Hoàn thành G The Dandelion Girl - Robert F. Young

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi hotaru bukoro, 22/8/16.

  1. hotaru bukoro

    hotaru bukoro Mầm non

    Nguyên tác: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link (Cô gái bồ công anh)

    Tác giả: Robert F. Young

    Người dịch: Hotaru Bukuro

    Thể loại: Sci-fi, Romance

    Rating: G

    Tình trạng: Hoàn thành

    Tóm tắt:

    Ngày hôm trước em thấy một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.

    Translator’s Note:

    Mình chỉ tình cờ biết đến truyện ngắn The Dandelion Girl qua một bài review cho biết anime CLANNAD lấy cảm hứng từ tác phẩm này và một cái fanfic của KHR. Nhận thấy đây là một truyện hay mà không thấy ai dịch nên ham hố thực hiện. Lần đầu dịch một tác phẩm văn học nên mong ném đá nhẹ tay.

    Vì không có ai beta dùm mà truyện này khá dài (>5000 từ) nên để dễ chỉnh sửa mình sẽ chia ra làm 2 phần để dễ đối chiếu, chỉnh sửa hoàn chỉnh.

    Mình cũng đồng thời đăng bản dịch này ở Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link của mình.


    Mục lục:

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/16
    Heoconmtv and lynx like this.
  2. hotaru bukoro

    hotaru bukoro Mầm non

    Cô gái trên đồi khiến Mark nghĩ đến Edna St. Vincent Millay(1). Có lẽ bởi vì cái cách nàng đứng đó trong ánh chiều tà, mái tóc nhạt màu bồ công anh nhảy múa trong gió; có lẽ bởi vì cái cách tà váy trắng lỗi thời nàng mặc đang xoay tròn trên đôi chân dài và mảnh khảnh. Trông kiểu nào đi nữa, anh cũng đều có cái ấn tượng nàng bằng cách nào đó đã từ trong quá khứ nhảy đến hiện tại; và thật là kì lạ, vì hóa ra, nàng không bước ra từ quá khứ, nàng đến từ tương lai.



    (1) một nữ thi sĩ người Mỹ, bà là người đã dịch tập thơ Les Fleurs du Mal ("Những bông hoa ác") của Charles Baudelaire ra tiếng Anh



    Anh dừng lại cách xa một quãng sau lưng nàng, thở khó nhọc vì việc leo bộ. Nàng vẫn chưa nhận thấy anh, anh tìm cách khiến nàng biết sự có mặt của mình mà không làm nàng hoảng. Trong khi cố suy nghĩ, anh lấy ra một cái tẩu, cho thuốc vào và châm lửa, khum tay quanh phần phễu và rít cho đến khi thuốc lá bắt khói. Khi anh nhìn nàng lần nữa, nàng quay lại dán mắt vào anh đầy vẻ tò mò.

    Anh đi chậm rãi về phía nàng, tinh tế nhận ra sự gần gụi của bầu trời, tận hưởng cảm giác gió lùa vào mặt. Anh nên đi cuốc bộ thường xuyên hơn, anh tự dặn mình thế. Anh đã bước đi rất khó nhọc qua khu rừng để lên đến ngọn đồi, và giờ rừng cây nằm sau anh, làm bùng lên nhẹ nhàng một ngọn lửa âm ỉ của thu sang, và xa xăm bên rừng cây là một cái hồ nhỏ bổ sung thêm cái cabin và chiếc cầu nổi trên hồ. Khi vợ anh bất đắc dĩ bị triệu hồi vào bồi thẩm đoàn, anh buộc phải đi nghỉ mát một mình trong hai tuần mà anh đã cố sắp xếp trong đợt nghỉ du lịch hè của mình và phải gắng gượng tiếp tục với tình trạng cô đơn, câu cá trên chiếc cầu nổi qua ngày và đọc sách cho qua những tối mát mẻ trước lò sưởi, và anh đã đi bộ vào rừng chẳng vì mục đích hay lối dẫn nào để rồi cuối cùng anh đến được ngọn đồi và trèo lên và gặp cô gái.

    Đôi mắt nàng xanh biếc, anh thấy khi anh tiến đến gần nàng – xanh như màu trời đã in đậm bóng hình nàng. Khuôn mặt nàng hình trái xoan và trẻ trung và mềm mại và ngọt ngào. Điều ấy gợi lên trong anh một xúc cảm quen thuộc từng trải khiến anh phải đè nén một sự thôi thúc với tay chạm vào đôi gò má được mơn man bởi làn gió của nàng, và dù bàn tay không vươn ra, anh cảm thấy đầu ngón tay ngứa ran.

    Tại sao, mình bốn mươi tư rồi, anh nghĩ đầy nghi hoặc, và nàng ấy thậm chí chưa tới hai mươi. Chuyện trời thần gì xảy ra với mình thế này? “Cô đang tận hưởng khung cảnh sao?” anh hỏi lớn.

    “Ồ, vâng,” nàng đáp và quay lại và xoay cánh tay theo một vòng bán nguyệt đầy phấn khởi. “Không phải đơn giản là quá diệu kì sao!”

    Anh hướng theo tầm mắt cô. “Đúng,” anh nói “đúng thế.” Bên dưới họ rừng cây trải dài lần nữa, lan rộng đến những vùng thấp trong những dải màu trầm ấm tháng Chín, ôm ấp những thôn nhỏ vài dặm đường xa xa, cuối cùng ngừng hẳn trước khi chạm đến những đồn điền đầu tiên của vùng ngoại ô biên giới. Ở nơi tít tắp đằng xa, sương mù vẽ nét mềm mại cho bóng hình khúc khuỷu của Cove City, cho nó vay mượn diện mạo một lâu dài thời Trung cổ nằm sóng soài, khiến nó trông ít thực tế hơn là một giấc mơ. “Cô cũng đến từ Cove City à?” anh hỏi.

    “Theo một cách nào đó thì có,” nàng nói. Nàng mỉm cười với anh. “Em đến từ Cove City của hai trăm bốn mươi năm sau kể từ thời điểm này.”

    Nụ cười nói với anh rằng nàng không mong anh tin nàng, nhưng hi vọng anh đủ tử tế để giả vờ là anh tin. Anh cười đáp. “Nghĩa là hai nghìn hai trăm lẻ một năm sau Công nguyên phải không nhỉ?” anh nói. “Tôi tưởng tượng vùng này khi ấy hẳn là trù phú lắm.”

    “Vâng, đúng vậy,” nàng đáp. “Bây giờ nó là một phần của khu siêu đô thị và trải dài mọi nẻo đến tận đó.” Nàng chỉ vào bìa rừng dưới chân họ. “Đường Thứ Hai Ngàn Bốn Mươi chạy xuyên thẳng qua lùm cây thích ngọt đằng kia,” nàng tiếp tục, “và anh có thấy những hàng bồ kết đằng kia không?”

    “Có,” anh nói, “Tôi thấy rồi.”

    “Đó là nơi đặt khu thương mại. Siêu thị của nó lớn đến nỗi mất tới nửa ngày tham quan, và anh có thể sắm gần như bất kì cái gì từ thuốc viên cho tới xe hơi bay. Và kế bên siêu thị, nơi những hàng sồi kia mọc, là một cửa hàng bán váy lớn vừa tung ra những mẫu sáng tạo mới nhất từ những nhà tạo mẫu hàng đầu. Em mua chiếc váy đang mặc ở đó mới sáng nay thôi. Nó đẹp một cách giản dị phải không anh?”

    Nếu chiếc váy có đẹp là cũng nhờ nàng. Dù nghĩ thế, anh cũng ngắm nó với vẻ lịch sự. Chiếc váy được cắt may từ một loại vật liệu anh chưa từng biết đến, loại vật liệu có vẻ là một phức hợp của kẹo bông gòn, bọt biển, và tuyết. “Tôi cho là cô du hành đến đây bằng máy thời gian,” anh nói.

    “Vâng. Cha em sáng chế ra một cái.”

    Anh nhìn nàng với khoảng cách gần. Anh chưa từng ngắm một biểu cảm ngây thơ nhường ấy. “Và cô có đến đây thường xuyên không?”

    “Ồ, vâng. Đây là khoảng không-thời gian phối hợp ưa thích của em. Em thỉnh thoảng đứng đây hàng giờ chỉ để ngắm và ngắm và ngắm. Ngày hôm trước em gặp một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.”

    “Nhưng sao có thể có ngày hôm qua,” Mark hỏi, “nếu cô luôn luôn trở về trong một mốc thời gian duy nhất?”

    “Ồ, em hiểu ý anh rồi,” nàng nói. “Nguyên nhân là vì cỗ máy cũng chịu ảnh hưởng bời dòng chảy thời gian như bất kì thứ gì khác, và anh phải điều chỉnh nó lại mỗi hai mươi bốn tiếng để trở về chính xác khoảng phối hợp cũ. Em chưa từng làm thế vì em thích mỗi ngày hoàn toàn khác nhau khi em trở về.”

    “Cha cô chưa từng đi cùng cô sao?”

    Trên đầu họ, đàn ngỗng trôi dạt lười biếng theo hình chữ V, và nàng nhìn chúng một lúc trước khi cất tiếng. “Cha em giờ là người tàn tật rồi,” nàng cuối cùng cũng nói. “Ông rất muốn đến nếu ông có thể. Nhưng em tả lại hết cho ông những gì em thấy,” nàng thêm vào nhanh chóng, “và ông nói rằng nó giống hệt như khi ông đến. Anh cũng sẽ nói thế đúng không?”

    Có một sự hăm hở trong cái cách nàng trông đợi ở anh đã thật sự khiến anh cảm động. “Tôi chắc chắn thế,” anh nói – rồi, “Việc sở hữu một cỗ máy thời gian hẳn là tuyệt vời lắm.”

    Nàng rầu rĩ gật đầu. “Chúng đem lại sự thoải mái cho những con người thích đứng trên những cánh đồng cỏ dễ chịu. Ở thế kỉ hai mươi ba chẳng còn sót lại mấy cánh đồng dễ chịu.”

    Anh cười. “Chúng cũng chẳng còn lại mấy ở thế kỉ hai mươi đâu. Tôi đoán cô có thể gọi cánh đồng đây là một mẫu vật của nhà sưu tầm. Tôi phải đến đây thường xuyên hơn mới được.”

    “Anh sống ở gần đây à?” nàng hỏi.

    “Tôi đang trú trong một cái cabin cách đây ba dặm đường. Tôi cố sắp xếp một chuyến nghỉ mát, nhưng nó thành ra hỏng bét. Vợ tôi bị triệu hồi vào bồi thẩm đoàn, và khi tôi không thể trì hoãn nữa, tôi đành phải trở thành chàng Thoreau(2) bất đắc dĩ. Tôi tên là Mark Randolph.”


    (2) Henry David Thoreau: là nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học người Mỹ. Ông nổi tiếng về việc xây dựng và sống trong một ngôi nhà trong rừng. Tác phẩm "Walden - Một mình sống trong rừng" của ông đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam.


    “Em là Julie,” nàng nói. “Julie Danvers.”

    Cái tên thật hợp với nàng. Cũng như cái cách chiếc váy trắng hợp với nàng – cái cách bầu trời xanh hợp với nàng, và ngọn đồi và gió tháng Chín. Hẳn nàng sống trong thôn nhỏ trong rừng cây, nhưng chuyện đó hoàn toàn không thành vấn đề. Nếu nàng muốn giả vờ nàng đến từ tương lai, thì cũng ổn với anh. Vấn đề thực sự là cái cách anh cảm thấy khi anh thấy nàng lần đầu, và sự êm ái lan tỏa quanh anh mỗi khi anh ngắm gương mặt dịu dàng của nàng. “Cô làm công việc gì nhỉ, Julie?” anh hỏi. “Hay cô vẫn còn đang đi học?”

    “Em đang học để sau này làm thư kí,” nàng đáp. Nàng bước nửa bước và làm một động tác xoay vòng tuyệt đẹp trên đầu ngón chân và vỗ hai tay trước ngực. “Em yêu cái ý tưởng trở thành thư kí,” nàng tiếp tục. “Nó đơn giản thật là tuyệt diệu khi làm việc trong một văn phòng to lớn, quan trọng và nuốt trôi từng lời những người quan trọng thốt ra. Ngài có muốn tôi trở thành thư kí riêng của ngài không, thưa ngài Randolph?”

    “Tôi sẽ rất hài lòng,” anh đáp. “Vợ tôi từng làm thư kí cho tôi – trước chiến tranh. Đó là cách chúng tôi gặp nhau.” Sao bây giờ anh lại nói chuyện đó nhỉ? Anh tự hỏi.

    “Chị ấy có phải là một thư kí giỏi không anh?”

    “Người giỏi nhất. Tôi đã vô cùng đau khổ khi để mất cô ấy; nhưng khi tôi đánh mất cô ấy ở mặt này, tôi lại có được cô ấy ở mặt khác, nên tôi đoán cô khó có thể nói tôi mất cô ấy được.”

    “Không, em nghĩ anh không thể. Ừm, em phải trở về rồi, ngài Randolph. Cha hẳn sẽ muốn nghe về tất cả những gì em nhìn thấy, và em phải hâm lại bữa tối cho ông.”

    “Liệu ngày mai cô sẽ đến chứ?”

    “Chắc chắn rồi. Em đến đây mỗi ngày. Giờ thì tạm biệt nhé, ngài Randolph.”

    “Tạm biệt, Julie.” anh nói.

    Anh nhìn nàng chạy nhẹ nhàng xuống đồi và mất dạng vào những lùm thích ngọt, nơi mà, trong hai trăm bốn mươi năm kể từ đây, sẽ là đường Thứ Hai Ngàn Bốn Mươi. Anh mỉm cười. Thật là một đứa trẻ dễ mến, anh nghĩ. Hẳn sẽ hấp dẫn lắm khi có một tính cách ưa khám phá không thể kìm nén đến vậy, một sự nồng nhiệt đến thế với cuộc sống. Anh trân trọng hai khả năng ấy đến vậy vì anh luôn phải chối bỏ chúng. Ở lứa hai mươi anh luôn là một chàng trai trẻ u sầu vật lộn với con đường vẽ ra ở trường luật; ở tuổi hai mươi tư anh đã hành nghề, dù nhỏ thôi nhưng nó cũng khiến anh bận rộn liên tục - ừm, cũng không hẳn là hoàn toàn. Khi anh cưới Anne, đã có một khoảng chuyển tiếp ngắn ngủi khiến cho cuộc sống mất dần sự liên tục của nó. Và sau đó, chiến tranh đến cùng, lại có khoảng chuyển tiếp nữa – lần này là một khoảng dài hơn – khi việc mưu sinh trở nên xa vời và thỉnh thoảng là những mưu cầu đáng khinh khác. Sau khi anh trở về cuộc sống thường nhật, dù vậy, sự liên tục đã quay về như để báo thù, phần nhiều là vì giờ đây anh đã có một cậu con trai cũng như một người vợ để hỗ trợ, và anh trở nên bận rộn hơn bao giờ hết, ngoại trừ bốn tuần du lịch anh thường xuyên tự thưởng cho mình mỗi năm, hai tuần anh dành cho Anne và Jeff ở một khu nghỉ dưỡng do họ chọn và hai tuần anh nghỉ mát cùng Anne, sau khi Jeff trở về trường đại học, trong cái cabin bên hồ. Năm nay, dù vậy, anh đành dành hai tuần cuối cùng một mình. Ừm, có thể không hẳn là một mình.

    Cái tẩu của anh đã cháy hết được một lúc, và anh thậm chí còn chẳng để ý. Anh châm lửa lần nữa, vẽ những làn sâu thẳm vào gió, rồi anh xuống đồi và bắt đầu đi ngược vào rừng để đến cabin. Ngày thu phân sắp đến và những ngày quý giá càng ngắn ngủi hơn. Ngày đã sắp tàn lắm rồi, và sự ẩm ướt của buổi chiều tối bắt đầu lan tỏa vào khí trời mờ sương.

    Anh bước chậm rãi, và mặt trời đã lặn khi anh tới được hồ. Đó là một hồ nước nhỏ, nhưng sâu, và những cái cây ngả rạp xuống rìa hồ. Cabin dựng cách ra xa một quãng phía sau bờ hồ nơi những cây thông mọc, và một lối nhỏ lộng gió gắn liền với cây cầu nổi. Đằng sau nó là một con đường lái xe rải sỏi dẫn tới một con đường đầy bụi nối liền đến đường cao tốc. Trạm ga nơi chiếc mui trần của anh đặt ngay cửa sau, sẵn sàng vẫy gọi anh trở về cuộc sống thường nhật chỉ với một khoảng khắc lưu ý.

    Anh chuẩn bị và ăn một bữa tối đạm bạc trong căn bếp, rồi đi vào phòng khách để đọc sách. Sự rung động trong túp lều rền rĩ to nhỏ, nhưng dù vậy buổi tối vẫn không bị vấy bẩn bởi những thanh âm quen thuộc với đôi tai của một người hiện đại được thừa kế(3). Lựa chọn một tuyển tập thơ Mỹ từ chiếc kệ sách được đóng chắc chắn bên lò sưởi, anh ngồi xuống và lần giở đến bài Chiều tà bên đồi(4). Anh đọc bài thơ quý báu ba lần, và mỗi lần đọc anh đều nhìn thấy nàng đứng trong nắng, mái tóc nhảy múa trong gió, chiếc váy xoay tròn như tuyết rơi dịu dàng quanh đôi chân thon dài đáng yêu; và một cục nghẹn dâng lên trong cổ họng anh, và anh không nuốt trôi nổi.



    (3) Ý tác giả chắc là người hiện đại quá quen thuộc với những tiếng ồn đến nỗi thành di truyền luôn

    (4) Afternoon on a Hill: một bài thơ của Edna St. Vincent Millay


    Anh đặt sách trở vào kệ và ra ngoài và đứng dưới mái vòm thô kệch và được lấp đầy và châm lửa cái tẩu. Anh bắt mình nghĩ về Anne, và như thường lệ khuôn mặt cô nổi bật hẳn lên – cái cằm cương nghị nhưng dịu dàng, đôi mắt ấm áp đầy nhân ái với dấu hiệu kì lạ của một nỗi sợ trong chúng mà anh không bao giờ cắt nghĩa nổi, gò má vẫn mềm mại, nụ cười hiền dịu – và mỗi điều tượng trưng ấy càng làm hấp dẫn hơn bởi những kí ức về mái tóc nâu sáng rung động và vẻ đẹp cao ráo uyển chuyển của cô. Luôn luôn trong những khi anh nghĩ về cô, anh thấy mình thán phục bởi vẻ đẹp không có tuổi của cô, kinh ngạc bởi cái cách cô lặn lộn qua bao nhiêu năm tháng mà vẫn luôn đáng yêu như cô đã từng cái buổi sáng rất lâu về trước ấy khi anh ngước lên, giật thót, và thấy cô đứng đó rụt rè trước bàn làm việc của anh. Thế nên không thể hiểu được là chỉ trong vòng hai mươi năm sau anh lại nồng nhiệt mong đợi một cuộc hẹn gặp với một cô gái quá sức tưởng tượng, đủ trẻ để đáng tuổi làm con gái anh. Ừm, anh không hề - mà thật ra cũng không hẳn. Anh có rung động trong một khoảnh khắc – tất cả chỉ có thế. Trong một khoảnh khắc sự cân bằng mẫn cảm đã rời bỏ anh, anh đã dao động. Giờ chân anh đã trở về vị trí nơi nó thuộc về, và thế giới đã trở lại quỹ đạo đúng đắn và hợp lý.

    Anh gõ sạch cái tẩu và đi vào trong. Trong phòng ngủ anh thay đồ và chui vào đống chăn nệm và tắt đèn. Giấc ngủ sẵn sàng đến, nhưng không hề; và khi nó cuối cùng cũng đến, nó thành những mảnh vỡ rải rác với những giấc mơ đầy châm chọc.

    “Ngày hôm trước em gặp một con thỏ,” nàng đã nói thế, “ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.”


    ~o~


    (còn tiếp)
     
    Chỉnh sửa cuối: 8/12/16 lúc 00:02
    Heoconmtv thích bài này.
  3. hotaru bukoro

    hotaru bukoro Mầm non

    Vào buổi chiều ngày thứ hai, nàng mặc một chiếc váy xanh dương và một dải ruy băng xanh dương đồng bộ buộc trên mái tóc màu bồ công anh. Sau khi chật vật với ngọn đồi, anh đứng ngẩn một lúc, không cử động, đợi cho cơn co thắt nơi cổ họng qua đi; rồi anh bước đến và đứng cạnh nàng trong cơn gió. Nhưng dáng cong mềm nơi cần cổ và cằm nàng mang sự co thắt ấy trở lại, và khi nàng quay lại và nói, “Xin chào, em không nghĩ anh sẽ đến,” một khoảng lặng dài trước khi anh có thể đáp lại.

    “Nhưng tôi đã đến,” cuối cùng anh cất lời, “và cô cũng vậy.”

    “Vâng,” nàng đáp. “Em vui lắm.”

    Một tảng đá granite nhô ra gần đó có hình dạng gần với một băng ghế, và họ ngồi xuống nó, đưa tầm mắt bao trọn khắp vùng đất. Anh cho thuốc vào tẩu và châm lửa và phả khói vào cơn gió.

    “Cha em cũng hút tẩu,” nàng nói, “và khi ông châm lửa, ông cũng khum tay giống hệt như anh, dù không hề có gió. Ông ấy và anh giống nhau ở khá nhiều điểm.”

    “Kể tôi nghe về cha cô đi,” anh nói. “Kể tôi nghe về bản thân cô nữa.”

    Và nàng kể, rằng nàng hai mươi mốt, rằng cha nàng là một nhà vật lý học từng làm việc cho chính phủ nay đã nghỉ hưu, rằng họ đang sống trong một căn hộ nhỏ trên đường Thứ Hai Ngàn Bốn Mươi, và rằng nàng luôn trông nhà cho cha kể từ khi mẹ nàng mất bốn năm về trước. Đến lượt, anh kể cho nàng về bản thân và Anne và Jeff – về việc anh dự định nhận Jeff vào làm cho anh một ngày nào đó, về Anne với chứng sợ máy ảnh và cái cách nàng từ chối chụp hình vào ngày cưới của họ và cứ mãi chối từ kể từ khi ấy, về quãng thời gian tuyệt vời mà ba người họ có được trong chuyến cắm trại họ đi vào mùa hè năm ngoái.

    Khi anh dứt lời, nàng nói, “Anh có một cuộc sống gia đình thật tuyệt vời. Một-chín-sáu-mốt thật là một năm tuyệt đỉnh để sống!”

    “Với một cỗ máy thời gian được tuỳ ý sử dụng, em có thể dịch chuyển đến đây bất cứ lúc nào em thích.”

    “Không hẳn dễ dàng đến vậy đâu. Cho dù em không đời nào nghĩ đến việc rời bỏ cha em, thì luôn có cảnh sát thời gian giám sát. Anh thấy đó, du hành thời gian chỉ giới hạn cho những thành viên tham gia những cuộc thám hiểm nhằm đảm bảo giữ gìn lịch sử từ chính phủ và hoàn toàn ngoài tầm với đối với cộng đồng dân thường.”

    “Em có vẻ giải quyết ổn thỏa hết mà.”

    “Đó là vì cha em sáng chế một cỗ máy cho riêng ông, và cảnh sát thời gian không hay biết gì về nó.”

    “Nhưng em vẫn phá luật đó thôi.”

    Nàng gật đầu. “Nhưng chỉ trong mắt họ thôi, chỉ trong sự hiểu biết về quan niệm thời gian của họ thôi. Cha em có quan niệm riêng.”

    Thật là dễ chịu khi nghe nàng trò chuyện đến nỗi nàng nói về điều gì chăng nữa cũng không quan trọng, và anh muốn nàng cứ tiếp tục mãi, dù chủ đề nàng đề cập có phi thực tế đến thế nào. “Kể cho tôi về nó đi,” anh nói.

    “Đầu tiên, em sẽ nói anh biết về quan niệm chính thống. Vì những người đã chứng thực nó nói rằng không ai từ tương lai nên tác động vật lý vào bất kì thứ gì diễn ra trong quá khứ, bởi vì sự hiện diện của người đó sẽ tạo nên một nghịch lý, và những sự kiện trong tương lai sẽ biến đổi để nghịch lý đó được đồng hóa. Do đó Bộ Du hành Thời gian đã đảm bảo rằng chỉ có những cán bộ đã được ủy quyền mới có thể truy cập vào những cỗ máy thời gian của họ, và đào tạo một lực lượng cảnh sát để bắt giữ những kẻ nhảy-thế-hệ vốn mong mỏi một lối sống đơn giản hơn và cải trang thành những nhà sử học để có thể vĩnh viễn trở về một một kỷ nguyên khác.

    “Nhưng theo quan niệm của cha em, quyển sách thời gian đã được viết sẵn. Từ quan điểm vĩ mô ấy, cha em nói, mọi thứ sắp xảy đến đã xảy ra rồi. Chính vì vậy, nếu một người từ tương lai tham gia vào một sự kiện trong quá khứ, người đó trở thành một phần của sự kiện đó – vì lý do đơn giản là người đó đã là một phần của sự kiện đó ngay từ ban đầu – và nghịch lý không hoàn toàn có thể xảy ra.”

    Mark rít tẩu một hơi sâu. Anh cần nó. “Cha em có vẻ là một người phi thường,” anh nói.

    “Ồ, ông là vậy đấy!” Sự nồng nhiệt tô đậm thêm sắc hồng nơi gò má nàng, làm sáng thêm màu xanh thẳm của đôi mắt. “Anh không tin được bao nhiêu sách ông đã đọc đâu, ngài Randolph. Này nhé, căn hộ bọn em ngập tràn chúng! Hegel và Kant và Hume (1); Einstein và Newton và Weizsäcker(2). Em đã – em đã tự đọc một số cuốn.”



    (1) Ba nhà triết học nổi tiếng thế giới, bạn nào học triết hẳn quá quen thuộc ^_^

    (2) Richard von Weizsäcker: là tổng thống Tây Đức thời chiến tranh lạnh và cũng là tổng thống đầu tiên của nước Đức thống nhất sau chiến tranh lạnh.



    “Tôi cũng thu thập rất nhiều. Và thực tế là, tôi cũng đọc những cuốn như vậy.”

    Nàng ngẩn lên nhìn anh vô cùng say mê. “Thật tuyệt làm sao, ngài Randolph,” nàng nói. “Em cá là chúng ta còn khá nhiều sở thích tương đồng!”

    Cuộc tán gẫu xảy ra sau đó đã chứng minh đầy thuyết phục rằng đúng là vậy – cho dù mỹ học siêu nghiệm (3), chủ nghĩa Berkeley (4) và thuyết tương đối là những chủ đề không hề phù hợp cho một người đàn ông và một cô gái cùng tranh luận trên một đỉnh đồi tháng Chín, anh phản bác ngay lập tức, ngay cả khi người đàn ông đã bốn mươi tư và cô gái mới hai mươi mốt. Nhưng hạnh phúc thay họ có sự bù trừ lẫn nhau – cuộc tranh luận sôi nổi của họ về mỹ học siêu nghiệm còn làm được nhiều hơn việc luận ra tiên nghiệm và hậu nghiệm kết luận, nó còn luận ra được những ngôi sao vi mô trong mắt nàng; sự công kích của họ với Berkeley còn làm được nhiều hơn là chỉ ra những điểm yếu cố hữu trong học thuyết của vị giám mục giỏi giang, nó còn chỉ ra được sắc hồng nơi gò má nàng; và việc nhận xét thuyết tương đối còn làm nhiều hơn việc chứng minh rằng E chắc chắn bằng mc2; nó còn chứng minh được rằng khác xa với việc trở thành một trở ngại, sự hiểu biết là một gia tài để thể hiện vẻ quyến rũ nữ tính.



    (3) Transcendental esthetic

    (4) Berkeleianism: một hệ thống triết học của Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. Thành tựu triết học chính của Berkeley là việc ông đưa ra một học thuyết gọi là “chủ nghĩa phi vật chất” (immaterialism), sau được gọi là chủ nghĩa duy tâm chủ quan (subjective idealism). Học thuyết này được tổng kết bởi câu châm ngôn của ông: “Esse est percipi” – “Tồn tại nghĩa là được nhận thức bằng tri giác”



    Xúc cảm đến từ khoảnh khắc ấy nấn ná lâu hơn lẽ ra nó được phép tồn tại, và nó vẫn bám theo tận khi anh vào giường. Lần này anh thậm chí còn không cố nghĩ đến Anne; anh biết rằng cũng không ích gì. Thay vì vậy anh chỉ nằm đó trong bóng tối và đóng vai vật chủ cho bất kì ý nghĩ ngẫu nhiên nào đó đến cùng – và tất cả những gì chúng quan tâm là một đỉnh đồi tháng Chín và một cô gái mang mái tóc màu hoa bồ công anh.

    Ngày hôm trước em thấy một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.

    Sáng hôm sau anh lái xe đến thôn nhỏ và kiểm tra tại bưu điện xem có thư gửi đến cho anh không. Không có lá nào. Anh không ngạc nhiên. Jeff không ưa viết thư giống hệt như anh, và Anne, ngay lúc này, hẳn đang bị giam lỏng. Theo sự rèn luyện từ anh, anh cấm thư kí riêng làm phiền mình vì bất kì điều gì trừ những vấn đề cấp thiết nhất.

    Anh cân nhắc xem có nên hỏi vị giám đốc thư viện già nua rằng liệu có bất kì gia đình họ Danvers nào sống trong khu vực. Anh quyết định không hỏi. Làm như vậy tức là đã ngầm phá hoại công trình của niềm tin mà Julie xây nên, và cho dù anh không tin vào hiệu lực của công trình, anh cũng không đành lòng đạp đổ nó.



    Chiều hôm ấy nàng mặc một chiếc váy vàng cùng sắc độ với mái tóc nàng, và lần nữa cổ họng anh thắt lại khi anh gặp nàng, và lần nữa anh không nói nên lời. Nhưng khi khoảnh khắc đầu tiên qua đi và ngôn từ đến cùng, mọi chuyện đã ổn, và những ý nghĩ của họ bừng nở như hai con suối réo rắt và chảy đầy hoan hỉ suốt theo dòng lạch của buổi chiều tà. Lần này khi họ chia tay, nàng là người hỏi, “Liệu ngày mai anh sẽ đến chứ?” – dù nàng chỉ cướp lại câu hỏi từ môi anh – và những từ ngữ ấy rộn ràng trong tai anh khắp mọi ngả dọc từ khu rừng đến cabin và ru anh ngủ sau một buổi tối anh dành ra với chiếc tẩu dưới mái vòm.

    Buổi chiều kế tiếp anh trèo lên ngọn đồi, nó trống trơn. Lúc đầu sự thất vọng khiến anh vô cảm, và rồi anh nghĩ, cô ấy bận, hẳn là vậy. Nàng chắc chắn sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào. Và anh ngồi xuống trên băng ghế bằng đá granite để đợi. Nhưng nàng không đến. Nhiều phút trôi qua – nhiều giờ liền. Những cái bóng trườn ra từ khu rừng và trèo dần lên ngọn đồi. Khí trời trở lạnh hơn. Cuối cùng, anh bỏ cuộc, và bước một cách đáng thương trở về hướng cabin.

    Buổi chiều tiếp theo nàng cũng không xuất hiện. Cũng như ngày kế tiếp. Anh chẳng màng ăn uống cũng như đi ngủ. Câu cá trở nên nhạt nhẽo. Anh không thể đọc sách nữa. Và trong suốt thời gian đó, anh căm ghét bản thân – căm ghét bản thân vì hành xử như một nam sinh si tình, vì phản ứng như bất kì gã ngốc bốn mươi nào khác trước một khuôn mặt xinh đẹp và một cặp chân đẹp đẽ. Cho đến tận cách đó vài ngày anh chưa bao giờ đến mức phải ngắm một người phụ nữ nào khác, và ngay tại đây chỉ trong vòng chưa tới một tuần anh không chỉ ngắm một nàng mà còn phải lòng nàng ấy.

    Hi vọng đã chết trong anh khi anh leo lên ngọn đồi vào ngày thứ tư – và rồi nó chợt sống lại khi anh thấy nàng đang đứng trong ánh mặt trời. Nàng đang mặc một chiếc váy đen vào lần này, và anh lẽ ra nên đoán được lý do cho sự vắng mặt của nàng; nhưng anh không hề – cho đến khi anh đến chỗ nàng và thấy những giọt lệ khởi nguồn từ đôi mắt nàng và đôi môi run rẩy đã thể hiện ra. “Julie, chuyện gì vậy?”

    Nàng níu lấy anh, vai nàng rung lắc dữ dội, và ấn khuôn mặt vào áo khoác của anh. “Cha em mất rồi,” nàng nói, và một cách nào đó anh biết rằng đây là những giọt nước mắt đầu tiên của nàng, rằng nàng đã ngồi đó không hề khóc suốt nghi lễ thức canh quan tài và suốt đám tang và chưa từng suy sụp cho đến tận lúc này.

    Anh vòng tay quanh nàng đầy dịu dàng. Anh chưa từng hôn nàng, và anh không hôn nàng bây giờ, không hẳn. Môi anh ấn vào trán nàng và khẽ chạm vào mái tóc – chỉ có thế. “Tôi rất tiếc, Julie,” anh nói. “Tôi biết cha em có ý nghĩa với em nhiều thế nào.”

    “Ông biết rõ rằng ông đang hấp hối,” nàng nói. “Ông hẳn đã biết kể từ cuộc thí nghiệm nguyên tố stronti 90 (5) do ông chỉ đạo ở phòng thí nghiệm. Nhưng ông không bao giờ cho bất cứ ai biết – ông thậm chí không cho em biết… Em không thiết sống nữa. Không có ông thì chẳng còn gì trên đời khiến em muốn sống nữa – không gì hết, không gì hết, không gì hết!”



    (5) Theo Wikipedia: Cơ thể người hấp thụ stronti giống như canxi. Do sự tương đồng về đặc điểm hóa học của các nguyên tố này, các dạng ổn định của stronti có thể không gây nguy hại đáng kể đối với sức khỏe trong thực tế, các mức hàm lượng stronti được tìm thấy trong tự nhiên có thể có lợi – nhưng đồng vị phóng xạ 90Sr có thể gây ra những rối loạn về xương khác nhau, như ung thư xương.



    Anh ôm cô thật chặt. “Em sẽ tìm thấy ai đó, Julie. Ai đó. Em hẵn còn trẻ. Em vẫn còn trẻ con, thật đấy.”

    Đầu nàng sững lại, và nàng đột ngột ngước đôi mắt khô nước nhìn anh. “Em không phải trẻ con! Anh đừng có gọi em là một đứa trẻ!”

    Giật mình, anh buông nàng và lùi lại. Anh chưa từng thấy nàng nổi giận trước đây. “Tôi không có ý …” anh mở lời.

    Cơn giận của nàng cũng chóng phai đi như khi nó đột ngột xuất hiện. “Em biết anh không có ý làm tổn thương em, ngài Randolph. Nhưng em không phải trẻ con, thật sự em không phải. Hứa với em anh sẽ không bao giờ gọi em như thế một lần nào nữa.”

    “Được rồi,” anh nói. “Tôi hứa.”

    “Và giờ em phải đi,” nàng nói. “Em có cả ngàn việc phải làm.”

    “Liệu – liệu ngày mai em sẽ đến chứ?”

    Nàng ngắm anh một lúc lâu. Một màn sương mù, như dư âm từ một cơn mưa bóng mây mùa hạ, khiến đôi mắt xanh sáng lấp lánh. “Cỗ máy thời gian sắp hỏng rồi,” nàng nói. “Nó có vài bộ phận cần được thay thế – và em không biết cách thay thế chúng. Cỗ máy của bọn em – của em, có lẽ chỉ đủ dùng cho một chuyến đi nữa thôi, nhưng em không chắc.”

    “Nhưng em sẽ thử đúng không?”

    Nàng gật đầu. “Vâng, em sẽ thử. Và ngài Randolph này?”

    “Vâng, Julie?”

    “Trong trường hợp em không vượt qua được – và xin hãy ghi nhớ rằng – em yêu anh.”

    Nàng vụt đi ngay sau đó; chạy nhẹ nhàng xuống ngọn đồi, và một khắc sau nàng mất dạng nơi lùm cây thích ngọt. Tay anh run rẩy khi anh châm tẩu, và que diêm làm phỏng những ngón tay anh. Sau cùng anh không thể nhớ nổi việc trở về cabin hay nấu bữa tối hay đi ngủ, và hẳn là anh đã làm tất cả những việc trên, bởi vì anh chợt thức giấc trong phòng mình, và khi anh trở vào bếp, đã có những cái dĩa từ bữa tối dựng trên sàn thoát nước.

    Anh rửa đống dĩa và pha cà phê. Anh dành cả buổi sáng câu cá trên cầu nổi, giữ cho đầu óc trống rỗng. Anh sẽ đối mặt với thực tế sau. Giờ đây chỉ cần biết nàng yêu anh là đủ, rằng vài tiếng ngắn ngủi nữa thôi anh sẽ lại gặp nàng. Chắc chắn rằng một cái máy thời gian hỏng hóc cũng nên không có trở ngại gì trong việc dịch chuyển nàng từ thôn nhỏ đến ngọn đồi.

    Anh đến sớm và ngồi xuống băng ghế đá granite và chờ nàng bước ra khỏi rừng và trèo lên dốc. Anh có thể cảm thấy nhịp đập nơi trái tim và anh biết rằng tay anh đang run rẩy. Ngày hôm trước em thấy một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.

    Anh đợi và anh đợi, nhưng nàng không đến. Nàng cũng không đến vào ngày hôm sau. Khi những cái bóng bắt đầu dài ra và khí trời trở lạnh, anh đi xuống đồi và bước vào những lùm cây thích. Ngay lập tức anh tìm thấy một lối đi, và anh nương theo nó vào hẳn trong rừng và xuyên qua khu rừng để đến thôn nhỏ. Anh dừng lại trước bưu điện nhỏ và kiểm tra xem có lá thư nào được gửi đến cho anh không. Sau khi vị giám đốc bưu điện già nua bảo anh không có lá nào, anh chần chừ một chút. “Có – có gia đình nào mang họ Danvers sống xung quanh khu vực này không?” Anh thốt lên.

    Giám đốc bưu điện lắc đầu. “Chưa từng nghe nói về họ.”

    “Hiện tại có đám tang nào trong thị trấn không?”

    “Gần một năm nay đã không có rồi.”

    Sau đó, cho dù anh viếng thăm ngọn đồi mỗi chiều tận khi kì nghỉ của anh hết hạn, anh biết rõ trong tim rằng nàng sẽ không trở lại, rằng nàng với anh đã biến mất hoàn toàn như thể nàng chưa từng có mặt. Những tối anh ám khắp thôn nhỏ, hi vọng trong tuyệt vọng rằng vị giám đốc bưu điện đã nhầm; nhưng anh không thấy dấu hiệu nào của Julie, và miêu tả về nàng của anh cho những người qua đường chỉ gợi lại những lời đáp phủ nhận.



    Đầu tháng Mười anh trở về thành phố. Anh cố hết sức thể hiện trước Anne như thể chẳng có gì thay đổi giữa họ; nhưng cô có vẻ đã biết, ngay từ giây phút cô thấy anh điều gì đó đã thay đổi. Và dù cô không hỏi câu nào, cô càng lặng lẽ và lặng lẽ hơn nữa tuần qua tuần, và nỗi sợ trong mắt cô từng làm anh khó xử trở nên ngày càng rõ hơn.

    Anh bắt đầu lái xe đến thôn quê vào những chiều Chủ Nhật và viếng thăm đỉnh đồi. Khu rừng giờ ngả vàng, Và bầu trời thậm chí còn xanh hơn nó đã từng một tháng trước. Hàng giờ anh ngồi trên băng ghế bằng đá granite, nhìn chằm chằm vào cái điểm nơi nàng biến mất. Ngày hôm trước em thấy một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.



    Rồi, một đêm mưa giữa tháng Mười Một, anh tìm thấy cái va li. Nó của Anne, và anh chỉ tình cờ tìm thấy nó. Cô đi vào thị trấn để chơi bingo, và anh có ngôi nhà cho riêng mình; và sau khi dành hai tiếng xem bốn chương trình ti vi chán ngắt, anh nhớ tới bộ xếp hình để dành từ mùa đông năm ngoái.

    Tuyệt vọng cần một thứ gì đó – bất cứ thứ gì – để khiến tâm trí anh quên đi Julie, anh lên gác lấy chúng. Cái va li rơi xuống khỏi kệ khi anh đang lục lọi trong hàng đống hộp xếp chồng bên cạnh nó, và nó bật mở khi đập xuống sàn.

    Anh gập người xuống để nhấc lên. Nó chính là cái vali cô mang theo cùng đến căn hộ nhỏ họ thuê sau đám cưới, và anh nhớ cái cách cô giữ nó khóa chặt và nhớ cô nói khi đang cười với anh rằng có một số thứ người vợ phải giữ bí mật ngay cả với chồng mình. Cái khóa đã mòn sau ngần ấy năm, và cú rơi làm gãy nó.

    Anh định đóng nắp, dừng lại khi anh thấy viền nhô ra của một chiếc váy trắng. Chất liệu loáng thoáng quen thuộc. Anh từng thấy chất liệu tương đồng với nó cách đây không lâu lắm – chất liệu gợi nhớ đến kẹo bông gòn và bọt biển và tuyết.

    Anh mở nắp va li và nâng chiếc váy lên với những ngón tay run rẩy. Anh giữ váy bằng vai và để nó tự trải xuống, và nó lơ lửng ngay đó trong căn phòng như tuyết đang rơi dịu dàng. Anh ngắm nó một lúc lâu, cổ họng anh thắt lại. Rồi, nhẹ nhàng, anh gấp nó lại và xếp vào va li và đóng nắp. Anh trả va li trở lại hốc tường của nó bên dưới mái ngói. Ngày hôm trước em thấy một con thỏ, ngày hôm qua là một con nai, và ngày hôm nay, là anh.

    Mưa lộp độp trên mái nhà. Cơn co thắt nơi cổ họng anh giờ đây quá sắc buốt khiến anh phải suy ngẫm lúc lâu rằng anh sắp khóc. Chậm rãi anh bước xuống những bậc thang căn gác mái. Anh đi xuống cầu thang xoắn vào phòng khách. Đồng hồ trên lò sưởi cho biết đã mười giờ mười bốn phút. Chỉ trong vài phút nữa chiếc xe buýt chở khách chơi bingo sẽ thả cô xuống góc phố, và cô sẽ đi dọc xuống con đường và bước lên lối đi dẫn vào cửa trước. Anne sẽ … Julie sẽ. Julianne?

    Liệu đó là tên đầy đủ của nàng? Hẳn vậy rồi. Người ta chắc hẳn sẽ giữ lại một phần tên gốc khi họ tạo ra một thân phận mới; và bị buộc phải hoàn toàn thay đổi họ, nàng hẳn đã nghĩ mọi thứ đã ổn nên nàng được tự do chọn tên cúng cơm cho mình. Nàng hẳn cũng làm nhiều thứ khác, thêm vào việc thay tên đổi họ, để trốn tránh cảnh sát thời gian. Thảo nào cô không muốn bị chụp hình! Và cô hẳn đã hoảng sợ đến thế nào trong những ngày đằng đẵng của dĩ vãng đó khi cô bước một cách bẽn lẽn vào văn phòng anh để xin việc! Đơn độc tuyệt đối trong một thế hệ xa lạ, không biết rằng quan niệm về thời gian của cha cô có chính xác không, không biết rằng liệu người đàn ông yêu cô khi anh bốn mươi đó có cảm thấy như vậy trước cô khi anh còn ở lứa tuổi hai mươi không. Cô đã trở lại an toàn, hệt như cô đã hứa.

    Hai mươi năm, anh suy nghĩ đầy tò mò, và trong suốt thời gian đó cô ấy chắc chắn phải biết rằng một ngày mình sẽ trèo lên một ngọn đồi vào tháng Chín và thấy cô đang đứng đó, trẻ trung và đáng yêu, trong ánh mặt trời, và lại phải lòng cô lần nữa. Cô phải biết bởi vì khoảnh khắc ấy là một phần quá khứ của cô cũng như một phần tương lai của mình. Nhưng tại sao cô ấy không giải thích với mình? Tại sao ngay bây giờ cô ấy không nói với mình?

    Chợt anh hiểu ra.

    Anh cảm thấy khó thở, và anh đi vào sảnh và mặc vội chiếc áo mưa và bước vào cơn mưa. Anh đi xuống lối đi trong cơn mưa, và mưa trút vào mặt anh và chảy thành giọt xuống má anh, và một vài giọt là nước mưa, và một vài là nước mắt. Làm sao bất kì ai mang vẻ đẹp không có tuổi như Anne – cũng như Julie – đã từng, lại sợ hãi việc già đi? Cô không nhận ra rằng trong mắt anh cô không thể già đi chút nào – rằng với anh cô không hề già đi dù chỉ một ngày kể từ cái khoảnh khắc anh ngước lên từ bàn làm việc và thấy cô đang đứng đó trong văn phòng nhỏ xíu và cùng lúc phải lòng cô? Cô không thể nhận ra rằng đó là lý do tại sao người con gái trên đồi lại như một người xa lạ với anh?

    Anh chạm chân đến mặt đường và đi bộ xuống nơi góc phố. Anh gần đến đó khi chiếc xe buýt chở khách chơi bingo từ từ hiện ra và đậu lại, và cô gái trong chiếc áo khoác dài màu trắng bước ra. Cơn co thắt trong cổ họng anh cứa sắc như dao, và anh không thể thở. Mái tóc mang sắc màu bồ công anh giờ tối hơn, và vẻ quyến rũ trẻ trung nữ tính đã mất đi rồi; nhưng vẻ đáng yêu dịu dàng vẫn hiện diện trên khuôn mặt dịu dàng của cô, và đôi chân dài mảnh khảnh có một vẻ uyển chuyển và cân đối trong ánh sáng nhợt nhạt của ngọn đèn đường tháng Mười Một mà chúng chưa từng biết đến trong ánh hào quang vàng rực của mặt trời tháng Chín.

    Cô bước đến chỗ anh, và anh thấy nỗi sợ hãi quen thuộc trong đôi mắt cô – một nỗi sợ giờ đây thật nhói buốt quá sức cam chịu bởi anh đã hiểu được nguồn cơn gây ra. Cô che đậy trước mắt anh, và anh bước đến bên cô đầy mù quáng. Khi anh đến chỗ cô, mắt anh sạch trong, và anh vươn tay qua năm tháng và chạm vào gò má ướt nước mưa của cô. Cô biết rằng mọi chuyện đã ổn, và nỗi sợ ra đi mãi mãi, và họ rảo bước về nhà tay trong tay dưới cơn mưa.



    END.



    Tài liệu tham khảo:
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     
  4. Derby

    Derby Lớp 8

    Không biết bạn chủ thớt có muốn một sự góp ý hay không? Nếu không, mong bạn bỏ qua cho. :D

    Câu trên được dịch từ nguyên tác, "When his wife had been unexpectedly summoned for jury duty". "Summoned for jury duty" có nghĩa là bà vợ đang phải tham gia vào một vụ xử án với tư cách là một trong 11 jurors (bồi thẩm?).

    Để bảo đảm sự "chí công vô tư" của luật pháp. Ngoài việc áp dụng nguyên tắc "mọi người đều vô tội trước khi bị kết án trước tòa", luật pháp Mỹ còn ấn định "Bồi Thẩm Đoàn" (The Jury) của mỗi vụ xử đều được luật sư hai bên nguyên / bị lựa chọn từ người dân. Áp dụng này nhằm bảo đảm việc mọi người đều có cơ hội được lắng nghe và bào chữa trước tòa. Án lệnh đưa ra không bị ảnh hưởng bởi thành kiến, cảm tính, v.v. Tóm lại, giảm thiểu việc kết án oan.
    Cô gái đứng trên đồi cao, gió mơn man khuôn mặt, tóc bay dạt về phía sau...
    Chỗ này có thể dịch là "gò má đang được gió mơn man (mơn trớn?) không? :D
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/16
    dongtrang and hotaru bukoro like this.
  5. hotaru bukoro

    hotaru bukoro Mầm non

    Cảm ơn bạn nhiều lắm <3 Mình sẽ xem xét sửa lại những lỗi đó. Cụm "wind-kissed cheek" ban đầu mình đã định dịch như vậy nhưng phân vân không biết tác giả thể hiện "wind-kissed" ở dạng tính từ có phải là một cách để ông nói về lúm đồng tiền hay không, và trên GG thì hoàn toàn không có dạng thành ngữ này. Tuy nhiên, bạn đã xem bản dịch gốc và cũng có cảm nhận như vậy thì mình nghĩ là đúng vậy rồi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/16
  6. Derby

    Derby Lớp 8

    Google translator? Mình cũng thường phải nhờ tới nó, và nhiều lúc cười lăn. :D. Tĩnh từ trong tiếng Anh được tạo bởi rất nhiều cách / tự loại khác nhau. Nên nhìn vào ngữ cảnh để chọn từ để có xác xuất đúng cao hơn. :D
    Nguyên tác: "In a way I am" có nên dịch là "Vâng, theo một cách nào đó" không? It's more like Vietnamese. :D
    "Two Thousand and Fortieth Street runs straight through that grove of sugar maples". Sugar maples hay rock maple là một loại cây phong có chứa chất ngọt, thường được dùng để làm maples syrup (ăn với pancake). Tựa như cây mía (sugar cane) được dùng để làm đường vậy. "Runs straight through" là "chạy xuyên qua"
    P.s. Bản thân mình không dịch được như bạn đâu. Nói tóm lại, mình hoàn toàn không biết chuyển ngữ. :D
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/16
  7. hotaru bukoro

    hotaru bukoro Mầm non

    À, mình không dùng Google translator để dịch bao giờ, mình chỉ dùng Vdict để dịch từ thôi. Ý mình khi nói mình dùng Google để tra cụm "wind-kissed cheek" là mình muốn tìm xem có văn bản hay trường hợp nào từng sử dụng cụm từ này không, nhưng không hề có.

    Còn cây Sugar maples thì ở Việt Nam thường gọi là cây phong nhưng khi nói đến loại si rô chiết xuất từ cây phong thì gọi là cây thích ngọt. Bản thân mình thì thích cách gọi thứ hai hơn, vì hồi đó đọc báo Phụ Nữ và từ điển Bách Khoa giới thiệu như vậy nên mình rất thích gọi cây phong là cây thích. :D

    Dù sao cũng cảm ơn bạn rất nhiều vì đã góp ý. Đây là một văn bản rất khó chuyển ngữ và trong quá trình dịch mình đã rất nản vì không có ai biên tập, góp ý và có rất ít người đọc trên blog của mình nên việc dịch phần 2 kéo dài lê thê từ đầu năm đến giữa năm luôn. Cảm ơn bạn lần nữa!
     
    dongtrang thích bài này.
  8. Derby

    Derby Lớp 8

    Mình nghe từ "cây thích ngọt" lạ tai nên nhờ Google Translator dịch "maple" và được trả lời là "phong" :D.
    Đây là lần đầu tiên mình đọc một Vietnamese translation của một truyện tiếng Anh. Và cũng là lần đầu góp ý lôi thôi. :D

    Nếu bạn cần người góp ý thì đã tìm đến đúng nơi. Tve-4u, theo mình biết, có nhiều bạn thông thạo cả hai ngôn ngữ Anh - Việt (trong số đó không có mình :D). Chúc bạn tìm được sự hỗ trợ mạnh mẽ trong những tác phẩm chọn dịch tới :D.
     
  9. dongtrang

    dongtrang Lớp 2

    Sugar mapple người Tàu dịch là đường phong, tức cây phong đường. Nếu dịch theo các nhà thực vật học Việt Nam thì là cây thích đường hay cây thích ngọt. Cây thích trong Nam giáo sư Phạm Hoàng hộ gọi là cây phong hay tích thụ. Thích hay Phong đều có gốc là tiếng Hán Việt. Ở VN có nhiều cây loài cây thích nhưng lại không có cây thích đường.
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/8/16
  10. NQK

    NQK Lớp 8

Chia sẻ trang này