Phật Giáo Thanh Tịnh Đạo

Thảo luận trong 'Tủ sách Tôn giáo' bắt đầu bởi hungtk, 11/1/15.

  1. hungtk

    hungtk Lớp 6

    Thanh Tịnh Đạo - Luận sư Bhadantacariya Buddhaghosa
    (The Path of Purification - Visuddhimagga )
    Chuyển dịch từ Pàli sang Anh ngữ: Trưởng lão Nanamoli
    Chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ: Ns. Trí Hải​
    Mục Lục
    Lời Giới Thiệu
    Lời Dẫn
    Lời Tri Ân
    TIỂU SỬ NGÀI PHẬT ÂM (BUDDHAGHOSA)
    TIỂU SỬ NGÀI NANAMOLI THERA (Na-na-ma-lợi Trưởng lão) (1905-1960)
    TỔNG LUẬN
    BẢNG TRA CHỮ TẮT (LIST OF ABBREVIATIONS USED)
    Phần Thứ Nhất: Giới
    Chương I : Giảng Nghĩa Về Giới
    I. Dẫn Nhập
    II. Giới
    Chương II : Hạnh Ðầu Ðà Khổ Hạnh
    Phần thứ hai: Ðịnh
    Chương III : Mô Tả Ðịnh - Nhận Một Ðề Mục Quán
    Chương IV : Ðịnh - Kasina Ðất
    Chương V : Ðịnh: Những Kasina Khác
    Chương VI : Ðịnh Bất Tịnh Quán
    Chương VII : Ðịnh: Sáu tùy niệm
    Chương VIII : Ðịnh: Những Ðề Mục Quán Khác Bằng Tùy Niệm
    Chương IX : Mô Tả Ðịnh - Các Phạm Trú
    Chương X : Ðịnh - Các Vô Sắc Xứ
    Chương XI :Mô Tả Ðịnh - Kết Luận
    Chương XII : Thắng Trí - Các Năng Lực Thần Thông
    Chương XIII : Thắng Trí - Kết Luận
    Chương XIV : Mô Tả Về Các Uẩn
    Chương XV : Mô Tả Về Xứ Và Giới
    Chương XVI : Mảnh Ðất Cho Tuệ Tăng Trưởng: Căn Ðế
    Chương XVII : Ðất cho Tuệ Sanh - Kết Luận
    Chương XVIII : Kiến Thanh Tịnh
    Chương XIX : Ðoạn Nghi Thanh Tịnh
    Chương XX : Ðạo Phi Ðạo Tri Kiến Thanh Tịnh
    Chương XXI : Ðạo Tri KiếnThanh Tịnh
    Chương XXII : Tri Kiến Thanh Tịnh
    Chương XXIII : Các Lợi Ích Trong Sự Tu Tuệ
    Chương Kết : Sau khi trích dẫn đoạn kệ
     

    Các file đính kèm:

  2. hungtk

    hungtk Lớp 6

    TIỂU SỬ NGÀI PHẬT ÂM (BUDDHAGHOSA)
    Còn gọi là Phật Minh, Giác Âm, Phật Ðà Cù Sa, Người ở Phật đà già da, nước Ma Kiệt Ðà (Magadha), thuộc Trung Ấn Ðộ, vào thế kỷ thứ V. Sư xuất thân trong gia đình Bà la môn, ban đầu học Phệ đà, tinh thông Du già, Số luận v.v..., về sau, Sư quy y Phật giáo, tinh thông các kinh điển. Vì mục đích hoằng truyền Phật pháp, rống tiếng rống của sư tử mà Sư soạn các chú thích bộ luận Phát trí (Nanodaya), luận Thù Thắng Nghĩa (Atthasàlini) và Luận Pháp Tập.
    Vào năm 432 Tây lịch kỷ nguyên, Sư vượt biển sang Tích Lan, trú tại Ðại tự (Mahàvihàra), theo Trưởng lão Tăng-già-ba-la (Sanghapàla Thera) nghiên cứu thánh điển tàng trữ tại chùa ấy, rồi đem dịch sang tiếng Pàli, và soạn Thanh Tịnh Ðạo luận (Visuddhimagga), Thiện Kiến Luật chú tự (Samantapàsàdikà) chú giải luật tạng (Sách nầy còn có tên là Thiện Kiến Luật Tì bà sa; Thiện Kiến luận.) v.v.... Ðồng thời, Sư đem giáo nghĩa của Thượng Toạ bộ ra soạn thuật thành một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó, có thể nói Thanh Tịnh Ðạo luận là một tác phẩm toát yếu toàn bộ Tam tạng kinh điển và Luận sớ. Về sau, Sư đem 4 bộ kinh Nikàya dịch sang tiếng Ba lợi (Pàli), và soạn chú sớ tại chùa Kiền Ðà la (Granthakara parivena), xứ A nỗ lạp đạt phổ lạp (Anuràdhapura). Giải thích Trường Bộ kinh thì có Cát Tường Duyệt ý luận (Sumangalavilàsinì); giải thích Trung Bộ kinh thì có Phá trừ nghi chướng luận (Papancasùdanì); giải thích Tương Ưng Bộ kinh thì có Hiển Dương Tâm Nghĩa Luận (Sàratthappakàsinì); giải thích Tăng Chi Bộ kinh thì có Mãn túc hi cầu luận (Manorathapùraịì). Ðến khi ấy Tam Tạng Ba Lợi mới cực kỳ hoàn bị.
    Những chú thích của Sư, không chỉ hạn cuộc chữ nào nghĩa nấy của bản văn, mà bao quát cả các loại giải thích về lịch sử, địa lý, thiên văn, âm nhạc, động vật, thực vật v.v..., đặc biệt, đối với phong tục tập quán của Ấn độ cổ đại, Sư còn làm thêm ký thuật liên quan đến những văn hiến trọng yếu dùng để nghiên cứu về Ấn độ. Người Tích Lan ca ngợi học vấn uyên bác của Sư và sùng kính Sư như là Bồ tát Di Lặc tái thế. Lúc cuối đời, Sư trở về cố quốc an dưỡng tuổi già. Nhưng trong lịch sử Phật giáo Miến Ðiện bảo Sư là người Miến Ðiện, khoảng năm 400 từ nước Kim Ðịa (Kim địa: ngày nay nằm về hạ lưu Miến Ðiện cho đến bán đảo Mã Lai Á.) vào Tích Lan du học, rồi 3 năm sau, đem kinh điển trở về phục hung Phật giáo Miến Ðiện. (Căn bản Phật Ðiển nghiên cứu; The Life and Work of Buddhaghosa, PQÐTÐ, tr 2643 a-c).
     
    chodomka and Zhiqiang like this.

Chia sẻ trang này