Lịch sử QUÂN SƯ ĐÀO DUY TỪ - Vũ Ngọc Tiến

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi nguyenthanh-cuibap, 21/3/17.

  1. nguyenthanh-cuibap

    nguyenthanh-cuibap Cử nhân

    QUÂN SƯ ĐÀO DUY TỪ
    Tiểu thuyết lịch sử
    Tác giả: Vũ Ngọc Tiến
    Ebook: Cuibap
    Nguồn text: vanchuongviet.org
    [​IMG]
    Nhân vật lịch sử: Đào Duy Từ
    Đào Duy Từ là nhân vật kiệt xuất thời Trịnh Nguyễn phân tranh, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của người Việt về phương Nam.
    Đào Duy Từ quê Thanh Hoá. Bố ông mất sớm. Ông kiến thức sâu rộng, nhưng vì lý lịch gia đình phường chèo mà phải khai man tên họ để đi thi. Hơn 20 tuổi đã đỗ Á nguyên, nhưng việc man trá vỡ lở, rốt cuộc bị lột mũ áo đuổi về quê. Người mẹ buồn mà mất. Đào Duy Từ mai danh ẩn tích hai mươi năm rồi vào Đàng Trong tìm đường giúp chúa Nguyễn. Truyện chép lại ông (lúc đó đã hơn năm mươi tuổi) phải đi chăn trâu cho người ta. Người bạn của chủ nhà biết tài, gả con gái cho ông rồi tiến cử lên chúa Nguyễn. Chúa nói chuyện với ông rất phục, từ dưới đầu trâu mà nhắc thẳng lên làm tể tướng.
    Tình hình Việt Nam đầu thế kỷ 17 tương tự thời Tam Quốc. Chúa Trịnh lập vua Lê lên ngôi, nhưng giữ hết quyền hành. Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Quảng, xây dựng căn cứ phía Nam. Ngoài Bắc dư đảng của nhà Mạc vẫn giữ Cao Bằng. Đến lúc Đào Duy Từ lên nắm quyền (1627), nhà Mạc đã về hàng chúa Trịnh, Trịnh Tráng quyết tâm bình định phương Nam. Thế lực họ Trịnh hơn họ Nguyễn nhiều lần.
    Đào Duy Từ chấp chính, chủ trương đắp luỹ để phòng thủ, Đàng Trong lực lượng mỏng hơn nhưng nhờ chiến luỹ chắc chắn chặn được bước tiến của chúa Trịnh, quân dân không bị tổn hại nhiều. Ông giúp chúa Nguyễn xây dựng được thể chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng cho một thể chế lâu dài. Ông lại bày chủ trương lớn Nam tiến khai khẩn mở mang bờ cõi. Tất cả những việc đó được làm trong vỏn vẹn 8 năm, từ lúc Đào Duy Từ được trọng dụng đến khi ông mất (1634). Người Đàng Trong tôn ông làm Thầy (các chiến luỹ Đào Duy Từ và tướng lính của ông đắp sau gọi chung là luỹ Thầy). Gần hai trăm năm sau vua Gia Long lên ngôi, phong ông làm đệ nhất khai quốc công thần của nhà Nguyễn, thờ trong Thái Miếu cùng các chúa Nguyễn.
    Hơn nghìn năm trước bên Tàu có Khổng Minh (Gia Cát Lượng), cũng là học trò ra giúp Lưu Bị lập nhà Thục Hán, chống lại Bắc Nguỵ là lực lượng mạnh hơn. Sự nghiệp Đào Duy Từ ở Việt Nam có thể không nhiều người biết, nhưng Khổng Minh thì ai cũng biết, qua truyện Tam Quốc của La Quán Trung rất hấp dẫn, và gần đây là phim Xích Bích và trò chơi on-line.
    Hai người hoàn cảnh hao hao giống nhau, nhưng ngẫm lại có một cái khác rất cơ bản. Khổng Minh theo giúp họ Lưu đến gần 30 năm, sau khi Lưu Bị mất, ông được toàn quyền mọi việc trong ngoài. Đời sau viết nhiều không kể xiết về mưu hay kế lạ của Khổng Minh. Nhiều việc như kiểu trâu gỗ ngựa máy hô gió gọi mưa thật hư không thể nói hết. Nhưng sau khi ông mất, nhà Thục Hán chỉ lay lất được thêm 30 năm rồi đổ. Người được Khổng Minh coi là học trò ruột, luôn ca ngợi và gửi gắm là Khương Duy chỉ ham việc chinh chiến, đất nước khánh kiệt mà dẫn đến bại vong.
    Đào Duy Từ ở với chúa Nguyễn vỏn vẹn 8 năm, mà đặt được nền móng 100 năm cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn, được nối tiếp thêm bởi các vua nhà Nguyễn sau đó. Những người được ông tiến cử như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến chẳng những giữ được thế cân bằng về quân sự với Đàng Ngoài, mà còn góp phần quyết định cho cuộc khai khẩn phương Nam của người Việt. Con trai Nguyễn Hữu Dật là Nguyễn Hữu Cảnh là người xác định chủ quyền của người Việt tại Sài gòn-Gia Định.
    Thuở còn ở ẩn, Đào Duy Từ có làm bài phú Ngoạ Long Cương để ví mình với Khổng Minh. Nhìn sự nghiệp mà xét, xem ra đồng nghiệp người Tàu còn có chỗ phải bẽn lẽn.
    Phố Đào Duy Từ ở Hà nội là một phố nhỏ, cạnh Ô Quan Chưởng, dài độ 300m. Nhiều nhà kiểu cổ và có nhiều kho gạo. Hồi tôi còn bé có lẽ đây là phố duy nhất ở Hà Nội mang tên một nhân vật Đàng Trong.
    vuhavan.wordpress.com
    [​IMG]
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 21/3/17
  2. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Mâu nhi vô dịch
    Mịch phi kiến tích
    Ái lạc tâm trường
    Lực lai tương địch!
     
  3. tiendungtmv

    tiendungtmv Lớp 4

    1
    “Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
    Em có chồng anh tiếc lắm thay!
    2
    “Ba đồng một mớ trầu cay,
    Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
    Bây giờ em đã có chồng,
    Như chim vào lồng như cá cắn câu.
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
    Chim vào lồng biết thuở nào ra?
    3
    “Có lòng xin tạ ơn lòng,
    Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”
    Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần túy; mà đã là ca dao thì không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

    Truyện kể rằng: “Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi Sãi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm kế đối phó.


    Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Sãi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và chúa Trịnh.

    Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đãi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi
    trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau:

    “Mâu nhi vô dịch
    Mịch phi kiến tích
    Ái lạc tâm trường
    Lực lai tương địch.”
    Cả triều đình không ai hiểu ý nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng:


    Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ ;
    Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến còn lại là chữ Bất;
    Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm thì thành chữ Thụ; và
    Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

    Vậy, gộp cả bốn chữ mới lại thành câu:
    “DƯ BẤT THỤ SẮC,” nghĩa là “Ta không nhận sắc phong.”

    Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đã cao chạy xa bay rồi.

    Trịnh Tráng muốn ra quân đánh chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giã nổi lên, đành phải hoãn lại.

    Trịnh Tráng cho người dò la biết được việc Sãi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

    Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

    1

    “Trèo lên cây bưởi hái hoa,
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
    Em có chồng anh tiếc lắm thay!”.

    Lời thơ nói đến chuyện anh (chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý đe dọa.

    Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Vì thế Đào Duy Từ không sợ hãi chúa Trịnh trả thù; và ông đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:


    2

    “Ba đồng một mớ trầu cay,
    Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
    Bây giờ em đã có chồng,
    Như chim vào lồng như cá cắn câu.
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
    Chim vào lồng biết thuở nào ra?”



    Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.

    Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:


    3

    “Có lòng xin tạ ơn lòng,
    Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen!”

    (*) Chồng, có ý nói là chúa Nguyễn.

    Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời…”
    Nguồn:
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    atdau, Bich Dung, tieungao and 7 others like this.
  4. 4DHN

    4DHN Tiêu Dao

    Nói về Đào Duy Từ cần nhắc đến mấy sự kiện liên quan đến việc ông không được chúa Trịnh trọng dụng nên phải vào Nam theo chúa Nguyễn:

    Đào Duy Từ, hiệu là Lộc Khê, quê ở làng Vân Trai, xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa, Đại Việt mà nay là làng Giáp Nỗ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều, sau bị đuổi về quê làm nghề xướng ca, mất sớm. Mẹ ông là Vũ Thị Kim Chi. Đào Duy Từ thông minh, học rộng biết nhiều, đỗ á nguyên khoa thi Hương năm 1593 đời Vua Lê Thế Tông (1567-1584) khi ông mới 21 tuổi. Ông thi Hội, bài luận rất tốt được quan chánh chủ khảo là Thái phó Nguyễn Hữu Liêu cân nhắc nhưng Bộ Lễ đã đưa chứng cứ và truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột á nguyên, lột mũ áo vì tội đổi họ, man khai lý lịch, con nhà phường chèo, bị gạch tên và tống giam. Mẹ ông uất ức nên tự vẫn. Ông mai danh ẩn tích nhiều năm, sau vào Nam phò Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Viễn tổ của Đào Duy Từ là Tiến sĩ (năm 1275), Thượng thư Bộ binh Khai quốc công thần Đào Dương Bật, người sát cánh cùng Vua Trần Nhân Tông trong kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ hai và ba. Theo tộc phả thì Đào Duy Từ thuộc chi thứ 5 tính từ viễn tổ Đào Dương Bật còn Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thuộc chi thứ 3.

    Đào Duy Từ làm quan phò Chúa Nguyễn Phúc Nguyên từ năm 1627 đến năm 1634; chỉ trong vòng tám năm (từ năm ông 55 tuổi đến năm 63 tuổi), ông đã kịp làm được năm việc:

    1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài;

    2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra;

    3) Xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba vua;

    4) Sáng tác các tác phẩm "Hổ trướng khu cơ", nhã nhạc cung đình Huế (Đăng đàn cung), vũ khúc tuồng Sơn Hậu, sau này là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc;

    5) Trở thành người thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản.

    Năm Gia Long thứ 4 (1805) Nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được thờ ở nhà Thái miếu, được cấp 15 mẫu tự điền và sáu người trông coi phần mộ. Đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Năm 1932, vua Bảo Đại sắc phong Đào Duy Từ làm Thần Hoàng làng Lạc Giao, đất "Hoàng triều cương thổ" ở Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk.
     
  5. Đào Duy An

    Đào Duy An Mầm non

    Đào Duy Từ lược khảo


    Xóm Gà, 25/4/2020; Đào Duy An.


    Dẫn,

    Nhà Hậu Lê (1428-1789) [1] sau thời kỳ phát triển rực rỡ dưới thời vua Lê Thánh Tông [2], mở rộng bờ cõi Đại Việt [3] đến bắc Phú Yên thì bị Mạc Đăng Dung [4] cướp ngôi năm 1527. Nguyễn Kim [5], một danh tướng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, là người đặt nền móng gây dựng lại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, khởi đầu thế Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (1533-1592). Sau khi Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm [6] thâu tóm quyền hành, lấn át các vua Lê. Trước nguy cơ bị anh rể sát hại, Nguyễn Hoàng [7] đã nhờ chị ruột mình là bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cho vào trấn thủ ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (nay từ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đến Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link) và theo đó trong lịch sử nước Việt định hình danh xưng Đàng Ngoài [8] và Đàng Trong [9].

    Trong bối cảnh Đại Việt nhiễu nhương một người hiền xuất hiện và góp phần quan trọng định hình bản sắc, mở mang bờ cõi Đàng Trong, đó là Đào Duy Từ (1572-1634) [10].


    Thời trai trẻ lận đận

    Ông sinh ra tạilàng Hoa Trai, xã Vân Trai, huyện Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, phủ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, thừa tuyên Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    (nay là khu phố Sơn Thắng,phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa) [10, 11, 12]. Cha là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong Triều Hậu Lê. Một hôm nhân lúc nổi hứng Đào Tá Hán làm thơ ca ngợi Chúa Trịnh Kiểm, trong đó nêu tên Chúa nên bị quy là phạm thượng, bị phạt 20 roi rồi đuổi về làm dân thường [12, 13, 14].

    Nhờ có tài đàn hát mà Đào Tá Hán đi theo một gánh hát để kiếm sống và ít lâu sau đã trở thành kép hát nổi tiếng khắp vùng. Ông lấy Vũ Thị Kim Chi và hơn một năm sau thì sinh Đào Duy Từ. Khi Đào Duy Từ được 5 tuổi thì cha bị bệnh mất [13, 14]; mẹ ở góa, nuôi con ăn học.

    Ngay từ nhỏ Đào Duy Từ đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười. Năm 14 tuổi ông học trường của Hương cống Nguyễn Đức Khoa. Thầy khen tài học của Đào Duy Từ nhưng tiếc là ông con nhà xướng ca nên không được đi thi [14]. Tục lệ Triều Hậu Lê cho xướng ca là “vô loài”, phàm con cái những người làm nghề hát xướng đều cấm ngặt không được đi thi [14].

    Gần đến kỳ thi Hương bà Vũ Thị Kim Chi đút lót cho viên xã trưởng là Lưu Minh Phương để nhờ ông đổi Đào Duy Từ sang họ mẹ là Vũ Duy Từ, mong sao Đào Duy Từ được dự kỳ thi Hương sắp tới. Viên Xã trưởng thấy người vợ góa của Đào Tá Hán có nhan sắc nên nhận lời và ra điều kiện là nếu xong việc thì phải lấy ông ta [12, 13, 14].

    Ông dự khoa thi Hương năm Quý Tỵ-năm 1593- đời Vua Lê Thế Tông [15] và đậu á nguyên [10, 12, 13, 14]. Mẹ ông mừng rỡ, dặn ở lại ôn để năm sau thi Hội [14].

    Thấy việc đổi họ cho Đào Duy Từ đi thi đã trót lọt, Lưu Minh Phương bèn đòi bà Vũ Thị Kim Chi thực hiện giao ước tái giá về làm vợ mình. Bà Vũ Thị Kim Chi cứ lần chần, chối khéo với lý do con mới thi đậu, mẹ làm vậy sẽ khó coi và thay bằng là cho con gái viên xã trưởng lấy Đào Duy Từ... Viên Xã trưởng tức giận bèn mang chuyện đó nói với Tri huyện Ngọc Sơn vốn là chỗ thân quen để nhờ áp lực quan trên bắt bà phải thực hiện giao ước. Viên Tri huyện lập tức báo lên trên, khi đó ông đang dự kỳ thi Hội. Bài ông làm hay nhất trường nhưng có bài bàn về cải cách chính trị hơi trái ý Chúa Trịnh Tùng [16] nên quan chủ khảo là Thái phó Nguyễn Hữu Liêu [17] phân vân nên lấy đỗ tiến sỹ hay hạ xuống phó bảng [14]. Giữa lúc đó Bộ Lễ truyền xóa tên Vũ Duy Từ, hủy bỏ bài thi, cách tuột á nguyên và lột hết mũ áo đồng thời gửi trát về cho Tri huyện Ngọc Sơn trừng trị những kẻ liên đới [10, 12, 13, 14]. Nghe tin này mẹ Đào Duy Từ phẫn uất tự vẫn. Ông biết tin mẹ mất nhưng không được về chịu tang, lâm bệnh nặng [10, 12, 13, 14].


    Người chăn trâu làu kinh sử

    Lúc còn ở Đàng Ngoài sôi kinh nấu sử Đào Duy Từ thường nói với bạn: “Tôi nghe Chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận Quảng, làm nhiều việc nhân đức, lại có lòng yêu kẻ sỹ, trọng người hiền... Nếu ta theo vào giúp thì chẳng khác gì Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link về Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link sang Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, có thể làm tỏ rạng thanh danh, ta không đến nỗi phải nát cùng cây cỏ, uổng phí một đời....” [10].

    Không rõ ông vào Đàng Trong năm nào. Đầu tiên Đào Duy Từ ở huyện Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) hơn một tháng để nghe ngóng tình hình. Sau biết Khám lý Trần Đức Hòa [18] ở Hoài Nhơn là người có mưu trí được Chúa Sãi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link [19] tin dùng, ông vào Hoài Nhơn, đi ở chăn trâu cho phú hộ họ Lê ở làng Tùng Châu (nay là xã Hoài Hảo và xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) [10, 20].

    Nghề nghiệp là mưu sinh, là phương tiện hoặc là cứu cánh. Chăn trâu với ông vừa là mưu sinh vừa là phương tiện.

    Đào Duy Từ rất cần mẫn, siêng năng. Ngày ngày sáng sớm lùa trâu đi ăn, chập tối mới đánh trâu về, trời nắng cũng như mưa, khiến gia chủ rất vừa lòng, chưa hề có tiếng chê trách [13].

    Một hôm Phú hộ mời các nho sỹ hay chữ trong vùng đến nhà dự hội bình văn. Chập tối sau khi tiệc tùng, mọi người còn trà thuốc, bàn chữ nghĩa văn chương thì vừa lúc Đào Duy Từ chăn trâu về. Thấy đám đông khách khứa trò chuyện rôm rả, ông bèn lại gần, đứng ghếch chân lên bậc thềm nhìn, tay vẫn cầm chiếc roi trâu, vai đeo nón lá, lưng quấn khố vải... Chủ nhà ngồi phía trong nhìn thấy cho là vô lễ, giận dữ quát:

    - Kẻ chăn trâu kia! Hạng tiểu nhân biết gì mà dám đứng nhìn các quan đây là những bậc danh nho?

    Đào Duy Từ nghe mắng song không tỏ ra sợ hãi mà cười nói một cách thản nhiên:

    - Nho cũng có hạng “nho quân tử”, hạng “nho tiểu nhân”. Chăn trâu cũng có kẻ “chăn trâu anh hùng”, kẻ “chăn trâu tôi tớ”, cao thấp không giống nhau, hiền ngu không là một. Còn kẻ tiểu nhân tôi chỉ đứng nhìn, có xâm phạm gì đến cái phú quý, sang trọng của các vị đâu mà chủ nhân lại mắng đuổi?

    Mấy người khách nghe kẻ chăn trâu nói lý như vậy thì rất ngạc nhiên, bèn vặn hỏi:

    - Vậy nhà người bảo ai là “nho quân tử”, ai là “nho tiểu nhân” hả?

    Đào Duy Từ chẳng cần nghĩ ngợi, nói luôn một mạch:

    - “Nho quân tử” thì trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu việc đời, trong nhà giữ được đạo cha con, tình nghĩa vợ chồng, anh em, bè bạn, ngoài xã hội thì biết lo việc nước, vỗ yên dân, giúp đời, phò nguy cứu hiểm, để lại sự nghiệp muôn đời. Còn “nho tiểu nhân” thì chỉ là bọn học vẹt, cầu danh cầu lộc, khoe ít chữ nghĩa, coi thường hào kiệt, may được giữ một chức quan nhất thời thì chỉ tìm trăm phương ngàn kế để mưu đồ lợi riêng, làm sâu mọt hại dân đục nước, thật là đáng sợ!

    Đám khách nghe nói đều giật mình kinh ngạc, không ngờ một kẻ chăn trâu mà lý lẽ cứng cỏi làm vậy, bèn tò mò hỏi thêm:

    - Còn “kẻ chăn trâu anh hùng”, kẻ “chăn trâu tôi tớ” nghĩa là sao, nhà ngươi thử nói nghe luôn thể?

    Đào Duy Từ ung dung trả lời:

    - “Chăn trâu anh hùng” thì như Ninh Thích phục hưng nước Tề, Điền Đan thu lại thành trì cho nước Yên, Hứa Do cho trâu uống nước ở khe mà biết được hưng vong trị loạn, Bạch Lý Hề chăn dê mà hiểu thấu thời vận thịnh suy. Đó là những kẻ “chăn trâu anh hùng”. Còn những bọn chỉ biết cam phận tôi tớ, chơi bời lêu lổng, khi vui thì reo hô hoán, khi giận thì chửi rủa, đánh đấm, chẳng kể gì thân sơ, làm cha ông phải xấu lây, xóm làng chịu điều oan. Đấy là hạng “chăn trâu tiểu nhân” cả!

    Mọi người nghe Đào Duy Từ đối đáp trôi chảy, sách vở tinh thông, nghĩa lý sâu sắc càng thêm kinh ngạc nhìn nhau, rồi đứng cả dậy bước ra mời Đào Duy Từ cùng vào nhà ngồi nhưng ông khiêm tốn và chối từ. Các nho sỹbèn dắt tay Đào Duy Từ lên nhà, ép ngồi vào chiếu trên.

    Phú hộ rất đỗi ngạc nhiên, bèn giục mấy nhà nho hỏi thêm Đào Duy Từ về kiến thức, sách vở cổ kim. Các vị nho học nhất vùng hỏi đến đâu, Đào Duy Từ đều đối đáp trôi chảy đến đó, tỏ ra không có sách nào chưa đọc đến, không có chữ nào không thấu hiểu, khiến cho mọi người phải thất kinh, bái phục sát đất.

    Chủ nhà không kém phần sửng sốt, đổi giận làm lành mà rằng:

    - Tài giỏi như thế, sao bấy lâu cứ giấu mặt không cho lão già này biết, để đến nỗi phải chăn trâu và chịu đối xử bạc bẽo theo bọn tôi tớ? Quả lão phu có mắt cũng như không. Có tội lắm! Có tội lắm!

    Từ đó chủ nhà may sắm quần áo mới xem Đào Duy Từ là khách quý, mời ngồi giảng học, đối đãi hết sức trọng vọng [13].

    Chính Phú hộ tiến cử ông cho người bạn là Khám lý Trần Đức Hòa vào năm Ất Sửu-1625 [11]. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi chuyện. Thấy mọi chuyện ông đều thông hiểu, liền giữ ông lại và gả con gái là Trần Thị Chính cho [12]. Khi Trần Đức Hòa xem bài “Ngọa Long cương vãn” của Đào Duy Từ ông liền nói rằng: “Đào Duy Từ là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đời này chăng?” [10].


    Thoả chí anh hùng

    Trong những ngày tháng lận đận chốn kinh đô vì hoạ đổi họ thi cử Đào Duy Từ đã gặp Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng. Đoan Quận Công bấy giờ đang trấn ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, được triệu về Đông Đô bàn việc nước. Nhân dịp Nguyễn Hoàng đến thăm Nguyễn Hữu Liêu, Thái phó bèn kể chuyện Đào Duy Từ và lấy bài vở của Đào Duy Từ đưa Đoan Quận Công xem. Đọc bài của Đào Duy Từ Nguyễn Hoàng biết đây là nhân tài có thể thu dụng cho việc ở phương Nam của mình nên âm thầm đến nhà trọ giúp đỡ tài chính chạy chữa cho Đào Duy Từ rồi mời ông vào Nam giúp mình [13, 14] nhưng dù sau đó ông đã chuyên tâm đèn sách, ngày đêm không rời khỏi sách binh thư phải đến mấy chục năm sau Đào Duy Từ mới có cơ hội trốn vào Đàng Trong lúc Nguyễn Hoàng đã mất [12, 13].

    Năm 1627 Trần Đức Hòa đến mừng Chúa Nguyễn Phúc Nguyên vừa đẩy lui quân Trịnh ở cửa Nhật Lệ, dâng bài Ngoạ Long cương vãn và tiến cử Đào Duy Từ [11]. Chúa Sãi cho vời Đào Duy Từ đến, hỏi chuyện thế sự. Đào Duy Từ liền đưa ra sách lược giúp Chúa Sãi trong đó chú trọng năm điểm [12, 14]:

    (1) Thống nhất giang sơn: Ông khuyên Chúa Sãi nên nối nghiệp Tiên Vương Nguyễn Hoàng diệt Chúa Trịnh để thống nhất sơn hà.

    (2) Mở mang bờ cõi: Đánh chiếm Chiêm Thành để mở mang bờ cõi phương Nam, làm thành một nước rộng lớn hơn Đàng Ngoài của Chúa Trịnh.

    (3) Phát triển dân số và dân sinh: Chiêu mộ dân khai khẩn đất hoang để sản xuất nông nghiệp; trước là có nhiều thóc gạo làm lương thực, sau là có nhiều người để tăng quân số. Giảm bớt sưu thuế cho dân đỡ khổ, nâng cao đời sống của dân, giúp đỡ họ làm ăn cày cấy, buôn bán. Mở nhiều trường học, ra lệnh cho mọi người đều phải đi học, dân có biết chữ mới biết yêu nước thiết tha. Làm được như thế dân không bị áp bức, lại được sống sung túc thì bao giờ cũng tận tâm phò Chúa.

    (4) Chỉnh đốn nội trị: Chọn người tài giỏi có công tâm không kể thân sơ ra giúp nước còn những kẻ tham nhũng thì trừng phạt và thải hồi.

    (5) Xây dựng quân đội: Muốn cho quân đội hùng hậu phải mộ thêm lính, xây đắp đồn lũy, huấn luyện cho quân lính có tinh thần, có kỷ luật.

    Chúa Sãiphục là cao luận, truyền mở tiệc khoản đãi cha con ông, họp quần thần, trao ông chức Nha uý Nội tán, tước Lộc Khê Hầu, giao trông coi việc quân cơ trong ngoài và tham lý quốc chính [11, 12, 14].

    Để ngăn chặn quân Trịnh, Đào Duy Từ nghiên cứu địa thế Quảng Bình, đề xuất với Chúa Sãi và đốc suất xây ba trường luỹ là Trường Dục năm Canh Ngọ (1630), lũy Động Hải (còn gọi là luỹ Trấn Ninh gồm hai luỹ Đầu Mâu và luỹ Nhật Lệ) năm Tân Mùi 1631 và luỹ Trường Sa (hay còn gọi là Lũy Đồng Hới, học trò ông là Nguyễn Hữu Dật xây)năm Giáp Tuất 1634 [11, 12, 21] mà dân Đàng Trong gọi là luỹ Thầy hay luỹ Đào Duy Từ [21]; đây là là hệ thống thành lũy liên hoàn, có nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều tuyến chiến đấu, là công trình thể hiện tư chất, tầm vóc của ông trong nghệ thuật dụng binh và nghệ thuật phòng thủ, góp phần quan trọng giúp các chúa Nguyễn đẩy lùi quân các chúa Trịnh trong 6 cuộc gia tranh sau đó, giữ yên Đàng Trong [12]. Về mặt văn hoá và bản sắc vùng miền, vô tình hệ thống luỹ Thầy ngăn dân Đàng Ngoài Nam tiến, góp phần định hình bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ năm 1630 [22].

    Để huấn luyện tướng sỹ, ông soạn sách “Hổ trướng khu cơ” [14] mà nội dung vừa mang tính kế thừa các tri thức quân sự thời trước vừa có những phần phát triển sáng tạo ông [12]; đây là sách về nghệ thuật quân sự duy nhất của người Việt Nam còn nguyên vẹn cho đến ngày nay [10].

    Về đạo làm tướng, Đào Duy Từ kế thừa tư tưởng Trần Quốc Tuấn [23] và Nguyễn Trãi [24], coi đạo làm tướng phải lấy nhân nghĩa làm đầu: “Nhân là đức của lòng người. Tướng không đốc lòng nhân thì không thể có kết nhân tâm được… Nghĩa là lẽ phải của việc để cố kết lòng người. Không có nghĩa thì không có lẽ phải. Cho nên tướng tất trước hết phải biết nghĩa. Nghĩa đã rõ thì đốc lòng trung báo ơn nước, xử sự đúng lẽ phải thì duy trì được lòng người…” [12]. Cùng với đức nhân và nghĩa người làm tướng còn phải có đủ sáu đức khác là tín, trí, minh, tài năng, cương dũng và nghiêm minh [12].

    Ngoài bài “Ngọa Long cương vãn”, “Nhà lá cột tre” và “Tư Dung vãn” [25], tài văn chương và ứng biến điêu luyện của ông còn thể hiện qua giai thoại giúp Chúa Sãi trả lại sắc phong cho Vua Lê Thần Tông [26] và ông từ chối lời chèo kéo của Chúa Trịnh Tráng [13, 27].

    Ông sáng tác tuồng “Sơn hậu”, điệu múa “Song Quang””, Nữ tướng xuất quân”, “Tam Quốc”, “Tây du”. Ông có công đầu trong phát triển nghệ thuật tuồng Đàng Trong [13], là tác giả nhã nhạc cung đình Huế mà sau này gắn với di sản văn hóa Huế thành di sản văn hóa thế giới [10].


    Sắc phong, thờ cúng và dòng dõi

    Ông có ít nhất hai vợ; vợ đầu lúc còn ở quê tên Cao Thị Nguyên có đứa con gái mà ông gả cho Nguyễn Hữu Tiến [28], một tướng tài của các chúa Nguyễn do ông tiến cử còn bà sau tên Trần Thị Chính là con gái Khám lý Trần Đức Hoà.

    Ông mất ngày 17 tháng 10 năm Giáp Tuất (thứ Năm, 7/12/1634), thọ 63 tuổi. Chúa Sãi rất thương tiếc, tặng là “Hiệp mưu đồng đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu”, đưa về an táng ở Tùng Châu. Đến đời Gia Long [29] năm thứ 4 (1805) ông được tùng tự ở Thái miếu; đến đời Gia Long năm thứ 9 (1810) ông được liệt thờ ở miếu Khai quốc Công thần. Đến đời Minh Mạng [30] thứ 12 (1831) ông được truy phong Đông các Đại học sỹ, Thái sư, Hoằng Quốc Công [11]. Năm 1932 Vua Bảo Đại [31] đã ban sắc tứ phong cho Đào Duy Từ là thành hoàng đình Lạc Giao tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk-đình làng đầu tiên của người Kinh lên đây lập nghiệp vào năm 1928 [32].

    Lăng ông ở thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; đền thờ ông ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định còn từ đường ông ở thôn Tài Lương, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

    Hằng năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch con cháu tứ chiếng tụ về thôn Cự Tài để tổ chức lễ húy kỵ ông.

    “Trứng rồng lại nở ra rồng/Liu điu lại nở ra dòng liu điu”, tổ tiên nói thế. Đào Duy Từ cũng không phải là ngoại lệ về dòng dõi. Theo Đào tộc phả Khả Lao* [33] thuỷ tổ ông là Tiến sỹ Thượng thư Bộ Binh Đào Dương Bật (tức Trạng nguyên Đào Tiêu **[34]). Đào Dương Bật có 5 người cháu nội ứng với 5 chi về sau. Đào Duy Từ thuộc dòng chi thứ 5 tức đệ ngũ chi Đào quý công Phúc Thông, lưu cư tại Ninh Bình, về sau một nhánh di cư vào Thanh Hoá, sinh ra Đào Duy Trung là ông nội của Đào Duy Từ. Trước khi vào Đàng Trong Đào Duy Từ đã đưa mộ phần cha mẹ về an táng tại đất dòng tộc ở Ninh Bình.


    Bạt,

    Vượt qua nghịch cảnh, ẩn nhẫn chờ thời, nung kinh nấu sử để khi luống tuổi (55 tuổi) cơ duyên đưa đẩy Đào Duy Từ giúp Chúa Sãi chỉ vỏn vẹn 8 năm phò Chúa Sãi mà đã khắc hoạ hình ảnh đặc dị một người thầy của Chúa Sãi, một kiệt tướng, một chính trị gia, một chiến lược gia, một kiến trúc gia, một kỹ thuật gia, một nghệ sư tài hoa, một học giả, là người góp phần quan trọng định hình được nhà nước, địa lý và bản sắc Đàng Trong.

    Công trạng của ông thời nào cũng được đánh giá cao, như nhận định của Triều Nguyễn: “Công nghiệp chói lọi, đứng đầu hàng công thần khai quốc” [11].

    Dải đất hình chữ S thời 2020 vẫn thấm đẫm công trạng ông-Đào Duy Từ-hậu duệ của Trạng nguyên Đào Tiêu [33, 34].


    Nguồn trích dẫn

    [1]. Nhà Hậu Lê. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [2]. Lê Thánh Tông. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [3]. Đại Việt. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [4]. Mạc Đăng Dung. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [5]. Nguyễn Kim. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [6]. Trịnh Kiểm. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [7]. Nguyễn Hoàng. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [8]. Đàng Ngoài. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [9]. Đàng Trong. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [10]. Đào Duy Từ. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [11]. Phan Khoang. Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777, Hà Nội, Nhà Xuất bản Văn học, 2001: 134-144.

    [12]. Những đóng góp của Đào Duy Từ trên lĩnh vực quân sự dưới thời chúa Nguyễn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [13]. Kiều Thu Hoạch. Giai thoại văn học Việt Nam. Mục “Đào Duy Từ”. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [14]. Đào Duy Từ. Hổ trướng khu cơ. Bản PDF. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 28/8/2019.

    [15]. Lê Thế Tông. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [16].Trịnh Tùng.[Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [17]. Nguyễn Hữu Liêu. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [18]. Trần Đức Hòa. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [19] Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [20]. Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược.Hà Nội, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2002: 317.

    [21]. Luỹ Thầy. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [22]. Hồ Trung Tú. Có 500 năm như thế: Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử (Tái bản lần thứ ba có sửa chữa & bổ sung). Đà Nẵng, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, 2015.

    [23]. Trần Quốc Tuấn. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [24]. Nguyễn Trãi. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [25]. Đào Duy Từ. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [26]. Lê Thần Tông. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [27]. Trịnh Tráng. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [28]. Nguyễn Hữu Tiến. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.

    [29]. Gia Long. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [30]. Minh Mạng. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [31]. Bảo Đại. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 25/4/2020.

    [32]. Đình Lạc Giao. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Truy cập 23/4/2020.

    [33]. Đào tộc phả Khả Lao: 25 (cụ Đào Danh Chấn soạn 1820, Bản in của Liên chi phái hậu duệ các đại khoa Đào Dương Bật-Đào Toàn Bân-Đào Sư Tích).

    [34]. Đào Tiêu. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Truy cập 25/4/2020.
     

Chia sẻ trang này