chân vào chỗ.

    - Khỉ thật, Jo...

    Súng lệnh nổ.

    - Em phải tắt máy, - Jolene nói và đứng dậy, reo hò cổ vũ Betsy đang hăng hái chạy, cánh tay và cẳng chân lên lên xuống xuống, cố gắng hết sức. Niềm tự hào lan khắp Jolene, nước mắt chị rưng rưng.

    - Cố lên, Betsy, cố lên!

    Betsy là người thứ hai cán đích. Sau đó, nó gập người xuống, thở hổn hển, và ngước lên khán đài. Nó cười rạng rỡ, nụ cười hân hoan vì chiến thắng lúc ngước nhìn gia đình.

    Rồi, nụ cười của nó tắt dần. Nó đã thấy Michael không ở đó.

    Lúc đó, nó chạy khỏi đội.

    Jolene từ từ ngồi xuống ghế. Chị hiểu cảm giác cần được cha mẹ chú ý và bị từ chối đau đớn biết chừng nào. Chị không bao giờ muốn các con chị biết đến nỗi đau đó. Chị biết chị đã phản ứng quá mạnh mẽ - nghĩ cho cùng, đó chỉ là một cuộc thi đấu thể thao - nhưng đấy là sự khởi đầu. Betsy sẽ nhớ chuyện này và bị tổn thương bao lâu? Nếu Michael có lựa chọn khác đi, sự việc sẽ dễ dàng biết bao?

    Cuộc thi chạy khác, 220m, Betsy cố gắng hết sức nhưng cảm giác hân hoan của nó đã mất, nụ cười của nó cũng tắt. Betsy về thứ tư. Sau đó, các cuộc đua tiếp diễn, Lulu vẫn tiếp tục chạy lên chạy xuống giữa các hàng ghế, nhưng ba người lớn vẫn ngồi tại đó.

    - Mẹ không hiểu nổi, - cuối cùng, Mila thốt lên. - Mẹ đã nhắc nó hai lần.

    - Cháu hiểu cái hai lần của bác và gấp đôi nó lên, - Tami nói. - Cách duy nhất anh ấy có thể hợp pháp hóa việc quên bẵng này là bị u não. Cháu xin lỗi bác Z, cháu chỉ nói...

    - Nó giống hệt cha nó trong chuyện này, - Mila nói. - Mẹ đã năn nỉ Theo đến dự các cuộc họp mặt ở trường Michael, nhưng ông ấy lúc nào cũng bận việc. Công việc của họ là quan trọng.

    - Gia đình cũng thế chứ ạ, - Jolene khẽ nói.

    Mila thở dài.

    - Đúng. Mẹ cũng nói thế với cha nó.

    Lulu quay tròn trước mặt Jolene rồi lao vào chỗ ngồi. Cặp mắt sáng lấp lánh của nó như muốn nói con-sẽ-không-la hét-hoặc-buồn ngủ-tí nào.

    Khi buổi thi đấu kết thúc vào năm giờ mười lăm, Jolene nắm bàn tay xinh xắn của Lulu và đứng dậy.

    - Chúng ta đi nào.

    Họ đi qua các dãy ghế trên khán đài và xuống sân bãi, nơi các vận động viên của cả hai trường đang tản mát.

    - Chị ấy kìa, - Lulu nói và chỉ vào Betsy đứng lẻ loi dưới cột gôn. Jolene kéo Betsy vào vòng ôm mạnh mẽ.

    - Mẹ tự hào vì con.

    - Đứng thứ hai thôi. Chẳng có gì quan trọng. - Betsy nói và lùi lại. Jolene có thể thấy sự tổn thương đã biến thành cái vỏ dễ vỡ của nỗi giận hờn. Hình như đó là cung cách của Betsy hồi này - bất cứ xúc cảm đột ngột nào cũng biến thành giận dữ.

    - Bà chưa bao giờ xem chạy đua như thế này, kardia mou. Cháu giống như một ngọn gió.

    Betsy không buồn cười gượng nữa.

    - Cảm ơn Yia Yia.

    - Cả nhà ta đi ăn pizza và kem nhé? - Mila gợi ý, vỗ hai bàn tay vào nhau.

    - Được ạ, - Betsy nói rầu rĩ.

    Họ đi cùng nhau. Jolene - và cả Betsy - thấy rõ mọi người đang cố nói chuyện cùng một lúc, hy vọng che lấp sự vắng mặt của Michael. Trong suốt một tiếng đồng hồ sau đó, họ cố giả vờ, cười hơi quá to một chút, nói đùa mà chẳng thấy vui. Jolene kể cho Betsy nghe chị đã kinh ngạc vì mất dấu vết một người nào đó nhiều lần. Những lời của chị đập vào bức tường dễ vỡ của cô con gái, nhưng không thu được dù chỉ một nụ cười thoáng qua. Bên bàn có một cái ghế trống và tất cả bọn họ đều bị tác động sâu sắc.

    Lúc họ rời nhà hàng và lái xe về nhà, Jolene giận Michael đến phát điên, cơn giận chị chưa từng có.

    Anh ấy có thể làm chị thất vọng - chết tiệt, dù sao chị cũng là người lớn, chị có thể chịu đựng được. Nhưng chị sẽ không để anh làm tan nát trái tim con gái của họ.

    Trong xe, Mila là người duy nhất chú tâm vào một việc, mất sức nhưng không hiệu quả với họ. Đến nhà bà, trước khi xuống xe Mila quay sang Betsy và nói:

    - Hôm nay bố cháu muốn đến đây. Bà biết là bố cháu muốn.

    - Chả có gì quan trọng, - Betsy nói.

    Hình như Mila cân nhắc một câu trả lời, nhưng thay vì nói ra, bà mỉm cười buồn bã, mở khóa dây an toàn và xuống xe.

    Về đến nhà, Jolene đỗ xe trong ga ra và tháo dây an toàn cho Lulu.

    - Bố đâu ạ? - Lulu nói, ngái ngủ.

    - Bố quá bận không đến được, - Betsy trả lời đanh, gọn. - Tao không quan tâm. - Nói rồi, nó sập cửa xe thật mạnh và chạy tuốt vào trong nhà.

    Jolene ẵm Lulu và bế nó lên gác. Chị sửa soạn cho đứa con út đi nằm, đọc cho nó nghe một câu chuyện và dém chăn cho nó. Lulu ngủ ngay khi đặt đầu xuống gối.

    Lúc đó, chị đến phòng Betsy, gõ cửa và bước vào.

    Betsy đã ở trên giường, khuôn mặt non nớt của nó hồng lên vì cọ rửa. Bộ quần áo thi đấu màu xanh lơ và vàng vứt thành một đống lộn xộn trên sàn. Dải băng màu đỏ nó đeo nằm trên bàn cạnh giường.

    Jolene lên giường, nằm cạnh con. Betsy dịch sang một bên nhường chỗ, rồi nó ngả người dựa vào mẹ.

    - Lần này bố lấy cớ gì hở mẹ?

    Jolene có thể nói gì đây? Rằng đạo đức trong công việc và ý thức trách nhiệm của Michael đôi khi lấn lướt gia đình anh ư? Chị khó lòng phê phán anh về điều đó: nó là một trong những điểm mà họ cùng có. Và anh học được đức ấy từ cha. Cánh đàn ông trong gia đình Zarkades có thể thất hứa với vợ, con, nhưng họ chưa bao giờ bỏ rơi một thân chủ.

    - À, con yêu... đôi khi chúng ta phải tha thứ cho những người ta yêu quý. Sự việc lần này là thế. Con biết là công việc của bố quan trọng nhường nào. Nhiều người cần đến bố con.

    - Dù sao con cũng không cần, - Betsy nói, nhưng mắt nó rưng rưng.

    Jolene ôm chặt Betsy.

    - Tất nhiên là con cần chứ. Con đang giận bố lắm lắm, và con có quyền ấy. Nhưng bố yêu con, Betsy ạ.

    - Đằng nào cũng thế thôi.

    - Hôm nay con khá là lo lắng, con có biết thế không?

    Chị cảm thấy Betsy khuây khỏa hơn chút ít.

    - Con cũng lo thật.

    Hai mẹ con nằm đó một lúc lâu, chẳng nói chuyện gì quan trọng. Cuối cùng, Jolene hôn vào thái dương con gái, chúc con ngủ ngon rồi xuống dưới nhà.

    Chị ngồi trên nền gạch lạnh lẽo, cái lò sưởi trống rỗng, đen sì ở đằng sau chị, và nhìn đăm đăm vào đôi bàn tay. Chị thầm trách mắng Michael, sỉ vả anh đã thất hứa với con gái.

    Lần này, chị sẽ nói tất cả mọi chuyện. Chị phải làm anh lưu tâm và làm anh hiểu rằng có những khoảnh khắc trong đời có thể mất đi hoàn toàn. Quá nhiều và một mối quan hệ có thể sụp đổ.

    Hơn chín giờ một chút, chị nghe thấy tiếng ô tô của anh rẽ vào đường xe chạy. Mãi sau, anh bước vào bếp, trông phiền muộn.

    - Chào Jo. Anh xin lỗi đã về muộn, nhưng khi đã lỡ cuộc thi đấu, anh hình dung sao phải vội về nhà kia chứ?

    Jolene đứng phắt dậy.

    - Đúng thế. Anh nghĩ thế ư?

    - Anh phải...

    - Anh phải làm một việc gì đó. Lạ thật đấy. Khi cân bằng các việc cần thiết, thì việc của anh bao giờ cũng thắng. Em rất phẫn nộ.

    - Khốn kiếp, Jo, đây không phải là cố ý. Nếu em chịu lắng nghe...

    - Anh đã làm tổn thương tình cảm của con bé, - chị vừa nói vừa tiến thẳng tới chỗ anh. Anh là người cao lớn - cao hơn mét tám, nhưng Jolene đi giày nên chỉ thấp hơn anh vài phân. - Tại sao mẹ con em không có ý nghĩa gì hơn với anh, hở Michael?

    Một sự thay đổi choán lấy anh. Anh lùi lại một bước, nhìn chị trừng trừng.

    - Đừng bắt đầu cuộc nói chuyện mà anh không muốn có, Jo.

    - Anh có ý gì vậy?

    - Em không quan tâm vì sao anh làm thế, và em không tin anh có lý do chính đáng. Một lý do quan trọng. Anh đã chán cái kiểu em phân định rõ từng giây trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta sống ở đây vì là nơi em muốn. Em lập ra mọi quy định - chúng ta sống ở đâu, nghỉ hè ở đâu, nghỉ cuối tuần ra sao. Lần cuối cùng em hỏi anh muốn gì là bao giờ nào?

    - Anh đừng cả gan biến chuyện này thành lỗi của em. Chúng ta cùng chọn ngôi nhà này, Michael ạ. Anh và em, trở lại những ngày chúng ta làm mọi việc cùng nhau đi. Nếu em điều khiển gia đình chúng ta, chỉ vì có ai đó phải làm. Gần đây, hình như anh chỉ quan tâm đến công việc của anh mà thôi.

    - Em không chịu lắng nghe anh. Anh đang cố nói điều đó đây.

    - Anh còn có thể nói gì đây, Michael? Con gái anh cần anh hôm nay, và chỉ một lần này thôi. Lẽ ra anh nên bỏ mọi việc đang làm và đến đó. Nhưng không, một lần nữa anh lại gạt mẹ con em sang một bên.

    Chị không định nói mẹ con em, mà muốn nói là nó. Con gái của chúng ta. Đây là việc về các con.

    - Khỉ thật, Jo, đây là một cuộc thi đấu chứ không phải lễ cưới của nó. Cha anh chẳng đến một cuộc thi đấu thể thao nào, nhưng anh vẫn biết ông yêu anh.

    - Đấy có phải là loại người cha mà anh muốn trở thành không? Như bố anh chẳng hạn? Ông ấy quá bận nên không đến dự cả lễ tốt nghiệp trung học của anh. - Ngay lập tức, chị hiểu mình đã đi quá xa, chị nhìn thấy điều đó trong cách anh cứng người lại. - Em xin lỗi. Em không định ám chỉ gì. Em biết anh rất yêu quý ông, nhưng...

    - Anh không thể làm thêm nữa, - anh vừa nói nhẹ nhàng, vừa lắc đầu.

    Jolene cau mày.

    - Làm gì?

    - Anh không muốn như thế này nữa.

    - Chuyện quái gì ở đây thế, Michael? Tối nay anh thật đáng xấu hổ. Sao anh không thể...

    Anh nhìn chị.

    - Anh không yêu em, Jo.

    - Cái gì?

    - Anh không yêu em nữa.

    - Nhưng... - Chị cảm thấy dường như một thứ gì đó trong cơ thể bị xé thành từng mảnh, bắp thịt nứt toạc khỏi xương. Chị nắm vội lấy mép quầy để chống đỡ. Giữa những tiếng ầm ầm trong đầu, chị nghe thấy một tiếng thở khe khẽ. Chị vừa quay lại chầm chậm, chầm chậm, chầm chậm, vừa nghĩ Lạy Chúa, con xin Người, đừng...

    Betsy đứng trong phòng giải trí, tay cầm dải băng xếp thứ hai của nó. Nó im lặng, há hốc miệng, hai mắt từ từ mở to, hiểu biết. Rồi nó quay người và chạy lên gác.
     
  9. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Năm

    Michael không thể tin nổi anh đã nói to lên những lời ấy. Anh không yêu em nữa.

    Anh không định nói thế; song lời lẽ hình thành trong cơn giận dữ đã tuôn ào ra không hề báo trước. Nhưng chúng đã có sẵn đó, đang đợi anh và tạo nên trong lòng anh. Trước kia anh đã nghĩ đến chúng, song anh không muốn thừa nhận.

    Anh có thể nói xin lỗi và chị sẽ tha thứ cho anh, có thể không phải bây giờ nhưng sẽ sớm thôi. Gia đình của họ, gia đình này là tất cả với chị, và chị yêu anh. Anh biết thế, luôn luôn biết thế, kể cả tối nay, là anh đã xúc phạm chị, còn chị vẫn yêu anh.

    Anh muốn yêu chị. Nhưng không phải muốn là được, và nó không còn đủ cho anh nữa. Nếu lúc này anh lùi bước, lấy lại những lời lẽ gay gắt kia và làm chúng dịu đi, nhào nặn chúng thành một thứ khác hẳn, cũng chẳng thay đổi được gì. Anh sẽ tiếp tục sống cuộc đời này, nơi quá nhiều lần anh cảm thấy thui chột đi vì những phép tắc và sự điều khiển của chị, bị yếu hẳn đi vì sức mạnh của chị.

    Hình như anh không thể đủ tiêu chuẩn so với Jolene. Không đủ để dành cho chị, vì anh yêu các con, có một sự nghiệp thành công và anh đã cố gắng hết sức mình. Chị đòi hỏi nhiều hơn theo kiểu im lặng, đầy uy quyền của chị; bằng cách này hay cách khác, anh phải bù đắp mọi tình yêu thương mà chị không có khi còn bé, và nó quá nhiều với anh.

    Anh đã cố làm ra vẻ là người đàn ông mà chị mong muốn. Rốt cuộc thì thời gian đã tìm ra anh muốn mình trở thành người như thế nào.

    Quyết định ấy đã giải thoát cho anh. Anh muốn nói với chị toàn bộ chuyện này, để chị hiểu rằng làm thế anh có thể cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng bây giờ không phải lúc. Anh cần ra khỏi đây. Anh với lấy chìa khóa xe thì chị nói:

    - Đến nói chuyện với Betsy đi.

    Anh đã quên biến mọi chuyện này. Anh nhìn chị, lần đầu tiên từ lúc anh nói Anh không còn yêu em nữa.

    - Anh ư?

    Nom chị như một trong những pho tượng cẩm thạch ở bảo tàng Louvre. Chị đã thoái lui về mặt cảm xúc, lôi tuột tình cảm của mình vào trong lòng, để chúng được an toàn.

    - Nó là con gái anh, Michael, và anh đã làm tổn thương nó. Nếu có một cơ hội làm cho nó khá hơn, là tùy vào anh đấy. Có lẽ nó sẽ tha thứ cho anh. Anh nghe thấy chị nhấn mạnh vào đại từ.

    - Anh không cầu xin em tha thứ đâu, Jo, - anh nói.

    Anh thấy câu đó làm chị đau đớn biết chừng nào.

    - Không, Michael, anh không phải thế. Anh muốn ly hôn ư?

    - Anh không biết. Có thể.

    - Có thể.

    Anh thấy cách chị nhìn anh lúc này. Khi yêu, cái nhìn của Jolene giống như kẻ nghiện rượu, như một người cuồng tín. Tình yêu là thế đấy, nóng bỏng như lửa, hoặc khi đã tắt thì nguội lạnh như tro tàn. Chị hiểu không có vị trí trung hòa, và không chịu nổi tình trạng mập mờ. Cách chị nhìn anh khiến anh cảm thấy mình ti tiện, và anh gần như căm ghét chị vì thế. Chị luôn hết sức mạnh mẽ, kể cả lúc này, khi anh làm tim chị tan nát. Anh muốn chị sụp đổ tan tành và nói chị yêu anh ư?

    Anh đã thắng chị dễ dàng và đi lên gác.

    Đến bên ngoài cửa phòng đóng chặt của Betsy, anh dừng lại và gõ.

    - Mẹ đi đi.

    Anh mở cửa phòng, nói:

    - Bố đây.

    Nhìn thấy anh, nó bắt đầu khóc.

    - Con không mu-ố-ốn bố vào đâ-ây. Bố đ-i-i đi.

    - Đừng khóc, Lil Bit, - anh nói. Nghe thấy biệt hiệu hồi bé đã không dùng từ lâu, Betsy càng khóc dữ.

    Michael đến bên giường và ngồi xuống, đối diện với con gái. Anh cảm thấy không thể ngồi thẳng lên trước mặt con; vai anh xuôi xuống, như thể xương sống của anh bắt đầu mềm oặt.

    - Betsy, - anh nói, mệt mỏi.

    Nó sụt sịt và ngước nhìn bố dưới diềm mi dày.

    Trong đôi mắt đẫm nước của con, anh nhìn thấy đầy đủ sự nghiêm trọng của việc anh đã làm, của lời anh đã nói. Tình yêu của anh với Jolene chỉ là một phần trong cuộc sống chung của họ, là bộ xương của gia đình họ, nhưng còn nhiều thứ khác nữa. Các con mới chính là gân, là cơ. Là trái tim. Làm sao một tình yêu có thể bòn rút từ người khác mà không sụp đổ hoàn toàn?

    - Bố xin lỗi đã không có mặt ở cuộc chạy đua của con.

    - Đằng nào nó cũng là trò ngớ ngẩn. Con không thắng, - nó nói thế, nhưng anh nhìn thấy nỗi buồn xé ruột trong mắt nó.

    - Con đã chạy đua, đấy mới là thứ có ý nghĩa. Trong đời con, sẽ có nhiều trận thắng, thua. Tất cả những thứ đó sẽ tạo nên con người con. Bố tự hào vì con.

    Betsy lau mắt và nhìn bố dò xét.

    Anh có thể hiểu con anh đang nghĩ gì. Anh thở dài, lùa một bàn tay vào tóc. Hơi quay đi vì bị ngợp, anh nhìn ra ngoài cửa sổ.

    - Cuộc cãi vã của người lớn ấy mà, - anh nói và quá ngượng khi nhìn con. Anh đang nói dối ư? Anh cũng không biết nữa. Mười phút trước, mọi sự đều rõ ràng với anh, anh đã từ bỏ tình yêu với vợ. Lúc này anh thấy khoảnh khắc ấy chỉ như một giọt nước rơi vào đại dương trong cuộc sống liên kết chặt chẽ của họ. - Con và Lulu cãi nhau suốt và con vẫn yêu em, đúng không nào?

    - Nhưng bố đã nói là...

    - Quên đi, Betsy. Bố không định nói thế.

    - Là một nhầm lẫn ạ?

    Cuối cùng, anh nhìn con gái.

    - Một nhầm lẫn, - anh lặp lại, và nghe từ ấy như một thứ xa lạ. - Bố rất tiếc là con đã nghe thấy bố mẹ cãi nhau, và bố xin lỗi vì đã vắng mặt trong cuộc thi đấu của con. Tha lỗi cho bố nhé?

    Betsy nhìn anh trừng trừng, lâu đến mức anh tưởng chừng nó sắp nói không. Song, rốt cuộc, nó nghiêm nghị gật đầu.

    Anh ngả về trước và kéo con gái vào vòng tay. Anh cảm thấy nó lại bắt đầu thổn thức, nên cứ ôm chặt con, để mặc nó khóc cho thỏa. Cuối cùng, khi Betsy đã nín, anh buông con ra, bước xuống giường và đứng cạnh nó.

    Nó ngước nhìn anh:

    - Bố cũng yêu mẹ, đúng không?

    Anh đáp ừ - một câu trả lời đúng đắn - nhưng bằng vào nỗi buồn trong mắt con, anh có thể nói rằng anh đã đợi quá lâu, rằng sự im lặng thuyết phục nó hơn cả những lời của anh.

    Để con lại, anh xuống nhà, cứng rắn lại để đối mặt với Jolene, nhưng chị không ở đó đợi anh. Chị đã dọn phòng và tắt hết đèn.

    Đấy mới là Jolene, dọn dẹp sạch sẽ ngay cả trong lúc cuộc sống tan thành nhiều mảnh.

    Jolene lên cầu thang và vào phòng ngủ của chị mà không rã rời, mặc dù chị không tin chắc hoàn toàn. Vả lại, tim chị vẫn đập, bộ não chị vẫn đang gửi những tín hiệu thuộc loại thô sơ nhất - thở, nâng bàn chân lên, bước tới.

    Chị đóng cửa phòng khẽ khàng sau lưng, trong thoáng chốc chị tự hỏi sao mình không sập lại thật mạnh. Có khi một âm thanh như thế, một tiếng sầm sẽ làm cho chị cảm thấy dễ chịu hơn.

    Qua cửa sổ, chị nhìn thấy một khối đêm và chòm sao Đại hùng tinh nghiêng về một phía.

    Chị định ngồi lên giường nhưng bị chệch vài phân và chị trượt xuống sàn.

    Chị cứ ngồi đó, đầu gối thu lên tận ngực, nhìn chằm chặp vào bóng tối.

    Anh không yêu em nữa.

    Nó làm chị tổn thương đến nỗi chị tưởng như tim mình có thể ngừng đập.

    Chị ngả người dựa vào cái giường chị đã chia sẻ với chồng.

    Chị không muốn nghĩ đến điều đó, hoặc đến anh, nhưng làm sao chị có thể tự giúp mình lúc này?

    Anh ta đã thay cô ấy, đã chán cô ấy. Hoặc cô ta nghĩ thế.

    Chị đã tìm ra sở trường của mình trong quân đội; chị đã tìm thấy đam mê của mình trong không trung. Nhưng cho đến khi gặp lại Michael, phần còn thiếu hụt của chị mới bắt đầu được lấp đầy, từ từ và cẩn thận.

    Tami đã khuyến khích Jolene đi tìm chàng luật sư trẻ đã giúp đỡ chị, và trường bay đã cho chị sự tự tin để làm việc ấy. Chị tìm được anh khá dễ dàng tại hãng luật Zarkades, Antham và Zarkades.

    Em đã trở lại, anh nói khi trông thấy chị đứng trong hành lang. Đấy là những lời đầu tiên anh nói. Anh nói và mỉm cười, dường như sáu năm xa cách đã trôi qua trong chớp mắt. Lúc đó, chị hiểu rằng anh cũng chờ đợi theo cách của anh. Em đã trở lại, chị trả lời, thậm chí không hề ngạc nhiên khi anh vươn tay nắm lấy tay chị. Nó còn hơn một sự khởi đầu; tình yêu là biển cả xanh thẳm và họ chìm vào trong đó. Chị không biết cách tin vào tình yêu, nhưng anh đã cuốn chị đi, đơn giản là thế đấy. Với nụ hôn đầu tiên của họ, chị đã quên rằng tình yêu là quyền lợi căn bản của mình, chị bắt đầu tin và mãi mãi tin anh.

    Chị quên mất rằng tình yêu có mặt tối của nó, ở một nơi nào đó trên đường đời. Quá nhiều năm ngập trong ánh nắng của tình yêu đã làm chị mù quáng. Chị đã trao cho Michael trái tim chị, gói bọc nó lại và đặt vào tay anh, chưa bao giờ chị băn khoăn, lo lắng rằng anh có thể bất cẩn với nó. Ngay cả khi anh rời xa chị trong vài năm gần đây và dành nhiều thời gian hơn ở văn phòng, chị vẫn tin vào sự lâu bền trong lời thề nguyền của họ và bào chữa cho anh. Giống như Pollyanna(*), luôn luôn tin tưởng...

    Xuống dưới nhà, chị nghe thấy tiếng cửa đóng sầm, rồi động cơ xe bắt đầu nổ. Chị vấp váp tới bên cửa sổ và đứng đó, nhìn theo anh lái xe đi, tự hỏi liệu anh có trở về không.

    (*) Tên một nữ nhân vật luôn luôn lạc quan đến mức phi hiện thực trong loạt truyện thiếu nhi của nhà văn Mỹ Eleanor Hodgman Porter (1868-1920).

    Anh không về.

    Jolene đã trải qua nhiều giờ bồn chồn, không kham nổi của cả một đêm dọn dẹp, giặt giũ. Chị hút bụi, quét tước, lau chùi, đánh bóng đồ dùng bằng bạc, cọ toilet, làm đủ thứ để khỏi nghĩ đến câu Anh không yêu em nữa của anh.

    Nhưng chẳng ăn thua gì. Những lời đó đã thay đổi nhận thức của chị về cuộc đời, nếu không nói là về bản thân.

    Chỉ năm từ đã thay đổi cả một cuộc đời, tan rã cả mặt đất dưới bàn chân một người phụ nữ. Câu đó như ngọn triều ào tới không hề báo trước, xói mòn mọi nền móng, cuối cùng để lại những ngôi nhà đổ nát.

    Đến sáng, Jolene kiệt sức đến mức chỉ có thể đứng và đờ đẫn, không buồn pha cà phê. Hơn hết thảy, chị muốn trốn khỏi ngôi nhà quá ư im ắng này và nhảy lên trực thăng, bay thật xa. Thay vào đó, chị chạy bộ liền tám dặm trong ánh bình minh hồng hồng và xanh xanh, nhưng cũng chẳng nước non gì.

    Về đến nhà, chị tắm thật lâu, rồi vận quần jeans cũ, áo len chui màu xám của lính, rồi lên đánh thức Betsy. Chị gõ cửa và vào trong phòng.

    - Betsy, - chị nói và cố nở một nụ cười. Lẽ ra chị nên nói với con gái từ đêm qua, đó là việc một người mẹ tốt phải làm, một người mẹ mạnh mẽ hơn, nhưng Jolene sợ mình sẽ suy sụp trước mặt con, sợ mình sẽ khóc òa lên, và còn sợ Betsy hơn.

    - Mẹ đừng nói gì hết, - Betsy nói, thẫn thờ.

    - Mẹ biết bố đã nói chuyện với con. Mẹ nghĩ là...

    - Con KHÔNG muốn nói chuyện đó.

    Jolene ngừng bặt, không biết nói gì hơn. Làm sao có thể nói với một đứa trẻ về những việc của người lớn như thế này? Chị chưa bao giờ hiểu rõ khi nào nên dấn tới với Betsy và khi nào nên lùi lại. Lúc nào cũng vậy, chị cứ lao tới khi lẽ ra nên buông bỏ. Đây là một trong những thiếu sót của Jolene: chị luôn là người kiên trì. Cũng có lúc buông lỏng nhưng không nhiều.

    Nhưng có một thứ chị thấy rõ: Betsy sợ hãi và bối rối, vì thế nó cáu kỉnh. Jolene không thể làm gì để giúp con bé. Làm sao chị có thể trò chuyện về thứ mà chính chị cũng không hiểu?

    Thay vì vậy, chị đến bên con gái, kéo nó đứng lên và ôm lấy nó. Phải cố gắng lắm mới không nói lời nào, và chị cứ để mặc cho cái ôm chặt.

    Chị cảm thấy tiếng thở dài bứt rứt của Betsy, và chị hiểu con gái chị chịu đựng ra sao. Đó là nỗi sợ phải chứng kiến bố mẹ cãi nhau. Chị biết Betsy sẽ nhớ lại chuyện đêm qua, và nó sẽ nhận ra Michael vắng mặt sáng nay.

    Lulu vào phòng ngủ, kéo lê tấm chăn màu vàng ưa thích.

    - Mẹ, con cũng muốn ôm đấy.

    Jolene dang rộng cánh tay và Lulu nhào tới, cuộn tấm thân bé bỏng vào người chị nó. Ba mẹ con đứng đó một lát, rồi Lulu rứt ra. Nó gãi mái tóc đen rối bù, gạt tóc cho khỏi vướng vào mắt.

    - Con có được ăn món Cap’n Crunch không?

    - Không. Món ấy dành cho những buổi sáng đặc biệt, - Jolene trả lời như cái máy.

    - Hôm nay có thể là ngày đặc biệt, - Lulu líu lo.

    - Ngược lại thì có, - Betsy nói, cay đắng.

    - Tại sao ạ? - Lulu tò mò.

    Jolene thở dài.

    - Thôi nào, các con. Chúng ta ăn sáng đi.

    Lúc xuống cầu thang, Jolene cảm thấy cái nhìn chằm chằm của Betsy đè nặng lên chị. Trong bếp, hình như Betsy nhận thấy mọi thứ: cách bàn tay Jolene hơi run lúc chị đổ bột và trứng làm bánh kếp, cách chị thở dài, mở tủ lạnh rồi cứ đứng nhìn trừng trừng vào bên trong. Rốt cuộc, chị không thể chịu nổi cái nhìn soi mói này. Chị rót Cheerios cho các con.

    - Bố đâu ạ? - Lulu vừa hỏi vừa chăm chú đếm số Cheerios trong thìa.

    - Đi làm, - Jolene đáp và tự hỏi chị sẽ nói gì nếu tối nay anh cũng không về.

    Betsy ngước nhìn, sắc sảo:

    - Bố bỏ đi rồi ư?

    Jolene quay đi rót thêm cà phê cho mình.

    - Con biết là bố phải bắt kịp chuyến phà sớm mà, - chị nói dối, và không nhìn con gái.

    Khoảnh khắc ấy dường như kéo dài, chị có thể cảm thấy cái nhìn chăm chú, ngờ vực của Betsy dán vào lưng mình.

    - Nhanh lên các con, - chị giục. - Hai mươi phút nữa mẹ con mình phải đi rồi.

    Vừa ăn sáng xong, chị lùa các con lên gác sửa soạn. Họ ra đi đúng giờ, và lúc chín giờ mười lăm, Jolene lại về nhà.

    Chị đỗ xe vào ga ra rồi đi sang nhà bên. Vẫy chào Carl đang lúi húi bên chiếc xe tải Ford, chị đến mở cửa trước và vừa gọi: “Này, Tam”, vừa vào nhà.

    Tami trong phòng khách, vận chiếc áo choàng màu xanh đã sờn, đi dép lê da cừu, đang uống cà phê trong cái chén vại cách nhiệt. Đằng sau, các bức tường bằng gỗ ghim hàng chục tấm ảnh gia đình, tất cả đều đóng khung trắng muốt. Chính giữa là chân dung Tami vận quân phục.

    - Chào cô phi công, - Tami nói và cười. Chị ngồi xuống ghế sofa kẻ ô vuông xanh lơ, hai bàn chân đi dép lê gác lên bàn nước bằng kính.

    Jolene nhìn Tami, và trong giây lát chị không thể nói gì, không thể thốt ra lời nào.

    Tami cau mày và đặt tách cà phê xuống.

    - Chuyện gì thế, Jo?

    - Michael nói anh ấy không yêu mình nữa, - Jolene nói giản dị.

    - Cậu không định...

    - Đừng bắt mình nói lại lần nữa.

    Tami từ từ bước tới, vòng tay ôm lấy bạn. Một phút sau, Jolene nhấc cánh tay lên và ôm Tami, và chị không sao buông ra được nữa. Chị muốn khóc, thèm một cách nào đó để giải tỏa nỗi đau này, nhưng mắt chị ráo hoảnh.

    - Cậu đã nói gì với anh ấy?

    - Nói gì ư? - Jolene vùng ra khỏi vòng ôm. - Sau cái câu Anh không yêu em, còn nói gì được nữa?

    Tami thở dài.

    - Những cuộc cãi vã của vợ chồng ấy mà, Jo. Họ la hét, nói những lời không định nói, lao vụt đi rồi trở lại. Cứ cho là Michael nói một câu ngu ngốc, nhưng anh ấy không định nói thế. Cậu có thể tha thứ cho anh ấy. Đây không phải là đoạn kết đâu.

    Jolene hiểu lắm. Chị đã trải qua thời thơ ấu tha thứ cho cha mẹ, mong ngày mai, tuần sau hoặc tháng sau họ sẽ thay đổi. Nhưng họ không thay đổi và cũng chẳng yêu thương gì con gái. Chị bắt đầu cảm thấy khá hơn khi chấp nhận sự thật trần trụi đó. Jolene đã chịu đựng toàn bộ, trở nên trọn vẹn và không cần đến tình yêu của họ nữa. Chị hiểu lời Tami; Trời ạ, đó chính là điều Jolene nên nói nếu tình thế đảo ngược. Một câu nói không thể kết thúc cuộc hôn nhân. Nhưng một mình chị không thể bám riết lấy nó. Chị đã chẳng học được bài học đó từ mẹ mình hay sao?

    - Anh ấy không có ý đó đâu. Michael yêu cậu mà.

    - Mình muốn tin là thế, - Jolene nói giản dị, và đó là sự thật. Chị muốn tin Michael và tin vào tình yêu anh dành cho chị, nhưng niềm tin của chị đang lung lay. Chị sợ lại tin anh trọn vẹn như thế. Nếu anh ấy phủ nhận tình yêu với chị, thì nó còn có ý nghĩa gì?

    - Mình chắc là...

    Tami chưa nói hết câu, thì điện thoại reo. Chị vào bếp và trả lời:

    - Ồ, xin chào. Vâng, thưa sếp. - Chị quay lại phía Jolene, mấp máy môi nói “Ben Lomand”, rồi nói vào điện thoại, - thật thế ạ? Tôi hiểu. Khi nào thưa sếp? Sớm thế sao? Ồ. Vâng được, Jolene và tôi sẽ giải quyết việc này. Cảm ơn sếp.

    Tami chậm rãi gác máy và quay lại, đối diện với Jolene.

    - Chúng mình được điều động.
     
  10. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Sáu

    Lần đầu tiên Michael và Jolene nhìn thấy ngôi nhà ở vịnh Liberty là một ngày tháng Bảy nắng đẹp. Họ lái xe đi chơi, tận hưởng thời gian bên nhau sau một buổi chiều ăn đồ nướng ở nhà cha mẹ anh. Họ chưa để ý tìm kiếm một ngôi nhà.

    Nhưng nó ở kia, đang đợi họ ở ngay chỗ rẽ trên đường, tấm biển bán nhà gắn tùy tiện cạnh hòm thư. Một ngôi nhà nông trại xinh xắn, độc đáo, cần chăm sóc, có hàng hiên bao quanh võng xuống và ba mẫu cây cối xanh tươi đổ xuống con đường quê yên tĩnh như một dải băng màu đen. Bên kia đường có một vạt đất nhỏ nằm chen giữa con đường và bãi biển hình trăng lưỡi liềm toàn màu xám, thực sự là một ý nghĩ đến sau.

    Chính dải đất nho nhỏ dọc bãi biển ấy đã thu hút họ. Thứ đầu tiên họ làm với cơ ngơi này là xây một cái sàn bên trên nền cát. Chị và Michael tự tay làm lấy, lúc nào họ cũng vui cười, vừa trò chuyện vừa mơ ước.

    Chúng mình sẽ ra đây nướng thịt vào ngày mồng Bốn tháng Bảy... và chỉ cho Betsy cách tìm ra các con sao biển... ăn tối bằng đĩa giấy trong lúc mặt trời lặn dần xuống nước...

    Nó chỉ là một rẻo đất mọc đầy cỏ chạy dọc theo con đường nhựa quanh co, nhưng là mơ ước của Jolene, là một lát cắt thiên đường của chị. Mùi biển cả và tiếng sóng vỗ về chị. Chị hay ra đây nghĩ ngợi và nạp lại năng lượng. Nhất là trong những năm dài, khi Jolene vô cùng thèm muốn có mang đứa con thứ hai. Chính ở nơi đây, hết tháng này sang tháng khác, chị bật khóc khi lại có kinh. Và cũng chính ở nơi này, chị đã đến cảm tạ Thượng đế khi lời cầu ước của chị cuối cùng đã được đền đáp.

    Lúc này, chị ngồi trên ghế hóng mát, đặt cạnh một lò nướng bằng kim loại han gỉ. Trời đang mưa, nhưng chị không để ý. Chị nhìn ra làn nước màu xám, lỗ chỗ vì những hạt mưa rơi và nghĩ: Các con mình sẽ đối phó với chuyện này ra sao đây? Mình sẽ thế nào? Michael sẽ ra sao?

    Chỉ trong ba tiếng đồng hồ, một cuộc đời đã thay đổi biết bao...

    Họ vẫn biết chị có thể bị điều động; chí ít là họ biết điều đó từ ngày Mười một tháng Chín, song chị và Michael chưa bao giờ đả động đến việc này. Làm sao họ có thể bàn bạc nổi? Michael vốn không muốn nghe về công việc của chị trong quân ngũ. Mỗi lần chị gợi ý đến những binh lính khác được điều động, là anh lại lớn tiếng về sự mù quáng trong việc gửi quân đến Iraq.

    Chị hiểu anh nghĩ gì và thấy gì - mặt đen tối của quân đội, những sai lầm, cách sĩ quan bỏ rơi binh lính và các cựu chiến binh. Thế nhưng, đó là quan điểm chính trị. Không hiểu vì sao cứ tách rời nhau. Với chị, sự việc khác hẳn. Vệ binh cũng là gia đình của chị.

    Danh dự. Bổn phận. Lòng trung thành. Với Jolene, chúng hơn hẳn các từ ngữ, chúng là một bộ phận trong cơ thể chị. Chị luôn là hai người phụ nữ - người mẹ và người lính - và việc điều động này đã xé chị làm đôi, để lại một vết rách toác, đẫm máu giữa hai mặt của con người chị.

    Ai sẽ giúp Betsy đi qua giai đoạn mấp mô của tuổi trưởng thành, cho nó lời khuyên về bọn con trai bất lương, về những cô gái hư hỏng và mọi loại người lưng chừng? Ai sẽ đưa Lulu đến vườn trẻ và ôm lấy con bé khi nó thức giấc, nức nở vì ác mộng?

    Còn rủi ro nữa chứ. Jolene là một phi công lái máy bay trực thăng. Chị sẽ nói với Michael và các con rằng chị không được phép tham gia các trận đánh, chị sẽ ở nơi an toàn, nhưng chị biết đấy không phải là sự thật. Trực thăng lúc nào cũng có thể bị bắn hạ.

    Chúng ta sẽ về nhà, Tami đã nói thế.

    Jolene đã gật đầu, mỉm cười dù chị biết - cả hai đều biết - rằng không thể đưa ra một lời hứa như thế. Đằng nào thì lúc này, nó không còn quan trọng nữa rồi. Ngày mai và tương lai là thứ chị không thể kiểm soát. Hiện tại, họ có một công việc để làm, công việc họ đã được đào tạo. Dân thường không hiểu, có khi không thể, nhưng một người lính phải tiến bước khi anh ta hoặc chị ta cần phải làm. Dù chị có sợ hãi, dù các con chị đang cần đến mẹ. Đây là lúc Jolene đền đáp quân đội, là lúc chị phụng sự đất nước.

    Chị đặt bàn tay lên ngực, cảm nhận nhịp đập từ tốn, đều đặn của trái tim mình. Chị nhắm mắt, nghe nhịp tim hòa lẫn với những con sóng đập lên bãi biển đầy sỏi và hơi thở của chị. Những giọt lệ làm cay mắt chị, rơi xuống má chị, hòa lẫn nước mưa. Chị hình dung mọi sự - từ biệt, thất lạc, mất mát. Chị hình dung các con gái khóc gọi chị, vươn tay đòi chị, không thể hiểu được sự vắng mặt của chị.

    Nhưng chị không có lựa chọn. Nghĩ thế, chị thấy một cảm giác thanh thản lan khắp người, một cảm giác chấp nhận hoàn cảnh và nhận thức được mình là ai. Chị đã hứa nếu được yêu cầu phục vụ, chị sẽ ra đi.

    Chị ghét phải rời xa các con, ghét với một cảm xúc mạnh mẽ rằng nó có thể làm chị lụn bại nếu chị nhượng bộ, nhưng chị không có lựa chọn. Chị sẽ đi Iraq một năm, làm công việc của mình rồi trở về với gia đình.

    Đó là điều chị sẽ nói với chồng con... là điều chị tin tưởng.

    Chị đã sẵn sàng, luôn sẵn sàng cho khoảnh khắc này. Chị đã được huấn luyện tinh thần đó từ hơn hai mươi năm qua. Thậm chí một phần nhỏ trong chị còn muốn ra đi, để thử thách bản thân. Chị muốn ra đi... chỉ không muốn rời bỏ.

    Chầm chậm, chị buông bàn tay khỏi ngực, để nó rơi vào trong lòng. Bên chân chị, một bộ sưu tập nhỏ những con nhím biển trắng đã khô nằm thành hình lá ba thùy, một vật nhắc nhở đến mùa hè vừa qua. Chị cúi xuống, nhặt một con lên, xoa xoa đầu ngón tay cái lên bề mặt rỗ. Sau đó chị đứng dậy.

    Chị sắp bước vào cuộc chiến.

    Lúc một giờ, Jolene gọi đến trường mẫu giáo đề nghị cho Lulu ở lại muộn hơn, sau đó chị gọi cho Michael ở nơi làm việc. Anh để chị chờ lâu đủ cho chị bắt đầu nghĩ anh sẽ không trả lời, và cuối cùng, khi nhận cuộc gọi, anh có vẻ bận rộn.

    - Chào Jo. Có chuyện gì thế?

    - Em cần anh về nhà tối nay, - chị nói.

    Anh ngập ngừng, chị nghe thấy tiếng anh thở.

    - Anh có nhiều việc phải làm. Anh nghĩ tối nay anh sẽ ngủ lại ở văn phòng.

    - Đừng anh, - chị nói, và thấy bực mình vì có vẻ như chị đang van xin. - Có một việc xảy ra. Em cần nói chuyện với anh.

    - Anh nghĩ chúng ta cần một thời gian xa nhau.

    - Em xin anh, Michael. Em cần nói chuyện với anh tối nay.

    - Được. Anh sẽ đi chuyến phà sáu giờ.

    Trong mấy tiếng đồng hồ tiếp theo, chị cố không nghĩ đến tương lai, nhưng không thể được. Lúc xe đến đón, chị thấy tinh thần giảm sút. Ý nghĩ sắp gặp các con, nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của chúng, và biết nỗi đau sắp chắn ngang đường của họ thật kinh khủng. Chị mất thăng bằng và suýt quỵ ngã. Trong bếp, chị ngắm bức ảnh của trường Betsy, lồng trong chiếc xe buýt màu vàng của trường, và thậm chí chị phải ngồi xuống.

    Xin hãy giúp con qua được chuyện này, - hơn một lần, chị cầu nguyện.

    Đến trường mẫu giáo, chị đỗ xe ở đằng trước và vừa chậm rãi đi vào bên trong, vừa nghe tiếng cười lanh lảnh, ồn ào của bọn trẻ trước khi tới cổng dẫn vào sân sau.

    - Mẹ ơi! - Lulu nói, thực ra là kêu ré lên, nó khua tay trong không khí và cuống cả chân. Nó chạy đến chỗ Jolene, lao vào vòng tay của mẹ.

    - Mẹ có cái gì trong mắt đấy, hở mẹ? - Lulu hỏi. - Bữa trưa con bị cát bắn vào mặt làm con phát khóc đấy.

    - Mẹ không sao, Lucy Louida, - Jolene mừng thầm vì Lulu không nghe thấy giọng chị khản đặc. Chị bế Lulu vào xe, thắt dây an toàn cho nó vào ghế sau rồi lái đến trường trung học. Như thường lệ, Betsy là một trong những đứa cuối cùng ra khỏi trường. Nó lùi lại sau những đứa trẻ khác, dường như nó không muốn bị trông thấy. Rồi nó chạy vội đến chiếc SUV, trèo vào ghế sau và đóng sầm cửa lại.

    Jolene chăm chú nhìn con gái trong gương chiếu hậu và cảm thấy hoang mang. Lúc này, nó mới mỏng manh làm sao...

    - Mẹ định ngồi đây suốt ngày chắc? - Betsy nói và khoanh tay lại.

    Betsy làm thế nào học xong lớp bảy mà vắng mẹ? Ai sẽ giúp con bé khi nó có kinh lần đầu? Ai sẽ giúp nó đây?

    - Mẹ, - Betsy nói gay gắt. - Mẹ bị chết não à?

    Jolene lái vào dòng xe cộ. Chị định bắt đầu câu chuyện, nói gì đó nhưng cổ họng chị nghẹn tắc. Lúc dừng xe ở nhà Mila, mắt chị vẫn ngứa vì những giọt lệ sắp trào rơi.

    Nhà bố mẹ chồng chị là một ngôi nhà nhỏ hình chữ L, xây từ cuối những năm 70. Nó nhỏ so với các ngôi nhà mới hơn ở hai bên, chứ mảnh đất thì đẹp tuyệt vời. Nằm trên mảnh đất cây cối xanh um, ngôi nhà nhìn xuống mặt nước yên bình của vịnh Lemolo. Những cây thường xanh rải khắp quang cảnh; đây đó là những thảm hoa sặc sỡ mọc quanh các thân cây màu nâu thô tháp. Mila đã biến khu này thành một hiện vật triển lãm; hàng năm, nó ở trong tour du lịch nhà vườn địa phương như một hình mẫu ấn tượng của phong cảnh vùng Tây Bắc. Biển ở đằng trước nông và trong; vào mùa hè, nước đủ ấm để bơi.

    - Tại sao chúng ta lại đến đây ạ? - Betsy hỏi.

    Jolene không đáp. Chị đỗ xe trước ga ra và để các con xuống xe. Chúng chưa kịp đến cửa trước, Mila đã đi vòng quanh sườn nhà. Bà vẫy tay cười rạng rỡ, bà vận chiếc sơ mi rộng trùm ngoài quần jeans nhét vào đôi ủng cao su màu cam tươi. Một tấm khăn sặc sỡ trùm lên mái tóc đen xù theo kiểu Liz Taylor, đôi khuyên bạc to cỡ nắm đấm lủng lẳng dưới tai bà. Tay trái bà xách cái bình tưới tráng men.

    - Chào các cháu, - bà nói.

    - Con xin lỗi đến phút chót mới gọi điện như thế này, - Jolene nói và dùng hông ẩy sập cửa xe.

    Mila giũ đất trên đôi găng làm vườn; đất rơi như mưa lên ủng.

    - Chà, gia đình có chuyện gì thế, con yêu?

    Lulu ra khỏi xe, nó đeo cái bờm tai mèo và kêu meo meo thật to để được chú ý.

    - Đừng làm thế này nữa, - Betsy nói và đẩy em gái.

    Mila đặt bình tưới xuống và nhìn quanh quất.

    - Hừm-ừm-ừm. Cháu gái của ta đâu, hở Jolene? Con để nó ở nhà ư? Hay trong xe?

    Lulu cười khúc khích.

    - Có tiếng gì ấy nhỉ? - Jolene nói.

    Lulu tuột cái bờm xuống.

    - Cháu đây! Yia Yia.

    Mila nhấc Lulu lên và ôm nó.

    Trong giây lát, Jolene không thể thốt nên lời. Gánh nặng tương lai đè xuống ngực chị mạnh đến nỗi chị không sao thở nổi.

    Mila cau mày.

    - Con ổn chứ, Jo?

    - Con không sao. Michael và con cần nói chuyện, thế thôi ạ. Ngày mai con sẽ đón các cháu, có được không?

    Mila bước đến gần hơn.

    - Con hãy nói với con trai ta là nó cần cư xử tốt hơn. Công việc là quan trọng, nhưng gia đình cũng thế. Ta cũng đã cố dạy cha nó bài học này, nhưng... - Bà nhún vai. - Con sẽ làm việc này tốt hơn mẹ.

    Jolene chỉ còn biết gật đầu. Hình như cả một cuộc đời đã trôi qua từ lúc cuộc thi đấu bị bỏ lỡ. Chị suýt buột ra - Con bị điều động. Chị cần kể với Mila, cần một cái ôm của người mẹ, nhưng chị không thể làm thế, vẫn chưa thể đến lúc được an ủi.

    Chị lẩm bẩm chào và trở lại xe. Lúc về đến nhà, chị cảm thấy nôn nao tận gan ruột.

    Cuộc điều động này đã thay đổi mọi sự. Anh ấy sẽ hiểu điều đó. Dù vướng mắc của họ đã và đang là gì đi nữa, họ sẽ phải gạt sang một bên. Lúc này chị và Michael sẽ phải cùng nhau vượt qua vì các con, vì gia đình của họ. Hiện giờ chị cần anh, thực sự cần anh. Tình yêu của anh sẽ cứu giúp chị ở nơi đó, giữ ấm cho chị vào ban đêm, cũng như tình yêu của các con sẽ đưa chị về nhà.

    Chị nghĩ đến lời Tami nói. Những cuộc cãi vã của các cặp vợ chồng. Họ nói những lời không định nói, họ đùng đùng bỏ đi.

    Họ sẽ trở lại.

    Chị muốn tin thế, tin vào điều đó, dẫu chị chưa bao giờ thừa nhận. Chị muốn bỏ qua cho Michael và tìm ra cách xóa sạch lời tuyên bố của anh khỏi tâm trí chị, để họ có thể trở lại như trước.

    Việc chị phải làm là cho anh một cơ hội.

    Chị có thể làm được điều đó; chị có thể đủ mạnh mẽ để anh biết rằng chị vẫn yêu anh. Chị tự nhủ như thế trong lúc đợi anh.

    Và chị đợi.

    Rốt cuộc, lúc bảy giờ, anh vào bếp và ngay lập tức rót cho mình một cốc scotch.

    - Anh, - Jolene nói và nhổm khỏi ghế trước lò sưởi.

    Anh quay lại. Trong vùng ánh sáng bên trên lò sưởi, trông anh càng mệt mỏi hơn. Tóc anh rối tung. Quầng da dưới mắt màu tím, dường như đêm qua anh cũng ngủ ít như chị vậy.

    - Jo, - anh nói bình thản, vẻ dịu dàng trong giọng anh làm chị ngạc nhiên và buồn lòng. Trong chớp mắt, nó lan khắp lưng chị, đẩy chị tới người từng thân thuộc.

    Chị khao khát được làm thế, chị cần nó, chị cần anh.

    - Em bị điều động rồi.

    Michael lặng ngắt như thể anh không thở nổi.

    - Em đùa đấy à? - Cuối cùng, anh hỏi.

    - Tất nhiên là em không đùa. Ai đùa được với việc ra trận? - Giọng Jolene rạn vỡ. Trong chớp mắt, sức mạnh của chị dao động. Chị nhận ra chị thèm được anh ôm trong vòng tay và nói rồi họ sẽ ổn, sẽ qua được chuyện này. - Em sẽ tới Fort Hood để huấn luyện chiến đấu trước, rồi sau đó sẽ tới Iraq.

    - Em thuộc Vệ binh, chứ không phải là quân Thánh chiến. Em không phải là một người lính thực thụ.

    Jolene chùn lại.

    - Anh làm ơn quên câu anh vừa nói đi cho.

    - Em sẽ không đi chiến đấu, Jo. Cứ thử xem. Em đã bốn mươi mốt tuổi...

    - Bây giờ thì anh nhớ ra.

    - Khối người đang thèm đến đấy.

    - Em biết điều đó mà, Michael.

    - Hãy nói với họ em là một người mẹ. Họ không thể đòi hỏi em bỏ con cái.

    - Đàn ông bỏ con cái đi tham chiến hàng ngày.

    - Anh biết, - Michael ngắt lời. - Nhưng em là mẹ.

    - Trước hết, em là một người lính.

    - Đây không phải là một trò chơi, Jo. Em định ra đi tham chiến. Hãy nói với họ là cảm ơn, nhưng tôi không thể.

    Chị nhìn anh hoài nghi.

    - Em sẽ bị đưa ra tòa án binh vì việc này. Em sẽ bị bỏ tù. Anh đừng nói không.

    - Vậy xin thôi đi.

    Anh không hiểu chị chút nào nếu anh có thể nói với chị như thế. Danh dự chỉ là một từ với anh, và các luật sư quen tung hứng các từ ngữ. Anh không hình dung được thật đúng sự đào ngũ nhục nhã biết chừng nào.

    - Em đã hứa rồi, Michael ạ.

    - Vậy anh làm gì đây? - Anh vặc lại.

    - Anh thật tệ hại, - chị quát anh. - Em đã yêu anh suốt từng ấy năm. Đã tôn thờ anh. Và đêm qua, anh nói không còn yêu em nữa, rằng có thể anh muốn ly dị. Và bây giờ, vì anh là kẻ ích kỷ, không hiểu em tí nào, anh đã bảo em rời bỏ Vệ binh.

    - Là mẹ loại gì mà có thể bỏ con bỏ cái?

    Chị hít vào một hơi thật mạnh. Thà tát vào mặt còn đỡ đau hơn.

    - Anh dám nói thế với em ư? Anh là người ít đáng tin nhất trong gia đình này. Rời xa các con làm em tan nát cõi lòng, nhưng em phải làm thế. - Giọng chị rạn vỡ. - Em phải làm thế.

    - Vậy là em sẽ ra trận, - anh nói.

    - Anh làm như là một lựa chọn vậy, Michael. Ở đây không có chọn lựa. Hoặc là em ra trận, hoặc là vào tù. Sao anh không thể hiểu được điều đó nhỉ? Em là người đã bị điều động.

    - Em sửng sốt vì bị anh chọc giận. Trước hết, anh chưa bao giờ muốn em tham gia cái lực lượng ngớ ngẩn ấy.

    - Cảm ơn anh nhiều vì đã đánh giá thấp việc em làm.

    - Chiến tranh - và đây là một cuộc chiến đặc biệt - là sự tàn phá, anh không phải là Colin Power(*) nhưng anh cũng biết rằng máy bay lên thẳng là một mục tiêu to tướng trên bầu trời để bắn hạ. Anh sẽ phải nói gì đây? “Em cừ lắm, Jolene. Em cứ đi Iraq và hãy bảo trọng. Bố con anh sẽ đợi em”.

    - Thôi được, - chị nói khẽ. Cuộc đấu khẩu làm chị kiệt quệ. - Nghe thật dễ chịu.

    - Ờ, em đã lấy phải một gã đàn ông tồi tệ.

    - Rõ rồi. Hãy nhìn ra khía cạnh tươi sáng đi, Michael. Anh đang muốn có thời gian tách biệt mà.

    - Mẹ kiếp, Jo.

    - Không. Mẹ kiếp, Michael. - Nói xong, chị quay gót và ra khỏi phòng. Chị không chạy mặc dù chị muốn lắm. Chị giữ cho cằm cao lên và thẳng vai lúc bước lên cầu thang, vào thẳng phòng mình.

    Ở dưới nhà, có tiếng cửa sập mạnh. Nó nhắc chị nhớ đến thời niên thiếu và mọi cuộc cãi vã chị nghe thấy từ xa. Chị không bao giờ hình dung khi trưởng thành, làm vợ, chị lại nghe thấy chính chồng mình bỏ đi. Nhưng ngay cả khi tiếng vọng buồn bã và không thỏa đáng ấy đau đớn bao nhiêu, chị vẫn nghĩ Đi đi, Michael, cứ chạy đi.

    (*) Colin Powell (sinh năm 1937): Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từ 2001 đến 2005, là người Mỹ gốc Phi đầu tiên đảm nhiệm chức vụ này.

    Đằng nào thì chị cũng hiểu rõ hơn. Chị hiểu rõ hơn rằng đừng trông mong có ai đứng cạnh mình. Và mặc dù biết thế, biết rằng một lần nữa chị lại cô đơn và chị đủ mạnh mẽ để chấp nhận nó, song chị vẫn cảm thấy cõi lòng tan nát. Chị ngồi xuống giường, không thể đứng lâu hơn được nữa.

    Sau đó một lúc lâu, sàn bên ngoài phòng ngủ của chị kêu cót két, và cửa mở. Michael đứng đó, nom vừa giận dữ vừa thảm bại. Tóc anh rối bù, dường như anh đã lùa cả hai bàn tay vào đó nhiều lần, chắc chắn là thế. Một thói quen lúc anh lo lắng. Cốc rượu vơi một nửa - chắc là scotch - nghiêng ngả trên tay. Chị ngắm bàn tay đó một lát, những ngón tay anh dài, gần như thanh tú. Chị thường bảo anh có đôi bàn tay của một nghệ sĩ dương cầm, một họa sĩ. Chị thích những thứ đôi bàn tay đó có thể làm với cơ thể chị.

    Nhưng đôi bàn tay ấy không hề có chai, không quen với lao động chân tay. Một đôi bàn tay của người quen suy tưởng, không giống tay chị. Có lẽ mọi sự sẽ suy sụp vì nó mất. Lẽ ra chị nên thấy cảnh tượng này vào giây phút chị nắm tay anh lần đầu.

    - Em sẽ ra đi, - anh nói, giọng anh khe khẽ, nhuốm màu giận dữ cố kìm nén mà trước kia chị chưa bao giờ nghe thấy ở anh.

    - Em phải đi, - chị nói.

    - Thế bố con anh cần em ở đây không có ý nghĩa gì sao?

    - Lẽ tất nhiên là có.

    Anh uống cạn cốc rượu và bước hẳn vào trong phòng. Đặt cái cốc rỗng lên bàn ở đầu giường, anh ngồi xuống cạnh chị, nhưng không đủ gần để chạm tới. Anh thở dài và sụp về phía trước. Cả mớ tóc gợn sóng của anh đổ về trước. Nhìn anh lúc này, nét mặt trông nghiêng sắc nét, đôi vai xuôi xuống thảm bại, chị nhớ lại tuần lễ cha anh nằm hấp hối. Michael không thể chịu đựng nổi nhìn thấy Theo xám ngoét, hốc hác và đau đớn, nối với sự sống bằng các loại máy. Michael cố ngồi xuống cạnh giường nhưng chưa bao giờ ngồi được lâu. Jolene luôn thấy chồng đi lại trong hành lang, làm bản thân mệt nhoài vì sự yếu kém của mình. Lúc đó, chị thường đến với anh, kéo anh vào vòng tay và ôm anh cho đến khi anh lấy lại nhịp thở. Với chị, chăm sóc anh khi anh đau đớn là một bản tính thứ hai. Nhưng giờ đây, chị nhìn ra điều mà trước kia chẳng bao giờ dám thấy: tình yêu này của chị là một chiều. Chị là người chăm sóc, còn anh là người thụ hưởng.

    - Thôi được, thì đi đi, - cuối cùng, anh nói.

    Jolene cảm thấy khuây khỏa đến lạ lùng. Cho đến lúc này, khi hơi thở của chị ào ra, chị không nhận thấy mình đã căng thẳng biết chừng nào lúc ngồi cạnh anh và đợi.

    - Vậy là anh sẽ đợi em, - chị nói.

    - Bao giờ thì em đi?

    - Hai tuần nữa. Nhanh hơn thường lệ. Tình huống đặc biệt mà.

    - Và em sẽ đi xa một năm?

    Chị gật đầu.

    - Em sẽ đến Leave sáu tháng. Có thể em sẽ được về nhà khoảng hai tuần lễ.

    Anh lại thở dài.

    - Ngày mai chúng ta sẽ nói với các con. Và với mẹ anh.

    - Vâng, - Jolene nói, nhưng giọng chị chỉ hơn tiếng thì thầm một chút. Chẳng còn gì nhiều để nói, kế hoạch đã định, vấn đề đã được giải quyết, nhưng chẳng ai nói gì.

    Họ ngồi trên chiếc giường mà họ đã làm tình biết bao lần, lặng lẽ, mỗi người nhìn đăm đăm ra ngoài chẳng vào một thứ gì, cho đến lúc đèn đường bật sáng.
     
  11. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Bảy

    Sáng hôm sau, Michael và Jolene lái xe đến nhà Mila.

    Anh rẽ vào đường dành cho xe và tắt máy. Lần đầu tiên trong suốt buổi sáng, anh nhìn chị.

    - Em đã sẵn sàng làm việc này chưa?

    Jolene nhìn thấy cơn giận dồn ứ trong mắt anh, khiến chị cảm nhận nỗi cô đơn của mình thật vô nghĩa và đau đớn. Chị không buồn trả lời. Thay vào đó, chị với tay, mở cửa xe và ra ngoài. Lúc họ đến cửa trước, chị không thể không nhận thấy anh đứng cách xa chị biết chừng nào.

    Michael gõ cửa. Lát sau, tiếng bước chân từ bên trong đi ra. Rồi cửa bật mở, Mila đứng đó vận áo choàng tắm màu hồng nhạt, mớ tóc đen của bà rối tung. Đằng sau bà, các bức tường sơn màu xanh nhạt, các cửa sổ nhìn xuống biển, đồ đạc bằng mây từ những năm 50 ngự trên sàn lát gỗ thông. Những tấm nệm nhồi dày, màu sắc dịu mắt in hình cây cần tây, hoa hồng và nho trắng.

    - Ồ, các con đến sớm thế! - Bà nói và tránh sang một bên để họ vào phòng khách rải rác đồ chơi, sách và đĩa DVD.

    Lulu nhảy phắt khỏi tấm thảm vải thô màu kem. Nó vẫn đeo cái bờm mèo con.

    - Có ai ôm được con bé tàng hình không nào? - Mila nói khẽ và mỉm cười.

    Jolene cau mày ra dáng ngẫm nghĩ và nhìn quanh quẩn khắp phòng.

    - Hừm-ừm-ừm... Mila, mẹ có trông thấy Lulu đâu không ạ? Con không biết có chuyện gì xảy ra với mèo con của con đây? Có ai nhìn thấy Lucy Louida không?

    Lulu cười rúc rích.

    Michael nhăn mặt.

    - Em đang nói về cái gì thế? Con bé đúng là...

    Lulu giật phắt cái bờm ra và cười phá.

    - Con đây, mẹ ơi!

    Jolene lao tới ôm chầm lấy Lulu.

    - Đúng là con rồi. - Jolene vùi mũi mình vào cái cổ êm như nhung của Lulu, hít lấy hít để cái mùi ngọt ngào của đứa con gái bé bỏng, cố ghi nhớ nó.

    - Mẹ, - Lulu rên rỉ, đá lung tung để thoát. - Mẹ buông con ra.

    Jolene thả lỏng vòng ôm, để cô bé ngọ nguậy tụt xuống sàn.

    - Các con đói không? - Mila hỏi, bà nhặt vỏ hộp DVD rỗng lên, và cau mày tìm cái đĩa.

    - Thực ra, chúng con có chuyện muốn nói với mẹ và các cháu, - Michael nói gấp gáp.

    - Thế ư? - Mila ngước nhìn. - Có chuyện gì trục trặc sao?

    Michael tránh hẳn sang một bên.

    - Đây là cơ hội của Jolene, mẹ ạ. Cô ấy là người có tin mới.

    Mila cau mày:

    - Jo ư?

    - Betsy đâu ạ? - Jolene nói, chị không thể cao giọng hơn. Chị có thể lái trực thăng, bắn súng máy và chạy mười dặm với cái ba lô đầy ắp trên lưng, nhưng nghĩ đến phải nói với các con những lời này khiến chị yếu hẳn.

    - Con sẽ đi tìm chị ấy, - Lulu nói và vừa chạy đi, vừa reo inh ỏi. - Bet-sy! Đến đây!

    Mila hết nhìn Jolene đến Michael, rồi lại nhìn Jolene.

    Lúc đó Betsy vào phòng khách, trông ngái ngủ và dụi mắt, kéo Lulu theo sau. Nó mặc cái áo phông thùng thình và đi tất ngắn cổ trắng.

    - Sao bố mẹ đánh thức con?

    Jolene bế Lulu đến sofa và ngồi xuống.

    - Ngồi xuống đi, Betsy. Bố mẹ cần nói chuyện với các con. Một việc quan trọng.

    Michael ngồi xuống bên Jolene.

    Betsy đột ngột dừng lại.

    - Bố mẹ sắp ly hôn ư?

    - Elizabeth Andrea, - Mila nói. - Sao cháu có thể nói...

    Michael thở dài.

    - Con cứ ngồi xuống đã, Betsy.

    Betsy quỳ lên tấm thảm vải thô màu kem trước mặt họ, hai tay khoanh lại, cằm vênh lên.

    - Là gì đây?

    Tất cả đều nhìn Jolene. Chị gần như mất hết can đảm; chị nhìn Michael, anh nhún vai.

    Chỉ còn mình chị trong chuyện này. Thật bất ngờ. Thở dài một hơi, Jolene nhìn Betsy rồi nhìn Lulu.

    - Các con có nhớ câu chuyện mẹ kể về việc mẹ gia nhập quân đội khi nào không? - Chị nói. - Mẹ mười tám tuổi và không có ai dẫn dắt. Cha mẹ của mẹ vừa mất. Mẹ lẻ loi biết chừng nào. Các con không thể hình dung lẻ loi như thế nào đâu. Dù thế nào thì các con là giấc mơ mà mẹ có, nhưng tất nhiên hồi ấy, các con còn trong tương lai.

    Betsy thở dài sốt ruột.

    - Ai chả biết. Bây giờ con có thể về ngủ được chưa?

    - Em không làm tốt được việc này đâu, - Jolene nói.

    - Nói với các con đi, - Michael giục.

    Lulu bắt đầu nhún nhẩy trên lòng Jolene.

    - Nói với chúng con chuyện gì ạ?

    Jolene hít một hơi thật sâu.

    - Mẹ sắp đi Iraq giúp...

    - Cái gì? - Betsy kêu to và đứng vội lên.

    - Hả? - Lulu nói.

    - Ôi, Jolene, - Mila thì thào, đưa một tay lên che miệng. Bà lún sâu vào cái ghế bành bọc thật dày bên cửa sổ.

    - Hết cách, - Betsy nói. - Chẳng đứa nào có mẹ ra trận. Mọi người sẽ biết chứ?

    - Đấy là điều con lo lắng sao? - Michael hỏi.

    Jolene mất bình tĩnh vì câu này.

    - Nhưng mẹ là một người mẹ, - Betsy hét lên. - Con cần mẹ ở đây cơ. Nhỡ mẹ bị giết thì sao?

    - Chuyện ấy sẽ không xảy ra, - Jolene nói, cố giữ giọng bình thản. - Mẹ là phụ nữ. Người ta không cho phụ nữ ở nơi giao chiến. Mẹ sẽ lái máy bay đưa các VIP đi đây đó, chở đồ tiếp tế. Mẹ sẽ an toàn.

    - Mẹ không biết đâu. Mẹ không thể biết đâu, - Betsy nói. - Mẹ hãy nói với họ là mẹ không đi. Con xin mẹ đấy...

    Nghe tiếng mẹ thông thường, Jolene cảm thấy tim như bị xé rách. Chị những muốn ôm chặt Betsy, an ủi nó, nhưng chị có thể nói lời an ủi nào đây? Đây mới chính là lúc cần mạnh mẽ.

    - Mẹ phải đi. Đây là công việc của mẹ, - cuối cùng, Jolene nói.

    - Nếu mẹ đi con sẽ không tha thứ cho mẹ, - Betsy nói. - Con thề là không.

    - Con đừng nói thế, - Jolene đáp.

    - Mẹ yêu quân đội hơn chúng con, - Betsy gào lên.

    Bên cạnh chị, Michael dặng hắng. Jolene phớt lờ anh.

    - Không, Bets ạ, - chị nói, giản dị. - Con và Lulu là không khí trong phổi mẹ. Là máu trong huyết quản của mẹ. Không có các con, tim mẹ ngừng đập. Nhưng mẹ phải làm việc này. Thỉnh thoảng, nhiều nữ công chức cũng phải xa con...

    - Chà! - Betsy rít lên. - Con không ngu đâu. Những người mẹ ấy có bị bắn trong chuyến công tác không?

    - Mẹ sẽ về nhà, phải không mẹ? - Lulu hỏi và cắn môi dưới.

    - Chắc chắn mẹ sẽ về, - Jolene nói. - Mẹ chẳng luôn thế sao? Trong tháng Mười một, mẹ sẽ về nhà hai tuần. Mẹ con mình có thể đến Disneyland. Con có thích thế không?

    - Con căm thù mẹ, - Betsy nói và chạy ra khỏi phòng, đóng sầm cửa lại sau lưng.

    Mila chậm rãi đứng lên. Bà dợm bước tới chỗ Jolene, rồi dừng sững lại, dường như bà không thể điều khiển nổi đôi chân.

    - Con sẽ ra đi bao lâu? - Bà hỏi. Giọng bà run run vì cố tỏ ra mạnh mẽ.

    - Một năm, - Michael trả lời.

    Lulu nhăn mặt.

    - Một năm dài bao nhiêu? Có giống tuần sau không?

    Jolene quay sang chồng.

    - Có lẽ anh nên nói chuyện với Betsy.

    - Anh ư? Anh biết nói cái quái gì với nó?

    Chỉ một câu hỏi đó đã làm tất cả đè sụp lên Jolene, và làm chị hoang mang bằng tất cả mọi chuyện cộng lại. Anh sẽ làm cha đơn thân ra sao đây? Các con liệu có thể trông mong vào anh theo kiểu mà Jolene không thể làm nữa ư?

    Jolene đứng dậy. Chị thử đặt Lulu xuống, nhưng con bé cứ bám riết lấy chị. Vì thế chị không nói gì với Michael và Mila, chỉ bế Lulu ra khỏi phòng khách và xuống hành lang đến phòng ngủ dành cho khách. Cố gắng cùng nhau trò chuyện với các con gái không hẳn là việc làm lý tưởng, nhưng chẳng có gì là lý tưởng trong hoàn cảnh như thế này.

    Chị gõ cửa.

    - Đi đi, - Betsy hét.

    - Mẹ đây, - Jolene trả lời. - Chính vì thế chúng ta cần nói chuyện bây giờ. - Chị đợi một lát, cố trấn tĩnh rồi bước vào căn phòng dán giấy theo phong cách những năm 1970 và trang trí bằng bộ sưu tập đồ đạc màu trắng.

    Betsy ngồi trên một trong hai cái giường đơn bằng liễu gai, đầu gối co lên. Nhìn nó vô cùng cáu giận.

    - Mẹ có thể ngồi được không? - Jolene hỏi.

    Betsy gật đầu ương bướng và dịch sang một bên. Jolene và Lulu ngồi xuống cạnh nó. Jolene muốn nhảy ùm vào cuộc trò chuyện băng giá, nhưng chị biết Betsy cần tìm ra cách vượt qua chuyện này nên chị vuốt tóc Lulu, lặng lẽ đợi.

    Cuối cùng, Betsy nói:

    - Những người mẹ không nên rời bỏ con cái.

    - Không, - Jolene nói, cảm thấy những lời nhọn hoắt này xuyên sâu vào người chị. - Họ không bỏ. Mẹ xin lỗi con. Mẹ thực sự xin lỗi.

    - Nếu mẹ nói không đi thì sao?

    - Họ sẽ đưa mẹ ra tòa án binh và bỏ tù mẹ.

    - Ít ra mẹ còn sống.

    Jolene ngắm con gái. Nó đây, nỗi sợ ẩn dưới sự mãnh liệt của tuổi thiếu niên.

    - Đây là công việc của mẹ, giống như một người mẹ gìn giữ cho các con an toàn và sống cùng các con, giúp con khôn lớn.

    - Đấy chính là điều con nói.

    - Nhưng công việc của mẹ cũng chứng tỏ cho con biết sống làm người như thế nào, dạy con bằng cách làm gương. Mẹ sẽ dạy con bài học gì nếu mẹ trốn chạy khỏi những lời mẹ đã cam kết? Nếu mẹ là con người hèn nhát hoặc đáng hổ thẹn? Khi con đã hứa một lời trong đời, con hãy giữ lấy nó dù nó có làm con sợ hãi, đau đớn hoặc buồn bã. Mẹ đã hứa từ rất lâu rồi, và bây giờ là lúc mẹ thực hiện lời hứa đó, dù phải xa con và Lulu làm trái tim mẹ tan nát, và nó đang làm... tan nát trái tim mẹ.

    Jolene quyết gạt nước mắt. Trong đời chị, không gì làm chị đau đớn như thế này, kể cả khi nghe Michael nói anh không còn yêu chị nữa. Nhưng chị phải đi tới cùng, phải làm cho con gái chị hiểu.

    - Con lớn lên an toàn và được yêu thương, vì thế con chưa thể hiểu thực sự lẻ loi trên cõi đời là thế nào đâu. Khi mẹ gia nhập quân đội, mẹ chẳng có gì. Không có gì hết. Không có ai. Mẹ hoàn toàn lẻ loi trên đời. Còn bây giờ, các bạn bè cần mẹ - như Tami, Smitty, Jamie chẳng hạn. Và tất cả những người khác của Raptor. Mẹ phải đến đó vì họ. Đất nước cần mẹ. Mẹ biết con còn quá non nớt với mọi chuyện này, nhưng mẹ tin vào việc gìn giữ an ninh cho nước Mỹ. Mẹ thực lòng tin. Mẹ phải giữ lời hứa của mình. Con có thể hiểu điều đó không?

    Những giọt nước dâng đầy mắt Betsy. Môi dưới của nó run run chống đối.

    - Con cần mẹ, - nó nói khe khẽ.

    - Mẹ biết, - Jolene nói, - và mẹ cũng cần con, con yêu. Nhiều đến mức... - Giọng chị lại tắc nghẹn, chị phải đằng hắng để nói tiếp. - Nhưng mẹ con mình sẽ trò chuyện qua điện thoại, e-mail và có khi mẹ còn viết thư tay nữa kia. Mẹ sẽ ở nhà trước khi con nhận biết được nó.

    Lulu giật tay áo chị.

    - Mẹ sẽ ở nhà trước khi con đi mẫu giáo phải không?

    Jolene nhắm mắt lại. Chị sẽ làm việc này ra sao?

    - Mẹ ơi? - Lulu gọi, tiếng nó run run.

    - Không, - cuối cùng, Jolene đáp. - Không phải để đưa con đi mẫu giáo, nhưng bố con sẽ ở nhà làm việc đó...

    Lulu òa khóc.


    Michael ngồi trên đi văng, bây giờ chỉ có một mình và ngước nhìn mẹ. Anh có thể thấy nỗi lo lắng trong mắt bà và một câu hỏi không nói ra. Bà tự hỏi vì sao anh lại tách ra ở đây, trong khi Jolene một mình giải quyết chuyện này.

    Bà chăm chú nhìn anh một lúc lâu, đoán định. Rồi bà ra khỏi phòng khách, và vài phút sau bà quay lại, một tay bưng tách cà phê còn tay kia bưng một đĩa đầy baklava(*). Cố nhiên rồi. Đồ ăn. Lời giải đáp của bà cho mọi sự.

    Bà đặt tách và đĩa xuống bàn cạnh Michael, rồi ngồi xuống sofa bên anh. Bà đặt bàn tay lên đầu gối con trai.

    - Khi mẹ còn trẻ... trong thời chiến tranh... đó là một thời gian khủng khiếp ở Hy Lạp. Cha con, các chú bác và anh họ con đều ra đi. Nhiều người trong số họ không trở về. Tuy nhiên, cả gia tộc vẫn ổn, và niềm tin đã gắn kết chúng ta với nhau.

    (*) Món tráng miệng của Thổ Nhĩ Kỳ.

    Anh gật đầu. Anh đã nghe những câu chuyện của bà suốt đời. Thế chiến II hình như xa vời với anh, anh chỉ hiểu vừa đủ; giờ đây anh nghĩ đến những người họ hàng đã mất vì bom đạn quân thù. Trước kia, họ chỉ là những cái tên trong một cuốn sách. Không nghĩ ngợi, anh với một cái baklava và bắt đầu ăn. Chúa ơi, ước gì cha anh có mặt ở đây lúc này.

    - Mẹ sẽ dọn đến nhà con và chăm sóc các cháu.

    - Không, mẹ ạ. Không có phòng ngủ cho mẹ, và mẹ đã có Thumb. Con sẽ thuê người.

    - Hầu như chắc chắn là con sẽ không thuê được. Không người lạ nào chăm sóc các cháu gái của mẹ hết. Mẹ sẽ thuê người khác làm bán thời gian cho cửa hàng.

    - Cửa hàng không thể trang trải được đâu.

    - Không, nhưng mẹ có thể. Mẹ sẽ ở nhà con sau giờ tan trường các ngày trong tuần. Mẹ sẽ đón Lulu ở trường mẫu giáo và đón xe buýt của Betsy. Chúng ta sẽ ổn thôi. Con có thể trông cậy vào mẹ, và các cháu sẽ trông mong vào con.

    - Hàng ngày hở mẹ? Như thế vất vả lắm.

    Bà mỉm cười với anh.

    - Mẹ là một phụ nữ tự tin, như con có thể nhận thấy đấy. Mẹ cần giúp con, Michael. Cứ để mẹ.

    Michael không biết trả lời ra sao: anh vẫn luẩn quẩn với ý nghĩ sao đời anh lại thay đổi hoàn toàn đến thế.

    - Tuy vậy, đây là những tiểu tiết, chứ không phải là sự việc có ý nghĩa quan trọng nhất đâu. - Bà nhìn con trai. - Lúc này, con nên ở cạnh vợ con và nói với các cháu là chúng sẽ ổn.

    - Chúng sẽ... ổn ư?

    - Hiện giờ, con không nên quá lo lắng cho các cháu. Thời của chúng sẽ đến.

    - Còn Jo? - Anh nói. - Liệu cô ấy có ổn không?

    - Jolene của chúng ta là một con sư tử cái đấy.

    Michael chỉ còn biết gật đầu.

    - Con đã bỏ rơi nó. Cha con cũng giống hệt thế, Chúa phù hộ cho vong linh ông ấy. Ông ấy là người chỉ nghĩ đến lợi ích bản thân. Đây là lúc để con nhìn nhận xa hơn bản thân mình. - Bà sờ má anh, để các khớp đốt ngón tay tựa vào da anh như bà hay làm khi anh còn trẻ. - Con nên tự hào vì nó, Michael ạ.

    Anh biết là nên gật đầu đồng ý và nói rằng lẽ tất nhiên anh tự hào vì vợ, nhưng anh không thể làm thế.

    - Con sẽ làm việc cần phải làm, - anh nói thế, và biết rằng đã làm mẹ mình thất vọng.

    Còn bao nhiêu người nữa bị anh bỏ rơi trước khi chuyện này chấm dứt?

    Michael dành cả kỳ nghỉ cuối tuần để quan sát đời mình như thể từ một chốn xa xôi. Betsy hết nổi cơn tam bành lại ì ra thất vọng. Lulu bối rối đến nỗi trở nên căng thẳng và khóc lóc vì mọi sự. Michael không thể chịu đựng được bất cứ việc gì, anh khó mà nhìn vào nỗi đau trong mắt các con, nhưng Jolene là một chiến sĩ, kiên cường như thép đã tôi. Anh thấy chị cư xử với các con thận trọng biết bao, dịu dàng biết bao. Chỉ những lúc đó, chúng mới không nhận ra nỗi đau của chị, những giọt nước mắt dâng đầy cặp mắt xanh biếc của chị, và mỗi khi như thế chị lại quay đi, vội đưa mu bàn tay lau khô.

    Một giờ trước, chị đặt các con vào giường. Xin Chúa tha thứ cho anh, nhưng Michael đã để chị làm việc đó một mình.

    Lúc này anh đang trong phòng giải trí, đứng trước lò sưởi. Ngọn lửa màu cam sáng và màu xanh nhảy múa khắp các thanh củi dựng thành hình nón, tỏa những làn sóng ấm áp, vậy mà anh vẫn thấy lạnh. Thực sự lạnh cóng.

    Anh liếc qua căn bếp. Qua cửa sổ bên trên bồn rửa, anh nhìn thấy ánh trăng lướt trên vịnh.

    - Các con ngủ rồi, - Jolene nói và bước vào phòng. - Giờ chúng ta có thể nói chuyện.

    Michael muốn nói không, anh không muốn nói chuyện, không muốn nói về chuyện này, vẫn chưa và không nói thêm nữa. Anh biết mình ích kỷ và nhỏ nhen, nhưng khốn nỗi anh bị bỏ lại đây như một Mr.Mom(*) vậy. Anh không thể nói với ai về điều này. Trông anh sẽ như một kẻ ngốc nếu anh thừa nhận rằng anh không muốn công việc tự nhiên rơi vào lòng anh mà không cần biết anh có thể làm được hay không. Làm thế nào anh có thể quản lý một hãng luật có mười sáu nhân viên, bảo vệ các thân chủ, lại còn phải xử lý ti tỉ việc thường ngày khi nuôi dưỡng hai đứa trẻ? Lái xe theo nhóm. Các chuyến dã ngoại. Những bữa ăn. Giặt giũ. Việc nhà.

    Chỉ nghĩ đến thôi, anh đã thấy ngợp.

    - Anh làm thế quái nào được? - Anh nói và quay sang chị. - Anh đã có công việc phải làm rồi.

    - Mẹ anh sẽ là người giúp ích rất nhiều. Bà bảo sẽ thuê người trông nom cửa hàng, và như thế là hoàn hảo. Em không muốn có bảo mẫu chăm sóc các con, chúng sẽ sợ và lúng túng, - Jolene nói. - Nhất là Betsy, hồi này nó dễ bị tổn thương, mà bọn con trai có thể dữ tợn. Nó cần anh, Michael ạ. Cả hai đứa đều cần đến bố. Anh sẽ phải thực sự sẵn sàng. Em muốn...

    - Em muốn. - Câu này làm anh mất hết kiên nhẫn. - Cũ rích lắm rồi, Jo. Em là người ra đi, nhưng không phải trước khi em bảo cách em muốn anh giải quyết các việc trong khi em đi xa.

    - Không phải là các việc, anh Michael. Mà là các con của em.

    (*) Người đàn ông làm mẹ.

    Anh nghe thấy giọng chị rạn vỡ và biết lời lẽ của mình đã làm chị đau đớn sâu sắc biết chừng nào. Cách đây chưa lâu, anh sẽ quay sang, ôm chị vào vòng tay và xin lỗi. Bây giờ anh chỉ đứng đó, cằm nhô về phía trước, đờ đẫn nhìn chằm chặp xuống sàn gỗ cứng trầy xước dưới đôi bàn chân đi tất của chị. Tiếng vang của từ ly hôn lơ lửng như làn khói trong không khí giữa họ.

    Chị đợi một lúc lâu. Hơi thở của chị giống như những đợt sóng vỗ vào bờ biển lởm chởm và gồ ghề. Anh có thể cảm thấy sự phán xét của chị với anh. Rồi lặng lẽ, chị ra khỏi phòng.

    Sáng thứ Hai, Tami xuất hiện sau tay lái và nhấn còi.

    Tami đi xuống đường và trèo vào chiếc xe tải trắng to tướng của bạn.

    Họ nhìn nhau, và trong cái nhìn đó - không cần nói ra lời - họ để lộ nỗi sợ, niềm hy vọng, những lo âu của mình.

    Tami thở dài.

    - Thế nào rồi?

    - Tàn bạo, - Jolene nói. - Còn cậu?

    - Mình vừa qua. - Chị cài số lùi xe và lái xuống đường xe chạy. Rất nhanh, họ tăng tốc xuống con đường xuyên liên bang, tới Tacoma.

    - Seth cố hành động bình tĩnh khi mình kể với nó, - Tami nói sau khi im lặng khác thường và xe đã chạy nhiều dặm. - Nó hỏi sẽ xảy ra chuyện gì nếu mình không trở về. Nó còn chưa đầy mười ba tuổi. Nó không biết là không nên hỏi mẹ một câu như thế.

    - Betsy thì nổi khùng. Nó nói sẽ không tha thứ cho mình nếu mình bỏ nó lại. Rằng mình yêu quân đội hơn yêu nó.

    - Carl thì khóc, - Tami kể sau một lúc lâu im lặng. - Trước kia mình chưa bao giờ thấy anh ấy khóc. Giống như... - Tiếng chị vỡ vụn. - Với đàn ông, chuyện này thật khó khăn.

    Jolene nuốt cục nghẹn vào trong họng.

    - Một người đàn ông khóc khi cậu ra trận hoặc một người không khóc, cái gì tệ hơn? - Chị nói khẽ.

    Cả hai người rơi vào im lặng. Nhiều dặm đường qua nhanh, chẳng mấy chốc đã đến vị trí đóng quân, họ lái đến trạm kiểm soát.

    Họ giơ thẻ quân nhân, gật đầu với người lính gác và lái vào doanh trại.

    Trong tiền sảnh bên ngoài phòng học Black Hawk, họ thấy vài người của đơn vị ngồi trên ghế dọc bức tường. Không ai nói gì nhiều, trừ những người trẻ hơn, có vẻ sốt sắng và háo hức. Smitty - Smitty trẻ măng, với bộ răng niềng và nhiều nốt trứng cá cùng tính nhắng nhít như một con cún - đang cười toe toét, đi từ người này đến người kia, hỏi trận đánh như thế nào, và nói đến đấy họ sẽ đá đít vài kẻ nào đó. Jolene tự hỏi lúc này mẹ cậu ta cảm thấy ra sao...

    Jolene và Tami dựa vào bức tường bê tông, đợi đến lượt.

    Cửa phòng học bật mở. Jamie Hix sải bước ra ngoài. Mái tóc anh màu vàng xỉn, cắt ngắn, tua tủa khỏi vầng trán rộng và rám nắng. Nhiều nếp nhăn tỏa ra từ khóe cặp mắt màu xám của anh - những nếp nhăn này mới có, hiện rõ từng ngày kể từ khi lệnh điều động được công bố. Chắc chắn anh đang nghĩ đến cậu con trai còn nhỏ của mình. Liệu vợ cũ của anh có lợi dụng lệnh điều động này để giành lấy đứa con khỏi tay anh?

    - Đến lượt chị đấy, Jo, - anh nói.

    Gật đầu, Jolene bước vào phòng, chị thấy một người đàn ông vận quân phục ngồi sau chiếc bàn học dài, giấy tờ trải rộng trước mặt.

    - Chuẩn úy Zarkades? - Ông ta nói và ngước nhìn chị. - Nghỉ! Mời ngồi. Tôi là đại úy Reynolds. Jeff.

    Chị ngồi xuống ghế đối diện ông ta, lưng chị thẳng tẳp, hai bàn tay đặt lên lòng.

    Ông đẩy một chồng giấy tờ về phía chị.

    - Kế hoạch của gia đình chị ở đây. Các con gái chị, Elizabeth Andrea Zarkades và Lucy Louida Zarkades sẽ được chồng chị là Michael Andreas Zarkades chăm sóc. Đúng thế không?

    - Thưa đại úy, đúng.

    - Tôi biết mẹ chồng chị cũng có thể giúp đỡ.

    - Vâng, thưa đại úy.

    Viên luật sư nhìn xuống tờ giấy và gõ cây bút.

    - Việc điều động có thể gây khó khăn cho một cuộc hôn nhân, chuẩn úy ạ. Có gì làm phiền kế hoạch này không?

    - Không, thưa đại úy, - Jolene đáp.

    Viên đại úy ngước nhìn:

    - Chị lập di chúc chưa?

    - Rồi. Tôi kết hôn với một luật sư mà, thưa đại úy.

    - Tốt. - Ông ta đẩy chồng giấy tờ tới chị. - Chị hãy ký và để ngày tháng vào bản kế hoạch gia đình của chị. Cả phụ lục thu xếp tang lễ nữa. Tôi cho rằng chị muốn báo tin cho Michael trong trường hợp chị hy sinh. Còn báo cho ai nữa không?

    - Không, thưa đại úy.

    - Vậy là xong, chuẩn úy. Thế thôi. Giải tán.

    Chị đứng dậy.

    - Cảm ơn đại úy.

    - À này, chuẩn úy. Chúng tôi đề nghị chị viết thư... cho những người thân của chị.

    Jolene gật đầu. Những bức thư. Những lời từ biệt. Họ đề nghị chị viết thư từ biệt những người chị yêu quý nhất trên đời. Chị cố hình dung... một ngày nào đó trong tương lai mờ mịt, Betsy mở bức thư thấy nét chữ của mẹ, đọc những lời cuối cùng của mẹ - vậy những lời cuối cùng ấy được viết ra lúc này là gì, trước một điều duy nhất chị biết là phải nói, quan trọng hơn cả quãng đời mẹ con chị đã có bên nhau? Lulu sẽ khóc lóc, kêu gào, la hét Cái gì? Mẹ chết ở đâu? Khuôn mặt bé nhỏ hình trái tim méo mó, cặp mắt đen láy của nó sẽ đầy nước mắt khi nó cố hiểu như thế nghĩa là gì.

    - Hãy bảo trọng, chuẩn úy. Cầu Chúa phù hộ cho chị.

    Hai tuần tiếp theo trôi qua nhanh đến nỗi Jolene gần như mong nghe thấy một tiếng bùm vang vọng kéo dài đằng sau. Chị đã viết, sửa rồi viết lại ít nhất một tá danh sách các việc cần làm, ghi đầy một tập giấy với từng mẩu thông tin chị có thể nghĩ đến. Chị hủy các tạp chí chị sẽ không lĩnh nữa, thuê con trai người hàng xóm cắt cỏ vào mùa hè và kiểm tra máy phát điện vào mùa đông sang năm, trả trước nhiều hóa đơn hết mức có thể. Chị làm mọi việc này vào ban đêm; ban ngày chị đến nơi đóng quân, chuẩn bị ra chiến trường. Chị cùng cả đơn vị bay nhiều giờ đến mức họ bắt đầu hòa cùng nhịp thở. Đến ngày mồng Một tháng Năm, chị và những người khác trong đơn vị đều thực sự muốn ra đi. Nếu họ sắp phải thực hiện nhiệm vụ này, họ muốn ra đi. Đây là cách duy nhất họ bắt đầu đánh dấu thời gian cho đến khi trở về.

    Ở nhà, cuộc sống là một chuỗi vô tận những khoảnh khắc mủi lòng và những lời tạm biệt dài lê thê. Mỗi cái nhìn, mỗi cái ôm ghì, mỗi nụ hôn đều mang nặng nỗi buồn đau. Jolene không biết mình có thể chịu đựng cảnh này được bao lâu nữa. Mỗi lần nhìn các con, cổ họng chị lại nghẹn tắc.

    Rồi còn Michael.

    Trong khoảng thời gian ngắn ngủi họ còn bên nhau, anh càng xa cách hơn, ở lại nhiệm sở nhiều thời gian hơn. Hiếm khi chị bắt gặp anh nhìn chị, và khi gặp chị chỉ thấy sự oán giận trong mắt anh và anh ngoảnh đi rất nhanh. Chị cố nói chuyện với anh về tất cả, về cuộc điều động, những cảm nghĩ, những xúc động của chị, nỗi sợ của chị, nhưng mỗi lời nói ra chỉ gặp sự trốn tránh cho đến rốt cuộc, chị đành chịu thua.

    Hình như anh đã nói lên một sự thật: anh không còn yêu chị nữa.

    Thỉnh thoảng, khi đêm đã về khuya, nằm bên anh trên giường chị không sao ngủ được, sợ chạm vào anh và đau đớn khi anh chạm vào, chị không biết mình có giữ được sự cẩn trọng này nữa không. Chị không muốn buộc tội anh, nên chị giải thích sự lạnh lùng của anh là sợ hãi và lo âu, nhưng rốt cuộc, tính lạc quan bẩm sinh của chị đã làm chị thất bại. Giống y như cha mẹ chị.

    Tối nay, sau một ngày dài ở nơi đóng quân chuẩn bị cho buổi ra đi, chị lái chiếc SUV vào ga ra, rồi ngồi trong bóng tối một lúc lâu để tìm ra sức mạnh. Khi tin chắc mình đã bình tĩnh, chị xuống xe và vào trong nhà.

    Ngôi nhà tràn ngập ánh sáng màu vàng, mùi cừu hầm cà chua với gia vị thơm phức. Mùi quế thoang thoảng, thơm tho trong không khí. Jolene nghe thấy tiếng các con nói chuyện ở đâu đó, nhưng tiếng chúng rất khẽ. Hình như trong những ngày này, không ai nói nhiều. Tất cả đang nín thở vì cảnh chia ly. Betsy phản ứng đặc biệt dữ dội, nó bắt đầu hành động tiêu cực, nổi cơn tam bành, đóng cửa sầm sầm. Cho là có người trong lớp chế giễu nó vì có mẹ sắp tham gia “cuộc chiến tranh ngu xuẩn đó”, Betsy gần như suy sụp. Nó về nhà van lơn Jolene rời bỏ quân đội.

    Jolene treo áo khoác lên móc trong phòng chứa đồ rồi vào bếp, chị thấy Mila đang rửa bát đĩa của bữa tối. Michael vẫn còn ở lại công ty - gần đây, anh hiếm khi về nhà trước mười giờ.

    Tám giờ mười phút, mặt trời bắt đầu lặn, phong cảnh qua cửa sổ giống hệt một bức tranh của Monet, mọi mảnh màu đồng thau, vàng và màu xanh pha đỏ đặt kề nhau.

    Jolene tiến đến sau lưng Mila, hương dầu gội đầu mùi hoa hồng phảng phất lúc chị chạm vào vai bà.

    - Chào mẹ. Món moussaka(*) hở mẹ?

    - Tất nhiên rồi. Món ăn ưa thích của con mà.

    Mọi sự trong những ngày này khiến Jolene cảm thấy sầu muộn. Chị siết chặt bắp tay mẹ chồng.

    - Cảm ơn mẹ đã tới đây tối nay.

    - Thức ăn của con trong tủ lạnh. Cho vào lò vi sóng ba phút nhé, - Mila lau khô chiếc đĩa cuối cùng và để lên quầy. - Buổi huấn luyện hôm nay thế nào?

    Jolene lùi lại.

    - Tốt ạ. Con không thể sẵn sàng hơn để tự xử lý ở nơi đó.

    Mila quay lại và ngước nhìn chị:

    - Con cứ giả vờ với Betsy, Lulu và với cả con trai của ta nếu con phải làm thế, nhưng đừng thế với ta, Jo ạ. Ta không cần con tỏ ra mạnh mẽ. Ta cần sức mạnh của chính ta kia.

    - Thế nên con có thể nói với mẹ là con hơi sợ không ạ?

    - Đừng nghĩ thế, Jo, trước kia mẹ đã sống qua một cuộc chiến tranh. Ở Hy Lạp. Những người lính đã cứu mạng chúng ta. Mẹ tự hào vì việc con đang làm, và mẹ chắc rằng các con gái của con cũng tự hào lắm.

    Vài lời giản dị ấy có ý nghĩa với chị rất nhiều.

    - Còn con trai mẹ thì sao ạ? - Cuối cùng, Jolene hỏi.

    - Nó là đàn ông, và nó sợ. Đây không phải là một sự kết hợp tốt. Song nó yêu con. Mẹ biết điều này. Và con yêu nó.

    - Như thế đã đủ chưa?

    - Tình yêu ư? Nó luôn đủ, kardia mou.

    Tình yêu. Jolene lật giở từ đó trong tâm trí, chị băn khoăn tự hỏi liệu Mila có đúng không, liệu trong một thời đại như thế này, tình yêu có đủ không?

    (*) Món ăn Hy Lạp, gồm chả bò, cà tím với xốt cà chua.

    - Chúng ta sẽ đợi con trở về nhà, an toàn và khỏe mạnh. Con đừng lo cho chúng ta.

    Jolene biết chị không có lựa chọn trong việc này. Chị phải để mặc những người chị yêu quý ở đây. Chị có thể buồn nhớ gia đình, nhưng những cảm xúc, những khát khao thì phải chôn vùi thật sâu.

    - Con có thể làm được, - chị nói khẽ. Suốt đời, chị luôn phải phân chia cảm xúc thành từng ngăn riêng biệt. Chị biết cách xếp nỗi sợ hãi và sự ham muốn vào một cái hộp và giấu biến. - Con phải thế mẹ ạ.

    - Con trai ta sẽ có khả năng đối phó với tình hình. Về mặt này, nó giống cha nó. Michael không bao giờ né tránh bổn phận. Nó sẽ không làm con thất vọng đâu.

    - Sao mẹ biết ạ?

    Mila mỉm cười.

    - Mẹ biết chứ.
     
  12. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Tám

    Trong tuần lễ đầu của tháng Năm, Michael xử lý những nghi ngờ trong vụ Keller, biện hộ cho sự vô tội với tội danh giết người ở cấp độ thứ nhất, và bắt đầu khám phá vụ kiện. Anh cần tìm ra mọi bằng chứng có thể, vậy mà thân chủ của anh vẫn không chịu nói chuyện. Keith đã nói “Tôi có tội” vào hôm thẩm vấn tại nhà giam, rồi sau đó lại im thin thít, chỉ đáp lại từng câu hỏi của Michael bằng cái nhìn đờ đẫn. Thỉnh thoảng cậu ta lẩm bẩm “Tôi đã giết cô ấy”, nhưng chỉ có thế. Hầu như không giúp được gì.

    Trong khi đó, ở nhà, Jolene vẫn đưa cho anh những danh sách các việc cần làm. Mỗi lần bắt gặp cái nhìn của anh, chị lại dặn một thôi một hồi những việc vặt: đừng quên bọc các ống dẫn nước trong tháng Mười một... bón phân cho cây... cọ sạch các vỉ nướng. Đây là cách chị lấp đầy các buổi tối bên nhau. Ban ngày chị ở nơi đóng quân để chuẩn bị tham chiến. Anh có thể nói chị bắt đầu mong ngóng ngày ra đi. Đêm qua, chị đã bảo anh rằng chị muốn đi, làm cho việc này sớm kết thúc và em có thể trở về.

    Chẳng mấy chốc chị sẽ thực hiện nguyện vọng của mình.

    Hai ngày nữa thôi, anh sẽ nói lời tạm biệt với vợ, nhìn chị lên ô tô quân sự và mất hút.

    Anh muốn là người chịu đựng, vững vàng và chân thành. Nhưng trong tháng qua, anh đã biết được một điều về bản thân: anh là người ích kỷ. Anh cũng lo lắng, sợ hãi và tức tối. Thành thực mà nói, anh tức tối nhiều nhất. Anh giận vì chị đã chọn quân đội hơn gia đình, giận vì chị không xuất ngũ từ nhiều năm trước, giận vì trong chuyện này, anh không được lựa chọn gì hết.

    Anh đã tới cuộc họp các gia đình sẵn sàng rất lố bịch mà Jolene đề nghị. Đó là một thất bại toàn phần. Ngày nào anh cũng đi muộn, và cuộc họp này cũng không là ngoại lệ. Cuối cùng anh tới, thở không ra hơi, anh đã đọc hết các giấy tờ trong cặp, tìm tên để liên hệ lúc bước vào phòng.

    Toàn đàn bà. Đấy là thứ anh thấy. Có ít nhất năm chục bà trong phòng; phần lớn bận tranh luận ầm ĩ, trẻ con khóc la chí chóe. Trên một giá vẽ, một tấm áp phích lớn để cổ vũ những người lính của chúng ta. Bên dưới là một danh sách những dấu hạt đậu. Chú ý đến việc gói đồ. Các cuộc điện thoại. Cảnh cô đơn. Tình dục. Giúp đỡ về tài chính. Cứ làm như anh tới đây để nói chuyện với những người xa lạ này về các vấn đề anh vướng phải vì lệnh điều động vợ anh vậy.

    Anh bước vào, toàn thể cánh đàn bà trong phòng ngước nhìn. Cả phòng im bặt.

    - Xin lỗi, - anh lẩm bẩm, - tôi nhầm chỗ, - và anh bỏ đi.

    Anh không hề có ý định ngồi lại căn phòng đó, nghe những người phụ nữ này nói về cách làm vợ tốt trong khi những người lính của họ đi xa.

    Anh đến đâu, hình như tin tức cũng đến trước anh. Anh căm ghét cách người ta nhìn anh khi nghe tin Jolene sắp đi Iraq. Vợ anh sắp tham chiến ư? Anh có thể thấy họ nhăn mặt, tưởng tượng anh đeo tạp dề, nhồi bột làm bánh trong cái bát bằng bạc. Các bạn bè tự do, trí thức của anh nào có biết bánh làm bằng gì đâu. Họ nhanh chóng chuyển câu chuyện sang George W. và các chính khách đứng sau cuộc chiến, họ kết luận Jolene liều mạng vô ích. Michael biết nói về điều gì ở cái nơi quái quỷ ấy kia chứ?

    Anh biết anh có thể ủng hộ các chiến sĩ, chứ không ủng hộ cuộc chiến tranh. Đó là vị trí mà anh phải đảm nhận, một vị trí danh dự, nhưng anh không thể làm việc đó vì liên quan đến vợ. Anh không thể bắt mình ủng hộ quyết định của chị.

    Chị cũng biết thế, chị nhận biết sự giận dữ và nỗi oán hận của anh. Họ hiểu nhau quá rõ nên không thể che giấu những cảm xúc bị ô nhiễm như thế. Thiếu tình yêu che chở, cả hai đều đau đớn như những nạn nhân bị bỏng, mỗi động chạm đều đau buốt.

    Vì thế anh không nhìn chị, không chạm đến chị, và vùi mình vào công việc. Chính nhờ thế, anh mới qua được hai tuần lễ cuối cùng. Vắng mặt. Anh đi làm từ sớm và ở lại muộn hết mức có thể. Đêm đêm, anh và Jolene mỗi người nằm một bên giường, thở trong bóng tối, không nói năng, không vươn tay ra. Không người nào ngủ được nhiều, nhưng cả hai đều giả vờ tìm được niềm an ủi. Có một lần, Jolene với tay tìm anh muốn làm tình, chị nói khe khẽ Em sắp đi rồi, Michael. Anh quay đi, quá ư giận dữ vì ý định thân mật của chị. Sáng hôm sau, anh nhìn thấy nỗi đau đớn và bẽ bàng trong mắt chị, nó làm anh xấu hổ, nhưng anh không thể thay đổi cách anh cảm nhận.

    Điện thoại nội bộ trên bàn anh kêu vo vo. Thư ký báo với anh ủy viên công tố quận King đã đến đây đúng giờ hẹn.

    - Đưa ông ta vào, - Michael nói và thẳng người lên trên ghế.

    Ủy viên công tố Brad Hilderbrand sải bước vào phòng. Michael biết rất rõ Bad: dưới bề ngoài khéo léo của một chính khách là trái tim của kẻ cuồng tín. Brad được chọn vì tính cực đoan với tội ác và càng cực đoan hơn với tội phạm, ông ta làm tốt việc mình vì tin vào đường lối của chính đảng.

    - Chào Michael, - ông ta nói và mỉm cười, chìa tay ra.

    Họ bắt tay nhau. Từ nụ cười của Brad, Michael thấy sắp có sự phiền hà đây.

    - Tôi muốn anh biết rằng có một nhân chứng đến trình diện vì vụ Keller, - Brad nói. - Vì lợi ích của tiết lộ này...

    - Và một thỏa thuận có thể cho lời biện hộ của bị cáo.

    - Chúng tôi muốn anh có thông tin càng sớm càng tốt. Keller đã thú tội. Chính vì thế tự tôi mang tin đến đây.

    - Thật vậy ư?

    Brad buông một bìa đựng hồ sơ bằng giấy tơ chuối lên bàn.

    - Đây là lời khai của Terry Weiner. Hắn ta cùng phòng giam với Keller.

    Một kẻ chỉ điểm của tòa án. Một trò phổ biến của bên nguyên và cảnh sát.

    - Để tôi nói thẳng việc này. Anh định nói là Keith Keller, kẻ trong suốt mấy tuần lễ bị tống giam vừa qua không chịu nói gì với cha đẻ, với luật sư của mình hoặc chuyên gia tâm thần được tòa án chỉ định, bỗng nhiên cởi mở với bạn cùng phòng giam.

    - Hắn nói, và tôi trích dẫn: “Con chó cái ấy không chịu câm họng, thế là tôi hun chết nó”.

    - Ngắn gọn, đi thẳng vào việc, và nhớ lại rõ ràng. Tôi hiểu. Để tôi đoán nhé, cái người được gọi là nhân chứng ấy đã được đưa đi.

    - Anh ta chỉ bị khống chế.

    - Một con nghiện ma túy. Hoàn hảo. - Michael cầm tập hồ sơ, mở ra và đọc lướt lời khai. - Tôi cần một bản sao hồ sơ bắt giữ nhân chứng.

    - Tôi sẽ gửi cho anh.

    - Mọi thứ anh có liệu có hơi hư cấu không đây?

    - Nhiều ấy chứ, và cả hai chúng ta đều biết mà, Michael. - Brad ngừng lại, nhìn anh đầy hàm ý. - Tôi có nghe chuyện vợ anh. Sắp ra trận phải không? Tôi không biết các vị là một gia đình quân nhân đấy.

    - Gia đình quân nhân ư? Tôi sẽ không gọi chúng tôi là thế đâu.

    - Thật sao? Nghe có vẻ kỳ quặc. Mà này, tôi đoán sắp tới anh tha hồ bận bịu vì các con.

    Trong giọng Brad có sự mỉa mai nào không đây?

    - Đừng lo cho tôi, Brad. Tôi có thể lái xe chung theo nhóm, nấu bữa tối, và vẫn đá vào mông anh bay từ đầu này đến đầu kia phòng xử án đấy.

    Sau bữa tối, Jolene đứng bên chậu rửa, hai bàn tay nhúng sâu trong làn nước nóng đầy bọt xà phòng, nhìn đăm đăm ra phong cảnh ở sân sau. Đêm nay đẹp đến không thể tin nổi, bầu trời dát kín những vì sao, những con sóng đắm mình trong ánh trăng, các chấn song hàng rào dường như phát sáng từ bên trong. Chị biết nếu nhắm mắt lại, chị sẽ hồi nhớ hàng ngàn kỷ niệm ở khắp quang cảnh này, nghe thấy tiếng cười của con gái chị, cảm thấy một bàn tay nhỏ bé kéo tay chị.

    Tạm biệt. Chị đã thầm nói từ ấy nhiều lần trong hai tuần qua. Với phong cảnh, với những kỷ niệm, những khoảnh khắc, những hình ảnh, những con người. Chị đã qua nhiều giờ cố ghi nhớ tất cả để có thể mang nó đi theo, một album trong tâm trí của cuộc sống chị để lại đằng sau... một cuộc sống đang đợi chị.

    Chị rút tay khỏi nước, lau khô tay rồi tháo nước trong bồn. Sau đó, chị từ từ ra khỏi căn bếp trống vắng.

    Phòng giải trí sáng rực - các ngọn đèn đều bật, ngọn lửa nhảy múa trong lò sưởi, ti vi đang chiếu một bộ phim hài song chẳng ai xem. Chị tắt ti vi và ghét sự im lặng đột ngột, nên lại bật. Lên cầu thang, chị nhận ra tiếng cót két của các tấm ván và đi tiếp. Betsy đang làm bài tập trong phòng riêng, còn Lulu đã ngủ. Chị dừng bên cửa phòng Betsy, lướt các đầu ngón tay trên cánh cửa gỗ sồi. Chị định vào, ngồi với con gái lớn và cố lần nữa làm nó hiểu lệnh điều động này. Nhưng tối nay còn có việc nữa phải làm - một việc chị đã trì hoãn lâu hết mức có thể.

    Chị vào phòng ngủ, bật đèn rồi đóng cửa. Khi chị đứng đó, ngắm căn phòng chị chung sống với chồng, bao hồi ức ùa tới. Kia là cái giường, Michael, chúng ta đã mua nó... ngắm nghía xem xét nó vững chãi ra sao, chúng ta đã có các con trên chính cái giường này... Tủ quần áo họ tìm được trong một buổi bán đồ cũ từ lâu lắm rồi, tấm thảm phương Đông là món đồ đắt giá đầu tiên họ mua.

    Chị thở dài, đến bên tủ quần áo và lấy chiếc máy quay phim trong ngăn đựng bít tất của chị. Đặt máy lên cái giá ba chân, chị chĩa ống kính vào cái giường cỡ đại rồi bấm nút ghi âm. Trèo lên giường, chị đập cho các gối xung quanh chị phồng lên, chị gượng cười, như thể đây là một tình tiết thông thường trước giờ đi ngủ.

    - Chào Lulu, - giọng chị nghẹn ngào. Chị hít một hơi thật sâu và thử lần nữa. - Mẹ làm băng này cho con đây. - Chị giơ cao cuốn sách ưa thích của Lulu Giáo sư Wormbog tìm kiếm vườn thú Zipperump. Mở cuốn sách to tướng nhiều màu sắc, chị bắt đầu đọc to câu chuyện, sử dụng đủ các loại giọng và tài diễn kịch của mình. Khi đọc xong, chị gấp cuốn sách và nhìn vào máy, những giọt lệ làm mắt chị cay xè. - Lucy Louida, mẹ yêu con rất, rất nhiều. Ngủ ngon nhé, con gái bé bỏng của mẹ. Mẹ sẽ về nhà trước khi con nhận biết.

    Chị trèo xuống giường và tắt máy. Lấy băng đó ra, chị lắp băng khác vào. Lần này, chị ngồi ở cuối giường và nhìn thẳng vào máy.

    - Betsy, - chị nói dịu dàng, - mẹ không biết nói lời tạm biệt với con như thế nào cho phải. Mẹ biết lúc này, con cần mẹ biết chừng nào. Con đang phải đối phó với nhiều chuyện ở trường, và mẹ muốn cho con mọi lời khuyên mà con cần suốt đời, nhưng mẹ con ta không có thời gian, phải không con? Sao chúng ta lại có thể không có nổi thời gian kia chứ? - Chị thở dài. - Mẹ biết con đang giận mẹ, Lil Bit, và mẹ rất, rất tiếc. Mẹ chỉ hy vọng một ngày nào đó con sẽ hiểu. Có khi con còn tự hào vì mẹ, như mẹ đang tự hào vì con vậy. Mẹ rất tự hào vì con. Con mạnh mẽ, xinh đẹp, thông minh và trung thành. Trong lúc mẹ đi xa, con sẽ có nhiều ngọn đồi phải trèo, và việc đó sẽ khó khăn. Mẹ biết sẽ rất khó. Nhưng con sẽ ổn thôi. - Jolene nhắm mắt một lát, nghĩ đến bao điều nữa chị muốn nói. Suốt mười phút tiếp theo, chị khuyên con gái những lời tốt nhất có thể, về các chàng trai và cô gái, về lớp học, việc bắt đầu có kinh và trang điểm. Nói xong, chị kiệt sức. Còn nhiều nữa... và không có thời gian. - Mẹ yêu con, Betsy, yêu con rất, rất nhiều. Và mẹ biết con cũng yêu mẹ. Mẹ biết, - chị nói giản dị và mỉm cười.

    Mệt mỏi đứng dậy, chị đến bên máy và lại thay băng. Lần này dành cho Michael, nhưng lúc chị ngồi xuống cuối giường, nhìn thẳng vào ống kính nhỏ đen ngòm, chị cảm thấy sự mất mát ùa tới. Sau từng ấy năm chung sống, lúc này chị không biết nói gì với anh và cũng không biết liệu anh có lắng nghe hoặc quan tâm không. Chị đứng dậy và tắt máy. Chị cho hai cuộn băng vào trong tủ quần áo, đề LULU lên một băng và BETSY lên băng kia.

    Còn bây giờ.

    Chị đến bên cái bàn ở góc phòng, nhớ lại ngày chị tìm ra nó, Michael đã cười và bảo Nó là thứ xấu nhất từng thấy, được sơn bao nhiêu lần rồi? Chị đã nắm tay anh, kéo anh tới và nói Nhìn kỹ xem nào, anh yêu.

    Chị ngồi xuống bên bàn và mở ngăn dưới cùng. Trong đó, chị cất chiếc két bằng kim loại màu xanh chị mua dành riêng cho cuộc điều động này. Chị nhấc nó ra, đặt lên mặt bàn gỗ gụ bóng loáng. Rồi lấy ra những đồ dùng văn phòng chị mới mua trong tuần này và bắt đầu nhiệm vụ viết những bức thư cuối cùng. Hy vọng rằng chúng sẽ không bao giờ được đọc.

    Gửi Elizabeth Andrea thương yêu của mẹ,

    Viết bức thư này là việc khó khăn nhất mẹ phải làm. Không phải vì mẹ không biết nói gì (mặc dù không hẳn là mẹ không biết), mà vì mẹ không thể chịu đựng nổi ý nghĩ con sẽ đọc nó, rằng mẹ không còn nữa, rằng con sẽ cảm nhận thấm thía là một cô gái không có mẹ sẽ ra sao...

    Chị viết, viết và viết, vừa viết vừa khóc, cho đến khi chị không thể tìm ra lời nào để nói nữa. Nhưng thế vẫn chưa đủ. Lúc viết xong, tay chị run rẩy. Thư gửi Lulu cũng không dễ hơn; với từng lời viết ra, Jolene nghĩ đến đứa con sẽ quên hẳn mẹ nó...

    Michael, cuối cùng, chị viết bức thư thứ ba, chị dừng lại, cây bút lơ lửng trên trang giấy, nước mắt chị rỏ xuống giấy, bắn tung thành những giọt nhỏ xam xám. Em yêu anh, từ buổi ban đầu đến lúc cuối cùng. Anh hãy trông nom các con... dạy chúng nhớ đến em nhé.

    Chị gập các bức thư, cho từng lá thư vào phong bì riêng, để chúng vào két sắt cùng ví và bằng lái xe của chị.

    Sau khi cất két sắt và đóng ngăn kéo, chị cứ ngồi đó, nhìn trừng trừng ra màn đêm, cảm thấy trống rỗng. Chị cố đứng dậy - lúc này chị run rẩy, đầu gối yếu hẳn - chị vào phòng kho, tìm cái túi quân dụng to bằng vải thô màu xanh lá. Quẳng túi lên giường, chị bắt đầu sắp xếp hành lý.

    Chị mải miết tìm những thứ đã ghi ra danh sách và gấp các bộ quân phục theo đúng quy cách đến nỗi không nghe thấy tiếng gõ cửa, nhưng Betsy đã đột nhiên ở cạnh chị, nó trừng trừng nhìn xuống cái túi vải thô há hoác miệng, đầy những quần áo ngụy trang, giày ống màu cát và áo thun lính màu xanh lá.

    - Chào Bets, - Jolene nói.

    Betsy cứng nhắc tiến đến bên giường, cái nhìn chăm chú của nó gắn chặt vào đống thẻ quân nhân nhỏ màu bạc nằm lộn xộn cạnh cái túi. Nó nhặt chúng lên, nhìn xuống mẩu thép hình chữ nhật ghi các thông tin về quân chủng của Jolene.

    - Sierra nói mẹ sắp đi giết người, - Betsy nói khẽ, giọng đầy vẻ dò hỏi. - Lúc đó Todd cười to và nói: “Không phải đâu, đàn bà không thể bắn được, ai chẳng biết điều đó”.

    - Betsy...

    - Có lần con xem một bộ phim, một người lính được nhận dạng bằng thẻ quân nhân. Những cái này để làm gì? Để nhận dạng mẹ ư? - Mắt nó mọng nước.

    - Mẹ sẽ không sao đâu, Betsy.

    - Mẹ không nên đi.

    Jolene nuốt khó nhọc. Chị những muốn kéo Betsy vào vòng tay, ôm nó thật chặt và thề sẽ ở nhà.

    - Mẹ ước không phải đi.

    - Mẹ hãy thề là sẽ trở về an toàn đi.

    - Ôi, Betsy... - Jolene cố tìm những lời thích hợp, kiểu hứa mà không phải giữ lời với đứa con gái sẽ không bao giờ quên những lời nói ra lúc này. - Mẹ yêu con rất nhiều...

    Trông Betsy như bị đánh. Nó thốt lên một tiếng nghẹn ngào, òa khóc và nói:

    - Đấy không phải là một lời hứa! - Rồi ném nắm thẻ xuống sàn, nó chạy ra khỏi phòng và sập mạnh cửa sau lưng.

    Jolene từ từ cúi xuống nhặt nắm thẻ lên. Đeo chúng vào cổ, chị thở dài mệt mỏi. Đóng gói xong, chị sẽ đến với Betsy và cố-một lần nữa-làm cho con gái của chị hiểu.

    Đêm nay là đêm cuối cùng ở bên nhau. Jolene dành cả ngày cho các con. Chị cho Betsy nghỉ học. Cả ba đi xem phim, đi trượt patanh và ăn trưa ở Red Robin.

    Lúc này, mặt trời bắt đầu lặn.

    Jolene đã có kế hoạch cho đêm cuối cùng bên nhau. Chị muốn đến Crab Pot ăn tối. Họ cần - chị cần - có một kỷ niệm cuối cùng tuyệt vời để như một lá bùa hộ mạng mang vào tình trạng xa cách sắp đến.

    Trong nhiều năm, Crab Pot là nhà hàng “của họ”. Trong những ngày nóng nực, uể oải của mùa hè vùng Tây Bắc, họ thường đến đó, tản bộ trên bãi biển khi thủy triều xuống, thường tranh luận suốt dọc đường. Phần thưởng thường là hai muỗng kem ốc quế cho ai tìm thấy trước một viên đá mã não, một con sao biển, hay một hòn đá trắng muốt hoàn hảo.

    Trong những năm trước, Michael thường đi cùng ba mẹ con. Anh xách những cái xô màu sắc tươi sáng, những cái xẻng bằng nhựa, ôm khăn mặt đầy tay, các túi mỹ phẩm chống nắng. Nhưng từ khi cha anh qua đời, Michael thay đổi hẳn. Biết đâu anh có thể trở lại đúng lúc dù chỉ một giây thôi, đủ lâu để nhớ, anh có thể mang lại cho Jolene thứ chị cần nhất đêm nay: gia đình của chị được ở bên nhau trước khi chị ra đi. Chị cần biết rằng Michael sẽ làm một việc tốt với các con, rằng anh sẽ đợi chị trở về, rằng chị vẫn có một người chồng để về nhà.

    - Đi thôi, các con, - Jolene nói lần nữa. - Chúng ta đến Crab Pot ăn tối đi.

    Chỉ mình Lulu hớn hở.

    - Trời quá lạnh, - Betsy vừa nói, vừa đưa ngón tay cái lướt qua những bài hát trên chiếc iPod của nó, chỉnh âm lượng. - Chẳng ai đến Pot, cho đến mùa hè. Chỉ những người già mới ở đấy.

    Michael chĩa điều khiển vào ti vi, bật các kênh. Anh nhún vai, im lặng.

    Thế là đủ thỏa thuận với Jolene.

    - Tuyệt. Chúng ta đi thôi. Mặc áo khoác vào, các con. Ra ngoài có khi lạnh đấy. - Chị dùng mười phút tiếp theo dồn cả nhà lấy đủ các thứ - áo khoác, ủng, tấm đắp. Chị ném bốn cái ghế ngồi ở bãi biển lên ghế sau để phòng hờ, và mười phút sau họ đã lái xe xuống con đường quanh co ven bờ biển.

    Crab Pot là một nhà hàng nổi tiếng của địa phương. Được một người dân chài Na Uy xây dựng từ năm chục năm trước, nó là một ngôi nhà nhỏ ốp ván tọa lạc trên một rẻo đất tuyệt đẹp giữa con đường và bãi cát. Một sàn nhà màu xám dãi dầu mưa gió xòe ra theo hình quạt, trang trí bằng những cái bàn ngoài trời, vây quanh là hàng rào vắt lưới đánh cá và treo những ngọn đèn Giáng sinh. Vào mùa hè, các bàn phủ khăn nilon màu trắng và đỏ, nhưng khi hết mùa, chỉ có dân địa phương ghé đến, các bàn đều để trần.

    Bên trong, sàn nhà mấp mô phủ một lớp cát dày, nghe đồn lấy từ bờ biển hoang vắng gần Kalaloch. Các bức tường bằng gỗ trông rõ dưới những mẩu ghi nhớ sặc sỡ - những bức tranh, giấy phép đánh bắt cá hết hạn, các hóa đơn tính ra đô la. Ai muốn gắn bất cứ cái gì lên cũng được. Thậm chí có vài món đồ lót ghim giữa các giấy tờ.

    Lulu biết rõ nơi đến. Nó bước đều như thể nó sở hữu chốn này, tiến thẳng tới cửa sổ cạnh máy đếm tiền và chỉ:

    - Chúng tôi đây, - nó nói với bất cứ ai có thể nghe thấy. Trong nhà hàng chỉ có vài khách quen, và không người nào ngước lên.

    Người phục vụ, một phụ nữ tóc bạc làm ở đây lâu đến mức ai cũng nhớ, nói:

    - Tất nhiên rồi, Lulu. Bác cũng thích ảnh của cháu lắm.

    Lulu cười toét miệng.

    Bà phục vụ - tên là Inga - dẫn họ tới cái bàn gần cửa.

    - Các vị muốn những món như mọi khi chứ? - Bà hỏi và rút cây bút cắm trên tóc. Cây bút chỉ để diễn, vì chưa người nào thấy Inga ghi món ăn.

    - Bà biết thừa rồi, - Jolene nói, cố tỏ ra vui vẻ. - Hai cua Dungeness, bốn suất bơ và hai suất bánh mì tỏi.

    Họ vào chỗ trên hai chiếc ghế đôi - Michael và Betsy ngồi một bên, Lulu và Jolene ngồi bên kia. Suốt bữa ăn, Jolene cố giữ cho câu chuyện rôm rả, nhưng thật lòng mà nói, lúc họ tháo bỏ yếm bằng nilon, chị mất hết nhuệ khí. Thực ra, chỉ có chị và Lulu nói chuyện. Michael và Betsy chỉ giao tiếp bằng những cái nhún vai và tiếng cằn nhằn. Cả hai đều không vui trong cái đêm cuối cùng này, và họ muốn Jolene biết điều đó. Chí ít đấy là thứ chị hình dung. Michael đang trả tiền thì gia đình Flynn ùa vào nhà hàng.

    - Tốt, - Betsy nói, ngồi sụp xuống ghế, để mái tóc rũ xuống mặt.

    - Tamil - Jolene đứng lên và đi quanh bàn, ôm chặt người bạn thân thiết. Lẽ ra chị nên biết tất cả bọn họ đều xuất hiện ở đây tối nay. Lùi lại, chị mỉm cười, nói. - Chụp ảnh nào!

    Tami, Seth và Carl ngay lập tức đến cạnh nhau, khoác tay nhau và cười tươi tắn trước máy ảnh. Jolene chụp cho họ bằng máy Polaroid cũ mà nhà hàng Crab Pot để khách sử dụng. Đây là một việc nữa trong truyền thống của họ, mỗi lần đến đây đều chụp ảnh rồi gắn lên tường.

    - Xem này, - chị nói. Cả nhà Flynn xúm lại quanh chị, xem rửa ảnh. Khi đã xong - tấm ảnh rất đẹp -, Carl ghim nó lên tường cạnh cửa ra vào.

    - Đến lượt các bạn, - Tami nói và cầm máy ảnh từ tay Jolene.

    Jolene tập hợp gia đình, chị vòng tay ôm Betsy (cô con gái lớn của chị mới gầy gò, lóng ngóng làm sao) và Lulu (con bé của chị). Michael đứng sau chị. Lúc Tami nói đẹp lắm, họ mỉm cười.

    Đèn chớp lóe.

    Sau đó Michael và Betsy rứt ra, đi ra ngoài. Jolene đứng đó, nhìn họ rời đi.

    Tami nắm tay chị, siết chặt.

    - Thế đấy, - chị nói dịu dàng.

    Jolene hơi lắc đầu, gượng cười. Họ đi ra sàn, vẫn nắm tay nhau. Lúc này, trời đã tối hẳn. Mặt trăng tròn đầy chiếu sáng các đỉnh núi sắc nét, lởm chởm, phủ tuyết và gửi những cột sáng khắp biển.

    Carl đứng cạnh Michael ở cuối sàn. Ngay từ chỗ này, cũng dễ dàng thấy họ chẳng thoải mái gì với nhau, hai người đàn ông này không có điểm gì chung, ngoài tình bạn của vợ họ. Michael thọc sâu bàn tay vào túi, anh nhún lên nhún xuống trên ức bàn chân. Khí đêm mát mẻ làm mái tóc đen của anh rối bù.

    Seth đi xuống bãi biển cùng Lulu. Đến mép nước, chúng cúi mình xuống, ngắm cái gì đó. Jolene có thể nói Betsy muốn đi theo, nhưng nó chùn lại.

    - Đi đi, Betsy, - Jolene giục khẽ. Mất một lúc, song cuối cùng Betsy bắt đầu di chuyển, nó đi xuống các bậc sàn và qua bãi biển đầy cát. Lúc nó đến gần, Seth ngước nhìn và mỉm cười bẽn lẽn.

    - Không có bọn mình, chúng sẽ làm gì nhỉ? - Jolene nói khẽ.

    - Không có chúng, bọn mình sẽ làm gì nhỉ? - Tami đáp lại.

    Họ đứng đó cho đến khi không khí trở nên lạnh ngắt trong lỗ mũi và gió nhẹ chuyển mạnh, cho đến khi Carl và Michael hết giả vờ có chuyện gì đó để nói với nhau. Lúc đó, gia đình Flynn vào trong nhà hàng, còn gia đình của Jolene về nhà.

    Lúc họ đỗ xe và vào trong ngôi nhà ấm áp, màu vàng, tâm trạng càng không vui hơn. Ngay cả Lulu cũng bị ảnh hưởng.

    - Mẹ ơi, - Lulu gọi lúc họ vào phòng giải trí. - Sinh nhật con mẹ có về không?

    Betsy trợn mắt.

    - Không phải trước sinh nhật con, Lulu à. Nhưng nhất định bố sẽ tổ chức cho con một bữa liên hoan thú vị.

    - Ồ, - Lulu nhăn mặt nghĩ ngợi. - Nhỡ con rụng mất một cái răng thì mẹ có về không?

    Michael ngồi xuống và bật ti vi.

    Betsy thốt ra một âm thanh thất vọng và ra khỏi phòng. Tiếng chân nó bước trên cầu thang vang khắp ngôi nhà.

    - Thế còn kể chuyện trước giờ đi ngủ thì sao ạ? Ai sẽ đọc cho con nghe? - Lulu nói và nhăn nhó.

    - Lulu, con yêu, cất đồ chơi đi. Mẹ sẽ trở lại ngay.

    Cảm thấy dao động, Jolene theo Betsy lên gác và gõ cửa phòng nó.

    - Đi đi, - Betsy gào lên.

    - Con đừng nói thế, - Jolene nói. - Đừng thế tối nay.

    Ngừng một lúc lâu, rồi:

    - Thôi được. Vào đi.

    Jolene bước vào và đến bên giường.

    Betsy không dịch sang bên, nhưng Jolene vẫn ngồi xuống cạnh nó. Chị vòng tay ôm con gái và kéo nó lại gần.

    - Con đang cố, mẹ ạ, - cuối cùng, Betsy nói.

    - Mẹ biết.

    - Bản tin nói...

    - Đừng xem tin tức, Betsy. Nó sẽ không giúp được gì đâu.

    - Vậy sẽ xem gì?

    Jolene thở dài.

    - Mẹ sẽ bảo con đây. Hãy suy nghĩ cho khớp với chuông báo thức của chúng ta. Đó là cách khi chuông báo thức tắt, chúng ta sẽ nghĩ đến nhau trong cùng giây phút đó.

    - Được ạ.

    Họ đặt chuông trong im lặng.

    - Con không nên nói đến các thẻ quân nhân... - Betsy nói, giọng ngập ngừng.

    - Không sao đâu, Betsy.

    - Con sẽ nhớ mẹ, - lát sau, Betsy nói. - Con không biết vì sao con lại đối xử tệ thế với mẹ...

    - Mẹ hiểu mà, con yêu. Mẹ đã có thời mười hai tuổi. Hiện giờ, con đang gặp nhiều nỗi lo. - Jolene hôn lên má Betsy.

    Hai mẹ con ngồi đó, ôm nhau một lúc lâu. Trong sự yên tĩnh, Jolene cảm thấy dường như chị sắp được giải tỏa. Làm sao ngày mai chị có thể ra đi, xa cách gia đình, nói lời từ biệt với các con?

    Chị muốn nói với Betsy mọi điều nó cần biết trong toàn bộ cuộc đời - chỉ để phòng hờ thôi, cảnh báo nó về tình dục, về bọn con trai, về ma túy và trang điểm, về những lèo lái trong xã hội, về trường học và những lựa chọn xấu. Nhưng việc này quá sớm - và cũng quá muộn.

    Cuối cùng, chị hôn lên má con và nói:

    - Con đã sẵn sàng xuống dưới nhà chưa? - Rồi chị đứng dậy.

    - Con không muốn xem ti vi. Con nghĩ là sẽ đọc sách, - Betsy nói.

    Jolene khó lòng ra lệnh được. Chính chị cũng không thực sự muốn xuống nhà.

    - Thôi được.

    Chị xuống cầu thang, thấy Michael đang xem ti vi trong lúc Lulu ngồi cạnh bố trên sofa, một mực hỏi những câu như mẹ đi bao lâu.

    - Lại đây, Lucy Lou, - Jolene nói, chị bế con lên. - Đến lúc con tắm rồi.

    Jolene bế Lulu lên gác, cho con gái tắm và chơi đùa thỏa thích, rồi cho con đi ngủ.

    Lúc chị nhìn quanh tìm cuốn sách cho đêm cuối cùng, chị thấy Lulu vụt khỏi giường, đeo cái bờm tai mèo màu xám nhàu nát và trèo lên giường. Lulu muốn chơi rồi. Jolene quay người đến giường và đột ngột dừng lại.

    - Ôi, không. Lulu, con đi đâu rồi? Các bà tiên bắt trộm con rồi sao?

    Lulu kêu lên một tiếng và đưa tay bịt miệng.

    - Gió gì ấy nhỉ? - Jolene đến bên cửa sổ và mở tung cánh cửa. - Lulu, con có ở ngoài đó không?

    Lulu bỏ cái bờm và òa khóc.

    - Con muốn tàng hình cho đến khi mẹ về cơ.

    - Chà, Lulu, - chị nói và trèo vào cái giường hẹp của Lulu, bế con lên tay.

    - Ai sẽ tìm ra con nếu mẹ đi vắng?

    Jolene ôm chặt con, nghĩ đến mọi việc chị sẽ bỏ lỡ.

    Lulu sẽ bắt đầu học mẫu giáo, nó đi xe buýt và có nhiều bạn mới, tất cả đều thiếu Jolene ở bên.

    - Mẹ yêu con, Lucy Louida. Con nhớ thế nhé?

    - Vâng. - Lulu rúc vào dưới chăn và nhắm mắt lại. Ít phút sau, nó đã ngủ.

    Jolene hôn má con rồi ra khỏi phòng. Lúc đi ra, chị vướng phải một trong những cái kẹp tóc bằng nhựa màu vàng của Lulu rơi từ tủ áo, chị nhét nó vào túi.

    Lúc xuống tầng dưới, chị sửng sốt vì sự im ắng trong nhà.

    - Anh Michael?

    Không có tiếng trả lời. Đi từ phòng này sang phòng khác, chị không tìm thấy anh đâu, nhưng xe của anh vẫn trong ga ra. Cuối cùng, chị thoáng thấy một cái gì đó ở ngoài mặt tiền.

    Jolene đứng bên cửa sổ bếp và nhìn ra ngoài. Ánh trăng lướt qua một hình người ngồi trên vũng tàu của họ.

    Chị xỏ vội vào đôi ủng lúc nào cũng để ở cửa phòng để giày bẩn. Kéo khóa chiếc áo khoác có mũ, chị rời khỏi nhà và đi men hàng rào xuống đường cái.

    Từ phía bên kia, chị theo các bậc gỗ xuống vũng tàu của họ. Trăng tròn chiếu sáng đường cho chị. Chị giẫm lên thứ gì đó, tạo nên một tiếng răng rắc to.

    - Anh đoán em sẽ tìm ra anh, - Michael nói và đưa chai rượu lên miệng.

    Jolene ngồi xuống ghế cạnh anh. Anh đã gầy một đống lửa trong cái lò sắt ở bên cạnh, và hơi ấm thoảng nhẹ sang phía chị.

    - Anh chắc em sẽ bảo say rượu là một ý tưởng tồi.

    Jolene thở dài. Sao họ lại đến nông nỗi này, và làm thế nào họ tìm được đường trở lại?

    Họ sẽ không tìm ra.

    Chị chìa tay ra, nói:

    - Em uống được không? - Chị cầm cái chai trên tay anh và uống một ngụm scotch đắng. Rượu trôi đến đâu, nóng bỏng đến đấy.

    - Chắc em bối rối lắm, - anh nói.

    Chị gật đầu. Bình thường, chị tránh xa rượu, phần vì tiểu sử gia đinh, phần vì sự nghiệp của chị. Chỉ một lượng nhỏ cũng đủ hại chị, và chị không bao giờ liều bất cứ việc gì gây rủi ro cho khả năng bay của chị.

    - Em cũng là người mà, Michael. Thực ra, lúc này uống say có vẻ hay đấy.

    - Anh sợ, Jo ạ, - anh nói khẽ. - Anh không biết liệu mình có xoay xỏa được không.

    Chị đợi anh nói thêm, và biết đâu anh sẽ vươn tay ra với chị. Khi anh không làm thế, chị quay nhìn anh.

    Nhìn nghiêng, ánh trăng mài sắc nét khuôn mặt anh, trông anh thờ ơ và lạnh nhạt. Chị thấy cách anh bĩu môi chê bai, như thể buông thả tí chút cũng hủy hoại anh, và chị ghét phải để anh lại lúc này, khi cuộc hôn nhân của họ đang trục trặc. Chị cần tin rằng anh vẫn còn yêu chị, hoặc anh có thể lại yêu chị.

    - Nhìn em đi, - Jolene nói.

    Anh uống thêm một ngụm lớn scotch rồi quay nhìn chị.

    Họ đủ gần nhau để trao nụ hôn; tất cả sẽ được xóa nhòa bằng cử động nhỏ nhất của một người, nhưng không ai chịu ngả sang người kia.

    - Đừng để bị thương ở đó nhé, Jo, - anh nói, cái nhìn chăm chú của anh bình thản.

    Chị nghe thấy một sự ân cần trong những lời chị ngỡ đã mất rồi, và nó làm chị tràn ngập một niềm hy vọng ngọt ngào và dịu dàng. Có lẽ họ có thể sửa chữa, có lẽ một khoảnh khắc tuyệt vời có thể đặt họ trở lại đúng đường. Ngay lúc này, chị cần anh đến mức không thể chịu nổi; chị cần được tiếp nhận tình yêu của anh dành cho chị.

    Từ tốn, chị đặt bàn tay quanh cổ anh và kéo anh gần hơn, chị hôn anh, nhưng ngay cả lúc tim chị đập gấp, niềm đam mê bùng cháy trong chị, chị vẫn cảm nhận được anh cố kìm nén. Giống như hôn một người xa lạ.

    Chị lùi lại, bẽ bàng.

    - Anh nhớ chăm sóc các con, - chị thì thầm.

    Nhưng anh lại uống tiếp và đăm đăm nhìn những con sóng dâng cuồn cuộn.

    - Thật quá tệ khi em nghĩ phải nói ra câu đó, - anh nói.

    Chị đứng dậy và trở về nhà, một mình.
     
  13. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Chín

    Michael thức dậy đơn độc. Từ lâu trước rạng đông, anh đã nghe thấy tiếng Jolene tỉnh giấc và xuống giường. Không bật đèn, chị mặc bộ đồ dã chiến rồi chộp lấy cái túi vải thô, chị ra khỏi phòng, khe khẽ đóng cửa lại sau lưng. Anh giả vờ ngủ; rồi anh nghe thấy một tiếng còi bên ngoài, Tami đến đón Jolene.

    Sau đó, Michael nằm một mình. Anh tưởng sẽ không bao giờ ngủ lại, nhưng không hiểu vì sao lại thiếp đi, và nhiều giờ sau mới thức giấc vì chuông báo thức reo inh ỏi cạnh giường anh.

    Lúc này đã là ban ngày. Anh đánh thức các con rồi đi tắm nước nóng thật lâu.

    Anh không hề nghĩ sẽ mặc gì trong buổi lễ xuất quân, vì thế anh mặc bộ thường phục màu chì than thông thường, hợp với áo len dài tay cổ chữ V, nhưng khi soi gương, anh nhìn thấy một người xa lạ. Cặp mắt đen của anh có một vẻ hãi hùng, những quầng thâm dưới mắt cho thấy sự thật nhiều tuần nay anh ngủ không ngon.

    - Bố ơi, - Betsy vào phòng, nó mặc quần bó màu trắng dài đến gối, chiếc áo len dài màu hồng có thắt lưng rộng bản màu bạc bó sát eo, đi đôi ủng Ugg. Mớ tóc dài vàng hoe của nó uốn thành nhiều búp quăn, thả đến giữa lưng.

    Trông Betsy như thể nó đang đến buổi thử giọng cho chương trình thiếu nhi Disney nào đó, nơi mọi người đồng thanh hát khi chiếc mũ rơi xuống.

    - Con có biết con đang mặc gì không? - Anh hỏi.

    - Bố không cần bảo con phải mặc gì.

    - Tại sao không? Bố là bố của con mà.

    Betsy ngước nhìn.

    - Con đến để nói với bố rằng Lulu sẽ không đi cùng bố con mình.

    - Con nói gì thế? Nó mới lên bốn.

    - Con biết tuổi của nó, bố ạ. Con chỉ nói nó không đi. Và nó đang đeo bờm.

    Michael không hiểu sự khác biệt mà cái bờm tạo ra.

    - Thôi được, - Michael thở dài, anh đã kiệt sức và bây giờ đã quá mười một giờ. - Ta đi thôi, - anh nói với Betsy và xuống hành lang.

    Phòng Lulu như vừa bị lục soát. Đồ chơi và quần áo tung tóe khắp nơi; chăn, ga trải giường bị kéo tuột xuống, nằm thành đống trên sàn.

    Lulu ngồi ở góc phòng, mặc bộ quần áo hóa trang thành mèo con màu xám tả tơi dịp Halloween, đôi chân gầy guộc của nó thu đến tận ngực. Mắt nó đỏ hoe, mọng nước vì khóc và má nó đầy vết bẩn.

    Anh nhìn đồng hồ. Họ đã muộn.

    - Đứng dậy đi, Lulu. Chúng ta không còn thời gian đâu. Bố con mình phải chào tạm biệt mẹ.

    Lúc anh cúi xuống, Lulu gào lên:

    - Bố không thể nhìn thấy con!

    Michael cau mày.

    Betsy chộp lấy cổ tay anh.

    - Lulu vô hình khi đeo cái bờm này.

    - Ồ, vì Chúa...

    - Lulu, - Betsy nói bằng giọng trầm bổng. - Em ở đâu thế? Chúng ta cần phải đi.

    Lulu không trả lời.

    Michael cảm thấy thấm thía tận đáy lòng và Jolene như chưa rời đi.

    - Chị biết Lulu sợ chào tạm biệt mẹ, nhưng mẹ cần những cái hôn của chị em mình, để làm phép cho mẹ an toàn, - Betsy nói.

    Lulu khóc òa lên. Bỏ cái bờm ra, nó đứng dậy.

    - Em không muốn mẹ đi. Mẹ sẽ về ăn tối chứ?

    Betsy nắm lấy tay em gái.

    - Không.

    - Thế sinh nhật em? - Lulu nói đầy hy vọng, và tóm chặt lấy cái bờm tai mèo nhàu nát. Nó đã hỏi câu này ít nhất mười lăm lần.

    - Đi nào, - Michael mệt mỏi nói. - Chúng ta cần thay quần áo cho con, Lulu.

    - Không! - Nó hét lên, trườn khỏi bố. - Con muốn bộ quần áo mèo con này cơ!

    - Bố nhượng bộ đi, bố. Hãy tin con, - Betsy nói.

    - Được, - Michael chán nản nói. Anh bế Lulu và ba bố con ra xe.

    Họ lái xe trong sự im lặng nặng nề, khó xử.

    Lúc họ đến đón mẹ Michael, bà cố lấp đầy sự im lặng bằng cách nói huyên thuyên, nhưng vẻ giả vờ lạc quan, sôi nổi của bà đã sớm tắt. Michael bật radio, để Clint Black hát thay cho tiếng họ.

    Đến trạm kiểm soát, Michael nhẹ nhàng dừng xe và xuất trình chứng minh thư của hai mẹ con anh cho một thanh niên vận quân phục trông rất nghiêm túc.

    - Mời ông qua, - cuối cùng người lính gác nói và đưa trả họ giấy tờ.

    Nơi đóng quân đang rất náo nhiệt. Ô tô, xe tải và binh lính mặc quân phục ở khắp mọi nơi. Betsy đọc bảng chỉ dẫn và đưa họ tới bãi đỗ xe, ở đó họ thấy một tấm biển thông báo lễ xuất quân tổ chức trong nhà chứa máy bay.

    Bốn người lặng lẽ đi tới đó, một tòa nhà khổng lồ, các phía mở toang, đầy những máy bay lên thẳng, máy bay vận tải và nhiều máy bay nhỏ hơn. Một khu vực đã được dọn sạch máy bay, thế chỗ là những hàng ghế bằng kim loại. Người ta đã đặt một đài bằng gỗ dọc bức tường màu đen. Một màn hình ti vi cỡ đại ở bên trái. Một biểu ngữ lớn rủ từ các xà nhà, viết CHÚC CÁC RAPTOR AN TOÀN.

    Một cặp trực thăng Black Hawk ở trung tâm nhà chứa máy bay, đầy trẻ con và các bậc cha mẹ. Trước mặt họ, một cái bàn dài, thấp để những cuốn sách hướng dẫn đủ các vấn đề, từ PTSD(*) đến phòng ngừa nạn tự tử tại các trại hè thiếu nhi.

    Họ ngồi xuống ghế ở hàng đầu. Lulu cuộn tròn trên lòng Michael, mút ngón tay cái, nó thậm chí không buồn giả vờ đã bỏ thói quen đó. Ba mươi phút sau, nơi này đã đầy ắp người - phần lớn là phụ nữ, trẻ con và những người đàn ông già cả - họ giơ cao những tờ áp phích và hoa. Cạnh các trực thăng, một đội phóng viên thời sự đã tụ tập; một phụ nữ xinh đẹp mặc trang phục xanh lơ đang nói vào micro.

    Lúc đó, cửa ngách bật mở và một đám đông lặng lẽ đi vào. Nhạc nổi lên, năm người lính mặc quần áo dã chiến nhét vào giày ống màu cát có dây buộc, mũ nồi đội lệch lịch sự, bước đều theo hàng một, chơi các nhạc cụ. Hết bài, ban nhạc đứng thành một hàng ven tường. Họ đứng thẳng tắp, vươn cao, vai rộng, cằm ngước lên, chăm chú nhìn thẳng vào hàng cờ đằng trước.

    (*) PTSD: Hội chứng trầm cảm sau chấn thương.

    Trên bục, một người đàn ông vận quân phục tiến đến micro, chào mừng mọi người đến dự ngày trọng đại này. Sau đó, ông ta quay người ra lệnh, các cửa của nhà chứa máy bay khổng lồ từ từ, từ từ mở. Các trục lăn tạo thành âm thanh kin kít, sắc gọn tràn ngập căn phòng. Các cửa tách ra, để lộ những người lính mặc quân phục, bảy mươi sáu người cả thảy, tạo thành phi đội Raptor.

    Họ đứng bên ngoài, mặt như tạc bằng đá, trông sẵn sàng ra đi. Vợ anh ở hàng đầu, cao ráo, mạnh mẽ đến thế giữa gia đình khác của chị. Chuẩn úy bậc 3 Zarkades. Anh hầu như không nhận ra chị. Chị là sĩ quan được giao một máy bay trị giá bốn mươi triệu đô la và vô số sinh mạng.

    Một người lính đứng trước toàn đội, hô câu gì đó kết thúc bằng “bồng súng, chào!”, cả phi đội Raptor chào và đi đều bước vào nhà chứa máy bay.

    - Thưa các quý ông, quý bà, mời các vị vui lòng đứng lên hát quốc ca.

    Michael quan sát mọi sự như thể từ một nơi xa tít tắp. Lúc quốc ca chấm dứt, các phi công được điều động tập hợp và đứng chân tách ra, bàn tay chắp sau lưng lúc chỉ huy căn cứ giới thiệu diễn giả. Hai người đàn ông vận quân phục tiến hành nghi lễ với một lá cờ - họ cuốn cờ vào trong một cái hộp và cất đi. Nó sẽ không được mang ra lần nữa, cho đến khi các đơn vị từ cuộc chiến trở về.

    Thống đốc bang Washington bước lên bục. Nhà chứa máy bay im lặng, trừ tiếng khóc của bọn trẻ trong tay mẹ.

    - Các vị đều biết những nam nữ quân nhân đứng trước tôi đây, - ông bắt đầu. - Họ là anh trai, em gái, hàng xóm, cha mẹ, con cái và bạn bè của chúng ta. Họ là những người hùng của chúng ta. Thưa các binh sĩ và các gia đình, thưa toàn thể những người ủng hộ các đội quân của chúng ta, không lời nào có thể diễn tả nổi lòng biết ơn sâu sắc của chúng tôi. Chúng tôi được ở lại nhà, được bảo vệ, chúng tôi nhận thức và biết ơn sâu sắc lòng can đảm và đức hy sinh của các bạn. - Thống đốc ngước khỏi bài viết và ngả gần micro. - Đứng trước tôi là trung đội Charlie sẽ xuất quân hôm nay. Tất cả chúng ta đều có thể tự hào vì tinh thần tự nguyện của họ, sẵn sàng phục vụ đất nước vĩ đại này của chúng ta, và được an ủi rằng mỗi người lính đều sẵn sàng, được huấn luyện và chuẩn bị nối bước trong sự sốt sắng hết lòng. Chúng ta trong căn phòng này đều biết rằng không gì hơn lòng can đảm của những người lính này và của các bạn, gia đình của họ. Tôi đã được vinh hạnh nói chuyện với nhiều người lính dũng cảm của bang chúng ta, và câu tôi thường hỏi họ là: “Mối bận tâm lớn nhất của bạn trong việc điều động này là gì?”. Các bạn sẽ không hề ngạc nhiên khi nghe thấy rằng không một ai lo lắng vì sự an toàn cá nhân. Họ chỉ lo về các bạn. Nói lời tạm biệt với những người thân yêu là hành động khó khăn nhất với bất kỳ người lính nào. - Thống đốc ngừng lại. - Không có lời nào để chúng ta, một dân tộc đầy lòng biết ơn có thể nói với trung đội Charlie ngoài câu cảm ơn các bạn. - Ông nhìn đoàn quân. - Sự tự nguyện của các bạn đặt mình vào nơi dễ bề tổn hại để bảo vệ chúng tôi ở đây, ở quê hương này thật khiêm tốn. Chúng tôi xin nói lời cảm ơn các bạn và cầu nguyện các bạn sẽ được an toàn. Chúa phù hộ cho đơn vị này và Chúa phù hộ nước Mỹ.

    Một người lính hô to:

    - Hạ sĩ. Xin cho các chiến binh gặp gia đình.

    Mọi lời sau đó đều bị chìm trong tiếng vỗ tay giòn giã. Khán giả đứng phắt dậy, vỗ tay và khóc, ào ào chạy tới các đội quân.

    Michael không thể nhúc nhích. Anh ngắm những người lính đi qua anh, tìm kiếm gia đình, không người nào trông có vẻ sợ hãi. Trông họ đầy tự hào. Khỏe khoắn. Đáng tin cậy.

    Xa xa về phía trước, anh nhìn thấy Jolene và Tami đi cùng nhau. Một nhóm phóng viên đang trò chuyện với họ. Lúc đến gần, anh nghe thấy một phóng viên nói:

    - Hai người bạn thân nhất là phụ nữ và ngẫu nhiên đều lái Black Hawk. Đó là cả một câu chuyện...

    Jolene nói:

    - Chuyện đó không có gì khác thường như bạn nghĩ đâu. Tôi xin lỗi. - Chị chúi đầu tránh dãy máy quay phim và tiến tới chỗ Mila đang len qua đám đông.

    Nhìn đâu, Michael cũng thấy nỗi buồn đau xé ruột và sự can đảm. Anh trông thấy một người đàn ông mặc quân phục bế đứa trẻ chưa đầy một tháng tuổi. Người lính đăm đăm ngắm đứa con, mắt anh ta ướt, như thể đang cố hình dung mọi sự biến đổi trên gương mặt nhỏ bé này trong lúc anh đi xa. Bên cạnh anh ta, một phụ nữ có thai ôm ghì chồng, vừa nức nở vừa hứa rằng cô sẽ ổn trong lúc vắng anh.

    Còn kia là Jolene đang ôm chặt mẹ anh đến mức trông như họ gắn vào nhau.

    Lulu ôm chặt cổ Michael.

    - Nhanh lên, bố. Mẹ đi mất đấy.

    Michael tiến tới chỗ vợ. Anh không mong đợi bất kỳ điều gì trong việc này. Làm sao lại thế được? Anh vốn tự hào vì trí thông minh của mình, nhưng anh đã lầm, đã đui mù vì sự ích kỷ, vì chính kiến hoặc vì quá say mê công việc trí óc. Trong nhiều năm, anh xem các bản tin thời sự về cuộc chiến toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố và theo dõi hình ảnh những người lính trong sa mạc, anh nghĩ mọi chuyện này là hoạt động chính trị, cả những vũ khí hủy diệt hàng loạt, lời tuyên bố của George W.(*) về cuộc chiến, sự tài giỏi về mặt vũ trang và cử các đội quân ra trận. Anh tranh luận với các đồng nghiệp về cuộc chiến, trong lúc anh ngồi an toàn, ấm áp và được che chở tại đất nước mình. Anh tranh cãi về cái giá thực sự của chiến tranh.

    (*) George Bush, sinh năm 1946, là Tổng thống thứ 43 của Mỹ. Ông đã tuyên chiến chống chủ nghĩa khủng bố sau khi bị bọn khủng bố tấn công tòa Tháp đôi ngày 11 tháng Chín năm 2001.

    Hóa ra, anh chẳng biết gì hết. Cái giá của chiến tranh là đây, trong căn phòng này. Đó là những gia đình bị xé toạc và những đứa trẻ sinh ra không có cha ở nhà, những đứa trẻ đang quên dần mặt mẹ. Đó là những người lính - vài người trong số họ trạc tuổi anh, còn những người khác trẻ đến mức chỉ đáng tuổi con trai anh - sẽ bị thương tật khi trở về nhà... hoặc sẽ không bao giờ trở về nữa.

    Vợ anh sắp ra trận. Chiến tranh. Sao anh lại bỏ lỡ phần quan trọng nhất của cuộc chiến? Chị có thể chết.

    - Anh thở sâu đi, - Jolene nói dịu dàng.

    Michael nhìn chị chăm chú, cặp mắt sáng của anh đầy nước mà anh cố kìm lại.

    - Sao em có thể làm việc này? Bất kỳ ai trong số đó...

    Lulu nhoài ra khỏi tay bố, với tới Jolene, chị giơ tay ra.

    - Mẹ ơi, đừng bỏ con. Con sẽ ngoan mà. Con sẽ không tàng hình nữa đâu.

    Jolene kéo đứa con gái nhỏ của chị vào vòng tay và ôm nó thắm thiết.

    - Con là cô bé ngoan nhất trên đời, Lucy Lou... - Chị ghim lại một cái cánh nhỏ màu vàng trên bộ quần áo của Lulu. - Khi con nhìn vào những cái cánh này, con sẽ biết mẹ đang nghĩ đến con, Lulu à. Thế nhé?

    Michael giơ tay, nắm lấy bàn tay Jolene. Lẽ ra anh phải làm việc này từ trước, nói với chị rằng anh ở đây vì chị. Chị siết tay anh mạnh đến mức phát đau. Anh muốn vòng tay ôm cả hai mẹ con, nhưng không dám. Nếu anh đến đủ gần để hôn chị, có lẽ anh sẽ ngã quỵ và là người đàn ông duy nhất trong phòng phát khóc. Các con anh không nên nhìn thấy cảnh này.

    Betsy đứng ở phía sau, tay khoanh lại, một bên hông vẹo ra, miệng nó mím lại khắc nghiệt.

    - Mẹ sẽ gửi băng video và e-mail. Mẹ sẽ gọi điện bất cứ khi nào có thể, - Jolene hứa thế với tất cả.

    - Chúng ta sẽ ổn thôi, - Mila nói với Jolene, bà ôm ghì chị và bế Lulu. - Con đừng lo cho chúng ta.

    Jolene tới chỗ Betsy, vuốt má nó, buộc nó phải ngước lên.

    - Mẹ phải đặt lại đồng hồ cho đúng. Còn con?

    - Bảy giờ, - Betsy nói kiên quyết và ngoảnh đi.

    Jolene cúi xuống, nhìn vào mắt Betsy.

    - Mẹ yêu con rất, rất nhiều. - Chị ngừng lại. Michael biết chị đang đợi. Anh nghĩ: trả lời mẹ đi, Bets, nhưng sự im lặng cứ treo lơ lửng ở đó, cho đến lúc Jolene thẳng người lên, trông buồn không chịu nổi.

    Đằng sau họ, có tiếng nói qua loa, thông báo binh lính tập hợp ở các xe buýt. Đám đông bắt đầu di chuyển như một làn sóng, phồng to lên lúc tới các cửa.

    Khi họ ra ngoài, đám đông các binh sĩ thẳng lưng đeo túi vải thô giữa gia đình đang khóc lóc và với lấy con cái. Một dãy xe buýt đợi trên đường.

    - Con sẽ ngoan mà, - Lulu nói và khóc to.

    Jolene hôn các con, ôm chúng thật chặt và rồi... buông chúng ra.

    Michael quan sát cử động của chị tới anh. Trong thoáng chốc, tâm trí anh chỉ còn hai người - không con cái, không binh lính, không có những đứa trẻ đang khóc nhèo nhẽo. Mọi vật quanh họ là một đám lờ mờ của âm thanh và cảm xúc cao độ.

    Anh không biết làm gì hoặc nói gì. Anh không thể sửa chữa cuộc hôn nhân đã tan vỡ bằng một nụ hôn hoặc cái động chạm, nhưng anh xấu hổ vì việc mình đã làm khiến cả hai rơi vào tình cảnh này, và bây giờ đã quá muộn để sửa chữa.

    - Michael, - chị nói và anh cảm thấy mắt cay xè. - Hãy bảo trọng.

    Lời từ biệt mới ngắn ngủi làm sao; nó càng chứng tỏ bãi cát ngầm mà họ mắc phải.

    - Em hãy tự chăm sóc bản thân. Về nhà với...

    - Các con ư?

    - Chỉ cần biết chắc là em trở về. - Rốt cuộc, anh kéo chị vào vòng tay và ôm chị thật chặt. Không cần đến lúc chị bước đi anh mới nhận ra chị không ôm đáp lại anh.

    Với cái nhìn thống khổ cuối cùng, Jolene biến mất vào đám đông binh lính và lên xe buýt.

    - MẸ ƠI! - Betsy gào to và chạy suốt chiều dài chiếc xe, theo bước đi của mẹ. Tiếng nó chìm nghỉm trong những âm thanh ầm ĩ hỗn loạn kéo dài.

    Michael bế Lulu đang khóc thổn thức và cố dỗ nó, nhưng nó quá kích động.

    Trên ghế sau của xe buýt, Jolene hạ cửa kính xuống. Chị chằm chằm nhìn xuống gia đình mình; nụ cười chị cố tặng cho họ gượng gạo lúc xe chạy.

    Và lúc đó, chị khuất hẳn.

    - Con đã không nói “Con yêu mẹ”, - Betsy nói và òa khóc.

    Trong nhiều tháng trước khi vợ anh ra đi, Michael đã ngủ ở “phía của anh” trên giường. Anh đã thấy một dòng vải trắng nhàu nhĩ giữa họ như mảnh đất-không-người, nơi đam mê đã tắt ngấm. Giờ đây, sáng nay khi thức dậy thực sự chỉ có một mình, anh thấy nó mới sai lầm làm sao. Trong suốt bao đêm ròng ấy, anh đã có một người vợ bên cạnh, người đã chia sẻ cuộc đời với anh. Cô đơn khác hẳn với tách rời, khác biệt vô vàn. Đêm qua, anh đã nhiều lần vươn tay tìm chị, nhưng chỉ thấy trống vắng.

    Ý nghĩ đầu tiên khi anh tỉnh giấc là: cô ấy đi rồi.

    Anh ngồi dậy trên giường. Trên bàn cạnh giường là cuốn “cẩm nang” của chị, tập giấy gáy xoắn ghi một danh sách vô tận những việc nhà thuộc trách nhiệm mới của anh. Trong đó, chị đã ghi mọi việc chị cho là anh có thể cần đến - giấy bảo hành các thiết bị, hóa đơn, danh sách những người thợ máy, người lau dọn nhà cửa và người trông trẻ. Anh với lấy và mở đến phần “Kế hoạch hàng ngày”.

    Làm bữa sáng. (Mỗi sáng, phải trù tính bữa ăn cẩn thận).

    Bảo các con mặc quần áo. Phải biết chắc chúng đã đánh răng.

    Đưa Betsy đến xe buýt của trường. Xe đến lúc 8 giờ 17 phút.

    Đưa Lulu đến trường mẫu giáo, 8 giờ 30 phút. Chị ghi cho anh một địa chỉ khiến anh nổi khùng, vì chị cho rằng anh sẽ cần đến và vì thực ra, anh cần thật.

    Anh quăng tấm chăn đắp và ra khỏi giường, loạng choạng vào buồng tắm. Sau khi tắm nước nóng thật lâu, anh cảm thấy sẵn sàng bắt đầu ngày của mình. Mặc quần len màu xanh nước biển và sơ mi Armani trắng mới cứng, anh rời phòng.

    Lúc xuống hành lang tối tăm, anh gõ cửa phòng các con và gọi chúng dậy.

    Xuống dưới nhà, anh pha một bình cà phê và nhận ra đã quá muộn đủ để pha hai bình. Rồi anh đứng đó, sốt ruột đợi. Cà phê vừa được, anh kéo cái bình thủy tinh và rót cho mình một tách.

    Chỉ thế cũng không xong; cà phê chảy xuống, bắn tung tóe làm khét tấm thảm bên dưới. Anh đẩy cái bình về chỗ cũ, mặc kệ tiếng xì xì tức giận và nhìn bản danh sách.

    Bữa sáng nay là bánh kếp “chú hề”.

    Ái chà.

    Thay vào đó, anh lục tủ và tìm thấy gói ngũ cốc, anh ném nó lên bàn. Quẳng mấy cái bát và thìa bên cạnh, anh chộp tờ báo trên hiên và ngồi xuống đọc.

    Lần sau nhìn lên, anh thấy đã 8 giờ 7 phút.

    - Khốn kiếp. - Anh ném tờ báo xuống và chạy lên gác, mở tung cửa phòng Betsy.

    Con gái anh vẫn đang ngủ.

    - Khỉ thật, Betsy, dậy đi.

    Nó uể oải ngồi dậy trên giường, chớp chớp mắt và ngái ngủ liếc nhìn đồng hồ cạnh giường rồi kêu toáng lên.

    - Bố không đánh thức con đúng giờ! - Vào bất cứ lúc nào khác, vẻ hoảng sợ trên mặt nó ngộ nghĩnh biết bao. Anh biết Betsy có tính chính xác y như mẹ, nó ghét phải hối hả, cập rập.

    - Bố đã gõ cửa phòng con và quát gọi con, - anh nói, đan hai tay vào nhau. - Đi nào.

    - Con không có thời gian. Con không có thời gian. - Nó nhảy khỏi giường và soi gương. - Tóc con, - nó rên rỉ.

    - Con có năm phút ở bên bàn để ăn sáng.

    - Không tắm à? - Lại hoảng hốt. - Bố không thể làm thế.

    - Ồ. Bố định thế. Con đã mười hai tuổi. Sao con bẩn thế? Đi thôi.

    Nó nhìn anh trừng trừng.

    - Nhúc nhích lên nào. - Anh sải bước xuống hành lang tới phòng Lulu. Như thường lệ, đứa con gái nhỏ của anh ngủ dang tay dang chân trên chăn, một vườn thú nhồi bông tụ tập xung quanh. Anh quăng đồ chơi sang một bên và hôn lên má con, gạt mớ tóc rối bù của nó sang một bên. - Lulu, đến giờ dậy rồi, con yêu.

    - Con không muốn, - nó nói rồi lăn khỏi anh.

    - Đến giờ đi mẫu giáo rồi.

    - Con không muốn.

    Anh bật đèn và đến tủ quần áo. Mở ngăn trên cùng, anh rút bộ quần áo lót in hoa màu hồng xinh xắn và một cái quần nhung kẻ màu vàng, cạp lồng chun và áo len dài tay màu xanh.

    - Mặc vào đi Lulu, chúng ta cần mặc quần áo cho con.

    - Bố ơi, đây là quần áo mùa hè. Chúng không hợp nhau đâu. Lấy cái áo len dài tay màu vàng cơ.

    - Con đang mặc áo ấy rồi.

    - Con không.

    - Có đấy.

    - Mẹ cho con chọn...

    - Lại đây, Lucy, - anh nói nghiêm khắc.

    Nhăn nhó, nó trèo xuống giường và bước tới chỗ bố. Trong lúc anh mặc quần áo cho con, nó cứ kêu ca suốt.

    - Đấy, - anh nói khi nó đã mặc xong. - Đẹp như một bức tranh nhé.

    - Trông con xấu lắm.

    - Không thể nào.

    Nó vươn tay lấy đôi cánh trên nóc tủ áo.

    - Gắn nó lên cho con đi, bố. Nó có nghĩa là mẹ đang nghĩ đến con. Ái! Bố chọc vào con.

    - Bố xin lỗi, - anh lẩm bẩm. Nhấc con lên, anh bế nó xuống dưới nhà và vào bếp. Anh đặt con vào ghế rồi rót cho nó một bát ngũ cốc.

    - Hôm nay là ngày bánh kếp chú hề, - nó quả quyết thông báo và nhìn xuống đôi cánh. - Nhìn lịch mà xem.

    - Là ngày Captain Crunch.

    - Ngày đó rất đặc biệt. Mẹ có về nhà không ạ?

    - Không phải hôm nay. - Anh rót sữa vào bát cho Lulu.

    Betsy chạy vào bếp và dừng sững lại.

    - Con không thể đến trường như thế này được, - nó vừa kêu vừa dang rộng cánh tay rất kịch. - Nhìn tóc con này.

    Trông nó gần như vừa trải qua liệu pháp sốc điện.

    - Cho một vật cong cong vào tóc đi.

    Mắt Betsy mở to vì ý nghĩ đó, mặt nó tái nhợt.

    - Bố đang phá hỏng cả đời con.

    - Mẹ vẫn chưa về nhà, - Lulu nói và òa khóc.

    - Ăn đi, - Michael gắt Lulu, và bảo Betsy, - ngồi xuống. Ngay bây giờ.

    Anh nghe thấy tiếng vào số ken két, tiếng lách cách của động cơ cũ ở bên ngoài. Nhìn qua cửa sổ bếp, anh thấy bóng mờ màu vàng của chiếc xe buýt nhà trường đỗ ở cuối con đường xe nhà anh.

    - Con muộn mất rồi, - Betsy rít lên. - Bố thấy chưa?

    Michael chạy ra cửa sau và đẩy tung cánh cửa, anh hét to:

    - Đợi đã...

    Nhưng đã quá muộn. Chiếc xe buýt đang chạy đi.

    Anh đóng sầm cửa.

    - Mấy giờ con bắt đầu học? Cái đó không ghi trong cái danh sách của nợ kia.

    Betsy trừng trừng nhìn anh.

    - Bố thậm chí không biết sao?

    - Ăn đi. Rồi đánh răng. Hai phút nữa chúng ta sẽ đi.

    - Con sẽ không đến tiết đầu, - Betsy nói. - Ôôôôôi, không, con không. Zoe đang học lớp đó. Cả Sierra. Chúng nó nhìn thấy tóc con thì...

    - Con sẽ đi học. Bố phải bắt kịp chuyến phà. - Michael nhìn đồng hồ treo tường và nhăn mặt. Anh sẽ lỡ chuyến phà, có nghĩa là anh sắp lỡ cuộc gặp đầu tiên trong ngày.

    Betsy khoanh tay lại.

    - Con tuyệt thực.

    - Được, - anh gắt. - Chịu đói nhé. - Anh chộp các đĩa cho vào bồn rửa, ngũ cốc, sữa và tất tật mọi thứ. Trong phòng quần áo bẩn, anh tìm thấy đôi ủng cao su màu hồng của Lulu và nhặt lên.

    Trong bếp, Betsy không nhúc nhích. Nó ngồi trên ghế, trông đầy chống đối, cằm nhô ra và mắt nheo lại.

    - Con sẽ không đến muộn. Mọi người sẽ nhìn con chòng chọc, - nó nói.

    - Con tưởng con là ai hả, Madonna chắc? Một ngày tóc xấu cũng không thể nghỉ học. Cầm lấy ba lô.

    - Không.

    Michael nhìn con.

    - Lấy ba lô và sẵn sàng đi, Betsy, hoặc bố sẽ nắm tay con, dẫn đi bộ đến tiết học đầu tiên.

    Nó há miệng kinh hãi, rồi ngậm lại.

    - Gì cũng được. Con sẽ đi.

    Anh nhìn qua bếp tới phòng giải trí, nơi Lulu nằm cuộn tròn trên đi văng, đắp chăn và một con cá kình nhồi bông, đang xem video Jolene đọc cho nó nghe một câu chuyện.

    - Lulu, lại đây bố đi ủng cho nào. Lulu. Lại đây.

    - Nó đang đeo bờm, - Betsy nói cứng nhắc.

    Michael vào phòng giải trí và bế Lulu lên. Cử chỉ này làm chiếc bờm tuột khỏi đầu Lulu.

    - Con đang tàng hình! - Nó hét lên.

    Anh bế nó vừa la hét vừa kêu ré lên ra xe và cài dây an toàn cho nó. Betsy im thin thít và trừng trừng nhìn, trèo vào cạnh em gái.

    Lulu khóc òa lên.

    - Con muốn mẹ cơ!

    - Ừ, - Michael nói và khởi động xe. - Chúng ta ai chẳng muốn?

    Tuần lễ đầu tiên vắng Jolene gần như ghìm Michael xuống tận đất. Anh không còn biết phải làm bao nhiêu việc ở nhà và với bọn trẻ. Nếu mẹ anh không có sinh lực vô tận như thế, chắc anh phải thuê người giúp việc cả ngày. Bà là phao cứu sinh, không còn nghi ngờ gì nữa. Jolene đã thu xếp việc chăm sóc Lulu sau giờ học, kéo dài đến tận bốn giờ. Có nghĩa là mẹ anh có thể làm việc cho đến gần bốn giờ, sau đó đón Lulu từ nơi chăm sóc và đến nhà Michael đúng lúc gặp Betsy để nó không bao giờ phải về ngôi nhà trống vắng - một trong những thông lệ nghiêm ngặt nhất của Jolene. Sáu giờ, khi Michael về đến nhà, mẹ anh đã bắt đầu nấu bữa tối và làm xong các việc giặt giũ. Bà đang đỡ đần phần lớn gánh nặng cho anh.

    Mặc dù vậy, anh vẫn không làm việc tốt được. Betsy là một người mau lẹ, hình như anh chưa bao giờ lường trước được phản ứng của nó với các việc đơn giản nhất. Nó có thể khóc tướng lên chẳng vì lý do gì rồi năm phút sau nổi điên lên như một con ong bắp cày. Quản lý Lulu cũng chẳng dễ hơn mấy tí. Hầu như lúc nào nó cũng đeo cái bờm tai mèo màu xám nhàu nhĩ. Nó thề rằng sẽ “tàng hình” cho đến khi Jolene về nhà, và khi Michael phớt lờ trò chơi và bế nó lên, nó la hét như con yêu tinh và nức nở rằng nhớ mẹ.

    Còn vụ Keller, đang cho thấy mọi dấu hiệu trở thành một tai họa. Keith vẫn không chịu nói gì với mọi người, kể cả với chuyên gia tâm thần do tòa chỉ định. Michael đã khước từ quyền lợi của thân chủ cho đến phiên tòa xử nhanh, vào lúc mà khả năng chịu đựng phiên tòa là một việc hợp pháp.

    Điện thoại nội bộ của anh reo vo vo.

    - Anh Michael? Ông Keller đang ở đây xin gặp anh.

    - Đưa ông ấy vào. - Michael gập hồ sơ và mở sẵn một tập giấy.

    Edward Keller chậm rãi bước vào phòng, trông căng thẳng. Ông ta là một người to lớn, có mái tóc đen cắt ngắn và bộ ria đen rậm rì. Nom ông ta xanh xao và đẫm mồ hôi trong chiếc sơ mi len kẻ ca rô và quần jeans Wrangler.

    Michael đứng dậy, chìa tay ra:

    - Chào ông Ed. Tôi là Michael. Cuối cùng, rất vui được gặp ông.

    Ed bắt tay anh.

    - Vợ tôi sẽ không đến đâu. Bà ấy đã cố... bà ấy chỉ không thể trò chuyện về việc này. Emily giống như con gái chúng tôi vậy. Thật khó mà...

    - Tôi hiểu, - Michael nói, và anh hiểu thật. Anh đã sống trong thế giới của tội phạm và nạn nhân; thỉnh thoảng anh chứng kiến nỗi đau buồn đi cùng với nhận thức người thân của mình phạm một tội ác cực kỳ ghê tởm mới kinh khủng làm sao. Trong vụ này, Ed và vợ ông ta là những nạn nhân bị bỏ quên như thế.

    - Nó không nói chuyện với tôi, - Ed nói. - Nó chỉ ngồi đó, nhìn trừng trừng vào tường.

    - Nói thẳng ra nhé, ông Ed ạ, hiện nay đấy là vấn đề thực sự của chúng ta. Người duy nhất đang sáng tác ra cuộc trò chuyện là ủy viên công tố quận, và tôi không thích những điều ông ta nói. Họ quy cho Keith tội giết người cấp độ thứ nhất, và tuyên bố rằng có một nhân chứng sẽ tuyên thệ là Keith đã thú nhận tội giết người.

    Trông Ed rất khổ sở. Người đàn ông sụp xuống ghế.

    - Nó là một đứa tốt. Được nhiều người yêu mến. Tính nó thân thiện. Là loại thanh niên sẽ hỏi anh nếu anh cần xách hộ trong cửa hàng tạp phẩm và hỏi thăm công việc của anh ra sao. Nó đã hẹn hò nhiều cô gái, loại cổ động viên, và vui chơi trong trường trung học, nhưng khi gặp Emily, nó biết ngay con bé là người nó cần.

    - Vậy bắt đầu trục trặc từ khi nào?

    - Gì kia?

    - Cuộc hôn nhân.

    - Ồ. Chưa bao giờ hết.

    - Ông Ed, - Michael nói một cách điềm tĩnh. - Có gì đó trục trặc đấy.

    Ed nhìn xuống đôi bàn tay mình.

    - Chúng tôi đã tự hỏi câu đó hàng triệu lần. Hình như nó bị trầm cảm? Mình có nghe thấy chúng nó cãi nhau không? Nó có bao giờ nói nó bất hạnh không? Gia đình tôi đã xem xét việc đó đủ kiểu cho tới hôm Chủ nhật. Chúng nó có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, chúng tôi nghĩ thế. Con bé nôn nóng đợi thằng bé từ Iraq về nhà. Nó viết thư cho chồng hàng ngày.

    Michael đột ngột ngước lên.

    - Iraq ư? Trong hồ sơ tôi có ở đây chưa hề nhắc tới việc cậu ta phục vụ ở Iraq. Chỉ nói cậu ta là một lính thủy đánh bộ đã giải ngũ một cách vinh dự.

    - Nó đã phục vụ hai lần. Khi về nhà lần thứ hai, nó không còn như trước nữa.

    - Ông định nói gì vậy?

    - Tất cả chúng tôi đều thấy nó đã thay đổi. Nếu anh làm nó hoảng hốt - mà làm điều đó dễ lắm -, nó có thể chống lại anh nhanh đến mức làm anh tắt thở. Tôi biết nó ngủ không nhiều. Emily kể với tôi rằng nó bắt đầu để một khẩu súng đã lên đạn ngay cạnh giường. Xin Chúa cứu giúp con, tôi đã bảo con bé là một người đàn ông cần bảo vệ gia đình mình.

    Michael ghi PTSD và gạch dưới chữ đó.

    - Theo ông biết, cậu ta có từng đánh đập Emily không?

    - Trong vài ngày cuối, trước khi... anh biết đấy, tôi đã băn khoăn về việc này. Keith cáu kỉnh và lo lắng. Trong bữa tối của gia đình, nó nổi nóng với em trai chẳng vì lý do gì. Nhìn vào mắt nó, tất cả chúng tôi đâm sợ. Nó không còn là Keith của chúng tôi. Khi tôi hỏi thăm nó, nó bảo đã uống quá nhiều cà phê, nhưng tôi không tin. Tôi nghĩ đến mọi chuyện đã xảy ra với nó ở Iraq và chính vì thế nó giết Emily.

    Michael bổ sung vào ghi chép: Chuyện gì đã xảy ra ở Iraq? Bị giáng chức?

    - Cậu ấy có được giúp gì không?

    - Nó đã thử. VA(*) đã tống nó ra cùng một đơn thuốc Prozac(*).

    Michael gõ gõ cây bút lên bàn, nghĩ ngợi. Vậy là thân chủ của anh đã cố xin quân đội giúp đỡ và bị từ chối. Thế là tốt. Và không có gì ngạc nhiên.

    - Tốt lắm, Ed. Tôi sẽ nghiên cứu dựa trên những điều ông vừa kể, nhưng tôi cần nói chuyện với Keith, và cần Keith nói chuyện với chuyên gia tâm thần. Tôi cần việc đó diễn ra nhanh chóng.

    - Nó sẽ không...

    - Nếu cậu ấy không chịu, cậu ta sẽ vào tù, Ed ạ. Chắc chắn là chung thân.

    Trông Ed như bị đánh, đúng như Michael dự tính. Trong khoảng im lặng tiếp theo, Michael thở dài.

    - Tôi không muốn làm ông sợ, nhưng tôi không thể giúp con trai ông nếu cậu ta không chịu nói chuyện với tôi. Mỗi câu chuyện đều có hai phía. Tôi cần phía của cậu ta.

    - Tôi sẽ bảo nó nói, - Ed nói.

    Michael nhìn ông ta chăm chú.

    - Hãy làm đi, Ed, và nhanh lên.

    (*) Cục Cựu chiến binh.

    (*) Thuốc chống suy nhược.
     
  14. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mười

    Tuần lễ đầu tiên ở Fort Hood trôi qua trong một mớ những giờ học, phân công, các công việc bàn giấy và bài giảng. Jolene phục vụ trong quân ngũ đã khá nhiều năm, đến mức chị quên bẵng tệ quan liêu trong sinh hoạt quân sự là chuyện bình thường, một ngày trải qua trong cảnh “gấp rút để đợi” ra sao. Chị trải qua bảy ngày cuối cùng chỉ đứng trong hàng này hoặc hàng khác - hoặc có vẻ như thế. Họ xếp hàng lĩnh quân trang, nghe giảng, chờ ký đủ loại giấy tờ. Nào quy trình sẵn sàng của người lính, và nhiều xét nghiệm, kiểm tra y tế khác, những buổi bắn súng, cân đối tài chính và cập nhật hồ sơ cá nhân.

    Ở Ford Hood, ngày bắt đầu từ sớm, ăn sáng lúc bốn rưỡi. Ngay sau đó là những môn học về đủ mọi thứ họ cần biết ở Iraq: nhện, bọ cạp và các IED(*), nạn quấy rối tình dục, chiến tranh hóa học. Danh sách cứ dài, dài thêm mãi. Tệ nhất là xếp hàng gọi điện. Jolene đã được khuyên nên để điện thoại di động lại nhà, vì dù sao nó cũng không hoạt động ở Iraq. Nghe theo lời khuyên đó là một sai lầm. Và thế là, chị mất nhiều thời gian rảnh xếp hàng gọi điện về nhà. Thường khi đến lượt chị đã quá muộn để trò chuyện với các con. Vài cuộc nói chuyện với Michael đều ngắn ngủi và rỗng tuếch. Không ai nói anh yêu em/ em yêu anh trước khi gác máy. Rồi sau đó, chị càng cảm thấy lẻ loi hơn cả trước khi gọi điện.

    (*) Thiết bị gây nổ tức thì.

    Lúc này, trung đội Charlie ở ngoài trời, dưới cái nắng Texas chói chang, mang đầy đủ quân trang quân dụng, đi theo con đường đất màu đỏ xỉn. Jamie dẫn đầu; một con diều hâu lẻ loi tò mò lượn vòng trên đầu, chắc nó không hiểu vì sao những người lớn mặc quân phục, đội mũ sắt, vũ trang bằng các khẩu M-16 và 9 ly này lại chạy loanh quanh trong tiết trời nóng nực nhường này. Họ dạt sang một bên đường và tìm kiếm các IED tưởng tượng.

    Chị biết đây là việc quan trọng, thậm chí là cứu hộ, nhưng họ là một đơn vị không quân yểm hộ - lấp đầy - cho một phi đội chiến đấu. Nếu chị ở trong chiếc Humvee(*) trên một con đường tại thành phố Sadr hoặc Baghdad(*), sự việc sẽ đủ nghiêm trọng để một IED là thứ duy nhất phải lo.

    Con người thật lạ lùng.

    Lúc họ kết thúc buổi huấn luyện và tới nơi tập bắn súng trường, mồ hôi Jolene đã đầm đìa dưới mũ sắt, đến mức nước chảy vào mắt chị.

    - Zarkades, bắn ở chỗ này!

    - Rõ.

    Chị hối hả tới chỗ dãy súng và nhấc khẩu súng trường của mình. Nhằm mục tiêu, chị kéo cò.

    (*) Xe tải hạng nhẹ, dùng chở lính và đồ tiếp tế.

    (*) Thủ đô Iraq.

    - Bắn cừ lắm, chuẩn úy. Thêm một điểm 10 như thế này, chị có thể bắt đầu bắn đạn thật.

    Bốn giờ tiếp theo, Jolene làm theo lệnh: đứng, ngồi, bò, bắn, chạy. Sau đó, chị và Tami băng qua nơi đóng quân, hy vọng vào giờ này hàng chờ điện thoại ngắn hơn chút ít.

    Họ nhẩm. Ít nhất bốn chục lính đã xếp hàng, đứng trong cái nóng oải người, họ đọc, trò chuyện và nghe nhạc.

    Jolene đi chậm lại.

    - Khỉ thật. - Chị định quay về thì trông thấy Smitty vẫy chị. Cậu ta là người thứ tư trong hàng. Mặc dù đất cát và mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt, trông cậu vẫn trẻ măng, chỉ đáng con trai chị.

    - Chào Smitty, - Jolene nói và tiến đến chỗ cậu.

    Cậu ta mỉm cười, lộ bộ răng niềng.

    - Chào chuẩn úy.

    Tami đến cạnh chị.

    - Cậu gọi điện cho mẹ hay có cô bạn gái nào đang mỏi mòn trông ngóng đấy?

    - Em giữ chỗ này cho cả hai chị đây, - cậu nói. Trước cái nhìn sửng sốt của họ, cậu nói thêm. - Em vừa nhớ ra bạn gái em vẫn đang trong giờ làm. Em không thể gọi cô ấy hẹn giờ khác được. Với lại, - cậu tặng hai người một nụ cười bẽn lẽn, - em biết là em muốn nghe tin từ mẹ em.

    Smitty lùi lại, để một khoảng trống trong hàng.

    - Cậu có chắc không muốn gọi ai nữa không? - Jolene hỏi. - Các bạn cậu chẳng hạn?

    - Không có ai. Hôm nay chúng nó lái xe đến thăm bà em.

    Jolene nhìn Tami, chị cười tươi tỉnh.

    - Cậu đúng là một đấng nam nhi, Smitty ạ, - Tami nói.

    Hai người phụ nữ vào hàng, Smitty vừa bỏ đi vừa huýt sáo.

    Khi điện thoại rảnh, Tami tiến tới và gọi. Jolene lắng nghe âm thanh trầm bổng trong giọng nói của người bạn gái, và sốt ruột giậm chân nhè nhẹ, búng ngón tay vào lớp vải thô ráp trên quần, rồi cuối cùng cũng đến lượt chị. Lúc Tami gác máy, Jolene vội lao tới, nhấc cái ống nghe lỗi thời, nóng lên vì qua nhiều bàn tay, và gọi về nhà.

    Betsy trả lời:

    - Alô? - rồi nó reo lên, - là mẹ.

    Jolene dựa vào sườn tòa nhà ấm nắng, cố không để ý hàng lính đằng sau chị, nhưng không thể. Chị vẫn nghe thấy tiếng họ chuyển động, trò chuyện và cười cợt.

    - Chào Bets. Tuần này con thế nào? Mẹ xin lỗi hôm qua không gọi được. Người ta làm bọn mẹ bận túi bụi cả ngày lẫn đêm.

    Betsy vừa bị một cú sốc mạnh ở trường, hình như Betsy là người cuối cùng được chọn cho các đội bóng chuyền của môn thể dục. Sierra và Zoe bẽ mặt vì thua, đã chỉ trỏ và cười nhạo cho đến khi Betsy quát chúng câm đi, rồi nhận phạt ở lại trường vì hành động bột phát đó.

    - Con đây! Con bị phạt ở lại trường, mà đó là lỗi của chúng nó. Mẹ có thể gọi điện cho thầy giáo thể dục của con, xin hủy lệnh ấy được không?

    Jolene chỉ có mười phút gọi điện, mà Betsy đã chiếm tới sáu phút kể lể chuyện của nó.

    - Con yêu, mẹ không thể làm việc đó, nhưng nếu con...

    - Con hiểu rồi. Mẹ đang quá bận. Đừng lo chuyện đó nữa, mẹ. Lulu! Đến lượt mày!

    - Đừng thế, Betsy, - Jolene nói, cảm giác có lỗi của chị lại nổi lên. - Chúng ta có quá ít thời gian nói chuyện.

    - Hiển nhiên rồi.

    - Mẹ sẽ viết e-mail cho con sớm hết mức có thể, được không?

    - Con đã nói là mẹ đừng lo chuyện này mà. Con không cần mẹ. Lulu đây này.

    - Betsy. Mẹ yêu con.

    Đầu dây kia chỉ có tiếng thở; rồi Lulu nói, âm thanh giống một con chuột bơm hơi. Cuối câu chuyện nó kể với Jolene về mì ống và dây rợ, Lulu nói:

    - Con muốn tối nay mẹ đọc truyện cho con cơ.

    - Mẹ không thể, con yêu.

    Lulu khóc òa.

    - Bố ơi, mẹ vẫn không về nhà...

    - Chào Jo, - một giây sau Michael nói, có vẻ mệt mỏi y hệt như chị đột nhiên cảm thấy.

    - Lulu không chào tạm biệt hoặc nói “con yêu mẹ”.

    - Nó khó chịu mà, Jo. Rồi con nó sẽ ổn thôi. Em khỏe không?

    Jolene cầm máy đã mười một phút. Những người lính sau chị bất đầu nôn nóng.

    - Nó lại bị ác mộng nữa à? Nếu nó bị thế, nó cần tấm chăn đắp màu vàng và dải ruy băng hồng của nó.

    - Thôi nào, Jo. Em tưởng bọn con gái sẽ chào tạm biệt mẹ, theo dõi mẹ hành quân ra trận mà vẫn ổn sao?

    Đằng sau chị, có ai đó quát to:

    - Thôi đi, bà. Tất cả chúng tôi đều có gia đình.

    Còn bao điều chị muốn nói và không còn thời gian để nói. Sự im lặng của Michael khiến chị day dứt.

    - Tối nay em sẽ viết e-mail cho Betsy. Anh có thể biết chắc nó sẽ đọc trước khi đến trường không?

    - Chắc. Em hết thời gian rồi phải không?

    - Vâng.

    - Trò chuyện đủ rồi, Jo, - anh nói bằng một giọng chỉ vừa đủ nghe.

    Chị thì thào:

    - Tạm biệt, - và treo máy. Người lính khác tiến đến sau chị, cầm lấy ống nghe.

    Jolene quay đi, chị cảm thấy Tami đến cạnh chị. Họ bắt đầu trở về trại.

    - Betsy mất mười phút kể cho mình nghe ngày của nó và đề nghị mình gọi cho thầy giáo để nó không bị phạt ở lại trường, - Jolene nói.

    Tami khẽ cười:

    - Thế nên chúng mình ra trận còn bổn phận làm mẹ hầu như vẫn vậy thôi. Còn Michael?

    - Anh ấy hỏi mình vì sao mình lại nghĩ các con sẽ ổn sau khi mình ra trận.

    - Đúng ra, bọn mình còn chưa ra trận.

    Jolene thở dài.

    - Seth thế nào?

    - Nó yêu mình, nhớ mình và tự hào vì mình. Ít nhất là nó nói thế. Theo Carl, nó không ngủ, tháo bỏ phích cắm Xbox và không chơi video game nữa. Nó không muốn xem những con người trong hoạt hình bị thổi bay. Lúc đó, mình nghĩ bao nhiêu lần mình đã bảo nó bỏ cái hộp ngớ ngẩn ấy...

    - Làm thế nào bọn mình qua được chuyện này? - Jolene hỏi khẽ.

    Tami không đáp. Về đến trại, họ vơ quần áo và đi tắm. Sau đó, họ đến nhà ăn ngồi cùng với vài người trong trung đội Charlie, có cả Jamie và Smitty. Họ tụ tập vì mùi nước xốt thịt thơm phức trên bếp và món ngô ngọt ninh nhừ thành cháo sền sệt. Giọng nói đều đều của những người lính giống như động cơ máy bay vậy.

    Smitty vừa ăn ngấu nghiến món cháo ngô rưới kem vừa nói chuyện về trường bắn. Jamie nhìn chằm chặp vào món ăn, dùng dĩa chọc chọc lát thịt. Hình như anh đang ở cách xa tất cả bọn họ, và Jolene hiểu thái độ lạnh nhạt của anh.

    - Chúng ta cần đem đầu mình vào cuộc chơi, Jo ạ, - Tami nói. - Trước hết, chúng ta là lính. Đó là cách để sống hoặc...

    - Chúng ta sẽ chết, - Jolene đáp, dịu dàng. Chị biết Tami đúng, đã vài lần chị cũng nghĩ thế. Chắc chắn ý nghĩ đó cũng đang xâm chiếm đầu óc Jamie lúc này. Rốt cuộc thì mục đích của cuộc tập trận là chiến tranh. Jolene cần xếp mọi tình cảm gia đình của mình vào một ngăn riêng và che giấu nó. - Mình không biết cách ngừng nhớ đến họ. Lúc nào mình cũng cảm thấy có lỗi. Mình cứ nghĩ nếu mình có thể nói những lời đúng đắn qua điện thoại, là bọn mình sẽ ổn.

    - Carl và mình đã nói chuyện về việc này trước khi mình ra đi. Anh ấy bảo mình đừng nghĩ là một phần của anh ấy và hãy bắt đầu là một phần của cuộc chiến này. Anh ấy nói là biết mình yêu anh ấy, nhưng công việc của mình là nghĩ về mình, về những người đàn ông và đàn bà quanh mình. - Tami nhìn bạn. - Kể từ nay, chúng mình chỉ còn ở trong nước hai tuần lễ. Cậu phải để mình thoát khỏi những chuyện vụn vặt ở Poulsbo. Phó thác cho Michael giữ cho mọi thứ gắn kết với nhau.

    - Phó thác cho Michael, - Jolene thẫn thờ nói.

    - Cậu không còn lựa chọn.

    Jolene biết Tami nói đúng, nhưng nói bao giờ cũng dễ hơn làm. Chị hiểu cảm giác bị bỏ rơi là thế nào ngay từ hồi thơ ấu, và mặc dù chuyện này khác hẳn, khác một cách sâu sắc, chị vẫn không chắc các con chị thực sự hiểu vì sao chị rời xa chúng.

    - Sao những người đàn ông có thể ra trận suốt từng ấy năm, bỏ con cái lại đằng sau nhỉ?

    - Họ đã có vợ lo, - Tami đáp, giản dị.

    Khuya đêm ấy, sau khi Tami đã ngủ, Jolene mở laptop của chị ra. Chị rất mệt, vất vả lắm mới mở được mắt, nhưng chị phải viết thư cho con gái.

    Betsy yêu quý,

    Mẹ rất tiếc không thể giúp con thoát lệnh phạt. Dù con không muốn nghe, nhưng mẹ vẫn phải nói về chuyện đó. Điểm mấu chốt là con đã vi phạm các quy định. Bao giờ cũng có một hậu quả cho hành động của con. Con có thể học được điều đó ngay từ sớm. Lẽ tất nhiên Sierra và Zoe sai khi khiêu khích con và định chế nhạo con. Nhưng cách phản ứng của con làm con cũng thành sai nốt.

    Mẹ có biết bao điều muốn nói về chuyện đó, và mẹ đau đớn vì mẹ con ta không được ở bên nhau. Những người mẹ và con gái cần được cuộn tròn trên đi văng, trò chuyện về đủ mọi thứ. Chúng ta sẽ sớm được như thế thôi. Rồi con sẽ thấy. Cho đến lúc ấy, mẹ ước là mẹ biết cách nói với con cách vượt qua những lúc khó khăn ở trường trung học. Mẹ biết nhiều về bọn con gái tầm thường.

    Khi mẹ trạc tuổi con, không ai ưa thích mẹ. Mẹ luôn là cô gái quần áo nhàu nát, không có cả tiền ăn trưa. Mẹ quá xấu hổ, không dám mời ai đến chơi nhà, vì thế mẹ không có bạn bè. Sự lẻ loi thật kinh khủng. Mẹ không muốn con bị thế.

    Mẹ biết cảm giác bị phớt lờ và bị trêu chọc là như thế nào. Vì thế mẹ cố tình quay lưng lại với những cô gái ấy, và nó chỉ làm cho mẹ cảm thấy bản thân mình thật kém cỏi.

    Con có biết cái gì đã giúp mẹ không? Mẹ gia nhập quân đội, không phải vì họ dạy mẹ bay (hoặc không chỉ vì thế), mà vì đó là nơi mẹ đã gặp cô Tami.

    Lúc đầu, mẹ ngại nói chuyện với cô ấy. Cô ấy rất tự tin. Hình như cô ấy không hề để ý chúng ta là những phụ nữ duy nhất trong trường hàng không. Trong suốt tuần lễ đầu tiên, mẹ cố tình phớt lờ Tami vì mẹ hình đung cô ấy không ưa mẹ. Và con có biết gì không?

    Tami đã ĐỢI mẹ nói chuyện với cô ấy.

    Đó là khi mẹ học được rằng một nụ cười có giá trị biết chừng nào. Hãy để cho người ta biết mình sẵn sàng là bạn của họ, nếu họ cho ta một cơ hội, hãy nắm lấy nó, đừng e ngại. Với Tami, mọi việc mẹ cần làm là có đủ can đảm để nói xin chào, rồi ngồi cạnh cô ấy trong nhà ăn tập thể. Con chưa bao giờ biết có khi một câu nói, một lời chào có thể thay đổi cả cuộc đời.

    Ước gì mẹ ở đó để nói với con rằng con xinh đẹp, thông minh và có tài như thế nào, nhưng bây giờ, những lời này trên màn hình màu xanh sẽ làm thay mẹ. Hãy mạnh mẽ nhé, Betsy. Hãy tin vào bản thân và con sẽ ổn.

    Mẹ yêu con rất, rất nhiều.

    Thư vẫn chưa đủ. Chưa gần đủ. Nhưng đó là tất cả những gì chị có thể nói từ nơi đây.

    Ngày mai, chị sẽ viết cho Lulu.

    Chị ngáp và nhấn phím Gửi.

    Ngày thứ Năm cuối cùng trong tháng Năm, Michael dậy sớm và làm bữa sáng. Anh nghĩ nếu anh vượt qua được những khúc mắc, có một kế hoạch suôn sẻ với các con là sẽ ổn. Từ ngày Jolene ra đi, anh là kẻ tụt hậu - đến các cuộc họp muộn, đến bến phà muộn, ăn tối muộn. Có cái gì đó luôn luôn trục trặc. Hôm nay, anh quyết tâm có một buổi sáng dễ chịu, yên ả.

    Anh biết đã phí thời gian khi Betsy vào bếp, trang điểm đậm hơn cả một vũ nữ Las Vegas.

    - Con định giỡn mặt bố đấy à, - anh nói và để tờ báo xuống.

    Betsy quay lưng về phía anh.

    - Gì ạ? - Nó nói và mở tủ lạnh.

    - Con không được trang điểm thế kia đến trường.

    Nó hướng về phía anh.

    - Trang điểm gì ạ ?

    - Bố đang đeo kính đây, Bets. Bố không mù. Đi rửa mặt ngay.

    - Hoặc là... ?

    - Hoặc... - Anh thu hẹp cái nhìn chăm chú. - Bố sẽ xung phong làm người tình nguyện đến lớp con hôm nay. Về các nghiên cứu xã hội. Các con chẳng đang học Hiến pháp đấy thôi?

    - Bố đừng đến.

    - Cứ thử xem.

    Nó trừng trừng nhìn anh một lúc thật lâu, rồi giậm chân thình thịch bước ra khỏi phòng. Khi trở lại, nó đúng là một con lừa nổi điên, đóng cửa tủ sầm sầm, lẩm bẩm luôn miệng, cư xử thô lỗ với Lulu, con bé khóc suốt bữa sáng và nhai nhải hỏi bao giờ mẹ về.

    Đến hãng luật, Michael mất cả ngày cố làm hết mọi việc ùn lại trong mấy tuần qua, nhưng công việc quá nhiều. Nói rõ ràng và đơn giản, anh quá tải giữa việc quản lý công ty và bào chữa cho các thân chủ. Lúc này, anh đang đọc lời đề nghị tìm Lý lịch quân nhân của Keith Keller. Việc này lẽ ra phải làm xong từ nhiều tuần trước.

    Anh ấn điện thoại nội bộ gọi thư ký.

    - Cô Ann. Chúng ta có nghe tin gì từ Keith Keller không?

    - Không, anh Michael.

    - Cảm ơn. - Anh liếc nhìn giấy tờ trải khắp bàn. Lúc anh với lấy cây bút, điện thoại của anh đổ chuông.

    - Chào Michael, - mẹ anh nói. - Mẹ xin lỗi gọi con lúc đang làm việc, nhưng xe của mẹ bị bẹp lốp. Mẹ đang ở phố Tacoma xem triển lãm quà tặng làm vườn. Mẹ không thể về nhà đúng giờ để đón Lulu và ở nhà con đúng giờ gặp Betsy được.

    - Mẹ có sao không ạ?

    - Mẹ ổn. Ổn cả. Chỉ đang đợi AAA(*). Hôm nay Sarah Wheller lái xe, cô ấy sẽ thả Betsy ở nhà sau buổi tập chạy. Khoảng năm giờ. Còn Lulu cần đón lúc bốn rưỡi.

    (*) Hội ô tô Hoa Kỳ.

    Anh nhìn đồng hồ. Đã ba giờ ba mươi ba phút. Hai mươi phút nữa, chuyến phà tiếp theo rời bến. Nếu anh lỡ phà, Betsy sẽ về với ngôi nhà trống vắng - một điều cấm kỵ trong bản danh sách của Jolene. Tuy vậy, tại sao một đứa trẻ mười hai tuổi lại cần có người ở nhà chào đón là điều anh không hiểu nổi.

    - Được, mẹ ạ. Cảm ơn mẹ.

    - Mẹ xin lỗi đã bắt con làm việc này. Ồ, khỉ thật, điện thoại của mẹ kêu bíp bíp. Có nghĩa là hết pin phải không? Michael? Con có nghe thấy mẹ không?

    - Con đây, mẹ. Không vấn đề gì đâu. Cảm ơn mẹ. - Anh gập điện thoại lại, thu thập các thứ sẽ cần, rồi rời khỏi phòng.

    - Tôi để một số lời dặn trên bàn cho cô. Liên hệ với bố của Keller lần nữa, nhắc ông ta tôi rất cần nói chuyện với con trai ông ấy, - anh bảo Ann lúc đi qua bàn cô. - Nếu cần, cô cứ gọi vào di động cho tôi.

    - Anh có cuộc hẹn lúc bốn giờ năm mươi...

    - Hủy đi. Tôi phải đi ngay bây giờ, - anh ngoái lại nói, vẫn bước đi.

    Bên ngoài, mưa phùn rơi đều đều từ bầu trời thấp tịt. Đèn pha ô tô sáng rực trong màn mưa, trông như một luồng những quả bóng màu vàng mờ dịch chuyển trên đường phố ướt át. Lúc anh lái xe rời phòng làm việc, những biển hiệu neon lờ mờ cho thấy quá khứ nhiều sóng gió của thành phố - những cửa hàng bán súng, những cửa hàng bán sách khiêu dâm và những quán rượu tối tăm, tiều tụy. Anh theo dòng xe cộ hết dừng lại chạy tới bến phà, vừa nguyền rủa mỗi lần đèn đỏ vừa xem đồng hồ.

    Anh biết mình gặp rắc rối khi thấy hàng người mua vé. Đột nhiên anh nhớ ra hôm nay là thứ Năm trước kỳ nghỉ cuối tuần ngày Tưởng niệm(*). Du khách từng đoàn từng lũ nhằm tới đảo Bainbridges và bán đảo Olympic xinh đẹp. Gõ ngón tay lên tay lái bọc da, anh dịch từng tí một theo chiếc xe đằng trước, cho tới khi đến lượt anh mua vé.

    - Phà nào? - Anh hỏi sít sao.

    - Sáu giờ hai mươi.

    - Khốn kiếp. - Michael tính nhanh: nếu anh đợi phà, ít nhất bảy giờ hai mươi anh mới về đến nhà.

    Nhưng anh có thể lái xe đi vòng; dù bán đảo Kitsap chỉ mất ba mươi phút chạy phà từ khu thương mại Seattle, người ta cũng có thể lái xe qua Tacoma và vào Poulsbo từ đất liền. Anh có thể lái xe về đến nhà chưa đầy hai giờ. Bây giờ mới ba giờ bốn mươi nhăm. Anh sẽ xuyên qua Tacoma trước giờ tắc nghẽn giao thông.

    - Cảm ơn. - Anh ra khỏi hàng và lái xe trở lại xuyên thành phố. Anh mở điện thoại gọi mẹ, song bà không nghe máy. Chắc máy bà hết pin. Anh gọi đến dịch vụ chăm sóc ban ngày và báo với giáo viên là anh đến đón Lulu muộn.

    Bốn giờ.

    Trời ạ, anh sẽ không có mặt ở nhà khi Betsy về.

    (*) Ngày Tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, thường tổ chức vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm.

    Anh biết Jolene sẽ nói gì; chị sẽ ban cho anh cái nhìn thất vọng; nhưng anh chỉ muộn ít phút thôi, mười lăm hoặc hai mươi phút, ơn Chúa, Betsy đã mười hai tuổi, nó có thể ở nhà một mình mười lăm phút. Ba mươi phút là cùng.

    Anh bật nhạc và tập trung lái xe xuyên qua màn mưa lúc này như trút nước. Anh tính sát giờ, cho đến lúc tới cầu Narrows. Những trụ chống màu xanh vút lên trông như những cái thang khổng lồ trong mưa rơi.

    Xe cộ dừng hết lại. Từ xa, anh đã nhìn thấy đèn đỏ của xe cứu thương lóe sáng.

    - Của nợ, - anh nguyền rủa, và mở điện thoại. Anh bấm số về nhà và để lại cho Betsy lời nhắn. “Betsy, bố bị kẹt xe. Ngồi trong cảnh chật cứng. Bố sẽ ở nhà sớm hết mức có thể. Sáu giờ là muộn nhất. Gọi cho bố nếu con muốn. Bố luôn mở máy”.

    Anh ngồi... ngồi... và ngồi mãi giữa những chiếc ô tô ken dày, mưa làm mờ kính chắn gió. Suốt thời gian đó, anh cảm thấy huyết áp tăng lên, nhưng anh không thể làm gì được. Năm giờ bốn mươi, anh gọi về nhà lần nữa. “Khỉ thật, Betsy, nhấc máy lên”. Không thấy con nhấc máy, anh gọi về nhà mẹ. Bà cũng không nghe nốt, vì thế anh đành để lại lời nhắn nữa.

    Sáu giờ hai mươi, các chướng ngại vật mới hết và xe cộ lại bắt đầu chuyển động. Michael dấn ga - quá mạnh - và lao như tên về nhà. Đầu anh đau nhức, mạch đập thình thịch lúc anh rẽ vào bãi xe của dịch vụ chăm sóc ban ngày. Bên trong ngôi nhà nhỏ được giữ gìn chu đáo, anh thấy cô giáo đang đợi anh.

    - Tôi xin lỗi, - anh nói, vuốt vội tóc khỏi mặt. - Ở Narrows có tai nạn. Tệ quá. Tôi tới đây nhanh hết mức có thể.

    Cô giáo gật đầu.

    - Việc ấy vẫn xảy ra. Tôi hiểu mà. Nhưng Lulu sợ. - Cô bước tránh sang bên.

    Qua cánh cửa mở, Michael trông thấy Lulu ngồi một mình trong phòng chơi màu sắc tươi sáng, xung quanh là búp bê và thú nhồi bông.

    - Bố đến muộn, - nó nói và ngước nhìn anh. - Các mẹ khác đến đây lâu rồi.

    - Bố biết. Bố xin lỗi. - Anh giúp con mặc áo khoác, chào cô giáo rồi dẫn con ra xe.

    Lulu không nói với bố lời nào suốt đường về nhà, nhưng thành thật mà nói, điều cuối cùng anh phải lo về những ngày này là làm cô bé lên bốn giận.

    Vào nhà, anh vỗ mông con bé và bảo nó thế là ổn.

    - Betsy! Bố về nhà đây, - anh vừa nói to vừa đóng cửa lại sau lưng. - Bố biết con bực, nhưng hãy xuống đây nói chuyện với bố đã.

    Anh quẳng cặp lên bàn bếp và nới cà vạt.

    - Betsy? - Anh gọi to lần nữa.

    - Chị ấy không ở đây, - Lulu nói và đi vào phòng.

    - Cái gì? - Michael nhìn xuống. - Con nói gì?

    Lulu đứng đó, giữ tấm chăn màu vàng nhàu nát của nó.

    - Betsy không ở nhà.

    - Cái gì? - Anh quát to đến nỗi Lulu trông hoảng hốt. Anh chạy qua nó và vọt lên gác; đến phòng Betsy, anh xô cửa và gọi thật to.

    Không có tiếng trả lời.

    Anh chạy khắp nhà, gọi cho đến khi hiểu ra: nó không có ở đây.

    Dưới nhà, Lulu đang khóc.

    - Chị ấy đi rồi... Ôi, không... có người đánh cắp chị ấy rồi.

    - Không ai đánh cắp chị con hết, - anh lẩm bẩm giận dữ lúc đến bên điện thoại, gọi về nhà mẹ anh. Lúc bà nhấc máy, anh nói:

    - Sao mẹ không nghe tin nhắn của con? Betsy có ở với mẹ không?

    - Gì thế? Mẹ vừa về đến nhà. Có chuyện gì thế?

    - Con về nhà muộn, - anh nói và thầm rủa. - Nó không ở nhà. - Anh gác máy trước khi mẹ anh kịp trả lời. Nỗi sợ lan khắp người anh, luồn sâu và thấm thía. - Mình sẽ gọi cho các bạn nó, - anh nói và lại nhấc máy, song anh dừng lại. - Lulu, nín đi, con. Các bạn của Betsy là ai?

    Lulu rền rĩ:

    - Con không biết. Chị ấy đi rồi.

    Anh gọi đến trường và lắng nghe tin nhắn sau giờ học.

    Rủa một câu, anh gác máy.

    - Có khi chị ấy bỏ trốn, - Lulu nói.

    Michael đi ra hiên. Mưa rơi như trút; mưa đè dí cỏ, dồn thành nhiều vũng đầy bùn trên đường lái xe vào nhà. Anh nghĩ đến vịnh, đến làn nước sâu giá lạnh và sức quyến rũ của nó với bọn trẻ.

    - Betsy! Con ở đâu?

    Anh càng gọi to tên con, Lulu càng khóc dữ và Michael càng hoảng sợ. Anh đang nghĩ cái quái quỷ gì vậy? Lẽ ra anh nên để xe ở khu thương mại, rồi đi bộ đến bến phà chết tiệt và bắt taxi. Hoặc anh có thể gọi cho Carl. Tại sao lúc đó anh không nghĩ ra nhỉ? Khốn kiếp. Nhỡ có một thằng cha nào đó rình Betsy ra khỏi xe buýt, rồi theo nó vào căn nhà trống vắng...?

    Hét to tên con lần nữa, anh vồ lấy Lulu như thể con bé là một quả bóng, rồi cứ thế anh ôm nó vào người mình và chạy qua màn mưa sang nhà hàng xóm. Đổi tư thế khi chạy, chưa đầy một phút sau anh đã tới nhà Carl và Tami. Anh đấm lên cánh cửa.

    Carl mở cửa.

    - Michael, có chuyện gì thế?

    Michael lau nước mưa khỏi mắt.

    - Betsy không ở nhà và nó nên ở đó. Tôi nghĩ có khi nó đến đây.

    Carl chậm rãi lắc đầu, và Michael cảm thấy dạ dày mình tụt xuống. Tưởng chừng một giây sau, anh có thể phát ốm.

    Seth vừa bước vào phòng khách vừa nhai kẹo cao su. Tay cầm cuốn Người xa lạ ở miền đất lạ rách tả tơi, Seth mặc quần jeans bó và áo phông nhàu nát. Mớ tóc đen của nó chải lật ra sau, để lộ khuôn mặt hẹp.

    - Có chuyện gì thế ạ?

    - Betsy không ở nhà, - Carl nói. - Chú Michael rất lo.

    - Con đánh cược là biết bạn ấy ở đâu, - Seth nói.

    - Thật ư? - Michael thốt lên. - Ở đâu?

    Seth quẳng cuốn sách lên sofa.

    - Chú đợi ở đây. - Nó chạy qua Michael và ra ngoài.

    Michael và Lulu theo Seth xuống đường xe chạy. Carl chộp lấy cái ô và nhập bọn ở chỗ hòm thư. Seth dừng lại trên đường, nhìn ngược ngó xuôi rồi băng qua, trèo xuống bãi biển.

    Nó không nên ở gần nước một mình. Mưa đập như gõ trống xuống cái ô trên đầu, át cả tiếng thở của họ.

    Nhiều phút sau - những phút dài như nhiều giờ - Seth lại xuất hiện, Betsy đi cạnh nó. Chúng trèo theo con đường mòn bãi biển lên đường cái. Cả hai ướt sũng.

    Michael nhẹ người đến mức anh suýt ngã quỵ.

    - Betsy, tạ ơn Chúa.

    Lúc hai đứa đến gần, Michael có thể thấy con gái anh giận dữ và tổn thương biết chừng nào.

    - Sao bố có thể như thế?

    - Bố xin lỗi, Betsy.

    Nó gạt mớ tóc ướt khỏi mặt.

    - Bố nên ở đây khi con về nhà.

    - Bố biết. Bố biết mà.

    - Con chưa bao giờ phải về một ngôi nhà trống rỗng.

    - Bố xin lỗi. Nhưng bố tưởng con đủ lớn để ở nhà một mình.

    - Chà-à-à-à! - Nó bước qua chỗ anh và hiên ngang vào nhà, sập mạnh cửa sau lưng nó.

    Anh cảm kích nhìn Seth.

    - Cảm ơn cháu, Seth.

    - Cạnh vũng tàu nhà Harrison có một cây to. Betsy hay đến đó mỗi khi khó chịu.

    - Ồ. Ra vậy. Cảm ơn cháu. - Anh thấy xấu hổ vì thằng bé hàng xóm hiểu Betsy hơn chính bố nó. Anh quay người và vào trong nhà. Anh quấn Lulu vào cái khăn tắm rộng và đặt nó trước ti vi, rồi anh lên phòng Betsy.

    Betsy quay lưng lại phía anh. Nước mưa từ mái tóc ướt của nó chảy nhỏ giọt, làm sơ mi của nó sẫm lại. Nó nhìn trừng trừng qua cửa sổ.

    - Bố xin lỗi, Bets. Nếu con nghe...

    Nó quay ngoắt lại, đối diện với anh.

    - Bố không hiểu sao? Con đã tưởng bố chết rồi.

    - Ồ. - Sao anh không nghĩ ra điều này? Jolene hiểu nỗi sợ của Betsy và che chở nó chống lại cái đó. Lẽ tất nhiên Betsy rất lo mất người cha duy nhất ở đây. - Bố xin lỗi, Betsy. Bố sai rồi. Bố sẽ không làm thế lần nữa đâu. Được không?

    Mắt Betsy đầy nước. Nó nôn nóng lau đi.

    - Bố sẽ luôn ở đây vì con.

    - Chà.

    Dưới nhà, chuông điện thoại reo.

    Lát sau, Lulu réo lên:

    - Là mẹ!

    Betsy lao qua Michael và chạy xuống tầng dưới.

    Miễn cưỡng, anh theo sau. Đây chẳng phải lúc thích hợp cho một cú điện thoại.

    - Mẹ, - Betsy nói, nó áp điện thoại vào tai, trông tức tối. - Hôm nay lúc con về tới nhà, bố không ở đây. Bố quên con rồi. Nếu mẹ ở nhà sẽ chẳng xảy ra việc này.

    Lulu lao vào Betsy.

    - Trả nó cho em! Em đang nói chuyện với mẹ...

    Betsy gạt nó ra. Lulu đấm vào mông Betsy và hét:

    - Em muốn nói chuyện!

    - Betsy, - anh nói, - để Lulu cùng nói chuyện với.

    Betsy nhăn mặt, nhưng để Lulu cùng trò chuyện. Hai cô con gái ngồi với nhau bên bàn, tranh nhau nói.

    Vừa thở dài, Michael vừa vào bếp rót cốc đồ uống. Khoảng mươi phút, Betsy đưa điện thoại cho anh.

    - Bố, mẹ muốn nói chuyện với bố. Mẹ không có nhiều thời gian cho chúng ta đâu. Như mọi khi.

    Anh cầm điện thoại và vào phòng giải trí, ngồi xuống.

    - Chào Jo.

    - Thật thế sao, Michael? Anh quên con ư?

    - Nếu em muốn cằn nhằn anh thì thôi đi, Jolene. Anh cảm thấy đủ tệ rồi.

    Một lúc ngừng, rồi:

    - Anh làm con bé sợ, Michael.

    - Hãy nói với anh điều anh chưa biết đi.

    Lại ngừng.

    - Ngày mai, chúng em lên đường, - chị nói. - Đi Iraq.

    - Đã một tháng rồi ư?

    - Phải, Michael.

    Trong tình trạng điên rồ suốt bốn tuần qua, anh đã quên bẵng ngày này, gần như quên rằng chị sắp ra trận. Lẽ tất nhiên anh không thực sự quên, song sự am hiểu đã thành một thứ vô hình, hiếm khi thoáng hiện trong cả mớ lộn xộn những ngày vừa qua của anh. Cho đến lúc này chị vẫn an toàn, vì thế nghĩ về bản thân dễ dàng hơn.

    - Em không biết ở Balad liên lạc sẽ ra sao, hoặc bọn em sẽ ở đó bao lâu. Em sẽ cố hết mức để giữ liên hệ. - Chị ngừng. - Michael, em sẽ rất mừng nếu các con có thể gửi thư hoặc e-mail cho em, nếu bọn em có Internet.

    Anh nghĩ đến những ngày chị ở đó, thiếu vắng các con chị sẽ trống trải biết nhường nào. Anh gần như thấy ngượng vì chị phải yêu cầu việc này. Nhất là vì anh biết chị khó lòng cầu xin ân huệ của anh hoặc của bất cứ ai.

    - Anh sẽ bảo đảm việc này, - anh nói.

    - Cảm ơn. Giờ em phải dừng thôi, mọi người ở đây sốt ruột rồi.

    - Jo à?

    - Dạ?

    - Hãy bảo trọng, - anh nói. - Chăm sóc bản thân nhé.

    Chị thở dài.

    - Tạm biệt, Michael.

    - Tạm biệt.

    Mọi việc anh muốn làm lúc này là đến quầy, lấy cốc rượu và uống hết. Thậm chí anh còn thích thú nghĩ đến việc uống cho say.

    Thay vào đó, anh gọi điện đến cửa hàng pizza, gọi bữa tối rồi lên gác.

    Cửa phòng Betsy mở. Anh ngó vào, thấy con gái không ở đấy, bèn xuống hành lang tới buồng tắm.

    Con bé đang soi gương, tô trát mặt mũi.

    - Bố không nghĩ con lại trát những thứ này, - anh nói.

    Nó xoay người và hét lên: “ĐI RA”, rồi đóng sập cửa vào mặt anh.

    Michael đứng đó một lúc lâu, đợi nó thay đổi ý kiến và xin lỗi.

    Chẳng có gì.

    Cuối cùng, anh xuống dưới nhà và thấy Lulu đang xem lại video tạm biệt của Jolene.

    Anh rên lên.

    Pizza được mang tới, anh trả tiền nhân viên giao hàng rồi đặt bánh lên bàn, anh gọi to:

    - Ăn tối.

    - Pizza dành cho sinh nhật, bố ạ. Không phải là ăn tối, - Lulu nói và thở dài. Nó đi qua anh rồi trèo lên bàn đúng lúc mẹ anh bước vào nhà, trông tức tối.

    - Đừng bỏ máy với mẹ lần nữa, nghe chưa. Betsy ổn chứ?

    - Nó ở đây, - anh đáp. - Con không biết nó có ổn không.

    - Ơn Chúa. Từ rày trở đi...

    - Con xin mẹ. Ngày mai hãy mắng con. Hôm nay là một ngày như dưới địa ngục vậy.

    Mẹ anh ngước nhìn anh, chăm chú.

    - Con cần làm cho tốt hơn, Michael, - bà nói bình tĩnh.

    - Vâng. Con hiểu.

    Trước khi mẹ anh kịp nói bất cứ câu gì làm anh thấy tệ hơn, anh đã rời bếp và vào phòng làm việc, ở đây, may quá, yên tĩnh. Anh đóng cửa lại và lún sâu vào cái ghế cạnh bàn.

    Anh không nghĩ mình có thể làm được việc này. Mà việc này là chăm sóc các con.

    Anh đã sai cái chết tiệt gì nhỉ? Vì sao anh thành công như thế ở phòng xử án, ở công ty và với các thân chủ, mà lại hoàn toàn thất bại với gia đình riêng của mình?

    Anh thở dài. Vợ anh mới ra đi chưa đầy một tháng, mà anh đã chán ngấy cảm giác là người thất bại trong chính ngôi nhà của mình.
     
  15. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mười một

    Sáng hôm sau, Betsy vẫn không nói chuyện với anh.

    Michael dậy sớm, chuẩn bị bữa sáng và đưa các con tới trường đúng giờ. Cuối cùng, khi anh đến văn phòng - đến muộn, anh đã mệt rũ. Nhưng ít nhất ở đây, anh cảm thấy mình giỏi giang.

    Lúc mười một giờ, cuộc gọi anh đang đợi cũng tới.

    Rốt cuộc, Keith đã đề nghị được nói chuyện riêng.

    Michael chộp cuốn sổ tay và rời văn phòng. Mười lăm phút sau, anh tới nhà tù quận King và ngồi trong một phòng gặp cáu bẩn.

    Keith vào phòng, mặc bộ quần áo tù nhân màu cam, cổ tay bị còng về đằng trước, xích chân kéo lê kêu loảng xoảng trên sàn nhà lát đá.

    - Để chúng tôi lại, - Michael nói với người canh gác. - Và tháo còng tay cho cậu ta.

    - Thưa ông...

    - Tháo còng tay cho cậu ta, - Michael nhắc lại. - Tôi hiểu những rủi ro.

    Anh ta cau mày nhưng cũng làm theo lời Michael, rồi ra khỏi phòng, đứng ngay bên ngoài cửa.

    Keith ngồi xuống bên bàn, đối diện với Michael, người thẳng đứng, cứng nhắc. Trong ánh sáng lờ mờ ở trên đầu, trông mặt cậu ta trẻ và tươi tắn đến sửng sốt. Tóc bị cắt đã mọc dựng đứng, lúc này giống như một vòng vàng hoe bên trên gương mặt.

    - Cha tôi bảo tôi phải nói chuyện với ông.

    - Tôi đang cố đưa cậu ra khỏi nhà giam. Mà cậu cũng không làm cho công việc của tôi dễ dàng.

    - Ông có bao giờ nghĩ tôi không đáng được cứu không?

    - Không, - Michael nói, điềm đạm. - Tôi không nghĩ thế. Cả bố cậu cũng thế. Hoặc mẹ cậu, nghe nói đêm đêm bà khóc cho tới khi ngủ thiếp đi.

    - Nghe oải quá.

    Michael mở tập giấy và tháo nắp bút.

    - Cậu biết vì sao tôi ở đây rồi, Keith. Cậu đã hứa với bố cậu sẽ kể cho tôi nghe chuyện xảy ra hôm ấy. Tôi nghe nói cậu thuộc loại quân nhân rất tôn trọng lời hứa.

    - Tôi đã giết người yêu quý nhất đời, - Keith nói, cuối cùng trong mắt cậu ta đã có xúc động. - Tôi phải làm thế.

    - Cái gì? Cậu định nói gì, “cậu phải làm thế ư?”

    - Tôi phát điên, - Keith nói khẽ. - Tôi phải thế. Tôi không thể nhớ lại đang bắn vợ mình. Nghe thế ông có thấy là điên không?

    Michael xem xét kỹ thân chủ. Nói thật, đây là tin tốt đầu tiên anh thu được từ vụ này. Anh ghét vì đã phân tích đủ để hiểu nỗi đau và nghĩ tốt đấy, nhưng đây là công việc của anh, chọn lọc những nỗi đau để tìm ra nguyên nhân. Mặc dù luật pháp là tập hợp những quy định được hệ thống hóa, công lý còn lâu mới được khắc ghi vào đá. Tại phiên tòa, lúc nào chẳng có chỗ cho sự nhập nhằng, cho xúc động và thương cảm.

    - Hãy kể cho tôi sự việc xảy ra. Không bỏ sót bất cứ điều gì.

    Keith đờ đẫn nhìn chằm chằm vào tường. Michael thấy vẻ trống rỗng trở lại trong cái nhìn của cậu ta.

    - Cô ấy muốn đến chợ ở quảng trường Pike. Tôi biết đấy là một ý nghĩ nguy hiểm, nhưng không biết tại sao, không thể nói vì sao. Ông biết đấy, tôi yêu... tôi yêu Emily và chúng tôi đã làm những gì cô ấy muốn, nhất là sau khi tôi trở về từ Iraq.

    - Tại sao thời điểm đó lại đặc biệt thế?

    - Tôi thấy khó mà chịu đựng nổi. Tôi đã không ngừng xử tệ với cô ấy. Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng đến chợ. - Cậu ta ngừng lâu đến nỗi Michael định gợi ý một câu trả lời thì Keith lại bắt đầu nói. - Hôm ấy nắng đẹp. Chợ rất đông. Những người chơi dương cầm, các nghệ sĩ xiếc tung hứng, các ảo thuật gia, những người ném cá, những kẻ lang thang, vô công rồi nghề. Không thể đi một bước mà không có kẻ va phải hoặc chạy lao ra trước mặt, cố bán cho ta một thứ gì đó.

    Cậu ta nhìn xuống đôi bàn tay run rẩy.

    - Tôi bắt đầu thấy bực bội, bứt rứt. Tôi đã thử uống một cốc tequila ở Athenian, nhưng vẫn chưa đủ bình tĩnh. Tôi đâm hốt hoảng. Gần đây tôi rất hay hốt hoảng. Hôm đó, mỗi chuyển động đều làm tôi giật mình, tim tôi đập thình thịch, mà ở đây có rất nhiều chuyển động. Tôi cứ nghĩ có người theo dõi mình. Thế là, trong lúc Emily đang chọn hoa, tôi trở lại Athenian và uống thêm vài cốc nữa.

    - Bao nhiêu?

    - Nhiều. - Keith thở dài. - Tôi biết uống say chẳng giúp được gì. Thế là tôi và Emily cãi nhau. Cô ấy cho là tôi đã uống quá nhiều và cư xử kém cỏi. Tôi có thể cảm thấy ngày hôm ấy, tôi đã trở nên tệ hại.

    - Trước khi đi Iraq, cậu có uống rượu nhiều không?

    Cậu ta nhún vai.

    - Tôi nghĩ là không.

    - Còn sau đó?

    - Nhiều lắm. Thỉnh thoảng nó làm cho... những tiếng la hét trong đầu tôi lắng xuống. Nhưng hôm ấy nó chẳng giúp được gì.

    - Nó làm cho sự việc tồi tệ hơn.

    Keith gật.

    - Chúng tôi rời chợ, lúc này tôi muốn phá bĩnh và đã khá say, thì một kẻ vô gia cư đâm bổ vào tôi. Emily nói người đó chỉ đến gần, nhưng tôi thấy hình như không phải thế. Hoặc hắn tiến đến nhanh quá, hơn nữa trông hắn rất đáng ghét, hắn để tóc đen dài và bộ râu như Chúa Cứu thế, và tôi đấm hắn mạnh đến nỗi hắn ngã quỵ. Tôi thấy máu phun ra từ mũi hắn. Emily hét lên rằng cô ấy không chịu nổi tôi nữa và câu này... làm tôi sửng sốt đến mức không thể đứng yên được. Việc tiếp theo tôi nhớ là trông thấy Emily nằm trên sàn phòng khách của chúng tôi. - Hai bàn tay Keith hết nắm vào lại mở ra trên lòng. - Giống như tôi tỉnh dậy trong cơn ác mộng của người khác. Máu ở khắp nơi, trên người tôi, trên tường, trên người Emily. Nửa đầu cô ấy đã... bay mất. Tôi cúi xuống và cố kề miệng vào miệng cô ấy, tôi làm hô hấp. Tôi la hét và khóc suốt lúc đó. Cho đến khi tôi nhìn thấy khẩu súng - khẩu súng của tôi - tôi mới hiểu việc mình đã làm.

    - Đó là tất cả những gì cậu nhớ được.

    - Đúng thế.

    - Thôi được. Tôi cần cậu nói chuyện với một bác sĩ tâm thần. Cậu sẽ làm việc đó vì tôi chứ, Keith?

    - Chắc rồi. Tuy nhiên, nó sẽ không làm cho sự việc khác đi. Tôi không cần một bác sĩ bảo là tôi điên.

    Michael nhìn thân chủ và nghĩ, chàng trai này cần sự giúp đỡ của mình. Anh biết việc này chất lên vai họ một gánh nặng biết chừng nào, và lần đầu tiên trong một thời gian dài, anh cảm thấy đầy hy vọng. Đây có thể là loại vụ kiện quan trọng. Anh ước bố anh ở đây để nghe về nó.

    - Tôi sẽ đặt cuộc hẹn.

    Mẹ yêu quý,

    Mẹ sẽ KHÔNG tin nổi chuyện này. Bố đã mua cho con một cái điện thoại di động. Nó là của riêng con. Hôm qua, trong giờ ăn trưa, con đã để nó lên bàn trong quán ăn tự phục vụ, và giá mẹ nhìn thấy mặt Sierra. Nó không thể CHỊU nổi. Chỉ các học sinh trung học mới có điện thoại di động. Con bảo Sierra nếu muốn, nó có thể gọi một CUỘC; nó đã làm thế và đi vào lớp cùng với con. Mẹ đã bảo một nụ cười có thể làm nên sự khác biệt - có lẽ mẹ đúng. Có khi nó lại muốn kết bạn với con. Con thực sự nhớ nó. Con phải đi bây giờ, bố đang gọi con. Như mọi khi ấy mà. Bố lúc nào cũng căng thẳng. Hôm qua, bố quên để túi rác ra ngoài chờ xe tải. Mọi người đều nhớ mẹ. Betsy.

    Betsy yêu quý,

    Mẹ rất vui biết tin con có điện thoại di động. Nó rất cần trong những lúc khẩn cấp. Con hãy giữ gìn và sử dụng nó một cách thông minh. Mẹ sẽ không là mẹ nếu không nói rằng nếu con phải mua chuộc ai đó để yêu quý mình, cô ta không phải là một người bạn tốt đâu, nhưng chúng ta có thể nói chuyện này sau. CUỐI CÙNG thì hôm nay, mẹ đã lên đường đi Iraq. Mẹ sẽ viết lần nữa khi hạ cánh. Mẹ yêu con rất, rất nhiều.

    Mẹ

    TB. Mẹ hy vọng con đỡ đần bố việc nhà...

    Khi Jolene ra khỏi chiếc máy bay vận tải và đặt chân lên nền cát phẳng ở Balad, giống như bước vào một cái lò. Những hạt cát nhỏ li ti chuyển động vô hình trong gió nóng, chui vào mọi thứ - mắt, tai, lỗ mũi, tóc, cổ họng. Jolene muốn bịt miệng và mũi để bảo vệ, nhưng chị vẫn đứng thẳng, mắt ướt nước và đợi.

    Có nhiều thứ để đợi: đợi lệnh, đồ tiếp tế, xe cộ. Chuyến đi của họ hình như kéo dài vĩnh viễn. Từ Texas đến Đức, tới Kuwait, tới Tallil, tới Al Kut rồi cuối cùng tới căn cứ không quân Balad.

    Gió thổi qua căn cứ, nóng như lửa. Trong giây lát, Jolene đã đẫm mồ hôi. Sau nhiều giờ chờ đợi, chị và Tami được phân về một căn nhà lưu động nhỏ, các bức tường lỗ chỗ vết đinh mũ và đinh của những người đã ở đây trước đó. Một đôi giường võng xuống và hai tủ kim loại có khóa, sứt sẹo, là đồ đạc duy nhất.

    Jolene buông cái túi vải thô nặng trịch xuống sàn: bụi bay tung quanh túi. Chị hiểu bụi là một trong nhiều thực tế mới của đời chị. Chị ngồi xuống cái giường hẹp, tay ôm bộ đồ trải giường bằng lanh thô mới được phát và cái gối chị mang từ nhà. Cái giường cót két dưới sức nặng của chị.

    - Chúng mình cần vài tấm ảnh và tranh, - Tami vừa nói vừa ho lúc ngồi xuống giường mình.

    Jolene thở dài và nhìn bạn. Cái nhà lưu động bốc mùi bụi, mùi nóng và mùi của những người đến ở trước họ. Gió rung căn hộ lách cách, đập vào các cửa sổ và cửa ra vào, cố lọt vào trong.

    Bỗng còi báo động vang lên.

    Jolene là người đầu tiên lao ra cửa. Chị mở cửa cho Tami, chộp lấy eo bạn và kéo đi. Còi báo động qua các loa gắn trên cái sào ngay bên ngoài nhà họ và nhắc đi nhắc lại - CHẠY TỚI CÁC BOONGKE! - to đến nỗi chị không thể nghe thấy gì khác.

    Có hàng chục boongke xi măng khắp căn cứ. Jolene và Tami chạy tới cái gần nhất và vào trong.

    Ở đây không có ai. Họ ngồi xuống sàn trong bóng tối, trong lúc đạn súng cối nổ tung quanh họ. Những mảnh xi măng vỡ rơi xuống như mưa. Ở đâu đó gần gần, một tên lửa bị trúng đạn và nổ tung. Mùi khói cay xè lọt qua các kẽ nứt trên cửa.

    Sau đó, nó kết thúc.

    Jolene đứng dậy, không ngạc nhiên thấy chân mình hơi run.

    - Cậu có nhận thấy chúng mình là những người duy nhất ở đây không? - Tami hỏi. - Mọi người đâu cả rồi?

    Jolene mở cửa. Nắng chói chang như bức xạ của các ngôi sao làm họ quáng mắt. Khói đen lơ lửng trong không khí, làm mắt họ bỏng rát. Nhìn đâu chị cũng thấy các binh sĩ làm như thể chẳng có gì xảy ra. Họ đang cưỡi xe máy từ nhà này sang nhà khác, xếp hàng ở Porta - Potties, đá bóng. Chị quay sang Tami.

    - Họ đã bảo chúng mình Balad được gọi là Mortaritaville. Mình đoán giờ chúng ta đã hiểu vì sao.

    Lại còi báo động. Đạn súng cối nổ ngay bên trái họ, một bức tường xi măng nổ tung. Khói tạt sang đường họ.

    - Nó có lợi là làm ta quen dần, - Tami nói khi yên tĩnh trở lại.

    Jolene nhìn người bạn thân nhất và biết cả hai đang nghĩ đến cùng một thứ. Trong năm tiếp theo, họ có thể bị giết bất cứ giây phút nào, vào bất cứ ngày nào - cả khi họ ngồi trong nhà lưu động chơi bài hoặc đang tắm.

    Làm sao có thể quen với ý nghĩ rằng bất cứ lúc nào mình cũng có thể chết, bị thương, bị thổi bay thành nhiều mảnh nhỏ? Tệ hơn nỗi sợ là nỗi lo cho các con. Lần đầu tiên, chị thực sự nghĩ, Nếu mình không trở về nhà thì sao? Các con sẽ sống ra sao nếu thiếu mình?

    Đêm hôm đó, sau một ngày dài đầy ắp công việc giấy tờ, gặp gỡ những người sẽ cùng phục vụ, lắng nghe những bài giảng dài lê thê về mọi thứ, từ bọ cạp ở căn cứ đến sử dụng radio cứu hộ CSEL, cuối cùng Jolene được tắm lúc mười một giờ. Vì căn cứ rất ít phụ nữ, hàng chờ tắm không dài, nhưng ở đây phụ nữ không đi trong bóng tối một mình. Cả đám đã đi một quãng đường dài, nhưng chưa đủ xa. “Chiến hữu” là thứ được khuyến khích.

    Sau khi tắm, chị và Tami lặng lẽ về nhà.

    Vừa vào trong, Tami đã đổ sụp lên giường và ngủ ngon lành ngay lập tức.

    Jolene đã qua thời điểm mệt lử, nhưng chị quá mệt không sao ngủ được, nên chị lôi laptop ra và bắt đầu bức thư gửi về nhà. Chị vẫn chưa kết nối Internet, có thể không kết nối được trong một thời gian, nhưng tối nay chị có thể đánh máy bức thư và hình dung ngày mai có thể gửi đi từ một trung tâm truyền thông. Chị cần liên hệ với gia đình ngay bây giờ, và đây là giải pháp duy nhất với chị.

    Chị tưởng tượng ra họ từng chi tiết và đầy đủ; gia đình của chị, quây quần trên chiếc sofa, bức thư đã đưa họ đến cùng nhau. Betsy sẽ đọc to nó lên.

    Hôm nay căn cứ bị oanh tạc bốn lần và chúng ta vừa mới đến đây.

    Jolene hình dung phản ứng của họ... và biết rằng những bức thư của chị gửi về nhà ắt phải là như thế.

    Các con yêu quý của mẹ, chị viết và nhớ chúng thiết tha đến nỗi khó mà viết tiếp. Chị hít một hơi thật sâu.

    Đến đây là một chuyến bay dài, và mẹ phải thú nhận là rất mệt.

    Betsy, con không thể tin nổi nó bằng phẳng ra sao, và mọi thứ cùng một màu như lúa mì khô vậy. Còn người thì nóng bức vô cùng. Mẹ nghĩ mẹ đổ mồ hôi từ trước khi rời khỏi máy bay.

    Tami và mẹ ở chung trong một căn nhà lưu động bé tí. Mẹ hình dung nó thuộc loại phòng ký túc xá. Vì thế mẹ cần có những bức ảnh và tranh to để làm cho nó có cảm giác như ở nhà. Con có thể giúp chúng ta việc đó không? Khi nào có thể, mẹ sẽ gửi ảnh...

    Chị viết mọi điều chị có thể nghĩ ra để nói. Khi đã hết cả hơi sức, chị đóng laptop và cho vào tủ. Đó là lúc chị chú ý đến quyển nhật ký màu hồng Betsy tặng hôm sinh nhật chị. Với lấy nó, chị đặt lên lòng và mở ra. Chị đã định sẽ tặng lại Betsy khi chị về nhà, nhưng sau chưa đầy hai mươi tư giờ, chị biết việc đó sẽ không xảy ra. Chị cần một nơi để có thể nói thật vì từ nay trở đi, chị là chuẩn úy Zarkades, và chị không được tỏ ra sợ hãi hoặc do dự, cũng như có thể kể sự thật với gia đình.

    Chị mở cuốn nhật ký và viết.

    THÁNG NĂM 2005

    Cuốn nhật ký này mẹ viết cho con, Betsy ạ. Mẹ định ghi lại mọi cảm xúc của mình vào đây, để khi nào trở về nhà, mẹ có thể trao nó cho con. Đây là mọi điều mẹ nghĩ trong khi mẹ con ta xa nhau. Mẹ nghĩ mẹ sẽ trao cho con mọi lời khuyên con cần, rằng mẹ là người khôn ngoan và hữu ích. Một người mẹ hoàn hảo cho dù từ một cõi xa xôi.

    Sự thật là lúc này, mẹ của con đang tan nát trái tim. Mẹ phải hình dung mình mạnh mẽ ra sao, phải đặt tình yêu dành cho con và Lulu sang một bên. Nếu không thể, mẹ sẽ không còn gì tốt đẹp với mọi người.

    Mẹ sẽ phải trò chuyện với bản thân mình ở đây, giữa những trang giấy con trao tặng mẹ. Mẹ hy vọng rằng viết về nỗi sợ sẽ làm nó giảm bớt đi. Có thể một ngày nào đó mẹ sẽ trao tặng con, khi con đủ khôn lớn để không đánh giá mẹ quá khắt khe.

    Hôm nay, căn cứ bị tấn công bốn lần. Đến lần thứ tư, khi còi báo động rú lên, mẹ và cô Tami chỉ nhìn nhau, nhún vai và vẫn ở lại trong nhà. Mẹ vẫn mặc nguyên quần áo, nhưng có thể nghe thấy tiếng tên lửa rít và đạn súng cối nổ, mẹ nghĩ liệu mình có cơ hội nói lời từ biệt các con gái không nhỉ? Rồi cuộc oanh tạc chấm dứt.

    Chấm dứt.

    Đây là một từ hình như ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong cuộc sống gần đây của mẹ. Giống như cuộc hôn nhân của mẹ vậy.

    Chấm dứt.

    Ở đây, thiếu vắng Michael, mẹ cảm thấy rất lẻ loi. Thỉnh thoảng mẹ giả vờ như bố con vẫn đang đợi mẹ về nhà. Rằng bố vẫn yêu mẹ.

    Sau đó, mẹ tỉnh dậy vì tiếng bom. Mẹ mới ở đất nước này một ngày và đây là điều mẹ nghĩ: mình sẽ chết ở đây mất.

    Tại sao trước kia mẹ không nghĩ đến điều này nhỉ?

    Khoảng trưa, Michael rời văn phòng và lái xe đến phía bắc thành phố. Anh đỗ lại ven đường và kiểm tra địa chỉ được cung cấp. Anh ngó qua cửa bên của xe và cau mày. Đúng, đây chính là nơi ấy.

    Phòng khám bệnh của bác sĩ tâm thần không làm ta tin tưởng. Nó là một ngôi nhà ọp ẹp xây dựng từ giữa thế kỷ, ở đoạn kéo dài ẩu tả của đại lộ Aurora. Xe cộ chạy qua ầm ầm, bóp còi inh ỏi.

    Michael đỗ giữa một cái xe tải han gỉ và một ô tô chạy điện màu xanh bóng loáng. Đi trên vỉa hè nứt nẻ, tới hiên trước hơi xập xệ, anh dừng lại ở cửa trước và gõ.

    Cửa mở gần như ngay lập tức bởi một ông già gầy và cao lêu nghêu, tóc hoa râm dài đến vai, bộ mặt thon dài, đầy nếp nhăn. Mặc bộ com lê ca rô màu xanh, lỗi mốt ít nhất hai thập kỷ, sơ mi màu xanh nõn chuối, trông ông ta giống một vật lai tạp giữa Ichabod Crane(*) và một rocker Anh rẻ tiền. Ông ta chắc khoảng bảy mươi tuổi, nhưng có một vẻ trẻ trung kỳ lạ.

    Michael mong đây không phải là bác sĩ. Các bồi thẩm thích chuyên gia của họ trông phải giống chuyên gia kia.

    - Chắc anh là Michael Zarkades, - ông ta nói và chìa tay. - Tôi là Christian Cornflower. Hầu hết các bệnh nhân gọi tôi là bác sĩ C. Mời vào.

    Bác sĩ lùi lại. Trong phòng đằng trước, một phụ nữ trẻ có mái tóc màu tía, đeo khuyên mũi bằng bạc ngồi bên cái bàn kiểu cổ, sơn trắng, các ngón tay gõ bàn phím lách cách trong lúc cô ta nói chuyện điện thoại. Gật đầu với cô ta lúc đi qua, bác sĩ dẫn Michael qua một phòng làm việc đầy những ghế bành dày, thoải mái và những cái bàn gỗ sồi kiểu cổ. Giấy dán tường in hoa hồng, được trang trí thêm bởi những bức thêu các châm ngôn súc tích như Hôm nay là ngày đầu tiên của phần còn lại trong đời bạn.

    Cuối cùng, họ tới một nơi chắc đã từng làm phòng ngủ của chủ nhà. Một cửa sổ lớn đóng khung bằng các cành to của một cây táo già tuyệt đẹp, tô điểm các lá cây màu xanh sáng và rải rác những quả non bé xíu. Các bức tường ốp gỗ những năm 1970, trang trí nhiều tranh thêu mẫu và các văn bằng của Harvard, Johns Hopkins, Berkeley.

    Bác sĩ ngồi xuống ghế sau cái bàn cổ bằng gỗ gụ.

    Michael ngồi trong cái ghế bành nhung đỏ chân, bọc thật dày và thoải mái, ở bên kia bàn.

    - Bác sĩ Cornflower, tôi phải nói rằng ông được giới thiệu rất nồng nhiệt. Tôi là luật sư bào chữa cho một thanh niên...

    - Keith Keller.

    (*) Tên một nhân vật của tiểu thuyết gia Washington Irving (1783-1859); là nhà văn đầu tiên của Mỹ nổi tiếng thế giới.

    Michael cau mày.

    - Tôi chưa nói tên thân chủ tôi qua điện thoại.

    Christian nhún vai một cách hùng hồn.

    - Có thể trông tôi giống như ở Woodstock(*), nơi mà buồn thay, tôi đã không có mặt, nhưng xin đừng hiểu nhầm hành vi của tôi. Tôi là một người thông minh, Michael ạ. Anh đã nhận một vụ dường như không thể bào chữa là Keith Keller, người đã bắn vào đầu vợ rồi tự nhốt mình trong nhà nhiều giờ liền và dọa tự tử. Đấy là theo ti vi, tạ ơn Chúa. Một đội SWAT đã đưa cậu ta ra ngoài, nói lắp bắp, đẫm máu, các máy quay phim bao quanh. Ai cũng biết việc cậu ta đã làm. Tôi biết nếu anh là người khôn ngoan - và tôi hy vọng là thế - thì sớm hay muộn, anh sẽ chấm dứt ngay ở bên cửa nhà tôi.

    - Tại sao lại thế?

    - Tôi là chuyên gia về hội chứng trầm cảm sau chấn thương. Khi nghe nói Keith Keller là một cựu lính thủy đánh bộ, tôi đã nghiên cứu vụ này. Cậu ta đã phục vụ hai nhiệm kỳ ở Iraq. - Ông lắc đầu. - Cục Cựu chiến binh cực kỳ vô đạo đức trong việc lơ là giúp đỡ các binh lính trở về từ Iraq. Khi cuộc chiến khốn kiếp này kết thúc, chúng ta sẽ có hàng trăm ngàn binh sĩ bị chấn thương nghiêm trọng, đang cố ghép những mảnh đời của họ lại với nhau.

    Michael rút cuốn sổ tay ra.

    - Ông cứ nói tiếp.

    - Tôi đã ở Việt Nam. Năm 1967. Tôi đã tận mắt chứng kiến những chàng trai tử tế bị cuộc chiến nuốt chửng ra sao. Ở Việt Nam, ít nhất bạn cũng có thể đến nơi nào đó để xả hơi. Ở Iraq, không thứ gì và không ở đâu an toàn. Người phụ nữ mỉm cười và vẫy tay có thể thổi bay người lính đang cố giúp cô ta sang đường. Cái việc thực sự thông thường ở Iraq ít khi xảy ra ở Việt Nam. Các con đường rải sẵn IED giết chết bất cứ ai đi qua. Bom ở trong đống rác, trong gia súc, trong con người, trong mương, máng. Tại Iraq, ta không thể an toàn ở bất cứ nơi đâu. Binh lính của chúng ta trở về đều bị chứng trầm cảm sau chấn thương nghiêm trọng.

    (*) Ngôi làng ở Đông Nam New York, nổi tiếng nhờ cuộc liên hoan nhạc rock năm 1969.

    - PTSD nghiêm trọng có làm giảm khả năng suy nghĩ hợp lý của con người không?

    - Chắc chắn là thế rồi. Đó chính là vấn đề được đưa ra trong vụ này. Không phải ngẫu nhiên mà một gã khốn kiếp bắn chết vợ mình lại được khẳng định là hắn điên. Keith Keller đã phục vụ đất nước và khi trở về thể chất không bị tổn hại không phải là kết cục của cuộc tranh biện. Tuy nhiên, tôi phải nói chuyện với cậu ta để làm một cuộc chẩn đoán chính xác.

    - Ông có thể cho tôi biết thêm về PTSD, nó có ảnh hưởng ra sao không?

    - Hoàn toàn có thể Keith không biết là cậu ta đang giết vợ mình. Cậu ta có thể mất phương hướng, không biết mình đang ở đâu hoặc đang làm gì. Lẽ tất nhiên tôi không thể nói một cách cụ thể, cho đến khi tôi nói chuyện với cậu ta. Nhưng tôi có thể nói với nhà cầm quyền rằng quá nhiều binh sĩ của chúng ta trở về bị chứng PTSD đánh gục và tình trạng này có thể gây ra cho người lính hành động đột xuất. Theo các báo cáo, có vẻ như trước cuộc chiến, Keith Keller là một chàng trai tốt.

    Michael gõ bút lên tập giấy, suy nghĩ mọi khả năng. Cornflower vừa trao cho anh lời bào chữa cho một vụ giết người, nhưng đây là một thủ đoạn. Các bồi thẩm khét tiếng là khó chấp nhận một lời bào chữa khả năng bị suy giảm. Họ rất ghét tình trạng mất trí.

    Christian ép các đầu ngón tay vào với nhau.

    - PTSD là một loại rối loạn tâm thần được luật pháp công nhận từ nhiều thập kỷ nay. Theo nghĩa đen, một người có thể mất hết năng lực vì rối loạn. Sự việc xảy ra ở đó... ờ... anh nên hiểu như mọi người.

    Michael cau mày.

    - Ý ông là gì?

    - Tôi hiểu anh là một gia đình quân nhân. Vợ anh là phi công lái máy bay lên thẳng hiện đang phục vụ ở Iraq, đúng không?

    - Ông nghiên cứu quá ư kỹ càng.

    - Tôi muốn biết mình đang nói chuyện với ai. Vợ anh có kể cho anh nhiều không?

    Michael không thích cái kiểu viên bác sĩ soi xét anh. Anh bứt rứt ngọ nguậy trên ghế.

    - Cô ấy vừa đến đó, nhưng người ta không để phụ nữ tham chiến. Cô ấy chủ yếu chở các VIP đi đây đó.

    - À, - Christian nói và nhìn Michael trừng trừng. Rồi ông mỉm cười. - Cô ấy là một người mẹ. Bản năng của cô ấy là che chở. Tất nhiên rồi. - Ông ngừng.

    - Tất nhiên gì kia?

    - Ở đây có một thứ mà anh cần biết: một số câu nói sáo rỗng lại đúng chỗ, còn chiến tranh chắc chắn là địa ngục. Chiến tranh là lúc nào cũng sợ hãi, khi ta không sợ chỉ vì ta được bơm đẩy adrenaline và có thể nổ tung theo nghĩa đen. Là nhìn thấy những người ta yêu quý - yêu quý thật sâu sắc - nổ tung thành nhiều mảnh ngay cạnh ta. Là nhìn thấy một cái chân trong mương, rồi nhặt nó lên đút vào bao vì không có thân người - hoặc bộ phận của một con người, là bạn mình có thể bị để lại đằng sau. Chiến tranh là đêm tối của tâm hồn, Michael ạ. Ở nơi đó không có tiền tuyến. Chiến tranh là mọi thứ vây quanh họ, hàng ngày, ở mọi nơi họ tới. Một số người đối phó với nó tốt hơn những người khác. Chúng tôi không biết vì sao, nhưng chúng tôi biết rõ điều này: tâm trí con người không thể an toàn hoặc cách tiến hành hợp lý hầu như là chém giết, là tình trạng không chắc chắn và kinh hoàng. Nó chỉ không thể thôi. Không người nào từ cuộc chiến trở về mà như cũ.

    - Ông sẽ gặp Keith và đánh giá cậu ta chứ? Tôi cần kết quả chẩn đoán nếu tôi bào chữa cho một người bị PTSD.

    - Tất nhiên rồi, - Christian nói. - Tôi sẽ vinh hạnh được giúp cậu thanh niên này.

    Vinh hạnh. Đó là một từ lâu lắm rồi Michael chưa nghe thấy khi liên hệ với một trong các thân chủ của anh. Nhiều người trong bọn họ mắc tội đến mức khủng khiếp. Anh tự hào là một phần trong hệ thống tư pháp liên quan đến tội phạm - một phần quan trọng -, nhưng hiếm khi anh tự hào là luật sư bào chữa cho một thân chủ đặc biệt.

    Nó làm anh nghĩ đến Jolene, vì với chị, danh dự là thứ vô cùng hệ trọng. Chị sẽ muốn anh nhận vụ này. Anh đứng lên, bắt tay bác sĩ Cornflower và nói:

    - Cảm ơn ông.

    Suốt đường về, anh nghĩ đến Keith, đến lời biện hộ mới mẻ này... và những điều đã xảy ra ở Iraq với cậu thanh niên trước đây tử tế và tốt là thế.

    Chuyện gì đã xảy ra với cậu ta ở đó?

    Rồi anh nghĩ: Jolene, chuyện gì đang xảy ra với em?

    Như thường lệ, anh về nhà muộn, và bằng vào vẻ mặt của Betsy, anh biết nó đếm từng phút một, đang cộng chúng để chống lại anh. Nghĩ đến một tràng tố cáo của một đứa trẻ đang lo âu khác, mà anh đáng thế lắm, anh có thể chịu đựng được hơn.

    Mẹ anh bước vào bếp.

    - Mẹ ở lại thêm một giờ cũng không sao. Con đừng lo.

    - Cảm ơn mẹ.

    Anh vừa nói xong thì chuông điện thoại reo.

    Từ đâu đó, Betsy hét lên - hét thực sự:

    - Con sẽ nghe!

    Anh nghe thấy tiếng chân nó nện thình thịch xuống cầu thang.

    Anh mỉm cười phiền muộn và đưa mẹ ra cửa sau.

    - Cảm ơn mẹ lần nữa.

    Bà hôn lên má anh.

    - À này, có e-mail của Jolene gửi đấy. Lulu thèm đọc ngay, nhưng mẹ nhắc nó các quy định-không-đọc thư cho đến khi con về nhà - và nó hơi... kích động.

    Michael hôn mẹ và nhìn theo bà đến ô tô. Không phải lần đầu, anh nghĩ mình không thể xoay xỏa nổi nếu thiếu mẹ. Khi bà đi rồi, anh vào bếp và rót một cốc đồ uống.

    Lulu bước đều vào bếp.

    - Chúng ta nhận được e-mail của mẹ. Có thể đọc bây giờ không ạ?

    - Bố có thể uống một cốc và thay quần áo trước được không?

    - Không, bố ơi, con đợi MÃI rồi.

    Michael liếc nhìn lịch của Jolene, thấy bữa tối nay là món gà bỏ lò và cơm. Anh nghĩ một hộp súp nấm là xong.

    - Được. Con đi tìm chị. Bố sẽ gặp các con bên máy tính nhé.

    Lulu chạy lên gác. Ít giây sau, nó trở lại, khuôn mặt nhỏ nhắn của nó nhăn nhó, má đỏ bừng.

    - Chị ấy đang nghe điện thoại.

    - Bảo chị gác máy đi.

    - Chị không chịu.

    - Thôi, chúng ta đợi vậy...

    - KHÔNG-ÔNG-ÔNG-ÔNG! - Lulu rền rĩ. Những giọt nước đã ứ đầy mắt con bé.

    Michael biết ở đây anh là chủ, nhưng thật lòng mà nói, ý nghĩ về cơn thịnh nộ của Lulu mạnh hơn việc anh có thể làm lúc này. Vừa thở dài, anh vừa lên gác, và thấy Betsy trong phòng nó, đang nói chuyện điện thoại.

    - Con có thể gọi cho bạn sau, được không con yêu? Chúng ta đọc thư của mẹ trước khi em gái con nổi khùng.

    Betsy quay lưng lại phía bố và vẫn nói chuyện.

    - Betsy, - anh nói bằng giọng đe dọa.

    - Bố ra đi, con đang nghe ĐIỆN THOẠI.

    Anh cầm lấy điện thoại từ tay con và nói:

    - Mười phút nữa, Betsy sẽ gọi lại cho cháu.

    Anh nghĩ mình đã ấn nút đỏ trên đầu nổ của một tên lửa hạt nhân. Betsy hét Đấy là Sierra! to đến mức tai anh điếc đặc trong giây lát.

    - Bây giờ chúng ta đọc thư. Xuống dưới nhà ngay. - Anh để nó đứng đó, giận điên lên đến mức có thể bốc khói, và đi xuống phòng làm việc của anh.

    Ở đó, anh bế Lulu lên chiếc ghế bành bên bàn, rồi ngồi xuống sofa đợi Betsy. Không lâu lắm. Nó nện chân bình bịch xuống cầu thang, vừa lướt vào phòng như một nữ hoàng, vừa lẩm bẩm, Hay thật, cái thư ngớ ngẩn ấy đâu?

    Betsy đẩy Lulu sang một bên và ngồi xuống, Lulu vừa trèo lên lòng chị, vừa giục:

    - Đọc đi, Betsy.

    Betsy mở thư.

    Một bức ảnh choán hết màn hình. Trong ảnh, Jolene và Tami đứng trước một quầy trong chợ lộ thiên, tay khoác tay. Mọi vật đều nhợt nhạt, hơi thiếu màu sắc, như thể trời đang mưa hoặc thực sự lộng gió. Nhưng không thể bỏ qua nụ cười rạng rỡ của họ.

    - Mẹ. - Lulu chỉ vào Jolene.

    Betsy kéo thanh cuộn xuống và bắt đầu đọc to bức thư. “Đến đây là một chuyến bay dài...”

    ... và mẹ phải thú nhận là rất mệt.

    Betsy, con không thể tin nổi nó bằng phẳng ra sao, và mọi thứ cùng một màu như lúa mì khô vậy. Con người thì nóng bức. Mẹ nghĩ mẹ đổ mồ hôi từ trước khi rời khỏi máy bay.

    Tami và mẹ ở chung trong một căn nhà lưu động bé tí. Mẹ hình đung nó thuộc loại phòng ký túc xá. Vì thế mẹ cần có những bức ảnh và tranh to để làm cho nó có cảm giác như ở nhà. Con có thể giúp chúng ta việc đó không? Khi nào có thể, mẹ sẽ gửi ảnh.

    Tối nay, chúng ta ăn tại nhà ăn tập thể. Lulu à, họ nấu món con thích đấy - món bánh nướng nhân đào. Bánh không ngon như của Yia Yia Mila, nhưng làm mẹ nhớ nhà.

    Bọn mẹ được gọi là vật liệu lấp đầy (một từ trong quân đội gọi các loại để thay thế) cho đơn vị 131. Mọi người mẹ gặp đều tốt. Mẹ chắc chúng ta sẽ có nhiều bạn bè.

    Bây giờ, mẹ đi ngủ một chút thì tốt hơn.

    Mẹ luôn nghĩ tới tất cả và yêu mọi người rất, rất nhiều.

    xxxooo

    Mẹ

    TB: Chúc con may mắn trong bài trắc nghiệm toán nhé, Bets. Mẹ biết con sẽ qua được môn đó. Mẹ tự hào vì con!

    - Đọc lần nữa đi, - Lulu nói. - Phần của em. Bố ơi, bảo chị đọc lại đi, - Lulu rên rỉ.

    - Chị đọc rồi. Thế thôi. Sốt dẻo đấy, - Betsy nói. Nó quay nhìn Michael. - Bây giờ con có thể lên gác gọi cho Sierra được chưa?

    - Được, - Michael nói, chỉ vừa đủ nghe. - Lúc nó chạy qua anh, anh bật khỏi ghế và đến đứng trước máy tính.

    Anh nhìn chằm chằm vào hai người phụ nữ mặc quân phục, tươi cười để chụp ảnh.

    - Trông mẹ vui quá, - Lulu nói.

    Michael nghĩ đến điều anh biết ngày hôm nay và anh không thể khớp nó với tấm ảnh này. Anh nghĩ đến những lời miêu tả cuộc chiến mà anh vừa nghe, đến việc tìm thấy thi thể bạn, những quả bom bên đường và mảnh đạn rơi như mưa.

    Hai người phụ nữ, hai người bạn thân thiết nhất, đang mỉm cười trước máy ảnh.

    Bất chợt, anh hiểu lời Cornflower nói có ý nghĩa gì. Cô ấy là một người mẹ. Bản năng của cô ấy là che chở.

    Tấm ảnh này là một sự dối trá, cũng như mọi điều chị nói với anh về cuộc điều động. Ở đấy không có tiền tuyến, Cornflower nói. Vì thế không hề có nơi nào an toàn.

    Jolene - luôn là người hùng, luôn là người mẹ - đang “bọc đường” cuộc sống của chị để chứng minh rằng chẳng có gì để họ phải lo lắng. Chị đã gieo hạt từ sớm. Người ta không để phụ nữ ra trận. Em sẽ lái đưa các VIP đi đây đó, chẳng có gì nguy hiểm đâu.

    Anh đã phải trả giá việc đó vì anh muốn thế. Anh ngoảnh đi. Ơn Chúa, anh không nên thế. Anh biết đây là một cuộc chiến. Có khi đây là một phản ứng mạnh của chính trị về những vũ khí tưởng tượng hủy diệt hàng loạt, hoặc là mồi nhử Saddam Hussein. Anh không hiểu vì sao anh lại hình dung đây chỉ là một cuộc chiến nhỏ sớm kết thúc, người Mỹ bị thương vong rất ít.

    Anh đã xem nhiều ảnh trên bản tin thời sự chụp lính Mỹ đi cùng bọn trẻ con Iraq, đưa nước, lấy tư thế để chụp ảnh, anh đã đọc về những kẻ đánh bom liều chết, nhưng không hiểu sao anh lại hình dung hai thứ đó tách rời nhau. Anh để mình tin Jolene khi chị nói với anh rằng chị ở xa chiến trận.

    Chắc hẳn chị nghĩ anh là một thằng ngốc.

    Anh chỉ mải nghĩ đến bản thân, cáu giận vì sự lựa chọn của chị ảnh hưởng đến cuộc sống của anh ra sao, nên anh chỉ vừa mới hiểu sự thực về nơi chị ở và việc chị đang làm.

    Chị cảm thấy ra sao khi đêm đêm nằm trên giường, lẻ loi và xa cách gia đình, biết rằng bất cứ giây phút nào một quả bom cũng có thể rơi trúng căn nhà lưu động của chị và chị có thể sẽ chết?

    Tháng Sáu trôi qua khi nào Michael chẳng hay biết; những ngày rơi như mưa, tan biến vào đất dưới chân anh. Ở nhà, anh nghĩ đến công việc; ở cơ quan, anh nghĩ đến việc nhà. Anh luôn tất tả và lúc nào cũng đến muộn. Tôi xin lỗi là câu cửa miệng mới mẻ của anh. Anh nói câu đó nhiều hơn cả trong vài năm qua.

    Đến cuối năm học, anh phải điều chỉnh lại lịch làm việc. Mẹ anh vẫn trợ giúp đắc lực cho các cháu gái, nhưng mùa hè là mùa bận rộn của bà ở Green Thumb, và bà không thể ở nhà anh nhiều như trước. Vì thế anh rút ngắn tuần làm việc xuống bốn ngày. Từ thứ Sáu đến Chủ nhật anh làm việc nhà, vật lộn với trò tung hứng giữa nhu cầu của cương vị làm cha và nhu cầu của nghề nghiệp. Khi không đến cửa hàng tạp phẩm hoặc nấu bữa tối, anh viết tóm tắt và nghiên cứu các vụ án. Anh gửi con đến các trại hè nhiều ngày hết mức có thể, vậy mà vẫn không đủ thời gian để làm xong mọi việc. Lái xe đưa chúng từ nơi này đến nơi khác - hoặc tìm người lái - chiếm thời gian của anh quá mức. Tuần trước, rốt cuộc anh phải thú nhận mình không thể làm xong công việc như anh cần. Anh đã chuyển giao hầu hết các vụ ít quan trọng hơn của mình cho các cộng sự.

    Nó cho anh thêm thời gian để tiếp tục việc bào chữa cho vụ Keller.

    Hôm nay, anh dự định tiếp tục khai thác lời khai của các cảnh sát bắt giữ Keith, cũng như của kẻ chỉ điểm trong nhà giam.

    Anh làm việc từ sớm và xuống dưới nhà làm bữa sáng. Mười giờ, anh sắp đưa các con đến gửi ở Thumb, chúng sẽ được bà nội “chăn dắt” cho đến hai giờ, anh sẽ đến đón. Không nhiều thời gian để làm việc, nhưng những ngày này, anh phải tận dụng hết mức.

    Việc đầu tiên là những câu hỏi của Lulu: Hôm nay trời nắng, bố ạ. Chúng ta có ra bãi biển không? Mẹ hay đưa chúng con ra bãi biển mỗi khi trời nắng đấy. Con xây được thành bằng cát cơ. Bố có biết xây thành lũy bằng cát không?

    Những câu hỏi dồn dập nhanh đến mức anh chỉ còn biết lầm bầm và tránh đi, chọn cách đứng trước ti vi uống cà phê.

    Lại một sai lầm nữa. CNN thông báo một kẻ đánh bom liều chết đã sát hại sáu người trong một cái chợ ở Baghdad.

    Chuông điện thoại reo.

    Lulu réo lên:

    - Con nghe cho! - Nó hét to đến mức chắc chắn lũ chó nhà hàng xóm phải chạy đến.

    Anh thấy Lulu chạy đến bên điện thoại và cầm máy, gọi:

    - Mẹ à? - Rồi nụ cười của nó tắt ngóm và vai nó sụm xuống. Nó đặt máy rồi lê bước trở lại bếp và trèo lên ghế. - Là Sierra, - nó nói, rầu rĩ. - Betsy đang nói chuyện với chị ấy.

    Mười lăm phút sau, Betsy chạy thình thịch xuống cầu thang.

    - Con sẽ ra phố với Sierra để xem phim đây.

    Michael ngả người tới trước, tắt ti vi.

    - Con có thể nói lại câu đó dưới dạng một câu hỏi không?

    - Được chứ. Con có thể có ít tiền không?

    Michael quay ngoắt lại, định nói Bố ơi, bố đừng thế, con có thể đi phố được không? nhưng khi nhìn thấy nó, câu hỏi trêu chọc ấy vuột mất.

    Betsy đã trang điểm đủ đậm, như một vai phụ trong Chương trình phim kinh dị, bộ đồ nó mặc cũng không thể chấp nhận được: ủng Ugg màu hồng, váy bò ngắn tới mức có thể đem làm diềm, áo ấm dài tay màu trắng ngắn tũn, hở một khoảng bụng.

    - Con mặc cái quái gì thế này?

    Nó nhìn bố trừng trừng.

    - Ơ. Quần áo.

    - Mẹ con sẽ không cho con ra khỏi nhà với bộ dạng thế này.

    - Mẹ không có ở đây.

    - Cái gì trên mặt con thế?

    - Không có gì.

    - Con trang điểm.

    - Không, con không.

    Anh không thể tin nổi nó có thể đứng đó và nói dối anh.

    - Không, con không ư? Trông con như một con điếm đợi quay cận cảnh vậy.

    - Câu đó có đủ mọi nghĩa.

    - Có nghĩa là thưa quý cô, cô không được rời khỏi nhà như thế kia.

    - Ồ có chứ, con sẽ đi. Nửa giờ nữa, anh trai của Sierra đến đón con.

    - Anh trai Sierra ư? Nó bao nhiêu tuổi?

    - Anh ấy là học sinh trung học.

    - Bố mong là con định nói một người già, vì không anh chàng mười tám tuổi nào được đưa con đi chơi phố.

    - Bố đang phá hỏng đời con.

    - Bố biết. Trước kia con đã nói thế rồi. Cho bố số điện thoại của Sierra và bố sẽ gọi điện cho mẹ nó. Nếu con ăn mặc như một con người, bố sẽ lái xe đưa các con đến đó.

    - Con thà chết còn hơn.

    - Thế ư? Bố cảm thấy y như thế về một cuộc đi dạo phố. Tùy con thôi, nhóc ạ. - Anh nhún vai và lại bật ti vi, đổi kênh. Quảng cáo cho bộ phim mới của Spielberg Cuộc chiến của các thế giới kín màn hình.

    Chiến tranh. Nó ở khắp mọi nơi.

    Betsy giậm mạnh chân.

    Michael phớt lờ nó. Trong vài tuần lễ qua, có thể anh chưa học được mọi thứ cần thiết về cách nuôi dạy một đứa trẻ chưa đầy mười ba tuổi, nhưng anh đã học được một vài bài học giá trị: quyết không chịu lùi. Sử dụng sức ép của người ngang vai phải lứa. Và cố giữ bình tĩnh. Hai kẻ điên sẽ không tạo nên một ngày tốt lành.

    - Thôi được. Con sẽ lau những thứ trang điểm.

    - Và thay quần áo nữa.

    - Chà-à-à-à! - Nó hét lên và chạy tuốt lên gác. Michael có thể nghe thấy tiếng bước chân huỳnh huỵch của nó ở khắp tầng trên.

    Michael lắc đầu. Rất chi là kịch tính!

    Anh đi vào bếp, nơi Lulu ngồi bên bàn, quỳ trên cái gối nó đặt trên ghế. Cuốn sách tô màu Mẹ em chiến đấu cho tự do mở ra trước mặt, cùng một đống bút chì màu. Nó đang hăng hái thêm những vệt đỏ vào lá cờ Mỹ.

    - Sao chúng ta không treo một lá cờ lên, hở bố? - Lulu nói. - Mẹ đã đi rồi.

    Michael dừng lại. Sao anh có thể chưa bao giờ nghĩ đến điều này nhỉ? Mọi điều anh nghe được từ Cornflower và Keller lại lẻn vào tâm trí anh.

    Họ là một gia đình quân nhân.

    Anh nghe thấy từ đó ở mọi lúc; người ta nói thế với anh và anh vừa nhún vai coi thường vừa nghĩ: không, không hẳn thế; vợ tôi chỉ ở trong Vệ binh. Vì ANH không ở trong quân đội, nên từ đó không làm anh cảm nhận thực sự, và có Chúa biết, anh chẳng bao giờ thích thú nhiệm vụ của vợ hoặc ủng hộ nó.

    Song họ vẫn là một gia đình quân nhân và vợ anh đã ra trận. Một đứa trẻ lên bốn đã nhìn ra sự thật đó trước cả anh.

    Anh vò bù mái tóc Lulu, ngắm nó tô màu cảnh một cô bé vẫy tay chào tạm biệt một phụ nữ vận quân phục.

    - Chúng ta sẽ treo một lá cờ, - anh nói khẽ.

    Betsy nện gót thình thịch vào phòng, đến sau lưng anh.

    - Bây giờ trông con đủ gớm ghiếc lắm rồi. Con có thể đi được chưa?

    Anh quay lại.

    Betsy mặc cái quần theo ý anh là quá ngắn, nhưng không đủ để chống lại, vận áo phông in dòng chữ Rõ tiếc! Tớ lại làm thế lần nữa đây và đi dép tông. Nó đã lau phần lớn các thứ trang điểm, nhưng vẫn giữ mascara màu xanh và phấn hồng.

    Nó tưởng anh không thể nhìn thấy sao?

    - Con đi nhé? - Nó hỏi, và lúc này giọng nó rạn vỡ. Anh thấy cuộc đi chơi này có ý nghĩa với nó biết chừng nào, và đâm lúng túng. Với anh, những trò mà các cô bé chưa đến mười ba chơi với nhau có vẻ lố bịch. Betsy có thể từ tươi cười sang nổi khùng chỉ trong chớp mắt, mọi thứ chỉ dựa trên lời bình phẩm thì thầm nào đó của một người bạn cũ. Lạy Trời đừng ai cười nhạo mái tóc của con bé. - Kìa bố, đây là Sierra. Con đợi nó gọi điện quá lâu-âu-âu rồi. Con cần phải đi. Con xin-in-in bố đấy.

    Có thể gọi anh là thằng hèn, nhưng anh không thể từ chối con bé. Trông nó thất vọng và lẻ loi đến thảm, và anh biết sự thay đổi hoàn toàn của Sierra quan trọng đến thế nào với Betsy.

    - Trông con được đấy, Betsy. Con có thể đi phố. Chỉ để bố gọi cho mẹ Sierra đã.

    - Con gọi rồi. Con lúng túng quá nên nói bố cháu không cho cháu đi với Tod.

    - Sốc thật, - anh tán thành.

    - Đằng nào thì mười phút nữa bà Phillips cũng đến đón. Bố cho con tiền được không?

    - Con cần bao nhiêu?

    - Năm mươi.

    - Đô la ư?

    - Vâng. - Nó thở dài rất kịch. - Hai mươi nhăm vậy.

    Michael thọc tay vào túi và rút ví. Trong lúc anh đếm tiền, Betsy rít lên:

    - Họ đến kìa! Cho con tiền đi, bố. Ngay bây giờ! Nhanh lên! Họ có thể đi mất.

    - Bố sẽ đưa con ra xe.

    - Không!

    Anh mỉm cười.

    Nó nhăn nhó.

    - Thôi được.

    Anh đưa nó ra khỏi nhà, xuống đường dành cho xe, có chiếc xe tải nhỏ đợi sẵn.

    Chắc chắn là một phụ nữ lái xe.

    - Này, Betsy, - anh nói và đưa cho con ba mươi đô la. Nó chộp lấy như một con chim ăn thịt vồ mồi và lẩm bẩm câu gì đó, có lẽ là tạm biệt.

    Người lái xe quay cửa xuống.

    - Chào anh, - chị ta nói với anh. - Tôi là Stephanie. Tôi hiểu Betsy tưởng Tod lái xe. - Chị mỉm cười. - Khó thật đấy.

    Michael cười đáp lại.

    - Nghe vậy thật mừng. Tôi nhớ lại hồi mười tám tuổi. Tập trung sau tay lái không phải là thế mạnh của tôi.

    - Chồng tôi cũng nói y như thế. - Stephanie liếc nhìn vào ghế sau rồi ngả người gần hơn. - Thật là hay thấy bọn trẻ lại chơi với nhau. Jolene thế nào rồi?

    Mọi người hỏi anh câu đó suốt. Thực sự anh chẳng bao giờ biết nói gì.

    - Cô ấy ổn.

    - Nhờ anh nói với chị ấy tôi hỏi thăm nhé.

    - Tôi sẽ nói. - Anh lùi lại, quan sát chiếc xe trở xuống đường cái và phóng đi.

    Anh quay lưng, đi về nhà. Anh dừng lại trên hiên, nhìn quanh. Nắng trời tràn qua tấm mành mành trắng, làm những tấm nệm ghế phai màu sáng bừng, cỏ ở đằng trước vẫn một màu xanh thẫm, đầy sức sống - cái nóng mùa hè như chưa tìm được đường tới đây. Bên kia đường, phía dưới, anh có thể thấy một gia đình đang tụ tập, nhóm một đống lửa và xếp ghế cho một ngày nghỉ trên bãi biển. Trong một năm thông thường, Jolene sẽ ở dưới đó, sắp xếp đồ uống ướp lạnh và ghế.

    Anh đi vào trong nhà.

    - Này Lulu, - anh nói lúc đóng cửa lại sau lưng. - Con có muốn giúp bố tìm lá cờ của chúng ta không?
     
  16. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mười hai

    Mẹ yêu quý,

    Con đã có một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt CHƯA TỪNG CÓ! Mẹ sẽ không tin chuyện xảy ra đâu. Con kể từ đầu nhé. Trước hết, con đã có điện thoại riêng - mẹ nhớ không? - và Sierra cho là nó rất đỉnh, rồi bọn con ngồi với nhau. Lúc đó nó nói chuyện với con ở PE, và SAU ĐÓ nó cãi nhau với Zoe vì Zoe toàn nói dối nó về những điều Jimmy nói về nó. Thế là Sierra lại là bạn của con! Tuần trước, bọn con đã đi phố cùng nhau và xem Đại chiến thế giới, hay tuyệt.

    Mẹ có đoán ra không? Zoe cũng ở đó và chúng con không nói chuyện với nó.

    Bố bảo đến tháng Bảy, Sierra và con có thể cùng đến trại chèo xuồng. Tuyệt, mẹ nhỉ?

    Mà, con kể hết mọi thứ rồi. Ở đây tất cả đều ổn.

    Lulu không nghĩ nó tàng hình mọi lúc nữa, và thế là tốt. Bọn con đã đề nghị bố treo một lá cờ.

    Con phải dừng đây. Bố lại gọi pizza ăn tối và con muốn có dứa trên bánh. Mẹ bảo trọng nhé.

    Yêu mẹ, B.

    TB: Sierra muốn biết liệu mẹ có bắn ai không. Có không hở mẹ?

    Betsy yêu quý,

    Chà, thật nhiều tin tức. Mẹ rất vui khi nghe tin con và Sierra tiếp tục tình bạn. Cả hai đã là bạn suốt một thời gian dài, và những tình bạn như thế rất có ý nghĩa. NHƯNG mẹ cũng muốn con thận trọng. Mẹ không quên việc Sierra với những điếu thuốc lá, và nói thật, mẹ nghĩ thỉnh thoảng nó hầu như là một cô gái tầm thường. Con hãy thận trọng nhé.

    Con cũng nên nghĩ lại con đã cảm nhận ra sao khi Sierra và Zoe cho con ra rìa. Con có thực lòng muốn là loại người đối xử với người khác như thế không xúc phạm đến tình cảm của một cô gái trong cuộc thi đấu điền kinh? Hãy đối tốt với Zoe. Hãy là cô gái mà mẹ biết là con có thể nhé.

    Tuy vậy, mẹ vui vì con có một mùa hè vui vẻ. Mẹ ước giá mẹ được ở đó. Chắc chắn là mẹ rất nhớ các con.

    Đừng lo cho mẹ. Mẹ biết con đã xem bản tin trên CNN, nhưng mẹ ổn mà. Thực ra, ở đây rất nguy hiểm. Nhưng mẹ và cô Tami thường bay tránh các khu vực nguy hiểm. Chúng ta lái cho các VIP đi đây đó, và chở đồ tiếp tế. Các con không cần lo về mẹ. Thật đấy.

    Yêu các con rất, rất nhiều. Mẹ

    TB. Nói với bố ăn pizza thế đủ rồi! Mà không mẹ không bắn ai hết. Có phải Sierra hỏi con câu ấy thật không?

    THÁNG BẢY 2005

    Trước kia mẹ đã đọc một cuốn của Stephen King có dùng thuật ngữ SSDD (Cứt thì vẫn thế, nhưng ngày thì khác hẳn). Tháng vừa qua ở Iraq gần như là thế. Ngày tiếp ngày, dậy từ 0 giờ rưỡi, tối om, nhận lệnh, kiểm tra máy bay và bay đi.

    Hôm nay, mẹ trực hơn mười bốn giờ liên tục. Nói thật, gần như hầu hết thời gian, Tami và mẹ mệt đến mức chúng ta khó mà trò chuyện trước khi ngủ thiếp đi. Nóng và bụi bặm không chịu nổi. Ban ngày, hầu như nhiệt độ trên 55 độ C, nhất là khi phải đội mũ sắt, đeo găng và mặc áo chống đạn. Vậy đấy, sau một phi vụ, mẹ không thể cảm nhận tốt được.

    Bọn mẹ bay nhiều vào ban đêm, như thế tốt hơn, ít nhất là đỡ nóng. Thỉnh thoảng, chúng ta chở các binh lính bị thương và mẹ phải nói rằng, công việc đó không dễ dàng gì. Mẹ không thể gạt ra khỏi tâm trí hình ảnh những người lính bị thổi tung, đẫm máu, la hét kêu cứu.

    Mới hôm qua thôi, mẹ đã ngồi đến phút cuối cùng với một binh sĩ ở bên ngoài một trong những lán cứu thương. Cậu ta trẻ - chưa đầy hai mươi nhăm - và mẹ biết sẽ không làm gì được cho cậu ta. Mẹ không phải là bác sĩ, thậm chí lúc này mẹ không thể miêu tả vết thương của cậu ta ra sao, chúng quá ư khủng khiếp. Song mẹ biết thế là hết.

    Dù vậy, mẹ vẫn nắm bàn tay cậu ta, nghe cậu ta nói chuyện, phần lớn cậu ta chỉ nói “nói với vợ tôi là tôi yêu cô ấy”. Mẹ bảo sẽ nói, và mẹ sẽ viết thư cho cô ấy - mẹ còn biết làm gì hơn? Nhưng khi mẹ để cậu ta lại, khi cậu ta chết, mẹ đang đứng đó, lắng nghe cuộc chiến tiếp diễn, các bác sĩ quát tháo, một chiếc trực thăng hạ cánh gần đó, mẹ nghĩ: Mẹ biết nói gì về một kết cục như thế này đây? Lẽ tất nhiên mẹ nghĩ đến các con, những người mẹ yêu quý hơn cả cuộc đời, nhưng còn Michael thì sao? Mẹ biết bố con không còn yêu mẹ nữa - nếu lời lẽ không đủ để chứng minh, thì sự thiếu vắng những bức thư từ lúc mẹ ra đi chắc chắn làm rõ thái độ của bố - nhưng mẹ vẫn rất yêu bố kia mà?

    Sự thật là, rốt cuộc mẹ sẽ vươn tay ra tìm bố. Mẹ biết mẹ sẽ thế. Vươn tay với lấy một người đàn ông không còn muốn ở đó nữa.

    Giống y như bà ngoại con vậy.

    Cuối tháng Bảy, Michael và các con đã ổn định nếp sống hàng ngày, có thể sắp xếp ổn thỏa được. Tuần này, Betsy ở trại hè kéo dài suốt tuần ở đảo Orcas, nơi nó học chèo kayak(*), Lulu nghỉ cuối tuần với bà nội. Điều cuối cùng anh nghe được là hai bà cháu đang làm món ăn bằng mì ống khô.

    Vắng chúng, căn nhà trở nên yên tĩnh. Có lẽ quá yên tĩnh.

    Trời đang muộn dần, màn đêm bắt đầu buông. Sau một ngày dài ở văn phòng, Michael về nhà, ăn một bát Raisin Bran rồi trở lại làm việc. Cuối cùng anh đã nhận được bản sao lý lịch quân nhân của Keith, anh trải các tài liệu lên bàn bếp, cạnh các biên bản lấy lời khai. Tuần trước đó, anh đã nói chuyện với Ed và vợ ông cũng như với bác sĩ Cornflower. Có cả một danh sách các nhân chứng sắp tới, quân sự và dân sự.

    Theo các thông tin thu thập được, trước khi tham chiến, Keith là một chàng trai tỉnh lẻ bình thường. Cậu được học bổng của địa phương, cậu có những cú đánh bóng chày ngoạn mục, và đã tốt nghiệp trung học. Cậu yêu cô gái nhà bên. Họ có một đám cưới ở câu lạc bộ thể thao nông thôn, có cả DJ và quầy rượu miễn phí, rồi đi Honolulu nghỉ trăng mật.

    (*) Xuồng nhẹ dùng cho giải trí và thể thao.

    Rồi sau đó là ngày Mười một tháng Chín.

    Ngày hôm đó đã thay đổi toàn bộ cuộc đời của Keith. Cậu có một người bạn cùng lớp trên chuyến bay 93, cậu ta đến miền Đông để tìm hiểu về các trường đại học. Khi Keith nghe tin về vụ máy bay đâm tòa Tháp đôi, về mối nguy hiểm đột ngột, bất ngờ của chủ nghĩa khủng bố trên đất Mỹ, Keith gia nhập Lính thủy đánh bộ.

    Nó là một chàng trai tốt, - Ed nói và lắc đầu. - Keith muốn là một phần trong giải pháp.

    Thế là Keith đến trại huấn luyện tân binh và ra trận. Cậu đã tham chiến hai vòng ở Iraq, và mỗi lần trở về, Ed nói ông thấy cậu ta ngày càng không phải là đứa con mà ông đã nuôi dạy.

    Michael giở qua nghiên cứu mà nhóm của anh tập hợp. Keith đã ở tam giác Sunni, một trong các vùng chí tử nhất của cuộc chiến. Bom ở lề đường nổ trúng đơn vị tôi ít nhất hai lần một ngày, hàng ngày, suốt một năm, Keith kể. Rất nhiều người nổ tung quanh ta. Nhiều người bạn đã chết... khi tôi hồi hương, âm thanh là thứ tồi tệ nhất. Khi có người sập mạnh cửa hoặc một chiếc ô tô nổ máy, tôi nằm xuống đất. Một ánh sáng bất chợt cũng có thể làm tôi hoảng hốt.

    Michael ngồi dựa vào lưng ghế. Tại sao anh không biết tất cả chuyện này, về những người đã chết và sự tàn phá, về những vết thương mà binh lính của chúng ta phải chịu đựng? Ơn Chúa, đây là năm 2005. Cuộc chiến đã tiếp diễn một thời gian. Sự thật ngày càng thấy rõ. Bản tin thời sự hàng đêm lẽ ra phải đưa hình ảnh những cỗ quan tài phủ cờ khiêng lên máy bay vận tải, những người hùng trở về nhà trong những cái hộp.

    Anh đứng dậy, ra khỏi bàn. Vụ Keller bắt đầu làm anh bận tâm sâu sắc, và không phải vì những lý do thông thường. Càng đọc về thân chủ của mình, anh càng lo lắng cho Jolene.

    Anh chộp một chai Corona trong tủ lạnh, bật nắp và ra đứng ngoài hiên. Tại đó, anh sờ vào lưng cái ghế bằng liễu gai trắng tước vỏ bên cạnh mình. Sao lại mua đồ mới? Jolene đã nói khi họ tìm thấy chiếc ghế này bị bỏ rơi cạnh đường. Hồi đó, họ có nhiều tình yêu hơn tiền bạc, anh không thể từ chối chị thứ gì, kể cả một chiếc ghế bành cũ, không mấy hấp dẫn. Em muốn có một chiếc ghế cho ta biết cả một câu chuyện.

    Đêm yên tĩnh quanh anh. Ở nơi nào đó, một con sói đang tru; âm thanh đó thật tang tóc, bi thảm.

    Trên con đường bên dưới, một chiếc xe đạp rẽ vào đường xe chạy của nhà Flynn - là Seth. Michael chợt nhớ một năm về trước, Betsy và Seth đã cùng nhau phóng xe đạp liên miên, và Jolene đã rất lo...

    Michael vẫy Seth.

    Seth trông thấy anh và đạp xe từ đường dành cho xe sang đường khác.

    - Chào Seth, - Michael nói lúc cậu trai đạp xe vào vùng ánh sáng để lại những hình cố định trong ga ra. Seth gầy gò và kỳ quặc như mọi khi, gò má cậu phẳng, mái tóc đen thẳng tuột. Tối nay cậu mặc toàn đồ đen. Không phải là một ý kiến hay khi đạp xe trong đêm.

    Cậu xuống xe và giũ nó bên cạnh.

    - Chào chú Z.

    - Cháu khỏe không, Seth?

    Cậu bé nhún vai.

    - Cháu nghĩ là ổn ạ. Bà cháu đang ở với cháu. Tối nay bà thuê một bộ phim. Chắc là loại G và các diễn viên nói huyên thuyên. Tuần này bố cháu đến Ellensburg mua phụ tùng ô tô. Betsy vẫn ở trại kayak ạ?

    Michael gật đầu.

    - Đến Chủ nhật.

    - Ồ.

    Michael cau mày.

    - Cháu muốn uống Coke không?

    Seth cười toét, để lộ hàm răng niềng.

    - Tuyệt cú mèo.

    Michael coi đó là “có” và vào trong nhà lấy đồ uống. Lúc anh trở ra hiên, Seth đang đứng dựa vào các chấn song, chiếc xe đạp nằm bên lề con đường rải sỏi.

    Michael ngồi xuống. Lẽ ra anh nên hiểu rõ cậu trai này - cậu ta luôn quanh quẩn đâu đó; trước kia, Seth và Betsy không rời nhau - nhưng thật lòng mà nói, suốt từng ấy năm Michael chỉ nói với Seth khoảng mươi từ khi cậu ở gần. Với Carl cũng vậy. Michael không giao lưu nhiều với họ. Cho đến bây giờ.

    - Seth này, cháu với Betsy dạo này ra sao? Một hồi bọn cháu rất thân thiết, sau đó chú biết là cháu đã bỏ đi.

    - Betsy bắt đầu giao du với mấy đứa con gái mà cháu gọi là sói cái. Sierra và Zoe. Chúng nó cho rằng cháu là người kém cỏi. Cháu đoán bây giờ Betsy cũng đồng tình với chúng.

    Michael nhăn mặt.

    - Chú không nghĩ là nó nói thế.

    - Chú nghĩ lại đi, - Seth lầm bầm. - Cháu không phải là người nổi tiếng nhất trong trường.

    - Chú cũng thế, - Michael nói. - À, tiền vệ Jerry Lundberg đang ngồi tù. Trường trung học chắc là thời gian huy hoàng trong đời cậu ta.

    Seth uống một ngụm Coke. Rồi cậu nói:

    - Hôm qua có một trận ném bom. Cháu xem trên CNN. Một máy bay trực thăng rơi. Chú có biết khi một trong những người lính của ta bị giết, người ta ngừng liên lạc ở căn cứ, cho đến khi những người thân biết tin không? Cháu giống như đang đợi một cú điện thoại. Tuy vậy, họ ổn.

    Michael ở tòa suốt ngày. Anh không xem thời sự khi về nhà.

    - Chú không biết, - anh nói, giọng anh sít lại.

    - Mẹ cháu vẫn gửi ảnh của mẹ và cô Jo. Giống như những bức ảnh nghỉ hè; đàn bà chỉ muốn vui chơi. Mẹ cháu tưởng cháu là thằng ngốc chắc.

    - Không đâu, - Michael nói dè dặt. - Đấy không phải là lý do.

    Seth nhìn anh.

    - Bố cháu bảo chúng ta cần phải tin mẹ cháu ổn, thế là mẹ cháu sẽ ổn.

    - Phải, - anh nói và nhìn xuống cốc bia còn một nửa của mình.

    - Cháu sợ sẽ quên mẹ cháu.

    Michael ngoảnh đi. Anh hiểu vì sao việc đó có thể xảy ra, vì sao ta có thể quên ai đó. Bản thân anh đã chẳng làm việc đó ư, anh đã quên Jolene trong khi chị vẫn đứng bên anh đấy thôi?

    Michael không nhận ra anh đã im lặng bao lâu, nhưng lúc Seth hắng giọng, và nói:

    - Cảm ơn chú vì lon Coke. Cháu về nhà đây. Bà cháu sẽ gọi Vệ binh Quốc gia khi cháu về muộn, và trong gia đình cháu, đó không phải câu đùa. Bà sẽ gọi Ben Lomand, và bác ấy tha hồ mắng mỏ cháu.

    Michael mỉm cười.

    - Nói chuyện với cháu hay thật, Seth ạ. Cho chú gửi lời chào bố cháu nhé.

    Khi cậu trai quay đi, Michael nói thêm:

    - Thỉnh thoảng cháu nên đến chơi với Betsy.

    Seth quay sang anh. Nỗi buồn trong cái nhìn chán nản của cậu bé khiến Michael ngạc nhiên.

    - Cháu mong thế.

    Nếu Dante(*) sống trong thời hiện đại, Michael chắc rằng ông sẽ đi phố mua sắm cùng con gái để hiểu một trong những tầng địa ngục. Nhất là khi phải đến đó tìm một món quà sinh nhật cho cô bạn thân thất thường của đứa con gái mười hai tuổi của bạn. Hai cha con đến đây đã một giờ mà chưa tìm được gì. Anh đã chán ngấy ngắm những cái bờm lấp lánh, những áo phông đường viền cổ rách toạc và những tranh quảng cáo các nhóm nhạc nam khiến anh có thể hét lên.

    Lúc này họ đang trong Wal-Mart, lướt khắp gian đồ trang điểm. Lulu giống một con chó sục đang kéo căng dây; nó túm tay Michael và giật mạnh, giục anh tới một món đồ rẻ tiền, lóng lánh.

    - Kia kìa, - Betsy nói và chỉ một cái hộp nhỏ màu hồng, đựng một lô các đồ trang điểm. - Nó thích cái kia.

    - Sierra có được phép trang điểm không?

    Betsy mở to mắt nhìn anh.

    - Con là đứa duy nhất không được phép.

    Anh nhìn Betsy, thấy mascara nhòe nhoẹt dưới mắt nó và lớp phấn hồng trông như màu các chiến binh da đỏ bôi lên mặt.

    - Đúng thế. Con không được phép. Lấy đi. Chúng ta đi thôi.

    - Nó đắt đấy.

    - Lấy đi. - Thực ra, anh sẽ trả bất cứ thứ gì, miễn là được ra khỏi đây. Lulu đòi:

    - Con muốn có một thứ, bố ơi, - và giật bàn tay anh.

    - Con cần giấy gói và một tấm thiếp, - Betsy nói.

    Michael khá chắc là anh rên to. Dù vậy, anh theo Betsy ra khỏi gian đồ trang sức và tới bất cứ thứ gì tiếp đó, trong lúc vẫn nghe Lulu hét: Đứng lại, bố! Con muốn cái, cái kia và cái kia!

    (*) Dante Alighieri (1265-1321): Nhà thơ Italia, là một trong những nhân vật lỗi lạc của nền văn học thế giới. Tuyệt phẩm của ông là Hài kịch thần thánh.

    Ở chỗ gói quà, Betsy dừng lại đột ngột đến mức Michael xô phải nó. Lulu réo lên:

    - Trời ạ, Betsy...

    - Con phải vào phòng vệ sinh, - Betsy nói.

    - Kìa Betsy, con có thể đợi đến...

    Nó quay sang anh:

    - Ngay bây giờ.

    Nó nói quyết liệt đến nỗi anh nhăn mặt. Vừa thở dài, anh vừa theo con đến phòng vệ sinh, mặc dù nó suỵt để ngăn anh lại, nhưng anh có thể làm gì được? Gần đây, anh gia tăng một nỗi sợ phi lý là sẽ mất một trong hai đứa con. Anh có những cơn ác mộng, trong đó anh nói với Jo Anh không biết, anh chỉ quay đi có một giây thôi.

    Anh ngồi xuống một trong những cái ghế bất tiện để đợi.

    - Bố ơi, chơi trò bánh bao nhỏ đi, - Lulu nói, nó giơ tay lên như kịch câm.

    - Gì hả?

    Lulu chưa kịp than vãn, Betsy đã ra khỏi phòng vệ sinh, trông nhợt nhạt và hoảng hốt. Nó cử động vụng về, như thể đầu gối nó không gập được nữa.

    Anh đứng dậy, lập tức lo lắng.

    - Betsy?

    Nó nhìn quanh. Khi anh gọi tên nó lần nữa, to hơn, Betsy ngần ngại.

    - Suỵt.

    Anh đến gần hơn.

    - Có chuyện gì thế, con yêu?

    Betsy ngước nhìn anh, miệng nó run run, mắt mở to.

    - Con bắt đầu hành kinh.

    Dạ dày Michael rơi xuống theo nghĩa đen.

    - Ồ.

    - Hành kinh là gì? - Lulu nói to và Betsy vội đưa tay bịt chặt miệng em gái.

    Lulu kêu ré lên, ngay lập tức.

    - Im đi, Lulu, - Michael rít lên. Anh nói với Betsy. - Chúng ta làm gì đây?

    - Con cần... một thứ.

    - Một thứ. Phải. - Thứ nó cần là một người phụ nữ, nhưng điều đó không thể xảy ra. Anh nắm bàn tay con và dẫn nó trở lại cửa hàng. Nó đi cứng nhắc, vẫn để hai bàn tay ra đằng sau, che mông.

    Sản phẩm đành cho phụ nữ.

    Chắc chắn là đây rồi. Michael nhìn chằm chằm vào những gói sặc sỡ, cố hình dung con gái cần thứ nào. Có cánh! Mảnh vải dính! Hút nước!

    Trông Betsy như sắp nôn.

    - Nhanh lên, bố. Nhặt lấy một gói.

    Tiến lên nào, Michael. Sắp lên thớt. Nó cần anh ngay lúc này.

    - Được, - anh nói kiên quyết và đến gần giá các sản phẩm, đọc các gói.

    - Bố, - Betsy nói thì thào, nó nhún lên nhún xuống trên ức bàn chân. - Nhanh lên.

    Anh chẳng hề biết cái gì làm cho loại này tốt hơn loại kia, vì thế anh chọn loại đắt nhất và đưa cho con.

    Betsy thở hổn hển.

    - Con không thể mua nó. Nhỡ có người con quen ở đó thì sao? Ôi, lạy Chúa.

    - Đúng thế. - Anh gật đầu. - Bố sẽ gặp con ở phòng vệ sinh.

    Betsy đỏ mặt, vẻ biết ơn và chạy đi. Michael bế bé Lulu vừa ngọ nguậy, vừa phàn nàn lên. Suốt dọc đường đến quầy thu tiền, nó hát “hành kinh-hành kinh-hành kinh” to hết cỡ. Anh cười ngượng nghịu với người phụ nữ bán hàng, rồi vội vã trở lại phòng vệ sinh, tay cầm cái túi nhỏ.

    Betsy đợi anh cạnh bức tường sau, đang gõ gõ chân.

    - Con có... ờ... biết dùng thứ này không? - Anh hỏi.

    - Đây không phải là khoa học tên lửa, bố ạ. - Có thể nói nó muốn châm biếm, nhưng giọng nó không đủ sắc nhọn. Nó cầm cái túi và chạy vào phòng vệ sinh.

    Ít nhất mười lăm phút sau, Betsy mới chậm rãi ra khỏi phòng vệ sinh, nhìn Michael chằm chặp. Trông nó sợ hãi và non nớt; hài hước thay, vì sự việc này được cho là bắt đầu trạng thái là phụ nữ. Từ từ, nó xoay người lại.

    - Bố có thấy gì không?

    - Không, - Michael nói nhẹ nhàng. - Trông con rất ổn.

    - Chà, - Betsy đáp.

    - Bây giờ chúng ta đi được chưa? - Lulu rên rỉ.

    Michael bế con gái út lên và họ rời đi, một lần nữa quay về nơi gói quà. Lúc họ chọn giấy gói, thiếp, mua băng dính và ruy băng, Lulu ở ngoài tầm kiểm soát, nhưng tiếng than vãn và chỉ trỏ của nó còn dễ hiểu hơn sự im lặng của Betsy.

    Trái tim Michael luôn hướng về nó. Anh biết đây là một trong những khoảnh khắc sẽ nối tiếp nhau và nhớ lại cái ngày mẹ nó đã thất vọng ra đi, còn bố nó đã bỏ rơi mẹ nó.

    Anh muốn cho con một thứ để hiểu sự day dứt của hồi ức này khi nó ngoảnh nhìn lại. Anh đang nghĩ thế lúc họ đi qua quầy kim hoàn.

    - Betsy, - anh nói, - con có muốn xỏ lỏ tai không? Chúng sẽ có một ngày đặc biệt đấy.

    Betsy há hốc miệng rồi cười toe toét, để lộ những nẹp cao su đỏ, trắng và xanh lơ trên cái niềng răng.

    - Mẹ bảo con phải mười ba tuổi cơ.

    - Con sắp đến rồi. Và... hiện giờ con đã là một phụ nữ, bố nghĩ thế, - anh lẩm bẩm, không thoải mái khi nói câu đó. - Chúng ta không phải kể với mẹ con.

    Betsy choàng cánh tay quanh Michael và ôm ghì anh thật chặt.

    - Cảm ơn bố.

    - Cái gì? Con CŨNG thế cơ! - Lulu nói, cao giọng.

    Michael cau mày. Thực ra, con gái bé của anh đã rít lên, xứng tầm với một con chim thời tiền sử bị sa bẫy. Anh nhìn quanh, tin chắc mọi người đang nhìn chằm chặp. Bố ơi, con xin-in-in-in-in-in bố...


    Mẹ yêu quý,

    Bố bảo con phải viết thư gửi mẹ, nên con viết đây. Con đã bắt đầu hành kinh. Ở Walmart. Cùng với bố.

    Bố mua cho con băng vệ sinh dày như tấm nệm đôi. Mẹ Sierra nói đó là chuyện xảy ra khi mẹ cử một người đàn ông làm công việc tởm lợm của người phụ nữ.

    Mẹ phải chịu trách nhiệm vì không ở đó khi con cần mẹ.


    THÁNG TÁM

    Trời ạ, nóng quá thể. Mình đã quen với mồ hôi và mùi khó chịu của mình đến nỗi không còn ngửi thấy nó nữa. Mình bắt đầu mơ đến kem. Đó là khi mình ngủ.

    Tối qua, chỉ huy gọi họp. Ông ta nói rằng chúng ta phải hiểu nhiệm vụ ngày càng nguy hiểm hơn. Bọn mình bị bắn suốt và hạ cánh dưới làn đạn. Hình như chúng ta sắp thực hiện nhiều cuộc không kích. Chà.

    Betsy đã bắt đầu hành kinh mà không có mình. Nói thật lòng, mình không thể viết ra điều đó, nó khiến mình cảm thấy thật tồi tệ. Mình đang bỏ lỡ cuộc đời của nó. Đang mất nó.


    Giữa tháng Tám, bác sĩ Cornflower cung cấp bản đánh giá về bệnh tâm thần của Keith. Chẩn đoán của ông: Trầm cảm nghiêm trọng sau chấn thương. Ngoài ra, bác sĩ còn đưa ra ý kiến rằng Keller có khả năng chịu đựng phiên tòa, cậu ta hoàn toàn hiểu bản chất của vụ việc.

    Điều đó có nghĩa là phiên tòa sẽ là một thử thách. Ngày xử đã xác định.

    Michael ngắm nhìn những gương mặt trẻ trung, háo hức và đầy hoài bão quanh anh. Họ đang ngồi bên bàn họp. Một trong ba cộng sự được chọn vào nhóm luật sư biện hộ đã đỗ đầu lớp và làm việc ít nhất sáu mươi giờ mỗi tuần. Muốn trở thành luật sư bào chữa cho bị can, bạn phải đầy tham vọng, và họ là như thế.

    - Chúng ta bắt đầu. Như các bạn thấy, PTSD là lời bào chữa giảm - khả năng, có nghĩa là chúng ta sẽ sử dụng nó cho chủ đích phủ định. Chúng ta sẽ chứng minh rằng Keith không thể hình thành chủ đích cụ thể là giết vợ; không có chủ đích thì không phải là tội giết người. Tôi không cần nói với các bạn rằng bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào cũng là một thắng lợi trong vụ này. Tuy nhiên, các vị hội thẩm không thích tình trạng giảm khả năng, cũng như họ không thích trạng thái điên rồ, vì thế chúng ta cần các chuyên gia, nhân chứng và các số liệu thống kê. - Anh phân công nhiệm vụ cho từng người - người nghiên cứu phán quyết, người hướng dẫn hội thẩm đoàn, người tìm tiền lệ ở bang Washington và các nơi khác. Người khác thảo kiến nghị trước phiên tòa quyết định. - Tôi muốn tìm ra bất kỳ vụ nào, ở bất cứ đâu có hiện tượng PTSD - đặc biệt là liên quan tới cuộc chiến Iraq - đã thành công và bất cứ vụ nào có tranh biện. Tôi muốn có bản dự thảo những yêu cầu của chúng ta đề xuất lời bào chữa vào thứ Hai. Hilary, cô bắt đầu việc đó. Cô phải có tất cả những biên bản và thông tin của các chuyên gia mà cô cần. Hãy bảo đảm là cô đáp ứng được mọi quy định về chứng cứ. Còn câu hỏi nào không?

    Im lặng.

    - Tốt.

    Michael đứng dậy, cả nhóm làm theo. Lúc họ ra khỏi phòng họp, anh đóng cặp và trở lại văn phòng của mình. Trong vài giờ tiếp theo, anh làm việc trên máy tính, dừng lại ở từng vụ có lời biện hộ PTSD mà anh tìm ra.

    Trên chuyến phà về nhà, anh vẫn tiếp tục. Anh đọc lại báo cáo của Cornflower lần nữa, đặc biệt tập trung vào lời Keith kể chuyện mình.


    Ở Ramadi, chúng tôi thường đánh cược lều của ai sẽ bị nã pháo tiếp theo... Tôi đang đi trở lại để khỏi bị lôi ra làm trò cười khi một quả đạn pháo rơi trúng Howitzer của chúng tôi... chúng tôi không thể làm được gì... họ bị thiêu sống ở đó, la hét... Rồi đến việc đóng bao - nhặt các phần thi thể... cẳng chân, cánh tay... chúng tôi cho chúng vào các bao và mang về. Thật kỳ lạ khi vồ lấy cánh tay của một người bạn thân...


    Michael đặt báo cáo xuống, chuyện gì đang diễn ra với Jolene ở nơi đó? Cô ấy nhìn thấy những gì? Mỗi khi đã nêu câu hỏi, anh không thể phớt lờ nó. Anh nghĩ đến vợ, và lần đầu tiên, anh hình dung việc xấu nhất...

    Bên ngoài vẫn sáng - màu oải hương và đẹp - khi anh đỗ xe trước Green Thumb.

    Mẹ ra gặp anh trước cửa, trông bà lo âu.

    - Xin lỗi, con đến muộn, - anh nói.

    Bà gạt lời xin lỗi của anh sang một bên bằng cái vẫy tay nôn nóng.

    - Betsy đang hoang mang. Bạn nó - Sierra - gọi cho nó cách đây một giờ, kể với nó rằng hôm nay có một nữ phi công lái trực thăng bị bắn hạ. Mẹ cố làm cho nó dịu lại, nhưng...

    Michael liếc qua mẹ, anh thấy Lulu ngồi trong một góc, bên bàn bày đồ làm vườn, giả vờ cho búp bê uống trà bằng cái cốc giấy.

    - Cháu nó đâu ạ?

    - Ở ngoài kia, bên tảng đá to kia kìa.

    Michael gật đầu:

    - Chúng con sẽ đi Pot ăn tối. Mẹ có muốn đi cùng không ạ?

    - Mẹ thích lắm, nhưng không thể. Tối nay, Helen và mẹ thay đồ bày trong tủ hàng. Ngày Lễ Lao động sắp đến rồi, bắt đầu buôn bán tấp nập đây.

    Anh cúi xuống và hôn lên má bà.

    - Cảm ơn mẹ. - Thở dài, anh đi xuyên qua cửa hàng, qua những giá chất đầy các đồ lặt vặt, máy trồng cây và dụng cụ làm vườn. Anh dừng lại ở cửa sau một lát lấy sức, rồi ra bãi đỗ xe chạy dài giữa các cửa hàng trên phố Front và bến du thuyền. Một tảng đá khổng lồ màu xám nằm trên mảng cỏ nhìn xuống vũng tàu. Hồi anh còn sống ở đây, bọn trẻ con thường bò lên, xuống và quanh tảng đá. Lúc này, anh thấy con gái ngồi trên tảng đá, mái tóc dài vàng hoe của nó rối tung vì gió hè ấm áp, nó nhìn đăm đăm ra biển. Hàng trăm con thuyền bập bềnh trên mặt nước phẳng, lặng lờ bên dưới.

    Anh đến cạnh tảng đá.

    - Này con, - anh nói và ngước nhìn.

    Nó nhìn xuống anh, bộ mặt xanh xao, non nớt của nó tàn tạ vì nước mắt. Một vẻ thẳng thừng đáng sợ trong mắt nó.

    - Chào bố. Bố về muộn.

    - Bố xin lỗi.

    Lúc anh đứng đó, cố nhớ lại vài từ của câu châm ngôn, thì chuông báo thức trong đồng hồ của nó kêu bíp bíp. Betsy giật mạnh chiếc đồng hồ ra và ném xuống đất.

    Anh cúi xuống nhặt nó lên, nghe tiếng bíp-bíp-bíp như vợ anh đang lắng nghe vào chính lúc này, ở một thế giới xa cách. Mất một lúc anh hình dung ra chị đang nhìn xuống đồng hồ của mình, chắc là cảm nhận gia đình đang ở xa biết bao.

    - Mẹ con vẫn ổn, - cuối cùng, anh nói. Nói thật lòng, trước vụ Keller mọi chuyện này dễ dàng hơn nhiều, lúc đó anh tin vào những lá thư lạc quan và những lời quả quyết là an toàn của Jolene. Bây giờ, anh đã hiểu rõ hơn. Làm sao anh có thể an ủi con trong khi nỗi sợ của nó là có lý và anh cũng sợ? - Không phải là mẹ đâu, Betsy.

    Betsy trượt từ tảng đá xuống.

    - Có thể lắm.

    - Nhưng không phải, - anh nói khẽ khàng.

    Mắt nó ướt đẫm, miệng nó run run. Anh có thể thấy sự bình tĩnh của nó đang tan ra mây khói.

    - Lần này thôi, - nó nói.

    - Lần này.

    - Con đang quên mẹ, - Betsy nói, nó thọc tay vào túi tìm bức ảnh mới nhất Jolene gửi cho, và giơ lên. - Đây... đây không phải mẹ. Mẹ không chỉ là một người lính.

    Liệu anh có thể nói đây không phải là một sự dối trá?

    - Chúng ta đến Crab Pot và ngắm ảnh mẹ đi. Nó sẽ làm con nhớ lại.

    Betsy gật.

    Thế vẫn chưa đủ.

    Anh với tìm bàn tay con. Đôi khi, một cái nắm tay là mọi thứ anh có thể làm.

    Sau bữa tối, Michael dẫn các con vào trong nhà và quan sát chúng chạy lên gác. Anh cảm thấy kiệt sức. Lẽ ra anh nên biết bữa tối ở Crab Pot có ảnh hưởng ra sao. Khí thế của Jolene ở đó mạnh mẽ biết chừng nào. Lulu và Betsy mất tròn mười phút ngước nhìn ảnh mẹ đính trên tường. Thậm chí Lulu không muốn ăn, nó cứ bám lấy những cánh bé xíu của cái đinh ghim mà khóc.

    Anh rót một cốc đồ uống và đăm đăm nhìn qua cửa sổ, vào màn đêm bắt đầu buông qua vịnh. Anh nghe thấy Lulu đến sau anh. Nó trèo lên người anh như một con khỉ, dính chặt vào hông anh.

    - Betsy đang khóc bố ạ, - nó nói bằng giọng lanh lảnh.

    Anh hôn lên trán con và thở dài.

    - Vì mẹ đấy, - Lulu nói rồi òa khóc. - Mẹ bị lạc hay bị thương phải không?

    Anh ôm chặt lấy con.

    - Không, con ạ. Mẹ khỏe.

    - Con nhớ mẹ.

    Anh đung đưa con tới lui, dỗ cho đến khi nó nín. Lúc nó bình tĩnh trở lại, anh đặt nó xuống sofa và bật đĩa Nàng tiên cá. Nó sẽ làm Lulu bận rộn một lúc. Lẽ tất nhiên, nó nên đi ngủ. Trời đã khuya. Nhưng anh chỉ nghĩ đến Jo, đến những việc có thể xảy ra.

    Anh không thực sự có quyết định gì; đúng hơn, anh thấy mình đi tới phòng làm việc. Anh vào trong và đóng cửa lại. Bàn tay anh run; những viên đá lanh canh trong cốc.

    Việc đó có thể xảy ra lắm.

    Anh sụp xuống sofa và cúi đầu. Betsy lo nó đang quên mẹ. Nhưng từ lâu trước đó, Michael đã quên Jolene, đúng không? Anh sống cùng chị, ngủ với chị, mà không hiểu sao vẫn quên người phụ nữ anh đã lấy làm vợ. Anh liếc sang trái và thấy bức ảnh lồng khung của anh và Jolene trong một vườn ươm cây ở Seattle từ nhiều năm trước. Nhìn đàn vịt kìa, Michael, rồi sẽ có ngày chúng mình cũng thế, lạch bạch cùng con cái theo sau... Anh nhớ chị trong hình ảnh đó, trong nụ cười rạng rỡ của Jolene.

    Anh hơi loạng choạng lúc đứng dậy. Đến giá sách, anh rút ra một cuốn album bìa da và một băng VHS cũ. Cắp vào nách, anh vào phòng giải trí, bảo Lulu theo anh lên gác.

    Anh gõ cửa phòng Betsy.

    - Chúng ta có thể vào được không?

    - Được ạ.

    Anh nhấc Lulu, bế nó vào trong phòng và ngồi xuống giường cạnh Betsy. Đặt con bé sang một bên, anh mở album.

    Ở giữa trang đầu tiên, phủ lớp băng dính trong suốt là một trong vài bức ảnh vợ anh hồi trẻ. Jolene đứng trên một tảng đá trồi lên, mặc quần jeans bạc màu và áo len dài tay rẻ tiền cổ chữ V. Chị hơi quay khỏi máy ảnh, nhìn vào khoảng xa xăm vô hình, những dải tóc dài vàng hoe bị gió thổi bay ngang qua mặt. Bên trái Jolene là một người đàn ông đang bỏ đi; anh chỉ có thể nhìn thấy một gấu quần jeans tả tơi và đôi ủng đen lê bước.

    Jolene thường nói chị chọn bức ảnh này bắt đầu đánh dấu cuộc đời chị vì nó rất điển hình: mẹ chị mất tích và bố chị đang bỏ đi. Anh đã xem tấm ảnh này nhiều lần, nhưng lúc này anh mới thực sự ngắm kỹ, anh thấy Jolene mới sắc nét, gầy gò làm sao. Tóc Jolene trông như đã nhiều tuần lễ không trông thấy cái lược, và vẻ mất mát trong mắt chị thật đau đớn. Chị đang dõi theo người đàn ông đang xa dần. Tại sao trước kia anh không nhận ra điều đó nhỉ?

    - Hồi ấy mẹ con mười lăm tuổi. Không lớn hơn con nhiều lắm, Bets ạ.

    - Trông mẹ buồn quá, - Betsy nói.

    - Vì chúng mình còn chưa ra đời, - Lulu nói, nhắc lại lời Jolene thường nói về bức ảnh này.

    Michael từ tốn giở các trang, dẫn các con theo cuộc hành trình vào đời của Jolene. Nhiều ảnh chụp Jolene mặc quân phục, ngồi trong máy bay trực thăng, ra ngoài chơi Frisbee(*). Trong các bức ảnh kế tiếp, nom chị cao hơn, khỏe khoắn hơn, nhưng không cần đến tấm ảnh cưới anh đã nhìn thấy chị, người phụ nữ anh yêu say đắm. Suốt lễ cưới, chị hết khóc lại cười, và bảo anh đây là ngày hạnh phúc nhất của đời chị.

    Đời chúng ta chứ, anh nói và hôn chị. Chúng ta sẽ luôn yêu nhau như thế này, Jo nhé.

    Tất nhiên chúng ta sẽ thế, - chị vừa nói vừa cười, và họ đã tin điều đó trong nhiều năm, cho đến khi... không tin nữa. Không phải, cho đến khi anh không tin nữa.

    - Mẹ xinh quá, - Lulu nói.

    Anh biết mọi thứ Jolene đã mất trong đời, những gì chị chưa bao giờ có và những gì chị đã tìm cách vượt qua, song trong các bức ảnh này, trông chị vui tươi đến không ngờ. Anh đã làm chị hạnh phúc; đó là điều anh luôn biết. Điều anh quên là chị đã làm anh hạnh phúc nhường nào.

    - Bao giờ mẹ về nhà? - Lulu hỏi. - Ngày mai à?

    - Tháng Mười một, - Betsy thở dài, trả lời. - Chỉ hai tuần lễ thôi.

    - Ồ. - Lulu thốt ra một tiếng nhỏ, the thé. - Lúc đó em sẽ năm tuổi nhỉ?

    - Ừ, - Betsy đáp. - Nhưng sinh nhật em mẹ không ở đây.

    (*) Nhãn hiệu một loại đĩa nhựa trong môn thể thao mà người chơi ném qua lại với nhau.

    Lulu chưa kịp khóc, Michael đã đứng dậy và cho băng vào đầu đĩa. Từ khi Jolene ra đi, các con chị xem một cách ám ảnh “vũ điệu tạm biệt” như anh thích gọi - những băng chị làm riêng cho từng đứa. Nhưng nhiều năm nay chúng chưa xem băng này.

    Anh ấn nút Play và bộ phim bắt đầu. Cảnh đầu tiên là Jolene, mắt nhòe nhoẹt, bế một đứa trẻ sơ sinh không to hơn nửa gallon sữa. “Nói chào những người hâm mộ của con đi, Elizabeth. Hoặc gọi con là Betsy nhé? Michael? Với anh, trông con giống như một Betsy...”

    Rồi Betsy chập chững đi lần đầu tiên, nghiêng ngả về phía trước, cười vang khi ngã phịch... Jolene vỗ tay rồi vừa khóc vừa nói: “Nhìn này Michael, đừng bỏ lỡ cảnh này...”

    Mười hai năm của đời anh qua đi trong bốn mươi hai phút.

    Anh ấn nút Stop.

    Đây là chị, Jo của anh. Bộ mặt xinh đẹp của chị biến dạng, hơi điệu vì nút Stop, nhưng dẫu màu sắc không sáng, không mịn, anh vẫn nhìn ra sức mạnh trong nụ cười của chị.

    Anh nhìn thấy toàn bộ đời anh trong mắt chị, những ước mơ, hy vọng và sợ hãi của anh.

    Anh không yêu em nữa.

    Sao anh có thể nói thế với chị? Sao anh có thể bất cẩn như thế với cuộc đời của họ, với bổn phận họ phải làm?

    Anh muốn nói lời xin lỗi chị, nhưng giờ đây thời gian và khoảng cách đã chia tách họ. Dù muốn nói gì đi nữa, cũng phải đợi đến tháng Mười một. Liệu chị còn muốn nghe không?

    - Ngày mai, bố con mình đi mua rồi gửi cho mẹ một gói vật dụng cá nhân nhé, - Betsy nói.

    - Hay quá! - Lulu nói và vỗ tay.

    Michael gật, không nói gì, hy vọng các con không nhìn thấy những giọt lệ trong mắt anh.


    Bị cột dây tại chỗ và nặng trĩu vì chiếc gilê chống đạn nặng mười ba ký rưỡi, Jolene lái chiếc Black Hawk tới Baghdad. Mồ hôi đọng dưới chiếc mũ sắt, làm ướt tóc chị, chảy ròng ròng xuống gáy chị. Da chị đỏ ửng, chị thở hơi khó khăn. Bàn tay chị trơn và ẩm ướt trong đôi găng. Ngay cả khi cửa trực thăng mở, ở đây vẫn nóng như một cái lò. Nước trong chai của chị ít nhất là 50°C - không thể làm cho mát lại. Tami ngồi ở ghế bên phải.

    Họ bay thành đội hình chiến đấu, ba chiếc trực thăng loại mạnh, rít ầm ầm lao qua bầu trời u ám. Bên dưới, Baghdad xòe như cái quạt về mọi phía, ngổn ngang một cách khó hiểu.

    - Mưa xanh... mưa xanh... - tiếng một phi công khác vang trên radio.

    Nó có nghĩa là khu vực họ đang bay vào rất nguy hiểm và đầy hiềm thù. Nó có thể là mọi thứ - đạn pháo cối, một tên lửa, một RPG(*), một cuộc đấu súng nào đó.

    (*) Tên lửa đạn đạo.

    Jolene nói vào bộ đàm:

    - Raptor tám-chín đổi sang hướng Đông. Ước tính giờ đến Green Zone là bốn phút.

    Chị chuyển đường bay; chiếc trực thăng đáp ứng ngay lập tức cái động chạm của chị, chúc mũi xuống, tăng tốc và ầm ầm lao tới.

    Ra-ta-ta-ta-ta. Đạn bắn vào trực thăng từng chùm. Âm thanh to đến nỗi dù đội mũ sắt, đeo che tai, Jolene vẫn nao núng.

    - Chúng ta đang bị bắn, - Tami nói lanh lảnh.

    - Gượm đã, - Jolene nói và nghiêng cánh, ngoặt gấp sang bên trái. Chị nghe thấy tiếng đạn súng máy bắn vào máy bay tinh-tinh-tinh. Một viên trước, rồi một loạt đạn gần như cùng một lúc, âm thanh như một trận mưa lên hộp thiếc. Khói đầy trực thăng.

    - Kìa, - Tami nói. - Hướng ba giờ.

    Một nhóm phiến quân trên mái nhà đang nã đạn. Một khẩu súng máy đặt trên giá ba chân khạc ra luồng đạn màu vàng.

    Jolene lại nghiêng sang trái. Lúc chị ngoặt gấp, chiếc máy bay bên phải chị nổ tung. Mảnh kim loại cháy đập vào sườn máy bay của Jolene. Sức nóng tràn vào bên trong cuồn cuộn, lắc họ từ bên này sang bên kia.

    - Knife không-bốn, bạn có làm theo không? - Tami nói vào radio. - Đây là Raptor tám-chín.

    Chiếc trực thăng cạnh họ lao xuống đất theo đường xoắn ốc. Khi chạm mặt đất, một đám khói đen bốc lên cuồn cuộn. Trong chớp mắt, Jolene không thể ngoảnh đi.

    Tami báo về căn cứ tọa độ máy bay rơi.

    - Knife không-bốn, bạn có làm theo không?

    Jolene làm một loạt cú ngoặt gấp, thay đổi tốc độ bay, thay đổi độ cao. Lên, xuống, từ bên này sang bên kia.

    Khi họ ra khỏi tầm đạn, chị quay nhìn phía sau vịnh.

    - Mọi người có ổn không? - Chị nói với toàn đội và nghe lời đáp của tất cả.

    Jolene theo chiếc Black Hawk khác vào sân bay Washington dành riêng cho trực thăng, hạ cánh sau nó. Chị run run lúc tháo móc chiếc gilê chống đạn và dây an toàn.

    Chị trèo khỏi ghế và bước xuống đường băng. Bầu trời xám xịt, nhưng ngay cả trong cảnh tối tăm chị vẫn nhìn thấy khói đen dày đặc vẫn đang bốc lên từ nơi máy bay rơi. Jolene nhắm mắt lại và nói lời cầu nguyện cho những phi công đã hy sinh, dù trong thâm tâm chị biết không ai sống sót sau vụ nổ. Vài giây sau, tiếng gầm của động cơ phản lực tràn ngập trời đêm; những quả bom nổ tung thành ngọn lửa đỏ rực. Ngay khi có thể, chị hiểu rằng máy bay trực thăng cấp cứu sẽ tới hiện trường và cố xác định vị trí những người sống sót cũng như nạn nhân.

    Chị không thể không nghĩ nếu mình còn sống và bị thương trên lãnh địa quân thù mà máy bay bị cháy, nó sẽ là sự chờ đợi dài nhất trong đời.

    Chị còn có thể làm gì khác không? Một lựa chọn khác về phía chị liệu có thay đổi được kết quả? Họ đã bay theo đội hình để bảo vệ lẫn nhau, nhưng Jolene đã không bảo vệ được máy bay của cộng sự; chẳng bao lâu nữa, ở nơi nào đó trên thế giới này, một đội trợ giúp thương vong sẽ tập hợp để báo cho gia đình tin tức xấu nhất.

    Tami và Jamie đến đứng cạnh chị. Họ đứng trước chiếc trực thăng của họ, lỗ chỗ những vết đạn.

    Không ai nói gì. Mỗi người đều biết nếu một viên đạn bắn đúng chỗ, là họ có thể ở trong chiếc máy bay bùng cháy trên sa mạc.

    - Có ai đói không? - Jamie vừa nói vừa bỏ mũ sắt.

    - Tôi lúc nào cũng đói, - Smitty đã tiến đến cạnh họ, vừa nói vừa ho. Cậu tặng cho mọi người cái cười rộng mở của mình, nhưng mắt cậu lại khác hẳn. Tối nay, lần đầu tiên trông Smitty già hẳn đi. - Tôi chắc mình sẽ uống hết một chai Mountain Dew.

    Như thường lệ, Jamie giữ cho mạch chuyện đều đều lúc họ đi bộ xuyên qua Green Zone. Mọi lời anh nói đều buồn cười, và mỗi người trong bọn đều muốn có cái gì đó để cười. Họ ăn món xào làm theo yêu cầu và uống sữa trứng nhà làm trong lúc đội bảo dưỡng hàn, vá máy bay của họ. Suốt trong thời gian đó, họ nói về đủ mọi thứ, trừ ý nghĩ trong đầu họ.

    Nửa đêm, họ trở lại không trung, bay trên Baghdad lần nữa. Họ bay men theo những vùng nguy hiểm nhất của thành phố. Thỉnh thoảng, đạn đại bác nổ vang khi những phiến quân cơ hội nghe thấy tiếng máy bay và bắn đại lên trời, hy vọng trúng vào thứ không thể nhìn thấy. Họ hạ cánh ở Balad yên ổn.

    Jolene tắt động cơ. Các cánh quạt quay chậm dần, tiếng thốc-thốc-thốc thoát ra từ mỗi vòng quay.

    Cuối cùng, Jolene nghỉ ngơi trên ghế. Qua cặp kính lồi nhìn trong đêm tối, vạn vật trông méo mó. Ở đây, trên lớp nhựa đường màu đen, chị thấy những hình người màu xanh lá cây chuyển động đằng trước chị.

    Thật vô lý, chị nghĩ đến những linh hồn thoát khỏi thân xác họ, nhắc chị nhớ tới những đồng đội đã hy sinh.

    - Con trai tôi bị thủy đậu, - Jamie nói ở phía sau chị. - Tôi đã kể với chị chưa nhỉ?

    Đúng là thứ chị đang cần: một thứ nhắc nhở đến gia đình.

    - Bọn trẻ khỏi nhanh lắm. Một năm nữa cu cậu sẽ không còn nhớ gì hết. Còn Betsy muốn bữa nào cũng có dâu tây.

    - Nó có nhớ là tôi không ở đấy không nhỉ?

    Jolene không dễ trả lời câu này.

    Chị tháo cặp kính lồi khỏi mũ sắt và tháo dây ghế. Lúc giẫm lên lớp nhựa đường, sự mệt mỏi thình lình bao trùm lấy chị, không phải là sự mệt nhọc thông thường, mà là sự mệt mỏi khó hiểu, là sự bí ẩn của cơ thể, một loại chết đứng.

    Chị muốn biết tối nay chị đã làm mọi việc có thể chưa, rằng chị không phạm phải sai sót nào, nhưng không ai có thể nói với chị điều đó, dù sao cũng không có ai để chị có thể tin cậy. Ý nghĩ đó tách chị ra, nhắc chị nhớ rằng ở đây, chị lẻ loi biết chừng nào. Chị ước có thể gọi cho Michael, kể với anh về ngày của chị và để giọng nói của anh xoa dịu những dây thần kinh rệu rã của chị. Thế nên nhiều người lính ở đây mới có sợi dây an toàn là hôn nhân. Như Tami và Carl.

    Ở đây có rất ít riêng tư, và vì Tami và Jolene thường xếp hàng gọi điện cùng nhau, nên họ nghe thấy câu chuyện của nhau. Chị nghe thấy Tami thì thầm Em yêu anh rất nhiều, anh yêu, chỉ nghe thấy tiếng anh cũng làm cho em mạnh mẽ trở lại.

    Chị nhớ hồi chị và Michael đã từng như thế, mỗi người là một nửa của toàn bộ. Tami tiến đến cạnh chị, hông chạm hông.

    - Cậu ổn chứ?

    - Không. Còn cậu?

    - Cũng không. Gọi điện về nhà đi. Mình cần nghe thấy tiếng chồng, - Tami nói.

    Họ băng qua căn cứ đến chỗ điện thoại. Lạ thay, hàng người rất ngắn. Trước mặt họ chỉ có hai người lính.

    Jolene để Tami gọi trước, chị nghe thấy bạn nói:

    - Carl à? Anh yêu? Em nhớ anh nhiều lắm...

    Jolene cố không lắng nghe. Thực ra, chị cần Michael ngay lúc này, cần anh nói anh yêu chị, anh đang đợi chị, để chị không còn cảm thấy lẻ loi ở đây, và chị vẫn còn có một cuộc sống ở nhà.

    Cuối cùng, khi đến lượt Jolene, chị quay số về nhà, mong có người ở đấy. Ở nơi đó là hai giờ mười lăm chiều Chủ nhật.

    - Alô?

    - Chào Michael.

    Chị nhắm mắt, hình dung ra nụ cười của anh. Chị muốn nói nhiều với anh, chia sẻ những xúc cảm của chị, nhưng biết làm thế nào đây? Anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được. Anh không như Carl; anh không tự hào vì việc chị làm ở đây. Anh không hiểu chị quan tâm sâu sắc đến những người lính khác cùng phục vụ với chị như thế nào đâu. Vì thế, chị cảm thấy càng tách biệt hơn, xa cách hơn.

    Như từ một cõi xa xôi, chị nghe thấy tiếng cái ghế cót két lúc anh ngồi xuống, và âm thanh giản dị, bình thường ấy khiến chị nhớ đến những người chị để lại phía sau và cách họ cư xử với nhau, tạo nên những kỷ niệm không hề có chị.

    - Em thế nào, Jo?

    Chị cảm thấy miệng mình run lên. Giọng anh mới dịu dàng làm sao; chị đã tự nhắc mình rằng anh thực sự không muốn biết điều đó. Anh có bao giờ muốn nghe về việc phục vụ của chị đâu? Chị không thể kể với anh rằng các bạn chị đã bị giết tối nay, rằng có lẽ đó cũng có phần lỗi của chị. Anh sẽ bảo chị rằng đây là một cuộc chiến tranh lố bịch và nhiều người lính đã chết vô ích. Chị thẳng người lên, hắng giọng.

    - Các con ra sao rồi? Lulu có háo hức vì sinh nhật nó không?

    - Chúng nhớ em. Betsy nghe tin một phi công lái trực thăng bị bắn rơi. Nó khá hoang mang.

    - Bảo với con là em ở xa tiền tuyến.

    - Nhưng em có an toàn không?

    Chị nghĩ đến tối nay và nhăn mặt.

    - Tất nhiên rồi. Em an toàn. - Đó là điều anh muốn nghe. - Em có thể nói chuyện với các con được không?

    - Mẹ đã dẫn chúng đi xem phim rồi.

    - Ồ.

    - Chúng sẽ thất vọng lắm đấy. Chúng rất nhớ em, Jo ạ. Lulu cứ hỏi suốt mẹ có về dự liên hoan với nó không.

    Chúng nhớ em.

    - Em phải đi đây.

    - Đừng. Anh muốn nói...

    Lúc nào cũng là điều anh muốn. Ý muốn ấy làm chị kiệt sức. Chị là một con ngốc mới cần anh.

    - Em phải đi, Michael. Còn một hàng dài sau em.

    - Em hãy bảo trọng, - anh nói sau một lát ngập ngừng.

    - Em đang cố. - Giọng chị rạn vỡ. Chị treo máy và quay ngoắt đi. Tami đã nghe thấy từng lời.

    - Tắm nước nóng được không? - Tami vòng tay ôm chị.

    Jolene gật. Họ về nhà lưu động của mình, chộp lấy đồ dùng rồi đến phòng tắm hoa sen. Jolene muốn nói gì đó với Tami, tán gẫu vu vơ để che giấu mọi cảm xúc, nhưng không thể.

    Ngay ở cái giờ khuya khoắt này, căn cứ vẫn là một nơi nhộn nhịp. Ba mươi ngàn đàn ông và đàn bà sống ở đây. Đấy là chưa kể những người làm hợp đồng, đến rồi đi.

    Jolene xỏ đôi dép tông vào buồng tắm và mở nước.

    Nước lạnh.

    Cố không nghĩ đến tắm vòi hoa sen - và nước nóng - như ở nhà, chị rửa ráy thật nhanh, cọ sạch mồ hôi và cát trên da thịt. Lau khô người, chị mặc lại bộ quân phục bụi bặm, bẩn thỉu của mình.

    - Mình không nghĩ là nước lạnh, - Tami nói và cười mệt mỏi.

    - Ừ.

    Họ ra khỏi nhà tắm và trở về khu D.

    Jamie và Smitty ngồi trên hai cái thùng thưa lật ngược ngoài cửa nhà, đối diện với nhà của Tami và Jolene, đang đợi họ. Cạnh Smitty là một thùng lạnh nhỏ màu xanh lơ và trắng, đựng đầy các lon đồ uống.

    - Muốn uống không? - Smitty nói. Jolene có thể thấy cậu gượng cười khó khăn biết mấy. Cậu có thể là một tay súng cừ và một người lính can đảm, nhưng vẫn là một chàng trai hai mươi tuổi, và buổi tối nay làm cậu bàng hoàng. Chắc chắn cậu sẽ không thể ngủ ngon; chẳng người nào trong số họ ngủ yên được.

    Tami và Jolene ngồi xuống cạnh họ - Tami ngồi trên bậc cửa, Jolene ngồi trên cái thùng thưa cạnh Smitty. Đằng sau họ, kim loại vẫn tỏa ra hơi nóng ban ngày, mặc dù ở đây, lúc này trời đã lạnh.

    Ở bên kia cánh cửa, những bao cát chất cao - nhiều dãy và dãy bao cát che chắn khỏi đạn súng cối nã gần và liên miên. Đối diện với chị, cách chưa đầy hai mét rưỡi là cửa tới nhà họ.

    - Bill Diehler ở trong chiếc Knife không-bốn, - Tami trang trọng nói.

    Jolene hình dung ra Bill: một phi công Vệ binh theo “trường phái cổ” ở Fort Worth, có bộ mặt to, hồng hào. Mới tuần trước, anh đã khoe tấm ảnh cô con gái đang đợi anh dẫn xuống lối đi trong lễ đường.

    Chị nhắm mắt lại và ngay lập tức ước giá đừng làm thế; chị lại nhìn thấy vài giây cuối cùng đó - kẻ bắn tỉa trên mái nhà, cuộc bắn ấy. Chị đã nghiêng sang trái, quay ngoắt khỏi chiếc Knife 04.

    - Wally Toddan là cơ trưởng, - Jamie nói. - Vợ cậu ấy vừa biết là có thai. Hôm qua, cậu ấy đến Haji Mart và mua cho con trai một quả bóng đá. Cậu ấy vẫn chưa kịp gửi đi.

    Jolene không muốn nghĩ đến chuyện đó, một đứa trẻ sẽ không bao giờ biết mặt cha.

    - Họ là những người anh hùng, - Jamie nói long trọng.

    - Những người anh hùng, - Jolene nói, nghĩ đến từ này và mọi ý nghĩa dành cho nó.

    Họ lẳng lặng chạm các lon đồ uống, tỏ lòng tôn kính những người bạn đã hy sinh. Sau đó, họ rơi vào im lặng. Cuối cùng, Tami đứng dậy.

    - Tôi đi ngủ đây. Bốn rưỡi sẽ đến rất nhanh. Jo à?

    Jolene quay sang Smitty và Jamie.

    - Các cậu ổn chứ?

    Jamie cười toét:

    - Mạnh giỏi cả, thưa sếp. Tôi sẽ giữ cho cậu bé này thoát khỏi rắc rối.

    Câu đó làm Smitty bật cười.

    - Anh ấy quá già nên không bị rắc rối.

    Jolene và Tami cùng đứng dậy, băng qua con đường nhỏ và bước vào căn nhà tối tăm, nặng mùi của họ. Khi đã ở đấy rồi, Tami bật đèn rồi quay nhìn Jolene:

    - Cậu đã làm mọi việc có thể rồi; cậu biết đấy. Tối nay cậu không có lỗi gì hết.

    Jolene chưa bao giờ thấy yêu bạn hơn. Sợ rằng nếu có cất lời; giọng chị sẽ làm bạn hoang mang; chị gật đầu.

    - Mình rất lo cho cậu, - Tami nói và ngồi xuống giường; ngước nhìn. - Trời đất ạ; mình lo cho cả hai chúng ta. Mình chỉ muốn về nhà.

    Jolene ngồi xuống giường mình. Chị nhìn thấy nỗi sợ trong đôi mắt đen láy của Tami; và nó tháo gỡ một thứ vẫn ràng buộc trong lòng chị.

    - Mình cũng thế, - chị nói khẽ.

    - Nếu chúng mình không...

    Trước buổi tối nay, Jolene sẽ ngăn Tami dừng lại ở chỗ này, nhưng giờ đây, chị im lặng và đợi.

    - Nếu mình không làm được việc này, - Tami nói nhẹ nhàng, -mình nhờ cậy cậu nói với Seth. Chắc cậu sẽ làm cho nó hiểu mình là ai.

    Jolene gật đầu trang nghiêm.

    - Còn các con gái mình sẽ cần đến cậu.

    Tami gật đầu.

    - Nhưng chúng ta nhất định sẽ trở về, - Jolene nói.

    - Lẽ tất nhiên; chúng ta sẽ về.

    Họ mỉm cười với nhau. Jolene không biết nom chị ra sao, nhưng chị nhìn thấy nỗi sợ trong mắt Tami. Không người nào trong bọn họ biết chắc như họ đã sống trước đây.

    THÁNG TÁM

    Làm sao mình viết được về cái chết của một đồng đội? Mình biết dùng từ ngữ nào để gạt bỏ nỗi sợ và sự ngượng ngập đang dần dần lan tỏa trong lòng? Mình không thể. Mình không muốn viết về nó nữa. Mình không muốn nhắc đến mùi khói hoặc âm thanh ghê rợn của kim loại rách toạc hoặc tiếng ầm ầm của đại bác. Mình không muốn nghĩ đến Wally Toddan và người vợ góa trẻ tuổi của cậu ấy, hoặc về đứa trẻ sẽ không bao giờ biết nụ cười của cha nó. Hoặc về cô dâu sẽ bước xuống lối đi trong lễ đường mà không có bố.

    Tưởng nhớ Knife 04, mình chỉ có thể nói thế. Điều duy nhất mình có thể nói. Các bạn là những người anh hùng và các bạn sẽ được tưởng nhớ.
     
  17. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mười ba

    Sau một ngày bay dài, nóng nực, vất vả không chịu nổi - phần lớn là đưa người và binh lính Iraq vào và vòng quanh Baghdad -, Jolene hoàn toàn mệt lử. Trong khi họ ra đi, Balad lại bị tấn công, và lần này căn cứ bị hư hại nặng. Mảnh đạn đã tàn phá gỗ và kim loại đến mức kinh hoàng, nhiều chiếc Humvees và các tòa nhà bị phá hủy.

    Chị bước xuống trực thăng, Tami đi một bên và Jamie bên kia. Không ai nói năng gì.

    - Mình cần đến trung tâm liên lạc, - Tami nói. - Xem họ có Internet dự phòng không. Nếu mình không nghe được gì từ gia đình, là mình đang mất nó.

    Cả ba rẽ xuống con đường tối tăm, đầy bụi giữa các ngôi nhà lưu động.

    Lúc này đã quá nửa đêm, và ngay cả trong lúc khuya khoắt này, căn cứ vẫn bận rộn. Đến căn nhà thông tin, Tami dặn:

    - Đợi ở đây nhé, - rồi vào trong. Lát sau chị đi ra, nom chán ngán. - Internet vẫn mất. Khốn kiếp.

    Jolene thở dài. Họ băng qua căn cứ; Jamie tách khỏi họ, vào nhà ăn tập thể, trong lúc Tami và Jolene vào nhà.

    Quá mệt để trò chuyện, mỗi người ngồi phịch xuống giường mình và mở laptop. Tối nay họ viết thư, và hy vọng ngày mai có thể gửi đi.

    Các con yêu quý của mẹ, Jolene viết.

    Cảm ơn gói vật dụng cá nhân. Mẹ không thể nói nó có ý nghĩa với mẹ ra sao khi nhận được bưu phẩm. Mẹ đoán Betsy đã chọn dầu gội đầu - mùi dầu tây thật dễ chịu biết bao - còn Lulu chọn cái kẹp tóc lấp lánh. Cài lên tóc mẹ nom rất xinh.

    Gần đây, bọn mẹ bay nhiều. Mẹ thường ra khỏi nhà lúc bốn rưỡi sáng phóng xe máy đến nhà ăn, sau đó lên trực thăng. Nếu trở về căn cứ trước chín giờ tối đã là may mắn. Hồi này bọn mẹ hay bị đánh chặn. Nhưng lúc nào mẹ cũng nghĩ đến các con. Nhất là khi đồng hồ báo thức của mẹ bị tắt, Betsy ạ. Mẹ hy vọng lúc này con cũng đang nghĩ đến mẹ.

    Hôm qua mẹ cố gọi về nhà, nhưng điện thoại không làm việc, vì thế mẹ đoán e-mail sẽ là giải pháp! Mẹ đã mua quà cho các con ở Haji Mart - nó gần như là một chợ phiên đặt trong căn cứ. Có thể nói là một thứ điên rồ. Mẹ đánh cược các con sẽ không ngạc nhièn vì cô Tami và mẹ lại tìm ra chút thời gian để mua sắm. Phụ nữ bao giờ cũng vẫn là phụ nữ, mẹ nghĩ thế.

    Ngày mai chúng ta có một bữa liên hoan. Mẹ nghe tin sẽ có xúc xích Đức và hạt đậu nướng giống như một bữa tiệc trên bãi biển ở nhà vậy!

    Mẹ biết mình đang ở quá xa, nhưng mẹ sẽ giả vờ như mẹ cùng các con tổ chức sinh nhật cho Lulu. Mẹ hy vọng quà sẽ đến đó đúng ngày! Hãy nghĩ đến mẹ lúc con thổi nến nhé, con gái bé bỏng của mẹ. Mẹ yêu con.

    Mẹ gần như bắt đầu buồn ngủ, vì thế tốt hơn hết là mẹ đi nằm đây. Bốn giờ rưỡi sẽ tới rất nhanh mà.

    Betsy, đừng quên nhắc bố về cuộc hẹn với bác sĩ chỉnh răng cho con. Tuần sau, con cần đến đó. Lulu, con có thể gửi cho mẹ một tấm ảnh trong bữa liên hoan của con không? Mẹ đã dán tấm ảnh mới nhất lên tường rồi.

    Những ngón tay của chị rời khỏi bàn phím. Chị muốn nói với Michael điều gì đó, nhưng là gì đây? Từ khi chị đến đây, anh chưa hề viết cho chị chữ nào. Vươn tay ra với anh khiến chị cảm thấy giống như mẹ chị, cố níu kéo một người đàn ông không yêu bà.

    Mẹ nghĩ đến các con hàng ngày và mẹ yêu các con. Rất, rất nhiều.

    Hãy nhớ: Chỉ chín mươi mốt ngày nữa là mẹ lại gặp các con. Đi chơi Disneyland nhé??? xxxooo

    Mẹ

    Jolene chưa bao giờ hình dung nổi cái nóng như mùa hè ở Iraq. Bụi bặm ở khắp mọi nơi - trong tóc, trong mắt, trong mũi chị. Mồ hôi chị như có sạn, và vừa tắm xong, chị lại bắt đầu đổ mồ hôi.

    Từ ngày đầu tiên ở đất nước này, chị biết rằng mỗi hơi thở có thể là cuối cùng, và ban đêm cũng không khá hơn. Chị mơ đến những đám cháy, đến đạn súng cối và những đứa trẻ đã quên mặt mẹ chúng. Chị chuẩn bị một hòa ước đầy phiền toái với cái chết.

    Những tổn thương thực thể khiến chị kinh hãi hơn: RPG và IED rứt thân thể thành nhiều mảnh, quăng những cánh tay, cẳng chân lên trời và xuống đất.

    Chưa bao giờ nỗi sợ của chị gần hơn một ngày như hôm nay.

    Chị đã thực hiện một “nhiệm vụ anh hùng”, nghĩa là bay qua sa mạc nhặt những phần còn lại của thi thể những người lính đã chết.

    Việc chị đang làm khác xa rất nhiều trong những ngày gần đây; mỗi lần quan sát nghi lễ, chị lại hình dung bản thân mình hoặc đội viên của chị nằm ở một trong những bệnh viện phẫu thuật tạm thời này, gãy vỡ không thể sửa chữa được, mặt nhợt nhạt như làm bằng sáp, và chị khóc.

    Lúc này chị đứng lùi khỏi cửa lều cứu thương, giữa đội được cử đi làm nhiệm vụ. Tất cả bọn họ đều đứng vươn cao và thẳng tắp, ngay cả trong khí nóng nhừ tử và đầy bụi bặm. Jolene và Tami là phi công, họ có thể ở lại trên máy bay, nhưng hình như chưa bao giờ họ coi điều đó là quyền lợi của mình. Vì thế họ ở đây, đứng cùng toàn đội để tỏ lòng kính trọng.

    Bệnh viện dã chiến ở xa thành phố, nung nấu dưới cái nóng ban trưa.

    Bệnh viện là một dãy lều bằng vải bạt trắng bẩn thỉu, nối với nhau bằng các vỉa hè bằng gỗ. Bên trong, sàn lát xi măng đầy những vết máu sẫm đen. Jolene không vào trong; chị đợi ở đây. Nhiệm vụ anh hùng có những thủ tục rất nghiêm ngặt.

    Vả lại, chị biết trong đó trông ra sao: hết võng này đến võng khác đầy những mảnh thi thể hư hại và người hấp hối. Những vết thương khủng khiếp, tàn phá có thể qua khỏi được trong thời buổi hiện đại này. Các bác sĩ ở chiến trường chẳng khác gì những người thợ thần diệu.

    Ở đây không chỉ có lính. Bên trong lều, nằm thành nhiều hàng là dân thường Iraq, trẻ em và phụ nữ ở quá gần một IED nổ tung hoặc trúng đạn pháo cối. Mùi thật nồng nặc, và càng tệ hơn vì hơi nóng khôn nguôi.

    Một bác sĩ chúi đầu qua cửa lều bạt và giữ cho nó mở ở phía sau ông. Sáu người lính đi theo ông, đẩy bốn cái cáng ra. Trên mỗi cáng là những gì còn lại của một người lính trong cái bao màu đen.

    Ngay lập tức, Jolene và Tami đứng nghiêm chào. Quang cảnh đi qua giữa họ nghiêm trang hệt như tâm trạng họ: mỗi người đều nghĩ sẽ cảm thấy ra sao nếu mình là người trong bao kia. Ở nơi nào gần đó, một phát đạn súng cối nổ tung qua lớp bê tông. Không người nào chùn lại.

    Vị bác sĩ mệt lử y như Jolene. Ông lần lượt đặt bàn tay lên từng thi thể đóng bao và nói giản dị: “Cảm ơn bạn”.

    Họng Jolene tắc nghẹn. Chị cúi nhìn các cáng, biết rằng những người lính đã hy sinh xứng đáng với cung cách tôn kính cuối cùng này của tất cả. Một trong những cái bao đó nhỏ, quá nhỏ, là một điều tồi tệ. Nó có nghĩa là các mảnh thi thể đều bị mất. Chắc chắn là hậu quả của IED hoặc RPG. Cạnh mỗi cái xác là một túi nhỏ trong suốt đựng các vật dụng cá nhân. Mặc dù mỗi túi được đánh dấu bằng những dấu vân tay đẫm máu, chị có thể trông thấy đồng hồ, thẻ quân nhân và nhẫn cưới trong đó.

    Nó khiến chị nghĩ đến Betsy, lúc giơ cái thẻ quân nhân của Jolene lên, hỏi liệu người ta có nhận dạng được chị không...

    Sự im lặng kéo dài thêm một giây, rồi có người nào đó trong lều gọi “Đại úy Craig”, viên bác sĩ trở vào trong lều.

    Theo sau những cái cáng và những người bảo vệ lặng lẽ, hai tổ lái Black Hawk băng qua căn cứ tới các máy bay trực thăng đợi sẵn. Tại đây, một lần nữa các thủ tục vận chuyển tiến hành chính xác theo quy định.

    Bên trực thăng của Tami và Jolene, Jamie và Smitty giơ tay chào các thi thể lần nữa; rồi họ khiêng những người lính hy sinh lên trực thăng, đặt họ xuống cực kỳ cẩn thận.

    Lúc việc chất xác đang tiến hành, những người lính từ khắp nơi đổ đến, người mặc quân phục, người mặc thường phục, họ đứng thành hai hàng thẳng tắp từ cửa trực thăng mở toang, giơ tay chào từ biệt những người bạn đã ngã xuống một lần cuối cùng.

    Jolene tự hỏi những người lính hy sinh này là ai. Là chồng? Là cha? Là mẹ? Gia đình họ có biết rằng cuộc sống của họ đã thay đổi không?

    Jolene và Tami gật đầu với nhau và trèo vào máy bay. Hôm nay, Tami ngồi ghế trái. Chị ngả người, đặt tấm thẻ nhiệm vụ anh hùng màu trắng lên kính chắn gió.

    Jolene cài dây an toàn ở ghế phải và bắt đầu kiểm tra các chi tiết trước khi bay. Cửa trực thăng đóng lại. Lát sau, họ cất cánh giữa vòng cát xoáy màu be.

    Bên dưới, những người lính bắt đầu giải tán.

    Trên chuyến bay tới sân bay Baghdad, cả đội im lặng như thường lệ trong những lần thực thi nhiệm vụ anh hùng. Những người đã khuất đè nặng lên tâm trí họ. Trong vài tháng qua, cuộc chiến bắt đầu nóng lên. Bị oanh tạc, bị bắn trúng bắt đầu là chuyện thông thường. Jolene đã nghe thấy tiếng pằng! của súng máy bắn trúng một chiếc trực thăng trong lúc chị ngủ và chị thường hét lên, thức giấc. Tuần trước, một viên đạn xuyên qua cửa cạnh đầu chị, làm cửa vỡ tan và ép bay mũ chị. Chị cảm thấy một tiếng thoác yếu ớt vào đầu và vẫn bay. Chỉ sau này, chị bắt đầu có nhiều cơn ác mộng về nó, tưởng tượng đầu chị nổ tung, thân xác chị trở về với các con trong cái bao màu đen dài năm chục phân, quá ngắn.

    Vào lúc họ bay trở lại Balad, Jolene đã kiệt sức. Nhiều tuần nay chị ngủ không ngon, và nó bắt đầu hủy hoại chị. Chị không thể nhớ nổi lần cuối không bị đạn pháo nã lúc nửa đêm là bao giờ. Chị ngủ trong cơn nã pháo nhưng thức dậy vì tiếng còi báo động om sòm.

    Sau khi kết thúc nhiệm vụ, tốp bảo dưỡng kéo đến kiểm tra trực thăng. Jolene và đội chị đi khỏi. Trong bóng đêm tối tăm này, không có sự thân thiết, không có những lời “đến nhà ăn làm cái bánh nướng đi”. Mỗi người trong bọn họ giống y như Jolene, đều đang nghĩ sự may mắn làm họ khác biệt những cái xác họ chuyên chở hôm nay mới mỏng manh làm sao.

    - Cậu ổn chứ, Tami? - Jolene hỏi lúc họ về đến nhà.

    Tami dừng lại.

    - Không. Không hẳn.

    Họ vào trong nhà. Tami bật công tắc nối với bóng đèn huỳnh quang trên trần. Ngay lập tức, khoảng không bé nhỏ tối tăm sáng bừng. Những bức ảnh gia đình ở khắp nơi, một quảng cáo phim Cướp biển vùng Caribbean của Johnny Depp trên tường.

    Tami ngồi lên giường mình. Nó võng xuống ở chính giữa; bụi bay tung từ tấm khăn trải màu xanh của lính. Còi báo động vang lên.

    Jolene nghe thấy nhiều tiếng bước chân chạy qua nhà chị. Chị ngồi xuống, đối diện Tami.

    Ở đâu đó có tiếng nổ; ánh sáng trong nhà chập chờn song vẫn còn.

    Lúc còi báo động ngừng và vạn vật yên ắng trở lại, Tami nói tiếp dường như chẳng có sự gì xảy ra:

    - Carl nói Seth đang có một giai đoạn khó khăn. Bọn trẻ chế giễu nó vì chúng ta. Nó làm cho mình muốn đá vào đít mấy thằng nhãi ranh đó.

    - Michael thì chỉ nói các con ổn.

    Tami ngước lên.

    - Cũng như cậu không kể sự thật với anh ấy.

    - Bọn mình hầu như không nói chuyện. Anh ấy không viết cho mình lấy một cái e-mail. - Jolene cúi xuống, bắt đầu cởi dây giày.

    - Mỗi tuần một lần, cậu nhận được một gói vật dụng cá nhân. Ai mua mọi thứ đó và gửi đi?

    - Mình đoán nhé? Mila. Và các con mình.

    - Cậu có viết cho anh ấy không?

    Jolene thở dài.

    - Cậu biết là không mà. Mình biết nói gì đây?

    - Có khi anh ấy cũng nghĩ như thế.

    - Mình không phải là người nói muốn chia tay.

    - Cậu thực sự chơi trò ú tim với cuộc hôn nhân của mình từ đây sao?

    - Mình không bắt đầu trò đó.

    - Ai quan tâm kia chứ? Hãy xem việc chúng ta làm hôm nay. - Tami búng ngón tay. - Chuyện đó xảy ra nhanh biết chừng nào, Jo. Cái chết ấy. Nó vẫn tiếp diễn. - Chị lại búng ngón tay. - Cái chết. Đây là lúc phải nói những điều cần nói, chứ không phải trò chơi. Cha mẹ cậu là những người tồi, đã để lại vết thương lòng cho cậu. Mình hiểu, mình thực sự hiểu mà. Nhưng cậu phải tìm ra dũng khí để nói chuyện với chồng cậu, hoặc cậu sẽ là người mất tất cả.

    - Cậu nói thì dễ lắm, Tam. Chồng cậu yêu cậu mà.

    - Không dễ đâu, Jolene. Cậu thừa biết trong chuyện này không có gì là dễ hết. Michael cũng yêu cậu lắm chứ, - Tami nói. - Mình biết điều đó.

    - Không. Mình không nghĩ anh ấy yêu mình.

    - Thế cậu có yêu anh ấy không?

    Thế đấy, cái câu hỏi mà nhiều tháng nay chị né tránh. Chị để cho Tami ném nó ra như cú ném đầu tiên trong trận bóng chày.

    - Mình không biết cách nào để thôi yêu anh ấy, - chị trả lời giản dị, làm chính chị cũng ngạc nhiên. - Nó ở trong máu mình rồi. Nhưng...

    - Nhưng cái gì? Đấy chẳng phải là câu trả lời của cậu sao?

    - Không. - Jolene thở dài. Thực ra, chị không muốn nghĩ đến hoặc nói đến chuyện này. - Tình yêu chỉ là một phần của nó. Giống như tha thứ chỉ là một phần. Dẫu cho mình có thể tha thứ cho anh ấy, làm sao mình có thể quên được? Anh ấy đã ngừng yêu mình, Tami ạ. Chỉ ngừng lại thôi. Anh ấy đã nhìn vào mắt mình và nói không còn yêu mình nữa. Làm sao mình có thể tin cậy anh ấy lần nữa? Làm sao mình có thể tin vào cuộc hôn nhân của chúng mình, vào việc bên nhau mãi mãi, nếu tình yêu của chúng mình có ngày kết thúc?

    - Chỉ cần đừng từ bỏ nó. Mình chỉ nói có thế. Viết thư cho anh ấy. Bắt đầu đi.

    Jolene biết đó là một lời khuyên tốt. Chị tin vào việc đấu tranh cho tình yêu, ít nhất có thời chị đã tin. Gần đây, chị buồn phiền nhớ lại điều chị đã tin và người chị hằng quen tin cậy bấy lâu nay.

    - Mình sợ, - chị nói sau một lúc im lặng dài.

    Tami gật đầu.

    - Anh ấy đã làm tan nát trái tim cậu.

    Jolene nhìn người bạn đang ngồi đối diện chị trong căn nhà dơ dáy, nặng mùi của họ, và thấm thía may mắn biết bao khi họ có nhau ở đây.

    - Mình mừng là cậu ở đây với mình, Tami ạ. Mình không biết sẽ làm gì nếu thiếu cậu.

    Tami mỉm cười.

    - Mình cũng yêu cậu, Jo.
     
  18. Trúc Quỳnh Đặng

    Trúc Quỳnh Đặng Xù Kute Thành viên BQT

    Mười bốn

    - Chúng ta gặp tình huống khẩn cấp, đang xấu đi rất nhanh, - đại úy nói. - Chúng ta cần tiến hành tìm kiếm và giải cứu ở một địa điểm rất khó khăn. Các báo cáo cho chúng ta một khoảng thời gian có thời tiết thuận lợi rất eo hẹp. Chúng ta cần hai trực thăng trong không trung khoảng mười lăm phút hoặc ít hơn. - Ông quay sang, chỉ vào một bản đồ. - Ở đây. Chúng ta phải cứu hai biệt kích bị kẹt vì hỏa lực địch.

    - Chúng tôi có thể làm trong mười phút, - Jolene an ủi đại úy. Chị nhìn Tami, bạn chị gật đầu kiên quyết và họ ra đường băng. Suốt dọc đường, họ không trò chuyện.

    Lúc băng qua căn cứ, bất thình lình một ngọn gió thổi tung bụi, chui vào da và mắt, bới tung lá cờ ở trên đầu, lao vút điên cuồng. Sau khi kiểm tra máy bay thật nhanh, Jolene trèo vào bên trái buồng lái và ngồi xuống ghế.

    Chị là người đầu tiên ở bên trong, nhưng chỉ trong ít giây sau, cả tổ đã yên vị. Jolene kiểm tra để chuẩn bị bay, xin phép đài chỉ huy để cất cánh và nổ máy.

    Chiếc máy bay từ từ vút lên không trung lúc chị điều chỉnh các cần gạt, tay chân chị cử động không ngừng. Với từng dặm bay, cơn bão bụi càng mạnh. Gió đập vào kính chắn gió của họ.

    - Thời tiết đang xấu đi, - Jolene nói. Chị vươn tay bật một cầu dao và liếc nhìn các số ghi trên thiết bị. Gió giật ngược, đẩy chiếc Black Hawk sang một bên. Một ổ gà không khí hút vào các cánh quạt, chiếc trực thăng lao thẳng xuống sáu chục mét trong một cú bổ nhào, tim ngừng đập ngay tức thì. - Chờ tí, các bạn, - Jolene nói vào micro. - Chị bám chặt các cần gạt và giữ vững chiếc Hawk.

    Ở vectơ tìm kiếm, Jolene phải huy động toàn lực của thân trên để hạ dần máy bay xuống trong cơn lốc xoáy. Bên dưới họ, mặt đất lởm chởm đá, gập ghềnh.

    - Chẳng có chỗ nào hạ cánh, - Jamie gào to.

    - Rõ, - Jolene nói. Chị ấn cả hai chân lên bàn đạp, nhận thấy sự thăng bằng tinh tế giữa phần đuôi và các cánh quạt.

    - Kia rồi! - Smitty nói. - Hướng một giờ.

    Jo giữ cho máy bay lượn một vòng, nhưng mỗi giây là một cuộc vật lộn. Gió vồ lấy họ, đập ầm ầm vào chiếc máy bay. Trên nền sa mạc lổn nhổn bên dưới, chị có thể nhìn thấy hai người lính. Rõ ràng họ phải tiếp nhận một hỏa lực dữ dội. Đạn bắn vèo vèo vào chiếc máy bay.

    Jamie đẩy mạnh cửa và nhả một tràng đạn.

    - Đã qua nguy hiểm, - sau vài giây, anh nói. - Hạ cánh được rồi.

    Một luồng bụi và gió ào qua, làm chiếc Hawk lắc mạnh từ bên này sang bên kia.

    - Hạ thấp và từ từ, - Jolene nói vào micro. - Chị chầm chậm hạ thấp máy bay xuống mặt đất. Chiếc trực thăng kia vẫn trong không trung, yểm hộ cho họ.

    Jolene quan sát các thiết bị đo cẩn thận lúc họ giải cứu hai người lính biệt kích.

    Khi những người lính đã được chở an toàn vào đằng sau vịnh, rốt cuộc Jolene mới thở dễ dàng hơn một chút. Lát sau, họ trở lại không trung, bay về căn cứ.

    Tại đó, họ nghe tin chiếc trực thăng kia rơi gần Baghdad, toàn bộ tổ bay bị chết.

    Đêm hôm đó, Jolene không sao ngủ được. Mỗi lần nhắm mắt, chị lại nhìn thấy chiếc trực thăng đâm sầm xuống đất, nghe thấy tiếng la hét. Chị nhìn thấy những đứa trẻ vận đồ đen, túm tụm quanh một chiếc quan tài phủ cờ; một người lính vận quân phục tiến đến cửa trước của chị... Cuối cùng, chị không cố nữa. Chị bật ngọn đèn nhỏ, với lấy cuốn nhật ký.

    THÁNG TÁM

    Mình thích bay. Mình luôn thích bay, và mình tự hào được ở đây, làm công việc của mình, giúp đỡ đất nước. Nhưng gần đây, trong con người mình luôn có nỗi sợ này, một thứ khủng khiếp, gieo rắc nỗi kinh hoàng, giống như một con chim đang vỗ cánh bay khỏi lồng ngực mình. Mình có một linh cảm xấu.

    Những sự việc mình đã chứng kiến cứ lưu lại với mình. Ngay cả trong giấc ngủ, mình cũng không thể xua đuổi chúng - những cánh tay và cẳng chân bị thổi bay, những người lính đang hấp hối, những bức ảnh trẻ con ghim lên tường nhà lưu động, cuộn tròn trong hơi nóng. Mỗi lần cất cánh, mình lại tự hỏi: lần này sẽ ra sao đây? Mình hình dung cảnh gia đình mình nhận được tin dữ.

    Tami vẫn bảo mình phải cởi mở với Michael. Tam kể Carl đã giúp vợ đối phó với những thứ bọn mình đang đối mặt ra sao. Tam bảo mình quá bướng bỉnh và đang chơi trò né tránh cuộc hôn nhân của mình.

    Nhưng làm thế nào mình có thể nghe theo lời khuyên của Tami? Làm thế nào mình có thể nói chuyện với Michael - Michael, người mình yêu ngay từ lúc anh ấy hôn mình lần đầu - Michael là gia đình của mình. Hoặc cho đến khi anh ấy nói không yêu mình nữa. Mình đã quan sát mẹ mình làm việc đó hết năm này đến năm khác, vươn tay ra níu lấy người đàn ông không còn yêu bà. Nó đã hủy hoại bà. Mình không bao giờ nghĩ sẽ sống như bà. Mình mà thế ư?

    Mình đang lạc lối ở đây hay chỉ rời bỏ tình yêu với anh? Hay đây chỉ là một phần của cuộc chiến? Mình biết không người nào ở nhà có thể có ý nghĩa quá nhiều. Các bạn ở đây là số 6 của mình, là những người sẽ cứu mình và yểm hộ cho mình.

    Tuy nhiên, đôi khi điều đó không đủ. Đôi khi, mình cần... Michael.

    Mình cần anh ấy. Nhưng mình không muốn thế. Mình không trông mong anh ở đó vì mình. Không còn nữa.

    Lẽ tất nhiên, mình cảm thấy lẻ loi vô cùng. Lúc này chuông báo thức ở đồng hồ của mình tắt, nhắc mình...

    Tháng Tám qua đi trong những ngày nóng mờ mịt, trời xanh uể oải. Betsy và Lulu gần như lúc nào cũng bận, đến các trại hè và dành thời gian ở Green Thumb với bà nội. Liên hoan sinh nhật lần thứ năm của Lulu đã qua, không có sự kiện bất ngờ, dù nó là bản sao êm ả hơn của những buổi liên hoan trước kia.

    Sáng thứ Năm, mặt trời lên nóng bỏng và rực rỡ trên bầu trời xanh biếc, không một gợn mây. Sẽ là một ngày hè đẹp huy hoàng. Lúc chín giờ rưỡi, Michael rứt khỏi máy tính ở nhà và lên gác. Anh gõ cửa phòng ngủ của các con và gọi:

    - Dậy đi, bọn đại lãn, nửa tiếng nữa Yia Yia sẽ đến đây đón các con đấy.

    Rồi anh xuống dưới nhà và bày bữa sáng lên bàn. Bánh mì Pháp với quả mâm xôi tươi.

    - Dậy đi, các con, - anh hét to lần nữa.

    Vừa nhấp cà phê, anh vừa bật ti vi trong phòng sinh hoạt.

    “... trong cuộc chiến dữ dội đêm qua ở gần Baghdad. Chiếc trực thăng Black Hawk do nữ chuẩn úy Sandra Patterson thuộc thành phố Oklahoma lái đã bị trúng RPG và đâm xuống đất, toàn bộ tổ bay đã hy sinh...”

    Hình ảnh những người lính mắt sáng, vận quân phục tràn đầy màn hình, hết người này đến người khác...

    - Con tưởng phụ nữ không được phép tham chiến, - Betsy nói khẽ sau lưng anh.

    Michael nghĩ, Chúa hãy cứu con. Thật tệ vì vừa nghe xong bản tin, giờ đây lại phải an ủi con gái. Anh biết nói gì đây khi sự thật sờ sờ với cả hai bố con?

    Jolene sẽ làm gì? Chị sẽ muốn anh làm gì?

    Anh chậm rãi quay lại, thấy những giọt nước trong mắt Betsy. Trông nó mỏng manh và run rẩy y như anh cảm thấy lúc này.

    - Mẹ nói dối chúng ta, - Betsy nói. - Tất cả những bức thư và ảnh ấy... đều là dối trá.

    Anh vươn tay ra cầm tay Betsy, dẫn con đến sofa và ngồi xuống cùng con.

    - Mẹ không muốn bố con mình lo lắng.

    - Bố có lo không?

    Anh nhìn con, nhìn vào đôi mắt sợ hãi của nó và biết rằng nó sẽ nhớ những lời anh nói tiếp. Anh sẽ nói với con một lời dối trá ư? Anh biết cách bẻ cong sự thật, nhưng chỉ một lần này thôi, anh cần thành thực hơn với mình.

    - Bố lo, - cuối cùng anh nói và kéo con gái lên lòng.

    - Con cũng thế. - Betsy quấn cánh tay quanh cổ bố, vùi mặt vào cổ bố, dường như nó lại là một cô bé. Anh cảm thấy nó đang khóc, đôi vai mảnh dẻ của nó run bắn lên, da anh ẩm ướt, và anh không nói gì nữa.

    Cuối cùng lúc nó lùi lại, bộ mặt nhợt nhạt của nó đầy vệt nước mắt, anh cảm thấy trào lên tình yêu thương mãnh liệt anh chưa từng biết.

    - Bố yêu con, Betsy, và tất cả chúng ta rồi sẽ ổn thôi. Đó là điều chúng ta phải tin. Mẹ sẽ về nhà với bố con mình.

    Betsy chậm rãi gật đầu và cắn môi dưới.

    - Này, - Lulu nói và vào phòng. - Con cũng muốn ôm.

    Michael mở nốt cánh tay kia và Lulu lao vụt lên cạnh chị nó.

    - Bố nghĩ là hôm nay bố sẽ đưa các con ra bãi biển, - lát sau, Michael nói.

    Lulu lùi lại, mở to mắt:

    - Bố á?

    - Nhưng hôm nay là ngày đi làm, - Betsy nói.

    - Bố đã làm việc đủ rồi, - Michael đáp. Những lời xa lạ giải tỏa điều gì đó trong lòng anh, khiến anh cảm thấy hào hứng. Anh với điện thoại ở đầu bàn và gọi mẹ.

    - Chào mẹ, hôm nay con sẽ ở nhà với các cháu. Chúng con sẽ lang thang ngoài bãi biển. Mẹ có muốn đến không ạ?

    Mẹ anh cười to:

    - Mẹ có hàng đống việc để làm ở cửa hàng. Mẹ sẽ gặp các con ở đó nhé?

    - Tuyệt quá, - Michael nói và gác máy. Rồi nói với các con gái đang ngẩn người. - Sao các con còn ngồi đó? Bố nghĩ chúng ta sẽ ra bãi biển kia mà.

    - Chà! - Lulu reo lên, nhảy khỏi lòng bố và chạy tuốt lên gác.

    Trong ga ra, Michael nhận ra Jolene đã sắp xếp mọi thứ rất ngăn nắp - ghế gấp đi biển, xiên nướng, bật lửa, các thùng lạnh. Lúc Betsy và Lulu xuống dưới nhà, mặc áo tắm và cầm theo khăn, anh đã sắp xếp xong một thùng lạnh gọn ghẽ.

    - Con giúp Lulu chuẩn bị đấy, - Betsy nói, hãnh diện.

    Ăn sáng xong, Michael xách thùng lạnh, dẫn các con lấy giỏ và xẻng, rồi mấy bố con đi bộ tới bãi biển. Họ băng qua phố - sáng nay yên tĩnh - dắt tay nhau và xuống vũng tàu nhỏ của họ.

    Họ dành cả ngày trên bãi biển, đắp lâu đài cát, tìm vỏ ốc, lội trong những làn sóng xanh lơ lạnh lẽo. Khoảng trưa, anh nhóm lửa trong cái lò xách tay tròn bằng kim loại, và ngay lập tức, họ nướng xúc xích Đức trên ngọn lửa ngoài trời.

    Khoảng một giờ, mẹ anh xuất hiện và vui vẻ nhập bọn. Lần đầu tiên trong nhiều tháng nay, Betsy bỏ thái độ làm đỏm và trở lại là một đứa trẻ, cho đến chiều tối, khi bầu trời ngả màu oải hương, mặt trăng ma quái nhô lên nhìn những người chơi đùa trên bãi biển bên dưới, họ ngồi trên những cái ghế kéo sát vào nhau, chăn quấn quanh người.

    - Bố ơi, - Lulu rúc vào cánh tay anh tránh gió. - Con sợ đi học. Tuần sau là bao giờ hở bố? Mẹ có thể về nhà được không?

    Một xúc cảm chạy khắp người anh, làm ngực anh thắt lại.

    - Bố biết mẹ rất muốn đi cùng con đến trường, nhưng mẹ không thể. Song bố sẽ đến đó. Thế có đủ tốt không nào?

    - Bố sẽ dắt tay con chứ?

    - Tất nhiên rồi.

    - Sao con phải đi học cả ngày? Mẹ bảo con chỉ ở trường đến giờ ăn trưa thôi.

    - Bây giờ khác, con ạ. Con cần theo chương trình cả ngày.

    - Vì mẹ đi vắng ạ? - Lulu ngái ngủ vừa hỏi, vừa sờ các cánh nhỏ xíu bằng kim loại ghim vào bộ áo tắm.

    - Đúng thế.

    - Nhỡ con sợ thì sao?

    - Ngày đầu tiên bao giờ cũng sợ, - Betsy nói khẽ. - Nhưng ai cũng yêu em, Lulu ạ. Em có một cô giáo rất tuyệt nhé, cô MacDonald. Chị yêu cô ấy lắm.

    - Ồ, - Lulu nói, có vẻ hoài nghi.

    Michael mỉm cười.

    - Để bố kể con nghe nó như thế nào nhé...

    Lúc anh kể cho đứa con gái út về trường mẫu giáo, về các giáo viên, những khu vui chơi, giờ giải lao, dường như anh là một người đàn ông khác, từ một cuộc sống khác. Trong nhiều năm, anh đã phấn đấu để tạo nên sự khác biệt trên đời, anh đã làm việc cực nhọc để điều đó xảy ra, và anh vẫn ở đây, một người đàn ông ngồi trong một vũng tàu với các con. Chưa bao giờ anh tin chắc hơn rằng, lời lẽ của anh lại quan trọng đến thế.

    Đó chính là điều mà Jolene cố nói với anh mỗi lần anh bỏ lỡ một sự kiện. Nó quan trọng, chị nói thế.

    - Được, bố ạ, - cuối cùng Lulu nói. - Con đoán con có thể làm được vì bây giờ con lớn rồi. Nếu bố dắt tay con. Còn con sẽ đeo cái bờm hồng.

    - Chà, Lulu, - anh nói. - Không đời nào bố lại quên nó.

    Mãi sau, khi các con gái đã ngủ thiếp đi trên ghế trong lúc sóng vỗ bập bềnh lên bờ biển đầy sỏi và những vì sao chiếu sáng xuống họ, mẹ anh mới nhìn anh:

    - Hôm nay Jolene sẽ tự hào vì con, - bà nói, giản dị.

    Michael nhìn bà qua mái đầu đen của Lulu.

    - Con đã bỏ rơi cô ấy, - anh nói.

    Mẹ anh gật đầu, bà mỉm cười buồn bã, dường như bà biết điều này từ lâu.

    Tháng Chín là một tháng ác liệt trong cuộc chiến. Hình như mỗi ngày lại có một trực thăng bị bắn hạ trên đường trở về căn cứ. Giờ đây, các chuyến bay thực hiện nhiệm vụ anh hùng và những kẻ đánh bom liều chết đã thành chuyện cũ rích. Jolene bắt đầu tránh hẳn Haji Mart, chị không thể chịu nổi ý nghĩ rằng chàng trai lanh lợi bán băng video một ngày nào đó có thể gài bom vào ngực. Mấy ngày vừa qua, trời bắt đầu mưa, căn cứ trở thành một hố bùn khổng lồ. Sàn xi măng của các ngôi nhà lưu động trông như đất. Không có cách gì gạt được lớp bùn đỏ quánh, đặc sệt khỏi ủng.

    Tối nay, trời trong và tối, dát đầy những vì sao. Chị chợt nghĩ chỉ vài tháng trước đây thôi, bầu trời giống như thế này làm chị nhớ đến gia đình ở quê nhà, đang ngủ yên bình cũng dưới những ngôi sao kia. Hồi này, chị không còn nghĩ đến những gì xảy ra ở nhà nữa. Chị quá bận và mệt lả, không đủ sức nghĩ về nó nữa. Hiện giờ chị ở trong không trung không ngừng nghỉ, đưa các đơn vị đến địa điểm, chở nhân viên đến nơi làm việc, chở các đội quân, thường dân và các VIP trong quân đội Iraq. Càng ngày chị càng bay những chuyến không kích nhiều hơn, chở quân lính đổ bộ vào các vùng giao tranh.

    Chị đi cạnh Tami đến ngôi nhà có phòng kế hoạch bay của trung đội Charlie. Họ không buồn trò chuyện, cả hai đều quá mệt mỏi không gắng nổi nữa. Hôm nay, họ đã bay hai chuyến công cán. Ngày hôm qua thậm chí còn bận rộn hơn.

    Jolene bước lên các bậc gỗ đầy bùn và vào nhà. Các bức tường phủ kín những mẩu giấy - các lịch trình, báo cáo, những người bay, các tờ lịch. Mỗi đường bay đều được vạch ra từ đây. Bàn nào cũng đặt màn hình máy tính. Đây là nơi họ cất giữ súng máy, đạn dược và các thiết bị bay.

    Lúc chị vừa vào trong nhà, đèn phụt tắt và mọi vật trở nên đen ngòm. Chị nghe thấy tiếng ai đó nói:

    - Chó thật. Lại thế nữa?

    Jolene biết máy phát điện sẽ chạy ngay thôi, nhưng năm phút nữa chị phải đến trực thăng rồi.

    - Zarkades, thưa chỉ huy, - chị nói vào bóng tối. - Ông đã có kế hoạch tác chiến cho Raptor tám-chín chưa?

    Có tiếng giấy tờ sột soạt, rồi tiếng bước chân giẫm lên lớp gỗ dán cót két.

    - Không kích, chuẩn úy ạ. Chị và Raptor bốn-hai sẽ đến Al Anbar. Chúng ta có một đơn vị lính thủy đánh bộ bị kẹt trong một con mương. Họ đang bị hỏa lực uy hiếp dữ dội.

    Máy phát điện bắt đầu chạy, đèn bật sáng.

    Đại úy Will Rossen “Cao bồi” đứng trước mặt chị, chìa tờ công lệnh.

    - Rõ, thưa đại úy.

    Viên đại úy gật đầu:

    - Hãy bảo trọng.

    Jolene và Tami đến căn phòng nhỏ liền với trung tâm phẫu thuật và lấy đồ của họ. Jolene mặc gilê chống đạn nặng trịch và chộp lấy túi bay. Lúc họ xuống các đường phố lầy bùn, trời bắt đầu mưa. Chị ngước nhìn, thấy một lớp mây xám nhạt che kín các vì sao.

    - Khốn kiếp. Tình hình xấu hơn đây, - Jolene nói.

    Họ rảo bước, ủng bì bõm trong bùn. Jolene cảm thấy Jamie đến cạnh chị, nhưng chẳng ai nói gì lúc họ tiến đến máy bay. Rồi Smitty xuất hiện, vừa đi vừa cài dây mũ sắt.

    - Đến lượt cậu ngồi ghế trái nhé? - Tami nói lúc máy bay đã kiểm tra xong và sẵn sàng cất cánh.

    Jolene gật đầu rồi trèo vào ghế trái và cài dây an toàn. Chị cài cặp kính lồi bay đêm lên mũ và kéo vào đúng chỗ.

    Chưa đầy năm phút sau họ cất cánh, vút lên dưới lớp mây.

    Đây là chuyến công cán hai trực thăng. Họ bay cùng nhau, thường xuyên liên hệ, qua vùng sa mạc rộng lớn tối tăm, bên trên Baghdad tới tỉnh Al Anbar, qua Fallujah.

    Lúc họ từ phía Bắc bay vào không phận Fallujah, tràng súng máy đầu tiên nổ giòn. Tiếng tap-tap-tap trên thân máy bay là loại đạn cỡ nhỏ.

    - Raptor tám-chín bị bắn, hướng bảy giờ, hai trăm mét, - Jolene nói vào bộ đàm. Chiếc trực thăng kia trả lời ngay lập tức.

    - Raptor bốn-hai bị bắn, hướng chín giờ, nghiêng sang phải.

    Họ bay trên một làng nhỏ. Một khẩu súng máy đặt trên mái nhà nhả đạn vào họ.

    Jolene lướt qua khu vực bên dưới; cặp kính lồi cho thấy hàng chục đốm màu trắng-xanh di chuyển trong bóng tối. Là những người lính kẹt trong mương hay phiến quân đang lùng sục họ? Chị với tay bật cầu dao, và mọi thứ nổ tung.

    Một RPG trúng thân máy bay mạnh đến nỗi chị bị quăng sang một bên; bàn chân phải của chị cong lên và đá vào bảng điều khiển.

    Buồng lái đầy khói. Ngọn lửa đầy ắp đằng sau máy bay; chị có thể cảm thấy sức nóng. Jolene gọi to đồng đội, song không có ai trả lời. Chị giữ chặt bánh lái máy bay và cố giữ họ trong không trung, nhưng họ đang rơi - đâm nhào xuống với tốc độ một trăm năm mươi dặm/giờ.

    Công suất ở động cơ số hai tăng điên cuồng; bảng điều khiển tối đen. Không có gì. Không, kể cả nhiệt độ động cơ.

    Chị lại gọi to cả tổ lần nữa, bảo họ cố hết sức tác động, rồi cố gọi cho Mayday báo vị trí của chị, nhưng khói dày đặc đến mức chị không sao thở nổi. Chị mới kịp gọi “Mayday... ” thì họ đã đâm sầm xuống.

    Sau một ngày dài đọc những lời khai của các sĩ quan cảnh sát đã thẩm vấn Keith Keller, Michael về nhà, chân tê dại, và làm bữa tối cho các con - một trong nhiều cách nấu món cơm gà anh tìm thấy trong cái cặp ba dây dày cộp. Sau đó, khi các con gái đã ngủ, anh bước vào phòng giải trí vắng vẻ, ngồi đó một mình, và nhận ra căn nhà mới yên tĩnh làm sao.

    Một xúc cảm bất thường dâng lên trong lòng, lạc lõng đến nỗi phải mất một lúc anh mới nhận ra. Sự lẻ loi.

    Đã từ lâu, anh cảm thấy một nỗi giận tràn đầy khi phải làm một Mr. Mom, cảm thấy mình yếu kém hẳn vì trách nhiệm với các con, nấu nướng và chợ búa. Anh đổ lỗi cho Jolene đã bỏ mặc anh lênh đênh trôi dạt trong một biển những bổn phận mà anh không muốn và anh chỉ vừa mới biết cách thực hiện. Nhưng trong vài tuần qua, cuộc sống đã thay đổi. Anh đã thay đổi. Anh tìm thấy một khía cạnh mới của mình; anh thích đọc cho Lulu nghe trước khi ngủ, lắng nghe những câu hỏi kỳ quặc của nó về các câu chuyện, ngắm những ngón tay bé xíu của nó chỉ vào các bức tranh. Anh thích khi đêm đêm, Betsy ngồi cạnh anh xem ti vi và kể cho anh nghe những chuyện ở trường. Anh thích bố con anh thành một nhóm trong cửa hàng tạp phẩm, làm việc cùng nhau, chơi trò Candyland khiến tất cả cười vang.

    Anh nhớ Jolene. Sao anh không đoán trước đời anh sẽ ra sao khi thiếu chị?

    Chị đã ở xa xôi đến thế, hàng ngày phải cố gắng hết sức, né tránh các IED, thay đổi nhiều cách mà anh không thể hình dung nổi. Anh đã cho chị những gì để mang theo? Anh không yêu em nữa.

    Anh đến bên ti vi, bật lên. Như mọi khi, cuốn băng cuối cùng của chị ở sẵn trong máy, mấy đứa con gái xem liên tu bất tận.

    Anh nhấn nút Play.

    Chị kia, mặc quân phục, mỉm cười với máy quay, chỉ ranh giới quanh Balad - đây là nơi bọn mẹ mua được bánh nướng ngon...

    Vợ anh đấy.

    Cuốn băng kết thúc, hình ảnh cuối cùng của chị đông cứng trên màn hình. Chị đứng với Tami, cả hai vận quân phục, cánh tay họ khoác vào nhau. Jolene cười rạng rỡ, nhưng anh nhìn thấy sự thật trong mắt chị. Chị cũng sợ hãi và cô đơn.

    Anh muốn nói với chị rằng sự đau đớn, nhức nhối trong ngực anh nhiều vô cùng.

    Tuy nhiên, chẳng có cách gì gọi chị. Anh chỉ có thể viết gửi chị một bức thư.

    Cái việc mà anh chưa bao giờ làm. Trong vài tuần qua, anh đã bắt đầu mấy lần, nhưng lại xóa hết trước khi gửi. Anh xấu hổ vì hành động trước đây của mình; làm sao lúc này anh có thể gửi chị một lá thư, và giả vờ như mọi việc khác đi?

    Anh đi qua phòng sinh hoạt, vào phòng làm việc của mình, ngồi xuống bên máy tính và bật nó lên.

    Jolene, anh đánh máy rồi ngừng lại, xóa đi, rồi lại bắt đầu.

    Jo của anh,

    Em có nhớ anh gọi em như thế lần đầu là khi nào không? Chúng ta ở bên vườn ươm cây, ngồi trong cái thuyền đi thuê có mái chèo, ngắm những con vịt non trôi lềnh bềnh qua đám sậy. Em nói: “Em tự hỏi làm thế nào chúng tìm ra mẹ”, và câu đó khiến anh hiểu em đã bị tổn thương biết chừng nào trong thời thơ ấu. Mất một thời gian dài, em mới kể cho anh nghe sự việc diễn biến ra sao, rồi cuối cùng khi em bảo anh... khi đó, anh biết em đã yêu anh. Anh đã quen nhìn vào mắt em và thấy những giấc mơ của mình. Anh tự hỏi lần cuối cùng chúng ta thực sự nhìn nhau là bao giờ? Mà thôi, trở lại với lũ vịt nhé. Anh nói: “Chúng biết chứ. Giống như anh biết em là Jo”.

    - Em muốn là của anh, - em nói.

    Anh yêu em rất nhiều, yêu đến đau đớn. Anh đã quen nằm trên giường và hình dung bị mất em theo nhiều cách khủng khiếp. Chướng quá, phải không? Nhưng anh đã như vậy. Anh yêu em nhiều đến nỗi hình như anh phải nghĩ đến việc mất em hoặc anh sẽ mất mình. Em có yêu anh như thế không?

    Anh nghĩ là có.

    Vậy chuyện gì đã xảy ra? Chúng ta đã thôi là tình nhân và bắt đầu chỉ là cha mẹ của các con gái, và rồi là người cùng phòng từ khi nào vậy? Anh đã bắt đầu đổ lỗi cho em thay vì trách cứ bản thân từ bao giờ? Từ khi cha anh qua đời, anh đã suy nghĩ rất nhiều. Trước đó, anh chưa bao giờ bị mất ai, anh không biết cái cảm giác bị rứt thành từng mảnh như thế, và anh không biết cách xử lý nó cho suôn sẻ. Anh nghĩ anh đã đổ lỗi cho em vì mọi sự trục trặc trong đời anh.

    Có quá muộn không để trở lại?

    Anh hy vọng là không.

    Anh nghĩ mình phải tìm hiểu, chúng ta phải cùng giải quyết, nhưng anh thấy mình đã sai lầm, anh đã làm em tổn thương biết bao, và anh xin lỗi.

    Anh xin lỗi em. Đó là điều giờ đây anh hiểu. Xin lỗi em vì nhiều thứ. Anh cho rằng chiến tranh không chỉ thay đổi các chiến sĩ. Những người lính của chúng ta đã phải chịu đựng đủ thứ ở hậu phương thời chiến rồi.

    Anh nhớ em.

    Anh nhìn đăm đăm vào e-mail. Nó quá ngắn. Câu Anh xin lỗi với những điều chị đang trải qua liệu có phù hợp không?

    Chị có thể tha thứ cho anh không? Chỉ có một cách duy nhất để biết.

    Anh nhấn nút Gửi.

    Jolene tỉnh dây, chị ho, mắt đầy nước, trong miệng chị có mùi máu. Chị gọi to đồng đội lần nữa, vẫn không có tiếng trả lời. Tami ở cạnh chị, kẹt trong ghế, sụp về phía trước, bất tỉnh.

    Jolene cố gỡ mình khỏi ghế. Cố đến lần thứ ba, chị mới vỡ lẽ. Cẳng tay phải của chị là một đống đẫm máu. Chị chỉ có thể nhấc bàn tay, còn các ngón tay của chị không hoạt động. Dùng bàn tay trái, chị ngả người đè lên bảng điều khiển cháy xém, nóng chói mắt để dừng tín hiệu cấp cứu.

    - Mayday, - chị gọi và thấy rất khó nói chuyện, chị cố tập trung. Radio không hoạt động. Chị ngất đi lần nữa. Khi tỉnh dậy, chị gọi các đồng nghiệp trên radio, hy vọng lúc này nó hoạt động. Chị cần radio cứu hộ CSEL. Nó ở đâu nhỉ? Nghĩ xem.

    - Tami, - Jolene gọi, cố với tới người bạn thân nhất, nhưng chị không thể nhúc nhích. Chị cố mở khóa dây an toàn nhưng không thể; người chị có cái gì đó hỏng mất rồi. Cơ thể chị không phản ứng. Bàn chân phải của chị bị sao đó.

    Tap-tap-tap.

    Họ lại bị bắn lần nữa. Từ xa, chị nghe thấy nhiều giọng nói của những người đàn ông, tiếng chân của họ đang thình thịch bước tới.

    Mình phải thoát khỏi đây, thiết lập một vành đai.

    Tap-tap-tap.

    Chúng ta vẫn đang bị bắn.

    Chị cố rút vũ khí ra khỏi bao, nhưng bàn tay phải của chị không hoạt động.

    Cuối cùng, chị gỡ được mình ra khỏi ghế và đau đớn trườn khỏi buồng lái. Chị vồ lấy Tami, gỡ cho Tam ra khỏi ghế và kéo bạn đi. Tami trượt sang một bên, mắt đờ đẫn, môi trễ xuống. Jolene dò dẫm tháo mũ sắt cho Tami, và thấy một vết thương lớn trên đầu bạn, máu vọt ra xối xả.

    - Hãy ở lại với mình, Tami...

    Chị ngoảnh nhìn vào trong vịnh. Bên phải thân máy bay đã mất; nhiều mảnh kim loại đã chảy và cháy âm ỉ. Những sợi dây và cái lưới vải bạt đã cháy. Smitty sụp sang một bên, một lỗ đen, há hoác ở ngực, đang chảy máu và bốc khói. Mắt cậu im lìm, trống rỗng. Cậu đã chết. Jamie nằm dúm vào trong góc.

    - Jamie! Jamie!

    Chị phải đưa tất cả bọn họ ra khỏi máy bay.

    Lúc chị cử động, cơn buồn nôn lan khắp người chị. Bàn chân đau nhói khiến chị choáng váng. Jolene nôn thốc và lại cố. Chị dùng bàn tay trái rút súng và giơ lên, khẩu súng run rẩy trong tay chị, và cố nhìn qua đám khói.

    - Tami, mình sẽ đưa cậu ra; sau đó chúng ta cần tạo một vành đai. Chúng ta cần radio. Jamie, tỉnh lại đi. Jamie! Hãy đưa Smitty ra ngoài. Giúp tôi với.

    Chị nhấc người trên cánh tay lành, cố trườn ra khỏi thân máy bay hư hại nghiêm trọng. Tiếng tap-tap-tap ngày càng to, càng dai dẳng. Chị vồ lấy Tami, cố nhấc thân hình mềm rũ kia lên lưng và chầm chậm bò ra khỏi buồng lái, rơi xuống và đập mạnh xuống đất. Cái đau tăng dữ dội trong đùi chị.

    - Chuẩn úy...

    Đó là Jamie. Hay chị tưởng tượng ra tiếng anh?

    - Jamie, - chị nói, nhưng tiếng chị chỉ là một âm thanh rền rĩ. Chị nằm đó, thở khó nhọc, sức nặng của Tami đè lên chị. - Tỉnh lại đi, Tami, mình xin cậu...

    Chị nghe thấy tiếng báo thức trên đồng hồ đeo tay kêu một tiếng lẻ loi, nhưng nghe không thực. Chị biết nó không có thực. Chị không thể nghe thấy nó át mọi tiếng động này - tiếng súng, tiếng la hét.

    - Mình xin lỗi, Tam, - chị nói và kéo lê bạn trên đất. Tầm nhìn của chị váng vất, máu đập thình thịch khắp đầu chị.

    Đằng sau chị, chiếc trực thăng nổ tung. Chị quăng người đè lên Tami, dùng thân mình che cơ thể bạn. Một cái gì đó đập mạnh vào Jolene, hất chị sang một bên... chị nằm trên đất, choáng váng, ngước nhìn trời đêm, thấy những mảnh kim loại đang cháy như pháo hoa xuyên qua bóng tối, rơi như mưa xuống người chị.

    Chị nghe thấy tiếng báo thức thỏ thẻ lần nữa... hay là tiếng gì khác? Một tiếng kêu chăng? Hay tiếng bom rít qua chỗ chị? Chị nghĩ Betsy Lulu Michael, rồi sau đó chị rơi, rơi mãi, mờ dần... và không còn gì nữa.
     
Moderators: galaxy, teacher.anh

Chia sẻ trang này