Dân gian [thần thoại] Hùng Hải trị nước

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học trong nước' bắt đầu bởi crawfish, 9/12/18.

  1. crawfish

    crawfish Mầm non

    Lạc Long Quân xuống biển, giao lại nước cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link thấy các sông ngòi năm nào cũng dâng nước to làm hại dân làng, mới sai thủy bộ chia nhau giữ gìn các thác ghềnh.

    Miền Động Đình thường bị loài thủy quái dâng nước làm mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải về Động Đình chủ giữ các sông. Hùng Hải cùng vợ là Trang Hoa thường đi xem xét các sông Đà, sông Thao. Các loài giải thuồng luồng, ba ba về chầu rất đông, dân vô cùng khiếp sợ. Hùng Hải mắng các loài thủy tộc, dặn lần sau không được lộ hình cho dân thấy.

    Một hôm, Hùng Hải nằm mộng thấy sứ mời về gặp Lạc Long Quân, Lạc Long Quân báo cho biết sẽ cử ba rồng trông coi một dải sông Thao để trấn giữ giặc nước và lệnh cho Hùng Hải về cửa sông Nhị.

    Sau đó, Trang Hoa có mang. Tới ngày sinh nàng ngồi thuyền ra giữa sông ở ngã ba Bạch Hạc. Sóng nước nổi lên, mây đen kéo kín trời, chớp loà sấm động. Trang Hoa đau đẻ mấy này và sinh ra ba rồng Hùng Hải mừng rỡ. Ba Rồng vừa ra đời thì trời quang mây tạnh sóng lặng, sấm tan. Ba rồng vươn vai vụt trở thành ba chàng trai cao lớn tuấn tú, lạy chào cha mẹ. Hùng Hải liền vỗ về ba rồng, truyền cho rồng cả về trị nhậm ở ghềnh Ngọc Tháp, rồng hai về ghềnh Ba Triệu, rồng ba về đầm Đào Xá. Bắc Thành địa dư chí của Lê Đại Cương lại chép "Thần núi Tản Viên có ba vị: Nguyễn Hưởng, Nguyễn Tuấn và Nguyễn Lang'' . Khâm Động Việt sử lại ghi thần Tản Viên có tên là Hương Lang con Lạc Long Quân. Đời thường Nghiên, nước ngập cả núi non, Hương Lang có phép tiên trừ được nạn lụt Thần rất thiêng, đi đâu thường có hạc múa, voi quì, rồng chầu, hổ phục. Cao Biền nhà Đường có ý muốn yểm nhưng không yểm nổi.

    Khảo dị: Hùng Vương

    (Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link)

    Hùng Vương trị đất lạc, đặt tên nước là Văn Lang, chia ra thành nhiều khu vực cho các anh em mỗi người cai quản một nơi, còn một số thì ở với mẹ, anh cả được tôn làm vua, tức là Hùng Vương.

    Buổi đầu, vật dùng của dân chúng chưa đủ, lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm, lấy cầm thú ngư trung làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cầy bằng dao, cấy bằng lửa. Đất nhiều gạo nếp, lấy ống tre để nấu. Gác cây làm nhà để tránh hùm sói. Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Con mới sinh thì lấy lá chuối lót. Khi có người chết thì lấy cối chài ra mà giã, hàng xóm nghe thì chạy đến cứu giúp nhau. Trai gái lấy nhau thì chưa dùng trầu cau, lấy phong muối làm lễ đầu, rồi sau đem trâu dê để thành lễ.

    Tổ chức thô sơ dần dần thành lập nên kinh đô Phong Châu, các bộ lạc thì ở dưới quyền tù trưởng gọi là lạc tướng, các lạc tướng thì phục tòng ít nhiều một vị tù trưởng có thế lực hơn hết cả gọi là lạc hầu hay lạc vương. Thôn ở dưới quyền một gia trưởng gọi là bố chính. Vương có nô lệ tôi tớ, con trai gọi là quan lang, con gái gọi là mị nương hay mệ nàng, cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, người nào cũng xưng hiệu là Hùng Vương.

    Trong xứ có nhiều ao, đầm, hồ, sông và tiếp giáp biển, dân chúng sinh hoạt về nghề chài lưới thường bị các giống thủy tộc như thuồng luồng, cá sấu làm hại. Hùng Vương nghe những tai nạn dân sự hay gặp phải mới bảo rằng:

    - Ta cùng các anh em vốn thuộc giống rồng. Rồng thường ưa đồng loại mà ghét dị loại, vậy nên dùng chàm vẽ hình rồng vào người, để khi lạn xuống các em nhận ra là đồng loại mà không làm hại nữa.

    Do đó mà người Lạc Việt có tục xăm mình và tin rằng mình là con cháu giao long. Nước của Hùng Vương cũng vì thế mà gọi tên là Văn Lang.

    Đất nước Văn Lang phía đông giáp biển Nam hải, phía tây đến nước Ba Thục, phía bắc đến hồ Động Đình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

    Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái thì về phía đông nước Văn Lang hồi bấy giờ có một dân tộc thuộc về giống cá sống trên các hòn đảo. Tự thời xưa cá đã biến thành người, dần dà ăn nói như người, lên ở trên cạn: Họ lên đất thì chóng mặt, đi đứng khó khăn, nhưng xuống nước thì khỏe mạnh bơi lội rất tài. Họ sinh sống bằng nghề bắt cá và đưa cá vào đất liền để đổi lấy gạo ăn.

    Phía nam Văn Lang, là nước Hồ Tôn tức Chiêm Thành về sau có một ông vua tên Thập Xa Vương có nhiều phép thuật, cai quản một bộ lạc mặt người đuôi vượn, rất khoẻ và hung dữ. Giáp giới phía nam nước này là nước Diệu Nghiêm có một ông vua có mười cái đầu nên gọi là Thập Đầu Vương. Ông vua hình dạng cổ quái này có tài biến hóa phi thường.

    Thập Đầu Vương nghe tiếng con trai của Thập Xa Vương là Trưng Tư có một người vợ rất đẹp tên là Bạch Tĩnh, bèn đem bộ hạ đến nước Hồ Tôn vây đánh bất ngờ, rồi hóa phép vào cung bắt nàng bạch Tĩnh đem về nước.

    Bị cướp mất vợ, Trung Tư đem quân mặt người đuôi vượn kéo đi báo thù hóa phép dời núi lấp khoảng biển hẹp cách ngăn hai nước Hồ Tôn và Diệu Nghiêm, mở đường tiến vào nội địa tình địch. Sau một trận giao chiến ác liệt, Trung Tư giết được Thập Đầu vương, giành lại được vợ đưa về.

    Phía tây nam Văn Lang, có nước Tiết Hầu, nhân có việc rắc rối về ranh giới hai vua đôi bên mới phân định bằng cách mỗi bên cử một người từ nước mình, ở một chỗ nhất định rồi bắt đầu cùng một ngày, một giờ hướng về phía nhau mà đi, hễ gặp nhau ở đâu thì lấy đó làm giới hạn.

    Bên Văn Lang cử một người đàn bà tên là Mụ Giạ, người cao lớn, có tài đi rất mau. Đôi bên đi gặp nhau ở một cái đèo, thuộc dãy núi ngày nay gọi là Trường Sơn. Dãy núi ấy được lấy làm ranh giới đôi bên theo lời giao kết. Cái đèo người ta vẫn gọi là đèo Mụ Giạ. Ở chỗ từ Tân Ấp (Hà Tĩnh) ngày nay sang Ban Thông Kham (Ai Lao).
     
  2. mr.toanphan82

    mr.toanphan82 Lớp 2

    Truyền thuyết Việt kể Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu, lên ngôi là vua Hùng, dựng nước Văn Lang… Vậy vết tích nào của quốc tổ Lạc Long còn lưu lại ở vùng đất Phong Châu của các vua Hùng?

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐình Đào Xá ở Thanh Thủy, Phú Thọ.

    Truyền thuyết thời Hùng Vương ở Phong Châu thường kể tới một nhân vật mang tên Hùng Hải đại vương. Vị thần này được thờ ở nhiều làng tại Phú Thọ, như ở tại làng Đào Xá (Thanh Thủy). Sự tích của Hùng Hải tóm tắt như sau (theo thần tích Cấn thủy thần chi bộ của làng Đào Xá):
    Lạc Long Quân xuống biển giao nước lại cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Miền Hưng Hóa các châu, trang, động, sách thường bị loài thủy quái dâng nước làm cho mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải, con tra thứ 19 của Lạc Long Quân, về Hưng Hóa chủ giữ các sông. Đức Hải Công sau gọi là “Hải Vân Long Vương Động Đình thủy tề”. Hùng Hải nhận mệnh xong liền thả hịch xuống các đầu sông ngọn nguồn, các nơi thác ghềnh hiểm dữ. Trong ba ngày nước vỡ thành khe ngòi chảy đi hết.
    Mùa xuân Hùng Hải lấy Trang Hoa làm vợ. Trang Hoa rất xinh đẹp, quê ở Châu Mai, là con gái Lạc hầu. Hùng Hải thường đi tuần thú xem xét các sông từ sông Đà, sông Thao tới sông Lô, sông Hát, thấy chỗ nào khuyết lở thì truyền sức cho nhân dân bồi đắp.
    Một hôm Hùng Hải cùng vợ từ đầm Thọ Xuyên sang Đào Xá, dựng lầu nghỉ ở đây một đêm. Sau đó bà Trang Hoa có thai, sinh ra ba bọc trứng, nở ra 3 con rồng, rồi hóa thành 3 người con trai, đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bà Trang Hoa hóa ở cửa sông Nhị sau đó.
    Hùng Hải dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn. Rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản, còn mình về trông nom cửa sông Nhị tỉnh Hải Dương. Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại…
    Ba vị Long hầu, con trai của Hùng Hải được trị nhậm ở vùng sông Đà, sông Thao, chia nhau ở các khu Thọ Xuyên, Ngọc Tháp và Đào Xá.
    Làng Đào Xá lập đức Hải Công làm thành hoàng thờ tại đình làng. Trong làng còn có đền Tam công thờ ba con trai của Hải Công. Đến ngày hội có tục rước voi hướng về phía Đông, hướng Hùng Hải đi ra Hải Dương trị nhậm và tục bơi chải trên 2 chiếc thuyền rồng lớn trong vùng đầm Đào Xá.
    Câu đối ở đình Đào Xá
    興化千秋秀氣凝髙配天厚配地
    平原一境財源湊浩如泉暴如邱
    Hưng Hóa thiên thu, tú khí ngưng cao, phối thiên hậu phối địa
    Bình nguyên nhất cảnh, tài nguyên thấu hạo, như tuyền bộc như khâu.
    Dịch:
    Hưng Hóa ngàn thu, khí đẹp tụ cao, hợp trời cùng hợp đất
    Bình nguyên một cảnh, nguồn tài hội sáng, như suối mạnh như đồi.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐầu kèo chạm rồng ở Đào Xá.

    Nay so sánh chuyện Hùng Hải trị nước ở vùng Tam Giang Phong Châu thì thấy rõ đây cũng là chuyện của vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bát Hải Động Đình là vị vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
    Trước hết Hùng Hải được gọi là Động Đình thủy tề, tức là trùng khớp với tên Bát Hải Động Đình. Tên “Hải” còn gặp ở di tích An Cố tại Thái Thụy, Thái Bình, nơi thờ Phạm Hải hay Hải Công. Đức Hải Công ở vùng Phú Thọ như vậy là Bát Hải hay Phạm Hải ở Thái Bình.
    Hùng Hải lấy vợ là Trang Hoa, đóng trụ sở ở Đào Xá. Còn vua cha Bát Hải Động Đình thì xây dựng Hoa Đào Trang ở vùng cửa Động (Thái Bình). Tên bà Trang Hoa và tên làng Đào Xá đã chỉ rõ Hùng Hải cũng là vị vua của Hoa Đào Trang ở Thái Bình. Ngọc phả đền Hùng ở Phú Thọ còn nhắc tới một trong 18 đời Hùng Vương là Hùng Hoa với tên Hải Lang Vương. Hùng Hoa – Hải Lang đều chỉ một người, là Hải Công ở Đào Xá và Bát Hải Động Đình ở Hoa Đào Trang.
    Hùng Hải không phải ai khác chính là Lạc Long Quân, vị vua cha của Thủy phủ, được kể đến trong truyền thuyết khởi nguồn của người Việt. Đó cũng là lý do tại sao Hùng Hải lại được thờ rất tôn kính ở nhiều nơi tại vùng Phong Châu. “Hùng Hải trị nước” còn có nghĩa là cai trị quốc gia (đất nước). Chữ Nước biến âm thành Nác – Lạc. Hùng Hải là một vị Lạc Vương, làm chủ đất nước thời Hùng.
    Bà Trang Hoa hay Hoa Đào Trang ở Thái Bình thực ra ám chỉ Hùng Hải – Lạc Long là vua chủ của triều đại mang tên… Hoa, hay Hạ. Lạc Long Quân là Hạ Khải, người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkVị trí các di tích của Hùng Hải – Lạc Long và Ngũ vị tôn ông.

    Hùng Hải được cử đi trị nhậm ở cửa sông Nhị Hà tỉnh Hải Dương. Thực ra Hải Dương chỉ có nghĩa là vùng đất phía Đông (Dương là hướng mặt trời mọc) giáp biển. Cửa sông Nhị Hà đổ ra biển chính là sông Thái Bình. Ở đó gọi sông Nhị là sông Đào, như trong câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình:
    桃江洞口祁千跡
    生化神仙萬古傳
    Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
    Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
    Dịch:
    Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
    Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
    Động Đình trong chuyện này có nghĩa là biển Đông, chứ không phải vùng đầm Hưng Hóa ở Phong Châu. Cửa Động là vùng cửa sông Hồng (sông Đào hay sông Nhị đổ ra biển).

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkCửa cung đền Tam Công ở Đào Xá.

    Luôn gắn liền với vua cha Bát Hải Động Đình là sự tích 3 anh em cùng bọc trứng, như trong chuyện Vĩnh Công (vua cha Bát Hải) ở Thái Bình, trở thành các vị tôn quan trong Tứ phủ. Như đã từng biết, vị quan lớn đệ tam ở đền Lảnh là Trung thành phổ tế đại vương vùng Phú Xuyên – Hà Nam, cũng là thần Thổ Lệnh ở sông Bạch Hạc. Vị quan lớn đệ ngũ ở sông Tranh là thần Thạch Khanh trong chuyện Bạch Hạc Tam Giang.
    Như vậy, nếu Hùng Hải là vua cha Bát Hải thì ba vị Long hầu ở Đào Xá phải là các vị tôn quan của Tứ phủ. Hai vị trong số đó là các thần Thổ Lệnh, Thạch Khanh đã hiển ứng ở ngã ba Bạch Hạc. Mọi sự tích và tên gọi đều trùng khớp giữa 2 khu vực ở Phong Châu và ở cửa sông Hồng đổ ra biển.

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem linkĐền Giếng Giá ở Do Nghĩa, Sơn Vi, Phú Thọ thờ Đại Hải Long Vương.

    Tục thờ 3 vị thủy thần đại vương còn gặp ở một số nơi tại Phú Thọ, như ở làng Chu Khống (xã Chu Hóa, Việt Trì) tại chân núi Hùng. Xã này nay có đền thờ Lạc Long Quân mới được xây dựng. Ở Chu Hóa 3 vị thành hoàng được phong là Đông Hải đại vương, đã sinh ra từ trứng, nở thành 3 con rắn, sau hóa thành tướng giúp vua Hùng đánh Thục. Hay ở làng Do Nghĩa (Sơn Vi, Phú Thọ) thờ Đại Hải Long Vương, có công đánh Thục giúp vua Hùng. Những chuyện này hoàn toàn tương tự như chuyện về anh em Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở miền Đồng Bằng phá Thục.
    Cuộc chiến Hùng – Thục xảy ra giữa Lạc Long Quân (Hùng Hải) với quân Thục là hình ảnh của cuộc chiến giữa Hạ Khải và Bá Ích, tranh dành vương vị sau khi Hạ Vũ mất trong Hoa sử. Hạ Khải – Lạc Long với sự trợ giúp của các vị tôn quan trong dòng tộc bên mẹ ở Động Đình (bà Trang Hoa) đã chiến thắng, lên ngôi cai quản cả 2 vùng đất Lạc (vùng trung du Phong Châu) và đất Long (vùng đồng bằng sông Hồng ven biển). Hùng Hoa Hải Lang là vị vua khởi đầu sử Việt, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối, thần truyền thánh kế nên được tôn làm quốc tổ muôn đời của người Việt. Dấu vết của cha Rồng còn in đậm trong ký ức dân gian, trải dài từ miền đất tổ Phong Châu tới bờ biển Động Đình bao la…
     
    nguyennang.thanh thích bài này.

Chia sẻ trang này