Dân gian [thần thoại] Hùng Hải trị nước

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi crawfish, 9/12/18.

  1. crawfish

    crawfish Mầm non

    Lạc Long Quân xuống biển, giao lại nước cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thấy các sông ngòi năm nào cũng dâng nước to làm hại dân làng, mới sai thủy bộ chia nhau giữ gìn các thác ghềnh.

    Miền Động Đình thường bị loài thủy quái dâng nước làm mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải về Động Đình chủ giữ các sông. Hùng Hải cùng vợ là Trang Hoa thường đi xem xét các sông Đà, sông Thao. Các loài giải thuồng luồng, ba ba về chầu rất đông, dân vô cùng khiếp sợ. Hùng Hải mắng các loài thủy tộc, dặn lần sau không được lộ hình cho dân thấy.

    Một hôm, Hùng Hải nằm mộng thấy sứ mời về gặp Lạc Long Quân, Lạc Long Quân báo cho biết sẽ cử ba rồng trông coi một dải sông Thao để trấn giữ giặc nước và lệnh cho Hùng Hải về cửa sông Nhị.

    Sau đó, Trang Hoa có mang. Tới ngày sinh nàng ngồi thuyền ra giữa sông ở ngã ba Bạch Hạc. Sóng nước nổi lên, mây đen kéo kín trời, chớp loà sấm động. Trang Hoa đau đẻ mấy này và sinh ra ba rồng Hùng Hải mừng rỡ. Ba Rồng vừa ra đời thì trời quang mây tạnh sóng lặng, sấm tan. Ba rồng vươn vai vụt trở thành ba chàng trai cao lớn tuấn tú, lạy chào cha mẹ. Hùng Hải liền vỗ về ba rồng, truyền cho rồng cả về trị nhậm ở ghềnh Ngọc Tháp, rồng hai về ghềnh Ba Triệu, rồng ba về đầm Đào Xá. Bắc Thành địa dư chí của Lê Đại Cương lại chép "Thần núi Tản Viên có ba vị: Nguyễn Hưởng, Nguyễn Tuấn và Nguyễn Lang'' . Khâm Động Việt sử lại ghi thần Tản Viên có tên là Hương Lang con Lạc Long Quân. Đời thường Nghiên, nước ngập cả núi non, Hương Lang có phép tiên trừ được nạn lụt Thần rất thiêng, đi đâu thường có hạc múa, voi quì, rồng chầu, hổ phục. Cao Biền nhà Đường có ý muốn yểm nhưng không yểm nổi.

    Khảo dị: Hùng Vương

    (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link)

    Hùng Vương trị đất lạc, đặt tên nước là Văn Lang, chia ra thành nhiều khu vực cho các anh em mỗi người cai quản một nơi, còn một số thì ở với mẹ, anh cả được tôn làm vua, tức là Hùng Vương.

    Buổi đầu, vật dùng của dân chúng chưa đủ, lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm, lấy cầm thú ngư trung làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cầy bằng dao, cấy bằng lửa. Đất nhiều gạo nếp, lấy ống tre để nấu. Gác cây làm nhà để tránh hùm sói. Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Con mới sinh thì lấy lá chuối lót. Khi có người chết thì lấy cối chài ra mà giã, hàng xóm nghe thì chạy đến cứu giúp nhau. Trai gái lấy nhau thì chưa dùng trầu cau, lấy phong muối làm lễ đầu, rồi sau đem trâu dê để thành lễ.

    Tổ chức thô sơ dần dần thành lập nên kinh đô Phong Châu, các bộ lạc thì ở dưới quyền tù trưởng gọi là lạc tướng, các lạc tướng thì phục tòng ít nhiều một vị tù trưởng có thế lực hơn hết cả gọi là lạc hầu hay lạc vương. Thôn ở dưới quyền một gia trưởng gọi là bố chính. Vương có nô lệ tôi tớ, con trai gọi là quan lang, con gái gọi là mị nương hay mệ nàng, cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, người nào cũng xưng hiệu là Hùng Vương.

    Trong xứ có nhiều ao, đầm, hồ, sông và tiếp giáp biển, dân chúng sinh hoạt về nghề chài lưới thường bị các giống thủy tộc như thuồng luồng, cá sấu làm hại. Hùng Vương nghe những tai nạn dân sự hay gặp phải mới bảo rằng:

    - Ta cùng các anh em vốn thuộc giống rồng. Rồng thường ưa đồng loại mà ghét dị loại, vậy nên dùng chàm vẽ hình rồng vào người, để khi lạn xuống các em nhận ra là đồng loại mà không làm hại nữa.

    Do đó mà người Lạc Việt có tục xăm mình và tin rằng mình là con cháu giao long. Nước của Hùng Vương cũng vì thế mà gọi tên là Văn Lang.

    Đất nước Văn Lang phía đông giáp biển Nam hải, phía tây đến nước Ba Thục, phía bắc đến hồ Động Đình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

    Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái thì về phía đông nước Văn Lang hồi bấy giờ có một dân tộc thuộc về giống cá sống trên các hòn đảo. Tự thời xưa cá đã biến thành người, dần dà ăn nói như người, lên ở trên cạn: Họ lên đất thì chóng mặt, đi đứng khó khăn, nhưng xuống nước thì khỏe mạnh bơi lội rất tài. Họ sinh sống bằng nghề bắt cá và đưa cá vào đất liền để đổi lấy gạo ăn.

    Phía nam Văn Lang, là nước Hồ Tôn tức Chiêm Thành về sau có một ông vua tên Thập Xa Vương có nhiều phép thuật, cai quản một bộ lạc mặt người đuôi vượn, rất khoẻ và hung dữ. Giáp giới phía nam nước này là nước Diệu Nghiêm có một ông vua có mười cái đầu nên gọi là Thập Đầu Vương. Ông vua hình dạng cổ quái này có tài biến hóa phi thường.

    Thập Đầu Vương nghe tiếng con trai của Thập Xa Vương là Trưng Tư có một người vợ rất đẹp tên là Bạch Tĩnh, bèn đem bộ hạ đến nước Hồ Tôn vây đánh bất ngờ, rồi hóa phép vào cung bắt nàng bạch Tĩnh đem về nước.

    Bị cướp mất vợ, Trung Tư đem quân mặt người đuôi vượn kéo đi báo thù hóa phép dời núi lấp khoảng biển hẹp cách ngăn hai nước Hồ Tôn và Diệu Nghiêm, mở đường tiến vào nội địa tình địch. Sau một trận giao chiến ác liệt, Trung Tư giết được Thập Đầu vương, giành lại được vợ đưa về.

    Phía tây nam Văn Lang, có nước Tiết Hầu, nhân có việc rắc rối về ranh giới hai vua đôi bên mới phân định bằng cách mỗi bên cử một người từ nước mình, ở một chỗ nhất định rồi bắt đầu cùng một ngày, một giờ hướng về phía nhau mà đi, hễ gặp nhau ở đâu thì lấy đó làm giới hạn.

    Bên Văn Lang cử một người đàn bà tên là Mụ Giạ, người cao lớn, có tài đi rất mau. Đôi bên đi gặp nhau ở một cái đèo, thuộc dãy núi ngày nay gọi là Trường Sơn. Dãy núi ấy được lấy làm ranh giới đôi bên theo lời giao kết. Cái đèo người ta vẫn gọi là đèo Mụ Giạ. Ở chỗ từ Tân Ấp (Hà Tĩnh) ngày nay sang Ban Thông Kham (Ai Lao).
     
  2. mr.toanphan82

    mr.toanphan82 Lớp 2

    Truyền thuyết Việt kể Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu, lên ngôi là vua Hùng, dựng nước Văn Lang… Vậy vết tích nào của quốc tổ Lạc Long còn lưu lại ở vùng đất Phong Châu của các vua Hùng?

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐình Đào Xá ở Thanh Thủy, Phú Thọ.

    Truyền thuyết thời Hùng Vương ở Phong Châu thường kể tới một nhân vật mang tên Hùng Hải đại vương. Vị thần này được thờ ở nhiều làng tại Phú Thọ, như ở tại làng Đào Xá (Thanh Thủy). Sự tích của Hùng Hải tóm tắt như sau (theo thần tích Cấn thủy thần chi bộ của làng Đào Xá):
    Lạc Long Quân xuống biển giao nước lại cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Miền Hưng Hóa các châu, trang, động, sách thường bị loài thủy quái dâng nước làm cho mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải, con tra thứ 19 của Lạc Long Quân, về Hưng Hóa chủ giữ các sông. Đức Hải Công sau gọi là “Hải Vân Long Vương Động Đình thủy tề”. Hùng Hải nhận mệnh xong liền thả hịch xuống các đầu sông ngọn nguồn, các nơi thác ghềnh hiểm dữ. Trong ba ngày nước vỡ thành khe ngòi chảy đi hết.
    Mùa xuân Hùng Hải lấy Trang Hoa làm vợ. Trang Hoa rất xinh đẹp, quê ở Châu Mai, là con gái Lạc hầu. Hùng Hải thường đi tuần thú xem xét các sông từ sông Đà, sông Thao tới sông Lô, sông Hát, thấy chỗ nào khuyết lở thì truyền sức cho nhân dân bồi đắp.
    Một hôm Hùng Hải cùng vợ từ đầm Thọ Xuyên sang Đào Xá, dựng lầu nghỉ ở đây một đêm. Sau đó bà Trang Hoa có thai, sinh ra ba bọc trứng, nở ra 3 con rồng, rồi hóa thành 3 người con trai, đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bà Trang Hoa hóa ở cửa sông Nhị sau đó.
    Hùng Hải dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn. Rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản, còn mình về trông nom cửa sông Nhị tỉnh Hải Dương. Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại…
    Ba vị Long hầu, con trai của Hùng Hải được trị nhậm ở vùng sông Đà, sông Thao, chia nhau ở các khu Thọ Xuyên, Ngọc Tháp và Đào Xá.
    Làng Đào Xá lập đức Hải Công làm thành hoàng thờ tại đình làng. Trong làng còn có đền Tam công thờ ba con trai của Hải Công. Đến ngày hội có tục rước voi hướng về phía Đông, hướng Hùng Hải đi ra Hải Dương trị nhậm và tục bơi chải trên 2 chiếc thuyền rồng lớn trong vùng đầm Đào Xá.
    Câu đối ở đình Đào Xá
    興化千秋秀氣凝髙配天厚配地
    平原一境財源湊浩如泉暴如邱
    Hưng Hóa thiên thu, tú khí ngưng cao, phối thiên hậu phối địa
    Bình nguyên nhất cảnh, tài nguyên thấu hạo, như tuyền bộc như khâu.
    Dịch:
    Hưng Hóa ngàn thu, khí đẹp tụ cao, hợp trời cùng hợp đất
    Bình nguyên một cảnh, nguồn tài hội sáng, như suối mạnh như đồi.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐầu kèo chạm rồng ở Đào Xá.

    Nay so sánh chuyện Hùng Hải trị nước ở vùng Tam Giang Phong Châu thì thấy rõ đây cũng là chuyện của vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bát Hải Động Đình là vị vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
    Trước hết Hùng Hải được gọi là Động Đình thủy tề, tức là trùng khớp với tên Bát Hải Động Đình. Tên “Hải” còn gặp ở di tích An Cố tại Thái Thụy, Thái Bình, nơi thờ Phạm Hải hay Hải Công. Đức Hải Công ở vùng Phú Thọ như vậy là Bát Hải hay Phạm Hải ở Thái Bình.
    Hùng Hải lấy vợ là Trang Hoa, đóng trụ sở ở Đào Xá. Còn vua cha Bát Hải Động Đình thì xây dựng Hoa Đào Trang ở vùng cửa Động (Thái Bình). Tên bà Trang Hoa và tên làng Đào Xá đã chỉ rõ Hùng Hải cũng là vị vua của Hoa Đào Trang ở Thái Bình. Ngọc phả đền Hùng ở Phú Thọ còn nhắc tới một trong 18 đời Hùng Vương là Hùng Hoa với tên Hải Lang Vương. Hùng Hoa – Hải Lang đều chỉ một người, là Hải Công ở Đào Xá và Bát Hải Động Đình ở Hoa Đào Trang.
    Hùng Hải không phải ai khác chính là Lạc Long Quân, vị vua cha của Thủy phủ, được kể đến trong truyền thuyết khởi nguồn của người Việt. Đó cũng là lý do tại sao Hùng Hải lại được thờ rất tôn kính ở nhiều nơi tại vùng Phong Châu. “Hùng Hải trị nước” còn có nghĩa là cai trị quốc gia (đất nước). Chữ Nước biến âm thành Nác – Lạc. Hùng Hải là một vị Lạc Vương, làm chủ đất nước thời Hùng.
    Bà Trang Hoa hay Hoa Đào Trang ở Thái Bình thực ra ám chỉ Hùng Hải – Lạc Long là vua chủ của triều đại mang tên… Hoa, hay Hạ. Lạc Long Quân là Hạ Khải, người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVị trí các di tích của Hùng Hải – Lạc Long và Ngũ vị tôn ông.

    Hùng Hải được cử đi trị nhậm ở cửa sông Nhị Hà tỉnh Hải Dương. Thực ra Hải Dương chỉ có nghĩa là vùng đất phía Đông (Dương là hướng mặt trời mọc) giáp biển. Cửa sông Nhị Hà đổ ra biển chính là sông Thái Bình. Ở đó gọi sông Nhị là sông Đào, như trong câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình:
    桃江洞口祁千跡
    生化神仙萬古傳
    Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
    Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
    Dịch:
    Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
    Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
    Động Đình trong chuyện này có nghĩa là biển Đông, chứ không phải vùng đầm Hưng Hóa ở Phong Châu. Cửa Động là vùng cửa sông Hồng (sông Đào hay sông Nhị đổ ra biển).

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkCửa cung đền Tam Công ở Đào Xá.

    Luôn gắn liền với vua cha Bát Hải Động Đình là sự tích 3 anh em cùng bọc trứng, như trong chuyện Vĩnh Công (vua cha Bát Hải) ở Thái Bình, trở thành các vị tôn quan trong Tứ phủ. Như đã từng biết, vị quan lớn đệ tam ở đền Lảnh là Trung thành phổ tế đại vương vùng Phú Xuyên – Hà Nam, cũng là thần Thổ Lệnh ở sông Bạch Hạc. Vị quan lớn đệ ngũ ở sông Tranh là thần Thạch Khanh trong chuyện Bạch Hạc Tam Giang.
    Như vậy, nếu Hùng Hải là vua cha Bát Hải thì ba vị Long hầu ở Đào Xá phải là các vị tôn quan của Tứ phủ. Hai vị trong số đó là các thần Thổ Lệnh, Thạch Khanh đã hiển ứng ở ngã ba Bạch Hạc. Mọi sự tích và tên gọi đều trùng khớp giữa 2 khu vực ở Phong Châu và ở cửa sông Hồng đổ ra biển.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐền Giếng Giá ở Do Nghĩa, Sơn Vi, Phú Thọ thờ Đại Hải Long Vương.

    Tục thờ 3 vị thủy thần đại vương còn gặp ở một số nơi tại Phú Thọ, như ở làng Chu Khống (xã Chu Hóa, Việt Trì) tại chân núi Hùng. Xã này nay có đền thờ Lạc Long Quân mới được xây dựng. Ở Chu Hóa 3 vị thành hoàng được phong là Đông Hải đại vương, đã sinh ra từ trứng, nở thành 3 con rắn, sau hóa thành tướng giúp vua Hùng đánh Thục. Hay ở làng Do Nghĩa (Sơn Vi, Phú Thọ) thờ Đại Hải Long Vương, có công đánh Thục giúp vua Hùng. Những chuyện này hoàn toàn tương tự như chuyện về anh em Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở miền Đồng Bằng phá Thục.
    Cuộc chiến Hùng – Thục xảy ra giữa Lạc Long Quân (Hùng Hải) với quân Thục là hình ảnh của cuộc chiến giữa Hạ Khải và Bá Ích, tranh dành vương vị sau khi Hạ Vũ mất trong Hoa sử. Hạ Khải – Lạc Long với sự trợ giúp của các vị tôn quan trong dòng tộc bên mẹ ở Động Đình (bà Trang Hoa) đã chiến thắng, lên ngôi cai quản cả 2 vùng đất Lạc (vùng trung du Phong Châu) và đất Long (vùng đồng bằng sông Hồng ven biển). Hùng Hoa Hải Lang là vị vua khởi đầu sử Việt, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối, thần truyền thánh kế nên được tôn làm quốc tổ muôn đời của người Việt. Dấu vết của cha Rồng còn in đậm trong ký ức dân gian, trải dài từ miền đất tổ Phong Châu tới bờ biển Động Đình bao la…
     
    nguyennang.thanh thích bài này.
  3. Si online

    Si online Mầm non

    Chuyện dựng nước thì không hẳn như vậy, hồ Động Đình là ở tận sông dương tử, sông này chảy qua Thượng Hải, Trùng Khánh bây giờ. Còn chuyện lũ lụt năm nào cũng có.
    "Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam).Vua các đời đều gọi là Hùng Vương" .(Trích Đại Việt sử kí toàn thư).
    [​IMG]
    Thuỷ tổ người Việt phải nói đến là Kinh Dương Vương, thời đó dân Kinh là gọi theo tước hiệu của Kinh Dương Vương. Người dân tộc thiểu số không phải người Kinh nhưng đều là dân của Thần Nông thị, do chạy nạn giặc Hoa Hạ mà chạy xuống phía Nam sống chung với người Kinh (một số chạy xuống tận thái lan, lào, indonesia, philippin ngày nay). Đến đời Hùng Vương mới gọi chung người Việt. Hùng Vương từ đó trở thành quốc tổ người Việt mấy ngàn năm.
    Nói về bộ máy chính trị thì chia là 4 bậc: Hoàng, Đế, Vương, hầu- tướng-công-....., về hoàng vị thì chỉ tồn tại trong truyền thuyết, tộc nhân của tam hoàng mới xứng là hoàng tộc, còn các tước vị phía dưới có thể truyền cho con (trưởng, thứ, hay út không quan trọng) hoặc truyền cho người hiền đức.
    Truyền cho con trai gọi là nam phụ đạo, cho con gái gọi là nữ phụ đạo....
    Cho nên hùng Vương cũng chia đất phân phong cho hùng (lạc) hầu, hùng tướng cai quản, mặc dù đời sống còn đơn sơ không đến mức sống kiểu bộ lạc bầy đàn như vẫn thấy, nghèo khó lắm thì lấy vỏ cây, rơm...
    bện thành quần áo, bó lại làm mái nhà và tường che chứ không có chuyện mặc khố như một số hình ảnh lệch lạc bây giờ.
    Chế độ địa phân và phong tước vị này kéo dài mấy vạn năm, các bộ cổ sử sót lại đều ghi nhận là vậy, không chỉ Văn Lang mà Đông tây nam bắc các nước đều vậy, Nhật bản và châu Âu vẫn duy trì chế độ này đến tận thế kỉ 17-18.
     
    RGBCD thích bài này.
  4. nhaque

    nhaque Mầm non

    Người Kinh, dân tộc Kinh thì đến thời vua Minh Mạng trở về sau này mới có, thưa bạn.
    Từ thời Tây Sơn trở về xa xưa thì không có dân tộc nào là dân tộc Kinh (trên đất nước Việt) ạ.
     
  5. RGBCD

    RGBCD Lớp 3

    Bạn nói thế hóa trước đó không có à? Vậy Hùng Vương, An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Bà Triệu.... Nguyễn Ánh là người dân tộc gì? Một dân tộc có thể có nhiều tên gọi qua mỗi thời kỳ, nhưng dân tộc đó vẫn tồn tại từ thuở hồng hoang, vẫn nói thứ tiếng đó.
     
  6. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Thời Nguyễn thì các sách Nguyễn tự định danh chúng ta là Hán Nhân. Đế quốc Byzantine nói tiếng Hy Lạp, gốc cũng toàn Hy Lạp và một số dân tộc nhỏ xung quanh, không có một người Roman nào nhưng cũng tự định danh là người Roman suốt hơn 1000 năm tồn tại.

    Vậy có người Byzantine không? Khi tự họ không định danh họ là người Byzantine? Trả lời: tất nhiên là có, trước khi bị Rome chiếm họ là Hy Lạp, sau sự phân tách đế chế Rome thì phía đông với bản sắc Hy Lạp dần chiếm lại quyền lực chính trị và thống trị ngược cho mãi về sau. Họ ở đó, một sự tiếp nối văn hóa, ngôn ngữ, dòng máu của Hy Lạp. Cho dù gọi là Roman hay Hy Lạp thời Byzantine hay người Byzantine đều đúng. Nhưng phủ nhận sự tồn tại của họ là sai.

    Cũng như chúng ta. Cho dù mỗi thời chúng ta tự định danh như thế nào. Dân tộc này cũng đã tồn tại từ bấy lâu nay. Khẳng định trước Minh Mạng không có dân tộc Kinh là khẳng định ba chớp ba nhoáng, không có trách nhiệm với chính lời nói của mình lẫn dân tộc mình.

    Nếu trước đó không có người Kinh vậy dân tộc nào đã sinh ra người khẳng định câu này??
     
    tiendungtmv and RGBCD like this.
  7. RGBCD

    RGBCD Lớp 3

    Người đó có thể trả lời "Cái mày không biết chứ, tao ở trên núi xuống, nên câu trả lời của tao là: người H'mong." :D
     
    tran ngoc anh thích bài này.
  8. nhaque

    nhaque Mầm non

    Dân-tộc ta tự ngàn xưa đã bao gồm nhiều sắc-tộc. Vì thế mới gọi là Bách Việt.

    Trong "bách Việt-tộc" đó, không có dân-tộc Kinh, mà chỉ là những H'Mông, Thái, Tày, Nùng, v.v...

    Qua nhiều triều-đại khác nhau, vùng kinh-đô lúc nào cũng trở thành vùng đất phát-triển nhất. Cho nên kinh-đô và các vùng phụ-cận trở thành khu vực thu hút dân tình và cũng trở thành nơi có nền văn-hóa (được xem) là ưu-tú hơn các vùng khác.

    Từ đó, người ở các vùng đất khác dần dần có một cách gọi phân-biệt, đó là: người kinh, người ở trên kinh, người miền kinh.

    Trải qua hàng ngàn năm, hai tiếng "dân kinh"/"người kinh" trở nên quen-thuộc và phổ-biến. Về sau nữa, sự phát-triển của văn-hóa và xã-hội đã dần tạo nên sự phân-hóa ngày càng rõ nét giữa người miền ngược với người miền xuôi. Người miền xuôi thì gọi người miền ngược bằng "người Thượng" (hoặc trực -tiếp bằng tên của dân-tộc như: người Tày, người Dao), người miền ngược thì gọi người miền xuôi bằng "người Kinh" hoặc "dân Kinh".

    Đến thời vua Minh-Mạng, sau khi lên ngôi, ông ấy đã ban chiếu đến các địa-phương để xác lập lại địa-giới hành-chánh, xác lập lại dân-cư, v.v... trong đó có việc xác lập "dân tộc Kinh" là dân-tộc phổ-biến ở miền xuôi.

    Xét về bản-chất, dân-tộc Kinh là sự tổng-hợp của nhiều sắc-tộc (dân-tộc) khác nhau trải qua nhiều triều-đại, nhiều thế-hệ. Chỉ khi một bộ-phận người nào đó thể-hiện rõ nét sự khác-biệt về văn-hóa với dân-tộc Kinh thì mới được xem là một dân-tộc riêng. Thí dụ: Trong dân-tộc Kinh vẫn có nhiều người Hoa và nhiều người gốc Hoa sống qua nhiều thế-hệ; nhưng vẫn có một dân-tộc Hoa đã đang tồn-tại và sống chung với dân-tộc Kinh trong một cộng-đồng.

    P/s: Câu chuyện vua Minh-Mạng xác lập "dân-tộc Kinh" thì tôi đã xem từ một cuốn sách đâu cũng mười mấy, hai mươi năm rồi. Xin thứ lỗi khi tôi không thể trích-dẫn tên của tài-liệu đó ra nơi đây.
     
  9. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Sao bạn không nhắc đến Lạc Việt nhỉ? Âu Việt nữa, chúng ta có ba Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ mà ^ ^

    Đây đều là các tên gọi mới, trước kia là Lạc Việt, Âu, Mân, Điền... Việt á.

    Nếu đã quen thuộc cách gọi người Kinh suốt ngàn năm thì tại sao vẫn "thời vua Minh Mạng trở về sau này mới có"? Mình nghĩ chỗ này bạn nên trình bày rõ hơn nữa.

    Đồng ý với bạn cách gọi người Kinh là cách gọi mới, nhưng "người Kinh đô" như bạn nói đã có từ rất lâu.

    Nói chung vấn đề chỉ là tên gọi, rõ ràng là phải có người Kinh trước đó thì mới có người để cho Minh Mạng lấy tên Kinh mà đặt cho chớ phải không? Chớ chả nhẽ moi họ từ trên trời xuống mà đặt tên :D người Kinh, Lạc Việt hay chỉ mỗi chữ Việt thôi đều đúng cả, vì hiện tại trên thế giới nói Việt là ai cũng nói Việt Nam chứ còn dân tộc nào khác gắn với chữ Việt nữa đâu.
     
  10. mr.toanphan82

    mr.toanphan82 Lớp 2

    Bách Việt và cơ sở thống nhất của cộng đồng Bách Việt




    Dân tộc Việt ngày nay, là dân tộc duy nhất trong vùng Đông Á còn giữ được tên gọi Việt trong tên dân tộc và đất nước của mình, nhưng lùi lại một không gian lịch sử xa hơn trong quá khứ, ở thời điểm cách đây khoảng hơn 2200 năm, thì cái tên “Việt” là một khái niệm rộng lớn hơn thế, được sử dụng để chỉ toàn thể nhóm dân cư cùng một nguồn gốc sinh sống trong vùng phía Nam sông Dương Tử kéo dài tới miền Bắc Việt Nam.

    Sách sử của người Hoa Hạ đã sớm ghi nhận về cộng đồng tộc Việt dưới nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tới thời nhà Tần, khái niệm Bách Việt đã được sử dụng để chỉ cộng đồng tộc Việt, khái niệm này đã có những ảnh hưởng nhất định trong sự nhìn nhận về cộng đồng này, như có một số quan điểm cho rằng “Bách Việt có nghĩa là 100 bộ tộc Việt”, “Bách Việt bao gồm nhiều dân tộc không có sự liên hệ với nhau”, hay “Bách Việt là một khái niệm được người Hoa Hạ sử dụng để chỉ chung những sắc dân phi Hán ở phía Nam địa bàn sinh sống của họ”.

    Các phương tiện di truyền, khảo cổ học là những công cụ khoa học có độ chính xác cao, là những cơ sở đáng tin cậy nhất để từ đó chúng ta có thể tìm hiểu về nguồn gốc và sự phát triển của cộng đồng tộc Việt, đồng thời cũng giúp chúng ta xác định được chính xác nguồn gốc của dân tộc Việt và vị trí của họ trong cộng đồng này. Những dữ liệu mà di truyền và khảo cổ học đem lại đã thể hiện một diện mạo khác với những gì mà sử sách Trung Hoa đã phác họa về người Việt và cộng đồng tộc Việt, và cũng khác với những quan niệm với sự suy luận về nguồn gốc tộc Việt thông qua khái niệm Bách Việt.

    Thay vì họ là một cộng đồng rời rạc, không liên quan tới nhau, thì cộng đồng tộc Việt có nguồn gốc xuất phát từ một tiến trình phát triển văn minh lâu dài trong vùng Đông Á, trong quá trình phát triển đó, cộng đồng tộc Việt đã sớm hình thành ý thức dân tộc, ý thức văn hoá thống nhất cũng như có sự gắn bó và liên hệ với nhau chặt chẽ trong quá trình tồn tại. Điều kiện khách quan của lịch sử đã khiến cộng đồng tộc Việt dần tan rã thành nhiều quốc gia và nhiều dân tộc như hiện trạng ngày nay.

    Những lớp bụi mờ phủ lên lịch sử tộc Việt cũng đã tới lúc được làm rõ, ở bài viết này, thông qua các phương tiện di truyền, khảo cổ, nhân chủng, ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa, chúng tôi sẽ tiến hành khảo cứu toàn diện về tộc Việt, xác định những cơ sở thống nhất của cộng đồng tộc Việt, làm rõ diện mạo cũng như tiến trình phát triển của cộng đồng này, để từ đó có thể đưa ra những nhận định mới, góp phần làm rõ những hiểu lầm về tộc Việt, với hy vọng đem lại những nhận thức mới của người Việt nói riêng và các dân tộc anh em nói chung về nguồn gốc của dân tộc mình.

    A. NGUỒN GỐC CỦA NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ PHÂN LẬP CỦA CỘNG ĐỒNG TỘC VIỆT:

    Thư tịch lịch sử của người Hoa Hạ đã sớm có những ghi nhận về cộng đồng tộc Việt, do địa bàn sinh sống của hai dân tộc là tiếp giáp nhau, cả hai tộc người đã có những tiếp xúc và giao lưu văn hóa từ sớm. Nguồn sử liệu Trung Hoa đã cung cấp cho chúng ta những dữ liệu khá quan trọng để tìm hiểu về một phần nguồn gốc cũng như tên gọi của tộc Việt trong giai đoạn đầu của lịch sử. Trong các giai đoạn lịch sử thời Hạ – Thương – Chu, bắt đầu từ thời điểm hơn 4000 năm trước, vào thời Nghiêu, Thuấn, thì cư dân tộc Việt và cư dân Hoa Hạ đã bắt đầu có sự tiếp xúc và thông giao với nhau, tới thời nhà Thương, thì hai dân tộc bắt đầu có sự xung đột về mặt quân sự và lãnh thổ, tới thời nhà Chu, thì tộc Việt và người Hoa Hạ tiếp tục có sự liên hệ và thông giao thông qua chi tiết sứ giả Việt Thường tới cống chim trĩ trắng.

    Trong các giai đoạn này, người Hoa Hạ có nhiều cái tên để chỉ tộc Việt, trong đó bao gồm hai từ ghép lại với nhau, từ đi trước thể hiện yếu tố nhận thức, ý niệm và thái độ của họ về tộc Việt, đi cùng với đó là cái tên Việt tự nhận của người Việt. Vào thời nhà Hạ, người Hoa Hạ gọi cộng đồng tộc Việt là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, tới đời nhà Chu thì gọi là Dương Việt 扬越 hoặc Lạc Việt 骆越 [1]. Các tên gọi trong các giai đoạn trên đều thể hiện một ý niệm về sự thống nhất của cộng đồng tộc Việt.

    Các cách gọi này cũng thể hiện một phần thái độ và nhận định của người Hoa Hạ về cộng đồng tộc Việt trong từng giai đoạn, ví dụ trong thời nhà Thương, họ gọi tộc Việt là Man Việt, có thể xuất phát từ sự xung đột, xâm chiếm lãnh thổ của triều đại này xuống đất của tộc Việt, hay thời nhà Chu, họ gọi tộc Việt là Dương Việt hay Lạc Việt, trong đó Dương Việt là cái tên thể hiện đặc trưng văn hóa tộc Việt là thờ Trời, và Lạc Việt cái tên tự nhận của tộc Việt. Mục đích và thái độ của họ về tộc Việt trong cách gọi tên được thể hiện rõ ràng hơn trong giai đoạn sau đây, khi vào thời nhà Tần, họ bắt đầu gọi tộc Việt bằng cái tên Bách Việt.

    Vào thời nhà Tần, bắt nguồn từ sách Lã Thị Xuân Thu do Lã Bất Vi biên soạn, đã xuất hiện khái niệm Bách Việt trong chi tiết: “Dương Hán chi nam, Bách Việt chi tế” nghĩa là phía nam đất Hán là đất Bách Việt. Đây cũng chính là thời điểm mà vùng Hoa Bắc đã được thống nhất dưới triều đại nhà Tần của Tần Thủy Hoàng, sự thống nhất đó đã bắt đầu thúc đẩy họ nhòm ngó sang các vùng lãnh thổ khác, trong đó chủ yếu là vùng đất phía Nam của tộc Việt. Việc họ sử dụng khái niệm Bách Việt để chỉ tộc Việt có thể ẩn chứa một toan tính sâu xa đi cùng với cuộc xâm lược của họ vào vùng đất của tộc Việt.

    Trong sử sách của các triều đại sau của người Hoa Hạ, họ đều ghi lại về tộc Việt dưới cái tên Bách Việt, sự ảnh hưởng còn thể hiện rõ rệt cho tới tận ngày nay, khi hầu hết các nghiên cứu về tộc Việt đều dựa trên khái niệm Bách Việt được ghi lại trong cổ sử Trung Hoa, với quan điểm “Bách” trong Bách Việt có nghĩa là nhiều Việt, cách hiểu này về khái niệm Bách Việt đã có ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức của các nhà nghiên cứu cũng như những người quan tâm tới nguồn gốc dân tộc khi tìm hiểu và nghiên cứu về cộng đồng tộc Việt.

    Trong thực tế thì trước khi khái niệm Bách Việt được sử dụng để nhận định về cộng đồng tộc Việt, thì cộng đồng tộc Việt có sự liên hệ và gắn bó với nhau một cách chặt chẽ, cùng tồn tại trong một cộng đồng chung, có ý thức dân tộc và văn hóa thống nhất được hình thành từ sớm. Các dữ liệu di truyền, khảo cổ mà chúng tôi sẽ tiến hành khảo cứu sau đây sẽ cùng góp phần chứng minh tính thống nhất của cộng đồng tộc Việt.

    B. CÁC CƠ SỞ THỐNG NHẤT CỦA CỘNG ĐỒNG TỘC VIỆT:

    I. Nguồn gốc tộc Việt và cơ sở thống nhất từ di truyền và nhân chủng:

    1. Tộc Việt có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Và người cổ Đông Nam Á có nguồn gốc từ châu Phi:

    [​IMG]
    Bản đồ thiên di nhân loại khoảng 70000-10000 năm trước. (Gary Stix (2008). Traces of a distant past. Scientific American;299(1):56-63)

    Các nghiên cứu di truyền được thực hiện và công bố trong khoảng hơn 20 năm gần đây, đã xác định cơ bản nguồn gốc nhân loại, nguồn gốc người Đông Á, và cũng đồng thời xác định nguồn gốc của cộng đồng tộc Việt và người Việt.

    Cộng đồng tộc Việt và người Việt được di truyền học xác định có nguồn gốc từ những người rời khỏi châu Phi, di cư tới Việt Nam và Đông Nam Á theo con đường phía Nam, chia thành hai đợt vào khoảng 60000 năm và 30000 năm trước ngày nay [2][3]. Khi đó cư dân cổ đang còn thuộc chủng Australoid da đen.

    Các cư dân cổ rời khỏi châu Phi đã sinh sống trong vùng miền Bắc Việt Nam và Đông Nam Á, xây dựng nên các văn hóa thuộc nền văn hóa Hòa Bình, với các giai đoạn:

    • Hòa Bình sớm hay tiền Hòa Bình, có niên đại tiêu biểu là di chỉ Thẩm Khuyên (32.100 ± 150 BC [trước Công Nguyên]), Mái Đá Điều, Mái Đá Ngầm (23.100 ± 300 BC).
    • Hòa Bình giữa hay Hòa Bình chính thống, tiêu biểu bởi di chỉ Xóm Trại (18.000 ± 150 BC), Làng Vành (16.470 ± 80 BC).
    • Hòa Bình muộn, tiêu biểu bằng di chỉ ở Thẩm Hoi (10.875 ± 175), Sũng Sàm (11.365 ± 80 BP, BLn – 1541/I).
    Văn hóa Hòa Bình là văn hóa có đặc trưng đá cuội được ghè đẽo và đục lỗ. Đặc trưng văn hóa Hòa Bình phân bố khắp Việt Nam, Lào, Thái Lan và lên cả vùng phía nam Đông Á, bao gồm cả vùng đồng bằng sông Châu như hình minh họa phía dưới. Bên cạnh đó là những đặc điểm từng vùng như mộ táng với tư thế nằm co, mộ có nắp. [4]

    Bản đồ phân bố của văn hóa Hòa Bình. [Chú dẫn bản đồ: 1. Đường gạch chéo: khu vực văn hóa Hoabinhian được nói trong bài [6]; 2. Các chấm tròn: các khu vực có đá đục lỗ; Các chấm vuông: các khu vực có táng với tư thế nằm co; 3. Vòng tròn màu đỏ: khu vực tiềm năng có người cao; vòng tròn màu xanh: khu vực tiềm năng có mộ có nắp.] [6]

    " data-medium-file="Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" data-large-file="Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" src="Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link" alt="hoabinhian" class="wp-image-17738" style="-x-ignore: 1">
    Bản đồ phân bố của văn hóa Hòa Bình. [Chú dẫn bản đồ: 1. Đường gạch chéo: khu vực văn hóa Hoabinhian được nói trong bài [4]; 2. Các chấm tròn: các khu vực có đá đục lỗ; Các chấm vuông: các khu vực có táng với tư thế nằm co; 3. Vòng tròn màu đỏ: khu vực tiềm năng có người cao; vòng tròn màu xanh: khu vực tiềm năng có mộ có nắp.] [4]

    Họ sinh sống trải rộng trong vùng Đông Nam Á lục địa, miền Bắc Việt Nam và cả một phần vùng nam Đông Á. Nhưng trong đó nhóm quan trọng nhất đã sinh sống ở vùng nay là vịnh Bắc Bộ. Trong đợt băng hà lớn cuối cùng, diễn ra vào thời điểm cách ngày nay hơn 28.000 năm, thì mực nước biển xuống thấp cực đại, ở mức 130-120m [5], vùng thềm lục địa vịnh Bắc Bộ vốn là một vịnh nông với độ sâu dưới 100m, nên khi nước biển rút sâu, đã làm lộ ra một vùng đồng bằng rộng lớn tại miền Bắc Việt Nam và vùng đồng bằng sông Châu.

    [​IMG]
    Bản đồ minh họa thềm lục địa lộ ra khi mực nước biển xuống thấp cực đại. [6]

    Địa bàn sinh sống và phát triển chính của cư dân rời khỏi châu Phi là vùng đồng bằng tại vịnh Bắc Bộ. Bên cạnh đó các cư dân cổ rời khỏi châu Phi còn sinh sống tại khắp các vùng Đông Nam Á lục địa và vùng nam Đông Á, có thể có sự liên hệ với nhau, khi kỹ thuật đá và đặc trưng mộ táng thể hiện sự tương đồng trong một địa bàn rộng lớn như bản đồ phân bố của văn hóa Hòa Bình phía trên đã thể hiện [4].

    Tại vùng đồng bằng vịnh Bắc Bộ, cư dân cổ rời khỏi châu Phi đã thuần hóa lúa nước, với việc nghiên cứu di truyền của lúa đã xác định sự thuần hóa lúa nước được thực hiện sớm nhất tại vùng đồng bằng này [7]. Sự kiện thuần hóa lúa nước đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về dân số so với thời kỳ săn bắt hái lượm.

    Tới khoảng hơn 12000 năm cách ngày nay, thì nước biển bắt đầu dâng trở lại [5], khiến cho vùng đồng bằng này dần dần chìm xuống mực nước biển, đã thúc đẩy cư dân cổ vùng Đông Nam Á di cư lên phía Bắc, do tại vùng Lĩnh Nam và Đông Nam Á, địa bàn thuận lợi nhất cho phát triển nông nghiệp là vùng vịnh Bắc Bộ, đã biến mất, nên họ phải di cư lên rất xa. Các nghiên cứu di truyền đã thể hiện cơ bản dòng di cư này của người cổ Đông Nam Á.

    Nghiên cứu của J.Y. Chu và cộng sự năm 1998 đã đưa ra kết luận người Đông Á có nguồn gốc từ người Đông Nam Á di cư lên. Nhóm dân cư này có nguồn gốc từ châu Phi đã đi đến Ðông Nam Á qua ngả Nam Á từ nhiều năm trước. [8]

    Tổ chức bộ gen người Hugo với công trình “Mapping human genetic diversity in Asia” đăng trên tạp chí Science năm 2009, nghiên cứu kiểu biến thiên hình thái gen trên 73 sắc dân châu Á và 2 sắc dân ngoài châu Á, đã xác định người Đông Nam Á là nguồn gốc chính của người Đông Á. [9]

    Kết quả nghiên cứu di truyền của Hua Zhong và cộng sự năm 2010, cũng cho thấy người Đông Á có nguồn gốc chính là từ Đông Nam Á.[10]

    Nghiên cứu của Chuan Chao Wang và cộng sự năm 2013 [11] đã phát hiện một dòng di cư rất lớn từ Đông Nam Á vào thời điểm 12.000 năm trước lên vùng Động Đình, Dương Tử, dòng di cư này cũng đã đi lên cả vùng đồng bằng sông Hoàng Hà.

    Cư dân cổ Đông Nam Á đã di cư lên vùng đồng bằng sông Dương Tử, và có nhóm đã đi lên cả vùng đồng bằng sông Hoàng Hà. Các cư dân cổ có nguồn gốc Đông Nam Á tại đây đã xây dựng nên các văn hóa lớn trong thời Đá mới, trong đó bao gồm các văn hoá Cao Miếu (Gaomiao, 5000 – 3500 BC), Hà Mẫu Độ (Hemudu 5000 – 4500 BC), Mã Gia Banh (5000 – 3000 BC), Lăng Gia Than (Lingjiatan, 3800 – 3500 BC) tại vùng Động Đình, Dương Tử với nông nghiệp lúa nước [12], và các văn hóa Hồng Sơn (Hongshan, 4700 – 2900 BC), Đại Vấn Khẩu (Dawenkou, 4300 BC – 2400 BC), Ngưỡng Thiều (Yangshao, 5000 BC – 3000 BC) tại vùng Bắc Đông Á với nông nghiệp trồng cả lúa và kê [13].

    Hình 10: Bản đồ minh họa nguồn gốc và tiến trình phát triển và di cư lên xuống vùng Đông Á của người tiền Việt và tộc Việt. Bản đồ cũng thể hiện vị trí và phân bố tương đối của các văn hóa lớn trong trung kỳ thời Đá mới tại vùng bắc Đông Á và nam Đông Á.


    Bản đồ minh họa nguồn gốc và tiến trình phát triển của các văn hóa cổ Đông Á của người cổ Đông Nam Á, người tiền Việt và tộc Việt. Bản đồ thể hiện vị trí và phân bố tương đối của các văn hóa lớn thời Đá mới tại vùng bắc Đông Á và nam Đông Á.

    Cư dân tại các văn hóa bắc Đông Á và nam Đông Á tới thời điểm hơn 5300 năm trước đã hợp nhất để hình thành tộc Việt ở vùng Dương Tử, với sự di cư về phía Nam của một phần lớn cư dân bắc Đông Á, chủ yếu tại các văn hóa ở phía Đông là Đại Vấn Khẩu và Hồng Sơn, hình thành nên các văn hóa lớn là Lương Chử (Liangzhu, 3400 – 2250 BC) và Thạch Gia Hà (Shijiahe, 2500 – 2000 BC). Tới thời điểm đó, thì tại vùng bắc Đông Á vẫn còn một lượng nhất định cư dân cổ Đông Á sinh sống, chủ yếu tại văn hóa Ngưỡng Thiều, sau đó đã diễn ra sự xâm nhập của cư dân Bắc Á có nguồn gốc Trung Á vào thời điểm hơn 4500 năm trước, đem theo kỹ nghệ luyện kim, xe ngựa, cừu của Trung Á tràn vào Bắc Đông Á [14], làm biến đổi một phần di truyền và văn hóa tại vùng bắc Đông Á, dần dần hình thành tộc người Hoa Hạ ở các văn hóa Long Sơn và Nhị Lý Đầu.

    [​IMG]
    Gen người Việt ngày nay có tỉ lệ: 60% gen Dương Tử, 30% gen Bắc Đông Á (Devil’s Cave), và 10% gen Hòa Bình cổ, chứng minh cho sự hợp nhất của hai nhóm hậu duệ người Hoabinhian ở Bắc Đông Á và Nam Đông Á. [15]

    Tới khoảng hơn 4000 năm trước ngày nay, thì cư dân tộc Việt bắt đầu di cư về phía Nam, do nạn hạn hán [16] diễn ra tại vùng này. Các nghiên cứu di truyền đã thể hiện cơ bản dòng di cư này của cộng đồng tộc Việt. Cư dân tộc Việt đã di cư về Lĩnh Nam, Việt Nam, Đông Nam Á lục địa và hải đảo, trong đó tầng lớp cao nhất đã trở về Việt Nam, là các cư dân thuộc hệ ngữ Nam Á, họ đã hợp nhất với người Hòa Bình ở lại sau đợt biển tiến để hình thành văn hóa Phùng Nguyên. Trong thành phần gen của người Việt (Kinh) ngày nay có khoảng 10% gen của người Hòa Bình đã thể hiện sự hòa hợp này (bản đồ trên).

    Nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck Đức, Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion Pháp năm 2019 đã thể hiện người Việt có nguồn gốc chủ yếu là những người di cư từ Nam Đông Á về Việt Nam cách đây từ 2.700 – 4.000 năm trước [17].

    Nghiên cứu gen của Hugh McColl và các cộng sự năm 2018 [18] (hình 9) cũng có quan điểm tương đồng với nghiên cứu của Viện hệ gen Việt Nam hợp tác với các chuyên gia Pháp, Đức. Cả hai nghiên cứu di truyền trên đều dựa trên các bộ gen cổ và các bộ gen hiện đại.

    Mô hình di cư ở Đông Nam Á thời tiền sử được xây dựng nên gồm 2 lớp từ châu Phi tới Đông Nam Á vào khoảng 30.000-60.000 năm trước và từ Đông Á di cư ngược về cách đây 2.700 – 4.000 năm. [18]

    Các tuyến di cư chính giữa Nam Đông Á và Đông Nam Á thời cổ đại. [26]


    Các tuyến di cư chính giữa Nam Đông Á và Đông Nam Á thời cổ đại. [18]

    Giai đoạn sau cuộc di cư này, các cư dân tộc Việt tại vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển trong một cộng đồng chung, có sự liên hệ với nhau chặt chẽ. Đây cũng là giai đoạn khởi nguồn của kỷ nguyên đồ đồng, cộng đồng tộc Việt đã phát triển và hình thành nên nền văn hóa trống đồng, đây chính là biểu trưng quan trọng nhất cho nền văn hóa chung của cộng đồng tộc Việt.

    2. Di truyền của các cư dân có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt là thống nhất với nhau:

    Các công trình nghiên cứu di truyền đều thể hiện sự thống nhất và gần gũi của các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt.

    Công trình nghiên cứu gen của nhóm các nhà khoa học Viện Pháp Á bao gồm Bs Trần Đại Sỹ (Việt Nam), Gs Tarentino (Ý), và Gs Varcilla Pascale (Pháp) tiến hành khảo sát, nghiên cứu những bộ xương cổ, đồng thời kiểm tra máu của 35 dòng họ tại Nam Đông Á và Việt Nam, đối chiếu với các dòng họ Bắc Đông Á, cũng như tiến hành khảo sát y phục, mồ mả, nhóm nghiên cứu đã đi đến kết luận: cư dân Nam Đông Á, từ miền Nam Dương Tử tới miền Trung Việt Nam, Lào, Thái đều cùng một chủng tộc, huyết thống, hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán Hoa Bắc. [18]

    Công trình nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019, đã cho thấy các dân tộc có nguồn gốc tộc Việt như Việt (Kinh), Tày, Nùng, Mường, Thái, Dai, Hán Hoa Nam… có hệ gen gần nhau và khác biệt so với Hán Hoa Bắc. [177]

    [​IMG]
    Admixture của công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) cho thấy sự gần gũi trong hệ gen của các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt như Việt, Mường, Tày, Thái, Nùng… [17]

    Nghiên cứu gen của Zhang và cộng sự et al. 2019 [19] cho thấy người Việt (Kinh) có di truyền gần gũi với người Choang ở Quảng Tây, người Hán Quảng Đông và người Miêu tại vùng Quý Châu. Đây là các nhóm dân có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt, sự gần gũi di truyền chứng tỏ sự tương tác và hòa huyết thường xuyên của cư dân tộc Việt tại các vùng.


    Nghiên cứu của Zhang và cộng sự et al. 2019 cho thấy gen người Việt (Kinh) gần với người Miêu Quý Châu, người Choang và người Hán Quảng Đông. [19]

    Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu gen của Gs Lâm Mã Lý, Đài Loan đã nghiên cứu trên hệ thống miễn nhiễm ở nhiễm sắc thể 6 qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước, kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka gần về mặt di truyền với người Việt, người Thái và các nhóm dân thuộc chủng Nam Mongoloid, khác biệt với người Hán Hoa Bắc thuộc chủng Mongoloid phía Bắc. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân Mân Việt chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch sử với người Hán di cư đến từ phương Bắc. [20]

    Các cư dân có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt có sự thống nhất về mặt di truyền, về mặt nhân chủng, thì các cư dân tộc Việt thuộc chủng Nam Mongoloid, chủng này có nguồn gốc chủ yếu từ phương Nam, với gen của người cổ Đông Nam Á chiếm khoảng 7-80% bộ gen chung. [2]

    3. Các nhóm cư dân có nguồn gốc tộc Việt cũng có sự thống nhất về chỉ số sọ và kiểu răng:

    Bên cạnh sự thống nhất về di truyền, thì các nghiên cứu chỉ số sọ, kiểu răng cũng hỗ trợ cho sự thống nhất của cộng đồng tộc Việt:

    Trong thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu Khảo tiền sử người Pháp của trường Viễn Đông Bác Cổ đã thu thập số liệu chỉ số sọ của người Việt, chỉ số sọ trung bình của người Việt là 82,13. Dung lượng sọ Việt là 1341,48, thuộc loại là sọ tròn. Chỉ số sọ trung bình của dân Hán Hoa Nam và Hoa Đông là 81,22, cũng thuộc loại sọ tròn. Chỉ số sọ của người Hán Hoa Bắc là 76,51, thuộc loại sọ dài, có dung lượng sọ là 1440. 2 nhóm dân cư Hoa Bắc và Hoa Nam thuộc hai chủng khác nhau do có sự cách biệt trên 2 chỉ số. Sọ người Hán Hoa Nam và sọ người Việt cách nhau hơn chưa tới 1 chỉ số (0,91), nhưng giữa người Hán Hoa Nam và người Hán Hoa Bắc lại cách biệt nhau tới hơn 4 chỉ số (4,71). Như vậy người Hán Hoa Nam và người Việt có cách biệt không quá 2 đơn vị (0,91) nghĩa là cùng một chủng tộc, còn người Hán Hoa Nam và Hoa Bắc cách biệt hơn 4 chỉ số nên thuộc hai chủng tộc khác nhau.

    Khảo cổ học cũng phát hiện kiểu răng Sundadont phổ biến khắp Nam Đông Á và Đông Nam Á, được các nhà nghiên cứu cho là có nguồn gốc từ vùng Nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam, hoàn toàn khác với kiểu Sinodont của chủng Mongoloid phương Bắc [Turner, C.G. 1989], thậm chí kiểu răng Sundadont còn được cho là tổ tiên của kiểu răng Sinodont. [21]

    Bản đồ phân bố chủng Mongoloid thể hiện rất rõ tính thống nhất trong nhân chủng của cộng đồng tộc Việt, và nhân chủng các cư dân có nguồn gốc tộc Việt thuộc chủng Nam Mongoloid có sự khác biệt với người Hán Hoa Bắc thuộc chủng Mongoloid phía Bắc. Vùng phân bố của cư dân tộc Việt phương Nam trải rộng trong địa bàn phía Nam sông Dương Tử, và còn xuất hiện tại vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo, đó là vùng có sự di cư tới của các dân tộc có nguồn tốc tộc Việt. (Phần di cư và tách khỏi cộng đồng tộc Việt của các dân tộc này sẽ được chúng tôi khảo cứu kỹ lưỡng hơn ở phía cuối bài viết.)


    Bản đồ phân bố chủng Mongoloid theo di truyền học. [22]

    II. Cốt lõi của nền văn hóa tộc Việt:

    1. Văn hóa thờ vật Tổ và thờ cúng Tổ Tiên:

    Cộng đồng tộc Việt có nguồn gốc chính tại văn minh Dương Tử, sau đó tới thời kỳ đồ đồng, thì nền văn hóa Đông Sơn là cốt lõi của nền văn hóa tộc Việt, với trung tâm là miền Bắc Việt Nam. Trong thời kỳ các văn hóa này, thì người Việt có văn hóa thờ vật Tổ và thờ cúng Tổ Tiên song song với văn hóa thờ Trời, trong đó văn hóa thờ vật Tổ và thờ cúng Tổ Tiên chiếm một vị trí khá quan trọng.

    Vật Tổ của người Việt trong thời kỳ này là Rồng và chim Tiên, chi tiết này đã được huyền sử Hồng Bàng ghi lại:

    “Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất…” [Lĩnh Nam chích quái, bản dịch Lê Hữu Mục].

    Và trong thực tế khảo cổ học, thì tại văn hóa Thạch Gia Hà tại vùng Động Đình, trung tâm của tộc Việt trong giai đoạn hơn 4000 năm trước cũng đã tìm thấy các miếng ngọc chim Tiên (Phượng Hoàng) và ngọc Rồng.



    Ngọc chim Tiên (Phượng Hoàng) và Rồng thời văn hóa Thạch Gia Hà. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Văn hóa thờ vật Tổ hay thờ cúng Tổ Tiên vẫn tiếp tục được kế thừa trong thời đồ đồng, hình ảnh chim Tiên, hay chim Lạc xuất hiện trên hầu hết các trống đồng tộc Việt, có xu hướng chuyển hóa thành hình ảnh thân dài, mỏ dài, sự biến chuyển này không chỉ tồn tại ở văn hóa Việt mà còn thấy được ở văn hóa Hoa Hạ.

    [​IMG]
    Chim Tiên (Phượng Hoàng) thời văn hóa Đông Sơn được chuyển đổi theo dáng thân dài, mỏ dài, tuy vậy cái mào vẫn rất đặc trưng. [Nguồn: Hoa văn Việt Nam, Nguyễn Du Chi]

    Bản vẽ mặt trống đồng Ngọc Lũ, có thể thấy chim Tiên được thể hiện trên trống đồng với mật độ khá dày, nắm ở vòng ngoài cùng của mặt trống.


    Bản vẽ mặt trống đồng Ngọc Lũ, có thể thấy chim Tiên được thể hiện trên trống đồng với mật độ khá dày, nắm ở vòng ngoài cùng của mặt trống.

    Rồng và chim Tiên là các hình tượng dựa trên thiên văn học, không có thực, nên hình tượng Rồng và chim có sự biến đổi theo thời gian. Tới thời kỳ đồ đồng, thì chim Tiên biến đổi theo hướng thân dài, mỏ dài, còn Rồng biến đổi theo hướng đa hình dáng, có hình tượng thể hiện rõ đặc trưng của rồng, nhưng cũng có hình tượng có phần giống với cá sấu.

    Rồng ít xuất hiện trên các mặt trống đồng, nhưng cũng được thể hiện trên rất nhiều cổ vật thời văn hóa Đông Sơn, thường là trên các rìu đồng với hình tượng Rồng kép. Các loại hình này đều là Rồng, không phải là giao long hay cá sấu như đã được nhiều nhà nghiên cứu nhận định.

    Rồng được thể hiện trong các đồ đồng Đông Sơn. [Nguồn: Lê Văn Hảo, Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước]


    Rồng được thể hiện trong các đồ đồng Đông Sơn. [23]

    Một loại hình Rồng cũng tương đồng với Rồng Đông Sơn của nhà Thương. [Nguồn: dẫn]



    Cả Rồng và chim Tiên cũng được thể hiện trên mặt trống đồng Đông Sơn. Motif này thể hiện hình ảnh rồng, chim Tiên chầu thái cực, motif này có nguồn gốc từ văn hóa Đông Á cổ, sau đó thời Đông Sơn đã kế thừa hình ảnh này, và người Việt thời tự chủ vẫn tiếp tục duy trì hình tượng này trên các mái đình, chùa.

    [​IMG]
    Hình tượng Rồng và chim Tiên được thể hiện trên trống đồng Phú Xuyên. [24]

    Motif chim Tiên chầu Thái cực được thể hiện sớm nhất tại văn hóa Hà Mẫu Độ trong vùng Chiết Giang, tiền thân của văn hóa Lương Chử, sau đó hình tượng này tiếp tục được kế thừa trong văn hóa Việt, với hình ảnh “lưỡng long chầu thái cực”.


    Hình ảnh đôi chim Tiên chầu thái cực được thể hiện trên cổ vật gỗ của văn hóa Hà Mẫu Độ. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Chiết Giang, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Hình tượng lưỡng long chầu thái cực trên mái đình Việt.



    Bên cạnh trống đồng, rìu đồng, thì hình tượng chim Tiên (chim Phượng) và Rồng còn được thể hiện trên các cổ vật khác cũng được sử dụng trong dịp tế lễ như chiếc mũi giáo đồng phía dưới. Hình tượng chim Tiên trên trống đồng đã được cách điệu, trên chiếc mũi giáo chim Tiên lại thêm một lần được cách điệu, thể hiện hình dáng của chim Tiên có thể được thể hiện theo nhiều cách thức khác nhau.


    Hình tượng chim Tiên và Rồng kép được thể hiện trên chiếc mũi giáo đồng Đông Sơn. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, chụp bởi Thierry Ollivier, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Chim Tiên (Phượng Hoàng) Đông Á trong giai đoạn này có sự biến chuyển sang hình ảnh thân dài, chân dài, mỏ dài, Rồng cũng có sự biến đổi tương ứng trong cả văn hóa Việt và văn hóa Hoa Hạ.



    Rồng trên cổ vật thời nhà Chu và chim Tiên (Phượng Hoàng) trên tranh cổ của mộ Sở tại Trường Sa tương ứng với sự hay đổi hình tượng của Rồng và chim Tiên trong văn hóa Việt. [Nguồn: bảo tàng Trung Quốc, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; bảo tàng tỉnh Hồ Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Văn hóa thờ vật Tổ ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong tâm thức của người Việt trong thời kỳ đồ đồng, với việc xăm mình hình rồng và đội mũ lông chim, đây là các nghi thức mang tính tâm linh, có ý nghĩa nhắc nhở người Việt về cội nguồn của dân tộc mình, các hoạt động nghi lễ được tiến hành bên cạnh thờ Trời còn là thờ cúng Tổ Tiên của dân tộc là Tiên – Rồng, hay Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân. Hoạt động tâm linh này được thực hành trong khắp các vùng tộc Việt, biểu hiện qua sự phân bố của những chiếc trống đồng có trang trí người đội mũ và mặc áo lông chim đang thực hiện lễ cúng tế.

    Các hình tượng thuyền được khắc họa trên các trống đồng đều là hình tượng thuyền Rồng, phía mui thuyền được thể hiện hình ảnh chim Tiên bay vào đầu thuyền Rồng, đây là một hình ảnh có ý nghĩa rất quan trọng về mặt văn hóa, biểu hiện cho nền văn hóa lưỡng hợp Tiên – Rồng của tộc Việt.

    Hình ảnh thuyền Rồng được thể hiện trên trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam]


    Hình ảnh thuyền Rồng được thể hiện trên trống đồng Đông Sơn. [24]

    Văn hóa này còn để lại dấu ấn đậm nét cho tới ngày nay, với phong tục đua thuyền Rồng còn được khắp các dân tộc và quốc gia trong vùng Đông Á và Đông Nam Á thực hành, như một phần của nền văn hóa vật Tổ có nguồn gốc từ thời xa xưa khi các cư dân tại nam Đông Á và Việt Nam đang còn trong một cộng đồng chung.

    Lễ hội đua thuyền Rồng tại Việt Nam còn được lưu giữ ở nhiều nơi, nhưng nơi tổ chức nhiều nhất là tỉnh Thanh Hóa. Tại Trung Quốc, thì hội đua thuyền Rồng cũng được nhiều địa phương tổ chức, trong đó lớn và nổi tiếng nhất là tại các địa phương Hồ Bắc, Hồ Nam xung quanh vùng hồ Động Đình, đây là trung tâm của tộc Việt, đặc biệt là người Nam Á, bên cạnh đó người Miêu tại vùng Quý Châu, một trong các hậu duệ của tộc Việt, cũng còn giữ được tục đua thuyền Rồng.

    Lễ hội đua thuyền Rồng được tổ chức tại xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. [Nguồn: trang tin Tĩnh Gia, dẫn]



    Lễ hội đua thuyền Rồng còn được tổ chức rộng khắp các quốc gia Đông Á như Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, các quốc gia Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Phillipines, Campuchia… Đây cũng là các quốc gia có nguồn gốc và chịu sự ảnh hưởng nhất định từ nền văn hóa Đông Á cổ xưa trong các giai đoạn khác nhau nên vẫn giữ phong tục đua thuyền Rồng, nét văn hoá có nguồn gốc văn hóa Đông Á cổ.




    Văn hóa thờ vật Tổ hay văn hóa lưỡng hợp Tiên – Rồng còn thể hiện sự ảnh hưởng rõ nét qua những truyền thuyết về nguồn gốc của các tộc người có nguồn gốc từ tộc Việt. Người Mường cũng có truyền thuyết về con Rồng cháu Tiên giống như người Việt, tuy có khác ở một số chi tiết. Theo truyền thuyết người Mường, họ vốn là hậu duệ của công chúa Ngu Cơ (Hươu Sao) và hoàng tử Long Vương (Cá Chéo), kết quả đã sinh ra 100 người con, trong đó có 50 nam và 50 nữ. Người Thái cũng có truyền thuyết tương đồng về mặt ý thức văn hóa lưỡng hợp, người Thái cho rằng khởi nguyên dân tộc Thái là sự kết hợp của chim én – loài chim biểu tượng của linh hồnđẳm pú (đàn ông, phía cha) và thuồng luồng, loài rắn lớn sống dưới nước và có thể lên cạn, biểu tượng của đẳm nái (đàn bà, phía mẹ). Các truyền thuyết này đều thể hiện rất rõ ý thức về nguồn cội Rồng – Tiên của dân tộc, cùng một ý niệm về cha Rồng – mẹ Tiên, một người trên núi và một người dưới nước. Điều này thể hiện một sức sống rất mạnh mẽ của văn hóa vật Tổ và cội nguồn trong tâm thức của các cư dân có nguồn gốc từ tộc Việt.

    2. Văn hóa thờ Trời:

    Văn hóa thờ Trời có thể nguồn gốc từ rất xa xưa, nhưng về mặt hiện vật, thì văn hóa thờ Trời bắt nguồn từ văn hóa Lương Chử với ngọc bích tế trời và ngọc tông tế đất. [25]



    Ngọc bích tế trời và ngọc tông tế đất thời văn hóa Lương Chử. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, dẫn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]



    Đĩa bích tế trời (trên) và ngọc tông tế đất (dưới) được chế tác tinh xảo của văn hóa Lương Chử. [Nguồn: các bộ sưu tập tư nhân được trích trong catalogue của J.J. Lally & Co. – Oriental Art, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Sau đó tới thời kỳ đồ đồng, thì văn hóa thờ Trời có ưu thế hơn văn hóa thờ vật Tổ, có thể nói văn hóa thờ Trời đóng vai trò trung tâm trong văn hóa của tộc Việt trong giai đoạn này. Văn hoá thờ vật Tổ vẫn tồn tại song song với văn hoá thờ Trời, khi trên trống đồng Đông Sơn hầu như đều xuất hiện hai hình tượng mặt trời ở tâm và chim Tiên ở vòng ngoài cùng.

    Văn hóa thờ Trời không chỉ có ở văn hóa tộc Việt mà còn có ở văn hóa Hoa Hạ, đây là hai nền văn hóa kế thừa nền văn hóa Đông Á cổ xưa. Và văn hóa thờ Trời còn tồn tại ở rất nhiều nền văn hóa cổ xưa khác của thế giới như Ai Cập, châu Mỹ, Ấn Độ.

    Thời kỳ đồ đồng, bởi đồng có đặc tính cảm ứng, phù hợp với tính chất của các hoạt động tâm linh, và có độ bền đẹp qua thời gian, nên đã thay thế hoàn toàn đồ ngọc trong thời văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà.



    1. Trống đồng Sông Đà, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Pháp. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]; 2. Trống đồng Khai Hóa, hiện đang trưng bài tại Bảo tàng Dân tộc học Vienna, Áo. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]; 3, 4. Trống đồng Hoàng Hạ và trống đồng Ngọc Lũ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

    Văn hóa thờ Trời của người Việt trong thời kỳ đồ đồng được biểu hiện qua những chiếc trống đồng, chúng là trung tâm của văn hóa Việt, và cũng đóng vai trò quan trọng, tương tự như một vật biểu quyền lực của các vua Hùng và thủ lĩnh tại các vùng.

    III. Sự thống nhất của tộc Việt được thể hiện qua trống đồng:

    Trống đồng xuất hiện trên một địa bàn rộng khắp Việt Nam, vùng nam Đông Á, Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Nhưng về nguồn gốc chính, thì trống đồng có nguồn gốc và sở hữu chung của cộng đồng tộc Việt. Về mặt niên đại chính xác, thì trống đồng xuất hiện sớm nhất tại vùng miền Bắc Việt Nam và Vân Nam với niên đại vào khoảng 800-700 năm TCN. [26]

    Sự xuất hiện trên địa bàn rộng khắp Đông Á và Đông Nam Á của trống đồng xuất phát từ nguyên nhân có tính lịch sử, khi nạn hạn hán [16] đã thúc đẩy sự di cư của các cư dân tộc Việt về Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Các cư dân tại vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo sau khi di cư vẫn tiếp tục truyền thống thờ Trời đã có từ thời còn trong cộng đồng chung tại vùng Dương Tử, nên đã tới miền Bắc Việt Nam để xin trống về.

    Quan niệm cũ cho rằng trống đồng là vật đại diện của shaman giáo, tuy nhiên các nghiên cứu đã chứng minh trống đồng là vật thờ Trời, bên cạnh đó còn mang ý nghĩa biểu trưng quyền lực [27][28]. Trống đồng tại miền Bắc Việt Nam thuộc loại I Heger là những trống to và đẹp nhất, trống đồng tại các vùng khác của tộc Việt cũng như vùng Đông Nam Á thường nhỏ hơn, biểu trưng cho quyền lực thấp hơn.

    Trống đồng là vật biểu trưng cho hệ thống tôn giáo thờ Trời của tộc Việt, hay được gọi là hệ thống “tôn giáo trống” [25]. Tại vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo, thì trống được các cư dân tại các vùng này trực tiếp tới miền Bắc Việt Nam để xin trống về, còn trong vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam, thì trống đồng được đúc tại nhiều nơi, với thành phần chất liệu tương tự nhau, kết cấu, hoa văn trang trí của các trống đồng trong các vùng tộc Việt là hoàn toàn tương đồng với nhau, chứng tỏ tính thống nhất của văn hóa tộc Việt.


    Bản đồ phân bố trống đồng. [Bản đồ theo Trung Quốc Cổ đại Đồng cổ Nghiên cứu hội, Bắc Kinh, Wenwu Press, 1988. [26]]

    Thành phần chất liệu của trống đồng ở nam Đông Á, Việt Nam, Lào, Thái là gần giống nhau:

    Ðồng 53%
    Thiếc 15-16%
    Chì 17-19%
    Sắt 4%
    Một ít vàng bạc
    [​IMG]

    Trống đồng Việt Nam (Sông Đà), Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. [Nguồn: 1. Bảo tàng Guimet, Pháp, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Bảo tàng khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 3. Bảo tàng tỉnh Vân Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; Bảo tàng tỉnh Quý Châu, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Các nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc trong thế kỷ trước đã có sự tranh cãi khá gay gắt về nguồn gốc của trống đồng, nhưng cuộc tranh cãi cơ bản là không cần thiết, vì trống được tạo ra và sử dụng cùng bởi một tộc người. Sự xuất hiện rộng khắp của trống đồng trên địa bàn tộc Việt chứng minh cho chúng ta thấy tính thống nhất của văn hóa tộc Việt.

    IV. Sự thống nhất của văn hóa tộc Việt dựa trên các nghiên cứu văn hóa học:

    Văn hóa tộc Việt có cốt lõi là các văn hóa thờ vật Tổ và thờ Trời, nhưng bên cạnh đó, tính thống nhất của văn hóa tộc Việt còn được thể hiện trên nhiều nét văn hóa tinh thần tạo nên sự đặc trưng của nền văn hóa tộc Việt. Những dấu ấn của chúng còn thấy được trong khắp các các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt tại vùng nam Đông Á, Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo.

    Theo các kết quả của nghiên cứu văn hóa học, thì nền văn hóa tộc Việt xưa được nhận diện thông qua hàng loạt các dấu hiệu quan trọng trong dân tộc học, khảo cổ học như:

    Trong văn hóa tinh thần: huyền thoại mang nét lưỡng hợp, nguyên lý Mẹ, thờ tổ tiên, tín ngưỡng đa thần, dùng thuyền rồng tế bái thủy thần, dùng kê bốc, xà bốc..;

    Trong văn hóa tổ chức xã hội: tổ chức đời sống theo thôn làng, liên làng rồi lên nhà nước, làm nông nghiệp lúa nước, coi trọng vai trò phụ nữ..;

    Trong văn hóa vật chất: cắt tóc xăm mình, búi tóc, ở nhà sàn, thức ăn thiên về thủy sản, phụ nữ mặc váy, nhuộm răng đen, thạo dùng thuyền và giỏi đi biển, chế tác đồ sứ mang hoa văn kỷ hà (geometric pottery, 几何 印纹陶), sử dụng bôn có nấc (rìu có mấu, stepped adze, 有段石锛) và bôn có tay cầm (rìu có vai, shouldered adze, 有肩石锛), sính trân châu (vùng Hợp Phố – Lôi Châu ở Lĩnh Nam, khác với truyền thống sính kim ngọc phương Bắc), tả nhậm… [21]

    Tác giả Joseph Needham, trong tác phẩm Science and Civilization in China, đã tóm lược 25 đặc điểm đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa tộc Việt [29]:

    1 – Văn hóa biển và sông nước
    2 – Kỹ thuật đóng tầu dài
    3 – Đặc điểm nhà làng để cho dân tụ tập sinh hoạt
    4 – Tục đua thuyền
    5 – Huyền thoại con rồng
    6 – Thờ phụng loài rắn
    7 – Tục linh thiêng hóa ngọn núi
    8 – Đặc thù về giống chó
    9 – Văn minh trống đồng
    10 – Thuật dùng nỏ bắn bằng tên
    11 – Phép làm quần áo bằng vỏ cây
    12 – Tục xâm mình
    13 – Đốt rừng làm rẫy
    14 – Hội về mùa xuân và mùa thu cho trai gái vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng
    15 – Văn minh trồng lúa nước
    16 – Thuật đào mương dẫn nước
    17 – Thuật làm nương rẫy
    18 – Phép thuần hóa trâu để cầy
    19 – Tục thờ cúng ông bà
    20 – Tục giết heo để cúng bái
    21 – Tục cầu tự
    22 – Thuật làm khí giới có chất độc
    23 – Thuật trồng cây tre và sử dụng dụng cụ bằng tre
    24 – Kỹ thuật đúc sắt
    25- Kỹ thuật làm sơn mài


    Jeffrey Barlow cũng nhắc đến ý kiến của các học giả Trung Hoa hiện đại nói về đặc trưng của văn hóa tộc Việt. Yu Tianjin và đồng nghiệp nêu 9 đặc trưng của văn hóa tộc Việt là:

    1 – Tục cắt tóc ngắn và xâm mình
    2 – Kỹ thuật làm nhà sàn
    3 – Tục mặc quần ngắn hay váy ngắn, đội khăn
    4 – Sử dụng trai, sò và các động vật lưỡng tính (vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước) làm thực phẩm chính
    5 – Nhổ răng (?)
    6 – Truyền thống đàn ông tham dự vào tiến trình sinh nở và săn sóc hài nhi để đàn bà được sớm ra làm đồng
    7- Đúc trống đồng và sử dụng trống trong những dịp cúng tế
    8 – Tục bói bằng xương, đặc biệt xương gà
    9 – Tín ngưỡng vật tổ, đặc biệt đối với chim, rắn


    Chen Guoqiang và đồng nghiệp thêm vào bảng trên 4 đặc trưng văn hóa sau:

    1 – Tục mai táng theo thế bó gối
    2 – Chuyên sử dụng thuyền bè và giỏi hải chiến
    3 – Sản xuất gốm và sứ theo dạng hình học
    4 – Có kỹ thuật dệt vải phát triển [30]


    Đặc điểm của văn hóa tộc Việt xuất hiện trong toàn vùng có sự phân bố của cư dân tộc Việt. Người Hán Hoa Nam ngày nay mặc dù đã bị đồng hóa, ý thức mình là người Hán, nhưng đặc điểm văn hóa của họ vẫn rất đậm nét dấu ấn của văn hóa tộc Việt, có sự khác biệt lớn so với văn hóa của người Hán Hoa Bắc. Những đặc điểm chung của nền văn hóa tộc Việt vẫn thể hiện ở văn hóa của dân tộc Việt cũng như các dân tộc anh em của người Việt tại vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam.

    Văn hóa tộc Việt cổ được giới hạn trong vùng Nam Dương Tử tới miền Bắc Việt Nam, nhưng vùng ảnh hưởng của nó thì lại rộng hơn thế, nguyên nhân xuất phát từ sự di cư của các cư dân tộc Việt trong nhiều giai đoạn khác nhau tới vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Đặc trưng văn hóa tộc Việt có thể nhận thấy ở cả các dân tộc tại Đông Nam Á lục địa, và các dân tộc thuộc hệ ngữ Nam Đảo.

    Như học giả Andréas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” đã ghi nhận như sau: “Tất cả miền đất mênh mông từ Thái Bình Dương trở lên đến Hoa Nam Trung Quốc đều có cùng một nền văn hóa. Đảo Bornéo ở Nam Dương (Indonesia) cũng có cùng nghệ thuật như miền sông Hoài thuộc Giang Tô miền Nam nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đặc tính văn hóa gắn liền với môi trường sinh sống của thực vật và động vật từ trầu cau, cây dâu đến heo, gà, công. Các phong tục tập quán từ nhuộm răng ăn trầu, xâm mình, cà răng đến lễ hội mừng nước, đua thuyền, vai trò quan trọng của trống đồng và cồng chiêng trong các lễ hội dân gian. Đó là khu vực văn hóa Trống đồng của cộng đồng Bách Việt từ Nam Trung Quốc, Đài Loan, Hải Nam tới Đông Dương gồm Việt, Miên, Lào, Thái Lan xuống tới bán đảo Mallacca, Mã Lai (Malaysia), Nam Dương (Indonesia), Phi Luật Tân (Philippine), Guinée, quần đảo Micronesia và Pâques”. [31]

    Những đặc trưng chung của văn hóa tộc Việt, cũng như sự tương đồng của văn hóa tộc Việt với các dân tộc tại vùng Nam Đảo đã thể hiện tính thống nhất cũng như sức sống mạnh mẽ của nền văn hóa Việt cổ.

    V. Sự thống nhất qua tên gọi địa danh:

    Các địa danh tại các vùng tộc Việt tới hiện nay vẫn còn giữ được những nét thống nhất rất rõ ràng. Hệ thống các địa danh của các vùng Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam thể hiện thống nhất trong các tên gọi địa danh liên quan tới Pu/Pù (núi), Tà (sông nước), Na/Nà (ruộng lúa). Ở bảng phía dưới chúng tôi chỉ dẫn ra những tài liệu chỉ cụm phức hợp địa danh tại từng vùng để đối chiếu và so sánh trực tiếp, ngoài ra còn rất nhiều tên địa danh khác có sự tương đồng và gần gũi. [31*]

    Pu/Pù Na/Nà
    Nam Ninh (Quảng Tây) Pu Pâu (Xào Cheng), Pu Thảng (Thái Dung Sơn). (Nam Ninh có rất nhiều Pu). Tà Môn, Tà Thủng, Tà Phình, Tà Nen, Tà Sa Phinh, Tà Suay, Tà Lý, Tà Tháng, Tà Phấng, Tà Trang, Tà Pho, Tà An, Ta Uy, Tà Châu, Tà Xeo, Tà Lung, Tà Oan. Na Chin, Na Pái, Na Thung, Na Chi, Na Lao, Na Tẩu, Na Mà, Na Tha, Na Siêu.
    Trạm Giang (Quảng Đông) Pù Thâu, Pù Mây, Pu Sầng Tà Lu, Tà Chữ, Tà Lung Mầu, Tà Thung. Nà Sô, Na Lứa, Na Mèn, Na Xac, Nà Xuy, Na Li, Na Pù, Na Xứ, Na Bua, Na Cang, Na Sâu, Na Cheo.
    Vụ Bản (Nam Định) Pù Biêng, Pù Han Le, Pù Cột Ca. Tà Hu, Tà La. Na Kou, Na Nha, Nà Trâm, Na Trâm, Na Tông, Na Ca, Na Bạc, Na Sa.
    Bái Thượng Thường Xuân (Thanh Hóa) Pù Kha, Pù Câu, Pà Ton, Pù Quàng, Pù Cầm, Pù Ham, Pù Chó, Pù Doanh. Tà Lèo, Tà Hinh, Tà Lu (thuộc hệ thống sông Chu). Na Chú, Na Am, Na Thảo, Na Châm, Na Tú, Na Nôm, Na Vu, Na Cơ.
    Qùy Châu (Nghệ Tĩnh) Pù Co, Pù Tang, Pù Quang, Pù Câm, Pù Mun. Tà Hom, Tà Luc, Tà Nhâu, Tà Nôm.. Na Xai, Na Toong, Na Ta, Na Táng, Na Thang, Na Vang, Na Mu, Na Ca, Na Khang, Na Tram

    Bảng so sánh các từ chỉ địa danh phổ biến các vùng Quảng Tây, Quảng Đông, đồng bằng sông Hồng và Thanh Nghệ Tĩnh. [31*]

    Toàn bộ vùng Lưỡng Quảng cũng có nhiều nơi có địa danh có từ kẻ, các địa danh có từ kẻ ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam hiện tại vẫn được tìm thấy rất nhiều. [31*]

    – Phiên Ngung có Kẻ Lâu Trường.
    – Thương Ngô có Kẻ Lãm.
    – Quế Bình có Kẻ Lăng.
    – Nam Hải có Kẻ Táo.
    – Quế Lâm có Kẻ Trúc.
    – Thương Lâm có Kẻ Lập.
    – Hạ Huyện có Kẻ Luân.
    [31*]

    Đảo Hải Nam, một vùng thuộc lãnh thổ đất Việt xưa cũng có những địa danh có chứ chữa Tà: Tà Phăng xơ (Xương Hóa Giang chảy ra cửa Đạm Thủy); Tà Xiền, Tà Câu, Tà Tinh (Nam Đồ hà chảy ra cửa Hải Khẩu), Tà Phâng, Tà Phô, Tà Chu, Tà Xinh, Tà Thùng… [31*]

    Qua một thời gian rất dài tách biệt nhau, hơn 2000 năm, một vùng sinh hoạt và chịu ảnh hưởng của người Hán và văn hóa Hán, một vùng giữ được độc lập, là một quốc gia độc lập, dân tộc độc lập, nhưng các địa danh vẫn rất tương đồng với nhau. Đây là các địa danh có từ thời xa xưa, có thể từ thời kỳ văn minh sông Dương Tử (hơn 4000 năm trước), bởi các dân tộc Tây Nguyên, các dân tộc thuộc hệ ngữ Nam Á cũng còn giữ được những địa danh có các tên có tên tương đồng với các tên này.

    VI. Sự thống nhất của văn hóa tộc Việt trong thực tế khảo cổ học:

    Sự thống nhất của cộng đồng tộc Việt còn được thể hiện rất rõ thông qua các loại hình cổ vật khác, các loại hình đặc trưng văn hóa Đông Sơn xuất hiện rất rộng trong địa bàn của tộc Việt xưa kia.

    Vùng Hồ Nam là nơi trung tâm của tộc Việt xưa kia, với nền văn hóa Thạch Gia Hà có ảnh hưởng rộng rãi trong vùng Đông Á. Tại đây đã phát hiện nhiều cổ vật có phong cách Đông Sơn, sự tương đồng còn thể hiện rõ trong loại hình đặc trưng của Đông Sơn là cán dao găm hình người.



    Hai cán dao găm, một của văn hóa Đông Sơn Lạc Việt, và một của vùng Hồ Nam. [Nguồn: 1. Bảo tàng lịch sử Việt Nam; 2. Bảo tàng tỉnh Hồ Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]


    Ngoài ra tại Hồ Nam còn tìm thấy nhiều rìu cân xòe và rìu xéo khác. [31]

    Ở phía Tây Nam, vùng Vân Nam phía Tây nước Văn Lang, là văn hóa Điền Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì văn hóa Điền Việt là anh em với văn hóa Đông Sơn tại miền Bắc Việt Nam, tức là cùng một nền văn hóa:

    Học giả Mỹ Chiou Peng (2008 a: 34) về Điền Việt và Đông Sơn: “Những tư liệu tích lũy hơn nửa thế kỷ qua khẳng định những hiện vật tương đồng từ vùng Đông Sơn và Vân Nam thuộc về hai nền văn hóa anh em trong một vùng văn hóa của người Việt ở bán đảo Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc”. Nhà khảo cổ học Việt Nam Chử Văn Tần (1980/2003) đã xác định một loạt các yếu tố tương đồng Điền – Đông Sơn, ngoài trống đồng còn có lưỡi cày hay cuốc hình tim, lưỡi liềm, dao gặt, bàn chải bầu dục, dao găm, kiếm ngắn, rìu lưỡi cân hoa văn hình vảy cá, muôi hình quả bầu, tên đồng mặt cắt tam giác .v.v. [21]

    Việt Nam


    Quảng Đông


    Quảng Tây


    Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam


    Quý Châu


    Quý Châu, Vân Nam


    Vân Nam





    Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam.


    Chuông tai dê tại các vùng: Quảng Đông, Việt Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam. [Nguồn: 1. Bảo tàng Nanshan, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Báo Đảng Cộng Sản, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 3. Bảo tàng tỉnh Quý Châu, được dẫn lại trong nghiên cứu của bảo tàng Quảng Tây [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]; 4. Bảo tàng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 5. Bảo tàng Ngọc Khê, Vân Nam; 6. Bảo tàng thành phố Trường Sa, Hồ Nam.]

    – Bên cạnh đó, văn hóa Điền và văn hóa Đông Sơn còn chia sẻ đặc điểm chung với các văn hóa cùng thời ở Hồ Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Quí Châu một loạt các lễ khí như qua ngắn có hình người – ếch, dao găm cán hình người, rìu hình hia, chuông tai dê, chiêng, nồi hình trống. [27]



    Rìu cân xòe tại các vùng tộc Việt: Việt Nam, Chiết Giang, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam. [Nguồn: 1. Art Gallery of New South Wales, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Bảo tàng thành phố Ninh Ba, Chiết Giang, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 3. Bảo tàng Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 4. Bảo tàng Nanshan, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 5. Bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 6. Bảo tàng tỉnh Hồ Nam, China Institute, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.]

    – Về phía Bắc Quảng Tây, giáp Hồ Nam, giáp vùng trung tâm của tộc Việt trong một thời gian dài: “Tại di chỉ núi Ngân Sơn Lĩnh, huyện Bình Lạc, tỉnh Quảng Tây, giáp với vùng Hồ Nam, là nơi phát hiện ra một khu mộ với 165 ngôi mộ, với 110 ngôi mộ cùng thời Đông Sơn. Trong số 1044 hiện vật khai quật được, có nhiều hiện vật có dấu ấn Đông Sơn đậm nét: những dao găm cán chắn tay ngang, giáo lưỡi hình tam giác, lưỡi hình lá, nhóm rìu xoè cân (hơn 10 chiếc), nhóm rìu hình lưỡi xéo với đầy đủ các tiểu loại tìm thấy ở rìu lưỡi xoè và lưỡi xéo Đông Sơn. Ở đây cũng tìm thấy công cụ lao động bằng sắt, cũng như khuyên tai 4 mấu bằng đá ngọc giống với các văn hóa Đông Sơn và tiền Đông Sơn.” [31]

    Việt Nam, Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây




    Dương Tử



    – Tại vùng Nam Ninh, giáp biên giới với Việt Nam, cổ vật cũng tương đồng với di vật của văn hóa Đông Sơn: Tại thôn An Đẳng Ương thuộc thôn Mã Đầu, huyện Vũ Minh, thành phố Nam Ninh, gần với biên giới Việt Nam, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật 86 ngôi mộ, trong số các di vật đồng, thì nhóm rìu lưỡi xoè cân có số lượng lớn nhất, tiếp đến là nhóm mũi tên, nhóm giáo đồng và rìu lưỡi xéo gót tròn mang đặc trưng Đông Sơn. Ngoài ra còn 5 chiếc chuông hình thang cân, 10 chiếc vòng tay bằng đồng có khắc hoa văn chữ S, đặc trưng của Đông Sơn. Ngoài ra thì còn tìm thấy cuốc sắt giống với di vật Đông Sơn, trang sức bằng đá gồm vòng tai với mặt cắt hình thang và khuyên tai 4 mấu. [31]

    Việt Nam.


    Quảng Đông.



    Rìu lưỡi hài tại các vùng: Việt Nam, Hồ Nam, Quảng Đông. [Nguồn: 1. Martin Doustar, 2014, Art of Bronze Age in Southeast Asia; 2. Bảo tàng tỉnh Hồ Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 3. Nguồn: Bảo tàng Nanshan, Thâm Quyến, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Qua những nghiên cứu văn hoá cùng sự so sánh cổ vật của các vùng mà chúng tôi đã dẫn ở trên, có thể thấy cộng đồng tộc Việt không chỉ thống nhất về mặt văn hóa tinh thần, mà còn tương đồng về mặt văn hóa vật chất, với biểu hiện là di vật khảo cổ, với nhiều di vật đồng nhất với nhau trên diện rộng. Nhìn một cách toàn thể, kết hợp với những chiếc trống đồng là biểu trưng quan trọng nhất, thì chúng ta cũng có thể thấy được sự thống nhất trong đa dạng về mặt văn hóa của cộng đồng tộc Việt.

    C. NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA VÀ LỊCH SỬ CỦA TÊN GỌI “VIỆT”:

    I. Có phải tên Việt là cách gọi chung các tộc người phía Nam của người Hoa Hạ?

    Có một quan điểm phổ biến trong nhận định về nguồn gốc của tộc Việt, đó là “khái niệm Việt được người Hoa Hạ sử dụng để chỉ chung các dân tộc không liên quan tới nhau ở phía Nam địa bàn sinh sống của họ”, nhưng trong thực tế các tài liệu lịch sử Trung Hoa, khái niệm Việt được họ sử dụng để chỉ trực tiếp tộc Việt trong nhiều giai đoạn như chúng tôi đã dẫn ở các phần trên, không phải là khái niệm có tính gộp chung các sắc dân không liên quan tới nhau như một số quan điểm đã thể hiện. Thay vào đó, họ có sự phân biệt thông qua khái niệm “Nam Man”.

    Trong Kinh Lễ, thiên Vương Chế, người Hoa Hạ hay người Hán dùng từ Nam Man (南蠻) để chỉ chung chung cư dân phía Nam Dương Tử với ý miệt thị. [32].

    Tên Việt của cộng đồng tộc Việt có nguồn gốc từ sự phát triển nội sinh tại vùng Dương Tử, xuất hiện khi cộng đồng cư dân tại vùng Dương Tử bắt đầu hình thành ý thức dân tộc, đó không phải tên người Hoa Hạ đặt cho tộc Việt. Điều này sẽ được chúng tôi làm rõ hơn qua phần phía sau đây.

    II. Nguồn gốc và ý nghĩa của tên “Việt”:

    Tên Việt của cộng đồng Việt có nguồn gốc từ hình ảnh chiếc rìu của văn hóa Đại Vấn Khẩu và Lương Chử, sau đó được cư dân văn hóa Thạch Gia Hà kế thừa, phát triển thành hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu, đội mũ lông chim (số 15, hình dưới) trên bình gốm trong ngôi mộ của một thủ lĩnh văn hóa Thạch Gia Hà (hình ảnh này sau đó đã được kế thừa trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn, thời kỳ này trên trống đồng cũng xuất hiện phổ biến hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu tương tự văn hóa Thạch Gia Hà). Chữ Việt được phát triển lên từ hình ảnh đó. Ý nghĩa biểu tượng người cầm rìu ngọc là vượt lên trên (người khác), giống với ý nghĩa chữ Việt (vượt) ngày nay chúng ta đang dùng. Tên “Việt” theo nghĩa thông thường là tộc những người sử dụng rìu lễ khí và biểu thị quyền lực, nghĩa bóng là vượt qua.


    Biểu tượng Việt và chữ Việt theo thời gian. 1-2: Biểu tượng Việt (rìu ngọc) ở văn hóa Đại Vấn Khẩu [33]. 3-6: biểu tượng ngôi sao 8 cánh, rìu ngọc, hình chữ nhật có đường chéo, hình mũi tên trên bình gồm của văn hóa Lương Chử [34]. 7-10: chữ Việt (nghĩa là cái rìu, búa) ở dạng giáp cốt văn, kim văn, triện văn, khải thư [35]. 11-14: chữ Việt (vượt qua, nước Việt…) ở dạng kim văn (11-12), triện văn, khải thư [36]. 15: Bình gồm có khắc biểu tượng thủ lĩnh cầm rìu [6] [37]. 16: Hình người cầm rìu trên trống đồng Miếu Môn [38]. [39]

    Chữ Việt từ đó đã gắn liền với cộng đồng tộc Việt trong hơn 3000 năm lịch sử cho tới khi họ thất bại trong các cuộc chiến chống xâm lược và chiếm đóng của người Hán, sau đó cái tên này đã được giữ gìn và kế thừa bởi người Việt ở miền Bắc Việt Nam. Cái tên Việt có nguồn gốc và phát triển nội sinh từ văn hóa tộc Việt, có hệ thống và tính kế thừa, không phải cái tên được người Hoa Hạ gọi chung cho những sắc dân phi Hoa ở phía Nam Trung Hoa.

    III. Lịch sử của tên gọi Việt:

    Tộc Việt có tên gọi chung là Việt trong hơn 3000 năm, trong sách sử của người Trung Hoa, họ lại ghi những cái tên khác nhau để chỉ cộng đồng tộc Việt, với kết cấu chữ đệm + tên Việt mà chúng tôi đã có đề cập tới ở trên. Các tên gọi này là những tư liệu quan trọng để chúng ta biết được sự phát triển và thay đổi của tên gọi Việt.

    1. Các tên tự xưng:

    – Tên tự xưng đầu tiên của người Việt là Việt Thường, được sử dụng vào thời điểm hơn 4000 năm trước vào thời nhà Hạ, được ghi lại từ các sử liệu cổ trong sách Thông chí của Trịnh Tiều thời Tống (1127-1279): “Đời Đào Đường, phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn Khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch.”. Đây là tên tự xưng đầu tiên của người Việt, tên Việt Thường được sử dụng để gọi sứ giả của đất Việt tới thông giao với vua Nghiêu.

    Tên gọi Việt Thường sau đó vẫn tiếp tục được người Việt tự xưng tới ít nhất tới thời nhà Chu, khi vào đời Chu Thành Vương, người Việt cũng đã tới để cống chim trĩ trắng, tự xưng là Việt Thường.

    – Vào giai đoạn sau thời Chu Thành Vương, tên tự xưng của tộc Việt có thể đã được chuyển sang Lạc Việt, với đoạn sử trong sách Dư địa chí của Cố Dã Vương 顾野王 (519 – 581) đã viết như sau: “ 交趾,周时为骆越,秦时曰西瓯。”- “Giao Chỉ, Chu thời vi Lạc Việt, Tần thời viết Tây Âu”. [41] Cái tên này được ghi lại trong nhiều tài liệu lịch sử ở các giai đoạn sau để chỉ người Việt, cái tên này cũng gắn bó chặt chẽ với người Việt trong một thời gian dài cho tới tận trong thời Bắc thuộc.

    1. Các tên được gọi bởi người Hoa Hạ:

    Trong các giai đoạn thì người Hoa Hạ có những cái tên khác nhau để gọi tộc Việt, với cấu trúc tên đệm + với tên Việt của tộc Việt, thể hiện một phần thái độ và nhận định của họ về tộc Việt trong từng giai đoạn mà chúng tôi đã đã ở phần đầu bài viết.

    – Nhà Hạ gọi cộng đồng người Việt là Vu Việt 于越.

    – Nhà Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越.

    – Tới thời Chu thì tên Dương Việt 扬越 được người Hoa Hạ sử dụng để gọi cộng đồng tộc Việt, tên Dương Việt được sử dụng tới thời nhà Sở (400BC): Cuốn Chiến Quốc Sách có ghi sự kiện Ngô Khởi “Nam công Dương Việt” (tấn công Dương Việt phía Nam) thời Sở Điệu Vương (楚悼王) (đây là đoạn sử ghi lại thời điểm Sở đánh xuống vùng phía Tây của lãnh thổ tộc Việt).

    – Tới thời Tần, bắt đầu xuất hiện tên gọi Bách Việt, được ghi đầu tiên trong sách Lã Thị Xuân Thu: “Dương Hán chi nam, Bách Việt chi tế” nghĩa là “phía nam đất Hán là đất Bách Việt.”. [42]

    Tên gọi này có ý thể hiện sự phân lập của cộng đồng tộc Việt, có ảnh hưởng sâu rộng trong các giai đoạn sau này, tuy nhiên như chúng tôi đã chứng minh ở các phần trên, cộng đồng tộc Việt không phân lập, mà có ý thức thống nhất cao về văn hóa, dân tộc. Bên cạnh đó, có những cơ sở nhất định để cho rằng họ cùng tồn tại trong một quốc gia.

    IV. Tìm hiểu về danh xưng Việt Thường:

    Như chúng tôi đã dẫn ở phần trên, thì tên gọi Việt Thường được người Việt tự xưng khi thông giao với người Hoa Hạ bắt đầu từ thời nhà Hạ tới thời nhà Chu, tuy nhiên trong sử sách Trung Hoa khi ghi lại chi tiết người Việt thông giao với nhà Chu lại gọi Việt Thường là một nước, nên cần bàn qua một chút về danh xưng Việt Thường này.

    Trong Thượng thư đại truyện (TK 3 TCN) và Tiền Hán Thư có ghi lại chi tiết về người Việt Thường tới cống chim trĩ trắng cho Chu Thành Vương.

    “Phía nam đất Giao Chỉ có nước Việt Thường. Châu Công (tên Cơ Đán 姬旦) nhiếp chính được sáu năm, đặt lễ làm nhạc, thiên hạ hòa bình. Người nước Việt Thường qua quan Tam tượng nhiều lần phiên dịch mà dâng chim trĩ trắng.” [45]

    Sách Thượng thư đại truyện gọi Việt Thường là một nước, và nó nằm ở phía Nam đất Giao Chỉ, ở điểm này sách sử Trung Hoa có thể có sự nhầm lẫn trong ghi chép, bởi đất Giao Chỉ được sử dụng để chỉ đất của tộc Việt, trong địa bàn phía Nam Dương Tử, không thấy có dấu hiệu nào có sự xuất hiện của một quốc gia khác trong thời điểm hơn 3000 năm trước, ngoài quốc gia chung của cộng đồng tộc Việt, do đó nước Việt Thường không có khả năng tồn tại, nếu tồn tại, nó sẽ phải nằm tại vùng phía Nam miền Bắc Việt Nam, tuy vậy trong huyền sử đã ghi lại phía Nam nước Văn Lang là nước Hồ Tôn, chứ không phải là Việt Thường. Thêm nữa tên Việt trong cổ sử Trung Hoa ghi chép lại luôn luôn được dùng để chỉ chung cộng đồng tộc Việt, đó là cái tên tự nhận của họ như chúng tôi đã chứng minh ở trên. Họ có thể nhầm lẫn cái tên tự xưng Việt Thường thành tên nước, từ sự hiểu nhầm do phiên dịch mà thành. Trong tài liệu lịch sử Trung Hoa cũng có sách chép là “Việt Thường”, chứ không ghi trực tiếp là tên của một nước.

    Sách Luận Hành (Hán – Vương Sung soạn) chép: “成王之時,越常獻雉,倭人貢暢。幽厲歷衰微,戎狄攻周,平王東走,以避其難。至漢,四夷朝貢。孝平元始元年,越常重譯獻白雉一、黑雉二。夫以成王之賢,輔以周公,越常獻一,平帝得三。” – “Vào thời Thành Vương, người Việt Thường tặng chim trĩ, người Oa cống lúa nếp. Vào thời U-Lệ suy kém, người Nhung Địch đánh nhà Chu, Bình Vương chạy sang miền đông để tránh nạn ấy. Đến thời nhà Hán, người Di bốn phương chầu cống. Vào năm Nguyên Thủy thứ nhất (năm 5) người Việt Thường qua nhiều lần phiên dịch tặng một con chim trĩ trắng, hai con chim trĩ đen. Vậy là Thành Vương là vua hiền được Chu Công giúp, mà người Việt Thường chỉ cống một con, còn Bình Đế được ba con.”

    Chi tiết này cũng được Lĩnh Nam Chích Quái ghi lại, thể hiện rõ hơn là Việt Thường là cái tên tự nhận của người Việt, chứ không phải là một nước: truyện Bạch Trĩ trong Lĩnh Nam Chích Quái kể:

    Đời vua Chu Thành Vương, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem chim bạch trĩ sang cống… Chu Công hỏi: “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao?” Sứ đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng. Xăm mình để giống hình vua rồng bơi lội dưới sông, giao long không làm hại. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Để đầu trần cho khỏi nóng bức. Ăn trầu cau để khỏi hôi mồm cho nên răng đen.”

    [Lĩnh Nam chích quái, Trần Thế Pháp]

    Chi tiết trong truyện Bạch Trĩ trên đã xác định rất rõ Việt Thường là một danh xưng của người Việt, truyện cũng cho thấy người Việt Thường cũng là người Giao Chỉ, một cái tên gắn liền với người Việt trong nhiều giai đoạn, sứ giả là bề tôi của vua Hùng, người làm chủ nước Văn Lang.

    Dựa vào những dữ liệu phân tích và tổng hợp, thì cái tên Việt Thường là cái tên người Việt tự xưng, không phải là một cái tên được sử dụng để chỉ quốc gia, việc người Hoa Hạ gọi đây là một quốc gia có thể là một sự nhầm lẫn trong quá trình phiên dịch và ghi nhận. Cái tên tự nhận này được sử dụng bắt đầu từ thời nhà Hạ, và sau đó có thể tiếp tục được sử dụng cho tới thời Chu Thành Vương, sau đó danh xưng có thể được chuyển thành Lạc Việt.

    V. Tìm hiểu về danh xưng Lạc Việt:

    1. Danh xưng Lạc Việt có thể là danh xưng chung của tộc Việt:

    Tới thời nhà Chu, có thể ở giai đoạn sau Chu Thành Vương, thì danh xưng của người Việt chuyển sang Lạc Việt. Danh xưng này chúng tôi nhận thấy có thể là một danh xưng chung của cộng đồng tộc Việt, với nhiều dữ kiện hỗ trợ cho giả thuyết này.

    Đầu tiên trong sách Lã Thị Xuân Thu, đã ghi về tộc Việt như sau: “Quế Dương Chiêu Dao sơn đích quế; Việt Lạc (cổ quốc) đích hương khuẩn; lí ngư hòa vị ngư nhục tố đích tương; Đại Hạ (cổ quốc) quốc đích diêm”. Cao Dụ chú “Lạc Việt = Việt Lạc: quốc danh. Khuẩn: măng trúc”, [46] Đàm Thánh Mẫn giải thích “Việt Lạc cũng là Lạc Việt, do thứ tự cú pháp tiếng Việt đặt ngược với tiếng Hán mà ra.”. Các tác giả của Lã Thị Xuân Thu có thể nhận thấy người Việt tự nhận mình là Lạc Việt, nên đã cho đó là quốc danh.

    – Tại vùng Hồ Nam, theo Lăng Thuần Thanh, thì là nơi sinh sống của người Lạc Việt, ông đã nhận thấy bài Đông Quân được Khuất Nguyên miêu tả hoạt động cúng tế của cư dân vùng này, trùng khớp với các hình vẽ được mô tả trên hoa văn trống đồng Ngọc Lũ của người Việt tại miền Bắc Việt Nam.

    – Hồ Bắc cũng là nơi sinh sống của người Lạc Việt, trong Hậu Hán Thư ghi: “Năm thứ 11 (đời Hán Quang Võ, tức năm 35, trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng 5 năm) Tang Cung đem binh đến huyện Trung Lư (sau là huyện Nam Chương thủ phủ là Tương-Phàn Thị tức Tương Dương và Phàn Thành), đóng đồn (trên đất cư trú của người) Lạc Việt. Lúc đó Công Tôn Thuật (thế lực cát cứ đang chiếm đất Thục) sai tướng Điền Nhung, Nhiệm Mãn ra cự địch với Chinh nam đại tướng quân Sầm Bành ở Kinh môn, Bành nhiều lần đánh mà không thắng (sau Bành bị quân thích khách của Thục giết!), người Việt do đó muốn làm phản theo Thục, Cung binh ít, không đủ lực lượng khống chế.”. [53]

    – Hậu Hán thư – Mã Viện liệt truyện: 條奏越律與漢律駮者十餘事,與越人申明舊制以約束之,自後駱越奉行馬將軍故事。駱者,越別名。” – “Tấu kể luật của người Việt khác với luật của người Hán đến hơn mười điều, liền nêu rõ phép tắc cũ với người Việt để gò buộc họ, từ đó về sau người Lạc Việt làm theo phép cũ của Mã tướng quân. Lạc là tên nhóm khác của người Việt.”. Cuộc chiến của Hai Bà Trưng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam, tài liệu lịch sử này cho thấy người Việt tại miền Bắc Việt Nam là người Lạc Việt.

    – Sách Hậu Hán thư, truyện Mã Viện, truyện Nhâm Diên ghi rõ người các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc Việt. Vùng miền Bắc Việt Nam là nơi sinh sống của người Lạc Việt.

    – Trong Hậu Hán Thư thế kỷ thứ V trong Mã Viện liệt truyện ghi: “Viện hiếu kỵ, thiện biệt danh mã, ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi chú vi thức, hoàn thượng chi”. Tức là Mã Viện thích ngựa, giỏi phân biệt ngựa hay; tại Giao Chỉ lấy được trống đồng của dân Lạc Việt. Sau khi cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng thất bại, Mã Viện đã thu trống của người Lạc Việt tại vùng Giao Chỉ, chi tiết này có thể là Giao Chỉ bộ hoặc Giao Chỉ quận, ở chi tiết này chưa thực sự rõ ràng nên Mã Viện có thể thu trống tại Giao Chỉ bộ hoặc Giao Chỉ quận, đây là nơi sinh sống của người Lạc Việt.

    – Bên cạnh các chi tiết trên, thì còn một chi tiết được ghi lại trong sách “Giao Châu Ngoại Vực Ký”: “Xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, đất có Lạc điền [雒田; ruộng lạc], ruộng ấy theo triều thuỷ lên xuống, dân khẩn thực [墾食] ruộng ấy, nên gọi là “Lạc dân” [雒民]. Lập ra “Lạc vương” [雒王], “Lạc hầu” [雒侯], coi giữ các quận huyện. Nhiều huyện có “Lạc tướng” [雒將], các Lạc tướng có ấn đồng và dây thao xanh. Sau Thục vương tử mang 3 vạn binh đến đánh lạc vương, lạc hầu, thu phục các lạc tướng. Thục vương tử sau đó xưng An Dương vương.” [Bản dịch của Tích Dã]

    Giao Chỉ theo đoạn trích dẫn trên là đất của người Lạc Việt, Giao Chỉ ở đây có ý nghĩa là Giao Chỉ bộ, vì khi đó “chưa có quận huyện”, địa bàn của Giao Chỉ trong thời điểm đó có thể bao gồm Lưỡng Quảng, Hải Nam, miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Dựa vào đoạn trích trên, chúng ta có thể thấy toàn vùng Giao Chỉ là nơi ở của Lạc dân, có Lạc điền, sau có Lạc Vương cai quản, Lạc Hầu coi giữ các quận huyện. Các chi tiết này cũng gợi ý trực tiếp về sự tồn tại của danh xưng Lạc Việt trong cộng đồng tộc Việt.

    – Sách Dư địa chí của Cố Dã Vương 顾野王 (519 – 581) đã viết như sau: “ 交趾,周时为骆越,秦时曰西瓯。”- “Giao Chỉ, Chu thời vi Lạc Việt, Tần thời viết Tây Âu” [41], vào thời nhà Chu, Giao Chỉ khi đó tương ứng với danh xưng Lạc Việt. Giao Chỉ ở đây là Giao Chỉ bộ, lãnh thổ Giao Chỉ thời kỳ này bao gồm vùng Lưỡng Quảng, miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam.

    – Sách Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường, chương Cổ Nam Việt cũng có nhắc tới Tây Âu là đất của người Lạc Việt. “古西甌、駱越之地” – “Cổ Tây Âu, Lạc Việt chi địa”, tạm dịch: “Cổ Tây Âu là đất của Lạc Việt”. Một đoạn trích khác cũng có ý nghĩa tương tự: “西甌即駱越也” “Tây Âu cũng là Lạc Việt”.

    – Tây Âu được sử dụng để chỉ trực tiếp người Việt tại vùng Quảng Tây, cũng theo tài liệu lịch sử, thì người Tây Âu là một nhánh của người Lạc Việt, khái niệm Tây Âu có phạm vi hẹp hơn khái niệm Lạc Việt, điều này cũng thể hiện khái niệm Lạc Việt có thể được sử dụng để chỉ chung cộng đồng tộc Việt.

    Cựu đường thư – Địa lí chí: 潘州茂名州所治。古西甌、駱越地,秦屬桂林郡,漢為合浦郡之地。“Huyện Mậu Danh của châu Phan là sở trị của châu. Là đất của người Tây Âu, Lạc Việt thời xưa. Thời Tần thuộc quận Quế Lâm, thời nhà Hán là đất của quận Hợp Phố.”

    Phương ngôn (Hán – Dương Hùng soạn, Đông Tấn – Quách Phác chú): “允、訦、恂、展、諒、穆,信也。齊魯之間曰允,燕代東齊曰訦,宋衞汝潁之間曰恂,荊吳淮汭之間曰展。西甌毒屋黃石野之間曰穆。西甌,駱越別種也,音嘔。” – “Các từ doãn, kham, tuân, triển, lượng, mục là nói về ‘tín’. Vùng nước Tề-Lỗ gọi là ‘doãn’; vùng nước Yên-Đại, Đông Tề gọi là ‘kham’; vùng nước Tống-Vệ, Nhữ-Dĩnh gọi là ‘tuân’; vùng nước Kinh-Ngô, Hoài-Nhuế gọi là ‘triển’; vùng Tây Âu, Độc Thất, Hoàng Thạch Dã gọi là ‘mục’. Tây Âu là một chủng khác của người Lạc Việt, đọc là ‘âu’.”

    – Các tên gọi như Mân Việt, Âu Việt, Điền Việt, Đông Việt, Dạ Lang, Tây Âu… đều là những cách gọi xuất hiện muộn trong lịch sử, các tên gọi này ban đầu quốc danh khi các vùng này tách ra khỏi quốc gia chung Văn Lang, sau đó qua thời gian mới trở thành tộc danh để chỉ cư dân từng vùng, chúng không xuất hiện trước các danh xưng Việt Thường hay Lạc Việt.

    – Trong số các dân tộc có nguồn gốc tộc Việt ngày nay, thì người Choang và người Bố Y trong vùng Hoa Nam vẫn còn tự nhận mình là người Lạc Việt.

    Qua các dẫn chứng trên, có cơ sở để cho rằng cả cộng đồng tộc Việt đã tự nhận mình là Lạc Việt, tuy vẫn còn cần nghiên cứu thêm, nhưng đây cũng là một gợi ý quan trọng giúp chúng ta hiểu thêm về một phần lịch sử tên gọi của cộng đồng tộc Việt.

    2. Thử tìm hiểu về ý nghĩa của danh xưng Lạc Việt [47]:

    Dựa vào các dẫn chứng trên, có thể nói có cơ sở để cho rằng danh xưng Lạc Việt là danh xưng của cộng đồng tộc Việt. Vậy danh xưng Lạc Việt chính xác có nghĩa là gì? Nguồn gốc khái niệm “Lạc Việt” theo khảo cứu của M. Ferlus, thì là “những chữ được sử dụng ở đây là chữ ghi âm dùng để ghi lại những tên gọi không thuộc Hán”, Gs Trần Trí Dõi cũng có quan điểm tương đồng với M. Ferlus: đây là các chữ “‘ký tự bằng chữ Hán’ dùng để biểu thị một ‘từ mô phỏng (onomatopoeia)’ ngữ âm của ngôn ngữ một cư dân phi Hán ở phía nam sông Dương Tử”. Như vậy đây là chữ được người Việt tự nhận và được người Hán ghi lại theo ngữ âm của người Việt.

    Cũng đã có nhiều tác giả thử tìm hiểu và nghiên cứu về chữ Lạc trong tổ hợp Lạc Việt, như Nguyễn Kim Thản – Vương Lộc (1971), các tác giả này cho rằng Lạc=Nước, theo giả thiết của Trần Gia Phụng, thì ông cho rằng chữ Lạc là “ló, lo hay lô”, có nghĩa là lúa gạo. Tuy nhiên các giả thuyết này chưa thực sự hợp lý, như giải nghĩa chữ Lạc=Nước thì có thể giải thích được khái niệm Lạc Điền trong “Giao Châu ngoại vực ký” là Ruộng Nước, nhưng với các yếu tố khác trong sách này, như Lạc Dân, Lạc Hầu, Lạc Tướng thì lại chưa hợp lý.

    Bên cạnh đó cách giải thích “Lạc (Luò 雒)” là “người có vật tổ là chim Lạc” và “Việt (Yuè 越)” là “người Việt”; cho nên “Lạc Việt (Luòyuè 雒 越)” có nghĩa là “người Việt có vật tổ là chim Lạc” (Yue des Lạc)” như đã có một vài ý kiến đề nghị [M. Ferlus 2011: 1] cũng không đủ cơ sở về lịch sử cũng như ngữ âm học.

    Học giả M. Ferlus đưa ra cho chúng ta một cách giải lý khá phù hợp với các tài liệu lịch sử, ông dựa vào những tái lập tiếng Hán cổ đã công bố để đưa ra dạng thức ngữ âm thời “Sử ký” hay “Hán thư” của yếu tố này:

    luò 雒 SV lạc < MC *lak < OC *C-rak [(C).r ak ]

    M. Ferlus và Trần Trí Dõi đã dẫn ra nhiều trường hợp các dân tộc ở vùng nam Đông Á vẫn còn lưu giữ dấu vết dạng thức *rak của tiếng Hán cổ, những ngôn ngữ mà các tác giả này dẫn ra có dạng thức ngữ âm tương ứng với từ ngữ âm *p.rak Hán cổ đều mang nét nghĩa “chỉ người”.

    “Như vậy, có thể thấy sự hiện diện dạng thức từ ngữ âm có nét nghĩa “chỉ người” của các nhóm ngôn ngữ Khmú, Palaung – Wa, Việt – Mường, Bahnar v.v thuộc nhánh Nam Á của họ Nam Á có nghĩa là dạng thức ngữ âm *p.rak Hán cổ được biểu thị bằng chữ Hán 雒 (hoặc 駱 hay絡) là để biểu âm một từ gốc Nam Á dùng để chỉ “người”. Sự phân bố rộng rãi ở những nhóm ngôn ngữ khác nhau của các ngôn ngữ Nam Á là chứng cứ rõ ràng nhất chứng minh cho khả năng này. Đồng thời, dạng thức âm đầu l trong các ngôn ngữ Tai-Kadai cũng đã xác nhận điều đó. Rõ ràng, với logic lập luận và thao tác làm việc phù hợp với cách thức nghiên cứu của ngôn ngữ học so sánh – lịch sử, việc xác lập nghĩa từ nguyên của yếu tố lạc (luò 雒) với nghĩa chỉ “người” mà M Ferlus đề nghị là đảm bảo cơ sở ngôn ngữ học nên có thể chấp nhận được. Vì thế, chữ Hán 雒 (hoặc 駱 hay絡) có âm đọc Hán – Việt “lạc” được dùng ở giai đoạn Hán cổ (OC) để ghi một tên gọi phi Hán có nghĩa từ nguyên là “người (person)”.”

    Qua khảo cứu, đối chiếu, so sánh với các ngôn ngữ khác thuộc hệ ngữ Nam Á của M. Ferlus và Trần Trí Dõi, chúng ta đã thấy được gốc của từ “lạc” có nghĩa từ nguyên là “người”. Như vậy khái niệm Lạc Việt có thể nghĩa là “người Việt”, cách hiểu này hoàn toàn phù hợp với các tài liệu lịch sử, việc cư dân các vùng tộc Việt tự nhận là “Lạc Việt” hay “người Việt” là hợp logic và có ý nghĩa.

    Còn một vấn đề nữa cần bàn qua, bài viết của Gs Trần Trí Dõi cũng nhắc tới việc phục nguyên chữ Việt của M. Ferlus, ông cho rằng chữ Việt có âm gốc là *wat, có nghĩa chung là “một phạm vi, một vùng”, tuy nhiên khái niệm Việt là danh xưng của cộng đồng tộc Việt, xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử và có tiến trình phát triển như chúng tôi đã trình bày với bạn đọc, cách giải nghĩa của M. Ferlus về khái niệm Việt chưa thực sự hợp lý, người Việt hiện nay vẫn tự nhận mình là “Việt”, có ý nghĩa là “vượt lên trên người khác”, đây là một từ có ý nghĩa rõ ràng, không phải từ hoàn toàn ký âm như M. Ferlus đã đề xuất, vậy nên chúng tôi cho rằng khái niệm Việt được giải thích như “một phạm vi, một vùng” là chưa thực sự phù hợp, cách giải thích “Lạc Việt” = “người Việt” có nhiều cơ sở hỗ trợ và cũng hợp lý hơn với các tài liệu lịch sử.

    D. QUỐC GIA CHUNG CỦA CỘNG ĐỒNG TỘC VIỆT:

    Cơ sở về di truyền, khảo cổ, văn hóa như chúng tôi đã chứng minh ở các phần trên, thì cộng đồng tộc Việt có chung một nền văn hóa, có một ý thức thống nhất và gắn bó, liên hệ với nhau chặt chẽ. Bên cạnh đó, thì qua nhiều tư liệu lịch sử, khảo cổ, có cơ sở để bàn về sự thống nhất của tộc Việt trong một quốc gia chung, là các quốc gia của các vua Hùng.

    I. Quốc gia của tộc Việt trong sử sách:

    1. Sử sách Trung Quốc:

    Các sách sử Việt Nam đa phần đều đã không còn sau thời nhà Trần, vì vậy chúng ta cần dựa vào các tài liệu của Trung Quốc để xác định những thư tịch sớm nhất có chép về quốc gia chung của tộc Việt. Các tài liệu Trung Quốc sớm nhất ghi về quốc gia của tộc Việt dưới khái niệm Giao Chỉ.

    Hoài Nam Tử của Lưu An viết vào thời nhà Hán, trong thiên Tu vụ huấn viết: “Vua Nghiêu lên làm vua, hiếu từ nhân ái, khiến dân như con em, phương Tây dạy mán ốc dân, phương Đông đến mán Hắc xỉ, phương Bắc vỗ về đất U Đô, phương Nam thông nước Giao Chỉ. [49]

    Lã Thị Xuân Thu, trong thiên Thận hành luận, chép về lãnh thổ vua Vũ thời nhà Hạ: “南至交阯孫樸續樠之國丹粟漆樹沸水漂漂九陽之山羽人裸民之處” – “Phía nam đến các nước Giao Chỉ, Tôn Bốc, Tục Man, các núi Đan Túc, Tất Thụ, Phất Thủy, Phiêu Phiêu, Cửu Dương, các xứ Vũ Nhân, Khỏa Dân, hương Bất Tử.”

    Giai đoạn này thì lãnh thổ của người Hoa Hạ mới phân bố tại vùng phía bắc Đông Á, nên lãnh thổ nước Giao Chỉ của người Việt được ghi lại trong các tài liệu lịch sử trên nằm ngay phía dưới lãnh thổ của nhà Hạ, tức là vùng Dương Tử.

    Bên cạnh đó, sách Thông Điển của Đỗ Hữu 杜佑 thời Đường (801), phần Châu quận cũng ghi lại về quốc gia của tộc Việt qua các tư liệu thời cổ: “自嶺而南,當唐、虞、三代為蠻夷之國,是百越之地” – “Từ dải núi Ngũ Lĩnh về phía nam, vào thời Đường-Ngu, Tam đại là nước của người Man Di, là đất của người Bách Việt .”. Sách này chú thêm: “或曰自交趾至於會稽七八千里,百越雜處.” – ““Từ Giao Chỉ đến Cối Kê, bảy tám ngàn dặm, người Bách Việt xuất hiện khắp mọi nơi.”

    Vậy đây là quốc gia do ai làm chủ? Các tài liệu lịch sử cũng cho chúng ta thấy những người làm chủ quốc gia chung của tộc Việt là các vị vua Hùng.

    Thủy kinh chú, quyển 37, Diệp Du hà (Bắc Ngụy – Lịch Đạo Nguyên soạn) dẫn Giao châu ngoại vực kí chép: “交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民,設雒王、雒侯,主諸郡縣。” – “Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện, đất đai có ruộng Lạc, dân làm ăn ở ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, nhân đó có tên là dân Lạc, đặt ra Lạc VươngLạc Hầu để làm chủ các quận huyện, huyện phần nhiều có chức Lạc tướng, Lạc tướng đeo ấn đồng thao xanh.” [50]

    Thủy Kinh chú chép về chi tiết: “đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện”, chi tiết này cho chúng ta thấy khái niệm Giao Chỉ ở đây được sử dụng để chỉ Giao Chỉ bộ, khi đó thuộc một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Nam sông Dương Tử, ở đây tài liệu chưa cho biết chính xác mốc thời gian, nên qua đây chúng ta tạm hiểu hiểu Giao Chỉ ở đây là một vùng rộng lớn, có thể phía Nam Dương Tử hoặc phía Nam Ngũ Lĩnh mà không chỉ gói gọn trong vùng miền Bắc Việt Nam. Đây là quốc gia do “Lạc Vương” làm chủ, có các Lạc Hầu, Lạc Tướng làm chủ các quận huyện. “Lạc Vương” ở đây sách Thủy Kinh chú chép nhầm từ “Hùng Vương”, hay Lạc Vương cũng chính là Hùng Vương, theo sách Cựu Đường Thư dẫn Nam Việt chí, thì người làm chủ quốc gia của tộc Việt là Hùng Vương.

    Cựu Đường thư, (Hậu Tấn – Lưu Hú soạn, 945 SCN), quyển 41, Chí 21, Địa lí 4, dẫn Nam Việt chí (Lưu Tống 420 – 479) chép: “交趾之地,最為膏腴。舊有君長曰雄王,其佐曰雄侯。後蜀王將兵三萬討雄王,滅之。蜀以其子為安陽王,治交趾。其國地,在今平道縣東。其城九重,周九里,士庶蕃阜。尉佗在番禺,遣兵攻之。王有神弩,一發殺越軍萬人,趙佗乃與之和,仍以其子始為質。安陽王以媚珠妻之,子始得弩毀之。越兵至,乃殺安陽王,兼其地。” – “Đất quận Giao Chỉ rất là màu mỡ, ngày xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi. Vua Thục nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ. Đất nước ấy ở phía đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành nước ấy có chín vòng, chu vi chín dặm, dân chúng đông đúc. Úy Đà đóng đô ở thành Phiên Ngu phát binh sang đánh. Vương có nỏ thần bắn một phát giết một vạn quân Việt. Triệu Đà bèn hòa với vương, rồi sai con mình tên là Thủy làm con tin. An Dương Vương đem con gái tên là Mị Châu gả cho Thủy, Thủy thấy được nỏ thần bèn hủy đi. Kịp khi quân Việt đến liền giết An Dương Vương, chiếm cả nước ấy.” [50]

    Như vậy chúng ta có thể thấy được Giao Chỉ là đất của cộng đồng tộc Việt, quốc gia của tộc Việt có địa bàn trải rộng trong vùng phía Nam sông Dương Tử, và có các vua Hùng lãnh đạo và quản lý.

    2. Sử sách Việt Nam:

    Trong sách sử Việt Nam, thì quốc gia của cộng đồng tộc Việt được ghi lại trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, được biên soạn vào thời Hậu Lê bởi Ngô Sĩ Liên dựa trên sách Đại Việt sử ký được viết bởi Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên từ trước đó.

    Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy), đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc).

    Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương.[51]

    Lĩnh Nam Chích Quái, sách ghi lại các truyền thuyết trong dân gian của người Việt đã chép lại như sau:

    “Âu Cơ cùng với năm mươi người con trai ở tại Phong Châu – (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang; về bờ cõi của nước thì Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình hồ, Nam đến nước Hồ Tôn Tinh (bây giờ là nước Chiêm Thành), chia trong nước làm mười lăm bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận, sai các em phân trị, đặt em thứ làm tướng võ, tướng văn; tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương, quan Hữu ty gọi là Bồ chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền cho nhau đều hiệu là Hùng Vương không đổi.[52]

    [​IMG]
    Mô phỏng bản đồ nước Văn Lang của các vua Hùng trong thời kỳ đầu hình thành.

    Chúng tôi muốn bàn về tính thực tế của huyền sử Hồng Bàng, thì các chi tiết trong huyền sử Hồng Bàng đã thể hiện sự chính xác với các nghiên cứu di truyền học [48]. Do đó, huyền sử Hồng Bàng có thể là một câu chuyện được truyền miệng trong dân gian, sau đó được Trần Thế Pháp ghi lại thành văn vào thời nhà Trần, các dữ liệu không đủ để có thể phủ nhận giá trị thực tế của huyền sử Hồng Bàng. Từ cơ sở đó, huyền sử Hồng Bàng là một nguồn tư liệu có thể tham khảo được về nguồn gốc dân tộc.

    Tuy nhiên bối cảnh của huyền sử Hồng Bàng khi các quốc gia Xích Quỷ và Văn Lang được thành lập là tại vùng Dương Tử, khi đó cư dân tộc Việt chưa di cư về phía Nam, chỉ tới khi có sự di cư rộng khắp về vùng Lĩnh Nam và Việt Nam, thì lãnh thổ mới được giãn theo dòng di cư của cư dân tộc Việt, được ghi trong huyền sử với lãnh thổ là từ vùng Dương Tử tới miền Bắc Việt Nam.

    Những tư liệu lịch sử này về quốc gia của cộng đồng tộc Việt được hỗ trợ bằng những nghiên cứu khảo cổ và di truyền học mà chúng tôi sẽ dẫn ra ngay sau đây.

    II. Huyền sử Hồng Bàng và nhà nước của người Việt cổ trên cơ sở thực tế khảo cổ học

    Huyền sử Hồng Bàng là bản sử ghi lại giai đoạn văn hiến đầu tiên của tộc Việt, loại trừ các chi tiết mang tính truyền thuyết được thêm thắt trong các giai đoạn sau, thì các chi tiết cốt lõi của huyền sử Hồng Bàng đã chứng minh tính thực tế của mình thông qua các nghiên cứu di truyền học [48]. Cũng theo các nghiên cứu di truyền học, thì không gian ban đầu của huyền sử Hồng Bàng là vùng Động Đình và hạ lưu Dương Tử chứ không phải tại miền Bắc Việt Nam, do đó chúng ta cần tìm hiểu về quốc gia của tộc Việt thông qua các tư liệu khảo cổ tại vùng Động Đình, Dương Tử, những tư liệu tại đây đã chứng minh về sự tồn tại của một quốc gia phát triển.

    Tại vùng văn hóa Lương Chử ở hạ lưu sông Dương Tử, các nhà khảo cổ thế giới đã chứng minh là nơi có thể có nhà nước sớm nhất ở Đông Á, có xã hội phân tầng phức tạp với ít nhất 4 tầng lớp [54][55], có hệ thống thủy lợi sớm nhất thế giới với hệ thống đập, đê, mương dẫn nước, cung điện [56]. Cùng với đó là một hệ thống ký hiệu phức tạp và một số đã trở thành chữ viết dù công việc khảo cổ mới thực hiện được khoảng 10% [57].

    Nếu xét về niên đại, thì văn hóa Lương Chử có thể là kinh đô của quốc gia Xích Quỷ của Kinh Dương Vương. Trong huyền sử, thì quốc gia Xích Quỷ của Kinh Dương Vương được thành lập vào khoảng 4879 năm cách ngày nay, niên đại của văn hóa Lương Chử là vào khoảng 5400 – 4250 cách ngày nay, mốc niên đại này đã thể hiện sự phù hợp với huyền sử Hồng Bàng. Cư dân tộc Việt trong thời điểm này chỉ ở tại vùng Dương Tử, họ sống trải dài trong vùng đồng bằng này, nhưng trung tâm trong từng thời điểm là khác nhau, với sự chuyển dịch của tầng lớp tinh hoa. Tới thời văn hóa Thạch Gia Hà, thì trung tâm tộc Việt được chuyển về vùng Động Đình, với sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa tại vùng này.

    Theo chi tiết trong huyền sử, thì trung tâm của tộc Việt sau đó cũng dịch chuyển về vùng Động Đình, khi Kinh Dương Vương đã gặp Long Nữ, bà là con gái của vua Động Đình, hai người đã kết duyên và sinh ra Sùng Lãm. Niên đại của văn hóa Thạch Gia Hà là khoảng 4500-4000 năm, mốc niên đại quốc gia Văn Lang của Lạc Long Quân là sau thời điểm 4879 của quốc gia Xích Quỷ không lâu, các mốc niên đại cũng là phù hợp với tiến trình phát triển của các nền văn hóa tại vùng đồng bằng sông Dương Tử.

    Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa Thạch Gia Hà có một hệ thống chính trị và một ý thức hệ để có thể tổ chức được các khu định cư quy mô lớn và ràng buộc các cộng đồng dân cư với nhau [57]. Một số học giả cho rằng Thạch Gia Hà có thể được coi là một nhà nước cổ đại do cấu trúc chính trị xã hội tương đối tiên tiến của nó [57][58]. Văn hóa Thạch Gia Hà cũng có xã hội phức tạp hơn và phát triển hơn các văn hóa cùng thời ở phía Bắc [58].

    Qua những nghiên cứu khảo cổ ở trên về các văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà, trung tâm của tộc Việt xưa kia, thì việc huyền sử cho rằng Xích Quỷ hay Văn Lang là một nước, là hoàn toàn có cơ sở khảo cổ học.

    Vào khoảng hơn 4000 năm trước ngày nay, thì các cư dân của các văn hóa Lương Chử và Thạch Gia Hà đã di cư về Việt Nam và Đông Nam Á theo các nghiên cứu di truyền học [17][18], trong đó nhóm Nam Á, là tầng lớp cao nhất trong xã hội tộc Việt đã di cư về miền Bắc Việt Nam, trung tâm chính trị, văn hóa và tâm linh cũng dịch chuyển theo dòng di cư này, các tư liệu khảo cổ tại miền Bắc Việt Nam cũng đã thể hiện những dấu hiệu chứng tỏ tồn tại một nhà nước trong vùng miền Bắc Việt Nam.

    III. Nha chương và quyền lực của các vua Hùng tại miền Bắc Việt Nam:

    Tổ chức nhà nước từ thời văn hóa Thạch Gia Hà tại vùng Động Đình có thể đã được kế thừa tại vùng miền Bắc Việt Nam cùng với sự dịch chuyển của tầng lớp cao nhất của tộc Việt, với vật biểu quyền lực rất quan trọng trong đầu thời kỳ đồ đồng, là những chiếc Nha chương bằng ngọc.

    Nha chương là vật biểu quyền lực quan trọng của vùng Đông Á trong giai đoạn khoảng 4000 năm trước, có địa bàn phân bố rộng từ vùng Hoa Bắc, Tứ Xuyên cho tới miền Bắc Việt Nam và Quảng Đông. Vai trò của Nha chương theo Chu Lễ thì “Nha chương dùng để điều động quân đội, chỉ huy quân đồn trú”, nha chương có chức năng giống như một chiếc quyền trượng hay lệnh bài biểu trưng cho quyền lực của vua và tướng lĩnh dùng để điều binh khiển tướng, quan điểm này được đồng thuận bởi nhiều nhà nghiên cứu.



    Nha chương tìm thấy tại văn hóa Phùng Nguyên. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam]

    Tại Việt Nam cũng đã phát hiện nhiều nha chương tại các văn hóa Phùng Nguyên và Xóm Rền. Có nhiều ý kiến cho rằng những chiếc nha chương được nhập từ Trung Quốc, nhưng vai trò quan trọng của chúng trong thời cổ đại, nên chúng không thể được giao thương, trao đổi. Thêm nữa tại văn hóa Phùng Nguyên đã tìm thấy những công xưởng chế tác ngọc tại Gò Chè, Hồng Đà với hiện vật như hạt chuỗi, hoằng, vòng, khuyên tai, công cụ sản xuất có cùng chất liệu ngọc, kỹ thuật chế tác với Nha chương [60], đã chứng minh chúng được tộc Việt tại miền Bắc Việt Nam chế tác để sử dụng cho hoạt động chính trị, quân sự.

    Nha chương có nguồn gốc từ văn hóa Đại Vấn Khẩu tại vùng Sơn Đông hơn 5000 năm trước công nguyên, khi đó chưa có chức năng đại diện quyền lực chính trị, sau đó cư dân tại vùng này đã di cư về vùng Động Đình, Dương Tử, văn hóa Thạch Gia Hà (4600 – 4000 BC) đã kế thừa Nha chương, truyền thống này tiếp tục được kế thừa tại văn hóa Phùng Nguyên khi cư dân tộc Việt di cư về Việt Nam trong khoảng hơn 4000 năm trước. Do vậy Nha Chương là vật có nguồn gốc từ truyền thống tộc Việt, không phải có nguồn gốc từ các văn hóa Tam Tinh Đôi, Nhị Lý Đầu, hay từ nhà Hạ, nhà Thương như một số nhà nghiên cứu quan niệm.


    Nha chương văn hóa Thạch Gia Hà. [61]

    Đây là những bằng chứng rất quan trọng chứng minh về một nhà nước tại vùng miền Bắc Việt Nam. Quyền lực khi đó theo di truyền, đối chiếu với huyền sử, cũng đã chuyển về miền Bắc Việt Nam, theo nhóm Nam Á của các vị vua Hùng. Các vị vẫn duy trì quyền lực của mình với các vùng Việt khác với vật biểu quyền lực là Nha chương, được sử dụng để điều động quân đội, quản lý lãnh thổ.

    IV. Trống đồng – biểu trưng quyền lực tộc Việt trong thời kỳ đồ đồng:

    Trong giai đoạn đồ đồng, thì Nha chương đã không còn vai trò trong chế độ chính trị. Thời kỳ này, trống đồng đã đóng cả hai vai trò, tâm linh và chính trị.

    Trống như chúng tôi đã nói tới ở phần trên, là biểu tượng quyền lực chính thống. Trong cộng đồng tộc Việt, thì trống đồng được phép đúc tại các vùng Việt khác, nhưng chỉ trống tại vùng trung tâm miền Bắc Việt Nam mới lớn và đẹp nhất, tại các vùng Việt khác đều nhỏ hơn tại miền Bắc Việt Nam. Ngoài cộng đồng tộc Việt, thì trống được các nhóm dân cư Đông Nam Á lục địa và hải đảo trực tiếp tới Việt Nam để được ban trống, các vị vua Hùng ban cho những thủ lĩnh tới xin trống, thì thủ lĩnh đó mới có quyền lực tâm linh và chính trị để có được sự công nhận của người dân địa phương.

    Đây cũng là một biểu trưng quan trọng cho quyền lực chính trị và tâm linh của các vị vua Hùng trong giai đoạn sau này, không phải ngẫu nhiên mà trống đồng lại xuất hiện trong một địa bàn rộng lớn như vậy, những chiếc trống lớn nhất tại Việt Nam đại diện cho quyền lực của các vua Hùng, còn trống đồng tại các vùng khác có thể là sở hữu của các Lạc Hầu, Lạc Tướng và các gia đình quý tộc.

    Đây là biểu trưng quyền lực và nhà nước quan trọng của thời kỳ này, tổ chức nhà nước được thể hiện trên trống đồng là cả hai khía cạnh thế quyền và thần quyền.


    1. Trống đồng Sông Đà, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Pháp. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]
    2. Trống đồng Khai Hóa, hiện đang trưng bài tại Bảo tàng Dân tộc học Vienna, Áo. [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]
    3, 4. Trống đồng Hoàng Hạ và trống đồng Ngọc Lũ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam.


    V. Trung tâm của quốc gia Văn Lang theo từng thời kỳ:

    Cư dân tộc Việt sinh sống trải rộng trong vùng phía nam sông Dương Tử tới miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên trung tâm từng thời kỳ có thể có sự thay đổi. Trung tâm của tộc Việt trong giai đoạn 4000 năm dựa trên các tài liệu lịch sử và khảo cổ, được đặt tại miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên, theo các tài liệu di truyền, lịch sử và khảo cổ, thì trung tâm của tộc Việt có thể dịch chuyển lên phía Bắc tại vùng Dương Tử vào thời điểm hơn 3500 trước khi họ di cư trở lại Việt Nam vào khoảng 2700 năm trước, trùng với thời điểm hình thành văn hóa Đông Sơn.

    Tại miền Bắc Việt Nam, trung tâm được đặt tại đây vào các thời điểm hơn 4000 năm trước, khi cuộc di cư của tộc Việt về phía Nam do nạn hạn hán, tính trung tâm được thể hiện trực tiếp qua những chiếc nha chương bằng ngọc được chế tác trực tiếp tại chỗ, là biểu tượng quyền lực nhà nước quan trọng của Đông Á trong thời kỳ đá mới. Tới thời kỳ văn hóa Đông Sơn, thì trung tâm lại tiếp tục được dịch chuyển về miền Bắc Việt Nam, với Việt Nam là trung tâm lan tỏa của văn hóa Đông Sơn, đặc trưng văn hóa Đông Sơn từ trung tâm miền Bắc Việt Nam lan tỏa ra khắp vùng nam Đông Nam Á và Đông Nam Á, với trống đồng vừa là biểu tượng tâm linh vừa là biểu tượng quyền lực chính thống, ở Việt Nam cũng là nơi tập trung nhiều trống lớn và đẹp nhất. Nhưng trung tâm giữa hai giai đoạn này có thể không nằm tại Việt Nam, mà có một cuộc di cư với sự dịch chuyển của trung tâm lên vùng phía Bắc, có nhiều tư liệu hỗ trợ cho giả thiết này của chúng tôi.

    ◊ Sự hòa huyết giữa các cư dân tại vùng Dương Tử:

    Người Việt có gốc ngôn ngữ và văn hóa là người Nam Á trong cả thời văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn, nhưng gen của người Việt ngày nay lại gần các dân tộc thuộc hệ ngữ Tai-Kadai, theo nghiên cứu của Hugh McColl và cộng sự, thì vào thời điểm 2700 năm trước, cuộc di cư của tộc Việt bao gồm cư dân của cả hai hệ ngữ Nam Á và tiền Tai-Kadai. [18]. Theo nghiên cứu di truyền của Hàn Quốc [42c], thì người Việt có gen không bị tác động bởi dòng gen ngoài trong thời điểm trước 2500 năm trước.

    Admixture graph công trình nghiên cứu di truyền của Hàn Quốc đã cho thấy gen người Việt trong thời điểm hơn 2500 năm trước không có sự tác động đáng kể nào của nguồn gen ngoài.



    Qua hai nghiên cứu này, có thể đã diễn ra cuộc di cư của người Việt từ miền Bắc Việt Nam lên vùng Dương Tử, tại vùng Dương Tử thì người Việt nhóm Nam Á và người Việt nhóm tiền Tai-Kadai đã sinh sống trong một cộng đồng chung, có sự hòa huyết với nhau. Về cơ bản, người Việt Nam Á không có sự thay đổi đáng kể trong di truyền, ngôn ngữ và văn hóa, vẫn giữ cốt lõi Nam Á của mình, với 60% gen Nam Á [18], do đây là dòng văn hóa chủ đạo nên có sức ảnh hưởng mạnh trong cộng đồng tộc Việt.

    Tới thời điểm hơn 2700 năm trước, thì người Việt Nam Á và người tiền Tai-Kadai đã cùng di cư về vùng Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam, người Nam Á di cư chủ yếu về miền Bắc Việt Nam, còn người Tai-Kadai phân bố chủ yếu tại vùng biên giới Việt Nam và tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay. Sự hòa huyết đã diễn ra trước thời điểm 2500 năm, có nghĩa có thể cư dân thuộc hai hệ ngữ đã có sự hòa huyết khi còn ở tại vùng Dương Tử, không phải tới khi về Việt Nam và Lĩnh Nam mới diễn ra sự hòa huyết, gợi ý cho chúng ta về cuộc di cư này.

    ◊ Cơ sở từ dữ liệu lịch sử:

    Thư tịch lịch sử cũng ghi lại một chi tiết về việc người Việt dâng chim trĩ trắng tới nhà Chu, chi tiết này được ghi lại đầu tiên trong Thượng thư đại truyện (Đại cáo 尚書大傳 – 大誥, TK 3 TCN), sau cũng được Tiền Hán Thư ghi lại. Truyện Bạch Trĩ trong Lĩnh Nam Chích Quái kể lại một cách chi tiết hơn: “Đời Chu Thành Vương (1042 – 1021 TCN), Hùng Vương sai bề tôi xưng là người Việt Thường đem bạch trĩ sang cống… “.

    Câu chuyện này diễn ra trong giai đoạn khoảng 3000 năm cách ngày nay, thời điểm đó nếu trung tâm tộc Việt ở tại miền Bắc Việt Nam, thì chi tiết này lại trở nên thiếu cơ sở, do không gian địa lý giữa miền Bắc Việt Nam và kinh đô nhà Chu là rất xa xôi, và người Việt và người Hoa Hạ trong giai đoạn này không có quan hệ lệ thuộc như trong thời phong kiến, vậy nên nếu trung tâm của người Việt đang còn ở miền Bắc Việt Nam, thì chi tiết vua Hùng từ phía Nam cử sứ giả tới kinh đô nhà Chu để thông giao với Chu Thành Vương qua hành động cống chim trĩ trắng sẽ khó có được sự lý giải hợp lý. Nhưng nếu người Việt thời điểm đó có trung tâm ở vùng Dương Tử, thì câu chuyện sẽ có một cơ sở thực tế hơn, khi đó không gian sinh sống của hai tộc người là gần nhau, do đó có thể có sự va chạm, lưu truyền thông tin cũng như có thông giao trực tiếp.

    Văn hóa tại vùng Động Đình trong giai đoạn muộn:

    Sau cuộc di cư của người Việt về miền Bắc Việt Nam vào thời điểm hơn 2700 năm trước, thì vẫn có một lượng nhất định cư dân tộc Việt sinh sống tại vùng Động Đình, văn hóa ở đây hoàn toàn tương đồng với văn hóa tại miền Bắc Việt Nam, sự tương đồng còn có phần mạnh hơn so với các vùng khác nếu so sánh cổ vật đặc trưng của miền Bắc Việt Nam (ít thấy tại các vùng khác) như cán dao găm hình người hay muỗng có đặc trưng Đông Sơn.



    Dao găm hình người văn hóa Đông Sơn và vùng Hồ Nam. [Nguồn: 1. Bảo tàng lịch sử Việt Nam; 2. Bảo tàng tỉnh Hồ Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]



    Muỗng đồng tìm thấy tại tỉnh Hồ Nam và muỗng đồng Đông Sơn. [Nguồn: 1. Bảo tàng thành phố Trường Sa, Hồ Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. BST Kiều Quang Chẩn, Vang vọng từ trống Đông Sơn]

    Sự tương đồng còn được thể hiện qua một chi tiết về văn hóa: bài Đông Quân của Khuất Nguyên, được ghi lại vào khoảng thế kỷ 3 TCN, nằm trong tập Cửu Ca, bộ Sở Từ, theo Lăng Thuần Thanh [62], các hoạt động tế lễ được mô tả trong bài thơ này tương hợp với các hình họa trên trống đồng Ngọc Lũ của người Lạc Việt tại miền Bắc Việt Nam.

    Chi tiết này ủng hộ giả thiết về cuộc di cư của tộc Việt di cư trở lại vùng Dương Tử vào thời điểm 3500 năm trước, và sau đó di cư về miền Bắc Việt Nam vào thời điểm hơn 2700 năm trước, sau cuộc di cư này tại vùng Dương Tử vẫn có cư dân ở lại, qua thông tin của Lăng Thuần Thanh, có thể thấy hoạt động văn hóa của cư dân tộc Việt tại đây là giống với các hoa văn của trống đồng Ngọc Lũ, là cơ sở thể hiện các cư dân ở đây phải trực tiếp cùng một nguồn gốc với người Việt tại miền Bắc Việt Nam, bởi văn hóa tộc Việt tuy thống nhất nhưng cũng khá đa dạng, bên cạnh văn hóa chung, thì có sự tồn tại của đặc trưng riêng của từng vùng.


    Ngoài dao găm hình người, thì tại Hồ Nam còn tìm thấy nhiều rìu cân xòe và rìu xéo khác. [63]

    Bên cạnh các cơ sở trên, thì trong cuộc di cư diễn ra vào thời điểm hơn 4000 năm trước do nạn hạn hán tại vùng Dương Tử, thì phần lớn cư dân tộc Việt đã di cư về phía Nam, tản ra Lĩnh Nam, Việt Nam, Đông Nam Á lục địa và hải đảo, do đó nếu không có cuộc di cư trở lại vùng Dương Tử, thì số lượng cư dân tộc Việt tại đây sẽ là không thực sự đáng kể, sẽ khó có khả năng diễn ra cuộc di cư tiếp theo vào thời điểm hơn 2700 năm trước.

    Ở phần dưới, chúng tôi sẽ triển khai thêm các tư liệu về cuộc chiến giữa tộc Việt và nhà Thương trong thời điểm hơn 3000 năm trước tại vùng Dương Tử dựa trên tài liệu khảo cổ, các tài liệu này cũng hỗ trợ cho giả thuyết về sự dịch chuyển của trung tâm tộc Việt trong thời điểm hơn 3500 tới 2700 năm trước.

    Các thông tin dựa trên các nghiên cứu di truyền, khảo cổ, lịch sử và truyền thuyết này là cơ sở để chúng tôi giả thiết về cuộc di cư lên xuống trong vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam của người Việt, trung tâm tộc Việt có thể được dịch chuyển lên vùng Dương Tử vào thời điểm hơn 3500 năm trước khi trở lại Việt Nam vào thời điểm 2700 năm trước. Tuy vậy vẫn cần thêm các nghiên cứu di truyền và khảo cổ để làm rõ thêm về cuộc di cư này.

    VI. Tính thực tế trong địa giới của quốc gia Văn Lang:

    Địa giới của nước Văn Lang có thể còn rộng hơn trong sử sách ghi lại, với những bằng chứng được nêu ra sau đây, do tác giả Phan Anh Dũng khảo cứu và tổng hợp [64]

    – Mặt phía Đông giáp biển Đông Hải, và nam giáp nước Hồ Tôn thì coi như đã rõ ràng.

    – Về mặt phía Bắc, địa giới được xác định tới hồ Động Đình. Theo khảo cứu của Lăng Thuần Thanh, thì vùng Hồ Nam, là nơi sinh sống của người Lạc Việt, theo khảo cứu của mình, ông đã nhận thấy những hoạt động của cư dân vùng này được khắc họa trong bài Đông Quân của Khuất Nguyên giống với các họa họa tiết được khắc họa trên trống đồng Ngọc Lũ của người Lạc Việt ở Việt Nam. Cổ vật tại đây đã thể hiện phong cách chung của cổ vật tộc Việt trong nhiều loại hình.


    Các cổ vật đặc trưng văn hóa tộc Việt được tìm thấy tại tỉnh Hồ Nam. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hồ Nam, Bảo tàng thành phố Trường Sa, dẫn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Nhưng cư dân tộc Việt có thể còn sinh sống ở cả vùng phía Bắc hồ Động Đình. Theo sách Hậu Hán Thư, truyện Tang Cung, thì người Lạc Việt từng cư trú ở tận huyện Trung Lư, thủ phủ là Tương Dương – Phàn Thành, thuộc tỉnh Hồ Bắc, nằm ở phía Bắc hồ Động Đình: “Năm thứ 11 (đời Hán Quang Võ, tức năm 35, trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng 5 năm) Tang Cung đem binh đến huyện Trung Lư (sau là huyện Nam Chương thủ phủ là Tương – Phàn Thị tức Tương Dương và Phàn Thành), đóng đồn (trên đất cư trú của người) Lạc Việt. Lúc đó Công Tôn Thuật (thế lực cát cứ đang chiếm đất Thục) sai tướng Điền Nhung, Nhiệm Mãn ra cự địch với Chinh nam đại tướng quân Sầm Bành ở Kinh môn, Bành nhiều lần đánh mà không thắng (sau Bành bị quân thích khách của Thục giết!), người Việt do đó muốn làm phản theo Thục, Cung binh ít, không đủ lực lượng khống chế.”. [41] Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng diễn ra vào năm 40 SCN, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa này của người Việt, Mã Viện đã đày nhiều gia đình quý tộc Lạc Việt lên vùng hồ Động Đình, tuy nhiên sự kiện được ghi lại trong Hậu Hán thư diễn ra vào khoảng năm 35 SCN, có nghĩa là trước khi cuộc khởi nghĩa hai bà Trưng diễn ra, do đó đây không phải là các gia đình quý tộc Lạc Việt bị đày lên vùng này trong khởi nghĩa hai bà Trưng, mà đã sinh sống tại đây từ trước đó.


    Rìu đồng phong cách tộc Việt được tìm thấy tại tỉnh Hồ Bắc. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    – Về mặt phía Tây giáp Ba Thục, thì Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, vùng đất của quốc gia Ba Thục xưa, cư dân tại đây có tỉ lệ gen M88 là 11,8% (theo Xue, 2006), có nghĩa khoảng 1,18 triệu trong số 10 triệu người Thành Đô có gốc gác M88, M88 là nhóm gen (haplogroup) đặc trưng của người Việt (Kinh) và một số dân tộc có nguồn gốc tộc Việt. Điều này có nghĩa địa bàn sinh sống của cư dân tộc Việt còn có phần lấn sang đất của Ba Thục, chứ không chỉ ở vùng giáp ranh với Ba Thục.

    Nếu lấy kinh đô Phong Châu của nước Văn Lang để định hướng thì Ba Thục lại ở hướng Bắc, nên khi nói phía Tây giáp Ba Thục, thì khi đó đất trung tâm của người Lạc Việt có thể là vùng hồ Động Đình, sự định hướng như vậy sẽ có được sự chính xác hơn. Trung tâm của tộc Việt thời kỳ đó theo huyền sử và khảo cổ học cũng chính là hồ Động Đình, là nơi có văn hóa Thạch Gia Hà, niên đại của văn hóa Thạch Gia Hà cũng gần trùng với mốc thành lập của quốc gia Văn Lang trong huyền sử. Giới hạn phía Tây của văn hóa Thạch Gia Hà cũng giáp với vùng Tứ Xuyên ngày nay.

    Vùng Quý Châu giáp với Ba Thục, nằm ở phía Tây nước Văn Lang cũng là địa bàn sinh sống của cư dân tộc Việt, các loại hình cổ vật tại đây có đặc trưng cổ vật tộc Việt, hoàn toàn tương đồng với các vùng tộc Việt khác.


    Các cổ vật tìm thấy tại tỉnh Quý Châu. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Quý Châu, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Qua đây chúng ta có thể thấy được cơ sở thực tế của địa giới quốc gia Văn Lang được ghi trong huyền sử của tộc Việt.

    VII. Sự biến động lãnh thổ của quốc gia Văn Lang trong từng thời kỳ:

    Lãnh thổ của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đầu có biên giới tương tự như huyền sử Hồng Bàng đã ghi lại, tuy nhiên sau đó thì lãnh thổ của quốc gia Văn Lang đã có sự biến động và thu hẹp dần bởi những cuộc chiến tranh xâm lược của các triều đại Hoa Hạ qua nhiều giai đoạn.

    1. Quốc gia Văn Lang của tộc Việt mất dần lãnh thổ của mình vào những thời điểm nào?

    Khảo cứu trong dã sử và truyền thuyết, thì cuộc chiến tranh đầu tiên của tộc Việt với người Hoa Hạ là trước nhà Ân (Thương), được ghi lại trong truyền thuyết Thánh Gióng, cách ngày nay khoảng 3200 năm, nhà Thương đã đánh xuống lãnh thổ của tộc Việt tại vùng Động Đình, Dương Tử, tới cuối cuộc chiến, họ đã chiếm được vùng hạ lưu Dương Tử và tỉnh Phúc Kiến, sau đó là vùng phía Bắc hồ Động Đình (Hồ Bắc), các vùng đất này sau được nhà Chu phân phong cho các chư hầu của mình, trở thành các quốc gia Sở, Ngô, Ư Việt.

    [​IMG]
    Bản đồ Văn Lang, Lạc Việt sau 3000 năm cách ngày nay, sau khi mất phần Dương Tử (và cả Động Đình) cho nhà Thương.

    Thời kỳ sau đó, nước Sở cũng đã tiến hành lấn chiếm dần dần đất Việt, trong đó bao gồm các vùng Hồ Nam, Vân Nam, vùng Quý Châu có thể được chiếm bởi nhà Tần hoặc nhà Sở cùng thời điểm với cuộc hành quân của tướng Sở Trang Kiểu vào vùng Vân Nam. Tới thời nhà Tần, vào khoảng 2200 năm trước, Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất bắc Đông Á đã tổ chức một cuộc xâm lược quy mô vào các vùng đất còn lại của tộc Việt, khiến tộc Việt chỉ còn lại duy nhất đất Bắc Việt Nam. Và tại các vùng đất nhà Tần chiếm được, sau khi nước Tần sụp đổ, đã được Triệu Đà lập nên quốc gia Nam Việt trên địa bàn của đất Việt cũ. Sau đó, Triệu Đà cũng đã dùng mưu chiếm nốt phần đất còn lại của quốc gia Văn Lang là miền Bắc Việt Nam (thời điểm đó là Tây Âu Lạc). Đất Việt gần như mất hẳn từ đó.

    Bảng phân tích thời điểm thành lập của các quốc gia Nam Đông Á.

    Tên nước Thời điểm thành lập
    Các quốc gia được lập bởi chư hầu nhà Chu

    Ngô 1200 TCN
    Sở 1030 TCN
    Ư Việt 1000 TCN
    Các quốc gia hậu duệ Ư Việt
    Đông Âu 191 TCN
    Mân Việt 334 TCN
    Các quốc gia tách khỏi đất Việt thời Sở – Tần
    Tây Âu (Văn Lang) 257 TCN
    Âu Lạc 218 TCN
    Điền Việt (Sở) ~ 200 TCN
    Dạ Lang (Tần) ~ 200 TCN
    Nam Việt (Tần) 204 TCN
    [​IMG]
    Bản đồ các tiểu quốc tách ra từ nước Văn Lang. Tây Âu Lạc, kế thừa lãnh thổ còn lại của nước Văn Lang bao gồm Lưỡng Quảng, Hải Nam và miền Bắc Việt Nam.

    Phân tích quá trình mất đất của tộc Việt: Các vùng đất ở cực Bắc đất Việt bao gồm các tỉnh ngày nay là Hồ Bắc, Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến bị chiếm bởi nhà Thương và được nhà Chu phong cho quý tộc của triều đại này (~1000 TCN), sau đó trở thành các quốc gia chư hầu của nhà Chu: Sở, Ngô, Ư Việt tương ứng với các vùng phía Bắc Động Đình và hạ lưu Dương Tử. Các quốc gia như Đông Âu, Mân Việt được thành lập bởi hậu duệ Ư Việt (~3-200 TCN). Sau đó Sở-Tần chiếm các vùng Hồ Nam, Vân Nam (Điền Việt) và Quý Châu (Dạ Lang) (~200 TCN). Lãnh thổ của quốc gia Văn Lang khi đó còn lại vùng Lưỡng Quảng, Hải Nam và miền Bắc Việt Nam. An Dương Vương, một thủ lĩnh trên đất của các vua Hùng, nhân triều Hùng Vương suy yếu đã nổi lên giành ngôi và đổi tên nước thành Tây Âu Lạc (257 TCN). Tần đánh xuống Tây Âu Lạc, khiến đất của người Việt chỉ còn lại vùng miền Bắc Việt Nam (Âu Lạc). Tại đất nhà Tần chiếm được, Triệu Đà lập nên quốc gia Nam Việt (204 TCN). Sau đó quốc gia Âu Lạc cũng mất nước về quốc gia Nam Việt của Triệu Đà.

    2. Các địa danh của các vùng tộc Việt và những biến động của lịch sử:

    Tộc Việt có lãnh thổ bao trùm trong vùng nam Đông Á, đúng trong địa bàn có sự phân bố của các cư dân tộc Việt và trong các thư tịch lịch sử có ghi nhận về cộng đồng tộc Việt. Những bước chân xâm lược của người Hoa Hạ đã làm tan rã cộng đồng tộc Việt, hình thành các tiểu quốc, với các quốc danh sau đó trở thành tộc danh.

    a. Tây Âu, Đông Âu và Mân Việt:

    Đầu tiên là Tây Âu, cái tên Tây Âu lần đầu tiên được ghi trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, phần Nam Việt Úy Đà liệt truyện, trong chi tiết ghi về việc Triệu Đà sử dụng của cải để buộc người Việt tại các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc phải lệ thuộc theo mình.

    “Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình.” [40]

    Tây Âu (Lạc) thời điểm này đã bị thu hẹp vào không gian miền Bắc Việt Nam, khi nhà Tần đã chiếm thành công vùng Lĩnh Nam, sau đó Triệu Đà thành lập nước Nam Việt trên vùng lãnh thổ này. Sách Dư địa chí của Cố Dã Vương có ghi rõ hơn về cái tên Tây Âu:

    Sách Dư địa chí của Cố Dã Vương 顾野王 (519 – 581) đã viết như sau: “ 交趾,周时为骆越,秦时曰西瓯。”- “Giao Chỉ, Chu thời vi Lạc Việt, Tần thời viết Tây Âu” [41]

    Giao Chỉ là cái tên gắn liền với sự biến động lãnh thổ của tộc Việt mà chúng tôi sẽ dẫn ra ở phần sau đây, tới thời nhà Tần, thì Giao Chỉ tương ứng với Tây Âu, có nghĩa khi đó vẫn bao gồm cả vùng Lĩnh Nam, miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam. Do đó cái tên Tây Âu bắt đầu xuất hiện vào thời nhà Tần.

    Bên cạnh cái tên Tây Âu, thì trong Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng nhắc tới Đông Âu. Đông Âu ở đây phân bố ở vùng Chiết Giang, phía trên nước Mân Việt. Đông Âu cũng chính là Âu Việt, do đó Âu Việt được dùng để chỉ người Việt tại vùng Chiết Giang, người Việt tại vùng Quảng Tây được gọi là Tây Âu.

    “Từ đó về sau, bọn Nghiêm Trợ, Chu Mãi Thần gọi dân Đông Âu đến và theo đuổi hai nước Việt.”. [Nhữ Thành chú thêm trong bản dịch: “Vua Đông Âu bị vua Mân Việt đánh, Vũ Đế cho di 4 vạn người Đông Âu vào giữa miền sông Trường Giang và sông Hoài. Hai nước là Mân Việt Đô ở Phúc Châu và Nam Việt Đô ở Quảng Châu.”] [43]

    Các quốc gia Đông Âu và Mân Việt được thành lập bởi hậu duệ của Ư Việt. Về thời điểm xuất hiện và thành lập của quốc gia này chúng tôi đã ghi chú rõ trong bản đồ phía trên. Các quốc gia này được thành lập với sự di cư về của hoàng tộc nước Việt, kết hợp với cư dân Việt bản địa để hình thành các quốc gia Đông Âu và Mân Việt tại các vùng Chiết Giang và Phúc Kiến. Sử sách có ghi rất rõ về nguồn gốc của nước Mân Việt, vua nước này là hậu duệ của Việt Vương Câu Tiễn.

    “閩越王無諸及越東海王搖者其先皆越王句踐之後也姓騶氏。【集解】徐廣曰「騶一作『駱』。」【索隱】徐廣云一作「駱」是上云「歐駱」不姓騶。” – “Vua nước Mân Việt tên là Vô Chư cùng vua nước Đông Hải người Việt tên là Dao có tổ tiên đều là dòng dõi của vua nước Việt tên là Câu Tiễn, mang họ Sô.

    [Sử Ký, Tư Mã Thiên, Đông Việt liệt truyện, dịch bởi Tích Dã]

    Chúng tôi muốn bàn kỹ hơn về “Đông Âu” và “Tây Âu”, đây là tên của hai địa danh có liên hệ trực tiếp với nhau. Tây Âu và Đông Âu ngăn cách với nhau bởi dãy Ngũ Lĩnh, dãy núi chạy ngang phía Bắc vùng Lưỡng Quảng ngày nay, “Âu” trong “Tây Âu” và “Đông Âu” là núi, “Tây Âu” là phía Tây của núi, và “Đông Âu” là phía đông của núi, núi ở đây là dãy Ngũ Lĩnh, đây là những cái tên được sử dụng để chỉ địa danh, sau đó trở thành tên nước và cuối cùng là trở thành tộc danh. Điều này cũng có nghĩa những cái tên này vốn đã được người Việt đặt từ trước đó khi còn thống nhất, sau đó trở thành quốc danh và tộc danh khi các vùng này tách khỏi tộc Việt.

    b. Điền Việt:

    Điền Việt cũng là một cái tên xuất hiện muộn, nó được ghi sớm nhất trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, trong phần Hóa thực liệt truyện.

    “… Ông cả mừng, kịp đến nơi ông tìm được quặng sắt trong núi, bèn bắt tay vào nấu quặng và tính toán việc doanh lợi, chẳng mấy chốc đứng đầu nghề buôn trong đám dân Điền và Thục.” [44]

    Trong phần Tây Nam di liệt truyện có ghi rõ hơn về nước Điền.

    Phía tây nước ấy có hàng chục quân trưởng người Mi Mạc,[Chính nghĩa: Ở phía nam đất Thục xuống phía dưới về phía tây. Huyện Mi Phi ở phía bắc châu Diêu, cách tây kinh bốn ngàn chín trăm ba mươi lăm dặm về phía nam là chỗ của người rợ Mi Mạc. Sách ẩn: Là tên ấp của người Di, quân trưởng ấp này cùng họ với quân trưởng nước Điền.] lớn nhất là quân trưởng nước Điền. [Tập giải: Như Thuần nói: Điền, đọc là ‘điên’. Ngựa điên có từ nước này.” Sách ẩn: Thôi Hạo nói: “Sau đặt thành huyện, là chỗ mà quan Thái thú quận Việt Tủy đóng sở trị.” Chính nghĩa: Các châu Côn-Lang vốn là nước Điền, cách tây kinh năm ngàn ba trăm bảy chục dặm.] Có hàng chục quân trưởng ở chỗ từ nước Điền lên phía bắc, lớn nhất là quân trưởng nước Cung Đô, người ở đây đều búi tóc, cày ruộng, có làng ấp.” [65]

    Tướng nước Sở Trang Kiểu sau đó đã đánh xuống vùng đất này, chi tiết này cũng được Sử Ký của Tư Mã Thiên, phần Tây Nam Di liệt truyện chép lại khá chi tiết.

    Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Cược (Trang Kiểu) đem quân ngược theo sông Giang đánh lấy các nước từ quận Ba-Thục-Kiềm Trung về phía tây. [Chính nghĩa: Đọc là ‘kì lược’ phiên. Các châu Lang-Côn là chỗ mà Trang Cược làm vua.] Trang Cược vốn là dòng dõi của Trang Vương nước Sở. [Sách ẩn: Cược, đọc là ‘cự chước’ phiên. Là em của Trang Vương nước Sở, từng làm kẻ cướp.] Cược đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, [Sách ẩn: Địa lí chí chép: “Quận Ích Châu có huyện Điền Trì, có đầm ở phía tây bắc.” Hậu Hán thư chép: “Nguồn nước đầm này sâu rộng, lại đổi thành nông hẹp như dòng nước chảy ngược, cho nên gọi là đầm Điền.”] bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba-Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu.” [65]

    Điền Việt tách ra khỏi tộc Việt khi tướng nước Sở là Trang Kiểu đánh chiếm và cai trị vùng này vào năm 278 TCN, lập nên Vương quốc Điền, sau khi nước Sở sụp đổ. Cái tên Điền được giả thuyết vốn có nguồn gốc từ hồ Điền Trì, tên hồ đã trở thành quốc danh và sau đó là tộc danh. Đây cũng là một cái tên xuất hiện muộn trong lịch sử, bắt đầu xuất hiện khi người Điền Việt tách khỏi vùng đất của tộc Việt.

    c. Dạ Lang:

    Dạ Lang có vùng phân bố tại tỉnh Quý Châu, vương quốc Dạ Lang thành lập khi các quốc gia Hoa Hạ tiến hành lấn chiếm xuống vùng Quý Châu, Vân Nam và Hồ Nam của tộc Việt. Trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, phần Tây Nam Di liệt truyện cũng có ghi rất rõ về nước này:

    Có hàng chục quân trưởng người Di ở miền tây nam, [Chính nghĩa: Ở phía nam của quận Thục.] trong đó lớn nhất là quân trưởng nước Dạ Lang. [Sách ẩn: Tuân Duyệt nói: “Là nước thuộc quận Kiền Vi.” Vi Chiêu nói: “Nhà Hán đặt thành huyện, thuộc quận Tang Kha.” Xét: Hậu Hán thư chép: “Nước Dạ Lang phía đông liền quận Giao Chỉ, nước này ở phía nam hồ, có quân trưởng vốn sinh ra từ cây tre, nhân đó lấy làm họ Trúc.” Chính nghĩa: Là các châu Khúc-Hiệp ở bờ nam sông lớn của châu Lư, vốn là nước Dạ Lang.]” [65]

    Quốc gia và tên gọi Dạ Lang cũng xuất hiện muộn trong lịch sử khi vùng này bị quốc gia Hoa Hạ chiếm, tới thời nhà Hán, thì quốc gia này vẫn còn tồn tại, hậu duệ của họ là người Bố Y vẫn nhận là người Lạc Việt, và tự cho mình có nguồn gốc từ nước Dạ Lang.

    Về vấn đề nước Dạ Lang được thành lập bởi quý tộc của quốc gia nào, thì theo các tư liệu tản mác, có nhiều khả năng tướng nước Sở là Trang Kiểu đã không trực tiếp chiếm vùng Dạ Lang, mà ông sử dụng lối vòng qua vùng đất này để tiến vào vùng Vân Nam. Vùng Ba Thục trước khi tướng Sở Trang Kiểu đưa quân xuống đã bị nước Tần chiếm, sau khi tướng Sở Trang Kiểu xuống thành công vùng Vân Nam, thì ngay sau đó quân nhà Tần đã chiếm lấy vùng Quý Châu, từ đó mới cắt đứt đường duy nhất về nước Sở của đoàn quân Trang Kiểu, nên Trang Kiểu đã tự lập mình làm vua của Điền Việt. Nước Dạ Lang được thành lập bởi tướng nước Tần sau khi nhà Tần sụp đổ, hiện trạng cũng tương tự như quốc gia Nam Việt của Triệu Đà.

    d. Kết luận:

    Như vậy thông qua việc khảo cứu các tên gọi được xem như các tên để chỉ các vùng tộc Việt, thì đây đều là những cái tên xuất hiện muộn, xuất phát từ các địa danh, sau đó trở thành quốc danh khi các vùng này tách khỏi tộc Việt và trở thành tộc danh.

    3. Nước Việt và vùng Chiết Giang với văn hóa tộc Việt:

    Nước Việt có nguồn gốc từ vùng đất mà nhà Thương đã chiếm được của tộc Việt ở vùng hạ lưu Dương Tử, các tài liệu khảo cổ và lịch sử đã cho thấy rất rõ yếu tố văn hóa Việt tại vùng Chiết Giang.

    Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, thì vùng Cối Kê được phân phong cho tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn, trước đó vùng đất này là của người Việt, nơi có người Việt sinh sống, nên khi được phong cho vùng đất này, “con thứ hai của vua Thiếu Khang đời nhà Hạ” đã “xăm mình, cắt tóc” theo phong tục của tộc Việt, hòa đồng với người Việt tại đó để lập quốc.

    “Tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Vũ, con thứ hai của vua Thiếu Khang đời nhà Hạ, được phong ở đất Cối Kê để lo việc phụng thờ vua Vũ, xăm mình, cắt tóc, phát cỏ mà lập ấp.” [40]

    Các tài liệu khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của văn hóa tộc Việt trong dòng văn hóa nước Việt, với chiếc rìu có phong cách đặc trưng tộc Việt và tượng người xăm mình, cắt tóc và có cả dạng búi tóc.


    Rìu đồng cân xòe phong cách tộc Việt tìm thấy tại tỉnh Chiết Giang. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Chiết Giang, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]


    Tượng người Việt xăm mình, búi tóc tại Chiết Giang, Trung Quốc. [Nguồn: Gary Todd, Bảo tàng tỉnh Chiết Giang]

    Những tài liệu này cho chúng ta thấy rất rõ tiến trình lịch sử khi người Hoa Hạ thời nhà Thương chiếm được vùng Hồ Bắc và hạ lưu Dương Tử, các vùng đất này được nhà Chu phân phong cho chư hầu, trở thành các quốc gia Sở, Ngô, Việt, với sự hòa trộn giữa văn hóa Hoa Hạ và văn hóa tộc Việt, trong đó văn hóa tộc Việt có sức ảnh hưởng mạnh, đủ để khiến vua nước Sở là Sở Hùng Cừ tự nhận định: “Ta là man di không cùng hiệu thụy với Trung Quốc” [68]. Man di là cách gọi có tính miệt thị của người Hoa Hạ đối với người Việt, tuy nhiên đoạn trích cũng cho chúng ta thấy được tư tưởng của vua nước Sở đã bị ảnh hưởng nhất định của văn hóa tộc Việt.

    4. Cuộc chiến tranh của tộc Việt và nhà Thương qua các tư liệu khảo cổ hiện có:

    Vào thời điểm hơn 3300 năm trước, tộc Việt và tộc Hoa đã có sự xung đột về lãnh thổ, thời điểm đó triều đại của Hoa Hạ là nhà Thương (Ân). Sự xung đột này thể hiện rất rõ trong thực tế khảo cổ học tại vùng Hồ Bắc, khi các nhà nghiên cứu khảo cổ Trung Quốc đã tìm thấy văn hóa Bàn Long Thành (Panlongcheng, 1500 – 1300 BC) tại vùng Hồ Bắc, nằm trong vùng trung lưu Dương Tử, đây là trung tâm của tộc Việt trong thời điểm hơn 4000 năm trước, tuy nhiên nạn hạn hán xảy ra vào thời điểm này đã khiến cư dân tộc Việt phải di cư xuống Lĩnh Nam, Việt Nam và tản ra vùng Đông Nam Á lục địa [17][18], sau đó người Hoa Hạ đã chiếm vùng đất này, nhà Thương đã đưa cư dân của mình di cư xuống vùng này để hình thành nên văn hóa Bàn Long Thành. Theo các nhà nghiên cứu, thì cổ vật văn hóa Bàn Long Thành có nguồn gốc từ cổ vật nhà Thương trong thời văn hóa Nhị Lý Cương (Erligang, 1510 – 1460 BC). [68]


    Cổ vật văn hóa Nhị Lý Cương tại Hà Nam và cổ vật tại văn hóa Bàn Long Thành tại tỉnh Hồ Bắc. [68]

    Văn hóa này chỉ tồn tại được trong 200 năm, bởi thời điểm sau đó trung tâm tộc Việt đã được chuyển trở lại lên vùng Động Đình, Dương Tử trong khoảng 3500 năm trước mà chúng tôi đã chứng minh trong một bài viết khác [69], cuộc chiến tranh đã diễn ra giữa tộc Việt và tộc Hoa, thời điểm đó vùng Hồ Bắc đã được tộc Việt chiếm lại, đồng thời với sự biến mất của văn hóa Bàn Long Thành vào thời điểm hơn 3300 năm trước. Trong thời điểm đó thì nhà Thương rất mạnh, tuy nhiên tộc Việt cũng có sức mạnh tương đương có thể đánh bại nhà Thương trong cuộc chiến tranh bảo vệ lãnh thổ.

    [​IMG]
    Bản đồ biểu thị lãnh thổ của nhà Thương qua từng giai đoạn: màu đỏ đại diện cho giai đoạn Nhị Lý Đầu (Erlitou), màu vàng đại diện cho giai đoạn Nhị Lý Cương (Erligang), màu tím đại diện cho giai đoạn An Dương (Anyang). Tới thời An Dương thì vùng Hồ Bắc không còn nằm trong sự kiểm soát của nhà Thương. [Nguồn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Phải tới cuối thời Thương, thì người Hoa Hạ mới chiếm được vùng Hồ Bắc của tộc Việt, sau đó được nhà Chu phân phong cho chư hầu, trở thành nước Sở. Mất đi vùng nông nghiệp lúa nước rộng lớn này khiến tộc Việt suy yếu, tộc Hoa bắt đầu mạnh lên và đẩy lùi tộc Việt dần dần phải di cư về phía Nam.

    5. Văn hóa Ngô Thành và sự biến động lãnh thổ của tộc Việt ở vùng Dương Tử:

    Văn hóa Ngô Thành (Wucheng, 1500 – 1000 BC), phân bố tại tỉnh Giang Tây, Trung Quốc ngày nay là một nền văn hóa lớn trong thời kỳ đồ đồng đã được tìm thấy trong vùng Dương Tử, bên cạnh các văn hóa Bàn Long Thành và văn hóa Tam Tinh Đôi. Văn hóa Bàn Long Thành (Panlongcheng, 1500 – 1300 BC) tại tỉnh Hồ Bắc như chúng tôi đã đề cập ở phần trên, có cổ vật đặc trưng của nhà Thương, tại đây có thể là nơi có cư dân nhà Thương di cư xuống vào thời điểm 3500 năm trước, sau khi tộc Việt di cư phần lớn về phía Nam. Bên cạnh văn hóa này, thì văn hóa Ngô Thành cũng là một văn hóa rất đáng chú ý, nó nằm tại vùng trung và hạ lưu Dương Tử, đây vốn là một trong những trung tâm phát triển của tộc Việt.


    Rìu đồng văn hóa Ngô Thành (1) và rìu đồng văn hóa Đồng Đậu (2). [70]


    Rìu cân xòe cùng với công cụ lao động của văn hóa Ngô Thành (A) và văn hóa Đồng Đậu (B), có thể thấy rất rõ đặc trưng của văn hóa tộc Việt trên các cổ vật này của văn hóa Ngô Thành. [Nguồn: 1. [70]; 2. [71]]

    Theo các kết quả khảo cổ, thì các cổ vật tại đây có đặc trưng riêng biệt, có dấu ấn rất rõ nét của văn hóa tộc Việt, trong đó các cổ vật Ngô Thành có sự liên hệ với các cổ vật của văn hóa Đồng Đậu tại miền Bắc Việt Nam trên một số loại hình quan trọng như rìu và công cụ lao động, một số loại hình như trang sức, đồ ngọc có liên hệ với các văn hóa lớn tại miền Bắc Việt Nam là Phùng Nguyên và Đông Sơn. [70]

    Tại văn hóa này cũng ít thấy cổ vật có đặc trưng của nhà Thương, không như văn hóa Bàn Long Thành, tại các di chỉ Ngô Thành chỉ tìm thấy một số chiếc chén uống rượu sừng trâu (được gọi là Quang) và một số cổ vật khác có đặc trưng cổ vật Hoa Bắc, theo nghiên cứu của S.V. Lapteff, thì các cổ vật này giống với các cổ vật của nhà Thương, chúng có thể xuất hiện tại đây theo con đường giao thương. Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện các cổ vật, thì văn hóa này không phải là văn hóa của nhà Thương, mà do cư dân tộc Việt phương Nam kiến tạo nên. [70]


    Tượng người bằng ngọc văn hóa Ngô Thành và tượng người cõng có phong cách tương đồng của văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Giang Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Bảo tàng lịch sử quốc gia, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]


    Khuyên tai ngọc hình vành khăn văn hóa Ngô Thành và khuyên tai ngọc văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: 1. Bảo tàng tỉnh Giang Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. [72]]

    Như chúng tôi đã đề xuất ở phần trên, thì có thể đã có một cuộc di cư của cư dân tộc Việt lên vùng Dương Tử vào thời điểm 3500 năm trước, sau cuộc chiến tranh với nhà Thương thì tộc Việt đã chiếm lại được vùng Hồ Bắc. Trong cuộc di cư lên phía Bắc cư dân tộc Việt có thể phân bố trải dài trong vùng trung và hạ lưu Dương Tử, trong đó bao gồm cả tỉnh Giang Tây, văn hóa Ngô Thành thể hiện một sự phức tạp hơn trong giai đoạn này, có sự giao lưu văn hoá với nhà Thương, thêm vào đó có thể có cả sự giao lưu với văn hóa Tam Tinh Đôi tại vùng Ba Thục với sự xuất hiện của mặt nạ văn hóa này tại vùng phân bố văn hóa Ngô Thành. Thời điểm bắt đầu của văn hóa này cũng tương ứng với thời điểm di cư lên của tộc Việt (1500 BC), thời điểm biến mất của nền văn hóa này là khoảng hơn 1000 năm trước công nguyên, sau đó được thay thế bằng các di tích với đặc trưng của nhà Thương, sau đó là cổ vật Chu, triều đại kế thừa trực tiếp từ nhà Thương. [70]


    Tượng trâu của văn hóa Ngô Thành (1) cũng là một hình tượng có đặc trưng văn hóa tộc Việt được kế thừa trong giai đoạn sau, như ở văn hóa Điền Việt (2) và văn hóa Đông Sơn (ảnh dưới). [Nguồn: 1. [70]; 2. Bảo tàng Barbier-Mueller, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]


    Qua ngọc văn hóa Ngô Thành và qua ngọc văn hóa Phùng Nguyên. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Giang Tây, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Gary Todd, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Tạm thời qua các thông tin hiện có, thì chúng tôi đưa ra giả thuyết văn hóa Ngô Thành là một nền văn hóa của tộc Việt sau khi di cư lên vùng phía Bắc, văn hóa này đã có sự giao lưu mạnh với các văn hóa thời đồ đồng trong vùng Đông Á là nhà Thương và văn hóa Tam Tinh Đôi của Ba Thục. Tới thời điểm 3000 năm trước, thì vùng Giang Tây có thể đã bị người Hoa Hạ chiếm vào cuối thời nhà Thương, là nguyên nhân trực tiếp khiến nền văn hóa này biến mất, theo đó vùng ảnh hưởng của tộc Việt bị thu hẹp lại, nhà Thương sau đó đã đưa cư dân xuống vùng này, đem theo đặc trưng văn hóa Thương trong cổ vật các vùng khác tại Giang Tây trong giai đoạn sau. Vùng đất này sau được nhà Chu phân phong cho chư hầu, sau trở thành lãnh thổ của các quốc gia chư hầu nhà Chu trong thời kỳ Xuân Thu tại vùng Hoa Bắc, cổ vật tại đây bắt đầu có sự xuất hiện của đặc trưng nhà Chu.

    Tuy nhiên chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn để xác định mối liên hệ của văn hóa này với văn hóa chung của tộc Việt trong thời đồ đồng và xác định vị trí của Ngô Thành với tiến trình phát triển chung của nền văn hóa tộc Việt, bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng đây mới chỉ là một trong số các nền văn hóa trong thời kỳ đồ đồng tại vùng Dương Tử, qua cuộc di cư của tộc Việt được giả thiết dựa trên nhiều yếu tố, thì có cơ sở để cho rằng tại vùng Dương Tử còn nhiều di tích khác trong thời kỳ đồ đồng chưa được khám phá và khai quật, hy vọng những cuộc khai quật và tìm kiếm trong tương lai tại các văn hóa vùng Dương Tử sẽ cung cấp thêm cho chúng ta thông tin về văn hóa tộc Việt tại vùng này trong giai đoạn 3500 – 2700 năm trước ngày nay.

    6. Giao Chỉ ứng với địa giới thực tế của quốc gia Văn Lang trong từng thời kỳ:

    Giao Chỉ là một địa danh gắn với cộng đồng người Việt qua nhiều giai đoạn lịch sử, chúng tôi nhận thấy Giao Chỉ cũng là một khái niệm thể hiện sự thay đổi lãnh thổ của quốc gia Văn Lang trong từng thời kỳ.

    Giao Chỉ lần đầu tiên được ghi lại qua danh từ “Nam Giao” trong các sách Thượng Thư, thiên Nghiêu Điển và Sử Ký, mục Đế Nghiêu, xuất hiện vào thời vua Nghiêu (2356-2255 TCN), theo Tư Mã Trinh thì Nam Giao cũng là Giao Chỉ. [49]

    Hàn Phi Tử thiên Thập quá: “Ngày xưa vua Nghiêu có thiên hạ, ăn bằng bát đất (quỷ), uống bằng liễn đất (hình), địa giới phương nam đến đất Giao Chỉ, phương Bắc đến đất U Đô, phương đông, phương tây đến tận nơi mặt trời lặn mọc, tất thảy đều phục tùng.” [49]

    Hoài Nam Tử, thiên Tu vụ huấn: “Vua Nghiêu lên làm vua, hiếu từ nhân ái, khiến dân như con em, phương Tây dạy mán ốc dân, phương Đông đến mán Hắc xỉ, phương Bắc vỗ về đất U Đô, phương Nam thông nước Giao Chỉ.” [49]

    Khi đó, nhà Hạ của Nghiêu, Thuấn có lãnh thổ nằm ở vùng Bắc Đông Á, đất Giao Chỉ được ghi lại trong sách Hàn Phi Tử và Hoài Nam Tử khi đó tiếp giáp vùng của nhà Hạ kéo dài tới vùng Động Đình, Dương Tử. Lãnh thổ của tộc Việt thời kỳ đó cũng tương ứng với khái niệm Giao Chỉ, phía Bắc cũng tới hồ Động Đình.

    Lã Thị Xuân Thu, thiên Thận Hành Luận, viết về lãnh thổ thời Hạ Vũ: 南至交阯孫樸續樠之國丹粟漆樹沸水漂漂九陽之山羽人裸民之處 – “Phía nam đến các nước Giao Chỉ, Tôn Bốc, Tục Man, các núi Đan Túc, Tất Thụ, Phất Thủy, Phiêu Phiêu, Cửu Dương, các xứ Vũ Nhân, Khỏa Dân, hương Bất Tử.” [Bản dịch của Quốc Bảo]

    Tới thời Hạ Vũ, thì đất của người Việt vẫn tới hồ Động Đình, chưa có sự biến động về lãnh thổ, Giao Chỉ khi đó được gọi là một nước, tương ứng với quốc gia của người Việt trong thời điểm đó.

    Tuy nhiên giai đoạn nhà Thương, thì tộc Việt mất các vùng hạ lưu Dương Tử và phía Bắc hồ Động Đình (Hồ Bắc) về nhà Thương, tới thời Chu, thì địa giới Việt là bao gồm các vùng từ phía nam hồ Động Đình cho tới miền Bắc Việt Nam.

    Dư địa chí của Cố Dã Vương đã viết như sau: 交趾,周时为骆越,秦时曰西瓯。”- “Giao Chỉ, Chu thời vi Lạc Việt, Tần thời viết Tây Âu”. [41]

    Tới thời nhà Tần, thì lãnh thổ tộc Việt chỉ còn lại vùng Lưỡng Quảng, miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam, Giao Chỉ: Tần thời viết Tây Âu, đã thể hiện sự thu hẹp tương ứng của khái niệm Giao Chỉ với lãnh thổ của nước Văn Lang, khi đó nước Việt là nước Tây Âu, là nhà nước mà An Dương Vương đã lập nên sau khi giành ngôi của vị vua Hùng cuối cùng.

    Tới khi nhà Tần chiếm được Lưỡng Quảng, đất Việt chỉ còn lại vùng miền Bắc Việt Nam, thì khái niệm Giao Chỉ cũng bị thu hẹp lại, được dùng để chỉ vùng miền Bắc Việt Nam. Sau đó Triệu Đà, quan đô hộ nhà Tần lập nên quốc gia Nam Việt, lập ra quận Giao Chỉ tương ứng với miền Bắc Việt Nam.

    Tới thời nhà Hán, thì Giao Chỉ được dùng với 2 khái niệm: Giao Chỉ bộ, chỉ toàn bộ vùng đất Tây Âu cũ (Lưỡng Quảng, miền Bắc Việt Nam, Hải Nam), Giao Chỉ quận, dùng để chỉ các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng.

    Khái niệm Giao Chỉ trong thư tịch lịch sử được sử dụng tương ứng với sự thay đổi trong lãnh thổ của quốc gia Văn Lang. Phải chăng Giao Chỉ là khái niệm tương đương với vùng đất, và có ý nghĩa nào đó quan trọng với người Việt?

    7. Chiến tranh xâm lược của nước Sở vào lãnh thổ tộc Việt theo tài liệu lịch sử [73]:

    Các tài liệu lịch sử đã thể hiện rất rõ cuộc chiến tranh xâm lược của người Hoa Hạ vào đất Hồ Nam của tộc Việt, khi họ gọi vùng đất của tộc Việt là Dương Việt.

    Chiến Quốc sách, khi viết về Ngô Khởi (440 TCN – 381 TCN) đã ghi lại: 南攻楊越,北並陳、蔡… (Nam đánh Dương Việt, Bắc thôn tính Trần, Sái…). Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng chép: “Hùng Cừ (vua Sở) rất được lòng dân miền Giang Hán, liền đem quân đánh các nước Dung, Dương Việt.”. [74]

    Các nước Ngô, Việt nằm ở phía Đông của nước Sở, nên việc “Nam đánh Dương Việt” không thể là vùng Ngô, Việt, mà phía Nam của nước Sở thời kỳ đó là vùng Hồ Nam ngày nay, khi đó vẫn còn là đất của tộc Việt.

    Theo ngữ âm lịch sử, với tư liệu phục nguyên của Trịnh Trương Thượng Phương và Phan Ngộ Vân, thì các chữ dương 陽 và 楊 là giống nhau và trùng với âm “lang”, còn tác giả Vương Lực thì còn phục nguyên có giới âm -i- tức đọc gần như “lương”. Như vậy tên nước Dương Việt 楊越 trong thư tịch cổ của Trung Quốc cũng đọc là Lang Việt, cũng chính là Văn Lang theo các tư liệu lịch sử.

    Chiến Quốc sách khi ghi về cuộc chiến với tộc Việt, họ ghi bằng chữ “đánh”, chứ không dùng chữ “thôn tính” như với các quốc gia Trần, Sái, có nghĩa họ chiếm được vùng đất Hồ Nam nhưng đất đai của người Việt vẫn còn rộng, quốc gia Văn Lang vẫn chưa bị tiêu diệt. Từ thời Ngô Khởi, nước Sở đã trở nên rất hùng mạnh, sau thời Ngô Khởi gần 50 năm, họ đã diệt nước Việt (khi đó đã thôn tính cả nước Ngô) vào năm 334 TCN, mở rộng bờ cõi ra vùng hạ lưu Dương Tử. Nước Sở đã chiếm hết vùng hạ lưu sông Dương Tử rộng lớn, nhưng vẫn không thôn tính được nước Văn Lang (Dương Việt), chứng tỏ nước Văn Lang cũng là một quốc gia hùng mạnh và phát triển không thua kém nước Sở. Nhưng sau đó nước Sở cũng đã chiếm được vùng Hồ Nam.

    [​IMG]
    Bản đồ minh họa vị trí của vùng phía Bắc hồ Động Đình, trung tâm nước Sở và phía Nam hồ Động Đình của tộc Việt. [Nguồn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Trong lịch sử, người Hoa Hạ vào thời nhà Sở vẫn ghi lại rằng vùng Hồ Nam là đất của người Man (đây là một cách gọi có tính miệt thị của người Hoa Hạ với người Việt), Khuất Nguyên sau đó đã bị đày tới đây và sáng tác nên tập Ly Tao, trong đó có bài Đông Quân được Lăng Thuần Thanh xác định đã mô tả lại chính xác các hoạt động của cư dân tộc Việt, tương ứng với các hình ảnh được minh họa trên trống đồng Ngọc Lũ, do đó khi họ chiếm được đất Hồ Nam, cho tới thời Khuất Nguyên, tại đây vẫn cơ bản là nơi sinh sống của cư dân tộc Việt. [75]

    Sử Ký của Tư Mã Thiên viết 秦時已并天下,略定楊越,置桂林、南海、象郡 (Thời Tần thôn tính thiên hạ, lược định Dương Việt đặt làm các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận). Theo nội dung câu văn thì Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận là đất Dương Việt tức Lang Việt hay Văn Lang. Thời điểm nhà Tần đánh xuống đất của người Việt, họ mới chỉ chiếm được vùng Lưỡng Quảng và đảo Hải Nam, do đó Tư Mã Thiên đã sử dụng từ “lược định”, chứ không phải “bình định”, thực tế trong thời điểm đó người Việt vẫn còn giữ được độc lập cho vùng miền Bắc Việt Nam và một phần Quảng Tây, tại đây An Dương Vương đã thành lập nước Âu Lạc.

    Trong phần Hóa thực liệt truyện, Tư Mã Thiên còn viết: “九疑、蒼梧以南至儋耳者,與江南大同俗,而楊越多焉。” (Từ Cửu Nghi, Thương Ngô về phía nam tới Đam Nhĩ, phong tục đại để giống vùng Giang Nam, mà đa số là dân “Lang Việt”). Thông tin này rất quan trọng xác định dân vùng ven biển Lưỡng Quảng đa số là người “Lang Việt”.

    Phần “Tự tự” của Thái Sử Công (Tư Mã Thiên tự viết bài tựa sách Sử Ký) viết như sau: “漢既平中國,而佗能集楊越以保南藩,納貢職。作南越列傳第五十三” (Nhà Hán đã bình được Trung Quốc, mà Triệu Đà biết chiêu tập được bọn Dương Việt để bảo vệ bờ cõi phía Nam, chịu nạp cống lễ. Nên ta viết thành quyển thứ 53 “Nam Việt Liệt Truyện”). Triệu Đà đã tập hợp đất đai và chiêu mộ các thủ lĩnh đất Dương Việt hay Văn Lang của tộc Việt để hình thành nên nước Nam Việt.

    Sách Phương Ngô của Dương Hùng đời Tây Hán cũng có đề cập tới tên Dương Việt, nhưng dùng chữ dương bộ thủ 揚, điều này cho thấy đây là tên phiên âm, chỉ lấy âm chứ không lấy nghĩa, ví dụ: 癡,騃也。揚越之郊凡人相侮以為無知謂之眲。眲,耳目不相信也。或謂之斫 (si, ngãi dã, Dương Việt chi Giao phàm nhân tương vũ dĩ vi vô tri vị chi nạch, nạch: nhĩ mục bất tương tín dã hoặc vị chi chước – Si là lẩn thẩn, người Dương Việt ở đất Giao gọi những kẻ lơ ngơ chả biết gì là “nạch”, ý là tai mắt chả biết nhìn nhận chi, hoặc còn gọi là “chước”). Thông tin quan trọng ở đoạn trích này cho thấy Dương Việt là đất Giao (Giao Chỉ hoặc Giao Châu), thông tin này đã khẳng định Dương Việt, Lang Việt cũng là Văn Lang, là Giao Chỉ.

    Các thông tin từ lịch sử và ngữ âm học lịch sử đã cho thấy cuộc chiến tranh giữa tộc Việt và nước Sở, sau đó nước Sở đã chiếm được vùng Hồ Nam, đất đai của nước Văn Lang chỉ còn lại vùng Lưỡng Quảng và miền Bắc Việt Nam, vùng Lưỡng Quảng sau đó đã bị nhà Tần chiếm, đất Việt chỉ còn lại vùng miền Bắc Việt Nam và một phần Quảng Tây, tại đây nước Âu Lạc đã được thành lập, sau đó nước Âu Lạc cũng mất về Nam Việt, khi Nam Việt thất thủ, đất đai của tộc Việt chính thức mất hẳn về tay người Hán.

    8. Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng chiếm lại đất của các vua Hùng xưa:

    Vào khoảng năm 40 SCN, 65 năm sau khi triều Nam Việt sụp đổ, toàn bộ đất đai tộc Việt bị sáp nhập vào đế quốc Hán, thì ở miền Bắc Việt Nam, chị em họ Trưng, những nữ nhi hậu duệ của vua Hùng, đã tổ chức một cuộc khởi nghĩa lớn, tập hợp, khơi dậy được tinh thần chiến đấu của người Việt, phát động một cuộc chiến quy mô giành lại giang sơn. Cuộc khởi nghĩa của bà nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của cư dân tộc Việt toàn vùng Lĩnh Nam, giành thắng lợi diện rộng, đánh đuổi quân Hán khỏi bờ cõi. Cuộc khởi nghĩa này đã để lại những dấu tích rất rõ ràng ở toàn vùng Lĩnh Nam, với những đền thờ hai bà Trưng và các tướng lĩnh:

    – Đại Việt sử ký toàn thư kỷ Thuộc Đông Hán có ghi chép rằng: “Người địa phương (Quảng Đông) thương mến Trưng Nữ Vương, làm đền thờ phụng (đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có).” [76]

    – Quận Khúc Giang thuộc địa cấp thị Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông, còn đền thờ nữ tướng của Hai Bà Trưng là Đàm Ngọc Nga. [76]

    – Tại Quảng Đông cũng có nhiều đền thờ Thánh Thiên. [76]

    – Tại vùng biển Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam có nhiều đền thờ nữ tướng Trần Quốc, tước Gia Hưng công chúa. [76]

    – Nhà báo Phạm Hồng từng cho biết ông đã thấy nhiều đền thờ Trưng Trắc, Trưng Nhị ở Quảng Tây. Nơi đây cũng có nhiều đền thờ nữ Đại tướng quân Thánh Thiên. [76]

    – Tại Hồ Nam cũng có di tích thờ hai bà Trưng, do sứ giả Việt Nguyễn Thực ghi lại trong bài thơ “Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh”. [77]

    [​IMG]
    Bản đồ Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng.

    Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi quân Hán tới tận hồ Động Đình, các trận đánh cũng diễn ra trong địa bàn rộng lớn của nước Văn Lang cổ, là một dấu tích quan trọng chứng tỏ sự thống nhất trong mặt ý thức, dân tộc, đó là nền tảng để hai bà Trưng có thể tạo nên một cuộc khởi nghĩa có sức ảnh hưởng rộng lớn như vậy, nhận được sự hưởng ứng của người dân toàn vùng Lĩnh Nam.

    Tiếng nói của hai bà Trưng, hay sự tập trung của những nữ tướng ở vùng miền Bắc Việt Nam, cũng là dấu tích chứng minh tính trung tâm của vùng miền Bắc Việt Nam, từ trung tâm đó, tiếng nói quyết định được phát đi để cuộc khởi nghĩa có sức lan tỏa mạnh tới các vùng khác. Cuộc khởi nghĩa đã giành thắng lợi vẻ vang, hai bà đã giành lại được độc lập cho người Việt, lập nên quốc gia Lĩnh Nam, trong vùng Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam, một bộ phận của nước Văn Lang cổ. Nhưng nước Lĩnh Nam chỉ tồn tại được 3 năm, trước khi một lần nữa thất bại trước sức mạnh quân sự vượt trội của người Hán, đất Việt rơi vào 900 năm Bắc thuộc trước khi người Việt giành lại được độc lập cho vùng miền Bắc Việt Nam vào năm 931 SCN.

    E. CỘNG ĐỒNG TỘC VIỆT VÀ SỰ TAN RÃ CỦA CỘNG ĐỒNG TỘC VIỆT:

    I. Các thời điểm tách ra từ cộng đồng tộc Việt của các hệ ngữ:

    Tộc Việt như chúng tôi đã chứng minh ở các phần trên, là một cộng đồng thống nhất, qua các nghiên cứu di truyền, văn hóa, khảo cổ đều thể hiện sự gắn bó và liên hệ chặt chẽ của cư dân tộc Việt tại các vùng. Những biến động từ tự nhiên và lịch sử đã khiến các nhóm dân có nguồn gốc tộc Việt tách ra vào nhiều thời điểm khác nhau, dựa trên các dữ liệu di truyền và ngôn ngữ, chúng tôi sẽ khái quát lại cơ bản lại các nhân tố và biến động khiến các nhóm dân tách ra khỏi cộng đồng tộc Việt.

    1. Cuộc di cư của cư dân tộc Việt nhóm Nam Đảo và sự hình thành các dân tộc nói tiếng Nam Á:

    Cuộc di cư lớn đầu tiên diễn ra vào thời điểm hơn 4000 năm trước, khi vùng Động Đình, Dương Tử đã xảy ra một đợt hạn hán lớn [16], khiến cho cư dân tộc Việt tại vùng này đã phải di cư về Lĩnh Nam, Việt Nam, Đông Nam Á lục địa và hải đảo.

    Trong cuộc di cư này, bao gồm các nhóm Nam Á di cư về Đông Nam Á lục địa, và nhóm Nam Đảo chuyên về nghề biển tại vùng hạ lưu Dương Tử đã di cư qua Đài Loan, sau đó tiếp tục di cư xuống vùng Đa Đảo, để hình thành nhóm Nam Đảo [78][79], đây là nhóm đầu tiên tách khỏi tộc Việt. Sau đó tộc Việt vẫn tiếp tục phát triển tại vùng Nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam, duy trì một cộng đồng chung trong gần 2000 năm tiếp theo với thành phần cư dân thuộc hai hệ ngữ chính là Nam Á và Tai-Kadai.

    [​IMG]
    Bản đồ mở rộng phạm vi của Ngữ hệ Nam Đảo. Các thời kỳ dựa trên những nghiên cứu khảo cổ học. [80]

    Cuộc di cư diễn ra vào khoảng hơn 4000 năm trước [17][18] bao gồm cả cư dân tộc Việt nói tiếng Nam Á di cư xuống Việt Nam và vùng Đông Nam Á lục địa, trong đó nhóm chính đã di cư về Việt Nam, các nhóm tộc Việt khác đã di cư xuống phía nam, hình thành nên các dân tộc nói tiếng Nam Á ở vùng Đông Nam Á lục địa, lan sang cả vùng Ấn Độ, tại Việt Nam có thể kể tới các dân tộc tiêu biểu như như Mảng, Khơ Mú… và các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.

    [​IMG]
    Bản đồ phân bố các dân tộc thuộc hệ ngữ Nam Á tại vùng Đông Nam Á lục địa và Ấn Độ. [81]

    Tại vùng phía Bắc Thái Lan ngày nay thì cư dân nói tiếng Nam Á cũng là những người xây dựng nên các văn hóa nổi tiếng như Ban Chiang, Non Nok Tha… kể từ thời đá mới cho tới thời kỳ đồ đồng, có sự liên hệ chặt chẽ với tộc Việt tại Nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam, với sự tương đồng trong di vật đồ đá và đồ đồng.

    2. Sự tan rã của cộng đồng tộc Việt và sự hình thành các dân tộc thuộc hệ ngữ Nam Á và Tai-Kadai:

    Cư dân tộc Việt sau thời điểm 4000 năm trước vẫn tiếp tục phát triển trong vùng Nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam với hai hệ ngữ chính là Nam Á và Tai-Kadai. Tới khoảng 2400 năm trước, thì vùng phía Nam hồ Động Đình bắt đầu chịu sự xâm lấn của quốc gia gốc Hoa Hạ là nước Sở, khiến cư dân tộc Việt bắt đầu phải di cư về phía Nam, trong đó tập trung đông nhất là về Việt Nam, bao gồm các tầng lớp tinh hoa. Tới khoảng năm 218 TCN, đã diễn ra chiến tranh xâm lược của nhà Tần vào vùng đất còn lại của tộc Việt. Những cuộc xâm lược này đã trực tiếp làm tan rã cộng đồng tộc Việt, khiến cộng đồng tộc Việt dần phân mảnh thành nhiều dân tộc qua các giai đoạn để hình thành các dân tộc như hiện trạng ngày nay.

    Các cư dân tộc Việt trong giai đoạn này chủ yếu di cư về miền Bắc Việt Nam, thuộc các hệ ngữ Nam Á và tiền Tai-Kadai, đó là nguyên nhân dẫn đến việc tiếng Việt ngày nay có sự phức hợp giữa hai hệ ngữ này, với tiếng Nam Á đóng vai trò cốt lõi.

    Tộc Việt đã bị tan rã sau khi thất bại trong cuộc chiến chống lại xâm lược và đô hộ của người Hán, và các dân tộc thuộc hệ ngữ Tai-Kadai cũng được hình thành sau sự tan rã này.

    Hệ ngữ Tai-Kadai được hình thành tại vùng biên giới giữa Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay vào khoảng 330 năm TCN, hai hướng di cư chính hình thành nên các nhóm cư dân nói tiếng Tai-Kadai ở Đông Nam Á bao gồm hướng di cư lên Vân Nam, sau đó xuống sông Mê Kông và các hệ thống sông Salween và Irawadi, hướng di cư này có đi về phía Tây đến vùng Chindwin và sang cả Ấn Độ. Một tuyến di cư khác đã đi qua miền Bắc Việt Nam rồi xuống tới thung lũng sông Mê Kông và Chaophraya. Đây là hai hướng di cư chính hình thành nên các tộc người nói tiếng Tai-Kadai. [82]

    [​IMG]
    Bản đồ các hướng di cư của hệ ngữ Tai-Kadai. [82]

    Dữ liệu về tục táng treo cũng thể hiện một phần nguồn gốc và sự phân tách của các cư dân thuộc hệ ngữ Tai-Kadai.

    Theo nghiên cứu di truyền mới đây của Zhang và cộng sự et al. 2020 [83], nghiên cứu trên các mẫu DNA từ các ngôi mộ táng treo tại Nam Trung Hoa (Phúc Kiến, Quảng Tây, Vân Nam) và tại miền Bắc Thái Lan, thì các mẫu gen cổ tương đồng với gen của cư dân thuộc hệ ngữ Tai-Kadai.

    Nguồn gốc của hệ ngữ Tai-Kadai thể hiện rõ ràng qua nghiên cứu này với sự phân tán từ Hoa Nam xuống phía Nam, xuất phát từ vùng Phúc Kiến vào khoảng 3600 năm cách ngày nay, sau đó di cư xuống Quảng Tây và xuất hiện tại vùng Vân Nam vào khoảng 2200 năm cách ngày nay, sau đó lan sang phía Bắc Thái Lan.

    [​IMG]
    Bản đồ sự phân tán của hình thức táng treo theo di truyền và niên đại của mộ táng. [83]

    Niên đại xuất hiện của tục táng treo xuất hiện tại Quảng Tây cũng phù hợp với cuộc di cư của tộc Việt từ vùng Dương Tử trở về Việt Nam và Lĩnh Nam vào khoảng 2700 năm trước theo các nghiên cứu di truyền chúng tôi đã dẫn ở trên [17][18], cư dân hệ ngữ Tai-Kadai thời điểm đó có thể phân bố chủ yếu tại vùng Quảng Tây, còn tại Việt Nam là địa bàn của hệ ngữ Nam Á. Thời điểm hình thành hệ ngữ Tai-Kadai vào năm 330 TCN cũng là lúc bắt đầu sự suy yếu của triều Hùng Vương, đây cũng có thể là thời điểm cư dân tộc Việt hệ ngữ Tai-Kadai tách khỏi tộc Việt, sau đó một thủ lĩnh của các cư dân hệ ngữ này là Thục Phán đã nổi lên giành ngôi của các vua Hùng, lập nên triều Âu Lạc vào năm 257 TCN.

    Sau khi di cư tới vùng Đông Nam Á, các cư dân có nguồn gốc tộc Việt nói tiếng Tai-Kadai đã tách ra và hình thành ý thức dân tộc Thái. Sau đó các cư dân nói hệ ngữ Tai-Kadai có ý thức Thái này đã di cư ngược trở về Việt Nam, chính là dân tộc Thái ở Việt Nam ngày nay.

    3. Bản đồ phân bố chủng Mongoloid:

    Bản đồ phân bố chủng Mongoloid thể hiện rất rõ sự phân bố của cư dân tộc Việt trong các cuộc di cư tại các thời điểm khác nhau. Các vùng có sự di cư của cư dân tộc Việt đều có sự phân bố của chủng Nam Mongoloid, bao gồm các vùng từ phía Nam sông Dương Tử, miền Bắc Việt Nam, Đông Nam Á lục địa cho tới vùng Đông Nam Á hải đảo, với các hệ ngữ Nam Á, Tai-Kadai, Nam Đảo.


    Bản đồ phân bố chủng Mongoloid theo di truyền học. [22]

    Bên cạnh các dân tộc thuộc 2 hệ ngữ chính, thì còn các dân tộc thuộc hệ ngữ Hán-Tạng có thể là những người thuộc các hệ ngữ của cộng đồng tộc Việt này đã bị đồng hóa về mặt ngôn ngữ và ý thức dân tộc thành người Hán và nói tiếng Hán, nhưng về mặt di truyền và nhân chủng, thì họ vẫn gần với các nhóm dân chính có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt.

    4. Kết luận:

    Qua sự khái quát của chúng tôi, bạn đọc cũng đã hình dung được sự hình thành của các dân tộc thuộc chủng Nam Mongoloid thuộc các hệ ngữ Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai tại vùng Nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Sự sụp đổ của văn minh tộc Việt trong 2 giai đoạn chính đã tạo ra sự phân mảnh thành vô số các dân tộc như hiện trạng ngày nay, với địa bàn sinh sống trải dài khắp vùng nam Đông Á, Đông Nam Á lục địa và hải đảo.

    II. Người Hoa Hạ và cư dân tộc Việt tại vùng Lĩnh Nam và Việt Nam:

    Dưới những bước chân lược của người Hoa Hạ, cộng đồng tộc Việt chính thức tan rã vào thời Tần – Hán, tuy nhiên quá trình đồng hóa người Việt tại vùng Lĩnh Nam diễn ra không hề dễ dàng. Văn hóa Việt đã có một quá trình phát triển rất lâu dài như chúng tôi đã chứng minh ở trên, họ có ý thức thống nhất và gắn bó với nhau một cách chặt chẽ, sự phát triển này đã hình thành một sức sống rất mạnh mẽ, giúp họ chống lại sự đồng hóa của người Hoa Hạ. Quá trình đồng hóa của người Hoa Hạ với người Việt phía Nam trong vùng Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam chủ yếu dựa trên các yếu tố văn hóa và di dân, từ đó chuyển hóa cơ cấu văn hóa của cư dân tại vùng Hoa Nam.

    1. Yếu tố dân số:

    Theo cuốn Tiền Hán Thư của Ban Cố, phần Địa lý chí hạ, vào thời Tây Hán, toàn quận Giao Chỉ có 92.440 hộ và 746.237 người, nhiều hơn tổng số dân 4 quận vùng Lưỡng Quảng (Hợp Phố, Hải Nam, Uất Lâm, Thương Ngô) cộng lại là 71.805 hộ và 390.555 người. Hai quận Cửu Chân và Nhật Nam có 235.508 người.

    Như vậy vào thời Tây Hán, thì cơ cấu dân số tại vùng Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam là rất chênh lệch, vùng Lĩnh Nam có tổng cộng 390.555 người, trong khi miền Bắc Việt Nam có tổng cộng gần 1 triệu người, điều này là yếu tố rất quan trọng quyết định người Việt tại các vùng có bị đồng hóa hay không, bởi quá trình đồng hóa của người Hoa Hạ được thực hiện chủ yếu qua việc đưa dân di cư xuống vùng Lĩnh Nam và miền Bắc Việt Nam và các chủ thuyết văn hóa qua các thời kỳ.

    Qua các tài liệu lịch sử, chúng ta có thể nhận thấy những dòng di cư lớn tác động tới tình hình dân cư tại các vùng tộc Việt. Vào thời nhà Tần, thì theo tài liệu lịch sử, Triệu Đà đã xin Tần Thủy Hoàng điều 50 vạn dân xuống Hoa Nam để đồng hóa người Việt, tới thời điểm này, thì nhà Tần mới chiếm được vùng Lưỡng Quảng, người Việt vẫn giữ được độc lập cho vùng miền Bắc Việt Nam, nên cuộc di dân này tác động trực tiếp tới người Việt tại Lĩnh Nam, người Việt ở miền Bắc Việt Nam cơ bản không bị ảnh hưởng, nhóm dân di cư này đã ở lẫn với người Việt, tuy số lượng di dân ở lại chỉ khoảng 10 vạn người, không áp đảo được dân Việt bản địa, nhưng cũng đã bắt đầu gây ra khó khăn trong việc gìn giữ, phát huy văn hóa và khởi nghĩa giành tự chủ, chủ trương dung hòa văn hóa Việt Hoa của Triệu Đà cũng góp phần tạo ra sự thay đổi trong văn hóa và nhận thức của người Việt Lĩnh Nam.

    Tới thời kỳ Hán – Đường, thì người Hoa Hạ cũng đưa dân di cư xuống vùng Lĩnh Nam, kết hợp với những người đã di cư từ trước đó, đã tạo nên một ảnh hưởng lớn trong sự thay đổi ý thức văn hóa cũng như tác động tới tinh thần khởi nghĩa giành tự chủ của người Việt Lĩnh Nam. Văn hóa của người Việt vùng Lĩnh Nam trong thời kỳ này bắt đầu quá trình hòa trộn mạnh giữa văn hóa Việt cổ và văn hóa phương Bắc.

    Dân số tại vùng Lĩnh Nam qua tài liệu lịch sử, dưới áp lực của dòng di cư từ phía Bắc, đã bị thay đổi và tác động dần dần, quá trình đồng hóa diễn ra trong một giai đoạn rất dài và không hề dễ dàng, tới thời Tống, việc đồng hóa về cơ bản vẫn chưa hoàn thành.

    2. Yếu tố trung tâm văn hóa:

    Trung tâm của tộc Việt trước khi họ thất bại dưới cuộc xâm lược của người Hoa Hạ là ở miền Bắc Việt Nam, được thể hiện trực tiếp thông qua ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn và những chiếc trống đồng tới các vùng tộc Việt và Đông Nam Á, sau đó là cuộc khởi nghĩa hai bà Trưng cũng được phát động từ vùng miền Bắc Việt Nam. Trung tâm cũng là nơi tập trung tầng lớp tinh hoa, là trụ cột về văn hóa và sức ảnh hưởng lớn tới các vùng tộc Việt khác. Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định tới khả năng bị đồng hóa.

    Văn hóa tộc Việt có sức sống rất mạnh, họ đã xây dựng nên một ý thức văn hóa mạnh mẽ ngay từ khi còn ở vùng Dương Tử trong thời điểm hơn 4000 năm trước. Ý thức thống nhất về cội nguồn và văn hóa đó là một yếu tố rất quan trọng trong việc chống đồng hóa, trung tâm nằm tại miền Bắc Việt Nam, nên người Việt mặc dù ở ngay trị sở đô hộ các triều đại của người Hoa Hạ, họ vẫn tiếp tục truyền thống văn hóa dân tộc mình, giữ được tiếng nói, văn hóa và giành lại độc lập vào năm 938 SCN vào thời Ngô Quyền.

    3. Di truyền của các nhóm dân có nguồn gốc từ tộc Việt:

    Tuy quá trình đồng hóa người Việt vùng nam Đông Á hiện nay cơ bản đã hoàn thành, họ đã tự nhận mình người Hán, nhưng cư dân Hán nam Đông Á vẫn có di truyền gần với người Việt và các dân tộc anh em như Mường, Tày, Thái, Nùng, Dai… Và có sự khác biệt so với di truyền của người Hán ở vùng phía Bắc.


    Admixture công trình nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019 cho thấy người Hán Hoa Nam có gen tương đồng với các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt như Việt, Mường, Thái, Tày, Nùng… [17]

    4. Kết luận:

    Tộc Việt đã xây dựng nên một nền văn hóa có sức sống mạnh mẽ, sự xâm lược của người Hoa Hạ đã trực tiếp khiến cộng đồng tộc Việt tan rã, người Việt hiện nay vẫn giữ được tiếng nói, văn hóa và là một quốc gia độc lập, tuy nhiên người Việt nam Đông Á đã không được may mắn như thế, hiện họ đã bị đồng hóa về mặt ý thức và văn hóa thành người Hán, nhưng di truyền vẫn còn gần với người Việt và các dân tộc anh em, văn hóa của họ vẫn rất đậm chất văn hóa của tộc Việt xưa, chứng tỏ sức sống rất mạnh mẽ của nền văn hóa tộc Việt.

    III. Người Việt và sự kế thừa truyền thống tộc Việt:

    1. Người Việt là hậu duệ chính thống của cộng đồng tộc Việt:

    Qua tiến trình phát triển của tộc Việt được xác định qua di truyền học và khảo cổ học, thì có thể nói người Việt là một trong những hậu duệ chính thống nhất của của cộng đồng tộc Việt. Cư dân cổ rời khỏi châu Phi đã định cư tại Việt Nam và Đông Nam Á, trước khi di cư lên vùng phía Bắc để phát triển đời sống văn minh của mình, tới thời điểm hơn 4000 năm trước, điều kiện khách quan tự nhiên đã buộc họ di cư về Việt Nam, trong đó bao gồm miền Bắc Việt Nam và vùng Đông Nam Á. Nguồn gốc của người Việt không chỉ là dòng di cư của tộc Việt hơn 4000 năm trước, với tầng lớp tinh hoa của tộc Việt, mà còn là của các cư dân thuộc các hệ ngữ Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai, hòa hợp để dần dần hình thành nên người Việt ngày nay. Dấu vết ngôn ngữ học thể hiện rõ sự hòa hợp đó.

    Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, thì tiếng Việt là có sự phức hợp và tồn tại dấu ấn của các hệ ngữ Nam Á, Tai-Kadai và Nam Đảo, đây là một bằng chứng thể hiện sự hòa hợp của nhiều nhóm người đã trở về Việt Nam trong nhiều giai đoạn khác nhau, với cốt lõi là người Nam Á trong các văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn.

    Khảo cổ cũng đã tìm thấy nhiều dấu tích của nhiều cổ vật tộc Việt có đặc trưng vùng tại các vùng Vân Nam, Quý Châu, đây là các dòng di cư nội tộc Việt diễn ra trong các giai đoạn các vùng đất tộc Việt bị người Hoa Hạ chiếm đóng. Họ đã trở về và hòa hợp với cư dân Việt đã về từ trước đó. Dòng di cư này diễn ra một cách liên tục và mạnh mẽ trước và trong thời Bắc thuộc. [84]


    Tượng người Việt xăm mình, búi tóc tại Chiết Giang, Trung Quốc. [Nguồn: Gary Todd, Bảo tàng tỉnh Chiết Giang]

    Trong lịch sử, cũng có một số dòng họ hoàng tộc Việt Nam có gốc Chiết Giang, Phúc Kiến như các họ Lý, Trần, Hồ, đây là những vùng đất cổ của tộc Việt, nhiều nhóm cư dân tại đây sau đó đã di cư tới Việt Nam để tránh ách đô hộ của người Hán.

    Vào thời Hán, thì dân số của vùng đồng bằng sông Hồng áp đảo so với vùng Lĩnh Nam, cơ cấu dân số thời kỳ này biểu hiện sự tập trung về phương Nam của cư dân tộc Việt: Theo Tiền Hán Thư, vào tk. II trCN, toàn quận Giao Chỉ có 92.440 hộ và 746.237 người, nhiều hơn tổng số dân 4 quận vùng Lưỡng Quảng (Hợp Phố, Hải Nam, Uất Lâm, Thương Ngô) cộng lại (71.805 hộ và 390.555 người). Hai quận Cửu Chân và Nhật Nam có 235.508 người.

    [​IMG]
    Bản đồ thống kê dân cư dựa trên sách Tiền Hán Thư vào TK II SCN, có thể thấy được sự tập trung về miền Bắc Việt Nam của cư dân tộc Việt. [Nguồn ảnh: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Người Việt (Kinh) ngày nay là đại diện chính thống của cộng đồng tộc Việt, họ là tộc người duy nhất còn giữ tên Việt trong tên dân tộc và đất nước mình, cũng như là những người đã giữ gìn truyền thuyết họ Hồng Bàng, là cội nguồn của cả tộc Việt, bên cạnh đó họ cũng là những đã giữ gìn các đền miếu và thờ tự các vị Tiên Tổ của tộc Việt trong các giai đoạn kể từ thời Hồng Bàng cho tới thời kỳ Hùng Vương.

    Cùng với các dân tộc anh em như Mường, Tày, Thái, Choang, Bố Y… người Việt đã cùng họ giữ gìn truyền thống, văn hóa của tộc Việt cổ xưa, nhưng lịch sử đã chứng tỏ người Việt đóng vai trò quan trọng hơn trong việc giữ gìn khối văn hóa cổ của tộc Việt. Là những người kế thừa và giữ gìn truyền thống, lịch sử của cộng đồng tộc Việt, người Việt có quyền, và có trách nhiệm đối với cộng đồng tộc Việt, trong đó bao gồm trách nhiệm nghiên cứu, chứng minh và khôi phục những di sản của cộng đồng tộc Việt khi còn tồn tại.

    2. Những cuộc di cư về phía Nam của tộc Việt:

    Các cư dân tộc Việt cũng đã di cư về Việt Nam trong các cuộc chiến tranh loạn lạc, khi người Việt thất bại trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ. Vì Việt Nam là trung tâm của cộng đồng tộc Việt, có đông người Việt sinh sống nhất, nên các dòng di cư từ các vùng Quý Châu, Vân Nam, Ngô Việt chủ yếu tập trung về miền Bắc Việt Nam. Văn hóa tộc Việt tuy thống nhất nhưng cũng rất đa dạng, mỗi vùng lại có những đặc trưng riêng nhất định, dựa vào đó, chúng ta có thể nhận thấy những cuộc di cư về Việt Nam của người Bách Việt.

    a. Điền Việt:

    Đầu tiên là người Điền Việt, thì chúng ta có thể nhận thấy được những dấu tích di cư rất rõ của người Điền Việt về Việt Nam thông qua nhiều cổ vật.

    Các trống đồng Động Xá và Làng Vạc là các trống khá nổi tiếng của văn hóa Đông Sơn, tuy nhiên chúng ta nhận thấy được phong cách trống đồng của người Điền Việt được thể hiện khá rõ ràng trên hình dáng và hoa văn của những chiếc trống này. Cũng có tác giả đã kết nối về sự kế thừa của những chiếc trống Đông Sơn với văn hóa Điền như Tạ Đức. [10]



    Trống đồng Điền Việt và trống đồng Động Xá. [Nguồn: 1. Bảo tàng tỉnh Vân Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]



    Trống đồng Điền Việt và trống đồng Làng Vạc. [Nguồn: 1. Gary Todd, chụp tại Bảo tàng tỉnh Côn Minh, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; 2. Bảo tàng lịch sử Việt Nam]

    Các trống này có sự khác biệt rất đáng kể so với trống đồng truyền thống của người Việt trong vùng miền Bắc Việt Nam, có thể nói trống Điền Việt tuy có cùng ý nghĩa, nhưng có bản sắc riêng, từ đó chúng ta thấy được cuộc di cư của những cư dân tộc Việt tại vùng Vân Nam về miền Bắc Việt Nam.

    b. Dạ Lang:

    Cư dân Dạ Lang trong vùng Quý Châu có thể cũng đã di cư về miền Bắc Việt Nam, với việc phát hiện một số chiếc kiếm đồng có phong cách tương đồng với vùng Dạ Lang tại miền Bắc Việt Nam. Phong cách kiếm này là phong cách chung của tộc Việt, tuy nhiên, kiếm dạng này khá đa dạng về cách trang trí, có một số dạng nhất định lại gần với người Dạ Lang.



    Kiếm đồng Việt Nam và kiếm đồng Quý Châu văn hóa Kele. [Nguồn: 1. Kiều Quang Chẩn, 2018, Vang vọng từ trống Đông Sơn; 2. [85]

    c. Tây Âu:

    Người Tây Âu tại vùng Quảng Tây cũng di cư về miền Bắc Việt Nam trong thời An Dương Vương, các tài liệu khảo cổ cho thấy An Dương Vương có nguồn gốc Tây Âu, ông cùng một lượng nhất định cư dân Tây Âu đã di cư về miền Bắc Việt Nam để hình thành nước Âu Lạc, [86], có nhiều tài liệu khảo cổ, lịch sử chứng minh về cuộc di cư này.

    Chiếc trống đồng Cổ Loa, được tìm thấy tại khu di tích Thành Cổ Loa gắn liền với thời kỳ An Dương Vương, có khắc một số minh văn chữ Hán, những chữ viết trên trống đồng giúp chúng ta nhận diện được sự hiện diện của người Tây Âu tại miền Bắc Việt Nam. Chữ được khắc trên chiếc trống đồng được tiến sĩ Nguyễn Việt giải mã như sau:

    “Tây Vu tập bát cổ, trọng lưỡng cá bách bát thập nhất cân”

    Trống thứ 48 của bộ Tây Vu, nặng hai trăm tám mươi mốt cân” [87]



    Trống đồng Cổ Loa và minh văn khắc trên thân trống. [Nguồn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Bên cạnh chiếc trống đồng này, còn một chiếc ấm đồng khác cũng được khắc dòng chữ Hán có nghĩa là “Tây Vu”, chiếc ấm đồng này có niên đại vào khoảng thế kỷ I-II TCN.

    [
    Ấm đồng có niên đại vào thế kỷ I-II TCN có khắc chữ Tây Vu. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    d. Ngô Việt:

    Người Ngô Việt cũng đã di cư về miền Bắc Việt Nam, mang theo những đặc trưng văn hóa của mình hòa vào dòng văn hóa của người Việt tại miền Bắc Việt Nam. Trong tiếng Việt hiện nay có nhiều từ có gốc tích Ngô Việt như: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo… [88]


    Một số cổ vật có phong cách Ngô Việt trong mộ Việt Khê. [14]

    5. Tiểu kết:

    Dựa trên những bằng chứng khảo cổ, ngôn ngữ, có thể nói rằng, người Việt không chỉ là một phần quan trọng của cộng đồng tộc Việt, mà còn là tổng hòa di truyền và văn hóa của cả cộng đồng tộc Việt, đón nhận và hòa hợp cùng với nhiều dòng di cư của tộc Việt về miền Bắc Việt Nam trong nhiều thời kỳ để hình thành dân tộc Việt.

    3. Vị trí và vai trò của người Việt trong cộng đồng tộc Việt:

    Người Việt là hậu duệ chính thống của tộc Việt, họ không chỉ có nguồn gốc từ cốt lõi là người Nam Á [53], mà còn đón nhận những dòng di cư của các cư dân tộc Việt tại các vùng về miền Bắc Việt Nam, các nhóm tộc Việt trở về đều hòa vào cốt lõi Nam Á để hình thành người Việt.

    Trong thời điểm trước khi cộng đồng tộc Việt tan rã, thì người Việt nhóm Nam Á cũng đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng tộc Việt. Trong hai giai đoạn Phùng Nguyên và Đông Sơn, thì trung tâm của tộc Việt được đặt tại miền Bắc Việt Nam.

    Tại miền Bắc Việt Nam trong thời Phùng Nguyên (2000 – 1500 BC), thì những chiếc nha chương đã biểu trưng cho quyền lực của tộc Việt, tới thời đồ đồng, thì văn hóa Đông Sơn (800 – 200 BC) tại miền Bắc Việt Nam là trung tâm lan tỏa, trong đó có những chiếc trống đồng là biểu trưng quan trọng nhất, tính trung tâm được thể hiện qua những chiếc trống đồng và sự lan tỏa của những loại hình cổ vật từ miền Bắc Việt Nam, với chủ nhân của các văn hóa này là cư dân Nam Á.

    Theo nghiên cứu nhân chủng học và ngôn ngữ học [89], cư dân ở văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn là cư dân nói hệ ngữ Nam Á. Nghiên cứu của Viện hệ gen Việt Nam phối hợp với Pháp, Đức cũng xác định cư dân các ngữ hệ khác nhau cùng tồn tại ở Hoa Nam và có tương tác mạnh với nhau. [17] Đợt di cư 4.000 năm trước về Việt Nam là cư dân nói ngữ hệ Nam Á còn đợt di cư 2.700 năm trước về Việt Nam là cư dân ngữ hệ Nam Á và Tai-Kadai. [18]


    Mô hình nhân chủng học dựa trên 16 phép đo hình thái xương sọ. (Cư dân ngữ hệ Tai-Kadai và Austronesian tụ lại ở 1 nhóm) [49]

    Người Việt có nguồn gốc tại các văn hóa tại vùng trung lưu Dương Tử, trong đó nổi bật nhất là các văn hóa Cao Miếu (5000 – 3500 BC), Đại Khê (5000 – 3000 BC), Khuất Gia Lĩnh (Qujialing, 3400 – 2600 BC), Thạch Gia Hà (Shijiahe, 2500 – 2000 BC), đây đều là các văn hóa có trình độ phát triển cao trong vùng Đông Á cổ.

    Vùng trung lưu Dương Tử cũng là trung tâm tộc Việt trong giai đoạn văn hóa Thạch Gia Hà, trung tâm trước đó được đặt tại vùng hạ lưu Dương Tử với văn hóa Lương Chử. Văn hóa Thạch Gia Hà trong thời điểm đó cũng có nhà nước phát triển, có sức ảnh lớn tới các vùng xung quanh, có thiết chế ràng buộc các cộng đồng dân cư [40][41]. Cư dân tại đây chủ yếu là người Nam Á và tiền thân của cư dân hệ ngữ Hmong-Mien. Người Nam Á đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng tộc Việt, họ là những người nắm vai trò chính trong các vấn đề chính trị, văn hóa và tâm linh trong nhiều giai đoạn của cộng đồng này. Cư dân Nam Á tại văn hóa Thạch Gia Hà thời kỳ này đã di cư về miền Bắc Việt Nam để hình thành nên văn hóa Phùng Nguyên cũng như di cư tản ra vùng Đông Nam Á lục địa.

    Cuộc di cư về Việt Nam chủ yếu từ cư dân tại vùng trung lưu Dương Tử, trong đó bao gồm tầng lớp cao nhất là các vị vua Hùng. Sự kế thừa truyền thống của tộc Việt được thể hiện trực tiếp qua các nồi gốm cùng chạc gốm, xuất hiện sớm nhất tại trung lưu Dương Tử vào hơn 7000 năm TCN, các thời kỳ sau trong thời Phùng Nguyên và Đông Sơn, đều xuất hiện loại hình nồi gốm cùng chạc gốm này.

    1. Nồi gốm và chạc gốm tại tỉnh Hồ Bắc, thuộc di chỉ tại văn hóa sông Chengbei, tiền thân của các văn hóa tại trung lưu Dương Tử (vùng hồ Động Đình) có niên đại vào khoảng 7000 năm TCN; 2. Nồi gốm và chạc gốm tại các văn hóa Phùng Nguyên (A: 1.700-1.500 TCN; B: 2.000 TCN) và văn hóa Đông Sơn. (C: 800 TCN – 200 TCN) [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, dẫn lại bởi Huang Mingchong, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]

    Sau cuộc di cư của tộc Việt về vùng Đông Nam Á lục địa, thì tộc Việt trong vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển trong một cộng đồng chung, cư dân Nam Á vẫn nắm vai trò quan trọng trong cộng đồng này, với tính trung tâm được thể hiện qua những chiếc trống đồng và sự lan tỏa của văn hóa Đông Sơn từ miền Bắc Việt Nam.

    Qua đó chúng ta có thể thấy người Việt không chỉ là một phần của cộng đồng tộc Việt, mà còn nắm một vai trò rất quan trọng trong tiến trình phát triển của cộng đồng này. Nguồn gen của người Việt hiện tại chỉ khác tối đa 5-10% so với thời văn hóa Đông Sơn, là hậu duệ trực tiếp của cư dân tộc Việt thời Hùng Vương, khi tộc Việt đang còn trong một cộng đồng chung. [17]


    Admixture công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019 thể hiện gen người Việt khác biệt không đáng kể với mẫu của văn hóa Đông Sơn (Núi Nấp). [17]

    F. KẾT LUẬN:

    Qua sự chứng minh tuần với từng yếu tố thể hiện sự thống nhất của cộng đồng tộc Việt ở các phần trên, chúng ta có đủ cơ sở để nhận định về cộng đồng hay tộc Việt, là một cộng đồng thống nhất về văn hóa, về chủng tộc, họ có thể chung sống dưới một quốc gia thống nhất cho tới trước khi tan rã dưới bước chân xâm lược của người Hoa Hạ. Có thể nói họ không phải là cộng đồng phân lập, rời rạc và không liên quan tới nhau như đã từng được nhận định.

    Sự thăng trầm và biến động của dòng lịch sử khiến cho những hiểu biết về cộng đồng tộc Việt trở nên mờ nhòa, nhưng các nghiên cứu di truyền, khảo cổ, văn hoá, ngôn ngữ đã cùng góp phần làm rõ nguồn gốc và tiến trình phát triển của tộc Việt, đồng thời góp phần chứng minh được sự gắn bó và liên hệ chặt chẽ của tộc Việt qua các giai đoạn. Tộc Việt là hậu duệ của cư dân Đông Á cổ, là những đã người xây dựng nên những nền văn hoá lớn ở vùng Đông Á trong thời tiền sử, họ cũng là những người thuần hoá lúa nước từ sớm, sản xuất đồ ngọc đạt mức tinh xảo, phát triển kỹ thuật luyện đồng, là một nền văn minh nổi bật và có sức ảnh hưởng lớn ở vùng Đông Á. Tuy nền văn minh cổ đó gần như không còn dấu tích, nhưng diện mạo của nền văn minh này dần được làm rõ nhờ những khám phá của di truyền và khảo cổ học, giúp chúng ta nhận diện chính xác hơn về nguồn gốc và tiến trình phát triển các nền văn hóa cổ của tiền nhân người Việt và các dân tộc anh em.

    Các dân tộc tại Việt Nam ngày nay đều là đồng bào, sinh ra từ một bọc, ý nghĩa của từ đồng bào là có cơ sở thực tế, có nguồn gốc từ sự thống nhất trong một cộng đồng chung, với sự gắn bó, liên hệ chặt chẽ của cộng đồng tộc Việt, với hậu duệ là các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam ngày nay. Ý thức về cội nguồn, truyền thống lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc Việt là một sự kế thừa truyền thống cổ xưa.

    Hậu duệ, là chúng ta ngày nay, hãy cùng nhau phát huy những giá trị tốt đẹp của nền văn hóa chung cổ xưa đó. Biết, hiểu, ý thức về cội nguồn của tộc Việt là một điều quan trọng, không phải để đòi lại đất đai đã mất, mà để trân trọng giá trị cổ truyền, nhận thức lại về nền văn minh cổ xưa mà Tổ Tiên chúng ta đã dựng xây nên, từ đó khôi phục và phát triển lại những đặc trưng của văn hóa tộc Việt trong cuộc sống của chúng ta ngày nay. Đó là nền tảng và cơ sở quan trọng từ quá khứ, để có thể kiến tạo một tương lai mới rực rỡ hơn.


    Tài liệu tham khảo:

    [1] Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt – Trần Gia Ninh

    [2] Wells S (2007), Deep Ancestry: Inside the Genographic Project, National Geographic Society

    [3] DeSalle R, Tattersall I (2008), Human Origins: What Bones and Genomes Tell Us About Ourselves, Texas A & M University Press, p152

    [4] Valéry Zeitouna, Prasit Auetrakulvitb, Antoine Zazzoc, Alain Pierretd, Stéphane Frèree, Hubert Forestierf, (2019), Discovery of an outstanding Hoabinhian site from the Late Pleistocene at Doi Pha Kan.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [5] Peter U.Clark, Alan C. Mix, 2001, Ice sheets and sea level of the Last Glacial Maximum
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [6] Robert Hall, Christopher K. Morley et al. (2004), Sundaland Basins.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [7] Huang X, et al (2012), A map of rice genome variation reveals the origin of cultivated rice. Nature, 490(7421): 497-501

    [8] Chu JY, et al (1998), Genetic relationship of populations in China, Proceedings of National Academy of Sciences USA, 95(20): 11763-11768

    [9] The HUGO Pan-Asian SNP Consortium (2009), Mapping human genetic diversity in Asia, Science, 326(5959): 1541-1545

    [10] Hua Zhong, Hong Shi, Xue-Bin Qi, et al. (2010). Extended Y chromosome investigation suggests postglacial migrations of modern humans into East Asia via the northern route. Molecular biology and evolution;28(1):717-27.

    [11] Chuan‐Chao WANG Shi YAN Zhen‐Dong QIN Yan LU Qi‐Liang DING Lan‐Hai WEI Shi‐Lin LI Ya‐Jun YANG Li JIN Hui LI, et al. (2013). Late Neolithic expansion of ancient Chinese revealed by Y chromosome haplogroup O3a1c‐002611.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [12] Fuller DQ, Qin L (2010), Declining oaks, increasing artistry, and cultivating rice: The environmental and social context of the emergence of farming in the Lower Yangtze Region, Environmental Archaeology, 15(2): 139-159

    [13] Zhang Juzhong, Wang Xiangkun (1998). Notes on the recent discovery of ancient cultivated rice at Jiahu, Henan Province: a new theory concerning the origin of Oryza japonica in China. Antiquity;72(278):897-901.

    [14] Hirofumi Matsumura, Hsiao-chun Hung, Charles Higham, et al. (2019). Craniometrics Reveal “Two Layers” of Prehistoric Human Dispersal in Eastern Eurasia. Scientific reports;9(1):1451.

    [15] Zi-Yang Xia, Shi Yan, Chuan-Chao Wang, Hong-Xiang Zheng, et al. (2019) Inland-coastal bifurcation of southern East Asians revealed by Hmong-Mien genomic history

    [16] Bing Li, Cheng Zhu, Li Wu, Feng Li, Wei Sun, Xiaocui Wang, Hui Liu, Huaping Meng, Di Wu (2013). Relationship between environmental change and human activities in the period of the Shijiahe culture, Tanjialing site, Jianghan Plain, China
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [17] Liu D, Duong NT, Ton ND, Van Phong N, Pakendorf B, Van Hai N, Stoneking M (2020). Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity. Molecular Biology and Evolution.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [18] McColl H, Racimo F, Vinner L, Demeter F, Gakuhari T, Moreno-Mayar JV, Van Driem G, Wilken UG, Seguin-Orlando A, De la Fuente Castro C, Wasef S (2018). The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science. 361(6397):88-92.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [19] Zhang H, He G, Guo J, Ren Z, Zhang H, Wang Q, Ji J, Yang M, Huang J, Wang CC. Genetic diversity, structure and forensic characteristics of Hmong-Mien-speaking Miao revealed by autosomal insertion/deletion markers. Mol Genet Genomics. 2019 Dec;294(6):1487-1498. doi: 10.1007/s00438-019-01591-7. Epub 2019 Jul 16. PMID: 31312894.

    [20] Nguyễn Đức Hiệp, Đài Loan và cội nguồn Bách Việt
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [21] Luận văn tiến sĩ Văn hóa học: Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa Việt Nam truyền thống – Nguyễn Ngọc Thơ, 2011.

    [22] Matsumoto, Hideo, The origin of the Japanese race based on genetic markers of immunoglobulin G, Proc Jpn Acad Ser B Phys Biol Sci. 2009 Feb; 85(2): 69–82. Published online 2009 Feb 12. doi: 10.2183/pjab.85.69

    [23] Lê Văn Hảo, Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước. Nhà xuất bản Thanh niên, 2000

    [24] Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh. Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam. Nxb: Viện Bảo Tàng Lịch Sử VN (1974).

    [25] Tạ Đức, 2013, Nguồn gốc người Việt – người Mường. NXB Tri Thức.

    [26] Han Xiaorong, The present Echoes of the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern Vietnam and China, Explorations in Southeast Asian Studies, Vol. 2, No. 2, Fall 1998, Hawaii University

    [27] Loofs-Wissowa H (1991). Dongson drums: instruments of Shamanism or regalia?. Arts asiatiques, p.39-49. Doi: 10.3406/arasi.1991.1300
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [28] Higham C (2014). Early mainland Southeast Asia: from first humans to Angkor. River Books, p.200.

    [29] Cung Đình Thanh, “Khái niệm về biển tiến ở Việt Nam”, Tập San Tư Tưởng số 3, ngày 15/7/1999, trg 11 – 16. Joseph Needham, Science and Civilization in China – Tome I : Introduction – Cambridge, England, 1956.

    [30] Jeffrey Barlow, The Zhuang : Ethnogenesis, Pacific University, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [31] Andréas Lommel, 1966, Prehistoric and primitive man. McGraw-Hill publishing.

    [31] Trình Năng Chung, 2015, Mối quan hệ văn hóa Đông Sơn với các văn hóa thời đại kim khí ở Nam Trung Quốc.

    [31*] Lê Trọng Khánh, Những tín hiệu thu nhận từ bản lược đồ địa danh – ngôn ngữ Việt cổ – bước đầu góp phần vào việc tiếp cận một số vấn đề lịch sử cổ đại
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [32] Kinh Lễ. Thiên Vương Chế. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [33] Paola Demattè (2010). The Origins of Chinese Writing: the Neolithic Evidence. Cambridge Archaeological Journal;20(2):211-28.

    [34] Chunfeng Zhang (2019). On determining the nature of Liangzhu 良渚 symbols. Journal of Chinese Writing Systems;3(2):121-8.

    [35] Richard Sears. Các kiểu chữ Việt 戉. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    [36] Richard Sears. Các kiểu chữ Việt 越. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    [37] Đội khảo cổ Thạch Gia Hà 石家河考古队 (1999). Tiêu Gia Ốc Tích 肖家屋脊: Nhà xuất bản Văn Vật 文物出版社.

    [38] Nguyễn Văn Huyên, Vinh Hoàng (1975). Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam. Hà Nội.

    [39] Hoàng Nguyễn, Văn hóa Thạch Gia Hà và nguồn gốc dân tộc Việt.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [40] Sử Ký Tư Mã Thiên, Việt Vương Câu Tiễn thế gia, Phan Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn học (2003).

    [41] Phan Anh Dũng, Về phạm vi cư trú của người Lạc Việt
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [42] Lã Bất Vi (chủ biên) (239 TCN). Lã Thị Xuân Thu.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [43] Sử Ký Tư Mã Thiên, Bình chuẩn thư, Phan Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn học (2003).

    [44] Sử Ký Tư Mã Thiên, Hóa Thực liệt truyện, Phan Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn học (2003).

    [45] Tích Dã, Truyền kỳ về nước Việt Thường thời xưa
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [46] Phan Anh Dũng, Tên gọi Việt Lạc (Lạc Việt) có từ trước đời Thành Thanh
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [47] Phần này chúng tôi lấy tư liệu chủ yếu từ bài viết: Trần Trí Dõi, Trao đổi thêm về từ nguyên của yếu tố “lạc (luò 雒/駱)” trong tổ hợp “lạc việt (luòyuè 雒越)”. Bài Hội thảo Quốc tế ”Văn hóa tộc người Trung Quốc – ASEAN lần thứ 2 (The 2nd Chia-ASEAN Ethnic Cultural Forum)” ngày 13-16.4.2017 tại Quảng Tây, Trung Quốc và Hội thảo Quốc tế “Các khuynh hướng ngôn ngữ học hiện đại và nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam (Modern Linguistic trends and Language Studies in Vietnam)” do Viện Ngôn ngữ học (Viên Hàn lâm KHXH Việt Nam) tổ chức ngày 22.4.2017 tại Hà Nội, Việt Nam. In trong tạp chí Bảo tàng&Nhân học, số 2 (18)-2017, tr 41-53 .ISSN: 0866-7616.

    [48] Huyền sử Hồng Bàng và nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Lang Linh.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [49] Trần Kinh Hòa (Cheng Ching-Ho), 1960, Khảo cứu về danh xưng Giao Chỉ, tạp chí Đại học Huế.

    [50] Tích Dã, Thời đại Văn Lang – Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam: Từ truyện ký đến tín sử
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [51] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ, Quyển I, Kỷ Hồng Bàng thị. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1993).

    [52] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪, bản dịch Lê Hữu Mục, nhà sách Khai Trí (1960).

    [53] Phan Anh Dũng, Vùng Lĩnh Nam lập quốc từ thời Đường Ngu ?
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [54] Colin Renfrew, Bin Liu (2018). The emergence of complex society in China: the case of Liangzhu. Antiquity;92(364):975-90.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [55] Tống Kiến 宋建 (2017). Liangzhu – một quốc gia cổ đại phức tạp bị chi phối bởi thần quyền 良渚——神权主导的复合型古国. 东南文化;(1):6-15.

    [56] Bin Liu, Ningyuan Wang, Minghui Chen, et al. (2017). Earliest hydraulic enterprise in China, 5,100 years ago. Proceedings of the National Academy of Sciences; 114(52):13637-42.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [57] Chunfeng Zhang (2019). On determining the nature of Liangzhu 良渚 symbols. Journal of Chinese Writing Systems;3(2):121-8.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [58] Li Liu, Xingcan Chen (2012). The archaeology of China: from the late Paleolithic to the early Bronze Age: Cambridge University Press.

    [59] Chi Hung 洪曉純 Zhang, Hsiao-Chun (2009). The Neolithic of Southern China–Origin, Development, and Dispersal. Asian Perspectives;47.

    [60] Nguyễn Kim Dung, Truyền thống chế tạo đồ ngọc ở Việt Nam thời tiền sử, Tạp chí KHẢO CỔ HỌC số 4 năm 1998, tr.23-40.

    [61] Dương Việt Đông 杨越东 (2017). Bộ sưu tập và nghiên cứu ngọc văn hóa Thạch Gia Hà 石家河文化玉器收藏与研究: Nhà xuất bản Chiết Giang.

    [62] Ling Shun Sheng, (凌純聲), “Ký bản hiệu nhị đồng cổ kiêm luận đồng cổ đích khởi nguyên cập kỳ phân bố” 計本校二銅鼓兼論銅鼓的起源及其分佈 (đăng trong Đài Loan Đại học Văn Sử Triết học bảo, kỳ thứ nhất, 1950)

    [63] Trình Năng Chung, 2015, Mối quan hệ văn hóa Đông Sơn với các văn hóa thời đại kim khí ở Nam Trung Quốc.

    [64] Phan Anh Dũng, Về địa giới phía Tây của nước Văn Lang
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [65] Tích Dã, Vương quốc Dạ Lang
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [66] Kim J, Jeon S, Choi JP, Blazyte A, Jeon Y, Kim JI, Ohashi J, Tokunaga K, Sugano S, Fucharoen S, Al-Mulla F, Bhak J. The Origin and Composition of Korean Ethnicity Analyzed by Ancient and Present-Day Genome Sequences. Genome Biol Evol. 2020 May 1;12(5):553-565. doi: 10.1093/gbe/evaa062. PMID: 32219389; PMCID: PMC7250502.

    [67] Tư Mã Thiên, sđd, q. 40 – Sử thế gia, tờ 3b.

    [68] Ruiliang Liu, A. M. Pollard, Jessica Rawson, Xiaojia Tang, 2019, Panlongcheng, Zhengzhou and the Movement of Metal in Early Bronze Age China.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [69] Lang Linh, 2020, Khảo cứu về nền văn hóa Đông Sơn.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [70] S.V. Lapteff, The origin and development of the wucheng culture (in the context of intercultural contacts between bronze age inhabitants of the lower yangtze valley and Indochina Peninsula), Archaeology, Ethnology and Anthropology of Eurasia, Volume 38, Issue 4, 2010, Pages 93-102, ISSN 1563-0110,
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    [71] Bùi Hữu Tiến, 2016, Văn hóa Đồng Đậu và vị trí của nó trong thời đại đồng thau ở lưu vực sông Hồng.

    [72] Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia (2015). Văn hóa Đông Sơn – Sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia. NXB Văn hóa dân tộc.

    [73] Phần này chúng tôi lấy tư liệu chủ yếu từ bài khảo cứu của tác giả Phan Anh Dũng: Khảo sát tên gọi Văn Lang trên cơ sở ngữ âm lịch sử được đăng trên báo Văn Hóa Nghệ An.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [74] Tư Mã Thiên (thời Hán). Sở thế gia. Sử Ký.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [75] Lăng Thuần Thanh (Ling Shun Sheng, 凌純聲), giáo sư đại học Đài Loan, “Ký bản hiệu nhị đồng cổ kiêm luận đồng cổ đích khởi nguyên cập kỳ phân bố” 計本校二銅鼓兼論銅鼓的起源及其分佈 (đăng trong Đài Loan Đại học Văn Sử Triết học bảo, kỳ thứ nhất, 1950)

    [76] Trần Hưng, Dấu tích chiến công của các tướng Lĩnh Nam tại Trung Quốc.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [7] Nguyễn Vinh Phúc, Miếu thờ Hai Bà Trưng trên đất Hồ Nam.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [78] Bing Su, Li Jin, Peter Underhill, Jeremy Martinson, Nilmani Saha, Stephen T. McGarvey, Mark D. Shriver, Jiayou Chu, Peter Oefner, Ranajit Chakraborty, and Ranjan Deka (2000). Polynesian origins: Insights from the Y chromosome.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [79] Per Hage, Jeff Marck, (2003). Matrilineality and the Melanesian Origin of Polynesian Y Chromosomes
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [80] Dựa theo the Atlas historique des migrations by Michel Jan et al. 1999 and “The Austronesian Basic Vocabulary Database” 2008.

    [81] Gerard Diffloth (p.c.), trích trong Handbook of East and Southeast Asian Archaeology, 2017, Junko Habu, Peter V. Lape, John W. Olsen.

    [82] Chris Baker, From Yue To Tai, Journal of the Siam Society 90.1 & 2 (2002)

    [83] Zhang và cộng sự, 2020, A Matrilineal Genetic Perspective of Hanging Coffin Custom in Southern China and Northern Thailand
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [84] Bách Việt và quá trình Nam tiến của người Bách Việt – Kiều Quang Chẩn.

    [85] Guizhou Provincial Institute of Antiquity and Archaeology, Tombs of the Yelang Period at Kele in Hezhang, Guizhou
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [86] Lang Linh, An Dương vương trong dòng lịch sử tộc Việt
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    87] Phương Hòa, Chiếc trống có chữ khắc duy nhất trong thành Cổ Loa.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    [88] Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

    [89] Matsumura H, Hung HC, Higham C, Zhang C, Yamagata M, Nguyen LC, Li Z, Fan XC, Simanjuntak T, Oktaviana AA, He JN. Craniometrics reveal “two layers” of prehistoric human dispersal in eastern Eurasia (2019). Scientific reports. 9(1):1-2. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
  11. mr.toanphan82

    mr.toanphan82 Lớp 2

    Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt


    Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

    [​IMG]

    Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

    Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

    Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

    Bách Việt là ai và ở đâu?

    Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

    Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

    Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

    Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

    Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

    Sách Lộ Sử của La Bí (1131 - 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú, Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

    Hán Hóa Bách Việt - Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

    Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô - Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 - 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 - 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

    Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 - 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký - thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân - Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

    [​IMG]

    Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 - con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 - hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô - Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

    Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh - tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

    Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

    Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam... gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

    Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

    Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần - Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

    Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh - Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

    Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

    Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

    Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

    Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

    Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

    Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

    Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 - Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 - Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

    * Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

    * Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

    * Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

    Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

    * Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

    * Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

    Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

    * Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

    * Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

    * Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

    (Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

    Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

    1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

    2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

    3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

    Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

    Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

    Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

    Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần... Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

    Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1


    CHÚ DẪN

    1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?” Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵 âm đọc giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

    3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑, 且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

    #4 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

    5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

    6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

    7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

    8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

    9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

    10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ 雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

    11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

    12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói đóng khố cởi trần).

    13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。” Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

    14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

    #15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

    16 叶榆水

    17岱依人

    18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi, thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

    19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

    20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

    21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo sách cổ nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

    22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

    23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

    24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

    25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

    #26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

    27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? - Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    28 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.


    * Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.
     
  12. mr.toanphan82

    mr.toanphan82 Lớp 2

    Bách Việt
    Là thuật ngữ mà người Trung Quốc thời cổ đặt cho các nhóm dân cư thuộc Ngữ hệ Nam Á và Ngữ hệ Kra-Dai định cư và sinh sống ở tại vùng đất phía Nam Trường Giang

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Hồn sông núi nước Nam còn mãi. Để hôm nay ta lại là ta. Xé mây trời sáng bao la. Anh linh tiên tổ Hùng ca đời đời.

    Dẫn luận


    Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các sự tích của các danh nhân địa phương…
    Truyền thuyết họ Hồng Bàng của người Việt kể rằng Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là tổ của Bách Việt. Cha Lạc Long dẫn 50 người con xuống khai phá vùng biển Đông. Mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên rừng, về đất Phong Châu, lập con cả làm vua, gọi là Hùng Vương. Người Việt ngày nay là con cháu của trăm người con trai đó, tức là một phần của cả dòng họ, đồng bào Bách Việt xưa, cùng chung một nguồn cội họ Hùng.
    Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ…”.
    Cương vực 15 bộ mênh mông của nước Văn Lang thời Hùng Vương, với Tây giáp Tứ Xuyên (Ba Thục), Bắc tới Hồ Nam (hồ Động Đình?), làm các sử gia nghi ngờ rằng đó là lãnh thổ của cả dòng Bách Việt chứ không chỉ của “nước Việt” ngày nay. Lãnh thổ Bách Việt đã trải khắp vùng Hoa Nam, rộng lớn không thể ngờ.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Phạm vi nước Văn Lang thời Hùng Vương theo truyền thuyết

    Truyền thuyết từ thời cha sinh mẹ đẻ không sai. Chính sử Việt chép cũng không sai. Bởi vì đó là những thông tin, những ghi chép lịch sử của cả cộng đồng người Bách Việt còn lưu lại chứ không phải chỉ của nước Đại Việt vào thời Lê sau này. Nếu nhìn nhận các truyền thuyết lịch sử Việt tách rời khỏi không gian và thời gian mà nó hình thành sẽ dẫn đến những lệch lạc vô cùng lớn, làm cho những câu truyện truyền thuyết trở nên không thể hiểu nổi. Với “tầm nhìn thời đại” của các chuyên gia sử học ngày nay thì những chuyện “trâu ma rắn thần” của thời cổ sử bị biến thành không “chích quái” thì cũng là “u linh”, mờ ảo. Thế nhưng, quá khứ xa xôi của người Việt lại nằm chính ở những dòng huyền sử lắng đọng đó. Chối bỏ huyền sử tức là quay mặt lại với quá khứ, với tổ tiên nòi giống.
    Người Việt là một phần của đại tộc Bách Việt là điều thật rõ, rõ ngay từ cái tên gọi. Vì thế lịch sử Bách Việt cũng là lịch sử của người Việt. Sách Hán thư viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình.” Bách Việt là một cộng đồng các dân tộc cùng nguồn gốc sinh sống ở phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương từ thời trước Công nguyên. Về nhân chủng học thì Bách Việt là những cư dân thuộc loại hình Nam Mongoloid (Nam Á), trong đó bao gồm những nhóm dân tộc Tày Thái, Việt Mường, Môn – Khmer và cả Miêu Dao, phân bố ở Hoa Nam và Đông Nam Á ngày nay.
    Trung Quốc thời nay là một tập hợp các vùng lãnh thổ nơi mà trong quá khứ đã được sinh sống bởi những tộc người khác nhau. Con sông Dương Tử chia đại lục Trung Quốc thành 2 phần gần bằng nhau. Một nửa lãnh thổ Trung Quốc là đất người Bách Việt vào thời trước Công nguyên nên lịch sử Trung Hoa không thể không có những khoảng thời gian là lịch sử Bách Việt. Hơn thế nữa, một nửa phương Nam mới là nơi đã làm nên nền văn hóa Trung Hoa cổ đại rực rỡ. Những công trình xác nhận vai trò của văn hóa Bách Việt đối với nền văn minh Trung Hoa cổ xuất hiện ngày càng nhiều. Bắt đầu từ những bước lội ngược dòng của giáo sư Kim Định vào những năm 1970 chỉ ra những đóng góp to lớn của văn hóa Việt trong văn hóa Trung Hoa cổ. Hay gần đây hơn như công bố của giáo sư người Nga Dega Deopik, Viện các nước Á – Phi thuộc trường Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva, cho rằng chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa là người Môn – Khmer, tức là người Bách Việt. Cho tới nay, chính nghiên cứu của những nhà khoa học Trung Quốc tại vùng Lĩnh Nam cũng đang khẳng định điều này.
    Xem lại lịch sử Trung Hoa thời trung đại. Thế kỷ thứ 13 khi vó ngựa Mông Cổ tung hoành khắp đại lục Trung Hoa, nước Đại Lý, rồi Nam Tống của người Hoa lần lượt bị quân Nguyên thôn tính. Chỉ có nhà Trần trên đất Đại Việt – Giao Chỉ là kiên cường chống quân xâm lược. 3 lần đại thắng quân Nguyên của vua tôi nhà Trần không chỉ là chiến thắng của người Việt trước quân giặc phương Bắc mà còn là chiến thắng của cộng đồng Bách Việt trước sự bành trướng của ngoại tộc Thát Mông. Nhà Trần vốn xuất xứ từ vùng đất Mân Việt ở Phúc Kiến – Chiết Giang, là đất Trung Hoa, cũng là đất Bách Việt xưa. Xét vậy thì giữa nhà Trần và nhà Nguyên rõ ràng nhà Trần mới là Trung Hoa đích thực. Nhà Nguyên là triều đại của người Mông Cổ, không liên quan gì tới Trung Hoa cổ đại. Các vua Trần rồi vua Lê sau đó trong không ít thư tịch, văn bia để lại đã gọi quốc gia của mình là cõi Trung Hạ, Trung Quốc, thậm chí Hoa Hạ (xin xem các trích dẫn trong phần Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linktrong sách Ngàn năm áo mũ).
    Gần hơn nữa, có Nguyễn Huệ, tên thật là Hồ Thơm, người họ Hồ từ tổ tiên dòng Đế Thuấn nước Ngu của Trung Hoa cổ đại. Trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa Càn Long nhà Thanh và vua Quang Trung ở thành Thăng Long thì rõ ràng triều đại của Quang Trung mới là người Trung Hoa chính gốc. Nhà Thanh là người Mãn Kim, không hề có dây mơ rễ má gì với Trung Hoa cả.
    Sang đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng lên ngôi, đoàng hoàng, công khai cho đúc Cửu đỉnh, là 9 chiếc đỉnh lớn tượng trưng cho vương quyền của Trung Hoa, đặt ở kinh thành Huế. Chiếu chỉ đúc đỉnh ghi rõ: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu…”.
    Những chiếc đỉnh được đúc theo gương “các minh vương thời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) này là minh chứng rõ ràng, triều Nguyễn mới là “thiên tử” chính truyền của Trung Hoa thời kỳ này.
    Truyền thuyết lịch sử Việt được chép trong Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái là những thu nhặt chuyện kể trong dân gian từ thời Trần. Những câu đối, hoành phi trong các đền miếu ngày nay còn giữ lại được phần lớn là từ thời Nguyễn. Có vẻ niên đại của những minh văn này không đủ xa, đủ lâu so với những thư tịch chính sử… được mang từ bên Tàu về. Nhưng giá trị của những tư liệu dân gian này là ở chỗ nó không bị chỉnh lý bởi quan niệm sử chính thống hay bị bóp nặn theo ý đồ của ai đó. Những thần phả, thần tích địa phương ở nước ta được chép với quan điểm Trung Hoa – Bách Việt rõ ràng, bởi vì vào thời kỳ đó chỉ có Việt mới là Hoa thực thụ.
    “Trung Hoa” trong quá khứ là từ chung chỉ “thiên hạ” của các tộc người vùng Đông và Đông Nam Á. Trung Hoa xưa và Trung Quốc nay không phải là một. Trong số các dân tộc của Trung Quốc ngày nay thậm chí còn không có dân tộc “Hoa”, chỉ có Hán tộc mà thôi. Hoa không hề là Hán như vẫn người Tàu vẫn chú thích một cách vô căn cứ vì người Hoa là người Bách Việt, còn Hán là người Bắc Mongoloid, cùng dòng giống với người Liêu, người Kim, người Thát (Mông Cổ).
    Nhận định lịch sử Trung Hoa cổ đại là lịch sử Bách Việt mà người Việt ở nước Nam ngày nay là một bộ phận độc lập còn tồn tại cho phép giải mã được phần lớn các truyền thuyết lịch sử Việt. Đây không phải là “lấy sử Tàu làm ta”, bởi vì “sử Tàu” hay “sử ta” ngày nay chỉ là những cách chép sử với góc nhìn mang hạn chế của vùng lãnh thổ hiện tại vào thời điểm hiện tại. Nước Nam của thời đầu Công nguyên có lãnh thổ hoàn toàn không giống với nước Đại Việt thời Lê hay với nước Việt Nam thế kỷ 21 này. Những sự kiện, những nhân vật lịch sử nước Nam thời cổ và trung đại có tầm vóc, phạm vi vượt ra ngoài khuôn khổ lãnh thổ quốc gia ngày nay bởi đó là lịch sử ghi chép theo quan điểm dân tộc Bách Việt trên địa bàn của Trung Hoa rộng lớn.
    Lĩnh Nam chích quái là truyền thuyết của vùng Lĩnh Nam, tức là của cả vùng đất Bách Việt. Giải mã, đối chiếu truyền thuyết và lịch sử của nước Nam không thể chỉ hạn chế ở ranh giới Việt – Trung mới được định lại vào sau thời “Trung Hoa dân Quốc” của Tôn Trung Sơn (năm 1911). Từ đầu Công nguyên cột đồng phân giới giữa Trưng Vương và Mã Viện hoàn toàn có thể nằm ở tận Bắc Quảng Tây. Bảy quận nước Nam của Giao Châu thời Sĩ Nhiếp chẳng chừa vùng Lưỡng Quảng. Lưu Cung lập nước Đại Việt năm 917 không phải là trên vùng đất Nam Việt nhà Triệu xưa? Đó đều là lịch sử Việt cả.
    Thiên Nam ngữ lục, trường ca thơ sử bằng chữ Nôm cuối thế kỷ 17 là một kho tàng sử liệu cực kỳ quý giá đối với nghiên cứu lịch sử Việt. Tác phẩm có niên đại cùng thời Ngô Sĩ Liên chỉnh lý Đại Việt sử ký toàn thư. Bộ ngữ lục này được sáng tác bằng thơ, bằng chữ Nôm, nhưng không có nghĩa là “tùy tác”. Đây là một tác phẩm được soạn để dâng lên chúa Trịnh, là một cuốn chính sử hoàn toàn nghiêm túc như trong câu mở đầu tác phẩm đã nói:

    Trải xem sự kỷ nước Nam
    Kính vâng tay mới chép làm nôm na.


    Truyền thuyết, thơ sử lưu truyền ngày nay bị cho là có tính “thảng thốt” về lịch sử, bởi vì những gì được chép lại không giống với dòng sử bác học đang lưu hành. Không giống không có nghĩa là không đáng tin, đáng nghĩ. Những chỗ mà dòng sử dân gian vênh lệch so với sử hàn lâm chính là những chỗ lịch sử nước Nam cần phải xem xét lại, phải diễn giải lại cho đúng với không gian thời gian của lịch sử.
    Bên cạnh phạm vi lãnh thổ và thời gian, để hiểu đúng truyền thuyết còn cần lùi cách nhìn nhận lại vào đúng không gian ngôn ngữ văn hóa của thời kỳ mà truyền thuyết được hình thành. Ví dụ từ “cửu trùng” hiểu như ngày nay là “9 tầng” thì sẽ dẫn đến những điều vô lý, chẳng đâu vào đâu. Xưa lên ngôi vua gọi là lên “ngôi cửu trùng”. Đền Thượng thờ vua Hùng ở Phú Thọ gọi là Cửu trùng thiên điện, không phải nghĩa là điện thờ ở 9 tầng trời mà là điện thờ Vua, thờ ông Trời. Thành Cổ Loa không phải có 9 vòng thành, mà là tòa thành từng được gọi là “Cửu trùng thành”, nghĩa là thành nơi có Vua. Cửu trùng hay trùng cửu – trường cửu là từ mượn âm, dùng để xưng tụng, tung hô với nghĩa như từ “vạn tuế”. Đời vua Hùng Vương 18 không phải là đời vua Hùng cuối cùng, mà ngược lại, 18 là trùng cửu (9×2), là con số chỉ sự trường tồn của thời đại Hùng Vương.
    Những cái bẫy của ngôn ngữ do sự khác biệt xưa – nay đã làm lạc hướng các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt, dẫn đến “sai một ly đi một dặm”. Do chữ Nho là thứ văn tự bản chất tượng hình nên để ký âm, nhất là âm của ngôn ngữ khác, các nho sĩ xưa phải dùng phép phiên thiết. Phiên thiết một âm là dùng 2 “ký tự” (2 chữ), một tự ký phụ âm, một tự ký vần, ghép lại để ghi âm. Một âm Nôm khi chép vào sử sách do vậy biến thành 2 chữ Nho, lâu ngày người ta quên đi rằng đây là các “ký tự” để ghi âm chứ không phải ghi nghĩa. Mê Linh là 2 ký tự ghi âm Minh – Minh đô của vua Hùng, chẳng phải loài chim M’linh, M’lang nào cả. Tên làng Vân Già thiết , chứ không phải đám mây có tuổi mà “già”…
    Truyền thuyết không phải là lịch sử, nhưng nếu truyền thuyết được quy chiếu vào đúng hệ tọa độ không gian – thời gian – ngôn ngữ – văn hóa sẽ trở thành lịch sử thật sự. Một trong những tọa độ căn bản của văn hóa phương Đông xưa là Dịch học, là Hà thư Lạc đồ, là Âm Dương Ngũ Hành. Hà là trời, Lạc là đất. Hà thư là những cặp số sắp xếp theo phương vị để chỉ 4 phương trời và một phương trung tâm. Do đó Ngũ Lĩnh là 1 ngọn núi tên là Ngũ, tức là ngọn núi ở trung tâm. Kinh Dương Vương đi tuần ở Ngũ Lĩnh, không phải là nơi có 5 ngọn núi ở bên Tàu. Bát Hải không phải là có 8 cửa biển mà là biển nằm ở phương Tám, tức là phương Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình củaThoải phủ trong đạo Mẫu do vậy không hề xuất xứ từ đầm nước ở Hồ Nam mà là vị vua của biển Đông, là cha Lạc Long đã dẫn 50 người con xuống biển.
    Khi các con số chỉ phương hướng của Hà thư lại phối chồng lên với các tính chất của Ngũ hành hay các quẻ của Bát quái thì sự thể còn đi xa hơn nữa. Từ Lạc – Nác – Nước, cũng là Lục, là số 6, con số chỉ phương Bắc ngày nay. Hùng Vương thứ sáu là Lạc Vương, nghĩa là vua vùng đất phía Bắc, đồng nghĩa với Kinh Dương Vương (Canh Giêng Vương). Tên nước Xích Quỷ hay Xích Quẻ là quẻ chỉ hướng Nam, hướng Xích đạo. Hiểu nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân thành “quỷ mặc áo đỏ” thì chẳng ra ngọn ngành gì cả…
    Những ví dụ về ngôn ngữ như vậy trong cổ sử Hoa Việt vô cùng nhiều. Không vận dụng Dịch lý thì không thể hiểu được những nhân danh, địa danh trong quá khứ, tức là không thể hiểu được những “mật mã” mà tiền nhân người Việt đã nhắn gửi trong những câu truyền thuyết.
    Ngôn ngữ, văn hóa không chỉ đọng lại trong thư tịch, trong truyền thuyết, trong hoành phi câu đối điện thờ. Những hiện vật khảo cổ của từng thời kỳ lịch sử, có minh văn hay không có minh văn, đều tự kể chuyện mình, kể những câu chuyện hoàn toàn không như cách “giải đoán” của các sử gia ngày nay. Tấm bia Xá lợi tháp minh phát hiện ở Bắc Ninh ghi rõ năm 601 Giao Châu là đất “thuộc bản đồ đế quốc Tùy”, do thứ sử Lưu Phương cai quản. Tức là Lý Phật Tử – Triệu Việt Vương không hề đóng đô ở Long Biên vào những năm này. Đồng tiền cổ với chữ Đinh ở mặt sau thời Ngũ đại thập quốc lại có tên được đúc trăm đồng như một là “Đại Hưng bình bảo”, xứng tên nước Đại Hưng rõ ràng. Chuông cổ Nhật Tảo ở Hà Nội đúc năm Càn Hòa thứ 6 cho biết năm 948 Giao Châu đang là một huyện dưới thời vua Lưu Thịnh ở Quảng Đông. Trận đại thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng do đó không thể xảy ra vào năm 938 được…
    Ngày càng có nhiều những phương pháp, những dẫn chứng thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau soi thấy chính sử nước Nam đã được chép… đúng mà không đúng. Lịch sử bị biến thành huyền thoại vì đã không được đặt đúng, hiểu đúng trong tọa độ vốn dĩ của các sự kiện từng xảy ra. Giải mã những huyền thoại, truyền thuyết Việt không phủ nhận, mà trái lại, giúp làm rõ thêm lịch sử. Lịch sử nước Nam là lịch sử của cả đại tộc Bách Việt trên phạm vi thiên hạ Trung Hoa rộng lớn thời cổ trung đại. Lịch sử Hoa Việt thật sự càng lộ rõ thì tộc danh Bách Việt càng rực rỡ, rực rỡ như đã từng tỏa chiếu trong quá khứ.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkHình ảnh trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

    Những thông điệp từ quá khứ được nhắn gửi rõ ràng ngay trên mặt trống đồng, linh khí của người Việt cổ. Ở chính giữa mặt trống đồng là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống muôn loài. Ngọn lửa ánh sáng ở trung tâm tức là Trung Hỏa – Trung Hạ hay Trung Hoa. Trung Hoa là cõi thiên hạ của người Bách Việt. Vòng ngoài cùng của mặt trống đồng Ngọc Lũ khắc 18 cặp chim, 1 non và 1 trưởng thành đang tung bay. 18 là trùng cửu, là trường cửu. Ý nghĩa của vòng ngoài mặt trống đồng là đời sau con cháu nối tiếp ông cha đời trước mà trường tồn. Thông điệp của trống đồng gửi từ ngàn xưa về là Bách Việt trùng cửu, một sự khẳng định: Bách Việt trường tồn với thời gian.

    Tam Miêu - Bách Việt



    Tại Hà Bắc liên minh Hoàng Đế (con vua Thiếu Điển) và Viêm đế ( Du Võng) được thành lập. Trong trận Trác lộc, thủ lĩnh Xuy Vưu của bộ tộc Cửu Lê đã bị liên minh Viêm Hoàng giết tại hang Hung Lê,. sau khi diệt được Xuy Vưu, Hoàng Đế lại diệt luôn Viêm Đế. Dân cư của Viêm Đế gồm tộc Hạ và tộc Khương, một số ở Sơn Tây sống dưới sự cai trị của dòng Hoàng đế làm nên văn minh Hoa Hạ, một số dân cư ở Khúc Phụ (Sơn Đông) vẫn chung sống với hậu duệ của bộ tộc Cửu Lê hay Miêu Lê là người Lão lai với người Caucasian . Người Lão có lẽ là họ Toại Nhân được cho là phát minh ra lửa đã di cư từ di chỉ Hemudu đến di chỉ Dawenku khoảng 4300 tr Cn , những người Hạ và người Khương này đã trở thành người Đông di, họ cùng người Miêu Lê phía đông bắcTrung Hoa vẫn luôn nổi dậy để chống lại Hoàng đế , được gọi là Tam Miêu. Khi vua Nghiêu thắng trận Đan Thủy ở đất của Tam Miêu (còn được gọi là bộ Di Lão) thì các dòng tộc của Tam Miêu tản mác khắp nơi còn những người nổi dậy được xem là một trong tứ hung. Tứ hung thời ấy gồm Hoan Đâu, Cộng công, Tam Miêu và Bá Cổn.(cha của Bá Vũ) Mặc dù Tam Miêu nổi dậy từ thời vua Nghiêu còn cai trị nhưng vua Nghiêu chưa xử tội cho đến khi vua Thuấn kế vị lúc ấy tứ hung mới bị lưu đày. Thượng thư chép rằng sau khi Vua Thuấn kế vị liền họp mặt với trưởng lão chư hầu bốn phương, thu nạp người hiền và bổ nhiệm các chức quan, trong đó Cao Đào là hậu duệ của Cửu Do Thiếu Hạo được giữ chức pháp quan. Vừa khoác áo quan Cao Đào lập tức tạo ra hình luật, thiết lập nhà tù và lưu đày tội phạm. Kinh văn nói : “Lưu Cộng công vu U Châu, phóng Hoan Đâu Sùng sơn, soán Tam Miêu vu Tam Nguy, cứu Cổn vu Vũ Sơn, tứ tội nhi thiên hạ hàm phục”

    Nhà nghiên cứu Ahxiang Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link căn cứ vào Trúc thư kỷ niên cho rằng Tam Miêu là những người đã sống trên vùng đất sau này là nước Sở, họ đã bị vua Thuấn đày đến núi Tam Nguy phía tây Trung Hoa tận Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay để trừng phạt họ vì đã giúp đỡ con trai của vua Nghiêu (Đan Chu) trong việc nổi dậy chống vua Thuấn.

    Theo Thượng thư , chương Vũ cống sơn thủy thì dân Tam Miêu bị đày ra Tam Nguy sống ở vùng hồ Trư Dã. Ở Châu Ung, núi Kỳ, núi Chung Nam, hang Điểu Thử tới hồ Trư Dã là nơi có nhiều ngọc, dân cư sống ở vùng này là dân Tam Miêu, dân Côn Lôn, dân Cửu Sưu và Tích Chi được Trung hoa gọi chung là Yueh-zhi (Nhục Chi), trong đó Tam Miêu là hậu duệ của Viêm Đế với Xuy Vưu gồm ba tộc người : tộc Hạ và tộc Khương thuộc dòng Viêm Đế và Miêu Lê (Bộc Lão) là hậu duệ của Xuy Vưu.

    Tộc Khương có một phần dính líu với hoàng tộc thời ấy vẫn ở trong bộ máy cai trị, nội tổ của Chu Văn vương là hậu duệ của ông Ích Tắc. Ích Tắc là con Bà Khương Nguyên với Đế Cốc được vua Nghiêu phong cho chức nông sư, có lẽ nông nghiệp ở khu vực phía bắc từ trước nhà Hạ chuyên trồng lúa tắc nên có tên Ích Tắc, con cháu của Tắc đời sau ở đất Bộc gồm Thái Bá,Trọng Ưng và Quí Lịch. Con Quí lịch là Cơ Xương được giữ đất tổ ở Kỳ Sơn – Thiểm tây; Thái Bá ( tổ tiên của người Nhật) lập ra nước Ngô ; Trọng Ưng lập ra Thích Việt, như vậy gốc tổ của nhà Chu là tộc Khương thuộc Viêm đế lai dòng Hoàng đế nhưng các vị vua của nhà Chu không mang họ Khương mà đều mang họ Cơ của dòng Hoàng đế. Từ khi bị vua Thuấn đày vào Tân Cương thì một bộ phận của tộc Khuơng trở thành Tây Nhung tô tem rồng gốc Viêm tộc Tam Miêu sống đời du mục kết thân cùng Tạng tộc.

    Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì người tộc Khương tô tem rồng nói tiếng Hán-Tạng (Sino-Tibetan) có cùng chung dòng máu với người Hạ nhưng khác nhau về văn hóa như cách ăn mặc, tiền bạc, và ngôn ngữ.

    Con dân của Viêm đế tộc Khương- Hạ không bị lưu đày vào thời vua Thuấn vẫn sống ở Sơn Tây thuộc phe Hoa Hạ , một số vẫn sống ở Sơn đông vùng Khúc phụ và vùng núi Yushan là đất Tề- Lỗ thuộc phe đông di, người Hạ-Khương ở Sơn đông như đã nói ở trên , đã trở thành Đông di của nhóm Bộc Lão. Trải qua hai triều đại Hạ-Thương nhóm Đông di phân biệt ra hai dòng “Di” là Phong Di và Hoài Di rất hùng cường đã giúp cho nhà Chu diệt vua Trụ ở Mục Dã, rồi dòng Hoài Di vào đất đất Bội, Yêm, Từ và sau này họp lại thành tộc Ư Việt với các họ Lâm, Nùng, Lý, Lê, hùng cứ đất Lạc Ấp, sau này Lạc Ấp mất về tay nhà Chu, Đông di lại bị lưu đày .

    Vào đời Chu những người Di sống ở bán đảo Sơn Đông thường hay bị nhà Chu đàn áp do nhà Chu thuộc Hoa Hạ, Tây Bá Xương (Chu văn vương) đã có lần tấn công Khuyển Rồng , Chu Vũ vương đã đày những người dòng Viêm đế mang tô tem rồng ( Rong di) về phía bắc sông Kinh và sông Lạc đến tận biên cương Cam Túc, những người này còn được gọi là Hoang Phục ( Huangfu) do tính phục tùng thất thường của họ.Theo trúc thư, vào khoảng 985 BC Chu Mục Vương không nghe lời khuyên của quân sư đã tấn công Rong-di, sau đó đánh bại Khuyển rồng (Quan rong) và đày Khuyển rồng đến Thái nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây, Chu Tuyên vương (827-782BC) đã đánh Khương rồng nhưng bị bại trận và mất đội binh Nan-ren ( những chiến binh từ Nam Dương thuộc Hà Nam) dân Bách Bộc LãoViệt phải chạy tứ phương, một số đi thuyền theo bờ biển xuống vùng phía đông Hoa nam, một số chạy về phía tây xuống vùng Tứ xuyên.

    Khi dòng Lạc Việt ở Lạc ấp bị mất đất thì dòng Sở Hùng lại cường thịnh , đời Hùng Vương VI vào năm 887 BC Hùng Cừ đem binh đánh lấy đất Đông và Dương Việt rồi cho con trưởng là Khang ( Wukang) ở đất Câu Đản, cho con thứ hai là Hồng ( Zhihong) đất Ngạc ở Hồ Bắc, cho con thứ ba là Chấp Tỳ làm vua ở nước Việt Chương là Việt Thường trước kia. Ghi chép trên cho thấy Hùng Cừ đã theo truyền thống của Đế Minh truyền ngôi vua cho con út và ban cho các con lớn những vùng đất mới mở mang. Chấp Tỳ lên ngôi vua truyền được nhiều đời , sau đó thì suy và mất chủ quyền về tay Sở Thành Vương.

    Còn con cháu Khang ở đất Câu Đản có lẽ đã kết với Khuyển rồng họ Lạc tấn công vào Cảo Kinh. Thời U vương (781-771BC) khi U vương say mê Bao tự xa lánh hoàng hậu họ Thân gốc Khương tộc, định truất phế thái tử Nghi Cửu để lập con của Bao Tự là Bá Phục thay thế, Thái Tử Nghi Cửu mách với ông ngoại , Hầu Thân tức giận bèn liên hệ với Viêm tộc Khuyển Nhung kéo vào đánh úp Cảo Kinh giết U Vương ở Ly Sơn . Hầu Thân sau đó lại viết thư triệu các nước chư hầu Tấn, Tần, Trịnh đến đánh quân Khuyển nhung. Quân ba nước kéo đến đánh tan quân Nhung, con trưởng của U Vương là Nghi Cửu được lập lên ngội là Chu Bình Vương và dời kinh đô về Lạc Ấp. Từ đó không thấy sử nói đến hành tung của Khuyển Nhung.

    Khi dòng Sở Việt bị mất đất bấy giờ ở phía nam sông Dương Tử lại nổi lên dòng Bách Việt : Bách Việt ở phía tây núi rừng là dân Bách Bộc-Lão Việt gọi là Tây Âu, còn Bách Việt phía đông Nam hùng cứ vùng hải tần từ Hà nam xuống đến hồ Động đình và các đảo Hải Nam là dân Lạc Việt gọi là đông Việt. Sách Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử đời Tống cho rằng người Âu tức người Việt họ Lạc có nguồn gốc từ núi Hùng Nhĩ ( núi có hình dáng giống tai gấu) trong dãy Tần Lĩnh. Điều này cho thấy rằng tất cả dân Việt cùng với các dân tộc anh em gốc Nam Đảo sau khi bị đàn áp đã trôi dạt về phía tây Trung Hoa sống tại Đôn hoàng vùng sa mạc Gobi, núi Tam Nguy, hồ Trư dã , vùng Tân Cương, cao nguyên Tây Tạng , sau này họ cũng như người Bộc Lão và Âu Việt họ Lạc từ Hùng Nhĩ Sơn đều định cư ở Hoa nam.

    Dân tộc Nhục chi ở Đôn Hoàng đã qua tây vực rồi từ tây vực lộn qua ngả Ấn Độ. Nhục chi là tộc người đã lập nên Bắc Ấn. Theo sử Ấn Độ, Nhục Chi có mặt ở tây bắc Ấn vào thời vua Kanichka, khoảng 130BC đầu phục tộc chủng Bactriane sau đó chuyển đến vùng Bắc Ấn. Dân Nhục chi gồm có 5 chi tộc chính mà cầm đầu là chi tộc Kushan . Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (trang Nguyệt chi): Người Yueh Zhi định cư trong các vùng đồng cỏ khô cằn thuộc miền đông khu vực lòng chảo Tarim đã di cư tới Bactria khoảng 130BC, sau đó tới miền bắc Ấn độ và lập ra vương triều Quí Sương ( Kushan). Trong Sử ký Tư Mã Thiên ( thế kỷ thứ 2-1 BC) : “ người Nguyệt chi ban đầu sống trong khu vực giữa Kỳ Liên Sơn và Đôn Hoàng”, tương ứng với nửa phía đông của lòng chảo Tarim và phần phía bắc của Cam Túc.

    Khoảng 176 BC dân tộc Nhục chi đã bị hung nô đánh đuổi bỏ Cam Túc lấn vào Tây vực rồi xuống Ấn độ như đã nói trên, mở con đường mà Huyền Trang đã đi qua . Còn chủng Tam Miêu và một số người Việt - Nhục Chi , người Ô Tôn ( Hồ Tôn ?) có lẽ không rút vào tây vực mà trước đó từ lâu đã di cư xuống tây nam Trung Hoa theo ngã Tân Cương- Thanh Hải , Bengal- Miến Điện đến Tứ Xuyên. và Vân Nam . Việt Nhục Chi cùng Khương tộc có lẽ vào Tứ xuyên hình thành văn hóa ngoại lai Sanxingdui cách đây hơn 3000 năm, người Việt nhục chi ở Tứ Xuyên mang nét Caucasoid , một số ít có mắt xanh và tóc màu sáng Các dân tộc ở Tứ Xuyên được phân thành hai loại thuần và hoang, vào khoảng 1000 BC đã di cư xuống phía nam ở tại di chỉ Jinsha sau đó đổ xuống Quí Châu, Vân Nam cùng Việt giao chỉ - Bách Bộc sau này lập ra Cửu Chân- Chân lạp, Tây đồ di, Phù Nam, Lâm Ấp, Việt Thường , sau này một số dân tộc trên bị nhà Hán đẩy lui xuống Thanh Hóa, Nghệ An , đến miền Trung Việt nam.

    Ở di chỉ Tam tinh đôi (Sanxingdui) Ba- Thục (Tứ xuyên) người ta đã khai quật được nhiều đồ đồng có kiểu dáng không giống đồ đồng Hoa Bắc với các mặt nạ cũng như tượng người có mắt lồi , miệng rộng , kiến trúc ở đây cũng được xây bằng loại gạch chưa nung giống như ở Tân Cương. Người Ba ờ vùng này có lẽ là Khương tộc thuộc Tam Miêu sau này đã rời Trung Hoa vào khoảng 200 BC để lập nên nước Chân Lạp. Còn dân Cửu chân có thể là người Kushan (Quí Sương) hoang dã của tộc chủng Việt Nhục Chi đã di cư xuống qua ngả Tứ Xuyên , họ không biết cày cấy. Hậu Hán thư chép : “ Người Cửu Chân tục lấy săn bắn làm nghề nghiệp, không biết cày bằng trâu bò”. Đông quan Hán ký viết : “Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt ở ruộng”. Tiền Hán thư viết : “ Dân thường hay túng thiếu phải nhờ Giao Chỉ giúp lúa cho”. Sử Trung Hoa nói rằng khi Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân bấy giờ dạy cho dân cày cấy, có lẽ là dạy cho người Cửu Chân này.

    Theo Thượng Thư , chương Vũ cống sơn thủy , thì con sông Hắc thủy ở về phía tây bắc Tửu Tuyền chảy về hướng tây qua Tam Nguy sơn đến vùng sa mạc cạnh Đôn Hoàng, ngoài ra ở Lương châu còn có một con sông Hắc thủy còn gọi là Kim sa giang ở Vân Nam, như vậy cũng có thể là tộc Tam Miêu khi di cư xuống Vân Nam đã mang theo tên của con sông này.

    Sử Ký Tư mã Thiên cho rằng trong số Nam man có Dạ Lang (Yelang) tọa lạc ở phía tây nam Quí Châu là lớn nhất, ở phía tây Vân Nam là Điền Việt xung quanh hồ Nhĩ Hải (Erhai) được công nhận có kỹ thuật đúc đồng niên đại khoảng 1200BC. Tư Mã thiên đã phân loại người man ở tây nam Trung hoa thành hai nhóm: Nam di tương đương với người Bộc Việt có tổ tiên sống ở phía nam sông Hán thủy vào thời Thương Chu và Tây di là người Khương.

    Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ , học giả Zhan Quanyou cho rằng :
    - Vân Nam có đồ gốm đơn sắc đa dạng có niên đại từ thời kỳ đồ đá mới
    - Vùng đông nam tỉnh Vân Nam có rìu đá với hoa văn tương tự như những thứ khai quật ở phía đông nam Trung hoa.
    - Ở giữa, ở phía tây và tây bắc tỉnh Vân Nam có đồ gốm, vũ khí bằng đá , tục lệ mai táng và hoa văn kiến trúc giống như những thứ khai quật được ở khu vực sông Hoàng Hà.
    Zhan Quanyou dẫn chứng lời của Li Kungsheng, trưởng viện bảo tàng rằng:
    - Phía tây Quí Châu và đông-đông bắc Vân Nam là đất của tộc Lao-ren.cổ
    - Quảng tây, Việt nam và đông nam Vân Nam là đất của người Lạc Việt cổ.
    - Ở trung tâm Vân Nam như vùng sông Langcan ( Mê kông) và hồ Dianchi là đất thuôc người Di Khương và người Bộc Việt cổ
    - Phía tây Vân Nam như Bảo Sơn thuộc về đất của người Điền việt cổ

    Học giả Zhang Zenggi cho rằng nền văn hóa hồ Erhai niên đại 3800 năm ở phía tây Vân Nam là văn hóa nông nghiệp trồng lúa như phía nam sông Dương tử với các dụng cụ nông nghiệp và dấu tích của gạo. Trái lại , nét văn hoá như đồ gốm, việc chôn cất và kiến trúc của vùng này tương tự như văn hóa Mã gia Diêu ( Majiayao) ở Thanh Hải và văn hóa Bán Pha (Banpo) ở Tây An tỉnh Thiểm tây.

    Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Ở HeZhang thuộc Quí Châu ( giáp Tứ Xuyên) có một nền văn hóa bí ẩn đã phát triển thịnh vượng, người ta khai quật 108 ngôi mộ và tìm được 540 di vật bằng đồng và ngọc quí. Các nhà nghiên cứu cho rằng người Yelang đã cai trị vùng này kéo dài hơn 200 năm từ thời Chiến quốc (475-221BC) đến thời Tây Hán (206BC-24AD)

    Với những chứng cứ khảo cổ trên , có thể nói rằng người Bách Việt ở phía đông nam Trung Hoa và người Bách Bộc-Lão-Việt phía tây nam Trung Hoa là những tộc người đã từng sống tại Hoa Bắc trải dài từ lưu vực Hoàng hà đến Thanh Hải ở phía tây Trung Hoa. Theo cổ thư, thuở xưa Hồ Bắc Hồ Nam là đất của người Bộc Lão , cũng thuộc dòng Cửu Lê . Người Lão đã di cư xuống tới đảo Quỳnh Nhai, rồi lại định cư tại Thái Nguyên Bắc Việt ngày nay thành một huyện Lão Nhai. Khoảng giữa lưu vực sông Nguyên- Tương có quận Kiền Trung của Sở cũng là đất Bách Bộc. Lăng Thuần Thanh, học giả Trung Hoa cho rằng: “ nước Sở là giống Bộc Lão nhưng giai cấp thống trị của Sở lại là miêu duệ của Thần nông và Chúc Dung” ( Chúc Dung trong truyền thuyết gọi là thần lửa. Ở Hoa nam- Chiết Giang người ta tìm được dung cụ làm ra lửa niên đại khoảng 8000 năm) . Như vậy cũng phù hợp với truyền thuyết vua Kinh Dương Vương có cha là Đế Minh họ Thần Nông và mẹ Vụ Tiên là người Lão. Sau khi Kinh Dương Vương lập quốc thành họ Hồng Bàng , có thể người Lão-Việt đã theo Kinh Dương Vương di cư xuống miền Bắc Việt Nam thành người Phùng Nguyên của họ Hồng Bàng . Người Lão là người Melanesien hay có thể gọi là người Hoà Bình, ở Hoa bắc cũng có người Lão có lẽ đã di cư từ di chỉ Hemudu thuộc Chiết Giang đến di chỉ Dawenkou thuộc Sơn Đông khoảng 4300 BC khi vùng Chiết giang bị ngập mặn, lúc con cháu dòng Thần Nông đến Sơn Đông họ sống chung với người Lão có yếu tố Melanesien-Caucasian như Thái, Lào , Miêu Lê, Dao...., từ chỗ có sự hỗn chủng cho nên sau này Thần nông trở thành tổ tiên chung của người đông nam á. và khi một số trong các tộc này trở xuống Hoa Nam theo ngả Bangladesh-Miến Điện thì trở thành Indonesien.

    Lăng Thuần Thanh cũng cho rằng tất cả các dân cư sống chung quanh đầm Vân Mộng ( Động đình hồ) là giống Indonesien ( Ấn Trung) mà cổ thư Trung hoa gọi là Bộc Việt hoặc Lão Việt, . Giống dân ở lưu vực sông Trường Giang thời xưa được gọi là Cửu lê, sau này họ gọi giống ấy là Indonésien , tại Tây nam là Bách Bộc, tại Đông Nam là Bách Việt, ông cũng cho rằng trống đồng được người Indonésien ( Bộc Việt, Lão Việt) chế tạo từ thế kỷ VI tr CN ở vùng trung du Trường Giang chung quanh Động Đình Hồ.
    Những di vật khảo cổ và những nhận xét của các học giả đã nói lên được đường di cư của tộc Tam Miêu thời vua Thuấn cũng như của số dân Bách Bộc Lão Việt khối đông di thời Chu. Có lẽ Khương tộc của nhóm dân cư này đã nhiều năm sống chung với người Lão tại đông bắc- đông Trung Hoa, sang phía Tây lại pha máu Âu nên có mắt to và sâu, sống mũi cao và thẳng, lại pha với Hắc nụy ở Ấn độ nên có nước da đen tiêu biểu là người Champa của Lâm Ấp (Linyi). Người Lâm Ấp có gốc gác ở đất Tề là địa bàn của tộc Khương, ban đầu nói tiếng Austro-Asiatic nhánh Môn Khmer có lẽ sống chung lâu năm với người Lão thuộc Melanesien nên nói tiếng Autronesien. Nơi ở của dân Lâm Ấp rất khó xác định, chỉ được biết là ở Tượng Lâm (có thể là Tượng quận giáp Quế Lâm). Vào đời Tần Tượng Quận ở Quí Châu và Quế Lâm là Quảng Tây ngày nay, khi Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc của phía Tây Âu gồm Quế Lâm và Tượng quận rồi chia thành Giao Chỉ và Cửu Chân, trong đó Giao chỉ gồm một phần phía Nam Quảng Tây ( Quế Lâm), một phần phía đông nam Vân Nam và một phần đồng bằng Bắc bộ, còn Cửu Chân có lẽ thuộc Tưọng quận (Quí Châu) và một phần Quế Lâm. Vào đời Hán Giao chỉ- Cửu Chân được chia lại thành 3 quận Giao chỉ-Cửu Chân-Nhật Nam. Tượng Lâm nằm trong quận Nhật Nam là nơi người Lâm Ấp sinh sống. Dân Lâm Ấp ở Tượng Lâm phía Tây âu có thể thuộc bộ tộc Cây dừa nói tiếng Austronesien theo mẫu hệ nghiêng nhiều về Melanesien quen sống ở vùng núi, còn nhánh Lâm Ấp bộ tộc Cau thuộc phụ hệ nghiêng nhiều về Australoid sống bằng nghề biển ở bờ biển miền trung Việt nam. Khảo cổ học và ngôn ngữ học lịch sử cho biết vào khoảng 600-500 TCN còn có một đợt di dân của người Nam Đảo (Austronesian) không biết từ đâu đổ bộ vào vùng Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay.ở Bình trị Thiên, Quảng.nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên do đó cũng có thể những người Austronesien ấy đã tụ lại thành Lâm Ấp bộ tộc Cau ở nơi này, còn bộ tộc Cây dừa ở Tây Âu đã cùng hai bà Trưng khởi nghĩa , sau khi bị Mã Viện đánh bại có lẽ chạy xuống miền Trung Việt vùng Bình Thuận cạnh bộ tộc Cau nói trên.. Lại còn một địa danh Lâm Ấp nữa ở nước Tề , phía nam tỉnh Sơn đông giáp với Giang Tô của nước Ngô, địa danh Linyi bắt đầu có ở nơi này vào khoảng 400 BC . Theo sử Trung Hoa vào khoảng 1046 BC nước Tề được thành lập do nhà Chu đã ban thưởng cho Khương Thái Công đất này , kinh đô nước Tề đóng ở Lâm Truy dưới quyền cai trị của họ Khương hơn 600 năm, sau đó họ Điền là một quý tộc cũ của nước Trần lưu vong sang Tề được vua Tề phong làm lãnh chúa ở đất Điền lật đổ họ Khương năm 389 BC, vua Tề đời sau là Tề Mẫn Vương tự xưng là Đông Đế, do đó Linyi ở Sơn đông có vẻ như liên quan đến việc thay đổi quyền lực ở nước Tề, có thể sau khi họ Khương mất quyền , dân Lâm Truy cụm lại lui xuống phía nam tỉnh Sơn Đông thành Lâm Ấp .Vị trí của Lâm Ấp không rõ ràng do đó dẫn đến vị trí cột đồng của Mã Viện cũng không xác định được , có sách cho là ở phía nam Quảng tây, có sách cho là ở miền trung Việt nam. . Theo truyền thuyết thì phía nam nước Văn Lang giáp Hồ Tôn, nơi ở của Hồ tôn tinh sau khi bị Lạc Long quân diệt đã trở thành đầm Xác Cáo ngày nay gọi là Tây hồ. Vậy những địa danh từ Tây hồ trở xuống như Thanh Hóa, Nghệ An chỉ có thể xuất hiện vào đời sau, có thể từ khi nước Việt ở Chiết Giang tan rả hoặc sau khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc và sau khi Mã Viện dẹp cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng, do người Cửu Chân và người Lâm Ấp chạy giặc di cư xuống.

    Còn người Lao-ren ở Yelang?. Họ là người Lão đã di cư từ Hemudu đến Dawenku khoảng 4300 BC thành đông di, sau khi bị nhà Chu đàn áp những người Lão lai Việt tộc có lẽ là tổ tiên của Thục Phán đã chạy trở lại Hoa nam sống với người Lão Việt nhánh Thần nông nam của họ Hồng Bàng. Trong Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link học giả Wang Zhonghan cho rằng : “ Lao có thể cùng nghĩa với Lạc của người Lạc Việt cổ và tương tự Lào.” Vào thời Đông Tấn, khi người Tứ Xuyên được định cư ở phía đông, người Lao-ren chiếm vùng đất bị bỏ trống của Tứ Xuyên. Một số người Lao-ren được cho rằng đã sống cùng nơi ở với những người được gọi là người Hạ ( Âu Việt họ Lạc đến từ Hùng Nhĩ sơn ?) . Người Lao-ren sau đó thường xuyên mở các cuộc tấn công chống lại Trung Hoa.

    Người Lão-Việt lai Caucasian ở Yelang có lẽ vào thời Tần nhờ thế đông di hùng cường họ đã quay trở về quê hương cũ ở Liaoning (Liêu Ninh) mang theo địa danh Anshan đến nơi này ( xem Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ), Anshan thuộc về quận Liêu đông vào đời Tần khoảng 221-207 BC. Sau khi nhà Hán nắm quyền , số người Lão-Việt-Caucasian tiếp tục di cư về phía đông bắc Trung hoa khoảng 87BC đến định cư ở Lelang thuộc Korean Peninsula .

    (xem Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link )
    Người Lao-ren và Lạc Việt còn lại ở Yelang sau trận chiến bại của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị một số đã chạy xuống đồng bằng sông Hồng ( Lạc Việt) , một số chạy qua Vân Nam, một số chạy lên Tứ Xuyên (Thục) sau này có lẽ trở thành người Lào .

    Vào đời Hậu Chu , Loa Thành lại được xây dựng lên ở Khai Phong còn gọi là thành Đông Kinh . Theo sách Đông Kinh hoa mộng lục thành này có ba vòng gồm thành ngoài, thành trong và hoàng thành. Tương truyền, người có công trong việc xây dựng là Chu thế Tông, ông đã cho một viên tướng thân tín lên ngựa ra roi phi nước đại theo chiều đông-tây-nam-bắc cho tới khi nào ngựa kiệt sức thì lấy chỗ đó làm địa giới xây thành. Ông đã huy động 10 vạn dân phu chở đất hoàng thổ từ Cổ Lao Quan về để đắp tường thành theo chiều xoáy trôn ốc nên có tên Loa thành. Ở Khai Phong còn có phong tục giống người Việt như : tục chọi gà , tục đi thăm chợ đêm mua sắm các thứ hàng hóa và nếm các món ăn đặc sản đã có hàng mấy trăm năm lịch sử.

    Ở nam trung bộ Việt Nam, tại vùng biển tỉnh Khánh Hoà có nhiều nhóm dân thủy cư làm nghề đánh cá trong đó có một bộ phận đã định cư từ lâu trên đảo Phú Quý ngày nay thuộc về tỉnh Bình Thuận. Nhóm ngư dân thủy cư này trước đây được gọi là người Hạ, cư dân đồng bằng gọi là người Hạ Bạn, cha ông người Hạ trước đây đã rất thành thạo nghề câu, kể cả câu cá mập. Về người Hạ, Ông Lê Quang Nghiêm đã từng giải thích : “ Người Hạ, theo đồng bào hiện nay nói là người Thượng lai. Nhưng họ là người Hạ Châu, có lẽ là dân Phù Nam gốc Indonesia, xây dựng vương quốc tại miền nam Việt Nam, đã có một thời oanh liệt (thế kỷ thứ 6). Sau đó bị vương quốc Khờ Me (Căm Bốt) tiêu diệt. Dân Phù Nam ở miền nam Trung phần trong lãnh thổ Chiêm Thành., người Việt gọi họ là người Hạ Châu để phân biệt với người Thượng. Hiện nay người Hạ đã là người Việt Nam” Vấn đề nguồn gốc người Hạ mặc dù chưa được nghiên cứu sâu nhưng bước đầu các nhà nghiên cứu đã giả thuyết rằng họ có nguồn gốc từ người Nam Đảo.

    Có thể thấy được Tam Miêu và Bách Bộc LãoViệt khối đông di là những tộc người luôn luôn phải đấu tranh để được sống còn , nói theo cách của người Mường thì họ là người của chỗ này chỗ kia . Tam Miêu bách Bộc lão Việt là những người đã theo dấu vết xưa của tổ tiên , mở lại con đường từ Ấn Độ đến Trung hoa.

    Năm 135 BC, phái viên của nhà Hán là Tang Meng đã được phái đến nướcYelang và nhận thấy Nam Việt có thứ nước tương từ Tứ Xuyên. Nước Yelang với đội quân hùng hậu 100.000 quân đã bị nhà Hán ngắm tới như một liên minh trong trận chiến ở Nam Việt. Phái viên của nhà Hán phát hiện ra con sông Zangke ở tỉnh Tứ Xuyên ngày nay ; nơi người Yelang sống; chảy vào tỉnh Quảng Đông ( qua Quí châu vào sông Tây giang). Khoảng 122 BC. Zhang Qian đã thấy vải vóc Tứ Xuyên ở ở Bactria và thuật lại rằng ông đã nhìn thấy sản phẩm bằng tre Zangke và vải Tứ Xuyên mà theo lời người lái buôn Bactria là hàng được chở từ Ấn đô bằng tàu thủy. Hán Vũ đế lệnh cho 4 đội thăm dò vùng Tây nam để tìm con đường đến Ấn độ và được biết có một xứ sở gọi là Yueh-Chi.

    Ở Ấn Độ về phía đông giáp Miến Điện là Bangladesh, tên Bangladesh mang ý nghĩa là xứ Bengal nhưng nguồn gốc của tên Bengal hoặc Bangla hiện nay cũng chưa xác định được. Một manh mối xuất phát từ Bengal cần được nghiên cứu đó là lịch sử của xứ này có đề cập đến lai lịch của Lạc Long Quân. Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link of Bangladesh thì Lạc Long Quân là một chiến binh Naga di cư từ bôn-lang (Bengal) đến An Nam (Việt nam) vào thế kỷ thứ 7BC xâm chiếm đất và đặt lại tên theo tên đất nước của ông là Bon-lang. Nòi giống vua Lạc Long Quân được biết là Bôns ( Bongs) và họ cai trị AnNam cho đến năm 300 BC.

    Cổ sử khảo của Tiều Chu chép :”....Viêm đế từ đất Trần dời đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lặp lại số 8 quẻ, tức 8 lần 8 làm 64 quẻ, ở ngôi 120 năm, bèn băng, táng ở Trường Sa. Viêm Đế nạp con gái họ Bôn thủy tên Thính Yếu sinh Đế Lâm Khôi, rồi Đế Thừa, rồi Đế Minh, rồi Đế Trực, rồi Đế Ly ( không có Đế Lai), rồi Đế Du Võng, phàm 8 đời cộng 530 năm.......” Họ Bôn Thủy có lẽ là người Australoid nhánh Môn-Khmer mà Trung hoa gọi là Khương tộc do đã theo sông Khương mà đến, họ này có thể liên quan đến Bà Po Naga của Chiêm Thành vẫn còn đền thờ ở Khánh Hoà, người Việt gọi là Thiên Y thánh Mẫu.. Naga có âm tương tự như nước nên có thể Po Naga là vị thánh mẫu của họ Bôn Thủy. Chế Bồng Nga ( Che Bonguar) tên thật là Po Binasor có lẽ cũng thuộc dòng họ Bôn này.

    Tên gọi Bôn có thể bắt nguồn từ một thứ vũ khí mà nhà khảo cổ gọi là bôn đá , Bôn đá có thể là vũ khí của người Australoid nhánh Môn Khmer cũng như rìu (Yue) là một thứ vũ khí của người Việt được cho là căn nguyên của tên Việt. Mặc dù chưa rõ Bôn hay Bongs mang ý nghĩa gì nhưng có thể thấy được dấu vết lờ mờ, đó là vào thế kỷ 19 các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong sa mạc Gobi huyền bí cạnh Đôn Hoàng có một hồ rộng trên đó có đảo Bông tọa lạc một thành phố văn minh, người ta tìm thấy những tấm thẻ bằng vàng nói đến loài người của nền văn minh Đất Mu (ngang với nền văn minh Atlentique) . Người ta cũng tìm được một tấm thẻ ở Đôn Hoàng, R.Charnoux cho biết tài liệu này gồm một danh sách các đấng vương quốc tổ tông ở Tây Tạng.

    Giả thuyết “ Đất Mu” mà James Churchward viết trong The lost continent of Mu (Đại lục bị tiêu trầm) được xem như là miền đất mẫu ( Mother land) , nếu như giả thuyết này được chứng minh là có thật thì người đảo Bông ở sa mạc Gobi và dòng giống Bongs của Lạc Long quân hẳn phải là hậu duệ của họ Thần nông Viêm đế, là cư dân ở lục địa đã bị đắm chìm.

    Lạc Long Quân ; theo lịch sử Bangladesh; đã từ Bengal đến An Nam nhưng ông đã từ đâu đến Bengal? . Có lẽ Lạc Long Quân không phải là hậu duệ gần của Tam Miêu đã từng sống ở Đôn Hoàng vùng sa mạc Gobi thời Nghiêu- Thuấn mà là hậu duệ cũa Bách Bộc Lão Việt thời Chu thuộc dòng dõi Sở Hùng Cừ ở đất Câu Đản ( nhánh Kinh dương Vương ?), có thể vào thời Chu U Vương khoảng 771BC đã kết với Khuyển rồng ( Ư Việt ở Lạc Ấp trước kia bị mất đất đã di cư xuống Động đình hồ mà lập vua Động đình quân ?) , tiến vào Cảo Kinh giết được U Vương tại Ly sơn, nhưng vì Hầu Thân cầu viện ba nước chư hầu đến dẹp nên bị bại trận phải chạy qua xứ Bengal. Sau đó vào ngả Vân Nam khoảng 700 BC dựa vào tên Bôn – lang mà lập ra đất nước của mình. Dòng dõi Sở Hùng Cừ ( Hùng vương VI ) đã sống cùng địa bàn với Hán tộc là giống Mông Cổ lai Việt tộc và Khương tộc nên có thể đã gọi tên nước theo Hán Việt là Văn Lang. Theo Đại Việt sử Lược: “vào cuối đời Trang Vương nhà Chu (696-682 BC) ở bộ Gia Ninh có một dị nhân (người lạ) dùng pháp thuật khuất phục các bộ lạc khác và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở bộ Văn Lang, đặt tên nước là Văn Lang....”. Thông tin trên nghe qua có vẻ vô lý, tuy nhiên nếu liên hệ với truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu cơ , liên hệ với lịch sử Bangladesh thì cũng đáng để cất công nghiên cứu.

    Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ kể rằng : “ ....... Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi........Đến bờ biển đông nam diệt được ngư tinh........ Đến Long Biên dẹp được Hồ Tinh là chồn tinh hóa thành người để hại dân chúng , Lạc Long Quân cứu những người bị Hồ tinh hãm hại rồi sai loài thủy tộc dâng nước sông Cái (sông Hồng) xoáy hang cáo thành vực sâu người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau gọi là Tây Hồ..... Lại đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu có cây cổ thụ gọi là Chiên Đàn sau bị khô héo mà biến thành Mộc tinh luôn thay đổi hình dạng để bắt người ăn thịt. Để cứu dân Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống ..làm nó khiếp sợ phải chạy về phía Tây nam sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ xương cuồng”.

    Như đã nói ở trên , khoảng 600-500 TCN còn có một đợt di dân của người Nam Đảo (Austronesian) không biết từ đâu đổ bộ vào vùng Bắc Trung bộ Việt Nam ngày nay, đó có thể là đợt di dân của những người sau này là Chiêm Thành đã từ Bengal tiến xuống , và cũng có thể người lạ mặt xuất hiện vào thế kỷ thứ 7 BC dùng phép thuật (đánh thủy quái phía đông, dẹp Quỷ xương cuồng phía tây nam, diệt Hồ tinh phía nam) thu phục được các bộ lạc và tự xưng là Hùng Vương đã đến từ Bengal.

    Truyền thuyết lại kể rằng diệt xong yêu quái Lạc Long Quân day cho dân cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm , đốn gỗ làm nhà sàn để ở. Dân chúng dựng cho Lạc Long quân một cung điện trên ngọn núi cao nhưng ông không ở mà về thủy phủ . Một chi tiết gây lộn xộn là lúc ấy Đế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương nam mang theo người con gái là Âu Cơ.

    Như đã giả định Lạc Long Quân ở vào thời điểm thế kỷ thứ 7 BC thì Đế Lai lúc ấy đã mất từ lâu nên có thể Đế Lai trong truyền thuyết này đã ám chỉ họ Thần Nông phía Bắc Trung Hoa đã trở thành Hoa Hạ của dòng Hoàng đế , có thể là Sở Thành Vương đã theo lệnh Chu Huệ Vương đi trấn dẹp loạn di Việt không cho họ xâm lược Trung quốc, và nàng Âu Cơ con của Đế Lai có thể là nhóm người Âu Việt họ Lạc đã sống ở núi Hùng Nhĩ Sơn phía Bắc.
    Đế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài, nhân dân phải phục dịch cực khổ nên gọi Lạc Long Quân về cứu. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình trên núi cao và đánh đuổi quân Đế Lai lui về phương bắc. Sống ở cung điện trên núi cao một thời gian Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ hóa rồng bay về biển cả. Ít lâu sau Âu Cơ gọi Lạc Long quân trở về. Đó là lúc chia con, 50 con theo cha, 50 con theo mẹ, người con trưởng được ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang.lấy hiệu là Hùng Vương.

    Một điểm đáng chú ý là Lạc Long Quân không ở cung điện trên núi cao. Vậy ông đã đi đâu và đã làm gì? Truyền thuyết kể rằng ông đã về quê mẹ ở Thủy phủ . Mặc dù truyền thuyết không nói đến họat động của Lạc Long Quân khi về thủy phủ nhưng thiết tưởng một chiến binh như Lạc Long Quân đã bình đinh được vùng đất hoang vu không yên ổn, đã từng tổ chức cuộc sống tốt đẹp cho dân chúng, ông sẽ không trở về quê mẹ sống đời dân dã.. Truyền thuyết khi nói đến việc dựng cung điện trên núi cao cho Lạc Long Quân cũng chưa đề cập đến vua Hùng Vương . Tên nước Văn Lang và vua Hùng Vương chỉ bắt đầu xuất hiện từ lúc chia con, có thể là khoảng 500 BC, lúc Doãn Thường mất , Việt Vương Câu Tiễn thay cha làm vua giết được Hạp Lư của nước Ngô

    - Theo Sử ký Tư Mã Thiên , Việt Vương Câu Tiễn là con cháu vua Thiếu Khang nhà Hạ có cha là Doãn Thường nhưng không nói rõ Câu Tiễn mang họ gì.
    - Thế Bản chấp Bổ của Trần Gia Mô viết : “Việt họ Mỵ, con tước, với Sở cùng tổ, là hậu duệ của Chúc Dung, con của Duẫn Thường, tức vua Việt Câu Tiễn .
    - Theo nguồn tin từ wikipedia ( xem Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Gou jian of yue ) Việt Vương Câu Tiễn tên là Lạc Câu Tiễn (Luo Goujian) nhưng không thấy dẫn từ sách nào, nếu nguồn tin này có căn cứ thì dị nhân đã thu phục các bộ lạc để lập nên nước Văn Lang ấy chính là tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn . Lạc Long Quân trong truyền thuyết không phải là tên người mà là tên gọi chung cho các vị thủ lĩnh của một dòng tộc trong một thời đại như Viêm đế, Hoàng đế, Xuy Vưu, Kinh Dương Vương, Hùng Vương. Có một điểm khác biệt cần làm sáng tỏ là chữ Lạc trong Lạc Câu Tiễn được viết là Lạc Chuy còn chữ Lạc trong Lạc Long Quân được viết là Lạc Trãi. Sự khác biệt giữa các chữ Lạc đến nay cũng đang còn làm cho nhiều người thắc mắc. Theo họ chữ Lạc Trãi , được Hán tự phát âm là He, Ho, Mo chứ không phát âm là Lạc , chữ này chỉ có tiếng Cantonese của người Quảng đông phát âm là lok3 và chỉ được dùng cho Lạc long Quân trong ghi chép của người Việt nam. Mặc dù cho đến nay chưa ai giải thích được ý nghĩa của sự khác nhau giữa các chữ Lạc nhưng có thể các chữ Lạc này dùng để phân biệt các tộc người trong nhóm đông di như Phong di, Hoài di chẳng hạn. Có thể Lạc Chuy chỉ người Lạc nhóm Hoài di sống ở vùng sông Hoài hà ; Lạc Mã chỉ người Lạc nhóm Phong di sống ở Hà nam – đất Trần , hiện nay hãy còn đền thờ Bạch Mã gần Lạc Dương và Lạc Trãi có thể là người Lạc giống Bộc- Lão-Việt nhánh Kinh Dương vương có dây mơ rễ má với Thục Phán , với người Hàn Quốc.

    Với 3 thông tin khác nhau như trên thì thông tin của Thế Bản Chấp Bố đã nói lên được Câu Tiễn thuộc dòng dõi Thần Nông Nam nhánh Kinh Dương vương mang họ Mỵ , cùng tổ với Sở, có thể là con cháu của vua Hùng Vương Thứ 6 – Mỵ Hùng Cừ hoặc Sở Hùng Cừ (887-877BC).

    Ở Trung Hoa thời ấy việc kết hôn giữa các dòng tộc khác nhau là phổ biến nên họ tộc cũng khó có thể xác định được . Ví dụ như Cao dương Chuyên Húc là cháu nội cuả Hoàng đế , theo sử sách Trung Hoa thì thuộc dòng Hoàng Đế, nhưng một số nhà nghiên cứu lại cho rằng thuộc dòng Viêm đế vì mang họ Cao. Nói thế nào cũng không sai vì Chuyên Húc mang dòng máu Viêm-Hoàng .Hơn nữa , người thời xưa thường lấy tên sông, tên núi làm họ tộc, lại sống rày đây mai đó nên họ tộc cũng luôn thay đổi theo dẫn đến việc truy tìm nguồn gốc theo họ tộc có khó khăn, đó là trường hợp của Việt Vương Câu Tiễn..

    Trở lại vấn đề trống đồng của người Indonesien. Như đã nói, các nhà khảo cổ đã nhận xét những di vật khai quật được ở phía đông nam Trung hoa là vùng đất của Việt Vương Câu Tiễn tương tự như các di vật khảo cổ đào được ở phía đông nam Vân Nam là nơi người Lạc Việt sinh sống .

    Hoa văn hình người khắc trên rìu đồng hình trái soan giống như hình người được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ do người Lạc Việt chế tạo ra là hoa văn thể hiện nét văn hóa của dân tộc Việt, khác với hoa văn trên rìu đồng hình hia vuông và hoa văn trên trống đồng ở các nơi trong vùng phía tây Hoa nam thể hiện nét văn hóa của người Bộc Lão chỉ có hình voi, cóc, ốc, hổ, hươu, nai, cá, chồn, chó, bò, chim , cá sấu và nhà sàn.... cũng khác với nét văn hóa trên trống đồng Trấn Ninh có lẽ của người Di Khương được khai quật ở Vân Nam trên mặt có những khối hình người , hình súc vật như bò, ngựa, chó và thể hiện cảnh sống như săn bắn, tế lễ..v...v. , không có hình thuyền và đoàn người với y phục gắn lông chim. Về chất lượng trống đồng Lạc Việt cũng khác và hơn hẳn các trống đồng của các dân tộc anh em đồng bào ở phía tây Hoa Nam vì người Lạc Việt ở Cối Kê có kỹ thuật đúc đồng cao, như đã nói ở các bài trước người ta đã khai quật một thanh gươm tự đúc lấy của Việt Vương Câu Tiễn được đánh giá là có trình độ kỹ thuật đúc rất cao. Người Lào cũng có trống đồng tinh xảo do đã từng sống cùng nơi ở với người Âu Việt họ Lạc ở Quí Châu giáp Tứ Xuyên, tuy nhiên vẫn mang bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ với nét hoa văn , hình nai, hình cá. Người Mường Thanh ở bắc Việt có lẽ là người Lão-Việt cũng có dây mơ rễ má với dân tộc Lào qua truyền thuyết chàng cá và nàng hươu sao.

    Về nguồn gốc trống đồng Đông Sơn , L.Finot cho rằng chủ nhân trống đồng là người thuộc giống Indonesia vốn chiếm vùng phía đông Ấn Độ China ; V.Goloubew thì cho rằng chính người Trung Quốc đã dạy cho những thị tộc Indonesia ấy thuật luyện kim, theo ông tổ tiên của người Việt mà ông cho là giống Indonesien đã học được kỹ thuật đúc đồng của người Trung quốc mang vào miền bắc Việt nam sau khi chinh phục đất này từ trước công nguyên, nhờ đó người Việt đã chuyển hóa nền văn hóa đồ đá mới thành nền văn hóa đồ đồng đạt đến trình độ kỹ thuật khá cao với những chiếc gươm hai lưỡi không kém gì gươm thời Chiến quốc và thời Tần của Trung quốc, tuy nhiên ông lại nói thêm rằng những hoa văn trên trống đồng trông giống hệt những hoa văn của chiếc bàn bằng đồng tại Bác vật quán Copenhagen nước Đan Mạch. O.Janse lại cho rằng có mối liên quan giữa văn hoá Đông Sơn với văn hóa Hoài Hà của Trung quốc nhưng tiếp theo lại chứng minh rằng văn hoá Trung quốc cũng như văn hoá Ấn độ China trong khoảng thiên niên kỷ trước công nguyên đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Hallstatt ở Châu Âu.

    Nhận xét của các học giả về mối liên hệ , sự giống nhau giữa đồ đồng Đông Sơn với đồ đồng Hoài Hà của Trung quốc là đúng đắn, chỉ không đúng ở chỗ cho rằng người Trung quốc đã dạy cho người Đông Sơn (Indonesia) thuật luyện kim, còn nhận xét cho rằng đồ đồng Đông Sơn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương tây thì cần xem lại bởi đồ đồng phương tây có thể có nguồn gốc hoặc ảnh hưởng nét văn hóa từ nhóm người Tiền Sumerien và Tiền Elam từ Địa Trung Hải mang đến.

    Tuy nhiên cũng phải nói rằng ở thời kỳ mà các dòng tộc cùng chung sống với nhau trên cùng một mảnh đất sẽ không tránh được sự hỗn chủng và tất nhiên không thể tránh được ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về văn hóa. Rõ ràng là đã có sự giao lưu văn hóa giữa tộc Tam Miêu ; Bách Bộc -Lão-Việt với những người sống ở vùng đồng cỏ phía tây Trung Hoa qua những đồ đồng khác với Trung hoa thể hiện hoa văn xoắn ốc, thừng tết mà có lẽ do những người Australoid - Mongloid phía đông nam Trung Hoa là Lạc Việt đã mang lên khu vực Hoài Hà sau khi Việt Vương Câu Tiễn chiếm nước Ngô. Một nét hoa văn khác cũng thể hiện ảnh hưởng tây phương trên trống đồng đó là hoa văn ngôi sao trung tâm . Tuy vậy khi nghiên cứu kỹ hoa văn trên trống đồng Đông sơn Việt nam có thể thấy được nét văn hoá đặc thù của dân tộc thuộc giống Australoid nhánh Việt Mường như thuyền hình lưỡi liềm với đoàn người có gắn lông chim trên đầu, đó là nét văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt có thể đã có từ khi còn ở xứ Elam vùng phía đông Địa trung Hải trước khi mang đia danh Anshan đến Trung hoa vì hình người với y phục gắn lông chim đã thấy xuất hiện trên con dấu niêm khai quật được ở Lưỡng hà ( xem Phương đông thời cổ đại). Victor Goloubew cho rằng những hình tượng trên trống đồng có thể là cảnh tượng một buổi lễ chiêu hồn của người Dayak ở đảo Borneo. Lăng Thuần Thanh cũng đã nêu lên sự giống nhau của dãy hình người trên trống đồng có gắn lông chim trên đầu với trang phục của người Naga ở Assam , người A-mi ở Đài Loan và người Dayak ở Borneo là những tộc người thuộc Đông nam Á.

    Liệu có quá tự đề cao khi cho rằng người Việt đã mang văn hóa đồng từ Bách Việt vào khu vực Hoài Hà trái ngược hẳn với nhận xét của các học giả phương tây. Một số nhà nghiên cứu sẽ cho rằng giả như đúng vậy thì người mang văn hóa đồng lên khu vực Hoài hà là người Bách Việt , không có nghĩa là người Việt cổ đã thực hiện điều này vì người Việt cổ chỉ là một tộc người trong cộng đồng Bách Việt. Nếu vậy câu hỏi cần có đáp án sẽ là : Vì sao trong cộng đồng Bách Việt chỉ có người Việt bộ Tẩu có tổ tiên ở Chiết Giang và người Quảng Đông- Việt bộ Mễ tự nhận mình là người Việt trong khi các tộc khác như một số người Lạc Chuy ( Hoài di ở Hoài hà ?), một số người Lạc Mã ( Phong di thờ Bạch Mã ở Hà nam ?) , và một số Lạc Trãi (Bộc Lão Việt ở Hoa nam và Liêu ninh ?) hiện nay đã là Thái Lan, Lào , Kampuchia, Hàn quốc, Nhật bản......đều cho rằng tổ tiên họ đã từng sinh sống ở Hoa Nam nhưng không hề nhận họ là người Việt ?.

    Sử gia Trung Hoa Vương Đồng Linh cho rằng Tam Miêu Bách Việt gồm nhiều tộc người như :Thái, Miên, Lào, Miêu, Mán, Việt ....tất cả những tộc này nhất là ngành Việt đã cùng Hoa tộc làm nên nho giáo. Vì thế có thể trả lời : người Việt nam và người Việt ở Quảng đông tự nhận mình là người Việt vì chỉ có họ mới là người Việt , vào thời Xuân thu chiến quốc người Việt bộ tẩu giữ vai trò chủ đạo trong cộng đồng Bách Việt ( Văn Lang) theo mô hình Tiền Elam ở Địa Trung Hải , trong đó Lạc Việt của Việt Vương Câu Tiển thống trị vùng biển phía đông, còn phía tây là nhóm Âu cũng do người Lạc Việt là Hùng Vương thống trị, khi đời Hùng Vương cuối cùng suy yếu Thục Phán lên thay mới có tên Âu Lạc . Lạc Việt đã từng giữ vai trò chủ đạo trong cà hai nhóm Tây Âu và Đông Việt, các tộc khác có dân số ít lại sống rải rác và tự trị tương tự như một số vùng tự trị ở Trung quốc ngày nay , mặc dù có sử hỗn chủng nhưng họ vẫn giữ bản sắc văn hóa riêng của tộc mình và không cho rằng tổ tiên mình là người Việt . Riêng người Việt ở Quảng đông có nguồn gốc từ nước Triệu và các nước vùng Sơn Tây ở di chỉ Taosi là nơi người Việt cổ thuộc Hoa Hạ đã từng sinh sống ở thời điểm xảy ra trận chiến tại Trác Lộc, vào thời cổ xưa người Hạ mang tô tem rồng có hai bộ tộc chính là Yu long shi và Huan-long shi .Yu long shi là bộ tộc cai quản ( dưới quyền cùa Bá Vũ ?) còn Huan long shi là bộ tộc phát triển nông nghiệp , có lẽ vì thế mà có chữ Việt bộ Mễ .Một số người Hoa Hạ ở Sơn Tây đã di cư xuống vùng Kinh Sở sau khi bị nhà Ân phe đông di đánh đuổi. Vào đời Tần có khoảng 500.000 người từ Hoa bắc bị đưa xuống Hoa nam đến Nam Hải-Quảng đông có lẽ do nhà Tần thuộc Đông di nên phải lưu đày và đặt quan cai trị để quản thúc những người Hoa Hạ này. Vùng Quế Lâm , Tượng Quận không bị đặt quan cai trị có lẽ do người lãnh đạo nước Âu Lạc là Thục Phán thuộc phe đông di nên đã cử Lý Ông Trọng làm quan cho nhà Tần để yên ổn mà tổ chức kháng chiến. Năm trăm ngàn người bị đưa xuống Nam hải với thành phần gồm những tội đồ , những lái buôn và những người rễ thừa. Vì sao những người rễ thừa lại bị đưa xuống phương nam ? Theo quan niệm của người Trung hoa theo chế độ phụ hệ thì rễ thừa là những người nghèo không đủ tiền cưới vợ phải ở mãi bên nhà vợ làm việc như đày tớ nhưng đối với người Việt cổ theo chế độ mẫu hệ thì việc ở rễ là phong tục vì thế những người rễ thừa này kể cả Triệu Đà đều là người Hoa Hạ gốc Việt nên mới có việc Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt . Những người Việt này nghiêng nhiều về phía Mongloid mang đậm nét Trung hoa do có thời gian khá dài sống cùng nhau, mặc dù là người Việt nhưng họ không gần gũi , gắn bó với người Lạc Việt thuộc đông di, thậm chí người Triều Châu ở Quảng đông và ngưòi Phúc Kiến – Lạc bộ Mã thuộc đông di cũng không cưới gã với nhau. Đa số người Việt Quảng đông lựa chọn ở lại Hoa nam, vì cũng như Triệu Đà , họ muốn cho tông miếu tổ tiên ở phía bắc được trường tồn, không bị diệt vong. Người Lạc Việt thuộc Hoa Hạ ở Giao chỉ đa số là những người Âu ( Mường) đã từng sống ở núi Hùng Nhĩ, có lẽ do sống cách biệt trên miền cao nên không bị Hán hóa vẫn giữ được bản sắc của dân tộc Việt, từ khi sống ở Bắc Việt đã thích nghi với đồng bằng. Theo các nhà nghiên cứu thì bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi ... đều là người Việt nhóm Âu.

    Khác với người Lạc Việt nhóm đông di thạo về khoa học kỹ thuật, thạo về nghề biển bao gồm cả giao thương bằng đường biển , người Lạc Việt nhóm Hoa Hạ lại nổi bật về văn chương, thi ca xuất phát từ những bộc lộ thể hiện tình cảm trong lao động sản xuất nông nghiệp ngoài đồng áng. Phân loại theo truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh, người Việt nhóm Hoa Hạ thuộc phe Sơn Tinh còn người Việt có xuất xứ từ Đông di thuộc phe Thủy tinh . Từ khi Văn Lang tan rả cả hai nhóm lại tụ họp với nhau thành Giao Chỉ. Dù vẫn là người một nhà nhưng thỉnh thoảng cũng xung đột và thay nhau cai trị qua các triều đại về sau. Hiện nay chỉ còn một số ít người mang óc kỳ thị giữa các miền trên đất nước, sự kỳ thị này cũng góp phần làm cho đất nước chậm tiến bộ.

    Đã từ bao đời nay chỉ vì đất nước Việt đã từng bị Tàu đô hộ nên những gì giống Hán đều được cho là đã học từ văn minh Hán, chúng ta thường mang những thành tựu đạt được trong điều kiện sống dưới ách đô hộ của Trung hoa kéo dài hàng ngàn năm để so sánh với văn minh của chính dân tộc ta đã để lại trên đưòng từ Trung Hoa đến Việt nam rồi tự thấy mình kém cõi. Thậm chí văn hóa đồng sáng chói khai quật được trong lòng đất Việt ngày nay cũng không thể chứng minh được đó là thành quả của tổ tiên mình là do bởi suy nghĩ cho rằng dân tộc Việt chỉ phát triển quanh quẩn vùng đồng bằng Bắc bộ, những gì khai quật được ở Hoa nam đều là thành tựu của Trung Hoa. Thực trạng ấy được tổ tiên chúng ta thể hiện qua câu :

    “ Cây bên ta, lá bên Ngô.
    Ngọn tầy bồ, gốc bằng chỉ.”
    Hiện nay thế giới cũng gọi nền văn minh nói trên là văn minh Trung Hoa vì nó được hình thành trên đất Trung hoa. Về phía người Trung Hoa ngày nay , họ cho rằng nền văn minh của chung ấy có được là do tổ tiên họ xây dựng nên mặc dù không phủ nhận sự đóng góp của các dân tộc khác cho nền văn minh này. Điều này cũng hợp lý bởi trong người họ cũng có pha dòng máu Việt, dòng máu Australoid, Melanesien, Caucasoid, họ tự xưng là con cháu Viêm Hoàng, hàng năm họ cũng tế lể các vị tổ tiên của họ trong đó có Thần nông là tổ tiên người Việt.

    -------------------------Tài liệu tham khảo:- Bài viết của các nhà nghiên cứu : Trần Đại Sỹ, Cung Đình Thanh, Nguyễn văn Tuấn, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng, Nguyễn Trọng Cảm, Nguyễn thị Thanh, Hà văn Thùy, Trương Thái Du, Nguyên Nguyên, Nguyễn vũ Tuấn Anh.
    - Địa đàng phương Đông - Stephen Oppenheimer
    - Ánh sáng mới trên 1 quá khứ lãng quên - Wilhelm G. Solheim II
    - Phương đông thời cổ đại - Pierre Amiet
    - Biên Khảo người tiền sử - Trần Kim Thạch&Trần Hải Vân
    - Trung Quốc- Triều Tiên - Nhật Bản
    - Đỉnh cao văn minh Đông Á - Gina L. Barnes
    - Thượng thư - Nhà xuất bản Đồng Nai
    - Kinh Dịch - Nguyễn Hiến Lê
    - Chu dich nhập môn - Đỗ Đình Tuấn
    - Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch - Lôi Đạc
    - Hệ thức thời gian Độn giáp - Bùi Biên Hòa
    - Mở tung cánh cửa huyền vi - Nhà xuất bản Sống mới
    - Chân trời lời quê tiếng mẹ Việt Nam - Nguyễn Đoàn Tuân
    - Lich sử Việt Nam - Đào duy Anh
    - Việt sử Toàn Thư - Phạm văn Sơn
    - Văn hóa Trung Hoa - Đặng Đức Siêu
    - Cội nguồn văn hóa Trung Hoa - NXB Hội nhà văn ( Nguyên bản : Sự hình thành và phát triển nền văn minh TH- Nhà XB Nhân dân Sơn Đông)




    Việt (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link: 越/粵; Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link: yuè), hoặc Bách Việt (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link: 百越/百粵; Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link: bǎi yuè, bǎik wyuèt), là thuật ngữ mà người Trung Quốc thời cổ đặt cho các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thuộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link định cư và sinh sống ở tại vùng đất phía Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, mà ngày nay thuộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đây cũng là từ cổ chỉ vùng đất mà tộc này đã sinh sống. Trong Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cổ, các chữ (越, 粵, 鉞) đã thường được dùng thay thế nhau cho nghĩa "Yue". Từ "Baiyue" lần đầu tiên thấy chép là trong Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link năm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Bách Việt
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Tượng một người đàn ông với mái tóc ngắn kiểu Việt điển hình và những hình xăm trên cơ thể từ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc)
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link 百越
    Nghĩa đen Bách Việt
    Phiên âm
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bǎiyuè
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    La tinh hóa
    pah yuih
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Baak yuht
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Baak3 jyut6
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Bag3 yüd6
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Pah-oa̍t
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Báh-uŏk
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Beh-e̤̍h
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bă-ṳ̆e
    Các sách cổ do Trung Quốc viết có nói đến nhiều nhóm Bách Việt khác nhau, trong đó có Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (句吳), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (於越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (滇越 / 盔越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (揚越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (干越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (山越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (夜郎), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (閩越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (雒越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (甌越 - hay còn gọi là Tây Âu - 西甌)... Tuy được gọi chung là "Bách Việt", nhưng thực tế các bộ tộc Bách Việt không phải là khối thống nhất (tức là không có nhà nước và lãnh thổ chung). Giữa các bộ tộc này cũng có nhiều khác nhau về Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cũng như ranh giới quyền lợi, và nhiều khi các xứ Bách Việt còn giao tranh với nhau, như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link từng có chiến tranh với Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Âu Việt có chiến tranh với Lạc Việt (cũng giống như người bản địa châu Mỹ được người châu Âu gọi chung là "Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link", nhưng thực tế người da đỏ có rất nhiều bộ lạc với các ngôn ngữ và văn hóa khác nhau).

    Các ký hiệu được phát hiện trên di tích như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link có lẽ là 1 hệ thống văn hóa hoặc vật tượng trưng trong đời sống của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link họ. Ngày nay rất khó xác định chi tiết lịch sử của các bộ tộc Bách Việt, vì các nhóm bộ tộc này không có Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link nên không để lại các văn bản khảo cổ.

    Sau khi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thống nhất các nước Hoa Hạ với nhau để trở thành vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử phong kiến Trung Quốc thì phần lớn các tộc Bách Việt đã bị đánh bại sau cuộc chinh phạt xuống phía Nam của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở trong giai đoạn 220-210 TCN. Ở trong thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì họ hoàn toàn thất bại, biên giới Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link dưới thời nhà Hán đã kéo dài đến Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, các bộ tộc Bách Việt dần bị đồng hóa với người Trung Hoa để trở thành tổ tiên của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link phía Nam Trường Giang hiện nay. Nhà Hán đẩy mạnh việc đàn áp và đồng hóa các bộ tộc Bách Việt sau khi đã dập tắt Cuộc khởi nghĩa của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (năm 43 Công nguyên). Phần lớn các bộ tộc Bách Việt đều đã bị các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở phía Bắc đồng hóa trở thành Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, hoặc dần chuyển hóa thành một số dân tộc thiểu số khác cư trú tại miền nam Trung Quốc ngày nay.

    Chỉ còn sót lại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (tổ tiên trực tiếp của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và một số dân tộc thiểu số tại phía Bắc Việt Nam ngày nay) là không bị đồng hóa, đến năm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì họ giành Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thành nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay. Có giả thuyết cho rằng tộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link là tổ tiên Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link sống tại khu vực miền Bắc Việt Nam hiện nay.


    Nguồn gốc

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Rìu đồng phong cách Bách Việt tìm thấy tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
    Vào thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, người Trung Quốc (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, sau này gọi là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link) chỉ chung các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link sống ở đất đai phía Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link bằng một cái tên chung quy là "man di" còn trong các sách chính sử thì có ghi chép đến cái tên "yue". Bắt đầu từ thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì gom chung lại, sử sách thường nói đến cái tên Bai yue nhằm làm cụ thể hóa và nhấn mạnh tới cái tên gọi yue khi lãnh thổ của họ kéo dài tới khu vực Bắc Việt Nam hiện nay; với nghĩa "một trăm bộ lạc Việt". Sách Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (漢書) đã viết rằng là: "Trong vòng 7 hoặc 8 nghìn dặm từ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link) tới Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (thuộc vùng Bắc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của mình." Cổ sử Trung Quốc gọi tên là Việt vì Việt là tên một loại vũ khí độc đáo giống như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của các bộ tộc phía Nam Trường Giang, đồng thời cũng có nghĩa là "vượt qua" (vượt Trường Giang xuống lưu vực phía Nam), chỉ phạm vi mà văn hóa Trung Hoa thời đó chưa vươn tới (Thực tế thì họ đã gọi người phía Nam bằng chữ Việt từ thời nhà Thương - có lẽ là từ cuối thời nhà Thương (Ân Thương) nhưng tại đây thì ta tính từ Việt có từ thời nhà Chu vì thời Chu thì văn minh Trung Hoa mới đạt tới Bắc Trường Giang, con sông này là biên giới chung phân biệt 2 dân tộc.

    Nhà sử học người Trung Quốc là La Hương Lâm (羅香林) đã cho rằng các dân tộc cổ này nguyên thủy có cùng tổ tiên với Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở vùng đất phương Bắc.Tuy nhiên, các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link có niên đại thuộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Neolithic) tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đặc biệt là các ngôi mộ chum được tìm thấy nhiều ở Việt Nam và một số ở Quảng Tây, đã phản bác lại và cho thấy Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link có nguồn gốc ở phía Nam và có quan hệ gần gũi với các nền Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (9000-5600 TCN) và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (8300-5900 TCN) ở Việt Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Các nhà ngôn ngữ dân tộc học cho rằng phát âm của từ 越 (Việt, Yue, Yueh) có thể có liên quan đến một loại sợi cây gai dầu (麻) được làm tại nơi mà nay là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Chính chữ Việt (越) có liên quan đến chữ "việt" (鉞 - cái rìu lớn, một thứ binh khí thời xưa), thường được coi là biểu tượng của hoàng gia hoặc quyền lực hoàng đế (vua). Nhiều rìu đá đã được tìm thấy tại vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và còn có bằng chứng rằng loại rìu đó là một phát minh của vùng đất phía Nam.

    Các sách cổ nói đến nhiều nhóm người Việt, trong đó có Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (句吳), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (於越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (揚越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (干越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (山越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (夜郎), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (滇越 / 盔越), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (雒越, tổ tiên trực tiếp của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay,... và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (甌越, hay còn gọi là Tây Âu - 西甌). Đa số những cái tên này tồn tại được đến các thời đế chế sơ khai ở Trung Quốc và có thể được giải thích gần đúng là các nhóm văn hóa.

    Theo huyền sử hư cấu của Việt Nam, một trăm người con của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link là tổ tiên của các dân tộc Bách Việt. Lãnh thổ nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (hay Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link) của các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, theo huyền sử cũng trùng với vùng đất Bách Việt.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Các bằng chứng về ngôn ngữ học cho thấy Vietic Nguyên thủy (Proto-Vietic), ngôn ngữ tổ tiên của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Thaveung), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link,... có nguồn gốc từ các tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thuộc Lào với một số phân bố qua sườn bên kia của dãy Sai Phou Louang (Annamite) (tức Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link), phía bắc đến Nghệ An và phía đông đến Quảng Bình, nghĩa là xa về phía nam của đồng bằng sông Hồng.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Đặc điểm và phân loại

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Trống đồng của nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link lấy từ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Quảng Tây. Trống đồng là biểu trưng quyền lực quốc gia của các tộc Bách Việt.
    Nhận thấy các điểm khác biệt quan trọng giữa các nhóm tộc Việt, các học giả Trung Quốc đã cố gắng phân loại các nhóm Việt khác nhau, thường dựa trên phép gọi tên của các học giả Hán cổ hơn. Ở phía Nam, vùng Quảng Đông, Quảng Tây, vùng đất mà từ thời nhà Tần đã thường được gọi là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, người Hán đã xác định các nhóm với tên Dương Việt, Tây Âu, Lạc Việt, Ư Việt, Điền Việt, Dạ Lang, v.v.. Vào đầu thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Bách Việt được chia thành các nhóm/vương quốc, trong đó: Đông Âu (東甌), Mân Việt (閩越) và Nam Việt (南越, bao gồm cả Tây Âu, Lạc Việt) là các nhóm chính với các ranh giới cụ thể, nhà Hán đã cố gắng phân loại một cách rất hệ thống:

    1. Nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, nằm ở vùng trước là lãnh thổ của các nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. (ngày nay là vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (溫州), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Trung Quốc).
    2. Nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, cũng nằm trong lãnh thổ cũ của nước Việt (tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay), được cho là tổ tiên của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở Trung Quốc hiện đại - bao gồm người dân đảo Đài Loan (những người nói Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link)
    3. Nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, trong địa bàn tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay, về sau phát triển vào địa bàn tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và vùng phía Nam. Họ được cho là tổ tiên của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hiện đại.
      1. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, trong vùng ngày nay là miền Tây tỉnh Quảng Đông và miền Nam tỉnh Quảng Tây
      2. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, khu vực Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay, là tổ tiên trực tiếp của người Việt hiện đại cùng một số dân tộc thiểu số khác như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    Cho đến gần đây, các học giả Trung Quốc mới bắt đầu cố gắng phân biệt các nhóm một cách nghiêm túc hơn. Trong khi nhiều học giả vẫn dựa quá nhiều vào việc trích dẫn các sách cổ, các kết quả khảo cổ học gần đây đã bắt đầu đơn giản hóa quá trình phân tích.

    Một số học giả Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link liệt kê các đặc điểm văn hóa của các nhóm tộc Việt như sau:

    1. Tục cắt tóc ngắn và xăm mình
    2. Xây Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    3. Trang phục đặc trưng bởi quần ngắn hoặc váy quấn (kilt) và đầu đội khăn xếp (turban)
    4. Chế độ ăn nhiều sò hến và ếch
    5. Tục nhổ răng, thường là răng nanh hoặc răng cửa trên
    6. Tục lệ người cha tham gia quá trình đỡ đẻ, sau đó chăm sóc con nhỏ để người mẹ quay lại với việc làm đồng
    7. Đúc và sử dụng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link trong các nghi lễ
    8. Bói bằng xương chim, đặc biệt là xương gà
    9. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đặc biệt là chim, bò sát, và cóc/ếch
    10. Tục táng trên vách đá
    11. Sử dụng nhiều đến thuyền bè và điêu luyện về thủy chiến
    12. Hình dáng hình học của đồ gốm sứ
    13. Kỹ thuật dệt phát triển cao
    Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc điểm trên đều có ở mỗi nhóm tộc Việt. Chẳng hạn, người Việt ven biển phía Đông Nam Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam, sử dụng rìu đá có vai, còn người ở vùng biển phía Bắc và xa phía Tây Nam Trung Quốc thì không.

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng cách phân chia hữu ích nhất là chia các tộc Việt thành hai nhánh:

    Các kết quả khảo cổ học có hỗ trợ cho cách phân chia đơn giản này. Các cổ vật đặc trưng cho nhóm thứ nhất, nhóm Bắc, bao gồm đồ gốm hình học (geometric pottery), xẻng đá lớn (large stone shovel), và đồ đồng kiểu Sở. Đặc điểm của nhóm thứ hai, nhóm Nam, là các đồ đồng kiểu tây nam, việc sử dụng các loại dụng cụ đồ đá đa dạng, hầu như không thấy đồ gốm hình học và xẻng đá lớn Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Nhóm phía Nam bắt đầu từ Việt Nam và kéo dài theo vùng ven biển lên tới khu vực Tây Nam tỉnh Quảng Đông.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Phát triển từ các nhóm văn hóa Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link bản địa, sự tiếp nối của nhóm này đã được ghi nhận. Đó là các xã hội phát triển cao với một nền tảng nông nghiệp và một bộ đầy đủ các loại đồ gốm và đồ đá. Một điểm khác biệt rõ nét khác để phân tách hai nhóm chính là sự phát triển của một trong những loại cổ vật quan trọng nhất của khu vực: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Vân Nam, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam. Xem thêm bài Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Hướng tới một phân loại cụ thể hơn, các nhà học giả khác đã sử dụng cách chia ba để phân tách các nhóm văn hóa Việt. Ba nhóm này bao gồm:

    1. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (khác với tên nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link): phân bố tại miền Trung và miền Bắc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và trong thời kỳ đầu còn bao gồm cả Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. (trùng với nhóm Bắc của cách chia đôi)
    2. Nhóm Tây Âu, còn gọi là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (甌越): phân bố ở các vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (桂江) và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (西江) của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link(廣西).
    3. Nhóm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link: phân bố ở Tây Nam Quảng Đông kéo tới Đông Nam Quảng Tây và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    Tuy hai nhóm Tây Âu (phía Tây Nam) và Lạc Việt (phía Đông Nam) có thể xếp vào một nhóm khi phân biệt với nhóm Việt phía Bắc, giữa hai nhóm này cũng có những điểm khác biệt quan trọng về cấp độ phát triển. Địa lý là một nhân tố quan trọng để giải thích sự khác biệt này. Phía Tây là vùng đồi núi, do đó, giao thông liên lạc khó khăn và các đa dạng địa phương có thể được bảo tồn lâu dài hay tiếp tục phát triển. Ở miền Đông Nam và các khu vực ven biển, giao thông liên lạc dễ dàng hơn, do đó, sự thâm nhập của các văn hóa bên ngoài cũng dễ dàng hơn, và theo thời gian, các đa dạng văn hóa địa phương có xu hướng phát triển về phía một dạng văn hóa chung. Theo các kết quả khảo cổ học, tuy chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các nhóm văn hóa vùng Đông Nam Trung Quốc và Việt Nam, các nhóm văn hóa vùng Tây Nam Trung Quốc thể hiện các khác biệt địa phương nổi bật cho thấy một giai đoạn phát triển thấp hơn, đặc biệt về kinh tế nông nghiệp.


    Lịch sử

    Thời tiền sử
    Bên cạnh các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link về các nền Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (9000-5600 TCN) và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (8300-5900 TCN) tại Việt Nam, ở phía Nam Trung Quốc cũng có các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link được cho là của các tộc người Bách Việt cổ bản địa, các di chỉ ở Quảng Tây dường như có tương đồng với các di chỉ tại miền bắc Việt Nam.

    Hai địa điểm khảo cổ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link được biết nhiều đến ở Quảng Tây là động Bailian gần Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (柳州) và Zhenpi Yan gần Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (桂林). Các đồ vật tìm thấy tại Bailian Dong được xác định theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link cách đây khoảng từ 30.000 đến 7.500 năm. Còn niên đại tại Zhenpi Yan được xác định vào khoảng 10.000 năm trước. Có hơn 400 mộ được cho là của tổ tiên Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã được phát hiện ở vùng này. Trong các mộ này, xác người được Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở tư thế nằm co, một kiểu chôn rất hiếm thấy ở Trung Quốc nhưng lại được tìm thấy rất nhiều ở Việt Nam. Theo Jeffrey Barlow,Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, những người thổ dân của vùng này có nguồn gốc ở phía Nam và có mối quan hệ gần gũi với các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn ở Việt Nam.

    Ở vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thuộc phía Tây Nam Quảng Tây, người ta tìm thấy các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link với vỏ sò hến nước ngọt lẫn trong lớp tro bếp. Các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link này thường nằm ven bờ các khúc sông, gần các khu đất bằng phẳng, nhà thường quay lưng vào đồi núi. Tại nhiều địa điểm, các nhà khảo cổ học cũng tìm được mộ. Tuy nhiên, ngoài kiểu chôn nằm co phổ biến, còn có các kiểu khác như nằm thẳng hoặc nằm nghiêng. Đặc biệt là các kiểu táng đa dạng này lại được tìm thấy tại cùng một địa điểm.

    Rìu đá có vai, đặc trưng của các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link tại Quảng Đông và Bắc Việt Nam, cũng được tìm thấy tại các địa điểm trên, nhưng được tìm thấy nhiều hơn theo hướng xuôi theo sông.

    Cùng với các loại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, sự phân bố trên cho thấy ở phía Đông Nam các nền văn hóa địa phương phức tạp và có tính gắn kết hơn là phía Tây Nam. Sự khác biệt này có thể được giải thích bằng điều kiện địa lý: vùng Tây Nam nhiều đồi núi hơn nên các nền văn hóa ở đây khó giao lưu với nhau hơn.

    Dòng di cư của người Hán và chiếm đất
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Kiếm bằng đồng xanh có hình đầu người Bách Việt
    Từ thế kỷ IX trước Công nguyên, hai nhóm Việt ở phía Bắc, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi láng giềng Trung Hoa (người Hán) ở phía Bắc. Hai nước này, một nước có lãnh thổ ở phía Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, nước kia ở vùng Bắc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Giới quý tộc lãnh đạo học Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tiếp nhận các thể chế chính trị và kỹ thuật quân sự Trung Hoa. Người ta đã cho rằng sự thay đổi về văn hóa này là do Tể tướng nước Ngô là Ngô Thái Bá (吳太伯) - một vương tử của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã chạy về phía Nam lánh nạn. Vùng đất đầm lầy ở phía Nam đã mang lại cho Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link những đặc điểm độc đáo. Họ không chú trọng vào làm ruộng mà dựa nhiều hơn vào nghề Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (aquaculture). Giao thông đường thủy có tầm quan trọng lớn ở phía Nam, do đó hai nước này đã tiến lên trình độ cao về kỹ thuật đóng tàu thuyền và kỹ thuật thủy chiến. Họ còn được biết đến với những thanh bảo kiếm.

    Vào thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, hai nước này, bấy giờ có tên là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đã tham gia ngày càng sâu vào chính trị Trung Hoa. Năm 512 TCN, Ngô đánh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link - nước lớn nhất ở miền Trung sông Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Một chiến dịch tương tự đã diễn ra vào năm 506, lần này Ngô chiếm được kinh đô của Sở - thành Dĩnh (郢). Cũng năm đó, chiến tranh nổ ra giữa Ngô và Việt và tiếp diễn thêm 3 thập kỷ nữa. Năm 473 TCN, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (雒句踐 - Lạc Câu Tiễn) cuối cùng đã đánh bại nước Ngô và được các nước phía Bắc là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (晉) công nhận. Năm 333 TCN, đến lượt Việt bị Sở diệt.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Bản đồ các khu vực lẻ tẻ do Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link chiếm được của các nhóm tộc Bách Việt ở phía Nam Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link sau năm 210 TCN.
    Sau khi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thống nhất Trung Hoa, vùng đất của Bách Việt bị nhập vào đế quốc Trung Hoa. Quân Tần còn tiến xa hơn về phía Nam dọc theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (湘江) tới vùng đất nay là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và thiết lập các quận dọc theo các tuyến giao thông chính. Trong suốt thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, có hai nhóm Việt được nhắc đến, đó là Nam Việt ở phía cực Nam, sống chủ yếu tại các vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; và nhóm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở phía Đông Bắc, tập trung tại sông Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (閩江) ở vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ngày nay.

    Quá trình Hán hóa các dân tộc này được thực hiện bởi sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự đế quốc và định cư của người Hán. Các khó khăn về vận tải và thủy thổ phương Nam đã làm cho việc chiếm đất và cuối cùng là đồng hóa các dân tộc Việt diễn ra một cách chậm chạp. Khi người Hán đến tiếp cận với các dân tộc Việt địa phương, họ thường giành lấy quyền kiểm soát lãnh thổ hoặc khuất phục dân địa phương bằng bạo lực. Khi Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link khởi nghĩa vào năm 40, tướng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã đem một lực lượng gồm 20.000 quân đến đánh dẹp. Trong khoảng từ năm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đến Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã có không dưới 7 cuộc nổi dậy bằng quân sự, nhà Hán đã thường phải dùng đến các hoạt động phòng vệ mạnh.

    Khi dân nhập cư người Hán tăng dần, các tộc Việt dần dần bị buộc phải chuyển đến những vùng đất xấu hơn ở khu vực miền núi. Tuy nhiên, không giống với các dân tộc du mục ở miền Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, chẳng hạn người Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hoặc người Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (鮮卑), các dân tộc Việt chưa bao giờ là mối đe dọa lớn đối với sự bành trướng hay quyền kiểm soát của người Hán. Đôi khi, họ thực hiện các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào vùng định cư của người Hán - các nhà sử học truyền thống của Trung Quốc gọi đây là "các cuộc nổi loạn". Về phần mình, người Hán coi các dân tộc Việt chỉ là những tộc người rất kém văn minh và có xu hướng gây chiến lẫn nhau.

    Tuy nhiên, dưới đời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở vùng đất cũ của họ với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, sự cai trị của chính quyền người Hán chỉ là trên danh nghĩa. Từ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, khi Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm - những người đã chiếm được toàn bộ vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và thiết lập Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, chiến tranh đã gây ra những đợt lớn dân di cư từ phía Bắc về đổ về Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Điều này đã tăng tốc quá trình Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (giao thoa văn hóa giữa người Bách Việt và người Hán) ở vùng Nam Trung Quốc, dân cư địa phương đã dần dần bị nhập vào văn hóa Hán hoặc phải dời đi nơi khác. Theo thời gian, từ "Bách Việt" đã không còn được sử liệu của Trung Quốc nhắc đến. Phần nhiều các tộc Bách Việt đã bị Hán hóa và đồng nhất với người Hán (hoặc nói cách khác, người Hán di cư làm phong phú thêm văn hóa Bách Việt phía nam Trung Hoa). Một số trở thành tổ tiên của các dân tộc thiểu số như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (布依族), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (侗族), Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (火族)... ở miền Nam Trung Quốc.

    Trong khi hầu hết các dân tộc Bách Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, hậu duệ trực tiếp của nhóm Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đã giữ được bản sắc dân tộc của mình và cuối cùng thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Di sản của Bách Việt

    Sự sụp đổ của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và giai đoạn phân chia sau đó đã đẩy nhanh quá trình Hán hóa. Các giai đoạn bất ổn và chiến tranh ở vùng phía bắc Trung Quốc, như là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và trong thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã dẫn đến nhiều cuộc di dân lớn của người Hán. Hôn nhân giữa các sắc tộc và giao tiếp giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn của người Hán và các dân tộc khác ở phía nam. Vào thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, từ "Việt" đã gần như trở thành một địa danh hơn là một từ mang tính văn hóa. Chẳng hạn, trong thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, một nước tại vùng ngày nay là tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã dùng tên nước là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Cũng giống như vậy, từ "Việt" trong "Việt Nam" có gốc từ chữ "Việt" (越) này.

    Ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa chưa được người Hán khẳng định một cách chính thức, nhưng rõ ràng ảnh hưởng đó là đáng kể. Các ngôn ngữ của những quốc gia cổ như Ngô và Việt đã hình thành nền tảng cho Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hiện đại (吳語 - Ngô văn) và ở một mức độ nào đó cũng là nền tảng cho Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (閩方言)[Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link] - các ngôn ngữ của vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link[Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link]. Các nhà nhân học ngôn ngữ cũng đã khẳng định rằng một số lượng lớn các từ trong tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ các từ Việt cổ. Một ví dụ là từ "giang" (江), nghĩa là "sông". Các con sông ở phía Bắc Trung Quốc đều được gọi là "hà" (河), trong khi các con sông ở phía Nam Trung Quốc được gọi là "giang" (江). Dấu vết của ngôn ngữ Việt, đặc biệt là cấu trúc "tính từ đi sau danh từ" (ngược lại với Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link) vẫn còn lại trong các tác phẩm văn thơ kinh điển của Trung Quốc như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và trong tên gọi của các vị thần/vương truyền thuyết mà người Trung Quốc coi là của họ như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.

    Ở một mức độ nào đó, một số dấu vết còn lại của các dân tộc Bách Việt và văn hóa của họ còn có thể được thấy trong một số Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đặc biệt là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và nhiều dân tộc ở Việt Nam[Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link].

    Một số học giả đặt giả thuyết rằng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link là sản phẩm của nền Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở phía Nam sông Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (nghĩa là thuộc vùng đất Bách Việt). Có người còn cho rằng đây là sản phẩm của người Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, với các lập luận chẳng hạn như: có thể thấy một số khái niệm giống như Kinh Dịch được mã hóa trên các họa tiết Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link; một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ...

    Tuy nhiên, những giả thuyết ở trên đều mang tính suy diễn chủ quan, vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết hư cấu và cũng chưa tìm được các bằng chứng khảo cổ để chứng minh, nên chưa đủ sức thuyết phục ngay cả đối với giới học giả trong nước Việt Nam. Mặt khác, đối chiếu Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì các giả thuyết này thể hiện sự vô lý: trống đồng của người Việt có niên đại cổ nhất là khoảng gần 2.800 năm trước, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì chỉ mới xuất hiện vài trăm năm trước, trong khi các yếu tố của Kinh Dịch đã được người Trung Quốc ghi lại trên Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link từ thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (một triều đại tiếp nối nhà Hạ được công nhận là bắt đầu Lịch sử Trung Hoa) cách đây 3.500 năm rồi, thêm nữa Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link chịu ảnh hưởng lớn Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (từ tiếng kinh đô Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link được dùng làm tiếng Lingua franca vào thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link để đọc chữ Hán) nên càng không có căn cứ để nói rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt.


    Cách dùng hiện đại

    Trong tiếng Trung Quốc hiện đại, các chữ "越" và "粵" là khác nhau. Chữ thứ nhất thường được dùng để chỉ vùng đất nguyên thủy của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, một khu vực phía bắc của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, đặc biệt là các khu vực xung quanh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Hát tuồng Chiết Giang, chẳng hạn, được gọi là "Việt kịch" (越劇). Chữ "越" cũng được dùng để chỉ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (越南). Chữ thứ hai "粵" (yuè) được dùng làm tên gọi tắt của tỉnh Quảng Đông. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, được sử dụng tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link và trong nhiều cộng đồng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ở các nước trên thế giới, còn được gọi là "Việt ngữ" (粵語).

    Trong chữ Hán-Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link mà người Việt Nam sử dụng, chữ "越" cũng được dùng trong tên Việt Nam - "越南".


    Văn hóa

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thời Xuân Thu có cư dân bản địa là các bộ tộc Bách Việt. Do vị trí địa lý nên họ là các nhóm Bách Việt tiếp xúc sớm nhất với người Trung Hoa, và đã bắt đầu "Trung Hoa hóa" từ thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link chép rằng vua của 3 nước này đều là quý tộc từ Trung Hoa di cư đến rồi lập quốc tại đây, và họ đều được Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link phong tước để trở thành Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Cho đến thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thì cư dân bản địa tại các nước này đã "Trung Hoa hóa" khá nhiều, tuy nhiên họ vẫn giữ lại một số nét văn hóa riêng, khác với người Trung Hoa ở những vùng khác.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link mô tả về người Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Ư Việt) và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thời Xuân Thu (nay thuộc các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang - Trung Quốc) như sau:

    Người Ư Việt để tóc ngắn và xăm trổ trên người, vai phải để trần và buộc chặt quần áo bên trái. Ở nước Ngô, họ đánh răng đen và làm cho khuôn mặt sần sùi, họ đội những chiếc mũ làm bằng da cá và [quần áo] được khâu lại bằng một chiếc dùi.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    — Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Người Hán gọi các dân tộc "man rợ" không phải người Hán khác nhau ở miền nam Trung Quốc là "Bách Việt", nói rằng họ có những thói quen thích ứng với nước, cắt tóc ngắn và xăm mình.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Người Hán cũng nói rằng ngôn ngữ của họ giống như "súc vật kêu" và họ thiếu luân lý, khiêm tốn, văn minh và văn hóa.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Theo lời kể của một người Hán nhập cư vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên: Người Việt cắt tóc ngắn, xăm trổ đầy mình, sống trong những rặng tre, không thành thị hay làng mạc, không sở hữu cung tên, ngựa hay xe ngựa."Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Họ cũng nhuộm đen răng.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Về mặt quân sự, các nước Việt và Ngô thời Xuân Thu khác với các quốc gia Hán tộc khác vì họ sở hữu hải quân.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Không giống như các nhà nước khác của Trung Quốc thời đó, họ cũng đặt tên cho thuyền và kiếm.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Một văn bản Trung Quốc mô tả nước Việt thời Xuân Thu đã sử dụng thuyền làm xe và mái chèo làm ngựa của họ.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vùng đất đầm lầy ở phía nam đã tạo cho người Câu Ngô và Ư Việt những đặc điểm riêng biệt. Theo Robert Marks, các tộc Bách Việt sống ở khu vực ngày nay là tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link kiếm sống chủ yếu từ đánh cá, săn bắn và một số loại hình canh tác nương rẫy.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Trước khi người Hán di cư từ phương bắc đến, các bộ tộc Bách Việt trồng lúa nước, đánh cá và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, thuần hóa Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, xây dựng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, xăm mặt và thống trị các vùng ven biển từ bờ biển đến các thung lũng màu mỡ ở vùng núi nội địa.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Giao thông đường thủy là tối quan trọng ở phía Nam, vì vậy hai nước Ngô và Việt đã trở nên tiên tiến trong việc đóng tàu và phát triển công nghệ chiến tranh hàng hải, lập bản đồ các tuyến đường thương mại đến các bờ biển phía Đông của Trung Quốc và Đông Nam Á.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Kiếm
    Nước Việt thời Xuân Thu nổi tiếng về kiếm thuật và sản xuất những thanh kiếm tốt. Theo Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đã gặp một nữ kiếm sĩ tên là Nanlin (Việt nữ), người đã thể hiện sự tinh thông kiếm thuật và vì vậy ông đã sai năm người tùy tướng của mình học hỏi kiếm thuật của cô. Kể từ đó, môn kiếm thuật này được biết đến với cái tên "Việt Nữ Kiếm". Người Việt cũng được biết đến với việc sở hữu những thanh kiếm thần bí có sức mạnh bùa chú của rồng hoặc các sinh vật lưỡng cư khác.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Người phụ nữ đang đi về phía bắc để yết kiến vua [Câu Tiễn của nước Việt] thì gặp một ông già trên đường, ông ta tự giới thiệu mình là Lãnh chúa Nguyên. Anh ta hỏi người phụ nữ: "Tôi nghe nói rằng cô giỏi kiếm thuật, tôi muốn được thấy tận mắt." Người phụ nữ nói: "Tôi không dám giấu giếm điều gì; thưa ngài, ngài có thể thử thách tôi." Lãnh chúa Nguyên sau đó đã chọn một cây trúc, phần ngọn của nó đã bị héo. Anh ta bẻ [những chiếc lá] và ném chúng xuống đất nhưng người phụ nữ đã nhặt được chúng [trước khi chúng rơi xuống đất]. Lãnh chúa Nguyên sau đó nắm lấy đầu dưới của cây tre và đâm người phụ nữ. Cô phản đòn, họ đánh nhau ba trận và ngay khi người phụ nữ nâng cây gậy để tấn công anh ta, Lãnh chúa Nguyên bay vào ngọn cây và trở thành một con vượn trắng (Nguyên).Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    — Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link có đề cập đến chất lượng cao của kiếm phương nam và khả năng chém xuyên qua trâu, ngựa, bát, chậu nhưng sẽ vỡ nếu chém trúng cột hoặc đá. Kiếm của nước Ngô và nước Việt được đánh giá cao và những người sở hữu chúng hầu như không bao giờ sử dụng chúng vì sợ hư hại. Tuy nhiên, ở nước Ngô và nước Việt, những thanh kiếm này là bình thường và được đối xử kém tôn kính hơn.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Việt Tuyệt Thư (Ghi chép về những thanh kiếm quý) đề cập đến một số thanh kiếm nổi danh: Trạm Lư (湛卢), Haocao (Dũng cảm), Cự Khuyết (巨阙), Lutan (Màn sương), Thuần Quân (纯钧), Thắng Tà (胜邪), Ngư Trường (鱼肠), Long Uyên (龙渊), Thái A (泰阿) và Công Bố (工布). Nhiều thanh danh kiếm trong số này được rèn bởi thợ rèn kiếm người Việt là Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Kiếm giữ một vị trí đặc biệt trong văn hóa của các vương quốc Ngô và Việt cổ đại. Truyền thuyết về thanh kiếm được ghi lại ở đây sớm hơn và chi tiết hơn nhiều so với bất kỳ vùng nào khác của Trung Quốc và điều này phản ánh cả sự phát triển của công nghệ chế tạo kiếm tinh vi và tầm quan trọng của những lưỡi kiếm này trong nền văn hóa cổ đại ở miền Nam Trung Quốc. Cả Ngô và Việt đều nổi tiếng trong số các nước đương thời về số lượng và chất lượng của những thanh kiếm mà họ sản xuất, nhưng mãi đến sau này, vào thời nhà Hán, truyền thuyết về chúng mới lần đầu tiên được thu thập. Những câu chuyện này đã trở thành một phần quan trọng của thần thoại Trung Quốc và giới thiệu những thợ rèn huyền thoại như Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link 干將 và Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link 莫耶 trong những câu chuyện nổi tiếng trong nhiều thiên niên kỷ. Những câu chuyện này sẽ giữ cho danh tiếng của nghề rèn kiếm của nước Ngô và Việt tồn tại, nhiều thế kỷ sau khi các vương quốc này biến mất và thực sự vào một thời kỳ mà kiếm đã trở nên hoàn toàn lỗi thời ngoài mục đích nghi lễ bởi sự phát triển của công nghệ quân sự.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    — Olivia Milburn

    Ngay cả sau khi Ngô và Việt được hòa nhập vào các triều đình lớn hơn ở Trung Quốc, ký ức về những thanh kiếm của họ vẫn còn tồn tại. Vào thời Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Việt vương Lưu Tỵ (195-154 TCN) có một thanh kiếm mang tên Ngô Kiếm để tôn vinh lịch sử chế tác kim loại ở vương quốc của ông.Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link


    Ghi chú

    1. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Các ngôn ngữ trong Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link đa dạng nhất tại khu vực miền trung Việt Nam và tây Trường Sơn thuộc Lào và các phương ngữ của tiếng Việt có mức độ đa dạng nhất tại miền trung Việt Nam. James R. Chamberlain cho rằng nguồn gốc của các cư dân nói Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, mà bao gồm hai nhóm chính:một nhóm bị Hán hóa nặng nề là người Kinh (Việt) và một nhóm bị các Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ảnh hưởng (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link), bắt nguồn từ khu vực đông Trường Sơn thuộc khu vực miền trung Việt Nam và các tỉnh Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thuộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Họ di cư từ phía Nam lên vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link chứ không phải từ phía Bắc, tức Nam Trung Hoa, xuống và cũng không phải Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của khu vực đồng bằng sông Hồng. Xem Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 27-44.
    2. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Cần xem lại nhận xét "không phải Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của khu vực Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link", vì rằng các bằng chứng: 1. Những dấu vết Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link trong Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Xem: Bình-nguyên Lộc. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link).; 2. Những người Chăm cổ ở vùng Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link nay đã Việt hóa; 3. Hiện tượng giao chỉ, tức ngón chân cái choãi ra nên khi đứng thì đầu ngón chân cái giao nhau, chỉ có ở người phương Nam (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link?)- dấu tích nay chỉ còn ở số rất ít người; 4. Có thông tin rằng sau cuộc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thất bại thì nhiều thị tộc mẫu hệ di cư sang Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thành Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Xem: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link). Khả dĩ hơn thì phải coi là tại đồng bằng sông Hồng các cư dân Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link sống xen nhau, do quá trình di cư thời tiền sử.
    3. ^ Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Ghi chú đã dời vào trang Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Chú thích

    1. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Meacham, William (1996). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association. 15: 93–100. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011.
    2. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Barlow, Jeffrey G. (1997). “Culture, ethnic identity, and early weapons systems: the Sino-Vietnamese frontier”. Trong Tötösy de Zepetnek, Steven; Jay, Jennifer W. (biên tập). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Research Institute for Comparative Literature and Cross-Cultural Studies, University of Alberta. tr. 1–15. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    3. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    4. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Meacham, William "Origins and Development of Yue Coastal Neolithic: A Microcosm of Cultural Change on the Mainland of East Asia," Berkeley: University of California Press, 1983. Tác giả gọi nền văn hóa vùng nam Trung Quốc là 'Bắc Sơn Nam Trung Quốc' (South China Bacsonian)
    5. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Quyển I. Kỷ Hồng Bàng thị: "Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam)"
    6. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Yu Tianji, Qin Shengmin, Lan Riyong, Liang Xuda and Qin Cailan (eds.) Gu Nan Yue Guo Shi., [The History of the State of Ancient Yue.] Nanning: Guangxi Renmin Chubanshe, 1988., pp. 179-188.
    7. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Chen Guoqiang, Wu Nianji, Jiang Bingzhao and Qin Tucheng, Bai Yue Minzu Shi, [The History of the Bai Yue People.] Beijing: Zhongguo Shehui Kexue Chubanshe, 1988, pp. 41-61.
    8. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Yu Tianzi, Qin Shengmin, Lann Riyong, Liang Xuda, Qin Cailan (eds.) pp. 194-8. Lu Mingtian, "Qin Han Qianhou Lingan Bai Yue Zhuyao Zhixide Fenbu ji qi Zu Cheng." [The Distribution and Names of the Important Branches of the Bai Yue Peoples of the Lingnan Before and After the Qin and Han.] pp. 143-159 in Bai Yue Minzu Shi Yanjiu Huipian, [The Research Committee of the History of the Bai Yue Peoples] (eds) Bai Yue Minzushi Lun Cong, [A Collection of Essays on the History of the Bai Yue Peoples.] Nanning: Guangxi Renmin Chubanshe, 1985. pp. 144-5 bổ sung sự có mặt của các loại rìu đá có vai (shouldered axe) trong cái mà tác giả gọi một đặc điểm nổi bật của văn hóa phía Đông Nam.
    9. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Meacham, pps. 147-177.
    10. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vì "Nhóm Nam Việt" còn bao gồm Phúc Kiến, Chiết Giang và phía nam Giang Tô. Điều này khác hoàn toàn với lãnh thổ nước Nam Việt của nhà Triệu
    11. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Jeffrey Barlow, The Zhuang. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link 2007-02-08 tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Pacific University
    12. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Khoảng thế kỷ XII-XIII, khi quân Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link diệt nước Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, dân nước này chạy về phía Nam và trở thành tổ tiên của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hiện là sắc tộc chính tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, và là dân tộc thiểu số tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    13. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Một trong nhiều ví dụ:
      Trung tâm dao dao (Thử ly: trong lòng nao nao)
      Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông)
    14. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Không phải "Nông Thần", "Nghiêu Đế", "Thuấn Đế"....
    15. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, Dịch Kinh linh thể, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    16. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Kim Định, Gốc rễ triết Việt, Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    17. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Trần Quang Bình, Kinh Dịch, sản phẩm văn hóa của nền văn minh Âu Lạc Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    18. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam? Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link 2006-12-22 tại Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    19. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tìm về cội nguồn Kinh Dịch- Nguyễn Vũ Tuấn Anh
    20. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 2.
    21. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Marks, Robert B. (1998). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Cambridge University Press. tr. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    22. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Indo-Pacific Prehistory Association. 1996. tr. 94.
    23. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Indo-Pacific Prehistory Association. Congress (1996). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association. Volume 2 of Indo-Pacific Prehistory: Proceedings of the 15th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Chiang Mai, Thailand, 5–ngày 12 tháng 1 năm 1994. The Chiang Mai Papers. Indo-Pacific Prehistory Association, Australian National University. tr. 94.
    24. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Kiernan, Ben (2017). A History of Vietnam, 211 BC to 2000 AD. Oxford University Press. tr. 63. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    25. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Hutcheon, Robin (1996). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Chinese University Press. tr. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    26. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Mair, Victor H.; Kelley, Liam C. (2016). Imperial China and Its Southern Neighbours. Institute of Southeast Asian Studies (xuất bản ngày 28 tháng 4 năm 2016). tr. 25–33.
    27. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 1-2.
    28. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 35.
    29. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 49-50.
    30. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 50.
    31. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 142.
    32. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Marks, Robert B. (1998). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Cambridge University Press. tr. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    33. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Sharma, S. D. (2010). Rice: Origin, Antiquity and History. CRC Press. tr. 27. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    34. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 66.
    35. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 8.
    36. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Peters, Heather (tháng 4 năm 1990). H. Mair, Victor (biên tập). Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (PDF). Department of East Asian Languages and Civilizations, University of Pennsylvania. East Asian Collection. Sino-Platonic Papers. 17: 3.
    37. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 72.
    38. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 62.
    39. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Lim, Ivy Maria (2010). Lineage Society on the Southeastern Coast of China. Cambria Press. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    40. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Lu, Yongxiang (2016). A History of Chinese Science and Technology. Springer. tr. 438. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
    41. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 181-183.
    42. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 291.
    43. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 247.
    44. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 285.
    45. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 273.
    46. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link, tr. 276.
     
    Chỉnh sửa cuối: 4/9/21
    tran ngoc anh and RGBCD like this.

Chia sẻ trang này