Tuỳ bút - Biên khảo G 'Thay lời Tri Ân!' _ Trường Học Sinh Miền Nam Trên Đất Bắc

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi tducchau, 12/5/15.

  1. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    'Thay lời Tri Ân!'

    TRƯỜNG
    HỌC SINH MIỀN NAM
    TRÊN
    ĐẤT BẮC
    *

    BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
    NGUYỄN TẤN PHÁT_Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trưởng Ban.
    TRƯƠNG QUANG CƯỜNG_Phó Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Phó Trưởng Ban.
    NGUYỄN GIA NÙNG_Giám đốc Chi nhánh Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tại Nha Trang, ủy viên thường trực.​

    TỔ CHỨC THỤC HIỆN VÀ BIÊN TẬP:
    NGUYỄN GIA NÙNG,
    ĐỖ XUÂN DUY,
    PHẠM BÁ LỮ,
    VŨ NGỌC PHƯƠNG.
    *​

    upload_2015-5-12_10-59-14.png
    “Miền Nam trong trái tim tôi”
    (Lời Bác nói trong chuyến vào thăm và nói chuyện
    với bộ đội Quân khu IV
    )​

    *​

    Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 được ký kết, hoà bình được lập lại ở Việt Nam và Đông Dương, nhưng Bắc, Nam còn tạm thời bị chia cắt, cán bộ, bộ đội ở miền Nam trước đây được tập kết ra Bắc, Đảng và Nhà nước ta với sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng chiến lược con người cho những năm sau này. Cùng với những Trường bổ túc công nông dành cho những cán bộ, bộ đội đã lớn tuổi từng 'có nhiều thành tích trong kháng chiến, công tác và xây dựng nhưng chưa có điều kiện bao nhiêu để học tập, nâng cao trình độ văn hóa, còn có cả một hệ thống Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Đây là những trường dành riêng cho các cháu nhỏ miền Nam, trước hết là con em cán bộ, bộ đội, các gia đình “thuộc diện chính sách” được các địa phương ở miền Nam chọn gửi ra để học tập, nuôi dưỡng, chuẩn bị cho sự nghiệp cách mạng miền Nam và cả nước những năm sau này.

    Đây là một chủ trương lớn, rất sáng tạo, được Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Tuy chỉ tồn tại hơn 20 năm (1954-1975) nhưng khi kết thúc nhiệm vụ lịch sử của mình, các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc đã mang lại hiệu quả rất to lớn trong công tác đào tạo cán bộ, nhân tài cho đất nước. Hàng chục nghìn học sinh được đào tạo trong các Trường học sinh miền Nam, cùng với các nguồn đào tạo khác trong cả nước và nước ngoài trong hoàn cảnh chiến tranh, đã góp phần quyết định, đáp ứng yêu cầu cung cấp cán bộ, nhân tài ở tất cả các ngành, các địa phương ở miền Nam và cả nước trong chiến tranh cũng như xây dựng đất nước những năm về sau.

    Việc tổ chức biên soạn và xuất bản tập sách “TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC” không chỉ nhằm ghi lại những tư liệu lịch sử rất quý báu, những kinh nghiệm và bài học trong chiến lược “trồng người” của Đảng, Nhà nước, của Bác Hồ muôn vàn kính yêu mà còn nhằm đáp ứng nguyện vọng thiết tha từ nhiều năm nay của tất cả các lớp học sinh miền Nam từng được đưa ra học tập ở miền Bắc, của các thầy, cô giáo và của cả đồng bào ở các địa phương có trường.

    Mặc dù được sự cộng tác, phối hợp chặt chẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Ban Liên lạc cựu học sinh miền Nam, của cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương, các Bộ, Ban, Ngành có liên quan, cùng đông đảo các thầy, cô giáo, cán bộ, công nhân viên, cựu học sinh miền Nam ở mọi miền đất nước, trong quá trình tổ chức biên soạn và xuất bản, cung cấp tư liệu, bài vở, hình ảnh ... cho tập sách, nhưng vì dung lượng của sách lớn, thời gian thì dài và không gian cũng quá rộng, do vậy chắc chắn tập sách còn có những hạn chế nhất định.

    Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập hệ thống Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc ( 1954 -1999), mừng kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu và những ngày lễ lớn năm 2000, tập đầu của cuốn sách được ra mắt bạn đọc, hy vọng là món quà quý, đầy tình nghĩa gửi đến các thầy, cô giáo, các cựu học sinh miền Nam, nhân dân miền Bắc, trước hết là những nơi có Trường học sinh miền Nam trước đây, và tất cả những ai quan tâm đến một trong những thành tựu rất đáng tự hào trong truyền thống của ngành giáo dục nước nhà.

    Nhân dịp này, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Ban Liên lạc cựu học sinh miền Nam, lãnh đạo Đảng, chính quyền các địa phương, các Bộ, Ban, Ngành có liên quan, cùng tất cả các thầy cô giáo, cán bộ, công nhân viên, cựu học sinh miền Nam trên mọi miền đất nước đã nhiệt tình tham gia đóng góp trong quá trình tổ chức biên soạn và xuất bản tập sách này.

    Tháng 4 năm 2000,
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA.​
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/5/15
  2. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    upload_2015-5-12_11-40-32.png


    THƯ GỬI CÁC CHÁU VÀ CÁC CÁN BỘ
    CÁC TRƯỜNG MIỀN NAM

    Thân ái gửi các cháu và các cán bộ các trường miền Nam,

    Bác muốn đi thăm các cháu và các cô, các chú, nhưng vì bận nhiều việc quá chưa đi được.

    Nhân dịp ngày Nhi đồng quốc tế (1-6), Bác thân ái chúc các cháu mạnh khoẻ, vui vẻ và Bác khuyên các cháu mấy điều sau đây:

    - Trước hết, các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ.

    Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé.

    Đoàn kết giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác.

    Đoàn kết giữa các cháu miền Nam với các cháu và đồng bào địa phương.

    Đoàn kết giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ.

    - Các cháu phải yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, vì tự do phóng túng là không tốt.

    - Trong sinh hoạt hằng ngày, các cháu nên tập tự lực cánh sinh cho quen. Các cháu bé cũng vậy, không nên làm nũng.

    - Các cháu nên thi đua, thi đua học tập, thi đua trong mọi việc để trở nên những nhi đồng có tổ chức, có kỷ luật, có sáng kiến, có lực lượng.

    Các cô, các chú cán bộ thì:

    - Nên yên tâm công tác. Phải hiểu rằng không có công tác gì vẻ vang bằng việc chăm nom bồi dưỡng cho các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà.

    - Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy, các cô, các chú phải thật thà đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm, không nên “đứng núi này trông núi nọ”, muốn thay đổi công tác, kèn cựa vì địa vị.

    - Phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình, không nên phân biệt bỉ thử các cháu vùng này hay các cháu vùng khác. Cháu nào cũng là con em đại gia đình ta, cũng là do Đảng và Chính phủ giao cho các cô, các chú phụ trách nuôi dạy.

    - Trong công tác, trong học tập, các cô, các chú nên cố gắng thi đua, trao đổi kinh nghiệm, để cùng nhau tiến bộ không ngừng.

    Trong thời gian ở đây, gần Đảng, gần Chính phủ, gần Bác, các cháu và các cô, các chú nên hăng hái học tập và công tác: sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, trở lại quê hương, các cháu và các cô, các chú đều là những người gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác.

    *
    * *​

    Từ nay, các cháu và các cô, các chú nên tổ chức thi đua. Đến ngày Quốc khánh (2-9), Bác sẽ có giải thưởng cho những cháu và những cô, những chú có thành tích khá nhất.

    Bác gửi các cháu và các cô, các chú nhiều cái hôn.

    Ngày 1 tháng 6 năm 1955,
    HỒ CHÍ MINH.
    (Tài liệu lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.)​
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/5/15
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    MỘT VƯỜN ƯƠM QÚY BÁU
    VÀO BẬC NHẤT CỦA ĐẤT NƯỚC

    Với các cháu thiếu niên, nhi đồng miền Nam đi tập kết ra Bắc, Bác Hồ luôn có sự quan tâm đặc biệt. Ngay từ năm 1954 - 1955, theo gợi ý của Người, Bộ Giáo dục đã thành lập các trường nội trú dành riêng cho con em cán bộ, bộ đội miền Nam ra tập kết và sau đó có một số cháu thuộc những đối tượng chính sách khác được đưa ra ngoài Bắc nuôi dạy, gọi là Trường học sinh miền Nam. Có cả Trại Nhi đồng miền Nam để nuôi dạy cho các cháu nhỏ hơn.

    Việc thành lập hệ thống các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là một chủ trương lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ thể hiện tầm nhìn, cách nhìn rất sáng suốt, sâu rộng, mà còn nói lên tình cảm cao quý thiêng liêng của Bác Hồ, của Đảng và Nhà nước ta - cũng là của Tổ quốc và nhân dân, với các cháu miền Nam lúc bấy giờ.

    Cùng với chủ trương này, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều loại chính sách rất hợp tình, hợp lý, có hiệu quả trong việc nuôi dạy các cháu. Nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều trình độ khác nhau ở mỗi người đều có thể tiếp thu để đạt tới hiệu quả cao nhất.

    Có thể nói, đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó ấy, nay đã mang lại kết quả rất to lớn cho đất nước.

    Do vậy, việc tổ chức, sưu tầm, biên soạn và xuất bản tập sách về các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện là một việc làm bổ ích, rất có ý nghĩa, không chỉ là những trang tư liệu mang tính lịch sử mà còn nói lên những việc làm, tình cảm thiêng liêng, quý báu của Bác Hồ, của Đảng và Nhà nước ta trong việc “trồng người”, là tình cảm Bắc - Nam ruột thịt, là tình nghĩa thầy trò, bè bạn, tình dân... dưới những mái trường đặc biệt của một thời kỳ lịch sử không thể nào quên của đất nước ta.

    Hà Nội, tháng 5 năm 1999
    upload_2015-5-12_12-4-14.png
    PHẠM VĂN ĐỒNG
     
    thichankem, Rafa and Zhiqiang like this.
  4. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    MÃI MÃI XỨNG ĐÁNG VỚI ĐẤT NƯỚC,
    VỚI NHÂN DÂN*


    Thưa các cán bộ lão thành, các thầy, cô, các vị khách quý,

    Thưa các bạn, các em trai, em gái học sinh miền Nam thân mến!

    Hôm nay, tôi đến với buổi gặp mặt của những người đã từng quen biết, từng học tập dưới mái trường thân yêu từ những năm tháng ở miền Bắc trong những ngày kháng chiến, tôi rất vui mừng, xúc động.

    Tôi chỉ xin được nói ba ý:

    Thứ nhất, năm 1998 là năm đầy thách thức, khó khăn đối với đất nước của chúng ta. Đó là năm thiên tai liên tiếp xảy ra. Cơn bão lớn từ cuối năm 1997 còn đang khắc phục hậu quả thì đầu năm 1998 hạn hán xẩy ra hết sức nặng nề ở các tỉnh miền Trung. Cuối năm, dồn dập các cơn bão số 4, số 5, số 6 rồi số 7, số 8 liên tiếp ập vào các tỉnh miền Trung của nước ta, gây thiệt hại về người và của rất nặng nề. Cho đến bây giờ vẫn còn hơn 1,8 triệu người đang thiếu đói ở các tỉnh miền Trung và các tỉnh miền Bắc. Đó còn là bối cảnh các nước xung quanh ta lâm vào cơn khủng hoảng tài chính, tiền tệ chưa từng có, ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trên cả ba lĩnh vực: đầu tư nước ngoài bị giảm sút nghiêm trọng; xuất khẩu bị cạnh tranh dữ dội với nhiều khó khăn mới nảy sinh; dịch vụ bị giảm sút nên nhìn chung tình hình và nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong năm cũng kém sôi động so với dự kiến ban đầu. Mặc dù vậy, với sự lãnh đạo của Đảng, sự phấn đấu, nỗ lực rất to lớn của nhân dân ta và của tất cả các ngành, các cấp, năm 1998 chúng ta đã vượt lên trên những khó khăn thách thức hết sức to lớn có phần bất ngờ trên đây và đã giành được những thắng lợi có thể nói là hết sức quan trọng, không chỉ tiếp tục đứng vững và phát triển mà còn góp phần rất cơ bản, tạo tiền đề rất quan trọng cho năm 1999 - 2000 sẽ đạt được những thành quả to lớn hơn.

    Tôi xin thông báo điều này, để cùng với cả nước, tất cả học sinh miền Nam chúng ta phấn khởi, vui mừng.

    Thứ hai, mỗi khi gặp mặt học sinh miền Nam, từ sâu thẳm trong lòng mỗi người chúng ta đều xiết bao xúc động, nhớ đến Bác Hồ muôn vàn kính yêu, nhớ đến đồng bào miền Bắc ruột thịt đã hết lòng cưu mang, đùm bọc chúng ta trong những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta sống và học tập ở miền Bắc. Chúng ta nhớ đến tình cảm hết sức tốt đẹp, sự tạo điều kiện rất có hiệu quả trong hoàn cảnh còn gian khó nhiều bề của chính quyền các cấp nơi có Trường học sinh miền Nam của chúng ta. Tôi thiết tha mong rằng tất cả các bạn, các em, em trai, em gái học sinh miền Nam đã và sẽ không bao giờ quên được tình cảm lớn lao của Bác Hồ đối với miền Nam, đặc biệt là đối với học sinh miền Nam; của Đảng và Nhà nước ta, của chính quyền các cấp, của nhân dân miền Bắc đối với học sinh miền Nam chúng ta.

    Thứ ba, nhân Xuân Kỷ Mão sắp đến, xin thay mặt Chính phủ chúc tất cả các thầy, cô giáo, các cán bộ, công nhân viên đã từng giảng dạy, công tác ờ các Trường học sinh miền Nam trước đây; chúc tất cả các bạn, các em học sinh miền Nam năm mới luôn dồi dào sức khòe, gia đình hạnh phúc. Chúng ta nguyện tiếp tục phấn đấu để có những đóng góp xứng đáng hơn nữa vào sự nghiệp xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của chúng ta, mãi mãi xứng đáng với đất nước, với nhân dân.

    Xin cảm ơn tất cả!

    PHAN VĂN KHẢI
    ______

    [Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link] Phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải tại buổi gặp mặt các cựu học sinh miền Nam mừng Xuân Kỷ Mão - 1999, và kỷ niệm 45 năm ngày thành lập các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, tổ chức tại Khu lưu niệm Bến Nhà Rồng - Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7-2-1999. Đầu đề là của chúng tôi đặt (BBT).
     
    Chỉnh sửa cuối: 12/5/15
  5. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...


    VÌ SỰ NGHIỆP TRĂM NĂM TRỒNG NGƯỜI


    Nhắc lại kỷ niệm và hình ảnh về các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc nửa thế kỷ trước đây, ta không khỏi ngậm ngùi xúc động, phấn khởi nhớ đến những đoàn chim non- những mầm non yêu quý của đất nước, mà bà con mình thuở ấy - các cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết theo Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam 1954 mang theo trên những chuyến tàu từ các cảng của Nam bộ, Liên khu 5, Vũng Tàu, Cà Mau, Hàm Tân, Quy Nhơn... đổ bộ lên các bến Sầm Sơn, Quý Cao của miền Bắc, tiếp đến nhiều chuyến, nhiều ngả đường khác nhau ra miền Bắc những năm sau này. Ra đi với hy vọng trở về quê hương sau tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, các cháu đã phải ở lại trên miền Bắc trong thời gian dài hơn gấp 10 lần, để rồi trở về với chiến thắng huy hoàng mùa xuân 1975...

    Từ những cháu bé học vỡ lòng, cấp 1, 2 và 3, các cháu đã trở thành những kỹ sư, bác sĩ, nhà quản lý, văn nghệ sĩ... những trí tuệ tài hoa được đào tạo nên từ các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, ở khu học xá Quế Lâm và ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhiều nhất là ở Liên Xô, Trung Quốc... Ra đi từ miền Nam, từ các cháu bé đủ các lứa tuổi, sau hai mươi năm các cháu đã trở về miền Nam hay đến với mọi miền Tổ quốc, với tầm vóc lớn lên như hình ảnh huyền thoại của Phù Đổng nghìn xưa, của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất, độc lập ngày nay.

    Nhắc lại câu chuyện 20 năm ấy ta càng nhớ và thấm thía lời dạy của Bác: Vì sự nghiệp trăm năm trồng người.

    Và không chỉ có thế! Câu chuyện hầu như huyền thoại của các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc còn làm nổi lên một cách sinh động, thấm thìa nhất lời dạy của Người: “Bắc Nam thống nhất, Nam Bắc một nhà”, “sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chăn lý ấy không bao giờ thay đổi”.

    Hình ảnh các Trường học sinh miền Nam với hàng vạn học sinh các lứa tuổi khác nhau ở hơn 10 tỉnh thành của miền Bắc được đùm bọc nuôi dưỡng, dạy dỗ như những trường đào tạo đặc biệt để nên người là một hình ảnh sáng chói của mối tình thống nhất Bắc Nam thiết thực nhất. Hình ảnh thân thương của Bác đi thăm các Trường học sinh miền Nam, hình ảnh thân thương của Bác bồng bế các cháu miền Nam, vui đùa vói các cháu trong những ngày lễ, ngày Tết trong suốt 20 năm không thể nào phai nhạt được, mà càng ngày càng làm nổi bật lên, sâu sắc hơn cái chân lý ngàn đời của lịch sử.

    Do vậy, có thể kết luận một cách thấm thìa, sâu sắc nhất rằng với chủ trương và việc làm do Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo là thành lập một hệ thống Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc để nuôi dưỡng, đào tạo các cháu từ miền Nam ra thành những cán bộ, nhân tài cho miền Nam và cả đất nước sau này đã mang lại hiệu quả thật lớn lao và quan trọng nhường nào cho việc xây dựng đất nước sau ngày thống nhất. Có biết bao bài học quý báu có thể rút ra từ thực tiễn này mà rõ ràng là chúng ta đã đạt được một công hai việc :

    • Giáo dục ý thức kiên trì trong sự nghiệp trồng người.

    • Giáo dục tinh thần Bắc Nam thống nhất, “Miền Nam ruột thịt luôn ở trong tim tôi”, như lời Bác dạy.

    Và các cháu bé thơ ra đi từ miền Nam thân yêu thuở ấy ngày nay đã nên người, thành những bậc cha mẹ, nhiều người đã thành ông, thành bà, với những chức vụ khác nhau, nhưng dù làm công việc gì và ở đâu, mỗi khi nhớ về mái trường, thầy cô, bè bạn... vẫn luôn thấy ấm lòng và càng không thể nào quên hai bài học lớn ấy, nhận từ Bác kính yêu.

    NGUYỄN MINH VỸ*
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Thống nhất thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương; Chủ nhiệm Báo Thống nhất thời kỳ 1955-1975.
     
    Rafa and Zhiqiang like this.
  6. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    HỌC SINH DÂN TỘC MIỀN NAM


    Nói đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo học sinh miền Nam, không thể nào không nhắc tới công lao hướng đạo của thầy giáo Nguyễn Tất Thành, nhà giáo dục vĩ đại của nhân dân, đất nước Việt Nam ta, với tầm nhìn xa trông rộng của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trong khi chuẩn bị toàn bộ chiến lược lâu dài để giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước thì dưới sự chỉ đaọ của Bác, Trung ương Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm đến việc bồi dưỡng đào tạo lớp người để chi viện cho miền Nam trong kháng chiến và xây dựng miền Nam trong tương lai. Đối với cán bộ nhân dân và các dân tộc thiểu số miền Nam thì vấn đề này càng được Bác và Trung ương Đảng đặc biệt chú ý.

    Khi chiến trường Điện Biên Phủ kết thúc, tôi được gọi về với tư cách Uỷ viên Thường trực Quốc hội đi tham gia đón tiếp cán bộ miền Nam tập kết, vừa xong thì lại nhận Quyết định do đồng chí Phạm Văn Đồng ký giao nhiệm vụ tổ chức và quản lý Trường dân tộc Trung ương.

    Khái niệm “Trường” ở đây rất rộng vì nghĩa là phải lo cho hàng ngàn các đồng chí cán bộ dân tộc từ cơ sở cấp huyện suốt dọc Trường Sơn, Tây Nguyên tới tận Đồng bằng sông Cửu Long. Khi đi tập kết nhiều đồng chí đem theo gia đình có các cháu nhỏ, còn có lớp thanh niên, bộ đội trẻ vừa rời chiến trường và con cháu các đồng chí, các gia đình cơ sở cách mạng phải ở lại làm nhiệm vụ, gởi gắm con em cho Đảng và Nhà nước. Như vậy là Trường Dân tộc ban đầu của chúng tôi bao gồm đủ cả trẻ, già, trai, gái trên 40 dân tộc ít người từ vĩ tuyến 17 trở vào, có cả các vị sư sãi Khơmer áo vàng vốn là cơ sở của cách mạng.

    Ban đầu, Trường tổ chức theo hai hệ: một hệ bổ túc văn hóa cho cán bộ lớn tuổi và hệ phổ thông cấp I, II cho các cháu, rồi Trung ương giao thêm nhiệm vụ bồi dưỡng lý luận chương trình sơ, trung cấp cho cán bộ huyện cả hai miền Nam Bắc, thế là thêm một hệ nữa.

    Sau đó, Trường được tổ chức lại: các đồng chí lớn tuổi có gia đình tách ra đi vào sản xuất, một số trở lại miền Nam công tác; số thanh niên lớn tuổi chuyển đi học các trường bổ túc công nông, phổ thông lao động; nhiệm vụ còn lại là tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng lý luận, cơ bản cho cán bộ huyện của các dân tộc trong cả nước và chăm sóc giáo dục các cháu học sinh dân tộc miền Nam cấp I, II và III với nguồn bổ sung là các cháu dân tộc từ miền Nam ra, trong đó có các cháu là dũng sĩ diệt Mỹ nhưng chưa biết chữ. Ở đây, Trường phải quản lý từ các cháu còn bảo mẫu tới các em đã vào tuổi thanh niên. Học xong cấp II các em có thể học luôn một khóa sư phạm sơ, trung cấp để cung cấp giáo viên cho miền Nam hoặc lên cấp III, để rồi tiếp tục vào các trường đại học, trung học chuyên nghiệp.

    Trong những năm đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, Trường được chinh đốn gọn nhẹ để sơ tán về địa phương tièp tục nhiệm vụ giáo dục đào tạo các cháu.

    Đến năm 1968 thành lập Khu giáo dục học sinh ở Quế Lâm - Trung quốc, với khoảng 3000 học sinh, trong đó Trường học sinh Dân tộc có khoảng 500 học sinh từ cấp I đến cấp III. Các cháu được tiếp tục nuôi dưỡng, học tập, hàng năm học hết cấp thì được chuyển về nước để tiếp tục đào tạo, cho tới khi miền Nam được hoàn giải phóng một số trở về địa phương, một số tiếp tục học và nhiều người đã tốt nghiệp các trường trung học, đại học tạo nên một lớp trí thức trẻ nòng cốt cho địa phương.

    Tại Đại hội IV của Đảng, tại Quốc hội khóa V sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi đã gặp nhiều em học sinh cũ nay là đại biểu, trở thành đồng chí thân thương của mình.

    Như vậy là trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước kéo dài suốt 20 năm, sự nghiệp giáo dục và đào tạo con em các dân tộc miền Nam đã góp phần vẻ vang.

    Ngày nay, số cán bộ đã được đào tạo từ Trường Dân tộc là một lực lượng đáng kể trong số cán bộ chủ chốt ở các địa phương.

    Uống nước nhớ nguồn. Chúng ta không thể không ghi tạc công ơn của Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt của Bác Hồ. Bác Hồ đã hai lần tới thăm Trường Dân tộc, Bác ân cần thăm hỏi mọi người già, trẻ, lớn, bé, khuyên anh chị em các dân tộc phải đoàn kết giúp đỡ nhau, cùng nhau học tập tiến bộ để mai đây về xây dựng quê hương, Bác nhắc nhở các thầy, cô giáo, cán bộ nhân viên phải hết lòng chăm sóc các cháu, phải làm cha làm mẹ các cháu, coi các cháu như con đẻ của mình.

    Chúng ta không bao giờ quên tình cảm thân thương đùm bọc của đồng bào miền Bắc trong hoà bình khôi phục kinh tế hay những năm gian khổ của chiến tranh phá hoại, vẫn luôn dành tất cả khả năng của mình để tạo điều kiện chăm sóc giáo dục học sinh miền Nam.

    Từ kinh nghiệm của các Trường nội trú nuôi dạy con em dân tộc miền Nam trên đất Bắc, nhiều trường nội trú nuôi dạy con em các dân tộc đã được tổ chức ở các tỉnh Tây Nguyên. Đó là những cơ sở tạo nguồn rất có ý nghĩa: cung cấp học sinh cho các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường dạy nghề, cho các lớp cán bộ nghiệp vụ quản lý các ngành trên địa bàn miền núi, nếu biết tổ chức và sử dụng tốt. Đáng tiếc là chưa có dịp tổng kết đầy đủ sự nghiệp này với nhiều bài học kinh nghiệm đã có.

    Qua những năm công tác giáo dục học sinh các dân tộc miền Nam, tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm:

    1. Phải quán triệt ý thức đoàn kết, bình đẳng, công bằng, dân chủ trong chính sách dân tộc của Đảng ở tất cả các khâu lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ đạo công tác giáo dục. Chính nhờ vậy mà suốt 20 năm trên miền Bắc, qua 3, 4 lần chuyển đổi đối tượng đào tạo và hình thức tổ chức giáo dục của Trường Dân tộc Trung ương, mà Trường vẫn đảm bảo hiệu quả đào tạo tốt.

    2. Đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý, giáo viên phải thật sự hết lòng yêu thương các cháu, chăm sóc các cháu như con em ruột của mình, từ đó mới vượt được những khó khăn luôn phát sinh trong một đối tượng nhiều hình, nhiều vẻ. Muốn được vậy cần phải hết sức chăm lo tạo điều kiện ổn định đời sống gia đình cho họ, mới có thể yêu cầu họ yên tâm phục vụ các cháu, và không thể chỉ động viên suông.

    3. Phải có cơ sở vật chất tương đối ổn định và các điều kiện để phát huy những khả năng lao động sản xuất, văn nghệ, thể thao, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các cháu. Trường Dân tộc Trung ưomg trong suốt 20 năm ở bất kỳ giai đoạn nào đều được sự quan tâm về mọi mặt của Bác Hồ, của nhân dân các dân tộc trên miền Bắc. Các cháu đều được ăn no, mặc ấm và được tổ chức vui chơi lành mạnh trong đời sống tập thể. Các cháu rất thích văn nghệ, thể thao và rất tình cảm. Tổ chức tốt công tác này đã động viên các cháu phấn khởi trong vui chơi và học tập.

    4. Ở các lớp cuối cấp cần xem xét, phân loại và hướng dẫn các cháu: hoặc học lên, hoặc đi học nghề, hoặc về cơ sở, không gò ép hay thả nổi. Trước kia chúng tôi cũng mắc khuyết điểm là thiếu sự phân loại này, cứ gò ép các cháu học. Đến khi các cháu học không kết quả, chán nản, rồi phá ngang, bỏ học, lúc đó mới đưa đi gặp gì học nấy, không có định hướng trước, dẫn đến không xây dựng được đội ngũ công nhân lành nghề có chất lượng, trong khi nhiều cháu không thiếu khả năng.

    5. Một bài học kinh nghiệm sâu sắc nữa là công tác giáo dục bồi dưỡng còn dàn đều nặng tính chất ưu tiên kiểu chiếu cố, không có sự lựa chọn năng khiếu để có phương pháp bồi dưỡng với chất lượng cao hơn. Chính vì vậy, với điều kiện tập trung tương đối thuận lợi, vẫn chưa lựa chọn được những em xuất sắc, có năng khiếu từng mặt để có kế hoạch bồi dưỡng lâu dài trở thành những nhân tài cho đất nước. Có lẽ đó cũng là một trong những nguyên nhân góp phần vào một hiện tượng chưa thỏa đáng là: sau 20 năm trên miền Bắc và nhiều năm sau giải phóng miền Nam, tới nay số cán bộ các dân tộc ít người ở miền Nam được đào tạo ở các học vị trên đại học còn quá ít.

    6. Khuyết điểm lớn nữa tôi rút ra được là: Trường có học sinh của hầu hết các dân tộc, trong đó có nhiều em rất nhò, nhưng chỉ dạy bằng chữ và tiếng phổ thông; trong chương trình không có những giờ dạy chữ, dạy tiếng mẹ đẻ cho các cháu, mặc dầu có những dân tộc đã có chữ viết, như Khơmer, Êđê, Chăm. Do đó sau này các em có tốt nghiệp thành kỹ sư, bác sĩ trở về nhưng đã quên tiếng mẹ đẻ và mù chữ dân tộc, giảm đi mối quan hệ gắn bó tình cảm với nhân dân và mất đi ưu thế của người cán bộ tại chỗ với dân tộc mình. Tất nhiên để làm việc tốt ở địa phương, các em đó đã phải học lại tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, nhưng vẫn còn chưa tốt.

    Trong sự nghiệp giáo dục đổi mới, cần nghiên cứu việc giáo dục đào tạo con em các dân tộc thiểu số của cả nước nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng để phù hợp với đặc điểm của họ. Đảng và Nhà nước đã có những định hướng trong Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về phát triển miền núi, cùng nhiều văn bản, chế độ, chính sách cụ thể tiếp theo sau này, nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các dân tộc ít người đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới. Đây là yêu cầu cấp thiết và lâu dài, nhưng cũng không ít khó khăn, cần những cố gắng liên tục, bền bỉ, mà những bài học từ Trường Dân tộc Trung ương ở miền Bắc trước đây luôn là những vốn quý vô giá, cần tiếp tục khai thác và phát huy.

    Y NGÔNG NIÊ KĐĂM*​
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Nguyên Uỷ viên Hội đồng Nhà nước, Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Nguyên, Hiệu trưởng Trường Dân tộc Trung ương, Giám đốc Khu Giáo dục học sinh miền Nam tại Quế Lâm - Trung Quốc.
     
    Rafa and Zhiqiang like this.
  7. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC
    GHI NHỚ VÀ CẢM NHẬN


    Lại một mùa Xuân mới đang về. Như thường lệ, cứ mỗi độ chuẩn bị đón một mùa Xuân mới, cùng với niềm náo nức vui chung của cả nước, chúng tôi, những người đã từng có những năm tháng được nuôi dưỡng, học tập dưới mái trường học sinh miền Nam trên đất Bắc ngày nào, nay dù ở khắp nơi trên mọi miền đất nước và hầu hết đã ở tuổi trên dưới sáu mươi lại bồi hồi nhớ về nhau, nhớ về các thầy cô. và những mái trường thân yêu như nhớ về tuổi thơ đẹp và giàu kỳ niệm nhất của đời mình. Và rồi ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, nhiều tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ... trước hay sau Tết lại có những buổi gặp mặt ở một địa điểm thuận lợi nào đó do các Ban liên lạc cựu học sinh miền Nam tổ chức. Những ai đã từng có mặt tại các buổi gặp mặt này chắc chắn sẽ không khỏi ngạc nhiên và cảm động. Hàng trăm, hàng ngàn con người già, trẻ, lớn, bé, đủ các lứa tuổi, nhưng đông nhất vẫn là những người đang ở độ tuổi chín nhất để phát huy trí tuệ, nhiều người đã là ông nội, bà ngoại, cùng lớp người trẻ hơn và các cháu thiếu niên, nhi đồng là con cháu của họ quây quần bên nhau, tay bắt mặt mừng trong một hội trường lớn hay công viên nơi họp mặt, thăm hỏi, trò chuyện hầu như không muốn dứt. Đặc biệt là một không khí vui nhộn, trẻ trung “rất học sinh miền Nam” ngày nào vẫn luôn bao trùm lên tất cả, không phân biệt địa vị, tuổi tác, địa phương, giàu nghèo ... Cách xưng hô cũng thật thoải mái, vẫn “cậu”, “tớ”, “tao”, “mi”... như những ngày cùng học với nhau cấp I, cấp II... Rồi phát biểu, đọc thơ, ca hát, nhảy múa, ôn lại những chuyện vui buồn, cả những chuyện cười chảy nước mắt của cái tuổi “nhất qủy, nhì ma” trên đất Bắc thân yêu.

    Mùa Xuân này, mùa Xuân Canh Thìn, 2000, cái mốc giao thừa giữa hai thiên niên kỷ với rất nhiều sự kiện lịch sử lớn lao của đất nước với biết bao dự cảm tốt lành về chặng đường phát triển mới của dân tộc, hơn lúc nào hết, mỗi chúng tôi càng nhớ về nhau, nhớ tới công ơn trời biển của Bác Hồ, của Đảng và Nhà nước, của đồng bào miền Bắc trong những năm tháng không thể nào quên ấy.

    Là con em miền Nam, tôi có may mắn là từ thuở ấu thơ, trong hoàn cảnh nước nhà bị chia cắt, cùng với lớp bạn bè chung cảnh ngộ, được đưa ra miền Bắc, nuôi dưỡng, học tập, khi trưởng thành lại được công tác trong ngành giáo dục. Rời mái trường những năm tháng tuổi thơ, dù sau đó được tiếp tục học tập ở những ngôi trường lớn khác, kể cả ở Liên Xô trước đây, nhưng những kỷ niệm và bài học sâu sắc nhất để lại cho tôi vẫn là những năm tháng được nuôi dưỡng và học tập dưới mái trường miền Nam trên đất Bắc. Được thành lập và hoạt động trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, mặc dù chỉ tồn tại 20 năm, nhưng cùng với kết quả hết sức to lớn là góp phần quan trọng đào tạo hàng chục nghìn người trở thành những con người có ích, rất cần thiết cho đất nước sau này, các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc còn để lại những bài học quý cho ngành giáo dục nói riêng, cho “chiến lược trồng người” nói chung của đất nước ta.

    Năm 1990, nhân tổng kết 45 xây dựng và phát triển ngành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một cuộc Hội thảo tại thành phố Hồ Chí Minh với đề tài công tác giáo dục, đào tạo trong các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (1954- 1975) nhưng những gì ghi nhận được qua Hội thảo mới chỉ là bước đầu, còn rất hạn chế. Chúng tôi nghĩ rằng: đây xứng đáng là một đề tài lớn cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu giáo dục để có những công trình nghiên cứu công phu, đầy đủ hơn sau này.

    Với tư cách là một người trong cuộc, một học sinh miền Nam nay công tác ở ngành giáo dục và đào tạo, với suy nghĩ và tầm nhìn còn hạn chế của mình, tôi xin nêu mấy điều cảm nhận sau đây :

    1. Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc, một mô hình giáo dục đặc biệt trong lịch sử phát triển ngành giáo dục ở nước ta.

    Ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mặc dù chính quyền cách mạng non trẻ vừa được thành lập, trước mắt còn muôn vàn gian khó, lại bị đe dọa bởi thực dân Pháp núp sau quân đội đồng minh đang lăm le quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Đảng, Bác Hồ và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác giáo dục để nâng cao dân trí, coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu vừa cấp bách vừa lâu dài, tạo nên sức mạnh có tính quyết định để tồn tại và phát triển đất nước.

    Trước hiện trạng hơn chín mươi phần trăm dân còn mù chữ vừa qua nạn đói khủng khiếp làm chết hơn hai triệu người, Bác Hồ kêu gọi toàn Đảng, toàn dân phải tập trung sức chống ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Khẩu hiệu “Toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ”, “Toàn dân biết chữ” được nêu ra và triển khai thực hiện trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng cũng như vùng núi xa xôi, hẻo lánh. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa được mở ra khắp nơi. Mọi người dân từ già tới trẻ, đến tuổi đi học đều được vận động đi học chữ, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Có thể nói, trong lịch sử phát triển của dân tộc, chưa bao giờ công tác giáo dục và ngành giáo dục lại được quan tâm phát triển nhanh chóng, vượt bậc và phổ cập tới quảng đại quần chúng như vậy.

    Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở Việt Nam và Đông Dương nhưng Bắc, Nam còn tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

    Cùng với số cán bộ, bộ đội từ miền Nam được tập kết ra Bắc theo Hiệp định, Đảng và Nhà nước ta với sự lãnh đạo vô cùng sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương và đặc biệt quan tâm đến việc đưa các con em cán bộ, bộ đội, những gia đình thuộc diện chính sách ở các tỉnh miền Nam ra Bắc để nuôi dưỡng, học tập và đào tạo cán bộ, nhân tài cho miền Nam và cả nước sau này. Bằng những con đường khác nhau, liên tiếp trong nhiều năm, hàng chục nghìn con em miền Nam được đưa ra Bắc. Hầu hết số con em này đều không có gia đình, người thân ở miền Bắc. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi dạy, với sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ, một hệ thống Trường học sinh miền Nam đã được hình thành ở nhiều địa phương trên miền Bắc, nơi có nhiều Trường học sinh miền Nam nhất là Hà Đông (12 trường), Hải Phòng (10 trường)... Đây là những trường nội trú, học sinh được ăn ở, sinh hoạt, học tập ngay trong trường cùng với các thầy, cô và cán bộ, công nhân viên khác của nhà trường như một gia đình lớn. Cùng với Bộ Giáo dục lo phần chuyên môn, nghiệp vụ, trường còn được sự quan tâm đặc biệt của nhiều ban, ngành ở trung ương và các cấp ủy, chính quyền các địa phương nơi có trường đóng. Ban Thống nhất Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, các Bộ có liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Lương thực - Thực phẩm, Bộ Nội thương, Bộ Y tế... đều có bộ phận chuyên môn riêng lo công tác phục vụ cho các trường học sinh miền Nam. Cho đến năm 1958 đã có 28 trường học sinh miền Nam được thành lập tại hơn 10 tỉnh, thành phố miền Bắc gồm các trường cấp I, II, III, trường bổ túc văn hóa, chưa kể đến các Trại nhi đồng miền Nam và số học sinh được gởi học trong các trường của các địa phương miền Bắc, số được gởi đi học tập đào tạo ở các nước bạn Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Đức. Riêng Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc ngay từ những năm 1956-1959 đã có hàng ngàn học sinh miền Nam được gửi sang học tập.

    Trong thời gian đế quốc Mỹ tiến hành leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, để bảo đảm an toàn cho việc dạy và học, được sự giúp đỡ của nước bạn Trung Quốc, một Khu học xá dành riêng cho con em miền Nam đã được thành lập tại Quế Lâm, Trung Quốc. Các trường ở trong nước cũng lần lượt chuyển về các địa điểm sơ tán, một số trường được đưa về Đông Triều, Quảng Ninh, vùng “đệ tứ chiến khu” xưa. Trong hoàn cảnh chiến tranh, các Trường học sinh miền Nam dù ở đâu cũng được dành những điều kiện ưu tiên nhất với những gì Đảng, Nhà nước và nhân dân có thể làm được.

    Tính đến tháng 4 năm 1975, đã có 23.276 học sinh được nuôi dưỡng học tập trong các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Trong số đó, nhiều người sau khi rời ghế nhà trường đã trở về tham gia chiến đấu, công tác trên các chiến trường miền Nam, trở thành những anh hùng, dũng sĩ, những tướng lĩnh, cán bộ cao cấp trong quân đội; nhiều người tiếp tục học tập ở những trường đại học trong nước và nước ngoài, trở thành những giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, cán bộ quản lý từ trung ương đến các địa phương. Không ít các địa phương ở miền Nam từ sau ngày giải phóng đến nay, những “hạt giống đỏ” được ươm trồng từ các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc ngày nào, nay đã trở thành lực lượng nòng cốt cho đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của dân.

    Ngày nay, đến khắp các ban, ngành Trung ương, đi khắp các tỉnh thành cả nước, không nơi nào chúng ta không gặp những cán bộ đã từng được đào tạo ở các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc.

    Từ thực tiến này, để có thể đánh giá đúng tầm vóc, rút ra những kinh nghiệm và bài học cho công tác đào tạo của ngành giáo dục trong quá trình xây dựng và phát triển của mình là việc làm không đơn giản, dễ dàng, rất cần sự đóng góp của nhiều người, thời gian, công sức, nhưng chúng tôi nghĩ là rất cần thiết, cần có những, biện pháp cụ thể mà trước hết, ngành giáo dục phải có trách nhiệm để phát huy những bài học có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước.

    Tất nhiên, lịch sử không bao giờ lặp lại. Các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc đã hoàn thành sứ mạng lịch sử rất vẻ vang của mình, nay không còn nữa, nhưng những mô hình, phương pháp tổ chức, giáo dục, đào tạo của một loại trường đặc biệt còn để lại những bài học vô cùng quý giá cho ngành giáo dục. Phải chăng, hàng trăm trường nội trú, bán trú dành cho con em, đồng bào các dân tộc ít người trên khắp đất nước ta hiện nay, với dáng dấp khang trang, bề thế hơn nhưng phần cốt lõi của nó trong việc học tập, nuôi dưỡng, đào tạo con người vẫn được bắt nguồn từ mô hình các Trường học sinh miền Nam trước đây, nhưng đã và đang kế thừa, phát triển phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển mới của đất nước.

    2. Công tác giáo dục đào tạo phải có tầm nhìn xa, sự quan tâm đầy đủ từ chủ trương đến biện pháp cụ thể, đồng bộ ngay từ đầu mới có thể đạt hiệu quả tốt.

    Ở điểm này, giờ đây nhìn lại, chúng ta càng cảm phục và vô cùng biết ơn Bác Hồ kính yêu đã có sự quan tâm và tầm nhìn chiến lược rất xa với công táọ giáo dục, đào tạo cán bộ quản lý, nhân tài cho miền Nam và cả nước. Không chỉ con em cán bộ và đồng bào thuộc diện chính sách ở các tỉnh đồng bằng, ven biển từ bờ Nam sông Bến Hải tới mũi Cà Mau mà cả ở Tây Nguyên, những vùng xa xôi hẻo lánh khác của các tỉnh miền Nam cũng đều được khuyến khích và tạo mọi điều kiện để có thể gởi con em của mình ra miền Bắc để được nuôi dạy, ăn học. Nhiều vùng bà con dân tộc ít người ở Tây Nguyên, ở miền Tây Nam Bộ trước đây chưa hề có ai được biết “cái chữ của Bok Hồ” nay cũng hăng hái, nhiệt tình gởi con em mình ra Bắc theo lời kêu gọi của Bok Hồ. Mọi phương tiện vận chuyển, đưa đón, săn sốc các con em này từ nơi xuất phát cho đến khi xuống tàu ra miền Bắc đều được ưu tiên, đảm bảo nhanh chóng, an toàn tối đa, mặc dù phải vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn lúc bấy giờ. Mỗi cán bộ dẫn chúng tôi lúc ấy không chỉ là người đưa đường, còn là bảo mẫu, thay mặt những người thân trong gia đình săn sóc chúng tôi suốt chặng đường. Tàu vừa cặp bến ở miền Bắc, tất cả chúng tôi đều được đồng bào địa phương chia nhau đưa về các gia đình để đồng bào chăm sóc, đùm bọc như những đứa con ruột thịt của gia đình vừa từ xa về. Với những lứa tuổi khác nhau, trình độ càng rất khác nhau, nhiều người trong chúng tôi lớn tuổi vẫn chưa biết chữ hoặc chỉ mới biết đọc, biết viết, được sinh ra từ nhiều vùng, nhiều dân tộc khác nhau với phong tục tập quán, nếp ăn ở, sinh hoạt, cách nghĩ, cách hiểu, cách làm rất khác nhau, nay được nuôi dưỡng, học tập trong một tập thể, khác xa với môi trường sống quen thuộc là điều không dễ dàng chút nào. Bao nhiêu vấn đề phức tạp, khó khăn nảy sinh, không ai có thể lường trước được. Vậy mà, vượt qua những bỡ ngỡ, vấp váp ban đầu, tất cả đã đi dần vào nề nếp, theo một quỹ dạo chung để đạt đến mục đích cuối cùng là ai cũng được chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập với điều kiện tốt nhất trong hoàn cảnh lúc ấy. Đó là nhờ phương hướng, biện pháp, chỉ đạo rất sâu sát, cụ thể từ trung ương đến địa phương, từ những cán bộ có trách nhiệm cao nhất của Bộ, Ngành chuyên môn đến các thầy cô giáo, cán bộ, công nhân viên của nhà trường tất cả đều thấm nhuần từ nhận thức đến hành động theo phương châm “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” “Tất cả vì học sinh thân yêu”.

    Cùng với sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ, hầu như các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước như Bác Tôn Đức Thắng, Bác Phạm Văn Đồng, đồng chí Đỗ Mười, Tố Hữu... Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên cùng lãnh đạo các bộ có liên quan... đều có sự quan tâm, ưu ái đặc biệt dành cho các cháu học sinh miền Nam, để lại trong chúng tôi những ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Ngay những năm sau này trong những kỳ gặp mặt các cựu học sinh miền Nam được tổ chức tại Bến Nhà Rồng hay một vài địa điểm khác, hầu như không năm nào thiếu vắng những nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, dù đã nghĩ hưu hay còn đang gánh vác nhiệm vụ như các đồng chí Vồ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Phan Văn Khải... Buổi gặp mặt đón Xuân Kỷ Mão, 1999 tại Bến Nhà Rồng, mọi người rất vui được đón tướng Tô Ký, một vị tướng rất gần gũi, thân thiết, gắn bó như tình cha con, ruột thịt với nhiều thế hệ học sinh miền Nam trên đất Bắc đến chung vui, dó rồi tiếp đó, chỉ hơn hai mươi ngày sau ông đã đột ngột ra đi, để lại trong chúng tôi niềm thương tiếc vô hạn mà hôm ấy trong chúng tôi có ai ngờ đó là buổi cuối cùng ông đến với các thế hệ học sinh miền Nam ...

    3. Công tác tư tưởng phải đi đầu - giáo dục toàn diện trong nhà trường - mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội.

    Miền Bắc lúc ấy vừa đi qua chiến tranh tàn phá suốt 9 năm, hòa bình vừa lập lại, đời sống nhân dân, cán bộ, chiến sĩ còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Đồng bào ở nhiều nơi còn phải ăn khoai, sắn thay cơm, tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm được cấp cho các đối tượng được phân phối cũng rất ít ỏi, chỉ đủ sống, cơm cũng phải ăn độn bằng bất kỳ loại lương thực nào có thể thay thế được. Phiếu vải được bán cung cấp cho nhân dân và cán bộ mỗi người vài ba mét một năm, có vải gì bán vải đó, nhưng thường không cung cấp đủ, phiếu năm trước còn nợ đến năm sau. Vậy mà ở các Trường học sinh miền Nam chúng tôi vẫn được ưu tiên ở mức cao. Ngoài tiêu chuẩn quần áo, chăn màn, các phương tiện sinh hoạt được cung cấp, chế độ sinh hoạt phí được cấp tăng dần theo các năm học. Dần dần mức sinh hoạt phí tăng lên 25-30 đồng một tháng (trong khi sinh viên đại học được cấp học bổng toàn phần cũng chỉ ở mức 22 đồng/ tháng). Nhưng được sự quan tâm hơn cả ở các Trường học sinh miền Nam là công tác giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Dù còn ở tuổi thiếu niên, nhi đồng, trình độ văn hóa và nhận thức rất khác nhau, lại phải xa gia đình, xa những người thân ruột thịt để làm quen với cuộc sống tập thể, sợi dây liên kết giữa học sinh với nhau, giữa học sinh với các thầy cô, cán bộ, công nhân viên trong nhà trường, với đồng bào nơi có trường và với xã hội, trước hết là phải làm cho học sinh có nhận thức đúng về mình, về cái đích cần đạt tới để có thể xứng đáng với lòng tin yêu, hy vọng của Bác Hồ, của Đảng, Nhà nước và những người thân ở quê nhà, của đồng bào cả nước. “Học như thế nào?” “Học cho ai” “Học để làm gì?” luôn được thấm nhuần trong từng bài học, trong bữa ăn, giấc ngủ, sinh hoạt hàng ngày của chúng tôi. Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy văn hóa mà chúng tôi được giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, học đi đôi với hành. Ngoài giờ học tập lên lớp, chúng tôi có giờ sinh hoạt vui chơi, ca hát, thể thao, lao động chăm sóc vườn trường... Nhiều trường còn tổ chức tham gia chống hạn, giúp dân thu hoạch vụ mùa, tham gia phong trào “sạch làng, tốt ruộng” xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa với thanh niên, học sinh ở địa phương. Chính vì vậy phong trào văn hóa, văn nghệ, bích báo, thể dục thể thao... ở các Trường học sinh miền Nam rất sôi nổi, hấp dẫn, được đông đảo nhân dân trong vùng động viên hưởng ứng, giúp đỡ. Nhiều đội văn nghệ, bóng đá, bóng chuyền... của các Trường học sinh miền Nam được mời đi giao lưu ở các tỉnh, có những diễn viên, cầu thủ, những văn nghệ sĩ nổi tiếng cả nước sau này được gieo mầm, lớn lên từ các trường học sinh miền Nam. Nhà trường đóng ở nơi nào, không chỉ là một trong những điểm sáng văn hóa mà còn là hình ảnh thu nhò của “miền Nam đau thương, anh dũng” giữa lòng miền Bắc, được cấp ủy, chính quyền và đồng bào địa phương hết sức quan tâm, chăm sóc. Đồng bào rất thương và cảm thông với chúng tôi. “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, huống chi đây lại là những học trò đặc biệt, phải sống trong một hoàn cảnh bất bình thường của lịch sử đất nước, Bắc, Nam chia cắt, phải xa cha mẹ, gia đình trong khi từng ngày, từng giờ, tin tức về những đau thương, tang tóc do kẻ thù gây nên cho những người dân ở quê nhà luôn làm chúng tôi nhức nhối, không yên tâm. Cuộc sống tập thể, các thầy, cô và cán bộ, công nhân viên của nhà trường dù cố gắng đến mấy cũng không thể thay thế, bù đắp hoàn toàn được những hụt hẫng của tình cảm gia đình, ruột thịt mà tuổi thơ rất khao khát. Từ đó, những hiện tượng học sinh cá biệt, những tiết học có học sinh không lên lớp, thậm chí bỏ đi lang thang, những thái độ, hành động ngang bướng vượt ra ngoài tổ chức, thậm chí gây gổ, đánh nhau với thanh thiếu niên địa phương, có nơi, có lúc gây nên không khí bộc phát, cực kỳ căng thẳng, những chuyện hái trộm cây trái trong vườn nhà dân, lấy thức ăn dự trữ của nhà bếp, có bạn còn đổi cả quần áo, chăn bông lấy bánh kẹo hay những thứ mình yêu thích muốn có... cũng là điều dễ hiểu.

    Điều đáng mừng và cảm động là mặc dù có những chuyện như vậy xảy ra, nhiều khi không lường trước được, nhưng nhờ có mối quan hệ tốt giữa nhà trường và xã hội, tình cảm Bắc Nam ruột thịt đã thấm sâu vào mỗi người dân nên mọi diên biến của tình hình dù phức tạp đến mấy, cuối cung cũng dược giải quyết ổn thỏa với sự cảm thông sâu sắc. Có những người dân, nhà rất nghèo, trồng được cây cam, cây bưởi, bụi mía trong vườn nhà bị hái trộm, nhưng khi bắt được kẻ trộm là học sinh miền Nam đã dẫn đến tận trường giao trả nhưng rón ân cần dặn thầy cô trong trường chỉ khuyên bảo chớ đừng bắt phạt mà tội nghiệp. Một bà mẹ nghèo ở Chi Nê, Hòa Bình đón một đoàn học sinh miền Nam nghỉ qua đêm ở nhà, sáng ra mẹ đã chạy bộ mấy cây số đuổi theo đoàn để chỉ trao vào tay một em nhò nhất mấy đồng bạc để ăn quà vì sáng ra mới kịp ra chợ bán con gà mẹ dành dụm nuôi được. Những người dân Tết đến vào trường xin bằng được đón mấy em về ăn Tết với gia đình... những chuyện như vậy xảy ra không hiếm, trở thành những kỷ niệm sâu sắc không thể nào quên với nhiều anh em chúng tôi mỗi khi nhớ về những năm tháng tuổi thơ trên đất Bắc.

    Được giáo dục, rèn luyện trong môi trường tập thể đặc biệt, dù hầu hết tuổi còn non nớt, nhưng tư tưởng, tình cảm của mỗi người chúng tôi như được cộng hưởng ở phạm vi rộng lớn và phát triển cả chiều sâu, tầm cao. Còn nhớ khi được tin Mỹ - Diệm gây ra vụ thảm sát hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ yêu nước bị giam cầm ở nhà tù Phú Lợi, không ai bảo ai, chúng tôi đều sôi sục căm thù. Hàng ngàn học sinh xuống đường kéo thành đoàn biểu tình, hô vang các khẩu hiệu phản đối, đả đảo Mỹ -Diệm. Ngay tối hôm đó, hàng trăm lá đơn, có những lá viết bằng máu được nộp lên nhà trường xin được tình nguyện trở về chiến đấu giải phóng quê hương, trả thù cho đồng bào, chiến sĩ bị thảm sát. Tất nhiên vì tuổi nhỏ và chủ trương không cho phép, rất nhiều người đã ấm ức khóc vì nguyện vọng trên không được chấp thuận.

    Rồi đợt hạn hán kéo dài trong năm 1960. Chỉ còn vụ lúa Đông - Xuân nữa là hết năm mà gần suốt mùa Đông, dòng sông Nhuệ chảy qua thị xã Hà Đông nước cạn gần tới đáy, chỉ còn chảy lờ đờ, bà con nông dân không đủ nước cho canh tác. Gần 2.000 học sinh các trường học sinh miền Nam ở Chương Mỹ đã tình nguyện làm nhiệm vụ vét sâu lòng sông lấy nước. Nhưng khi “đoàn quân tình nguyện” đã đến nơi tập kết “chuẩn bị ra quân” thì bất ngờ một đợt gió mùa Đông Bắc tràn về, lác đác có mưa, nhiệt độ xuống thấp tới 8°C... Lãnh đạo các nhà trường và địa phương đều lo ngại cho sức khỏe học sinh, định tạm rút quân về. Nhưng “khí thế ra quân” đang sôi nổi, anh chị em nhất định xin không rút mà nhất tề xông lên làm nhiệm vụ. Thế là cả “đoàn quân” bừng bừng khí thế với cuốc, xèng, sọt tre, đòn gánh... hì hục nạo vét lòng sông. Không ít người vì không chịu nổi giá lạnh, phải đưa vào trạm xá chữa trị, nhưng suốt trong 5 ngày, không khí lao động vẫn rất khẩn trương, cả đoàn quân không chịu lùi bước. Dòng nước sông Nhuệ được khơi nguồn, tỏa theo các kênh, mương để bà con nông dân tiếp tục dùng gầu sòng, gầu dai đưa vào ruộng tưới mát cho lúa. Gần như cả thị xã Hà Đông đã nồng nhiệt đón chào “đoàn quân chống hạn” thành công trở về trong tiếng trống ếch rộn ràng của các em thiếu nhi. Một câu khẩu hiệu lớn được giương lên: “NHIỆT LIỆT HOAN NGHÊNH ĐOÀN QUÂN CHIẾN THẮNG TỪ CÔNG TRƯỜNG BAIARƠCA TRỞ VỀ". Ai đã đọc tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của Paven Coocsaghin chắc sẽ hiểu nội dung câu khẩu hiệu đầy khí thế của tuổi trẻ ấy.

    upload_2015-5-12_14-45-26.png
    Tham gia làm đường và chống hạn giúp dân.

    4. Muốn có trò tốt, trước hết phải có những người thầy tốt.

    Điều này như một chân lý, ai cũng thấy cần thiết, đồng tình, nhưng trong thực tế, thực hiện cho được thật không dễ dàng chút nào. Do yêu cầu phát triển giáo dục sau chiến tranh, đội ngũ giáo viên ở miền Bắc lúc đó cũng thiếu nghiêm trọng. Cùng với các trường đào tạo chính qui, nhiều biện pháp đào tạo giáo viên trong thời gian ngắn được áp dụng. Nhiều lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cấp dạy được tổ chức. Mặc dù trong hoàn cảnh như vậy nhưng những giáo viên được phân công về dạy ở các trường học sinh miền Nam luôn được tuyển chọn với tiêu chuẩn cao hơn mức bình thường. Dù các thầy, cô quê ở miền Nam hay miền Bắc, ngoài phần chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy, còn phải có nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, yêu thương, gắn bó, trách nhiệm đến cùng với trò của mình và khả năng thích ứng với điều kiện nuôi dạy ở các trường học sinh miền Nam. Vì các thầy, cô giáo đều phải ăn ở nội trú trong trường với học sinh. Ngoài việc dạy chữ, dạy văn hóa, còn phải cùng với các cán bộ, công nhân viên khác của nhà trường nuôi dạy học sinh như con em ruột thịt của mình. Mà lứa tuổi chúng tôi lúc ấy thì rất nhạy cảm. Mọi lời nói, việc làm, suy nghĩ, tình cảm, cách ứng xử của các cô thầy trong mọi tình huống đều được chúng tôi theo dõi, cảm nhận theo cách riêng của mình. Điều đáng mừng là hầu hết các thầy cô dạy ở các Trường học sinh miền Nam, dù là người miền Nam hay miền Bắc đều đã hoàn thành tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao, nhiều thầy cô đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp, sâu sắc trong các thế hệ học sinh chúng tôi mà thời gian không thể xóa mờ.

    Ngay cả với những kỷ niệm thuộc loại “không vui” từ cả hai phía; thầy cô và trò do chưa hiểu cặn kẽ ngọn nguồn hay sự nhận thức còn đơn giản hạn hẹp của hoàn cảnh lịch sử gây nên, giờ đây nhớ lại tất cả cũng trờ thành thân thiết bởi nó mang đậm dấu ấn của một thời đã qua.

    5. Toàn dân tham gia công tác giáo dục với những trường hợp đặc biệt có cách dạy và học đặc biệt.

    Ngày nay chúng ta thường nói tới quan hệ giữa nhà trường và gia đình, xã hội. Với các Trường học sinh miền Nam thì trừ một số rất ít học sinh có cha mẹ, người thân ra tập kết còn với tuyệt đại đa số, mối quan hệ với gia đình hầu như chỉ còn trong kỷ niệm và nỗi nhớ thương vô hạn. Nghĩ đến gia đình để vượt khó học tập cũng có, nhưng mỗi khi nghe tin những vụ Mỹ - ngụy gây ra những cuộc khủng bố, tàn sát ở quê nhà, nhiều bạn đã chán nản, bỏ học. Thầy, cô và các cán bộ, công nhân viên khác trong nhà trường có thể hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, nhưng làm sao có thể thay thế hoàn toàn cha mẹ và những người thân trong gia đình với nhiều phong tục, tập quán, nếp nghĩ, nếp cảm rất riêng đã hình thành từ tuổi ấu thơ của mỗi người chúng tôi đến từ những vùng rất khác nhau. Điều may mắn có được ở thời điểm lịch sử ấy là tình cảm quý vô giá của đồng bào miền Bắc với miền Nam nói chung, càng đặc biệt nói riêng với thiếu niên, nhi đông miền Nam được đưa ra ăn học ở miền Bắc. Không có được mối quan hệ tình cảm cao quý, thiêng liêng này, chắc chắn việc dạy và học ở các Trường học sinh miền Nam sẽ khó khăn gấp bội và sẽ rất phức tạp, gay cấn khi có những “sự cố” bất ngờ như đã từng xảy ra ờ Chương Mỹ - Hà Đông, ở Hải Dương... Cùng với đồng bào địa phương, các cơ quan, ban, ngành, lực lượng công an, bộ đội... cũng luôn sẵn sàng làm bất cứ việc gì khi các trường học sinh miền Nam có yêu cầu. Điều quan tâm đặc biệt này trong hoàn cảnh lúc đó thật vô cùng cần thiết vì có rất nhiều việc các giải quyết đã vượt ra ngoài khả năng, quyền hạn, trách nhiệm của nhà trường mà sau này chúng tôi mới có thể hiểu được.

    Cùng với việc giáo dục toàn diện, công tác giáo dục cá biệt cũng rất được quan tâm. Giáo dục cá biệt ở đây không chỉ áp dụng riêng lẻ với một số cá nhân học sinh nào đó mà còn được thực hiện rộng hơn với từng đối tượng cụ thể. Với những học sinh tụổi đã lớn nhưng vì nhiều lý do, trước đây chưa được học hoặc trình độ ở lớp thấp, nếu để ngồi học chung với lứa tuổi nhỏ hơn sẽ dễ có mặc cảm, thiếu hào hứng học tập, có thể được tổ chức học riêng với chương trình và thời gian được rút gọn một năm hai lớp. Có chương trình riêng cho học sinh là dân tộc ít người, là Hoa kiều. Học sinh cần học nghe sẽ có những cơ quan, xí nghiệp sẵn sàng nhận với chế độ ưu tiên. Một số nông trường do bộ đội miền Nam xây dựng luôn sẵn sàng đón các cháu học sinh miền Nam về tham gia lao động hoặc nghỉ ngơi trong những ngày hè. Có thể nói, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng nhờ xã hội hóa được công tác giáo dục nên nhiều cách dạy, đối tượng, trình độ khác nhau, học luôn gắn với hành, nhà trường gắn với xã hội, con người được giáo dục toàn diện ngay trong thời gian ở trường. Chính vì vậy, nhiều người trong chúng tôi sau này dù được đào tạo ở những trường đại học, học viện ở trong nước hay nước ngoài có quy mô, tầm vóc lớn hơn nhiều, khi trưởng thành được giao nhiệm Vụ có thể khác với ngành nghề được đào tạo vẫn không quá bỡ ngỡ và luôn trân trọng, giữ gìn “cái vốn ban đầu” có được từ những Trường học sinh miền Nam năm nào.

    6. Bài học về sự đoàn kết.

    Một trong những cảm nhận sâu sắc nhất với chúng tôi mỗi khi nhớ về Trường học sinh miền Nam là bài học về sự đoàn kết. Chúng tôi càng thấm hiểu vì sao trong thư đề ngày 1 tháng 6 năm 1955 của Bác Hồ gởi “Các cháu và các cán bộ các trường miền Nam”, điều này được Bác nhắc nhở đầu tiên và chữ “đoàn kết” được Bác gạch dưới để nhấn mạnh lại được nhắc tới 5 lần:

    Trước hết, các cháu phải yêu thương, giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé; Đoàn kết giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác; Đoàn kết giữa các cháu miền Nam với các cháu đòng bào địa phưomg; Đoàn kết giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”.

    Hầu như tất cả các thầy trò, cán bộ, công nhân viên ở các trường học sinh miền Nam đều được nghe, học tập làm theo Thư Bác nhiều lần, nhiều người thuộc lòng. Giờ đây nhớ lại bài học này, chúng tôi càng xiết bao thấm thía. “Xã hội” ở các Trường học sinh miền Nam lúc ấy thật đa dạng, phức tạp biết bao! Cùng lớp, cùng trường đấy nhưng học sinh thì nhiều lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhau, nguồn gốc gia đình và địa phương khác nhau, thậm chí ngôn ngữ cũng khác nhau, phong tục, tập quán, cách cảm, cách nghĩ, cách ăn nói khác nhau... chỉ cần thiếu hiểu biết, cảm thông một chút là rất dễ xảy ra va chạm. Mà ở tuổi ấy, chúng tôi đâu đã nghĩ được xa. Các thầy, cô cũng từ nhiều nguồn, nhiều trình độ khác nhau từ nhiều nơi chuyển về. Có thầy dạy lâu năm, có kinh nghiệm, có thầy mới ra trường, từ bộ đội, các ngành khác chuyển sang, thầy miền Nam, thầy miền Bắc... Lại còn ở nội trú. Ngoài giờ lên lớp, ăn, ở, sinh hoạt cũng trong một tập thể với nhau. Bao nhiêu mặt tốt, mặt xấu, cái mạnh, cái yếu từ nhiều nguồn, nhiều nơi dồn tụ về. Làm thế nào có thể cùng phát huy mặt tốt, mặt mạnh và hạn chế tối đa những cái yếu, cái xấu để cùng có đóng góp ở mức cao nhất. Thư của Bác Hồ đã ghi rõ : Tất cả phải vì nghĩa lớn, “Sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, trở lại quê hương, các cháu và các cô, các chú đều là những người gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác”.

    Ai cũng biết, để làm được điều đó thật không đơn giản chút nào và phải phấn đấu không ngừng, không nghỉ suốt cuộc đời mình. Nhưng đó là tiếng gọi thiêng liêng nhất Bác đã căn dặn, cũng là mong ước cháy bỏng trong trái tim còn thơ dại của mỗi chúng tôi. Mỗi khi ai trong chúng tôi gặp sai lầm, vấp ngã đều được những bàn tay thương yêu dìu đứng dậy cùng những lời dặn dò, động viên thật thấm thía, chân tình để chúng tôi yên lòng tiếp bước. Tính ích kỷ, hẹp hòi, bệnh cục bộ địa phương, phân biệt địa vị của cha mẹ, gia đình ... ít nhiều có trong một bộ phận không nhỏ của chúng tôi. Nhưng nhờ sự kiên trì giáo dục của các thầy, cô trong nhà trường và sự thương yêu đùm bọc của đồng bào miền Bắc, dần dần những mầm mống độc hại ấy đã không còn đất để phát triển. Nếu đôi lúc có xảy ra bột phát ờ đâu đó đều nhanh chóng bị loại trừ, trả lại không khí trong lành của yêu thương, tin cậy. “Thầy ra thầy, trò ra trò, lớp ra lớp”. Ngày nay nhìn lại, mỗi chúng tôi đều có thể tự hào với nơi đã nuôi dưỡng, đào tạo mình từ thuở ấu thơ.

    Suốt cuộc đời cống hiến cho dân, cho nước, Bác Hồ muôn vàn kính yêu “chỉ có môt ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta đươc hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đươc học hành”. Cùng với nhiều nhà lãnh đạo khác, Bác đã dành biết bao công sức và tâm huyết để thực hiện ước muốn thiêng liêng đó.

    Thưa Bác, dẫu còn phải tiếp tục phấn đấu cho đến trọn đời, nhưng giờ đây những lớp học sinh miền Nam chúng cháu được Bác, Đảng và Nhà nước cùng đồng bào miền Bắc hết lòng chăm lo, săn sóc ngày nào, nay tuyệt đại đa số đã tỏ ra không phụ với công ơn và tấm lòng cao cả ấy. Năm tháng sẽ qua đi với biết bao biến động lớn lao của lịch sử, những ấm lạnh cuộc đời và trong lòng người nhưng những kỷ niệm về những năm tháng được sống và học tập dưới mái trường miền Nam trên đất Bắc mãi mãi như ngọn lửa ấm trong tim mỗi chúng cháu và chắc chắn sẽ còn được truyền lại cho những thế hệ mai sau...

    NGUYỄN TẤN PHÁTVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, cựu học sinh miền Nam.
     
    Chỉnh sửa cuối: 15/5/15
    thichankem and Rafa like this.
  8. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN


    Một khi xã hội phát triển nó đòi hòi phải có một tổ chức mới ra đời để đáp ứng những yêu cầu của nó và khi xã hội đã phát triển có những đòi hòi mới thì cũng là lúc kịp thời kết thúc vai trò của tổ chức cũ theo quy luật phát triển của xã hội. Những năm 1969 cho tới năm 1975, cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược vô cùng ác liệt trên toàn chiến trường Đông Dương. Mỹ dùng máy bay chiến lược B.52 ném bom phong tỏa miền Bắc Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh khác suốt từ Bắc vào Nam. Tại Lào, chúng mở các chiến dịch ném bom dữ dội, cho quân đi càn quét hòng chiếm Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum... Giữa lúc đó Việt Nam được lệnh của Trung ương tiếp nhận 4.000 học sinh Lào từ tỉnh Xiêng Khoảng sang Việt Nam và tiếp tục đón hàng trăm học sinh từ chiến trường miền Nam ra học tập trên đất Bắc. Nhiều Trường học sinh miền Nam đã được thành lập trên đất Bắc, kể cả số lớn học sinh miền Nam đưa sang học tại các Trường miền Nam tại Quế Lâm-Trung Quốc. Riêng học sinh Lào, ngoài Trường Bổ túc Văn hóa miền Núi Trung ương (T78), ta lập ra 4 Trường Phổ thông miền Núi nữa là: số 1 ở tỉnh Phú Thọ, số 2 tỉnh Bắc Giang, số 3 và 4 ở tỉnh Thanh Hóa, để bố trí học tập, giảng dạy và nuôi dưỡng cho 4.000 học sinh Lào ở tỉnh Xiêng Khoảng đưa sang. Ngoài ra còn 2 trường nữa là Trường Đào tạo Bồi dưỡng C (T6 ở Hà Tây) bồi dưỡng cán bộ đi công tác tại Lào và Trường Bồi dưỡng B (Bần - Yên Nhân) bồi dưỡng cán bộ đi công tác B (miền Nam)...

    Trước yêu cầu bức xúc đó của Cách mạng ở miền Nam và ở Lào, Chính phủ cho thành lập Cục I Bộ Giáo dục năm 1970, là cơ quan làm công tác C, B chỉ đạo công tác quản lý các Trường học sinh miền Nam và các Trường học sinh Lào tại miền Bắc và chi viện chuyên gia giáo dục cho chiến trường Lào cũng như giáo viên các cấp học cho chiến trường miền Nam (cả về con người và vật chất, trang thiết bị, chương trình giảng dạy, sách giáo khoa...), trụ sở chính tại 197 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội. Các cơ quan hữu quan ở Trung ương lúc đó chỉ đạo Cục I là: Ban Công tác miền Tây, Ủy ban Thống nhất, Ủy ban Liên lạc Kinh tế-Văn hóa với nước ngoài. Hoạt động của Cục I Bộ Giáo dục gồm 3 giai đoạn như sau:

    1. Giai đoạn từ năm 1970-1976.

    Cục I làm 2 nhiệm vụ chính trị là C và B. Cơ quan Cục I gồm Cục trưởng Nguyễn Kỳ (nay là Thứ trưởng) và 2 Phó Cục trưởng là Nguyễn Anh và Lê Văn Ngươn, ngoài ra còn các phòng như: Phòng Giáo dục C, B; Phòng Hợp tác - Ghi viện C, B; Phòng Quản lý học sinh miền Nam; Phòng Tổ chức - Hành chính - Quản trị; Phòng Kế hoạch - Tài vụ C, B.

    Sau ngày 30-4-1975 miền Nam được hoàn toàn giải phóng, theo Chỉ thị của Trung ương, Cục I khẩn trương tổ chức các đoàn đưa học sinh miền Nam học tập ở các Trường trên đất Bắc và rút ở Quế Lâm - Trung Quốc về nước vào Nam gấp để bàn giao cho các tỉnh miền Nam, kịp khai giảng năm học 1975-1976. Công tác này đã hoàn thành tốt đẹp, an toàn tuyệt đối vào đầu năm 1976, kết thúc công tác chi viện B. Chỉ còn công tác C (Lào). Cũng thời điểm này ở Lào, quân và dân các bộ tộc Lào đã nhanh chóng dùng binh vận, kết hợp giữa chính trị, quân sự phát động quần chúng nhân dân các bộ tộc Lào trong vùng địch chiếm, đứng lên giành chính quyền một cách tốt đẹp, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước và tuyên bố thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào ngày 2-12-1975. Theo chủ trương của Chính phủ, Cục I tiếp tục thành lập các đoàn đưa học sinh Lào-4.000 em, từ các Trường C số 1, 2, 3 và 4- về các tỉnh của Bắc-Trung-Nam Lào để bàn giao cho bạn. Công việc này hoàn thành tốt đẹp vào cuối năm 1976, an toàn tuyệt đối. Như vậy, lúc này Cục I chỉ còn làm công tác chi viện C (cử chuyên gia đi Lào và các trang thiết bị cơ sở vật chất cho Lào) và quản lý tổ chức số lưu học sinh Lào đang theo học tại các Trường Đại học, Trung cấp tại Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Giáo dục chỉ đạo là Võ Thuần Nho. Cơ quan Cục I thu hẹp về tổ chức, và trụ sở làm việc vẫn tại 197 Tây Sơn, Đống Đa- Hà Nội.

    2. Giai đoạn từ năm 1977-1987.

    Cục I được nhận nhiệm vụ mới của Lào và của Campuchia (gọi là C, K). Chính phủ Lào gửi, Việt Nam tiếp nhận 1.700 học sinh Lào ở vùng mới giải phóng sang học tại các Trường Trung học Phổ thông. Do đó, ngay từ năm học 1977-1978, Cục I củng cố lại Trường TI Phú Thọ và lập 2 Trường Hữu Nghị tại Sơn Tây, tiếp nhận số lưu học sinh Lào nói trên. Trường Bổ túc Văn hóa Hữu nghị đào tạo cán bộ đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tạo nguồn cho Trường Nguyễn Ái Quốc 10 đặc biệt (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).

    Ngày 7-1-1979, Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của Khơmer đỏ. Chính phủ ND Campuchia ra đời và theo đề nghị của Chính phủ Campuchia, hàng trăm chuyên gia giáo dục Việt Nam lên đường sang công tác tại Campuchia, từ Trung ương tới các tỉnh, huyện phum, sóc, giúp khôi phục, hồi sinh lại nền giáo dục Campuchia. Ngoài ra, số cán bộ trí thức Campuchia còn sống sót cùng với một số học sinh đã được đưa sang Việt Nam để đào tạo và bồi dưỡng gấp. Như vậy, Cục I lại được nhận nhiệm vụ chính trị công tác C, K. Cơ quan Trung ương chỉ đạo là Ủy ban Hợp tác Kinh tế-Văn hóa với Lào và Campuchia do Bộ trưởng Đặng Thí phụ trách, ở Bộ Giáo dục do Thứ trưởng Hồ Trúc phụ trách. Còn cơ quan Cục I lúc đó gồm Cục trưởng Nguyên Hữu Nghinh và 2 Phó Cục trưởng Nguyễn Huy Ái và Lê Sĩ Nghĩa. Các phòng chuyên môn đảm nhận nghiên cứu chính trị là: Phòng Giáo dục học sinh C, K; Phòng Hợp tác- Chi viện C, K; Phòng Kế hoạch- Tài vụ C, K và Phòng Tổ chức- Hành chính - Quản trị C, K. Nhiệm vụ chính trị là quản lý tổ chức toàn bộ các trường học của C, K tại Việt Nam, công tác chi viện chuyên gia và các trang thiết bị, cơ sở vật chất cho Lào và Campuchia. Trụ sở chính của cơ quan vẫn đóng tại 197 Tây Sơn, Đống Đa - Hà Nội.

    3. Giai đoạn từ năm 1988-1990.

    Do tình hình chính trị ở Campuchia thay đổi, ở Việt Nam có sự đổi mới về cơ chế, xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường tự do với 5 thành phần kinh tế có sự định hướng và điều tiết của Nhà nước, các chuyên gia Việt Nam đang giúp ở Campuchia lần lượt rút về nước. Trung ương giải thể Ủy ban Hợp tác Kinh tế - Văn hóa với Lào và Campuchia, chuyển phần việc này về Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đảm nhận. Do đó, Bộ Giáo dục cũng thu hẹp Cục I, chuyển giao các phần việc chuyên môn về các Vụ chuyên môn của Bộ trực tiếp phụ trách công tác C, K; Vụ Hợp tác Quốc tế công tác C, K lại giao cho từng tổ chuyên môn phụ trách. Trụ sở làm việc về 21 Lê Thánh Tông Hà Nội. Người chỉ đạo trực tiếp công tác C, K lúc này ở Bộ Giáo dục là Thứ trưởng Nghiêm Chưởng Châu và tiếp sau là Thứ trưởng Trần Xuân Nhĩ. Tổ C, K có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo các trường học có đào tạo các LHS Lào và Campuchia (kể cả con liệt sĩ Campuchia, bố Campuchia, mẹ người Việt Nam), các chuyên gia được cử đi công tác ở Lào và Campuchia cùng với các thiết bị đồ dùng giảng dạy, chương trình, sách giáo khoa cho Lào và Campuchia theo Hiệp định hàng năm đã ký giữa 2 Chính phủ. Tới tháng 4 năm 1990 Nhà nước sáp nhập hai Bộ Giáo dục và Đại học trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thành Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cơ quan làm việc của Bộ mới chuyển về 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội. Lúc này, công tác C, K lại được phân lẻ cho các Vụ chuyên môn đảm nhiệm; tuyển đầu vào của lưu học sinh Lào và Campuchia do Vụ Đại học và Vụ Sau đại học làm thủ tục; Vụ Kế hoạch tài chính của Bộ căn cứ vào số lưu học sinh theo Hiệp định ký kết mà Vụ Công tác Chính trị xác nhận để dự trù kinh phí C, K cấp cho các trường thực hiện. Vụ Công tác Chính trị làm việc trực tiếp với Đại sứ Lào và Campuchia, theo dõi tổ chức quản lý các mặt tư tưởng, học tập, tu dưỡng, các chế độ, chính sách, học bổng, phí đào tạo cho lưu học sinh, theo dõi việc thực hiện nội qui, kỷ luật của lưu học sinh, theo dõi mục tiêu đào tạo lưu học sinh và khi lưu học sinh tốt nghiệp ra trường về nước công tác. Sự phân công không đồng bộ của Bộ như trên đã dẫn tới sự thiếu phối hợp chặt chẽ, kéo dài thời gian không cần thiết, gây khó khăn cho lưu học sinh và các trường có đào tạo lưu học sinh Lào và Campuchia, không bảo đảm tính kế thừa-liên tục và truyền thống, tạo ra nhiều khó khăn cho phía bạn khi tiếp xúc, trao đổi công việc, không có cơ quan đầu mối như vẫn thực hiện trước đây.

    Cục I Bộ Giáo dục ra đời, phát triển và thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình với Cách mạng miền Nam, với Cách mạng Lào và Campuchia vừa tròn 17 năm thì kết thúc vai trò cùng với sự đổi mới của đất nước ta và đất nước bạn Lào và Campuchia, phù hợp với tình hình quốc tế và khu vực. Nhưng những công việc quốc tế với Lào và Campuchia vẫn còn được duy trì và tồn tại cho tới ngày nay, vẫn còn những người của Cục I đảm nhiệm, vừa tiếp tục thực hiện nốt phần việc của mình và vẫn giữ được mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa Việt Nam và Lào; giữa Việt Nam và Campuchia trong thời kỳ đổi mới cùng nhau vững bước tiến vào thế kỷ XXI.

    NGUYỄN NHƯ MẪNVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Chuyên viên Vụ Công tác Chính trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
     
    Rafa thích bài này.
  9. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    VUI MỪNG VÀ VINH DỰ


    Tổ chức các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là một điểm son, một kỳ tích của Cách mạng Việt Nam trong “chiến lược trồng người” được Bác Hồ và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đặt vấn đề ngay từ những năm đầu trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Từ chủ trương đúng đắn, khách quan, phù hợp, đến tổ chức thực hiện kiên quyết, nghiêm túc, huy động các lực lượng, cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ triển khai đồng bộ, đã đem lại kết quả tốt.

    Ban Thống nhất Trung ương - một Ban tham mưu giúp Trung ương Đảng- có nhiều nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ cùng với các cơ quan chức năng, như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Giáo dục, các địa phương, tỉnh, thành miền Bắc tạo những điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất, tinh thần, lo cho học sinh miền Nam lớn, nhỏ đều được an tâm học tập, vui chơi, rèn luyện, trưởng thành (từ 1954-1975). Để cụ thể hơn, Ban Thống nhất sớm hình thành - tổ chức Vụ Quản lý học sinh miền Nam và bố trí cán bộ phù hợp, có trách nhiệm với nhiệt tình cao để tương ứng với nhiệm vụ. Vì số lượng các cháu nhỏ đông, công việc khá phức tạp, Ban Thống nhất cũng đã thành lập hai Trại Nhi đồng miên Nam trực thuộc Ban, để quản lý, nuôi dưỡng tốt các cháu. Trại Nhi đồng miền Nam số 1 ở Hải Phòng do một cán bộ trung cấp làm Giám đốc - Đồng chí Nguyễn Biền, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Khánh Hòa; Trại Nhi đồng miền Nam số 2 ở Đống Đa, Hà Nội (tên gọi là T64), do Bà Nguyễn An Ninh- nổi tiếng là một cán bộ giàu tình cảm và nghị lực quê ở Sài Gòn - Chợ Lớn - làm Giám đốc trại. Việc sớm hình thành tổ chức lo cho học sinh, các cháu miền Nam như trên là một cần thiết và thể hiện rõ sự nghiêm túc của Ban Thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ của Trung ương giao. Và, trong thực tế nhiều năm liền, các đồng chí lãnh đạo Ban Thống nhất còn phải trực tiếp lo nhiều việc trong các khâu quan trọng: kế hoạch cụ thể để các cháu học tốt từ nhỏ đến khi vào cấp II, xong cấp II thì vào cấp III, xong cấp III thì bảo đảm đủ sức cho các cháu vào học ở các trường đại học trong nước, đại học nước ngoài, sao cho sau này có thể đủ về số lượng cán bộ khoa học - kỹ thuật, cũng như đủ tiêu chuẩn chất lượng, có thể phục vụ cho các địa bàn, các khu vực miền Nam, nhất là khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn.

    Cán bộ, công nhân viên thường được lãnh đạo động viên dặn dò: “Chăm lo cho các cháu học sinh miền Nam trên đất Bắc nằm trong ý nghĩa lớn lao là lo cho sự nghiệp giải phóng một nửa đất nước. Mặt khác, về tình cảm, lo cho các cháu miền Nam là lo cho con em cán bộ, chiến sĩ cách mạng, các đối tượng chính sách khác, những người yêu nước đang bám trụ địa bàn miền Nam và chiến đấu ác liệt với quân thù. Họ đã gửi gắm những con cháu, những núm ruột thân yêu ra miền Bắc cho Bác Hồ, cho hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, với hoài bão lớn lao, và một lòng tin tưởng tuyệt đối”.

    Với nhận thức như vậy, nên các cơ quan chức năng tỏ ra rất nghiêm túc, vượt nhiều khó khăn để thi hành nhiệm vụ. Lần đầu tiên ở miền Bắc có trường nội trú đông đảo học sinh nhỏ ở miền Nam ra. Đây là một vấn đề mới mẻ, nên vừa quản lý vừa học tập rút kinh nghiệm.

    Thường có nhiều trường hợp, sự kiện đột xuất liên quan đến sinh sống và học tập hằng ngày ở các Trường học sinh miền Nam: kế hoạch chuyển nhanh một số học sinh miền Nam trước ở nước bạn về lại các trường học trong nước; kế hoạch sơ tán, phân tán phòng không với diện rộng, khá căng thẳng... Ban Thống nhất đã cùng với các cơ quan chức năng, cùng với địa phương tìm cách giải quyết phù hợp và đạt kết quả tốt nhất, tránh để xảy ra sai sót đáng tiếc, mọi việc êm xuôi, các cháu ổn định trong cuộc sống và học tập. Nhưng khi có việc không may, có sự cố là khá vất vả. Các cháu đau ốm, chữa trị kéo dài là một nỗi lo. Vấn đề thích nghi với khí hậu miền Bắc của các cháu miền Nam không phải dễ dàng. Trường hợp các cháu bị ngộ độc thức ăn không bình thường, dữ dội của Trường học sinh miền Nam số 13 ở Sơn Tây là một 1 mối lo lớn, đột xuất của nhà trường, của địa phương, cũng như của Ban Thống nhất. May mà không cháu nào bị tử vong! Trường hợp cháu X. là con độc nhất của một cán bộ chủ chốt, 1 một nữ tướng lĩnh ở miền Nam bị bệnh nặng, được đưa vào bệnh viện lớn chạy chữa, nhưng bệnh cháu không qua khỏi, đã gây ra một xúc động chung, một đáng tiếc và phải rút kinh nghiệm! Một số học sinh cá biệt thì không phải cứ xử lý theo cách bình thường như học sinh cá biệt các trường khác là được, mà phải xử lý một cách công phu (có sự tham gia của Ban Thống nhất) để đạt hiệu quả. Một kinh nghiệm, một phương pháp tốt luôn được áp dụng là phải có một tinh thần trách nhiệm cao, một tình thương đặc biệt thì mới cảm hóa được từng cháu một, mới đưa các cháu trở lại an tâm học tập. Và vì vậy chưa có cháu nào trong trường hợp “cá biệt” phải bỏ cuộc trong học tập, trái lại một số cháu sau đó tư tưởng ổn định, nên sức học khá lên. Cháu L.v. K. chẳng hạn, quê ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, con một người bạn của tôi, hai năm sau đó (lớp 9, 10/10) các môn học đều đạt điểm cao, cộng với thể trạng tốt, cháu được tuyển vào Trường Không quân, trở thành một sĩ quan lái máy bay dũng cảm. Nhiều trường hợp khác, học sinh đều sửa chữa tiến bộ.

    Một số Trường học sinh miền Nam phải phân tán ở nông thôn, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, trường học đóng tại một số trụ sở, đình làng... Lòng thương yêu đùm bọc của đồng bào miền Bắc đối với các cháu học sinh miền Nam là đặc biệt cao cả, sâu đậm. Chăm sóc, nuôi dạy con em miền Nam trên đất Bắc là công việc khá vất vả, chi tiết, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, nhiều năm liền, là một công phu của cộng đồng trên đất Bắc đối với các cháu, đối với Cách mạng miền Nam.

    45 năm đã qua, nhìn lại mới thấy rằng kết quả hoạt động của lực lượng học sinh miền Nam trên đất Bắc trước đây (1955-1975) thật là to lớn. Lực lượng này, cùng với các lực lượng hùng hậu khác của cả nước đã chẳng những phục vụ cho miền Nam mà cho cả đất nước trong thời gian qua và cho đến bây giờ. Trong kháng chiến, có nhiều học sinh tình nguyện đi chiến trường miền Nam. Nhiều người trong số họ đã anh dũng hy sinh. Liệt sĩ - Anh hùng phi công Đồng Văn Đe Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link là một dẫn chứng. Nhiều người đã lao động cật lực trong hòa bình, xây dựng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất Tổ quốc, trên nhiều ngành Trung ương, trên các tỉnh, thành phố phía Nam, kể các các tỉnh Tây Nguyên, đâu đâu cũng có mặt học sinh miền Nam trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Nhiều người trong số họ được giao giữ những chức vụ quan trọng ở các cấp, các tỉnh, thành miền Nam và các ngành Trung ương, kể cả một số vị trí chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo, thì mới thấy hết được ý nghĩa của việc xây dựng các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Rõ ràng là, đại đa số trong số họ đã sống xứng đáng và cống hiến tốt, làm gương cho lớp con em sau này, không phụ lòng mong mỏi của lớp người đi trước từng hoài bão ve một thế hệ nối tiếp đáng tin yêu! Vì vậy, những cá nhân, tập thể được Đảng và Nhà nước giao cho việc nuôi dạy, đào tạo con em học sinh miền Nam tập kết ra Bắc, trong đó có cơ quan Ban Thống nhất, Ban Tổ chức Trung ương, cũng như Bộ Giáo dục và Đào tạo, với thời gian dài góp phần tích cực của mình trong chiến lược “trồng người” của Bác Hồ và Trung ương, đã rất vui mừng và vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng thưởng danh hiệu - kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc” vào tháng 4-1999.

    Các thầy, cô giáo, các cô chú bảo mẫu, các cán bộ, nhân viên phục vụ trong các Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc là những người xứng đáng nhất được hưởng vinh dự này vì những đóng góp của họ, vì những thành quả mà họ góp phần tạo dựng cho hôm nay và cho mai sau.

    PHẠM PHỔ THÔNGVui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Con trai của Trung tướng Đồng Văn Đê - quê ở Nam Bộ.
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Nguyên cán bộ Ban Thống nhất Trung ương.
     
    Rafa thích bài này.
  10. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    BÁC HỒ VỚI HỌC SINH MIỀN NAM TẬP KẾT


    Chúng tôi nghe kể lại: một trong những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 là bộ đội và cán bộ miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) phải tập kết ra miền Bắc. Trong điều khoản, không nói đến lực lượng tập kết là thiếu nhi, học sinh. Nhưng nhìn xa, hiểu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đề xuất đưa học sinh, thiếu nhi miền Nam được tập kết ra miền Bắc học tập trong thời gian đấu tranh hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhiều đồng chí còn kể lại: khi đồng chí Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào Nam để nắm tình hình chuyển quân, Bác đã căn dặn đồng chí Hoàng Quốc Việt là nhắc nhở các cấp, các ngành quân, dân, chính ở miền Nam thực hiện nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo việc đưa thiếu nhi, học sinh miền Nam tập kết theo đúng tiêu chuẩn, chính sách, khẩn trương và bảo đảm an toàn. Bác dặn đi dặn lại đồng chí Hoàng Quốc Việt là phải thi hành triệt để quyết định của Trung ương và của Bác. Lúc bấy giờ, nhiều đồng chí chưa thông (đơn giản nghĩ rằng tập kết chỉ có 2 năm, khí hậu miền Bắc giá rét), nên chưa làm tốt công tác này, nhất là ở các tỉnh Nam Bộ.

    Cuối năm 1954, tất cả thiếu nhi, học sinh miền Nam đi theo đường biển đều tập kết an toàn lên biển Cửa Hội (Nghệ An) và Sầm Sơn (Thanh Hóa). Mặc dù mới về Thủ đô và bận trăm công nghìn việc, nhưng Bác rất quan tâm và luôn thăm hỏi tình hình tập kết của cán bộ, bộ đội và các cháu thiếu nhi, học sinh miền Nam. Các đoàn đại biểu Trung ương từ Hà Nội vào thăm các nơi điều dưỡng, an dưỡng miền Nam đều chuyển quà bánh và lời thăm hỏi ân cần của Bác, nhất là đối với thiếu nhi, học sinh miền Nam lần đầu tiên xa gia đình. Tết năm 1955, không thể vào Thanh Hóa và Nghệ An để thăm và chúc Tết cán bộ, bộ đội và học sinh, thiếu nhi miền Nam vừa tập kết, Bác gửi thư chúc Tết và cho người chuyển quà bánh vào tặng. Thư chúc Tết của Bác ưu tiên giấy trắng, lời lẽ ngắn gọn, nhưng tình cảm nồng hậu bao la. Bác hỏi thăm sức khỏe các cháu thiếu niên và nhi đồng miền Nam tập kết. Sau một thời gian điều dưỡng, đầu năm 1955, theo gợi ý của Bác, Bộ Giáo dục quyết định thành lập các trường nội trú dành riêng cho con em cán bộ, bộ đội miền Nam, gọi là Trường học sinh miền Nam. Cũng theo gợi ý của Bác, các Trường học sinh miền Nam đều phải chuyển ra các tỉnh thuộc Bắc Bộ cũ và gần Hà Nội, Hải Phòng. Phần lớn các Trường học sinh miền Nam đều ở Hà Đông và Hải Phòng. Các Trường học sinh miền Nam không trực thuộc Ty và Sở Giáo dục, mà do Khu Giáo dục học sinh miền Nam, trực thuộc Bộ Giáo dục quản lý. Bên cạnh Trường học sinh miền Nam có Trại Nhi đồng miền Nam, do cụ bà Nguyễn An Ninh phụ trách. Trại gần 300 cháu từ 3 đến 6 tuổi, đều là con em cán bộ miền Nam tập kết, trong đó có những cháu “đặc biệt” có ba má đang trực tiếp chiến đấu ở miền Nam.

    Mấy năm đầu hòa bình được-lập lại ở miền Bắc, mặc dù bận công việc, nhưng Bác Hồ là người đặc biệt quan tâm đến cán bộ, bộ đội và thiếu nhi, học sinh miền Nam nhiều nhất. Sự quan tâm rất lớn của Bác đối với học sinh miền Nam tập kết thể hiện ở thư từ, công văn, chỉ thị và ở từng việc làm cụ thể, sâu sắc, chu đáo, làm cho ai nấv đều xúc động (từ sự quan tâm, chăm sóc của Bác đối với học sinh miền Nam tập kết toát lên tấm lòng và tình thương bao la của Bác đối với miền Nam, đối với cách mạng miền Nam). Ngày 1-6-1955, nhân ngày, Quốc tế Thiếu nhi đầu tiên được tổ chức ở nước ta sau hòa bình lập lại, Bác đã gửi thư cho “các cháu và các cán bộ các Trường miền Nam”. Bác viết rất thân mật, đầy tình nghĩa yêu thương : “Bác muốn đi thăm các cháu và các cô, các chú, nhưng vì bận nhiều việc quá chưa đi được”. Trong thư, Bác ân cần căn dặn “các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ”, “đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé”, “đoàn kết giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác”, ‘đoàn kết giữa các cháu miền Nam với các cháu và đồng bào địa phương”, “phải yêu lao động, giữ kỷ luật”, “chớ tự do phóng túng”, “phải tự lực cánh sinh”, “không nên làm nũng”, “phải thi đua, thi đua học tập, thi đua trong mọi việc”.

    [​IMG]
    [​IMG]
    Bác Hồ đến thăm, thầy cô giáo và các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng nhân dịp 1-6-1957
    [​IMG]
    [​IMG]
    Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Trường Dân tộc Trung ương -
    Tết Bính Thân (12-2-1956)

    [​IMG]
    Bác Hồ về thăm và nói chuyện với giáo viên, học sinh
    các Trường học sinh miền Nam tại Hải Phòng

    [​IMG]
    Bác Hồ đến thăm trường Kathe Kollwitz Heim ở Moritzburg
    tỉnh Dresden - Cộng hoà Dân chủ Đức, Trường dành riêng
    cho học sinh Việt Nam, trong đó hơn 1 /2 là học sinh
    miền Nam tập kết (7-1957)

    [​IMG]
    Bác xúc động khi nói tới đồng bào miền Nam
    (trong phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá I)

    [​IMG]
    Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam
    ra thăm miền Bắc (3-1969)

    Về cán bộ giảng dạy và phục vụ trong các Trường học sinh miền Nam, Bác căn dặn “nên an tâm công tác”, “phải thực thà đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm”, “không đứng núi này trông núi nọ”, “phải thương yêu các cháu như con errt ruột thịt của mình”, “trong công tác, trong học tập, các cô, các chú nên cố gắng thi đua”. Cuối bức thư, Bác viết: “Từ nay, các cháu và các cô, các chú nên tổ chức thi đua, đến ngày Quốc khánh (2-9), Bác sẽ có giải thưởng cho những cháu và những cô, những chú có thành tích khá nhất”.

    Năm 1956, Bác đã đến thăm Trường học sinh miền Nam số 16 tại Chương Mỹ (Hà Đông). Hôm đó, Bác đến bất ngờ. Đây là lần đầu tiên thầy cô giáo và học sinh nhà trường được đón Bác, được gặp Bác. Bác ân cần phát kẹo cho con em cán bộ công nhân viên nhà trường. Trong buổi lễ đón tiếp, Bác thân mật nói chuyện với các thầy, cô giáo và học sinh nhà trường. Bác căn dặn rất kỹ về vấn đề đoàn kết thương yêu, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau... Buổi nói chuyện của Bác bị ngắt quãng nhiều lần vì học sinh vây lấy Bác, như muốn ôm chầm lấy Bác, ai cũng muốn được gần Bác.

    Năm 1957, Bác đến thăm Trường học sinh miền Nam số 24 (Hải Phòng). Năm 1959, Bác cùng với Chủ tịch Tiệp Khắc Nôvốtni đến thăm Trường học sinh miền Nam số 4 Hải Phòng. Bác vào, thăm từ nhà ăn của nhà trường, nhà bếp, kho gạo, nhắc nhờ các cấp dưỡng chú ý giữ gìn vệ sinh, bảo đảm đủ tiêu chuẩn ăn cho các cháu. Buổi đón tiếp Bác và các vị khách quý Tiệp Khắc tổ chức đơn giản, nhưng thân mật. Tất cả học sinh đến ngồi vây quanh, mời Bác ngồi ờ giữa. Nhưng Bác kéo ghế ngồi sang một bên và nói chuyện thân mật như người nhà với các thầy cô giáo và các cháu. Bác dặn các nữ sinh phải đoàn kết, đừng mặc cảm và tự ái, phải thi đua học giỏi để sau này về xây dựng miền Nam.

    Ngày 18-1-1960, nhân ngày đầu Xuân, Bác về thăm Trường học sinh miền Nam số 12 Hải Phòng, vẫn với bộ quần áo kaki giản dị, Bác bước đi nhanh nhẹn, thân mật và niềm nở lạ thường. Tất cả học sinh đều tập trung ở sân trường để nghe Bác nói chuyện. Bác đưa tay bảo các cháu gái ngồi lên trước để cho được gần Bác, còn các cháu trai ngồi ở phía sau. Bằng cử chỉ thân mật như ông cháu, Bác căn dặn các cháu học sinh trong trường phải đoàn kết, giữ gìn trật tự, vệ sinh, phải thực sự yêu lao động, giữ gìn trường lớp đẹp và sạch như công viên. Cuối cùng, Bác bảo các thầy, cô giáo và học sinh phải thi đua, lập nhiều thành tích và báo cáo lên Bác để Bác khen thưởng, và lần sau Bác lại về thăm.

    Mặc dù đã hơn 40 năm, nhưng đến nay, những cán bộ bảo mẫu và những Nhi đồng của Trại nhi đồng miền Nam năm xưa vẫn còn nhớ như in lần đầu tiên Bác Hồ đến thăm. Đó là vào dịp Tết năm 1956, trong lúc cán bộ, nhân viên Trại Nhi đồng miền Nam đang chuẩn bị làm bánh mứt đón Tết, thì một đồng chí cán bộ đến báo tin “có một người khách từ Việt Bắc sắp đến thăm Trại”. Năm phút sau, người khách đó đến. Người khách đó chính là Bác Hồ. Với bộ quần áo kaki bạc màu, đôi dép cao su giản dị, đôi mắt sáng và nụ cười đôn hậu, Bác bước vào Trại, vẫy chào mọi người, Bác đi thẳng xuống thăm nhà bếp, thăm phòng ngủ, nhà ăn và phòng học của các cháu. Lớp nhỏ nhất được đón Bác vào thăm lâu nhất, Bác hỏi: “Các cháu có ngoan không? Có thương các cô không?”. Thế rồi, Bác lấy kẹo chia cho từng cháu. Bác cùng hát với các cháu một bài, rồi Bác về. Mấy hôm sau, Bác gởi tặng Trại 300 đồng tiền nhuận bút viết báo của Bác. Cụ bà Nguyễn An Ninh quyết định dùng 150 đồng để ăn Tết, còn 150 đồng để tăng gia. Nghe tin Trại đang chuẩn bị ao thả cá, Bác liền gởi thùng cá rô phi giống của Bác đang nuôi để biếu cho cô giáo và các cháu. Từ đó trở đi, Tết nào, dù đi thăm và chúc Tết ở đâu, Bác cũng đều không quên gửi quà bánh tặng cho Trại Nhi đồng miền Nam. Lần thứ hai đến thăm Trại, có một câu chuyện làm cho cô và các cháu đến nay vẫn còn nhớ mãi: Bác vào thăm phòng học của các cháu. Trước khi vào phòng mọi người phải bước qua một cái mương nhỏ mới đào. Khi ra về, Bác gọi các cô phụ trách lại và căn dặn: “Các cô nên sửa lại cái mương, phải đào lại cho thật thẳng, thật ngay. Nuôi dạy các cháu, phải chú ý đến những việc như thế!”

    Năm 1957, trên đường đi dự Đại hội các Đảng Cộng sản và Công nhân Quốc tế họp tại Mátxcơva và dự Lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Bác đã ghé vào Khu học xá Trung ương (ở Nam Ninh, Trung Quốc) để thăm cán bộ và học sinh Việt Nam đang học tập. Trong buổi họp mặt đón Bác, câu đầu tiên Bác hỏi đồng chí Giám đốc là về số lượng nữ và học sinh miền Nam hiện đang theo học ở đây. Đồng chí Giám đốc không nắm được số lượng cụ thể, Bác liền phê bình. Bác căn dặn cán bộ, nhân viên, các thầy cô giáo Việt Nam và chuyên gia nước ngoài cần nỗ lực và cố gắng hơn nữa trong việc nuôi dạy các cháu học sinh miền Nam. Những năm về sau, vấn đề đoàn kết, bảo vệ của công ở các khu nội trú của học sinh Việt Nam ở nước ngoài không được tốt, Bác đã nhiều lần cử đồng chí Hà Huy Giáp (khi ấy là Thứ trưởng Bộ Giáo dục) sang động viên và chỉ bảo cụ thể. Bác căn dặn đồng chí Hà Huy Giáp, phải có thái độ đúng mức trong cách đối xử và giải quyết vấn đề chính sách đối với các học sinh miền Nam. Đối với các Trường Nguyễn Văn Bé và Nguyễn Văn Trỗi đóng ở nước ngoài sau này Bác đều luôn luôn quan tâm, khi thì đến thăm, khi thì cử người đến thăm hỏi và chăm sóc mọi mặt.

    Học sinh miền Nam ngày càng trưởng thành, sự quan tâm của Bác ngày càng lớn. Mặc dù không trực tiếp nhưng lúc nào Bác cũng quan tâm đến việc nuôi, dạy và học ở các Trường học sinh miền Nam. Mỗi khi nghe tin một số học sinh ở các Trường học sinh miền Nam chưa ngoan, chưa chăm học, còn gây mất đoàn kết, hay đánh nhau, làm ảnh hưởng không tốt đến địa phương, Bác đều trực tiếp chỉ thị cho Ban Thống nhất và Phòng Giáo dục học sinh miền Nam của Bộ Giáo dục đến tận nơi bàn biện pháp giải quyết thấu tình đạt lý. Bác dặn Bộ Giáo dục giải quyết mọi việc ở các Trường học sinh miền Nam đều phải báo cáo với Bác. Vì lý do nào đó không đến thăm được, Bác cử Bác Tôn, và các đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Lựu và Hồ Thị Bi đến thăm các Trường học sinh miền Nam. Năm 1959, Bác Tôn thay mặt Bác Hồ đến thăm Trường học sinh miền Nam 28 ở Hà Nam và tặng nhà trường một số quần áo bông để cấp phát cho học sinh. Tháng 7 năm 1962, nhân kỷ niệm 7 năm đấu tranh thống nhất nước nhà, Khu Giáo dục học sinh miền Nam tổ chức triển lãm thành tích các trường ở Câu lạc bộ Thống nhất. Bác đã đến thăm triển lãm, thấy học sinh miền Nam nuôi heo gà, trồng trọt, chăn nuôi khá, Bác rất vui, nhưng Bác căn dặn các thầy cô giáo viên là nên để thời gian cho các cháu học. Bác nói: “Đảng, Bác và nhân dân miền Nam mong “nuôi dạy” cho các cháu học sinh miền Nam học tốt, chứ có yêu cầu các cháu sản xuất đâu?”. Trong việc giải quyết tiêu chuẩn, chính sách và chế độ cấp phát ở các Trường học sinh miền Nam, Bộ Giáo dục và Ban Thống nhất Trung ương đều xin ý kiến của Bác. Từ việc cung cấp lương thực, tiền sinh hoạt phí đến việc xây dựng cơ sở vật chất, tuyển lựa giáo viên, công nhân viên miền Bắc vào các Trường học sinh miền Nam đều phải có ý kiến của Bác. Bác thường xuyên cho người đến Ban Thống nhất và Bộ Giáo dục nắm tình hình nuôi dạy và ăn ở của các Trường học sinh miền Nam. Hằng nẰm, gần như trở thành lệ, cứ gần đến dịp Tết, Bác cho gọi điện sang Ban Thống nhất và Bộ Giáo dục hòi về việc chuẩn bị Tết ở các Trường học sinh miền Nam, đồng chí Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Phú Soại (lúc đó hai đồng chí là Trưởng và Phó Đoàn Đại diện Thường trực Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở miền Bắc) kể lại, đang đêm có điện từ Phủ Chủ tịch hỏi về việc chuẩn bị Tết cho học sinh miền Nam vừa ờ chiến trường ra. Hai đồng chí báo cáo đầy đủ việc chuẩn bị Tết cho các cháu, lúc đó Bác mới an tâm. Tết nào, Bác cũng cho người điện nhắc các cấp, các ngành và ủy ban hành chính các tỉnh có Trường học sinh miền Nam phải chuẩn bị chu đáo về gạo nếp, đậu xanh, kẹo bánh... Chính Bác Hồ là người đã gợi ý cho các địa phương có Trường học sinh miền Nam đón học sinh miền Nam về các gia đình ăn Tết để thắt chặt tình đoàn kết Bắc - Nam. Bác luôn luôn căn dặn các cấp, các ngành và các thầy cô giáo: “Học sinh miền Nam là vốn quý của miền Nam, vì vậy, nhiệm vụ của các cô, các chú là phải chăm sóc, nuôi dạy các cháu cho chu đáo, phải bảo đảm tiêu chuẩn, phải thực sự thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình”.

    Bác Hồ luôn quan tâm từng bước trưởng thành của học sinh miền Nam. Học sinh miền Nam càng lớn khôn, sự quan tâm, chăm sóc của Bác càng nhiều. Bắt đầu từ năm 1960, số học sinh miền Nam vào các trường đại học ngày càng nhiều và số lượng các Trường học sinh miền Nam cũng giảm đi. Thêm vào đó là thế hệ mới học sinh miền Nam ở chiến trường ra học tập ở miền Bắc. Được Bộ Giáo dục báo cáo cho biết, số lượng học sinh miền Nam ở các trường đại học trong và ngoài nước ngày một đông, Bác rất vui. Tuy vậy, Bác vẫn thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành, các bộ và các trường đại học và trung học chuyên nghiệp phải dành sự ưu tiên để đào tạo cán bộ khoa học cho miền Nam. Đối với hai ngành Y tế và Sư phạm, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo cho miền Nam. Ngày 21-10-1964, Bác cùng với Tổng thống Mali, Môđibô Câyta vào thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi nói chuyện, Bác đề nghị đồng chí Giáo sư Hiệu trưởng Phạm Huy Thông báo cáo cho Bác về số lượng nữ và học sinh miền Nam hiện đang học ở trường. Bác tỏ vẻ hài lòng và nói: “Có 800 các cháu miền Nam, như vậy là rất tốt, dần dần phải thêm nữa. Bởi vì chúng ta phải gắn liền nhiệm vụ ủng hộ miền Nam với công cuộc xây dựng miền Bắc. Vì vậy, ở miền Bắc, trong mọi việc, dạy và học cũng thế, mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt, ở đây, cũng như các ngành khác, phải đào tạo cán bộ cho miền Nam, để đến ngày nước nhà thống nhất, các cháu ấy về góp phần xây dựng miền Nam thân yêu”.

    Hơn bốn mươi năm trước, ngay từ những ngày đầu, Bác Hồ đã nghĩ đến việc bồi dưỡng và đào tạo một thế hệ cán bộ cách mạng cho miền Nam. Bác Hồ ước mong “phải đào tạo cán bộ cho miền Nam, để đến ngày nước nhà thống nhất, các cháu ấy về góp phần xây dựng miền Nam thân yêu”... Ước muốn đó của Bác đến nay đã trờ thành hiện thực. Có ai ngờ, mới ngày nào một thế hệ học sinh miền Nam tuổi lên chín, lên mười, quần soọc, áo cánh, với chiếc ba lô, đôi dép cao su từ các vùng Khu 5, Nam Bộ, Tây Nguyên theo các chú bộ đội xuống tàu tập kết, hoặc còn bỡ ngỡ trong bộ quần xanh áo trắng, chiếc nón lá và bộ đồ bà ba ngang vai, đến nay, sau mấy mươi năm được Đảng, Bác và nhân dân miền Bắc nuôi dạy, thế hệ học sinh miền Nam ấy đã trướng thành và trở về xây dựng miền Nam ruột thịt.

    Nhiều học sinh miền Nam năm nào nay là những cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta, là Bộ, Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, thành phố, là Giám đốc, Phó Giám đốc, Chánh, Phó Hiệu trưởng, là các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng hiện đang công tác tại khắp các lĩnh vực ờ miền Nam và cả nước... Công lao đào tạo “vốn quý”, “hạt giống đỏ” đó cho miền Nam chính là do Đảng, Bác Hồ, nhân dân miền Bắc, nhưng người tâm huyết, dày công vun xới, chăm lo là Bác Hồ vô vàn kính yêu của chúng ta.

    TS. HỒ SĨ HIỆP*
    ______

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Phó Trưởng Khoa Văn - Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, cựu học sinh Trường học sinh miền Nam số 28 Hà Nam.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/5/15
    Rafa thích bài này.
  11. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...
    Bài đọc thêm:

    NHỮNG ANH TÀI CỦA
    TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM TRÊN ĐẤT BẮC

    Liệt sĩ - nhà thơ Lê Anh Xuân, tác giả của 'Dáng đứng Việt Nam'; NSND Trà Giang; nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được; Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân... là những gương mặt ưu tú của trường học sinh miền Nam.

    Từ năm 1960 khi miền Bắc dồn lực chi viện cho chiến trường miền Nam, hàng chục nghìn cán bộ, giáo viên, học sinh trường miền Nam tình nguyện trở về giải phóng quê nhà. Họ góp mặt trên tất cả các chiến trường, là cán bộ, chiến sĩ, quân y, phóng viên, nhạc sĩ... Nhiều người trong số đó được tặng huân, huy chương, danh hiệu Anh hùng, dũng sĩ... và không ít đã anh dũng hy sinh như: nhà báo Chu Cẩm Phong (phóng viên Thông tấn xã Việt Nam), anh hùng Nguyễn Kim Vang, Phùng Ngọc Tường...

    [​IMG]
    Liệt sĩ - nhà thơ Lê Anh Xuân (bên trái) chụp cùng chị Loan, vợ nhà văn Anh Đức và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu tại Hà Nội năm 1964. (Ảnh tư liệu.)

    Liệt sĩ - nhà thơ Lê Anh Xuân (1940-1968, quê Bến Tre, tên thật là Ca Lê Hiến), sau khi tốt nghiệp ĐH Tổng hợp Hà Nội, được chọn ở lại trường giảng dạy, nhưng đã tình nguyện đi B. Không nề hà gian khổ, anh có mặt trên nhiều vùng chiến sự ác liệt và hàng đêm vẫn làm thơ. Từ tuyến lửa phương Nam, các tác phẩm của anh như: "Trở về quê nội", "Gặp những anh hùng", "Mùa xuân Sài Gòn, mùa xuân chiến thắng"... được các báo lớn trong và ngoài nước đăng tải.

    Năm 1968, Lê Anh Xuân sáng tác bài "Dáng đứng Việt Nam" với niềm xúc động tự hào về cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, qua dáng đứng hiên ngang của người chiến sĩ, chết rồi vẫn ở thế tiến công quân thù.

    "...
    Anh đã ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất,
    Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng,
    Và anh chết trong khi đang đứng bắn...
    Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ,
    Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường,
    Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ
    Anh là chiến sĩ Giải phóng quân...
    Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất,
    Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân".


    Bài thơ ngay lập tức được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam và nhanh chóng lan tỏa, thôi thúc bao thanh niên Việt Nam tham gia cứu quốc. Hai tháng sau, Lê Anh Xuân hy sinh trong một trận càn, nhưng tác phẩm của anh đã được lưu truyền, trở thành một biểu tượng bi tráng của dân tộc anh hùng cầm súng chống giặc ngoại xâm. "Dáng đứng Việt Nam" khi góp mặt trong chương trình sách giáo khoa, đã được nhiều thế hệ học sinh về sau yêu thích.

    Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, học sinh trường miền Nam số 24, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sau là Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam. Năm 1954, ông theo cha ra Bắc tập kết, mẹ ở lại quê hương Quảng Ngãi với cậu út mới một tháng tuổi.

    Nguyễn Văn Nghĩa sau đó được đi học lái máy bay MIG-21 ở nước ngoài rồi về nước lập nhiều chiến công trên bầu trời bảo vệ miền Bắc. Biên đội MIG-21 do Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa đã được chọn bay dọc đại lộ Công Lý trong lễ mừng Đại thắng mùa xuân 1975 (ngày 15/5/1975) tại TP HCM.

    Sau khi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và chỉ thị phải làm chủ máy bay F.5 của Mỹ, Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa là người đầu tiên chuyển sang lái thành thạo máy bay F.5. Trung đoàn của ông cũng trở thành đơn vị tiêm kích bom đầu tiên của không quân Việt Nam và sau đó được phong danh hiệu Anh hùng.
    [​IMG]
    Đại tá phi công, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Nghĩa.
    (Ảnh tư liệu.)

    Sau ngày đất nước giải phóng, học sinh trường miền Nam tiếp tục góp sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhiều người trong số đó trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội như: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh, Chánh án Toà án nhân dân tối cao Việt Nam Trương Hòa Bình, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được, cựu Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Khoa Điềm...

    Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được (học sinh trường miền Nam số 24 Hà Đông, Hà Nội) luôn được bạn bè nể phục vì thành tích học tập xuất sắc. Học hết chương trình phổ thông, ông thi vào khoa Cơ khí của ĐH Bách khoa. Nhờ lực học giỏi, ông sau đó được chọn đi học tại Liên Xô và kết nạp Đảng Lao động Việt Nam ngay tại ĐH Bách khoa Kharkov.

    Về nước, ông Trương Quang Được được bố trí đi dạy ĐH nhưng lại hăm hở vác balô đi cơ sở ở Nhà máy cơ khí 19-8 tại Hải Phòng. Từ một kỹ sư xông xáo, sáng tạo, ông Trương Quang Được liên tục được đề bạt các chức vụ cao hơn trong nhà máy, Đảng bộ Hải Phòng, Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 8/2002, ông được cử làm Phó chủ tịch Quốc hội đến hết nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007).

    Trong công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng tinh nhuệ, hiện đại, các học sinh trường miền Nam cũng có những đóng góp quan trọng. Nhiều người trở thành tướng lĩnh tài năng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như: Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công an; Thượng tướng Trương Quang Khánh; Trung tướng Bùi Quang Bền; Thiếu tướng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Tôn Thất...

    Rất nhiều học sinh miền Nam trở thành những nhà khoa học đầu ngành trong các lĩnh vực như: GS.TSKH Nguyễn Khoa Sơn - Phó chủ tịch Hội Khoa học vũ trụ Việt Nam; GS.TS nhà giáo nhân dân Nguyễn Thanh Tuyền; GS.TSKH nhà giáo nhân dân Lê Du Phong… Học sinh miền Nam cũng góp mặt trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của nước nhà với nhiều tên tuổi nổi tiếng như: nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền với "Hát mãi khúc quân hành"; NSND Tường Vi, NSND Trà Giang, NSND Lâm Tới, NSND Đinh Xuân La, NSND Đàm Liên…

    Chia sẻ về những năm tháng được nuôi dưỡng, đào tạo trên đất Bắc để trở thành người có ích, diễn viên điện ảnh Trà Giang gọi "đó là những phần thưởng quý báu nhất mà tôi may mắn có được... Tôi luôn ghi nhớ với niềm biết ơn sâu sắc".


    (Theo Quỳnh Trang, nguồn Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link)​
     
    Rafa thích bài này.
  12. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...

    TRƯỜNG NỘI TRÚ HỌC SINH MIỀN NAM
    MỘT MÔ HÌNH GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT


    Trong thành tích to lớn của 50 năm Cách mạng Việt Nam (1945 - 1995) có thành tích rực rỡ của sự nghiệp giáo dục. Trong thành tích vẻ vang của sự nghiệp giáo dục có sự đóng góp đáng kể thành tích 20 năm (1955 - 1975) tồn tại và phát triển của các Trường nội trú học sinh miền Nam trên miền Bắc ruột thịt. Có thể nói Trường nội trú học sinh miền Nam trên miền Bắc suốt thời kỳ chống Mỹ - ngụy là một mô hình giáo dục đặc biệt, hiếm thấy trong lịch sử giáo dục truyền thống Việt Nam và của cả thế giới. Nó làm phong phú thêm thành tích, kinh nghiệm về khoa học giáo dục của đất nước.

    Muốn biết Trường nội trú học sinh miền Nam là một mô hình giáo dục đặc biệt, hiếm thấy, trước hết xin nói về quá trình hình thành và phát triển của nó.

    Thực hiện Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết vào tháng 7 - 1954, cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam được tập kết ra Bắc. Và theo lệnh của Bác Hồ và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, một số con em của đồng bào miền Nam được đưa ra miền Bắc để học tập, nuôi dưỡng, đào tạo thành những cán bộ, chiến sĩ phục vụ cho cách mạng miền Nam nói riêng và cho cách mạng Việt Nam nói chung. Đó là những con em của đồng bào yêu nước, của những gia đình thương binh, liệt sĩ, của những cán bộ, đảng viên... Vì công cuộc đấu tranh Cách mạng ở miền Nam trước mắt là vô cùng gian khổ, ác liệt, nên không có điều kiện, hoàn cảnh nuôi dạy con cháu. Và vì vậy, trong suốt thời kỳ chống Mỹ - ngụy, với nhiều hoàn cảnh và con đường khác nhau, lần lượt học sinh miền Nam được đưa ra miền Bắc để học tập ngày càng đông về số lượng, đa dạng về thành phần dân tộc, về giới tính, về tuổi đời, về địa phương cư trú (khắp các địa phương, từ vĩ tuyến 17 trở vào) và không đồng đều về trình độ văn hóa, cũng như nhận thức, tư tưởng. Ra miền Bắc, những học sinh này rất bỡ ngỡ, chưa thích nghi với khí hậu, môi trường, lạ lẫm về phong tục, tập quán, chưa quen với giọng nói, cách ăn, ở, học tập, và hầu hết đều không có gia đình. Vì vậy, không thể gửi những học sinh này vào học cùng với học sinh miền Bắc, mà phải tổ chức thành các trường nội trú để nuôi dạy, đào tạo các cháu cho thích hợp. Như vậy, loại hình các Trường nội trú học sinh miền Nam đã được hình thành ở nhiều tỉnh, thành: Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Vĩnh Phú, Đông Triều, Hà Tây... Ngay từ những năm đầu (từ 1955 - 1956 đến 1957 - 1958) có đến 28 trường cho học sinh người Kinh và một trường dành cho các dân tộc ít người ở miền Nam (trên 40 dân tộc ít người từ vĩ tuyến 17 trở vào). Có trường đóng riêng lẻ ở một địa phương (như ở Hà Nam, Vĩnh Phú); có nhiều trường đóng trong cùng một địa phương (Hải Phòng, Đông Triều, Hà Đông); có trường phổ thông cấp I, cấp II, cấp III riêng rẽ. Có trường có cả ba cấp I, II, III ( Trường Nguyễn Văn Bé, Trường Dân tộc miền Nam Trung ương); có trường nam riêng, nữ riêng; có trường dành riêng cho học sinh Hoa kiều (Trường 17); có trường phổ thông riêng, bổ túc văn hóa riêng... Thật là đa dạng.

    Số lượng học sinh luôn luôn biến động theo từng thời kỳ. Ở thời kỳ đầu (1955 - 1960) số lượng học sinh tương đối ổn định: khoảng 12.000 học sinh phổ thông, chủ yếu là cấp I, cấp II và một số ít ở cấp III, và khoảng 1.300 học sinh bổ túc văn hóa các cấp. Thời kỳ tiếp theo (1960 - 1968), sau Phong trào Đồng khởi ở miền Nam, số học sinh lớn tuổi (đã trực tiếp tham gia chiến đấu chống Mỹ - ngụy) tăng lên nhiều, khoảng 2.000. Các trường phổ thông cấp I giảm đi vì học sinh lên cấp II, và do vậy, các trường cấp II, cấp III tăng lên nhiều. Một số trường bổ túc văn hóa được thành lập thêm để đón nhận những học sinh từ chiến trường miền Nam mới vượt Trường Sơn ra.

    Từ các năm 1964 - 1965, giặc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Chúng cho máy bay bắn phá, dội bom nhiều nơi. Trường học cũng là mục tiêu hủy diệt của chúng. Chúng đã bắn phá, dội bom giết hại hơn 100 học sinh Trường Phổ thông cấp II Hương Phú (Hương Khê - Hà Tĩnh). Trước tình hình đó, để bảo toàn tính mạng cho học sinh miền Nam, Trung ương Đảng, Chính phủ, và Bộ Giáo dục chủ trương: đưa những học sinh miền Nam có gia đình ở miền Bắc về với gia đình, học chung với học sinh miền Bắc ở các trường ngoài; đưa toàn bộ học sinh ở các trường nội trú học sinh miền Nam sơ tán về Đông Triều (năm học 1965 - 1966); đến năm học 1966 - 1967, đưa toàn bộ học sinh miền Nam ở Đông Triều, Móng Cái và học sinh Trường Dân tộc Trung ương sang Quế Lâm (Trung Quốc), thành lập Khu Giáo dục học sinh miền Nam Quế Lâm, gồm các Trường Võ Thị Sáu (nhi đồng), Nguyễn Văn Bé (cả ba cấp I, II, III), và Trường Dân tộc miền Nam Trung ương.

    Ngay sau cuộc Tổng tấn công, nổi dậy ở miền Nam (Tết Mậu Thân), số học sinh cấp I, II vượt Trường Sơn ra miền Bắc lại tăng lên (khoảng 3.000 học sinh người Kinh và dân tộc). Vì vậy, một số Trường nội trú học sinh miền Nam lại được thành lập ở một số địa phương, như Thái Nguyên, Thái Bình, Lục Nam, Hưng Yên. Đến đầu năm 1975, tổng số học sinh miền Nam ở trong nước và ngoài nước (Quế Lâm) lên đến gần 7.000.

    Sau chiến thắng 30-4-1975, theo Chỉ thị của Trung ương, Bộ Giáo dục đã chuyển toàn bộ số học sinh miền Nam về Nam bàn giao cho các Sở Giáo dục địa phương. Các Trường nội trú học sinh miền Nam kết thúc vai trò lịch sử vè vang của nó sau 20 năm gánh vác trách nhiệm hết sức nặng nề, nhưng vô cùng vẻ vang: nuôi, dạy, đào tạo học sinh miền Nam.

    Đến nay, chúng ta có thể kiểm nghiệm lại kết quả của công cuộc nuôi dạy, đào tạo học sinh miền Nam. Thời gian cũng đã đủ để chúng ta thấy rằng: Các Trường nội trú học sinh miền Nam đã đào tạo hàng vạn con em miền Nam thành những người lao động giác ngộ xã hội chủ nghĩa, thành những cán bộ, chiến sĩ có đức, có tài, làm nòng cốt vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, ra sức xây dựng Tổ quốc độc lập, hòa bình, thống nhất, xã hội chủ nghĩa. Nhiều học sinh miền Nam trước kia nay đã có mặt trên mọi lĩnh vực công tác, chiến đấu, từ 'Irung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đến các địa phương trong cả nước. Nhiều học sinh miền Nam đã trở thành tướng lĩnh, anh hùng quân đội, anh hùng lao động, bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, chủ tịch tỉnh, thành phố, kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân... tất cả đều được đào tạo, rèn luyện ban đầu từ mái trường nội trú học sinh miền Nam. Những điều học sinh miền Nam được học tập, rèn luyện đã biến thành tư tưởng, tình cảm, tài năng, đạo đức chi phối mọi hoạt động, công tác của chính họ. Nhận định như vậy thật không quá đáng, vì có người hiện đang ở cương vị lãnh đạo một thành phố lớn đã tâm sự chân thành: “Tất cả những khả năng tôi có được bây giờ đều do nhà trường hồi đó rèn giũa từ thuở ban đầu. Không chỉ đơn thuần là kiến thức, mà còn là ý thức cộng đồng, là tình bạn, tình đồng chí trung thực, thủy chung...” [1]. Và cũng có vị anh hùng vừa được phong tặng đã trả lời các nhà báo: “Tất cả những việc tôi đã làm, tôi đều học tập, làm theo các thầy, cô, chú, các bạn tôi ở các Trường học sinh miền Nam thân yêu của chúng tôi ...” [2].

    Từ kết quả đào tạo tốt đẹp đó, chúng ta có thể khẳng định: Trường nội trú học sinh miền Nam - một mô hình giáo dục đặc biệt - đã đóng góp cho ngành giáo dục Việt Nam nhiều bài học bổ ích về nhiều mặt : tổ chức, xây dựng đội ngũ, nội dung, phương pháp giáo dục, rèn luyện... mà chúng ta cần trân trọng áp dụng để làm phong phú thêm kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam, về chiến lược đào tạo con người rất tài giỏi của Bác Hồ, của Đảng ta.

    NGUYỄN CÓ*​
    ______

    [1] Xem bài “Quê hương là một mái trường” của Lan Hương, Đặc san “Sự kiện và Nhân chứng”, số tháng 2-1995.
    [2] Theo lời kể của đồng chí Hồ Đình Phương, nguyên Hiệu trường Trường học sinh miền Nam, số 24, Đông Triều.
    [*] Cựu giáo viên các Trường học sinh miền Nam.
     
    Rafa and laithanhtuan like this.

Chia sẻ trang này