Đang dịch NC-17 The Eye of God - James Rollins

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi teacher.anh, 1/5/15.

  1. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    22_english_the_eye_of_god.jpg

    The Eye of God
    (Tạm dịch: Mắt Chúa)
    Tác giả: James Rollins
    Người dịch: teacher.anh
    Tình trạng: Đang dịch, hố sâu không đáy.
    Phân loại: NC-17, (Gắn cao cao chút cho chắc ăn vì vấn đề có liên quan đến chủ đề nhạy cảm là tôn giáo và khoa học đan xen.)
    Kết cấu: 4 phần với 34 chương + 1 đoạn kết.

    Cảnh báo:

    Truyện này chưa đọc hết và cũng không định đọc hết, trên tinh thần là vừa đọc vừa dịch, lúc nào bế tắc sẽ ở ẩn xả hơi vì có những từ ngữ đặc thù liên quan đến tôn giáo và khoa học, cần có thời gian nghiên cứu cho thấu đáo. Bạn nên suy xét kỹ trước khi đọc.

    Tóm tắt ngắn gọn:

    Một vệ tinh nghiên cứu của quân đội Mỹ đã bị rơi xuống vùng đất hoang dã xa xôi của Mông Cổ gây ra một vụ nổ và một vụ tìm kiếm một vật diễn ra trên diện rộng - cái hộp đen - vật lưu giữ những hình ảnh quan trọng về nguyên nhân gây ra vụ nổ và kết quả nghiên cứu về năng lượng ở lỗ đen vũ trụ. Nguồn năng lượng gắn liền với sự ra đời của thế giới này. Nhưng những hình ảnh cuối cùng ghi lại, lại cho thấy một cảnh tượng rùng rợn: một cái nhìn về tương lai, một hình ảnh về một vụ cháy ở vùng biển thuộc bờ Đông nước Mỹ - trong đống đổ nát.

    Cùng lúc đó tại Vatican, một gói đồ bí ẩn được gửi đến cho đức tổng giám mục, người đứng đầu tòa thánh về một nghiên cứu có liên quan, từ một người đồng nghiệp của ông, người đã biến mất từ thập kỷ trước. Nó gồm có hai vật kỳ lạ: một hộp sọ được viết nguệch ngoạc bằng tiếng Aramaic cổ đại và một quyển chỉ dẫn được làm từ da người. Kết quả xét nghiệm DNA cho thấy chúng đều đến từ cùng một người - Thành Cát Tư Hãn, vị vua Mông Cổ đã chết từ lâu, người mà ngôi mộ cổ chưa được khám phá của ông được đồn đại là nơi cất giữ một kho tàng rộng lớn và lưu giữ lại những kiến thức bí ẩn về một đế chế cổ xưa đã mất.

    Gray Pierce,- người sĩ quan chỉ huy của quân đội Mỹ, và người của tổ chức Sigma - một tổ chức bí mật nghiên cứu về lịch sử của Vatican — cùng tham gia trong cuộc chạy đua hòng tìm kiếm sự thật gắn với sự sụp đổ của đế chế La Mã, một bí ẩn gắn liền với nguồn gốc, sự ra đời của Kitô giáo và một vũ khí bí ẩn trong nhiều thế kỷ gắn liền với số phận của nhân loại...

    Truyện sẽ đưa ta đi tới đâu? Câu hỏi chờ bạn khám phá.

    Mục lục
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Mở đầu
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Phần 1: Crash & Burn
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    3 4 5 6

    Phần 2: Saints & Sinners
    Chương 7 - 17
    Phần 3: Hide & Seek
    Chương 18 - 24
    Phần 4: Fire & Ice
    Chương 25 - 34
    Phần kết.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/10/15
  2. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Dedication

    Dâng Cha

    Người cho chúng con đôi cánh … và cả bầu trời để bay cao

    Epigraph


    - ALBERT EINSTEIN –

    Notes from the Historical Record
    SỰ THẬT LÀ GÌ? Khi đề cập đến quá khứ thì đấy quả là một câu hỏi khó trả lời. Winston Churchill có lần đã cho rằng Lịch sử được viết ra bởi những kẻ chiến thắng. Nếu ông nói đúng, thì những ghi chép của lịch sử có thực sự đáng tin cậy? Những gì được viết ra chỉ lùi về khoảng sáu ngàn năm trước, mà nó cũng chỉ là những ghi chép theo dõi các bước đi ngắn ngủi của con người trên hành tinh này. Và thậm chí những ghi lại này cũng chứa đầy những lỗ hổng khiến khi quay lại nhìn thì lịch sử giống như một tấm thảm cũ kỹ và bị mối mọt cắn đến rách nát. Điều đáng chú ý nhất trong tất cả ấy là, khi nhìn xuống những cái lỗ rách rưới tả tơi ấy thì nó lại là chỗ biến mất chứa đựng những bí ẩn lớn nhất của lịch sử, chờ đợi được tìm lại, bao gồm cả những sự kiện đánh dấu các bước ngoặt quan trọng của lịch sử, những khoảnh khắc hiếm hoi làm thay đổi các nền văn minh.
    Một trong những thời điểm ấy là năm 452 sau Công nguyên, khi mà đội quân cướp bóc của Attila the Hun quét qua miền bắc nước Ý, phá hủy và lấy đi tất cả sự sống của họ. Đối đầu với đám người man rợ của hắn, Rome đã làm tất cả nhưng vẫn không chắc có khả năng bảo vệ, thoát khỏi sự sụp đổ. Đức Giáo Hoàng Leo I đã rời khỏi Roma và đến gặp Attila tại một nơi bên bờ hồ Garda. Đó là một cuộc nói chuyện riêng tư, trong bí mật, không có bất cứ ghi chép nào hay bí mật được lộ ra. Sau cuộc gặp gỡ này, Attila đã quay lưng lại với chiến thắng cận kề, bỏ lại những của cải mà đám người thô lỗ của ông ta đã cướp được của thành Rome, và ngay lập tức rời nước Ý.

    Tại sao? Điều bí mật nào trong buổi mật đàm ấy đã khiến Attila thay đổi từ bỏ chiến thắng cận kề? Lịch sử giấu kín không có câu trả lời.

    Lật giở trang này để khám phá ra chúng ta phá hủy, khép lại quá khứ chính mình như thế nào, ở thời điểm mà nền văn minh phương Tây bản thân nó đã gần như bị đập tan chôn vùi chỉ bởi một thanh kiếm – một thanh kiếm được biết đến dưới cái tên là Thanh gươm của Chúa.

     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  3. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Notes from the Scientific Record
    THỰC TẾ LÀ GÌ? Có hai cách để trả lời cho câu hỏi tưởng chừng như đơn giản này – và đó mới là vấn đề khó khăn nhất. Qua các thời đại, nó đã có sự ngăn cách bởi cả những triết gia và các nhà vật lý. Trong cuốn Cộng hòa, Plato đã mô tả thế giới thực sự không gì hơn chỉ là một cái bóng chập chờn trên bức tường trong hang động. Lạ lùng thay, hàng thiên niên kỷ sau đó, các nhà khoa học sau khi đi một vòng cũng đưa đến một kết luận tương tự.

    Đã có rất nhiều trang như thế này viết về giả thuyết nêu trên (kể cả trong các bản ghi chép bằng tay) nhưng chủ yếu vẫn là không có gì cả. Nhìn sâu hơn vào những dẫn chứng xuất hiện chắc chắn mà bạn có thể thấy một thực tế là mọi thực thể đều được cấu tạo từ những nguyên tử. Giả như tháo bung lớp vỏ bọc của các nguyên tử, bạn sẽ tìm thấy một hạt nhân nhỏ cứng rắn chứa bên trong nó là các hạt proton và nơtron, chúng được giữ và bao bọc xung quanh bởi lớp vỏ rỗng là các electron chuyển động theo một quỹ đạo. Nhưng ngay cả những hạt cơ bản cũng vẫn có thể được chia nhỏ hơn nữa: thành các hạt quark, nơtrino, boson, và cứ như vậy. Càng đi sâu hơn nữa, bạn sẽ thâm nhập vào một thế giới kỳ quái chỉ bị điều khiển nắm giữ bởi các sóng năng lượng, mà có lẽ theo cách nào đó thì nguồn gốc thực sự của lửa chính là cái bóng run rẩy như của Plato.

    Sự kỳ lạ tương tự cũng xảy ra nếu bạn nhìn chăm chú hướng ra bên ngoài, nhìn sâu vào bầu trời đêm, nhìn vào khoảng không bao la vượt quá sự hiểu biết, một khoảng trống vô biên trong đó rải rác hàng tỷ thiên hà. Và thậm chí tầm cỡ của nó cũng chỉ có thể là một trong số rất nhiều khoảng không gian, trải rộng ra ngoài sẽ bước vào một không gian đa chiều. Và đó có phải là tất cả về vũ trụ của chúng ta? Giả thuyết mới nhất đúc kết từ những gì chúng ta kiểm chứng được là từ các chuỗi rung động nhỏ nhất của năng lượng mà suy ra rằng thiên hà khổng lồ chuyển động xung quanh một nơi hình thành một cơn lốc xoáy - trong thực tế nó được bắt nguồn từ các lỗ đen – và có lẽ nói cách khác nó chẳng có gì khác hơn là một hình ảnh ba chiều, một ảo ảnh ba chiều, trên thực tế, có lẽ tất cả chúng ta đều đang sống trong một không gian được tạo ra từ các mô phỏng.

    Có thể điều đó không xảy ra? Có thể Plato đã đúng trong tất cả ngay từ đầu: rằng chúng ta không thể thấy được thực tế xung quanh mình, rằng tất cả những gì chúng ta biết không gì khác hơn chỉ là cái bóng chập chờn nhảy múa trên bức tường?

    Lật giở trang này (nếu như nó có thể được coi là một trang) và tìm kiếm khám phá sự thật đáng sợ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 10/6/16
  4. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Mở đầu (1)

    Mùa hè, năm 453 sau Công nguyên

    Tại trung tâm Hungary

    Đức vua chết một cách từ từ, chậm rãi ngay trên chính chiếc giường cưới của mình.

    Kẻ ám sát quỳ gối ngay cạnh ông ta. Cô vợ thứ bảy của đức vua và là con gái của hoàng tử Burgundy[1], lễ cưới vừa mới diễn ra đêm qua, bằng vũ lực và những âm mưu, nàng đã bị buộc phải kết hôn với thủ lĩnh của đám người mọi rợ này. Tên của nàng, Ildiko, nghĩa là chiến binh dữ dội trong tiếng mẹ đẻ. Nhưng nàng không hề cảm thấy mình run sợ khuất phục khi ở bên cạnh người đàn ông mới chết kia, tên bạo chúa đẫm máu, kẻ nổi tiếng với cái tên Flagellum Dei, kẻ được mệnh danh là tai họa của Thiên Chúa, một huyền thoại sống, kẻ được cho là người nắm giữ thanh kiếm của Scythia - vị thần chiến tranh.

    Tên của ông ta chỉ độc một chữ - Attila[2] - nó có sức mạnh mở toang cánh cổng của các thành trì và phá vỡ các vòng vây, vì vậy mà tên ông ta là nỗi khiếp sợ. Nhưng giờ thì, khi hoàn toàn khỏa thân và đã chết, ông ta trông chẳng khác gì bất cứ người đàn ông nào. Ông ta, nếu đứng lên cũng chỉ nhỉnh hơn nàng một chút, dù vậy, cơ thể ông ta trì xuống bởi những múi cơ dày và khung xương to nặng nề của dân du mục. Cặp mắt của ông ta – to và sâu hoắm – nó khiến nàng liên tưởng đến đôi mắt của một con lợn, đặc biệt là khi ông ta hướng cái nhìn chòng chọc lờ đờ xuống người nàng, lên cơn động đực với nàng suốt đêm, mắt ông ta đỏ ké bởi đã uống quá nhiều rượu trong bữa tiệc cưới của họ.

    Bây giờ đến lượt mình, nàng nhìn ông ta từ trên xuống, đếm từng nhịp thở rin rít, hổn hển, cố đánh giá xem ông ta còn trụ được bao lâu cho đến khi chết hẳn. Nàng biết, hiện giờ nàng phải dè xẻn chút thuốc độc ít ỏi mà đức giám mục Valence đã đưa cho, nó được đưa đến cho ông ta từ tay của đức Tổng Giám mục của nước Áo, tất cả đều được sự tán thành của Vua Gondioc xứ Burgondie. Lo sợ tên bạo chúa có thể nếm thấy vị đắng của thuốc độc trong cốc rượu cưới, khiến nàng trở nên quá nhút nhát và thiếu tự tin.

    Nàng vẫn nắm chặt cái lọ, đã trống rỗng từ hơn nửa giờ trước, cảm thấy có một bàn tay khác, có quyền lực còn cao hơn cả Đức Vua Gondioc, trong âm mưu này. Nàng thấy mình đáng bị nguyền rủa bởi gánh nặng của trọng trách mang đến cái chết nằm trong tay nàng. Làm thế nào mà việc thay đổi vận mệnh của cả thế giới – ở hiện tại lẫn cả trong tương lại – lại đặt hết lên người nàng, một người phụ nữ rồi chỉ vừa bước qua tuổi mười bốn?

    Tuy thế, nàng đã biết đến sự cần thiết phải thực hiện hành động đen tối này từ một nhân vật bí ẩn, đã xuất hiện trước cửa nhà cha nàng từ hơn nửa tháng trước. Nàng đã được đưa đi để làm con tin cho vua của những kẻ mọi rợ, nhưng trong đêm đó, nàng được đưa đến gặp người lạ mặt ấy. Nàng đã kịp nhìn thấy chiếc nhẫn vàng biểu tượng quyền lực của đức Hồng y trên bàn tay trái ông ta trước khi nó bị che dấu đi. Ông ta đã kể với nàng những câu chuyện như – chỉ trong một năm qua – Attila và những người mọi rợ của mình đã cưỡi ngựa rong ruổi qua khắp các thành phố phía bắc nước Ý bao gồm cả Padu và Milan, giết tất cả những ai cản đường đi của họ, những người đàn ông, những phụ nữ, cả những đứa trẻ. Chỉ những ai lẩn trốn ẩn mình trong những dãy núi hay những vùng đầm lầy ven biển mới còn sống sót để kể lại và nói đến sự tàn bạo của ông ta.

    “Rome đã phải chịu số phận bi đát đứng trước nguy cơ sụp đổ dưới lưỡi gươm oan nghiệt của hắn ta,” Đức Hồng y đã giải thích với nàng như vậy khi đứng cạnh nàng bên cái lò sưởi nguội lạnh. “Ai mà biết được số phận sẽ đi đến đâu khi những kẻ mọi rợ đó tiến vào, Đức Giáo hoàng Leo đã phải rời khỏi ngai vị của mình theo yêu cầu đến gặp tên bạo chúa tại một nơi bên bờ hồ Garda.Và dựa vào sức mạnh của giáo hội, Đức giáo Hoàng đã buộc bọn người Hung man rợ phải rời đi.”

    Nhưng Ildiko biết rõ chỉ dựa vào sức mạnh của giáo hội không đủ để buộc những người mọi rợ đó phải rút lui – chính những mê tín dị đoan đã gây tác động khủng bố lên vua của họ.

    Như cảm giác sợ hãi đang lấp đầy bên trong nàng hiện giờ vậy, nàng liếc nhìn cái hộp đang nằm yên trên đầu của cái bục gác chân nằm cuối giường. Nó là một cái rương nhỏ được gửi đến ngày hôm nay như là một món quà đồng thời là lời đe dọa từ Giáo hoàng. Nó không dài hơn cũng chẳng nặng hơn cẳng tay của nàng, nhưng nàng biết bên trong nó nắm giữ vận mệnh của cả thế giới. Nàng sợ chạm vào nó, mở nó ra – nhưng nàng sẽ, một khi người chồng mới của nàng thực sự chết hẳn.

    Nàng có thể khống chế vật đáng sợ này, đó chỉ là vấn đề về thời gian.

    Vẫn còn sợ hãi, nàng nhìn chằm chằm vào ánh sáng le lói hắt qua cánh cửa được đóng kín ngăn cách căn phòng tân hôn với tiệc cưới. Ngoài cửa sổ, ánh hừng đông ló dạng hứa hẹn mở ra một ngày mới. Khi bình minh đến những người của ông ta sẽ sớm gõ cửa phòng ngủ. Vua của họ phải chết trước thời điểm này.

    Nàng nhìn máu đang sủi bọt, vỡ và chảy tràn ra khỏi mũi ông ta qua mỗi nhịp thở. Nàng nghe thấy tiếng rin rít thô ráp vang lên trong ngực ông ta khi ông ta cố trở lưng. Tiếng ho yếu ớt chỉ giúp đưa máu trào ra nhiều hơn tới miệng, nơi mà nó chảy tràn ra chia bộ râu làm hai rồi đi thẳng xuống đọng lại nơi cổ. Mạch đập có thể cảm nhận được ở đó, mờ nhạt như thể bị vũng lầy tăm tối nuốt chửng dần.

    Nàng cầu nguyện cho ông ta chết đi – và nhanh lên.

    Hãy thổi bùng lên ngọn lửa của địa ngục nơi mà ông thuộc về…

    Như thể Thượng đế nghe thấy lời cầu xin của nàng, hơi thở cuối cùng đã trút ra khỏi cổ họng của ông ta và tống đống máu trào ra khỏi miệng – lồng ngực ông ta xẹp xuống và không còn có thể phồng lên được nữa.

    Ildiko khóc nhẹ cả người trong sự giải thoát, chút nước mắt vương trên mắt nàng. Hành động đã được thực hiện. Tai họa của Chúa cuối cùng cũng đã chấm dứt, không còn nữa đổ nát hoang tàn trên thế giới. Dù rằng nó đã không đến sớm hơn.

    Khi Đức Hồng y quay trở lại nhà cha nàng lần nữa, ông ấy đã lên kế hoạch lợi dụng Attila và đội quân của ông ta để quay về Italy. Nàng đã nghe thấy một kế hoạch tương tự trong tiệc cưới, khi chồng nàng với chất giọng khàn khàn lên tiếng xác nhận sẽ cướp bóc thành Rome, kế hoạch của bọn họ là san bằng chôn vùi thành phố dưới lòng đất và giết sạch tất cả. Điềm báo một nền văn minh đứng trước nguy cơ sẽ chôn vùi vĩnh viễn trong bóng tối dưới lưỡi gươm của những kẻ mọi rợ.

    Nhưng với hành động giết người của nàng, thế giới hiện tại đã an toàn.

    Dù vậy, nàng đã không hoàn thành nhiệm vụ.


    [1] Burgundy: Một vùng đất mà ngày nay là một khu vực nằm ở miền trung nước Pháp. (Bạn muốn tìm hiểu thêm về vùng đất này thì vào trang Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link tham khảo thêm nhé).

    [2] Attila: Người còn được gọi bằng cái tên Flagellum Dei hay Scourge of God trong tiếng La tinh. Chết năm 453 trước Công nguyên. Ông là vua của người Hung giai đoạn 434-453 (trị vì cùng với anh trai Bleda của mình cho đến 445). Ông là một trong các nhà cai trị với những luật lệ man rợ nhất, người chỉ trích đế chế La Mã, xâm lược các tỉnh phía nam vùng Balkan, Hy Lạp, sau đó Gaul và Ý.

     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  5. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Mở đầu (2)

    Tương lai vẫn bị hiểm nguy.

    Nàng lắc lư di chuyển nhẹ đến cuối chân giường. Lại gần cái hộp nhỏ với cảm giác sợ hãi còn lớn hơn cả khi bỏ thuốc độc và trong cốc rượu của chồng mình.


    Chiếc hộp được làm bằng sắt, một màu đen tuyền, phẳng lì, sắc cạnh với một cái chốt nối ở bên trên. Nó không có bất kỳ một trang trí nào ngoại trừ hai ký tự trên bề mặt. Một loại chữ viết mà nàng không hề biết, nhưng Đức Hồng y đã nói với nàng những gì mong đợi. Nó được cho là ngôn ngữ của tổ tiên xa xưa của Attila, những bộ tộc du mục đến từ phía đông.

    Nàng lần sờ chạm vào các chữ khắc, chúng được tạo thành từ những nét thẳng đơn giản.


    1.png
    “Cây”, nàng thì thầm với chính mình, cố gắng tăng thêm sức mạnh. Biểu tượng này trông có vẻ khá giống một cái cây. Nàng chạm vào ký tự kế bên – một cái cây thứ hai – với cả lòng sùng kính.

    Chỉ khi đó nàng mới tìm thấy sức mạnh với những ngón tay đến cái nắp hộp xoay và mở nó ra. Bên trong nó, nàng phát hiện thấy một cái hộp thứ hai, đó là một cái hộp được làm bằng bạc sáng chói. Khắc trên nó vẫn là loại chữ thô ráp tương tự, nhưng mang đến một thông điệp rõ ràng hơn.

    2.png
    Những đường nét đơn giản này có nghĩa là một mệnh lệnh hoặc một chỉ dẫn.

    Cảm thấy sức ép của thời gian, nàng cương quyết buộc những ngón tay run rẩy của mình nâng cái nắp hộp bằng bạc lên để lộ ra bên trong một cái rương thứ ba, cái này bằng vàng. Bề mặt của nó lung linh, biến đổi huyền ảo dưới ánh sáng của ngọn đuốc. Biểu tượng được khắc ở đây trông giống như sự kết hợp những ký tự được tìm thấy trước đó trên chiếc hộp sắt và bạc, một từ nằm trên đỉnh của một từ khác, chúng tạo ra một từ mới.

    3.png
    Đức hồng y cũng đã cảnh báo nàng về ý nghĩa của dấu hiệu cuối cùng này.

    “Cấm,” nàng lặp đi lặp lại không ngừng.

    Cẩn thận hết mức, nàng mở cái hộp trong cùng. Nàng biết nàng sẽ tìm thấy những gì, nhưng khi thấy nàng vẫn rùng mình sởn tóc gáy, từng sợi lông tơ dựng đứng lên dọc theo cánh tay nàng.

    Nằm chính giữa cái hộp bằng vàng, là một hộp sọ đã ố vàng hắt ra ánh sáng đến chỗ nàng. Nó đã bị mất phần hàm dưới, Chỗ hốc mắt trống rỗng vô hồn như đang chực chờ điều gì đó từ thiên đường. Nhưng cũng tương tự như những cái hộp chứa nó, cái hộp sọ cũng được trang trí bởi những chữ viết. Những nét gạch sổ được viết từ trên đỉnh của hộp sọ xuống theo một hình xoắn ốc chặt chẽ. Ngôn ngữ không giống như trên ba cái hộp kia, thay vào đó nó là một bản văn tự cổ của người Do thái – hay đại loại thế, Đức Hồng y đã nói với nàng như vậy. Cũng giống như vậy, ông ấy đã chỉ cho nàng biết ý nghĩa của di vật này.

    Hộp sọ là một vật biểu trưng cổ xưa chứa đựng câu thần chú của người Do thái, một lời cầu khẩn Thiên Chúa rủ lòng thương xót và ban ơn.

    Đức giáo hoàng Leo đã đề nghị trao báu vật này cho Attila với một lời cầu xin hãy để cho thành Rome được yên. Thêm vào đó, Ngài cũng đã cảnh báo Attila rằng lá bùa hộ mệnh này chỉ có thể mang lại sức mạnh khi nó còn ở Rome và được bảo vệ bởi cơn thịnh nộ của Chúa trời, rằng bất cứ ai dám chống lại mang nó rời đi, thoát khỏi những bức tường bảo vệ sẽ phải chết. Minh chứng cho luận điểm của mình, Giáo hoàng đã kể câu chuyện về thủ lĩnh của người Visigoths, Vua Alaric I, người đã cướp bóc Rome bốn mươi năm trước và đã chết ngay khi rời khỏi thành phố.

    Điểm ranh ma của lời nguyền này là ở chỗ, nó đã khiến Attila sau khi nắm lấy điểm mấu chốt đã bỏ chạy khỏi Italy với kho tàng quý giá này. Nhưng như thường lệ, dường như thời gian cuối cùng cũng đã làm dịu đi sự sợ hãi, một lần nữa đốt cháy lên cảm giác thèm muốn bao vây thành Rome của vị thủ lĩnh người Hung, mong muốn được thử thách về huyền thoại của ông ta - người chống lại cơn thịnh nộ của Chúa.

    Ildiko nhìn khắp lượt cái cơ thể nằm sõng soài của ông ta.

    Nó phơi bày ông ấy như một người đã thất bại trong thử nghiệm của mình.

    Cuối cùng, một kẻ hùng mạnh nhất cũng không thể thoát khỏi cái chết.

    Biết rõ những gì cần phải làm, nàng với tay cầm lấy cái hộp sọ. Dù vậy, mắt nàng lại chú ý đến những vết trầy xước ở trung tâm đường xoắn ốc. Lời nguyền trên hộp sọ là lời khẩn cầu cứu rỗi cho các linh hồn dựa trên những gì được viết trên đó.

    Nó đánh dấu đã đến ngày tận thế.

    Chìa khóa nắm giữ sự hủy diệt được ẩn bên dưới hộp sọ - che dấu dưới lớp vỏ bọc bằng sắt, bạc, vàng, và có thể là xương. Thông điệp của nó chỉ hiện ra ở thời điểm trăng tròn lần trước, sau khi một vị linh mục dòng Nestorian[1] từ Ba Tư tiến vào Rome. Ông ấy đã nghe nói món quà gửi tặng cho Attila được xuất ra từ kho báu của Giáo hội, một món quà từng được Nestorius[2] – Tổng giám mục của Constantinople[3] đích thân mang đến. Vị giám mục đã nói với Đức Giáo Hoàng Leo chính xác những gì chứa đằng sau những cái hộp được lồng vào nhau và bộ hài cốt, làm thế nào để chuyển nó đến một nơi xa hơn Constantinople, về phía đông, rồi tiếp tục chuyển nó đến thành phố Eternal[4] giữ cho nó được an toàn.

    Cuối cùng, ông ấy đã cung cấp cho Đức Giáo Hoàng một sự thật quý giá nhất của cái hộp – cùng lúc đó chia sẻ tên của người đàn ông - người chủ sở hữu của cái sọ này khi còn sống.

    Ngón tay Ildiko chạm vào di vật và lại run lên một lần nữa. Đôi mắt trống rỗng vô hồn dường như đang nhìn chằm chằm vào nàng, đánh giá giá trị của nàng, giống như là đôi mắt này, nếu những gì mà người thuộc dòng Nestorian nói hoàn toàn là sự thực, đôi mắt này đã từng nhìn thẳng vào Chúa của nàng khi còn sống - đức Chúa Giêsu Kitô.

    Nàng do dự việc nhấc thánh tích lên – ngay tức khắc một tiếng gõ cửa buồng đã trừng phạt cho sự miễn cưỡng đó. Một tiếng gọi vang lên sau cánh cửa. Nàng không hiểu tiếng của người Hung, nhưng nàng biết rõ những người của Attila, nếu không nghe thấy bất cứ phản hồi nào từ đức vua của họ, sẽ sớm lao vào bên trong.

    Nàng đã trì hoãn quá lâu.

    Phải làm ngay, nàng nhấc hộp sọ lên để lộ ra nhữnh gì nằm bên dưới – nhưng cái nàng nhìn thấy là không gì cả. Dưới đáy cái hộp cất dấu chỉ là một dấu ấn bằng vàng, lưu giữ hình dạng của cái gì đó đã từng được đặt ở đây, một cây thập tự cổ - một di vật được cho là đã rơi xuống từ thiên đường.

    Nhưng nó đã biến mất, nó đã bị đánh cắp.
    Ildiko nhìn chằm chằm vào người chồng quá cố của mình, một người đàn ông được biến đến với rất nhiều mưu mô cũng như là sự tàn bạo của ông ta. Nó nói lên việc ông ta đã để tai nghe ngóng những tin đồn. Hẳn là đức vua của người Hung đã hóng được những bí ẩn mà linh mục dòng Nestorian đã chia sẻ ở Rome? Phải chăng đó là gốc rễ thực sự làm thay đổi quyết định của ông ta khi từ bỏ việc tấn công Rome?

    Những tiếng quát tháo lớn bên ngoài, những tiếng đạp cửa dồn dập hơn.

    Tuyệt vọng, Ildiko quay lại với cái hộp sọ, đặt nó vào chỗ cũ và đóng nắp hộp lại. Chỉ khi đó nàng mới gục xuống dấu mặt vào giữa hai đầu gối. Tiếng nức nở thảm thiết của nàng khiến tấm cửa gỗ rung lên và vỡ tan ngay sau lưng.

    Những giọt nước mắt và tiếng nấc nghẹn lại trong họng nàng cũng trào ra nhiều như là máu của chồng nàng vậy.

    Những người đàn ông đẩy cửa bước vào phòng. Tiếng la hét của họ càng lớn hơn khi họ thấy đức vua của mình lâm chung.

    Những tiếng khóc vỡ òa ngay lập tức.

    Nhưng không ai dám chạm vào nàng, khiến cô vợ mới đau lòng, khi mà nàng vẫn đang rung lên bần bật giữa hai đầu gối ngay cạnh giường. Họ tin nước mắt của nàng nhỏ xuống vì chồng mình, vì đức vua của nàng đã chết, nhưng họ hoàn toàn sai lầm.

    Nàng khóc cho thế giới.

    Một thế giới đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong.

    [1] Nestorian: Một dòng tu ly khai tách khỏi dòng tu chính thống, nó từng bị coi là dị giáo. (Cụ thể vì sao lại bị coi là dị giáo thì bạn có thể xem thêm trên mạng nhé)

    [2] Nestorius: Tổng giám mục của Constantinople từ ngày 10 tháng 4 năm 428 đến tháng 8 năm 431 trước Công nguyên.

    [3] Constantinople: có nghĩa là thành phố của Constantinus, được biết đến là kinh đô của Đế quốc La Mã (330-395), của Đế quốc Byzantine/Đông La Mã (395-1204 và 1261-1453), của Đế quốc La Tinh (1204-1261) và của Đế quốc Ottoman (1453-1922). Tên của thành phố này đã được chính thức đổi thành tên trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại của nó là Istanbul vào năm 1930 như là một phần trong các cải cách quốc gia của Tổng thống Atatürk. Tên này đã được sử dụng rộng rãi bởi các cư dân Thổ Nhĩ Kỳ sống tại đây được gần năm thế kỷ. Nằm ở vị trí thuận lợi về mặt chiến thuật giữa Sừng Vàng và biển Marmara, tại nơi châu Âu gặp châu Á, Constantinopolis của Đông La Mã là kinh đô của một đế quốc Ki-tô giáo, tiếp nối Hy Lạp và La Mã. Trong suốt thời Trung Cổ, Constantinopolis đã là thành phố lớn nhất và giàu nhất của châu Âu, được biết đến với tên gọi là "Nữ hoàng của các Thành phố" (Vasileuousa Polis).

    [4] Eternal City: Là một tên gọi khác của Rome. Nó còn có tên gọi là thành phố vĩnh cửu.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  6. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Mở đầu (3)

    NGÀY HIỆN TẠI

    17 tháng 11, 4h33’ chiều. Giờ Trung Âu
    Rome, Italy

    Dường như tất cả các ngôi sao cũng đều cùng liên kết lại chống lại ông.

    Vội vã bước đi dưới cái giá rét của mùa đông, Đức Ông[1] Vigor Verona bước ra khỏi cái bóng của quảng trường Piazza della Pilotta. Mặc dù đã mặc lên người một chiếc áo len và chiếc áo khoác dày, ông vẫn rùng mình – không phải bởi cái lạnh mà nó xuất phát từ cảm giác về sự sợ hãi ngày càng tăng khi nhìn lướt qua thành phố.

    Một ngôi sao chổi vụt sáng lên lướt qua bầu trời tranh tối tranh sáng, nó lơ lửng trên mái vòm của tòa thánh St. Peter, địa điểm cao nhất trong tất cả của Rome. Cả vũ trụ tụ hội về đây – đây là lần sáng nhất trong thế kỷ - khiến vầng trăng mới mọc trở nên rực rỡ hơn, chúng tụ lại, thành một dải đuôi dài các vì sao sáng long lánh. Một cảnh tượng tuyệt đẹp như vậy trong lịch sử thường được coi là điềm báo của sự bất hạnh.

    Ông cầu nguyện điều đó không diễn ra ở đây.

    Vigor nắm chặt cái gói hơn trong vòng tay mình. Ông đã bọc lại nó một cách vụng về trong giấy gói bưu phẩm như ban đầu, nhưng điểm đến của ông cũng không xa nữa. Cái mặt tiền cao vời vợi của Đại học Giáo hoàng Gregorian hiện ra phía trước, hai bên cánh và những nhà phụ. Mặc dù Vigor đã là một thành viên của Viện Khảo cổ Thiên Chúa giáo thuộc Giáo Hoàng, ông cũng chỉ giảng dạy ở các lớp học thường xuyên như một giáo viên thỉnh giảng. Hiện giờ ông phục vụ Tòa thánh như là Viện trưởng của Archivio Segretto Vaticano[2], nơi lưu giữ những bí mật của Vatican. Nhưng gánh nặng mà ông đang mang hiện giờ đến với ông không phải trong vai trò như một giáo sư hay như một Viện trưởng, mà là như bạn bè.

    Một món quà từ người đồng nghiệp đã chết.

    Ông băng qua cổng chính của trường đại học và bước dọc theo cánh cửa vào không gian rộng lớn của tòa nhà. Ông vẫn còn giữ lại một văn phòng tại trường, đó là quyền lợi của ông. Trong thực tế, ông thường chỉ đến đây khi cần xem danh mục và tham chiếu lượng kiến thức khổng lồ trong kho sách của trường. Nó thậm chí có thể sánh ngang với thư viện quốc gia của thành phố, nó nắm giữ hơn một triệu đầu sách, nằm trong một căn phòng xếp thành sáu tầng tháp cao ngất ngưởng liền kề nhau, trong đó trữ một lượng lớn các văn bản cổ xưa và các bản sách hiếm.

    Nhưng không có gì ở đây hay tại Trung tâm lưu trữ của Vatican có thể sánh với sức nặng của vật mà Vigor đang mang hiện giờ - không phải bởi những gì đã đi cùng với nó trong gói bưu kiện. Đó là lý do tại sao ông tìm kiếm lời khuyên từ một người duy nhất đáng tin cậy tại Rome.

    Khi Vigor bước lên cầu thang và băng qua hành lang hẹp, ông nhận thấy hai đầu gối của mình đã bắt đầu lên tiếng than vãn.
    Ở vào độ tuổi sáu mươi, ông vẫn còn phù hợp cho việc nghiên cứu khảo cổ thực địa có khi được thêm mười năm nữa, nhưng trong vài năm qua, ông đã bị chôn vùi quá lâu trong hàng đống tài liệu lưu trữ, bị giam cầm sau bàn giấy và những chồng sách, bị trói buộc bởi gánh nặng trách nhiệm Đức Giáo Hoàng giao phó.

    Nhiệm vụ này dành cho con sao, thưa Cha?

    Ông ấy nói phải.

    Cuối cùng, Vigor cũng vượt qua được hành lang dài dằng dặc trải dài dọc theo hai cánh của giảng đường và phát hiện ra một nhân vật quen thuộc đang dựa người vào cánh cửa văn phòng mình. Cháu gái ông đã gục xuống trong lúc chờ đợi ông ở đây. Cô đã đến thẳng đây từ chỗ làm. Vẫn trong bộ đồng phục Carabinieri[3] và chiếc áo khoác may theo kiểu hải quân sẫm màu, những đường sọc đỏ chạy dọc hai ống quần, trên vai cô gắn các vật trang trí cầu vai được làm bằng bạc. Chưa đến ba mươi, cô trở thành một trung úy cảnh sát bảo vệ di sản văn hóa[4], người trông chừng ngăn chặn việc buôn bán các tác phẩm nghệ thuật và di tích bị đánh cắp.

    Niềm tự hào dâng lên trong ông khi thấy sự xuất hiện của cô. Ông đã gọi cô đến với tất cả tình yêu thương, sự tin tưởng vào chuyên môn của cô như là một cứu cánh trong vấn đề này. Ông không tin tưởng ai khác ngoài cô.

    “Bác Vigor.” Rachel gửi đến ông một cái ôm nhanh. Sau đó cô ngả người ra sau, những ngón tay cào cào mái tóc sẫm màu, vén gọn chúng ra sau tai và chăm chú đánh giá ông với cặp mắt màu nâu sắc bén. “Có chuyện gì mà khẩn cấp vậy bác?”

    Ông ngước nhìn phía trước và sau dãy hành lang, nhưng vào giờ muộn thế này trong một ngày Chủ Nhật, không một ai đến đây, và tất cả các văn phòng đều chìm trong bóng tối. “Hãy bước vào bên trong và bác sẽ giải thích.”

    Mở khóa, ông đẩy cửa nhường bước cho cô vào phòng. Dù ở vào vị trí của một Đức Ông nhưng văn phòng của ông lại nhỏ hơn cả một xà lim chật chội, nó được che lấp bởi những cái kệ cao chót vót tràn ngập sách và các ngăn chứa đầy tạp chí. Cái bàn nhỏ của ông tựa sát tường nằm dưới cửa sổ thì mỏng như thể một mũi tên cắm ngang tòa lâu đài. Mặt trăng mới mọc trông như thể một khối cầu bạc vừa được đúc ra treo ở trung tâm của đống hỗn độn này.

    Chỉ khi hai người đã ở trong phòng và cánh cửa đã đóng lại sau lưng họ, ông mới giảm bớt ánh sáng của ngọn đèn. Buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm, với vẻ yên tâm và nhàn nhã quen thuộc.

    “Hãy giúp bác lau sạch và chừa một chỗ trống trên cái bàn kia.”

    Sau khi việc đó được thực hiện, Vigor lấy ra và đặt xuống một gói bưu kiện màu nâu, mở và để lộ ra một thùng gỗ nhỏ.

    “Đây là thứ được gửi đến cho bác sáng sớm nay”. Không có địa chỉ của người gửi, chỉ có tên của người gửi đến.”

    Ông chỉ vào một góc của cái gói cho cô thấy.


    4.png
    “Cha Josip Tarasco,” Rachel đọc to. “Cháu có nghĩa vụ phải biết ông ấy là ai sao?”

    “Không, cháu không cần.” Ông nhìn cô kỹ hơn. “Ông ấy được tuyên bố là đã chết từ hơn thập kỷ nay rồi.”

    Chân mày cô nhíu lại và tư thế của cô trở nên cứng nhắc.

    “Nhưng cái gói này trông không có vẻ gì xưa cũ như một món đồ đã bị cho là thất lạc quá lâu.” Cô quay lại nhìn ông với ánh mắt sáng suốt. “Có thể có ai đó đã giả mạo tên của ông ấy như một trò chơi khăm độc ác không?”

    “Bác không thấy lý do phải làm vậy. Trong thực tế, bác nghĩ đó là lý do tại sao mà địa chỉ trên cái gói gửi đến này lại được viết tay. Vì vậy, bác có thể khẳng định nó được gửi đến từ Cha Tarasco. Các bác là những người bạn thân. Bác đã so sánh nét chữ trên gói bưu kiện này với trong các bức thư cũ mà bác còn giữ. Những chữ viết tay này hoàn toàn phù hợp.”

    “Vậy nếu ông ấy vẫn còn sống thì tại sao lại tuyên bố mình đã chết?”

    [1] Monsignor: có nghĩa Đức Ông, một danh hiệu mà trong giáo hội Công Giáo La Mã nó có ý nghĩa tôn vinh một số linh mục, nó được Đức Giáo Hoàng ban cho vì những cống hiến của họ, là một danh hiệu danh dự, chứ không phải là một vị trí cụ thể trong hệ thống nhà thờ.

    [2] Archivio Segretto Vaticano: Trung tâm lưu trữ của Tòa Thánh, nơi họ lưu giữ tất cả các hồ sơ và tài liệu có liên quan đến chính phủ và các hoạt động mục vụ của Đức Giáo Hoàng và các văn phòng kết nối với Tòa Thánh.

    [3] Carabinieri: là cảnh sát quân sự quốc gia của Ý. Ban đầu nó được thành lập như là lực lượng cảnh sát của Vương quốc Sardinia. Trong quá trình thống nhất nước Ý, nó là lực lượng được bổ nhiệm làm "quân đầu tiên" của các tổ chức quân sự quốc gia mới. Mặc dù Carabinieri hỗ trợ trong việc đàn áp đối lập trong sự cai trị của Benito Mussolini, họ cũng chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ của ông và nhiều đơn vị đã bị giải tán bởi Đức Quốc xã, kết quả là một số lượng lớn các Carabinieri tham gia phong trào kháng chiến Ý. Từ năm 2001, nó là một trong bốn lực lượng vũ trang của Ý.

    [4] Comando Carabinieri Tutela Patrimonio Culturale: Cơ quan cảnh sát chuyên trong lĩnh vực bảo vệ di sản văn hóa nghệ thuật. Mục đích là để đối phó, can thiệp với các công cụ hiệu quả chống lại hiện tượng bần cùng hóa của bảo tàng lớn nhất trên thế giới: Ý
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  7. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Mở đầu (4)

    Vigor thở dài. “Cha Tarasco đã biến mất trong một chuyến đi nghiên cứu ở Hungary. Ông đang chuẩn bị một bài báo toàn diện về việc săn bắt những phù thủy có ở đó vào đầu thế kỷ mười tám.”

    “Săn bắt phù thủy á?”

    Vigor gật đầu. “Quay trở lại đầu thế kỷ mười bảy, Hungary lúc đó bị vây khốn bởi một đợt hạn hán kéo dài cả thập kỷ, cùng với nạn đói và bệnh dịch hạch. Một vật tế thần là điều cần thiết, một ai đó để đổ lỗi. Hơn bốn trăm phù thủy bị buộc tội và đã thiệt mạng trong vòng năm năm.”

    “Và bác biết được gì về bạn mình? Điều gì đã xảy đến với ông ấy?”

    “Cháu phải hiểu, khi Josip rời khỏi Hungary, đất nước này đã gần như hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của Liên bang Xô viết. Nó là khoảng thời gian có nhiều biến động ở đó, một nơi nguy hiểm nếu đặt quá nhiều câu hỏi, đặc biệt là ở những khu vực nông thôn. Lần cuối bác nghe được tin tức của ông ấy là một lời nhắn được để lại trong máy tính bác. Ông ấy cho biết đang nắm giữ một cái gì đó đáng lo ngại liên quan đến mười hai vị phù thủy – sáu phụ nữ và sáu người đàn ông –bị đốt cháy trong một thị trấn nhỏ nằm ở phía nam Hungary. Ông ấy để lộ ra cả hai cảm xúc cùng lúc – sợ hãi và phấn khích. Sau đó thì không có tin gì nữa. Ông ấy không còn được nghe nói đến. Cảnh sát và lực lượng Interpol[1] đã tiến hành điều tra tìm kiếm trong suốt một năm. Sau thêm bốn năm yên ắng, ông ấy cuối cùng cũng được công bố là đã chết”

    “Vì thế mà ông ấy phải đi trốn. Nhưng tại sao phải làm vậy? Và điều gì quan trong hơn, vì sao phải thể hiện như vậy trong suốt một thập kỷ qua, giờ sao lại xuất hiện?”

    Quay lưng lại với cô cháu, Vigor giấu đi nụ cười của niềm tự hào, khả năng đánh giá cao của Rachel đã giúp tiếp cận vấn đề cốt lõi một cách nhanh chóng.
    “Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng của cháu có vẻ hiển nhiên là sẽ được giải đáp từ những gì ông ấy gửi đến,” ông nói. “Đến xem đi.”

    Vigor hít một hơi thật sâu rồi nhấc bản lề mở cái thùng ra. Ông cẩn thận lấy ra cái đầu tiên trong số hai vật được đặt trong gói và để nó ra chỗ sáng trên bàn, nơi trăng chiếu sáng nhất.

    Rachel không tự chủ lùi lại một bước. “Là một hộp sọ?” Một sọ người?

    “Chính nó.”

    Cô bỏ qua sự ngạc nhiên ban đầu để lại gần. Cô nhanh chóng ghi nhận những vết trầy xước khiến những chữ được ghi trên đỉnh hộp sọ hầu như không đọc được, với một ngón tay, cô lần theo đường xoắn ốc mà không hề chạm vào nó.

    “Ở đây viết gì vậy bác?” cô hỏi.

    “Tiếng mẹ đẻ của người Do thái[2]. Bác tin tưởng rằng di vật này là một ví dụ minh chứng cho sự xuất hiện từ rất sớm những phép thuật của Do thái giáo, được thực hiện bởi những người Do thái Babylon.”

    “Phép thuật? Như phù thủy á?”

    Theo một cách nào đó. Những phép thuật như vậy sẽ chống lại được ma quỷ hoặc đó là lời cầu xin sự giúp đỡ. Trong những năm qua, các nhà khảo cổ học đã khai quật được hàng ngàn hiện vật như vậy – chủ yếu là những cái bát đựng thần chú, những cũng có một số ít các hộp sọ tương tự như thế này. Viện bảo tàng ở Berlin đang nắm giữ hai di vật như vậy. Những cái khác nằm trong tay một số tư nhân.”

    “Còn cái này? Bác đã nói Cha Tarasco có mối quan tâm sâu sắc đến các phù thủy, cháu giả định là ông ấy đã mở rộng mối quan tâm đến các đối tượng huyền bí khác.”

    “Có lẽ. Nhưng bác không nghĩ rằng điều này là xác thực. Việc thực hành các ma thuật của Do thái giáo chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ thứ ba và đã mất đi vào thế kỷ thứ bảy.” Vigor vẫy vẫy tay phía trên hộp sọ như thể nếu làm thế thì ông có thể biến nó thành của riêng vậy. “Bác không cho rằng cổ vật này có lâu như vậy. Có lẽ nó chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ mười ba hoặc mười bốn. Bác đã gửi một chiếc răng đến phòng thí nghiệm của trường để xác nhận lại những ước đoán.”

    Cô gật đầu chậm rãi, trầm ngâm trong im lặng.

    “Nhưng bác cũng đã nghiên cứu các văn bản ghi ở đây,” ông tiếp tục. “Bác khá là quen thuộc với lối viết kiểu Aramaic[3].Bác đã tìm thấy nhiều lỗi trắng trợn trong các bản sao – những từ bị đảo ngược, dấu nhấn sai hoặc là bị mất chữ - nếu như ai đó đã tạo ra một bản sao nghèo nàn từ bản gốc, thì người đó hẳn phải là một người không có được sự hiểu biết thực sự về ngôn ngữ cổ xưa này.”

    “Vậy hộp sọ này là giả mạo sao?”

    “Thành thực mà nói, bác nghĩ người có ý định giả mạo cái hộp sọ này không hẳn là vì mục đích xấu xa nào cả. Có lẽ người ta làm giả thứ đồ này chỉ nhằm bảo quản một món đồ vật chứ không nhằm lừa phỉnh gì ai. Người nào đó đã sợ những kiến thức được thấy ở đây có thể bị mất, vì vậy anh ta hoặc cô ta đã tạo ra một bản sao, nhằm cố gắng bảo vệ một cái gì đó còn cổ xưa hơn.”

    “Những kiến thức?”

    “Bác sẽ đề cập đến chúng vào một thời điểm thích hợp.

    Ông thò tay vào cái thùng, cầm lên vật thứ hai và đặt nó cạnh cái hộp sọ trên bàn. Đó là một quyển sách cổ, rộng khoảng một gang tay và dài gấp đôi. Nó được buộc lại trong một tấm da xù xì. Các trang được gắn với nhau bởi những mũi khâu thô kệch của sợi dây dày.

    “Đây là một ví dụ của anthropodermic bibliopegy[4],” ông giải thích.

    Rachel choáng váng ngẩng mặt lên. “Và điều đó có nghĩa là…?”

    “Cuốn sách này được buộc trong da người và khâu bởi những sợi gân đã phơi khô.”

    Rachel lại bước lùi một lần nữa, nhưng lần này cô không quay trở lại cái bàn.

    [1] Interpol: là tên gọi thường dùng của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (tên tiếng Anh: International Criminal Police Organization), một tổ chức thi hành luật quốc tế được thành lập ngày 7 tháng 9 năm 1923 tại Viên, thủ đô của Áo và đặt văn phòng thường trực ở Saint-Cloud (Paris). Interpol bao gồm 188 thành viên (trong tổng số 186 quốc gia vì hai quốc gia thành viên Aruba và Antilles, do Hà Lan làm đại diện), tất cả là lực lượng cảnh sát của các quốc gia thành viên, nhằm phối hợp các nước lại với nhau trên mặt trận chống tội phạm quốc tế như buôn người, rửa tiền, buôn bán ma túy, khủng bố...

    [2] Jewish Aramaic: là tiếng mẹ đẻ của người Do Thái ở vùng đất của Israel trong thế kỷ thứ nhất. Nó vẫn còn được nói bởi người Do Thái Kurd ngày nay

    [3] Aramaic: thuộc cận họ Semitic, nằm trong họ ngôn ngữ Phi-Á (Afroasiatic). Tiếng Aramaic có lịch sử khoảng 3000 năm

    [4] Anthropodermic bibliopegy: Kỹ thuật đóng sách bằng da người.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  8. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Mở đầu (5)

    “Làm thế nào bác biết được điều đó?”

    Bác không biết. Nhưng bác đã chuyển một mẫu da đến phòng thí nghiệm giống như đã làm với hộp sọ vậy, cả hai đều được cho kiểm tra về niên đại và DNA[1].” Vigor cầm quyển sách rùng rợn lên. “Nhưng bác chắc chắn nhận định của mình là chính xác. Bác đã kiểm tra và phân tích chúng dưới kính hiển vi. Lỗ chân lông của con người có sự khác biệt rõ rệt về kích thước lẫn hình dạng khi so với những gì được tìm thấy từ da heo hay da dê. Và nếu cháu nhìn gần hơn thì ở trung tâm của trang bìa – “
    Ông rê cái móng tay dọc theo đường nằm trên bề mặt, ở trung tâm của trang bìa, có hình dạng như một nếp nhăn sâu.

    “Dưới độ phóng đại thích hợp, cháu có thể xác định chúng được làm ra từ lớp nang giữ lông mi mắt.”

    Rachel tái mặt. “Lông mi ư?”

    “Trên trang bìa là một mắt người, chúng giúp cho các trang sách được chặt khít lại, các mũi khâu được mịn hơn.”

    Cố nuốt xuống sự thật hiển nhiên, cháu gái ông hỏi lại, “Vậy đây là cái gì? Vài văn bản chứa đựng điều huyền bí sao?”

    Bác đã suy nghĩ rất nhiều, đặc biệt là khi xem xét đến những lợi ích của Josip trong việc tìm kiếm các phù thủy của Hungary. Nhưng không, nó không phải là một trong số các bản viết tay của ma quỷ. Mặc dù trong cái vòng lẩn quẩn, văn bản này có thể được xem như là báng bổ.”

    Ông cẩn thận mở cái nắp, không quá dụng lực để tránh phá hỏng bất cứ mối gắn kết nào. Ông phát hiện ra một trang giấy được viết ra bằng tiếng La tinh. “Nó thực sự là một trang nói về ngộ đạo trong cuốn Kinh Thánh”

    Rachel nghiêng đầu nhìn, cô rất thong thạo tiếng La tinh, và dịch những dòng mở đầu “ ’Đây là những bí mật được Đức Chúa Jesus nói ra khi còn sống…’ ”

    Cô liếc nhìn về phía ông, buông ra lời nhận xét. “Nó là kinh Phúc Âm của Thomas.”

    Ông gật đầu. “Các vị thánh đã nghi ngờ sự phục sinh của Chúa Kitô.”

    “Nhưng tại sao nó lại được bọc bởi lớp da người?” cô nói với vẻ ghê tởm. “Tại sao vị đồng nghiệp được coi là đã mất lại gửi cho bác những vật biểu trưng kinh dị như vậy?”

    “Nó là một lời cảnh báo.”

    “Một lời cảnh báo đề phòng điều gì?”

    Vigor tập trung sự chú ý của mình vào hộp sọ. “Một thần chú được viết ra ở đây cho thấy đây là một lời cầu xin Thiên Chúa giữ cho thế giới thoát khỏi sự diệt vong.”

    Cháu khá là chắc chắn đánh giá cao lời cầu khẩn này, Điều gì đang– ?“

    Ông cắt ngang lời cô cháu gái. “Ngày tiên đoán cho dấu hiệu của ngày tận thế sắp đến cũng đã được ghi trên đỉnh của hộp sọ, ở trung tâm của những dòng chữ được viết theo hình xoắn ốc. Bác đã tính toán quy đổi những con số đó từ lịch của người Do thái sang lịch hiện tại của chúng ta.” Ông chạm tay vào trung tâm của đường xoắn ốc. “Đó là lý do tại sao Cha Josip phải rời bỏ nơi ẩn náu và gửi những vật biểu trưng này đến chỗ bác.”

    Rachel chờ đợi lời giải thích của ông. Vigor liếc nhìn ra ngoài cửa sổ quan sát ngôi sao chổi đang phát sáng trên bầu trời đêm, ánh sáng của đủ để khiến mặt trăng phải xấu hổ. Với điềm báo về ngày tận thế treo trên đó, một cơn rùng mình của sự chắc chắn vang lên bên trong ông.

    “Đó là ngày tận thế … chỉ trong vòng bốn ngày nữa”

    [1] DNA: Acid Deoxyribo Nucleic (viết tắt ADN theo tiếng Pháp hay DNA theo tiếng Anh) là một phân tử acid nucleic mang thông tin di truyền mã hóa cho hoạt động sinh trưởng và phát triển của các vật chất hữu cơ. ADN có thể được thu nhận từ máu, tinh dịch hay lông, tóc… và sử dụng chúng trong công việc giám định, điều tra. Lĩnh vực này gọi là kỹ thuật vân tay ADN (genetic fingerprinting) hay ADN profiling (kỹ thuật nhận diện ADN).
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  9. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Hay quá đi, hơi khó hiểu nhưng rất lôi cuốn, cố gắng đến phút cuối nha bạn. Mặc dù đã được cảnh báo nhưng không thể bỏ qua một tác phẩm hay được.
     
    Last edited by a moderator: 7/5/15
    hanhdb and teacher.anh like this.
  10. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 1.1

    Ngày thứ hai, California

    Sự hoang mang đã bắt đầu.

    Từ bàn giám sát ở phòng điều hành, Painter Crowe đọc thấy nguy hiểm từ sự chấm dứt đột ngột những lời tán gẫu giữa những kỹ thuật viên trong phòng.Sự lo lắng lan ra khắp phòng chỉ huy của Trung tâm Không gian và Hệ thống tên lửa. Vào lúc này chỉ có chỉ huy trưởng cùng với một vài lãnh đạo phòng Nghiên cứu hệ thống phòng thủ có mặt ở đó.
    Tầng dưới của họ trông như phiên bản thu nhỏ phòng điều hành bay của trung tâm NASA. Những hàng máy tính và bàn điều khiển vệ tinh đặt ngay trước ba màn hình LCD khổng lồ gắn trên các bức tường phía sau. Chiếc ở đang giữa hiển thị bản đồ thế giới với các đường quỹ đạo sáng rực của hai vệ tinh quân sựvà đường dịch chuyển của ngôi sao chổi gần đó.Hai màn hình bên cạnh hiển thị hình ảnh trực tiếp từ các camera gắn trên vệ tinh. Phía bên trái,đường cong của trái đất gợn lên trên nền không gian bao la. Bên phải,ngọn lửa chói lòa tỏa ra từ chiếc đuôi sao chổi lấp đầy màn hình, che phủ những ngôi sao phía xa.

    “Có gì đó không ổn,” Painter thì thầm.

    “Ý cậu là sao?” Vị chỉ huy đứng gần anh ấy ở đầu bàn quan sát hỏi.

    Tướng Gregory Metcalf - một người Mỹ gốc Phi ở tuổi ngũ tuần chỉnh tề trong bộ quân phục, từng tốt nghiệp Học viện quân sự Hoa Kỳvà là lãnh đạocủa DARPA -Phòng nghiên cứu và phát triển hệ thống phòng thủ.

    Ngược lại với ông ấy, Painter chỉ mặc đơn giản một bộ đồ đen, và càng thêm tùy tiện hơn khi kết hợp với đôi giày cao bồi của mình. Chúng là quà tặng của Lisa. Cô ấy đang có chuyến đi khảo sát ở New Mexico. Mang trong mình một nữa là dòng máu Da Đỏ, chắc hẳn Painter đã phải rất lưỡng lự khi xỏ chân vào đôi giày này, nhưng anh thích nó, đặc biệt là nó làm anh nhớ tới cô vợ chưa cưới - họ đã xa nhau gần một tháng rồi.

    “Hệ thống OSO đang gặp vấn đề,” Painter giải thích và chỉ về phía chuyên viên hỗ trợ điều hành ở hàng máy thứ hai.

    Người trưởng nhóm lập tức quay sang hỗ trợ các đồng nghiệp của mình nhưng Metcalf khoát tay. “Họ có thể tự lo liệu được. Đó là nghề của họ. Họ biết phải làm những gì.”

    Rồi ông ta liền quay lại tiếp tục nói chuyện với viên chỉ huy của chiến dịch Colorado Springs 50.

    Vẫn trong tâm trạng rất lo lắng, Painter theo dõi những mối lo ngại đang lớn dần. Painter được mời đến đây quan sát chiến dịch quân sự bí mật này không chỉ vì anh là giám đốc của Sigma – một đơn vị trực thuộc DARPA mà còn bởi chính Painter là người lắp đặt một thiết bị quan trọng trên một trong hai vệ tinh quân sự này.

    Cặp vệ tinh —IoG-1IoG-2— được phóng lên quỹ đạo bốn tháng trước. Tên viết tắt của chúng —IoG— có nghĩa là Phương thức Đo lường Nội suy, được tên đặt bởi một nhà vậy lý quân sự, người đã xây dựng chương trình này nhằm thực hiện những nghiên cứu về lực hấp dẫn. Ông ấy muốn có những phân tích tổng quát về đường cong không-thời gian xung quanh trái đất để hỗ trợ cho đường đạn đạo của các vệ tinh và tên lửa.

    Khi tham vọng đó đang được triển khai thì một sao chổi được phát hiện bởi hai nhà thiên văn nghiệp dư hai năm trước nhanh chóng làm thay đổi mục tiêu của chương trình – đặc biệt là sau khi người ta dò ra được một mức năng lượng dị thường phát ra từ nó.

    Painter liếc sang trái nhìn người đồng nghiệp ở Viện Quan sát Vật thể Smithsonian cùng điệu bộ của cô ta.

    Tiến sĩ Jada Shaw chỉ mới hai mươi ba tuổi có vóc dáng của một vận động viên điền kinh. Làn da cô ấy như một ly mocha nâu mịn màng, mái tóc đen được tỉa gọn gàng làm nổi bật đường cong phía sau ót. Cô mặc quần jeans và khoác chiếc áo chuyên dùng cho phòng thí nghiệm, đang gặm móng tay với vẻ lo lắng.

    Nhà thiên văn học trẻ tuổi này vừa mới được đặc cách tốt nghiệp trường Harvard 17 tháng trước và gia nhập vào chiến dịch quân sự bí mật này. Rõ ràng nó quá sức với Jada cho dù cô đã cố gắng để che dấu điều đó.

    Thật không may. Cô không có lý do gì để lo lắng cả. Những nghiên cứu của cô đã được công nhận ở tầm quốc tế. Jada vận dụng phương trình tính toán lượng tử ở trình độ cao hơn hẳn Painter để xây dựng một lý thuyết lạ thường về năng lượng tối[1],phần bí ẩn nhất trong ba thành phần cấu tạo nên vũ trụ, cũng là thứ chịu tránh nhiệm trong việc mở rộng tăng tốc của vũ trụ .

    Hơn thế, cô còn là nhà vật lý học duy nhất lưu ý đến những bất thường của vị khách không mời đang sáng rực trên bầu trời kia – sao chổi IKON.

    Một năm rưỡi trước, Tiến sĩ Shaw đã khai thác những dữ liệu thu được từ Camera quan sát Năng lượng Tối thế hệ mới nhất, một con mắt 570 megapixel được sản xuất tại Mỹ bởi Fermilab và lắp đặt ở một đài quan sát trên đỉnh núi ở Chile. Tiến sĩ Shaw đã theo dõi hành trình của sao chổi từ chiếc camera này. Và cô đã phát hiện ra những bất thường khiến cô tin rằng chúng có thể là bằng chứng cho thấy đuôi sao chổi phát tán hoặc gây nhiễu khi đi ngang nguồn năng lượng tối.

    Công trình ấy của cô nhanh chóng bị chính phủ buộc đưa vào vòng bí mật. Nguồn năng lượng mới này có một tiềm năng rất lớn về cả kinh tế lẫn quân sự.

    Từ giây phút đó trở đi, chương trình siêu bí mậtIoGchỉ còn lại một mục tiêu duy nhất là nghiên cứu tiềm lực phát tán năng lượng tối của sao chổi. Theo kế hoạch đã đề ra, họ sẽ cho vệ tinh IoG-2 bay ngang qua chiếc đuôi rực lửa của sao chổi, nơi nó sẽ thu thập loại năng lượng lạ thường mà tiến sĩ Shaw đã phát hiện và vận chuyển chúng về tàu mẹ đang bay trên quỹ đạo vòng quanh trái đất.

    Rất may là để thực hiện nhiệm vụ này, những kỹ sư chỉ phải thay đổi một vài chi tiết nhỏ trên vệ tinh ban đầu. Theo thiết kế ban đầu, chính giữa nó sẽ chứa một quả cầu hoàn hảo bằng thạch anh. Và theo dự tính, quả cầu sẽ xoay ngay khi vệ tinh đi vào quỹ đạo, tạo thành một con quay hồi chuyển để định hướng đường cong không-thời gian tạo ra bởi sức nặng của trái đất. Nếu thí nghiệm thành công, những tia năng lượng tối sẽ tạo nên một phút gián đoạn trên đường cong không-thời gian.

    Đây là một thí nghiệm táo bạo. Thậm chí từ IoG còn được gọi đùa là Mắt Chúa. Painter đánh giá cao cái tên mới này, nó mô tả được hình ảnh một quả cầu hoàn hảo chực chờ để được nhìn vào những bí ẩn xa xôi của vũ trụ.

    Trưởng nhóm kỹ thuật gào lên. “10 giây nữa phi thuyền sẽ đi vào chiếc đuôi!”

    Khi giây phút đếm ngược bắt đầu, mắt của tiến sĩ Shaw vẫn dán chặt vào những dòng dữ liệu trên chiếc màn hình khổng lồ.

    “Tôi ước gì anh phát hiện ra sai lầm sớm hơn, Crowe à,” cô ấy nói. “Về điều gì đó có thể dẫn đến hậu quả. Bây giờ rõ ràng không phải là lúc được phép sai lầm, khi mà chúng ta đang sắp sửa chạm vào thứ năng lượng liên hệ đến sự khai sinh của vũ trụ.”

    Painter cũng nghĩ vậy, chẳng còn đường lùi nữa rồi.

    [1] Dark energy: Một dạng năng lượng đưa ra trong giả thuyết các nguồn năng lượng cư trú trong cấu trúc không gian riêng của mình, chịu trách nhiệm trong việc mở rộng tăng tốc của vũ trụ. Năng lượng tối về mặt lý thuyết đối trọng với năng lượng động học của việc mở rộng của vũ trụ, kéo theo nó là vũ trụ không có độ cong vốn có, như quan sát thiên văn hiện đang đề nghị. Năng lượng tối xuất hiện ở vùng tập trung khoảng 73% tất cả các năng lượng và vật chất trong vũ trụ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  11. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 1.2


    7:55 A.M

    Sau sáu phút lần dò, đường bay của IoG-2 từ từ chìm sâu vào đám ion bụi và khí. Màn hình bên phải lúc nãy còn truyền những hình ảnh trực tiếp từ camera của vệ tinh, giờ hoàn toàn trắng xóa. Họ giờ đang bay mò, hoàn toàn dựa vào sóng để định hướng.

    Painter đã thử nắm bắt mọi thứ cùng lúc, nắm lấy sự phấn khích lan tỏa trong phòng, cảm nhận ý nghĩa lịch sử của thời khắc này.
    “Tôi ghi nhận được một luồng năng lượng đột ngột tăng cao từ bên trong IoG-2!” Một kỹ sư chịu trách nhiệm giám sát môi trường, năng lượng, nhiên liệu của vệ tinh thông báo từ trạm của mình.

    Một tiếng vỗ tay vang lên từ một kẻ nông cạn, nhưng nó ngay lập tức bị dập tắt bởi áp lực xung quanh. Kết quả này có thể cho thấy đó là một lỗi

    Mọi ánh mắt đổ dồn vào bàn quan sát khác, nơi các kỹ sự đang giám sát IoG-1 trên màn hình. Anh lắc đầu. Dường như không có bằng chứng nào cho thấy có một nguồn năng lượng tồn tại song song với Trái Đất được các vệ tinh truyền về. Một kỹ sư thình lình đứng bật dậy.

    “Có cái gì đó!” anh ta hét lên. Các nhân viên quản lý hệ thống điều khiển cũng lao tới chỗ anh ta. Mọi người chờ đợi sự xác nhận. Tiến sĩ Shaw chỉ vào bản đồ thế giới, chỗ đường xoắn ốc được truyền từ xa về. “Quá xa để có thể xác định.”

    Nếu cô ấy nói thế….

    Các dữ liệu thu thập được cũng không giải thích nổi nó. Vậy chỉ đơn giản là cho qua nhanh chóng. Sau một phút căng thẳng, các luồng dữ liệu lại tăng vọt lên thành một dải mờ.

    Nguồn năng lượng tồn tại song song với Trái Đất lại để lộ ra dấu vết của nó. Các cảnh báo và thông báo lỗi liên tục xuất hiện trên màn hình khi IoG-2 đi ngang qua đuôi của sao chổi. “Thưa chỉ huy, thông báo về mức năng lượng đã biến mất trên bản đồ lúc này, khi con tàu đi ngang qua điểm đánh dấu! anh muốn tôi phải làm gì bây giờ?”

    “Đóng cửa nó lại!” một lãnh đạo ra lệnh. Vẫn đứng, nhân viên thực hiện nhanh chóng thao tác các lệnh điều khiển. “Không thể làm được. Nút định vị và kiểm soát vệ tinh đã mất tác dụng.”

    Màn hình bên phải đột ngột tắt tối đen.

    “Camera ghi nhận hình ảnh quan sát giờ cũng mất tác dụng,” một kỹ sư khác thông báo.

    Painter nhìn hình ảnh IoG-2 tan biến vào trong không gian, một nơi lạnh lẽo, tối đen và nhiều khoảng không chắp vá.

    “Chỉ huy!” Các kỹ sư đang quan sát IoG-1 bước tới cạnh anh. “Tôi vừa đọc được thông tin này. Anh tốt hơn là nên tới xem nó.”

    Tiến sĩ Shaw di chuyển tới chỗ lan can của tầng quan sát để nhìn rõ hơn. Painter cũng tới đó, mọi người tập trung vây quanh cô.

    “Các thông số hiệu ứng đo đạc đang bị thay đổi,” các kỹ sư giải thích, chỉ vào một màn hình. “Ở điểm này lệch 2%”

    “Điều này không thể nào xảy ra,” Tiến sĩ lẩm bẩm cạnh Painter. “Không, trừ phi đường cong không – thời gian bắt đầu xê dịch.”

    “Nhìn này!” các kỹ sư nói tiếp. “Động lượng hồi chuyển của Con Mắt đang tăng mạnh lên, lan xa hơn những dự toán về chuyển động phóng đi của nó. Tôi thậm chí còn nhận thấy có dấu hiệu của một lực đẩy!”

    Tiến sĩ Shaw xiết chặt lan can hơn trông như thể lấy đà sẵn sàng lao xuống dưới. “Điều này không thể xả ra trừ phi có một nguồn năng lượng từ bên ngoài tác động lên Con Mắt.”

    Painter có thể nói cô ấy muốn đề cập tới năng lượng tối, nhưng cô ấy đang cố kiềm chế bản thân đưa ra kết luận sớm.

    Lúc này - một giọng nói khác vang lên từ một trạm đánh dấu KIỂM SOÁT. “Chúng tôi đang thấy mất đi sự ổn định quỹ đạo của IoG-1!”

    Painter quay qua bảng điều khiển lớn nằm ngay trung tâm, nó đang thể hiện bản đồ thế giới và đường bay của các vệ tinh. Những đường lượn hình sin thể hiện quỹ đạo chuyển động của IoG-1 giờ chỉ còn là một đường thẳng.

    “Động lượng hồi chuyển bên trong vệ tinh phải bị phá vỡ mới đẩy được nó ra khỏi quỹ đạo,” tiến sĩ Shaw giải thích, nghe như vừa hoang mang vừa hồi hộp phấn khích.

    Màn hình bên trái thể hiện các thông số riêng về Trái Đất đang hiện lên tăng dần, tràn đầy màn hình, che khuất cả khoảng hiển thị lỗ đen vũ trụ. Các vệ tinh đã thoát ra khỏi quỹ đạo quay quanh Trái Đất, giờ bị chính lực hấp dẫn của nó hút ngược trở lại.

    Hình ảnh rõ nét truyền về nhanh chóng bị mất đi khi vệ tinh bị cuốn vào trong tầng khí quyển ngoài cùng, những dữ liệu truyền về chỉ là những vệt mờ quét qua như những bóng ma, những hình ảnh méo mó và khuếch đại.

    Hình ảnh của các châu lục lóe lên, xuyên qua những đám mây, một vùng trải dài màu xanh ngắt của đại dương hiện ra.

    Một lúc sau, màn hình cũng tối om như những cái khác.

    Sự im lặng nặng nề lan ra khắp phòng.

    Trên bản đồ thế giới, đường đi của vệ tinh bị chẻ ra, kết thúc bằng những đường đứt quãng khi máy tính cố can thiệp theo các cách khác nhau nhằm suy ra tiến trình của vụ va chạm, xét tới sự phụ thuộc vào hàng loạt các biến số: tác động bởi tầng khí quyển của Trái Đất, góc xuyên qua, tốc độ con tàu bị phá hủy từng phần.

    “Có vẻ như các mảnh vỡ sẽ nhắm xuống rải dọc vùng biên giới phía Đông của Mông Cổ!” chuyên gia quan sát từ xa báo về. “Thậm chí có thể tràn lấn vào Truong Quốc.”

    Chỉ huy Không đoàn không gian 50 khịt mũi càu nhàu. “Các cậu có thể cược Bắc Kinh sẽ để ý tới vụ này.”

    Painter đồng tình. Trung Quốc sẽ không bỏ lỡ một mảnh rác không gian nào đang cháy ném về phía họ.

    Tổng chỉ huy trưởng Metcalf ném về phía Painter một cái nhìn nghiêm khắc. Anh hiểu cái nhìn đó. Kỹ thuật quân sự tiên tiến trên vệ tinh là tuyệt mật. Không thể để nó lọt vào tay nước khác.

    Trong không tới một giây, màn hình bên trái nhấp nháy, sao đó tắt hẳn – một cú hích hấp hối cuối cùng của vệ tinh.

    “Con chim đã biến mất!” Nhân viên kiểm soát cuối cùng cũng tuyên bố. “Tất cả mọi tín hiệu truyền về đã hết. Nó giờ chỉ là một tảng đá đang rơi.”

    Các đường truyền dữ liệu uốn lượn ngắt quãng trên bản đồ thế giới cuối cùng cũng dừng hẳn.

    Tiến sĩ Shaw đột nhiên nắm chặt tay Painter. “Chúng cần phải hiện lên hình ảnh cuối cùng,” cô ấy nói. “Một hình ảnh trước khi vệ tinh chết.”

    Cô ấy hẳn phải chú ý thấy cái gì đó bất thường trong dữ liệu truyền về, rõ ràng nó đã khiến cô ấy sợ hãi.

    Metcalf cũng nghe theo cô ấy.

    Painter nặng nề nhìn chỉ huy của mình. “Thực hiện đi. Làm cho nó hiện ra.”

    Một loạt lệnh được truyền đi. Các kỹ sư và kỹ thuật viên làm phép thuật của họ. Sau những phút dài cố gắng lấy hình, làm cho chúng rõ nét và dọn dẹp những điểm nhấp nháy, ngắt quãng, rồi hình ảnh cuối cùng cũng xuất hiện lần nữa trên mà hình lớn.

    Tiếng thở gấp lan ra khắp phòng.

    Metcalf nghiêng qua thì thầm vào tai Painter. “Nếu còn, dù chỉ là một mảnh vệ tình sót lại, nó cũng phải được tìm ra. Nó phải đảm bảo không bao giờ được lọt vào tay kẻ thù của chúng ta.”

    Painter không tranh cãi, hoàn toàn hiểu rõ. “Tôi đã từng là đặc vụ ở khu vực này.”

    Metcalf ném cho anh một cái nhìn hoài nghi giễu cợt, ám chỉ cậu làm thế nào mà được chuyện đó.

    Chỉ cần chút vận may.

    Tuy thế, anh suýt mất đi vận may ấy và phải lôi cả đội vào cuộc. Nhưng ngay lúc này, anh há hốc mồm nhìn chằm chằm không rời mắt khỏi màn hình.

    Nó đang hiện lên hình ảnh qua ghi nhận của vệ tinh về vùng ven biển Phía Đông nước Mỹ, hình ảnh được chụp lại từ vệ tinh khi bốc cháy khi di chuyển tạo thành một đường lửa quét ngang bầu trời. Nó ghi lại đầy đủ, chi tiết những gì sẽ xảy tới với thành phố lớn ven biển trọng yếu này.

    Boston, thành phố New York, thủ đô Washington.

    Mọi nơi trong thành phố đều chìm trong đống đổ nát bốc cháy.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  12. My Nga Nguyen thi

    My Nga Nguyen thi Mầm non

    Tôi rất thích truyện của tác giả nầy, nhưng vì không có khả năng đọc nguyên tác nên rất cám ơn bạn đã bỏ công sức để mang đến cho chúng tôi (nói chung) một tác phẩm hay. Cám ơn bạn thêm một lần nữa.
     
    Last edited by a moderator: 7/5/15
    Cát Cát, hanhdb and teacher.anh like this.
  13. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 2.1

    11 giờ 58 phút chiều, giờ CST[1], 17 tháng Mười Một.

    Ma Cao, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.


    Họ vượt qua nửa thế giới đuổi theo một bóng ma.

    Chỉ huy Gray Pierce lẩn theo đám đông rời khỏi thuyền len vào bến phà lúc nửa đêm. Con tàu cao tốc catamaran đưa hành khách từ Hồng Kông đến bán đảo Ma Cao chỉ chưa tới một giờ đồng hồ. Anh căng thẳng vặn vẹo lưng trong lúc chờ đợi hộ chiếu được kiểm tra ở nhà ga đông đúc.

    Dòng người đổ vào bán đảo để ăn mừng lễ hội Hoa Đăng. Đây là một dịp đặc biệt nhằm tôn vinh các sao chổi trên trời. Một bữa tiệc lớn đang diễn ra đêm nay, những chiếc đèn lồng được thả trôi theo dòng nước ở khắp nơi: trong các hồ, những con sông như lễ tiễn đưa linh hồn của những người đã chết. Hàng trăm chiếc đèn tỏa sáng cả một vùng sông nước, dọc theo những bến tàu, như chùm pháo hoa đang tỏa sáng.

    Đứng xếp hàng ngay trước anh là một ông già đang ôm một cái lồng bằng tre, bên trong chứa một con ngỗng còn sống. Cả hai trông ủ rũ hệt như tâm trạng của Gray lúc này sau khi trải qua hành trình mười bảy tiếng để tới đây.

    “Tại sao con vịt đó cứ nhìn tôi mãi thế?” Kowalski hỏi.

    “Tôi không nghĩ chỉ có con vịt thôi đâu,” Gray trả lời.

    Một người đàn ông cao to, mặc quần jean và một cái áo choàng dài phết đất, đứng cao hơn Gray một cái đầu, thế cũng có nghĩa ông ta là người cao nhất trong số những người đang đứng ở đây. Nhiều người chụp ảnh gã Mỹ khổng lồ, như thể gã là một con Godzilla nào đó da mặt nhăn nheo với kiểu tóc nhà binh đi lạc vào giữa họ.

    Gray quay qua đồng nghiệp khác của mình. “Chuyện này giống như thể mò kim đáy bể, việc chúng ta sẽ phải làm sau khi liên lạc được với người của mình ở đây. Cô hiểu ý tôi chứ?”

    Seichan nhún vai, dường như không nhụt chí, nhưng anh đọc được sự căng thẳng biểu hiện qua vết hằn sâu giữa cặp chân mày của cô. Họ đã đi xa đến thế này chỉ để giáp mặt một người đàn ông và hỏi đúng một câu. Cuộc gặp gỡ là hy vọng cuối cùng của Seichan để biết được số phận của mẹ cô, người phụ nữ đã mất tích hai mươi hai năm trước, rời khỏi gia đình bà ở Việt Nam, bị bắt đi bởi một người đàn ông có vũ khí, bỏ lại cô con gái chín tuổi. Seichan từng nghĩ rằng mẹ cô đã chết từ lâu – cho đến khi một thông tin mới được khui ra bốn tháng trước, hé lộ khả năng bà vẫn còn sống. Cô đã tận dụng hết mọi nguồn lực của Sigma và mọi mối quan hệ trong giới tình báo để đi xa được đến thế này.

    Có thể chuyện này sẽ đâm vào ngõ cụt, nhưng họ vẫn phải theo đuổi nó.

    Phía trước, dòng người chờ đợi cuối cùng cũng chấm dứt, và Seichan bước về phía viên công chức hải quan buồn tẻ. Cô mặc cái quần jean đen, mang đôi bốt cao, và mặc một cái áo lụa có màu xanh như ngọc lục bảo hợp với màu mắt của mình, bên ngoài khoác thêm cái áo khoác len để ngăn cái lạnh của đêm tối.

    Ít nhất thì cô hoàn toàn hợp với nơi này, nơi có tới 99% người gốc châu Á đứng ra bảo trợ. Trong trường hợp của cô, với dòng máu con lai Tây chảy trong người, cô có một dáng đứng hơi kỳ lạ. Gương mặt mỏng manh, xương gò má cao như khắc từ đá cẩm thạch trông xanh xao. Cặp mắt hình quả hạnh sáng lấp lánh như ngọc bích được mài bóng. Sự mềm mại duy nhất của cô là mái tóc như dòng thác tuôn chảy, có màu nâu đen.

    Tất cả những điều này không ngoài mục đích tạo thành lớp vỏ bọc cho một điệp viên như cô.

    Một người đàn ông bụng béo tròn căng cả hàng nút áo trên bộ đồng phục, ngồi thẳng lên khi cô bước tới. Cô đối mặt với anh ta, di chuyển với vẻ duyên dáng của một con sư tử trước trước một đối thủ có quyền lực và mối đe dọa ngang sức ngang tài. Cô chìa ra hộ chiếu của mình. Nó là giả, cũng giống như của Gray và Kowalski, nhưng chúng đã lọt qua sự kiểm soát nghiêm ngặt tại cửa khẩu nhập cảnh vào Hồng Kông sau chuyến bay của họ từ D.C[2].

    Không ai trong số họ muốn chính phủ Trung Quốc biết tới danh tính thực của mình. Gray và Kowalski là người của lực lượng Sigma, một nhánh bí mật của DARPA[3], nơi tập trung những người lính tinh nhuệ thuộc lực lượng đặc biệt, những người được đào tạo trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhằm một mục tiêu chung, bảo vệ nước Mỹ khỏi hiểm họa bị tấn công trên toàn cầu. Seichan từng là một sát thủ làm việc cho một tổ chức tội phạm quốc tế trước khi gia nhập lực lượng Sigma. Dù cô không phải là thành viên chính thức của lực lượng, cô vẫn là mật vụ chìm.

    Ít nhất cho tới lúc này.

    Sau khi Gray và Kowalski cũng qua cửa hải quan, họ gọi một chiếc taxi bên ngoài. Trong khi họ chờ nó len qua đám đông tấp vào lề, Gray nhìn lướt qua toàn bộ bán đảo Ma Cao và các đảo lân cận của nó. Một bảng hiệu được làm bằng đèn neon có hình bàn tay đang vẫy cùng tiếng nhạc vang lên vọng lại qua loa phóng thanh.

    Ma Cao, một thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, đã trở thành Thành Phố Tội Lỗi thuộc bờ biển phía nam Trung Quốc, một thánh địa bài bạc vượt qua Las Vegas về thu nhập từ đánh bạc. Chỉ bước ra khỏi bến phà vài bước là toà tháp vàng - sòng bạc lớn nhất của thành phố - The Sands Macao. Người ta nói rằng khu phức hợp ba trăm triệu đô này đã thu lại chi phí xây dựng nên nó chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Các cường quốc đánh bạc khác tiếp tục đổ vào với các sòng bạc mới liên tục xuất hiện. Tổng số hiện đứng ở con số ba mươi ba, tất cả đều ở trong cùng một thành phố có diện tích chỉ bằng một phần sáu của D.C.

    Nhưng sự hấp dẫn của Ma Cao không chỉ dừng lại ở đánh bạc. Những thú vui ăn chơi của thành phố - vài thứ hợp pháp, còn hầu hết thì không - chúng đã vượt ra ngoài những máy đánh bạc tự động và những bàn chơi bài poker. Có một câu ngạn ngữ cổ của Vegas cũng áp dụng tương tự ở đây.

    Chuyện gì xảy ra ở Macao, không lọt ra khỏi Macao.

    [1] CST: Central Standard Time = GMT -6; 11:58 P.M ngày 17/11 (CST) = 5:58 A.M ngày 18/11 (GMT)

    [2] D.C: District of Columbia (viết tắt D.C.), có nghĩa là Đặc khu Columbia, thành phố này còn thường được gọi là Washington, the District, hoặc đơn giản hơn D.C. Thành phố Washington ban đầu là một đô thị tự quản riêng biệt bên trong Lãnh thổ Columbia cho đến khi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ năm 1871 có hiệu lực kết hợp thành phố và lãnh thổ này thành một thực thể duy nhất được gọi là Đặc khu Columbia. Đó là lý do tại sao thành phố này trong khi có tên gọi chính thức là Đặc khu Columbia lại được biết với tên gọi là Washington, D.C., có nghĩa là thành phố Washington, Đặc khu Columbia.

    [3] DARPA: Defense Advanced Research Projects Agency: Cơ quan nghiên cứu các dự án quốc phòng tiên tiến, là nơi nghiên cứu và phát triển các công nghệ quân sự tiên tiến cho quân đội Mỹ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/7/15
  14. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 2.2

    Gray định giữ nguyên như vậy. Anh giữ chặt đồng hồ cụp xuống trong lúc họ len qua đám đông leo lên chiếc taxi của họ khi nó dừng lại. Ai đó cố trèo qua vai vai anh để dành chỗ, tranh đi trước, nhưng Gray có cách của anh, anh đứng vững như bàn thạch ngay lối vào, Kowalski cúi đầu chen vào ghế trước, trong khi Gray và Seichan cùng lúc đẩy người chui vào băng ghế sau của chiếc taxi.

    Nghiêng người về phía trước, cô tuôn ra một tràng liến thoắng tiếng Quảng Đông với người tài xế.

    Một thoáng sau, họ đã nhanh chóng tới được điểm cần đến.

    Seichan ngồi lại chỗ của mình và đưa cho Gray cái ví của anh.

    Anh nhìn chằm chằm xuống cái ví vẻ ngạc nhiên. “Cô lấy nó ở đâu - ?”

    “Anh đã trở thành mục tiêu cho một kẻ móc túi. Anh phải chú ý kỹ lúc rời khỏi đây.”

    Kowalski cười khùng khục ầm ĩ từ ghế trước.

    Gray ngó quanh, nhớ lại gã xô đẩy cố lách qua người anh. Đó là một mưu mẹo nhằm đánh lạc hướng anh, trong khi gã khác dễ dàng thò tay nẫng mất cái ví, chiêu lấy cắp này đánh mạnh vào lòng tự tôn vốn có của anh. May thay, Seichan có những tuyệt chiêu riêng của mình, không giống anh, cô cũng đã học được chúng trên phố.

    Sau khi mẹ cô biến mất, Seichan trải qua tuổi thơ của mình trong hàng loạt các trại trẻ mồ côi bẩn thỉu khắp Đông Nam Á, cho tới khi cuối cùng cô được chọn ra trên phố và được huấn luyện để giết người. Trong thực tế, lần đầu hai người gặp nhau là lúc cô bắn vào ngực Gray, nó chính xác không phải là sự chào đón nồng nhiệt. Giờ, sau cái chết của người cộng sự của cô lúc trước, cô lại thấy mình mồ côi lần nữa, lại lang thang, không chắc chắn bản thân đang ở đâu trong thế giới mới mẻ này.

    Cô là một sát thủ không được đào tạo bài bản.

    Vậy nên Gray đoán cô có thể biến mất bất cứ lúc nào và không bao giờ xuất hiện lần nữa. Trong lúc họ ở bên nhau, trải qua gần bốn tháng làm việc cạnh nhau, cùng truy lùng các đầu mối hòng tìm ra số phận của mẹ cô, cô vẫn giữ một bức tường ngăn cách giữa họ, dù cô chấp nhận sự đồng hành của anh, sự hỗ trợ của anh và ngay cả khi đã ngủ cùng anh. Không hẳn đã có chuyện gì xảy ra đêm đó. Họ chỉ đơn giản là làm việc muộn và ngủ cùng chỉ là vấn đề tiện thể thôi, không gì hơn. Tuy thế, anh đã gần như không ngủ được, khi nằm cạnh cô, lắng nghe hơi thở của cô, để ý những cơn co rúm của cô trong lúc mơ ngủ.

    Cô như một con quái thú, hay thay đổi, hoang dã, đề phòng.

    Nếu anh tiến tới quá nhanh, cô có thể sẽ như con ma vụt lướt qua và chạy trốn.

    Ngay lúc này, cô ngồi ngay đơ trong chiếc taxi, người căng lên như sợi dây đàn cello. Anh chồm qua, với tay kéo cô lại gần. Anh cảm nhận được chất thép trong cô dịu xuống. Cô cho phép bản thân thả lỏng dựa vào anh. Một tay cô mân mê mặt sợi dây chuyền nhỏ đeo nơi cổ khắc hình con rồng nhỏ bằng bạc. Tay còn lại tìm tay anh, một ngón tay lần theo vết sẹo nằm sau ngón cái của anh.

    Cho đến khi cô tìm ra chỗ của mình trong thế giới mới này, thì đây là điều tốt nhất mà anh có thể trông đợi. Anh cũng cảm nhận những gì chuyện này có thể mang tới trong suốt bốn tháng ròng rã tìm kiếm mẹ cô. Nó sẽ là sự thay đổi dành cho cô, giúp cô tìm lại chính mình lần nữa, để kết nối lại với một người từng yêu thương và che chở, từng là một phần không thể thiếu của cô, giúp cô gầy dựng lại gia đình đã mất. Chỉ lần này, anh mong cô có thể vứt bỏ quá khứ lại sau lưng và hướng thẳng tới tương lai.

    Gray chia sẻ thành công với cô, mong muốn chuyện này có kết quả và làm bất cứ điều gì để nó xảy ra.

    “Nếu gã này biết bất cứ điều gì,” anh lớn tiếng hứa, “chúng ta sẽ moi được nó từ hắn ta.”


    12: 32 sáng


    “Bọn họ đang tiến vào làn kiểm soát,” giọng nói vang lên trên bộ đàm. “Bọn họ sẽ bước tới để được kiểm tra chỉ trong vài phút nữa”

    “Và mày đã nhận ra danh tính của họ sao Tomaz?”

    Ju-long Delgado nhoài người qua chiếc bàn làm việc được làm bằng gỗ sơn tiêu Ceylon[1]. Loại gỗ này hiếm và đắt như quỷ, nó là đặc quyền của ông. Phần còn lại văn phòng ông chất đống với mớ đồ cổ, một kiểu pha tạp giữa phong cách Bồ Đào Nha và Trung Quốc, y chang ông.

    “Bọn em cố thó giấy tờ của gã nhỏ con hơn,” Tomaz nói, “nhưng con nhỏ đã xen vào. Bằng cách nào đó nó đã lấy lại được ví của thằng kia từ tay bọn em.”

    Con nhỏ chắc chắn rất giỏi.

    Ju-long ngừng lại và sờ vào một trong ba bức ảnh đặt trên bàn mình. Người phụ nữ lai Á – Âu, một sự kết hợp đa chủng tộc, giống ông, nhưng trong trường hợp cô ta - là người Việt lai Pháp.

    Ông nhìn hình ảnh mình phản chiếu từ màn hình máy tính tối đen. Ông theo họ cha mình, một dòng họ Bồ Đào Nha đã có mặt ở Ma Cao từ rất lâu, dòng họ gợi người ta nhớ lại cuộc chiến thuốc phiện xảy ra đầu thế kỷ mười chín. Tên thật của ông đến từ trong gia đình mẹ. Tương tự vậy, ông thừa hưởng từ cha cặp mắt to, mái tóc và hàm râu quai nón rậm dày được cắt tỉa gọn ghẽ, từ mẹ làn da mịn với những đường nét tinh tế. Dù ông đã ở vào tuổi tứ tuần nhưng trông trẻ hơn thế rất nhiều. Một số người đã lầm lẫn khi cho rằng ông thiếu kinh nghiệm, dựa vào phong thái trẻ trung của ông – và còn mắc sai lầm tệ hại hơn khi cố thử trục lợi từ chuyện này.

    Nó là một lỗi không bao giờ được lặp lại.

    Ông lại tập trung sự chú ý của mình vào người phụ nữ trong bức ảnh. Là một sát thủ trong một ngành đặc thù, cái đầu của cô có giá cao ngất ngưởng. Ngài Israeli Mossad đã đặt giá cao nhất từ trước tới nay, đối với một người từng là tội phạm như cô, với lời hứa cô chắc chắn bị giết và không để cho bất cứ ai biết tới sự can dự của ông ta.

    Đó là tài năng thiên bẩm của Ju-long: di chuyển như vô hình, điều khiển mọi chuyện từ xa và tìm ra những món lợi mỗi khi có cơ hội.

    Ông nhìn chằm chằm vào bức ảnh của người lính, một cựu lính biệt kích. Khuôn mặt anh ta sạm tối, cặp mắt xám xanh nheo lại vì nắng tạo ra vài nếp nhăn, quai hàm mạnh mẽ của anh ta bị che khuất bởi hàm râu quai nón đen thẫm. Giá cho cái đầu của người đàn ông này liên tục tăng, đặc biệt trong vòng mười hai giờ qua. Nó cho thấy người đàn ông này hiện có rất nhiều kẻ thù – hoặc đang nắm giữ bí mật có giá trị đáng kể. Nó không còn là vấn đề. Ju-long biết cách xử lý. Cho tới nay, người mua dấu tên từ một tổ chức ở Syria đang ra giá cao nhất cho cái đầu anh ta.

    Người đàn ông thứ ba có khuôn mặt trông như con khỉ đột - có vẻ như anh ta chẳng đóng vai trò gì hơn là vệ sĩ. Ai đó sẽ phải loại bỏ anh ta để giành lấy giải thưởng thực sự ở đây.

    Ngoài ra, ngay từ đầu, Ju-long đã cảnh giác họ.

    Không quá khó để tóm lấy hai người họ từ bến phà, nhưng như thế là bắt cóc công khai, gây quá nhiều sự chú ý. Từ sau khi Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Hồng Koong năm 1999, ông đã phải hoạt động phần lớn là lén lút. Trên khía cạnh tốt đẹp, những biện pháp thẳng tay trừng trị của chính phủ mới đã giúp Hội Tam Hoàng loại bỏ được hầu hết các băng đảng thù địch trên bán đảo và tạo cơ hội cho tổ chức của ông nắm phần lớn quyền kiểm soát. Hiện giờ là tổ chức đứng đầu Ma Cao – Ông chủ của Ma Cao – như một số người gọi ông, ông nhúng tay vào mọi thứ và chính quyền Trung Quốc phải nhắm mắt giả ngơ, chừng nào ông còn nắm chắc quyền điều khiển, tiền vẫn chảy vào túi các quan chức ở đây mỗi tuần.

    Ma Cao giàu lên nhanh chóng, là nhờ ông.

    “Người của mày đã vào vị trí ở sòng bạc Lisboa chưa?” Ju-long hỏi Tomaz, muốn chắn không có sai sót. “Bọn nó đã sẵn sàng đón bọn chúng chưa?”

    “Vâng, thưa ông.”

    “Tốt. Vậy bọn mày còn chờ gì?”

    “Bọn chúng không mang theo vũ khí. Nhưng bọn em chắc chắn tất cả chúng đều có thủ dao trong người. Nhưng đó không phải là vấn đề. ”

    Ông gật đầu, thỏa mãn.

    Sau khi kết thúc cuộc gọi, ông liếc qua màn hình trong trạng thái nghỉ đang kê trên ngực bức tượng người Bồ Đào Nha. Trước đó ông đã bảo Tomaz mua chuộc một trong những nhân viên bảo vệ sòng bạc Lisboa để có quyền truy cập vào hệ thống màn hình theo dõi nội bộ của họ, đặc biệt có thể để mắt dòm vào một trong những phòng VIP nằm ngoài khu sòng bạc chính. Những phòng như thế có đầy ở Ma Cao – một dịch vụ cao cấp dành riêng cho những con bạc mong muốn có một bàn riêng hoặc có thời gian riêng tư với một trong số những gái điếm hàng đầu của Ma Cao.

    Căn phòng loại này được thiết kế cho một người duy nhất, ngồi trên chiếc sô pha được bọc bằng nhung đỏ, anh ta đang chờ những vị khách của mình. Anh ta luôn miệng liếng thoắng về cuộc hẹn tối nay, ba hoa chuyện vận may của anh ta sắp tới. Rằng khi nó đến, nguồn tiền mới chảy vào sẽ nhiều không kể xiết, món hời từ trên trời rơi xuống đến từ những người nước ngoài giàu có, giống như Ju-long Delgado. Ông nhanh chóng có được danh tính của những người mới đến.

    Khi tiền đã chảy, luôn có một cách biến nó thành lợi nhuận.

    [1]Ceylon satinwood: Sơn tiêu Ceylon là cây thân gỗ thường cao tới 15–20 m, lớp vỏ cây dày, nứt, hơi giống bần, lá hình lông chim. Hoa nhỏ, màu trắng kem. Gỗ từ cây này có màu vàng kim loại với sự óng ánh phản chiếu dưới ánh sáng. Gỗ được dùng để làm các mặt hàng nhỏ đắt tiền và lớp gỗ bọc trong các mặt hàng đồ gỗ
     
    My Nga Nguyen thi, bun_oc and langtu like this.
  15. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 2.3

    Ju-long bước tới sau bàn làm việc. Biệt thự của gia đình ông trông xuống quảng trường Senado, một địa điểm có lịch sử lâu đời, từ thời thuộc địa đã là trung tâm của Ma Cao, nơi nhiều thập kỷ trước quân Bồ Đào Nha chiếm đóng sử dụng nó để duyệt binh diễu hành phô trương sức mạnh và ngày nay trở thành nơi trình diễn pháo hoa, múa lân trong những dịp đặc biệt. Như tối nay, những chiếc đèn lồng được thắp sáng treo trên những cái cây quanh đây cùng với những chiếc lồng chứa những con chim họa mi. Khắp các trung tâm thương mại, những ngôi miếu nhỏ để đầy những chén nến nhỏ bằng đất nung được thắp sáng cầu siêu cho những người đã chết, thắp sáng dẫn lối cho những linh hồn ra đi.


    Nhưng ánh lửa lớn nhất trong số đó lại đang treo lơ lửng trên bầu trời, lung linh và tỏa sáng: ánh lửa màu bạc của một sao chổi.

    Hài lòng, ông ngồi vào chiếc ghế mình và tập trung sự chú ý của mình vào màn hình tinh thể lỏng, sẵn sàng tận hưởng những trò giải trí về đêm tại sòng bạ Lisboa.

    12.55 sáng

    Đây không phải Ma Cao trong trí nhớ của cô.

    Seichan trèo khỏi xe và nhìn xung quanh. Đã hơn mười lăm năm kể từ lần cuối cô đặt chân tới đây. Trong đêm rời đi từ bến tàu, ký ức đọng lại trong cô là khu phố người Bồ Đào Nha uể oải, chậm chạp, với những con hẻm sâu hun hút, vài ngôi nhà lớn của những kẻ chiếm đóng và một quảng trường có hình thù kỳ dị.

    Giờ tất cả chúng được dấu sau những bức tường cao chót vót và quyến rũ dưới ánh đèn neon. Lần trở lại này, Casino Lisboa từng là một nơi tạm bợ tăm tối giờ cũng được tu bổ lột xác như chiếc bánh sinh nhật được phủ một lớp trang trí với đủ mọi sắc màu rực rỡ, chưa kể tới Grand Lisboa - phiên bản mới nhất của nó – một tòa tháp màu vàng cao cả ngàn feet trong hình dạng của một bông sen.

    Chắc chắn không phải Ma Cao trong ký ức của cô.

    Chỉ duy có hàng ngàn chiếc lồng đèn rực sáng đang được thả trôi về phía hồ Vân Nam là mang vẻ ngái ngủ yên bình. Làn khói từ những bó nhang cắm dọc theo bờ sông được gió cuốn đi, quyện theo nó là mùi thơm dịu nhẹ của đại hồi, gỗ đàn hương. Nó như một tập tục được truyền từ đời này qua đời khác nhằm tưởng nhớ người đã chết.

    Trong những năm qua, Seichan đã thả trôi nhiều lồng đèn như thế để tưởng nhớ mẹ cô.

    Nhưng giờ có lẽ không cần nữa.

    Gray nhìn đồng hồ mình và giục cô đi tiếp. “Chúng ta chỉ có năm phút. Đã trễ.”

    Anh vượt lên dẫn đầu cùng Kowalski trong khi cô lê bước theo sau như một cô vợ phục tùng, nhưng thực chất để canh chừng phía sau cho họ. Ma Cao có lẽ che dấu bộ mặt thật của nó sau những ngọn đèn neon và ánh sáng nhấp nháy, song cô biết rõ hễ khi nào của cải đổ dồn vào một chỗ nhỏ bé, đặc biệt là một địa điểm ít được biết tới trên thế giới về sự giàu có như thế này, thì nó có nghĩa là ở nơi đây, tội phạm và tham nhũng đã bám rễ rất chắc. Cô biết rõ Ma cao cũ – một địa điểm của giới giang hồ hiếu chiến, buôn người và lớn mạnh trong bóng tối.

    Cô phát hiện một đám gái mại dâm chen lấn lúc nhúc gần lối vào, một ví dụ điển hình về bộ máy tham nhũng trải dài từ Ma Cao lan khắp các phần còn lại của bán đảo. Một trong số đó sán lại gần Gray, có lẽ vì vẻ ngoài điển trai và vọng tưởng cưa đổ được một anh chàng người Mỹ giàu có – nhưng Seichan chỉ cần liếc mắt và cô nàng rút lui nhanh chóng.

    Không bị làm phiền, họ nhanh chóng bước qua cánh cửa vào sòng bạc Lisboa. Làn khói thuốc dày đặc ập vào mặt cô ngay lập tức khiến mắt cô đau nhức và cổ họng rát bỏng. Một tấm mành treo lơ lửng càng tăng thêm vẻ bí hiểm và bản chất đen tối của sòng bạc chính nằm ở tầng trệt.

    Theo sau Gray, cô bước vào trái tim của bóng đêm.

    Ở đây không có vẻ hào nhoáng chói mắt gây sững sờ như những sòng bạc lớn ở Las Vegas. Chỗ này là sòng bạc truyền thống, nó khiến bạn nhớ tới thời của Rat Pack . Trần nhà thấp, ánh sáng tù mù. Tiếng những đồng xèng reo vang và sáng lóa, song những cỗ máy đánh bạc này được đặt thành một dãy riêng, trong một khu vực hạn chế. Duy chỉ những cái bàn với đủ mọi trò cờ bạc được đặt ở vị trí trung tâm: bài cào, xì tố, xúc xắc, xóc dĩa. Đám đàn ông mặt rỗ, bặm trợn và đám phụ nữ ủ rũ lấp đầy các bàn, họ rít thuốc liên tục, chà xát tấm bùa cầu may mắn, tất cả bọn họ mắc kẹt ở đây như những con nghiện tìm kiếm hy vọng. Mười hai con rồng được vẽ cách điệu treo trên cao, móng vuốt con nào cũng đang nắm giữ một quả cầu sáng rực màu sẵ liên tục biến đổi. Thực đáng tiếc, hai quả trong số đó đã tắt ngóm cho thấy thiếu sự quan tâm bảo dưỡng.

    Tuy thế, Seichan thấy mình thả lỏng, thưởng thức tính cạnh tranh quyết liệt toát ra ở đây, đánh giá cao sự giả tạo thiếu thốn của nó. Cô cảm thấy có một tình bạn đen tối với chốn này.

    “Những thang máy ở đằng kia,” Gray nói, chỉ về phía dãy thang máy được đặt trong những cái lồng nằm dọc bức tường bên trái.

    Điểm đến của họ nằm phía trên tầng này, sâu trong dãy phòng tối tăm của khu phức hợp, lọt thỏm giữa mê cung những dãy phòng VIP, nơi của cải thực sự chảy qua Ma Cao. Lượng bàn được dấu trong khu vực riêng tư ấy lớn hơn rất nhiều số được đặt ở tầng chính.

    Trong thang máy, Gray ấn nút lên tầng bốn. Những phòng VIP đẳng cấp cao được dành riêng cho những ông chủ lớn, những người chủ trì một bữa tiệc, họ tới từ đại lục hay bất cứ nơi đâu, sẵn sàng đánh những canh bạc lớn và không muốn những vị khách sộp của họ bị lãng phí thời giờ vào những việc vụn vặt ngoài ý muốn. Ngay trong khu mua sắm đặt ở tầng hầm cũng tăng gấp đôi lượng gái mại dâm trẻ đẹp chờ phục vụ những yêu cầu bốc đồng của họ.

    Hai mươi công ty khác nhau giao dịch làm ăn giữ những căn phòng này, bao gồm cả loại chạy việc vặt cho những tổ chức tội phạm, nơi chuyện rửa tiền diễn ra khá phổ biến. Giấu tên và thận trọng suy xét mục tiêu là dự tính của Gray và Seichan. Họ tới đây, giả danh là hai con bạc giàu có. Trả tiền cho người cung cấp những thông tin họ muốn, né tránh không để bị lún vào cuộc chơi và bị phát hiện. Mục tiêu của họ rất đơn giản: lấy thông tin, trả tiền, và bỏ đi.

    Lồng thang máy mở ra thông với hành lang được trang trí nhằm phô trương sự giàu có, song nó đã có phần xuống cấp, tất cả những họa tiết đều có màu đỏ và vàng. Có nhiều gã đàn ông lực lưỡng đang đứng gác trước căn phòng ở cuối dãy .

    Kowalski nhìn bọn chúng như thể con bò tót cáu kỉnh.

    “Lối này,” Seichan nói, vượt lên đi trước.

    Trước viễn cảnh mọi chuyện đâm vào ngõ cụt, cô trở nên vội vã. Đây là cơ hội cuối cùng của cô, để lần ra số phận của mẹ mình; tất cả những người họ gặp - hết người này tới người khác – đều đưa những chỉ dẫn sai. Seichan cố kìm nén nỗi lo âu. Suốt bốn tháng qua, với những kỹ năng học được của mình, tâm trạng đề phòng giúp cô tập trung, tỉnh táo thoát khỏi tình trạng rối rắm khi liên tục thay đổi từ hy vọng sang tuyệt vọng và cả sợ hãi. Nó là lý do cô giữ khoảng cách với Gray, dù anh chỉ có mong muốn đơn giản là chia sẻ cảm xúc với cô.

    Cô không dám để mất kiểm soát

    Căn phòng VIP nằm cuối hành lang. Hai gã đàn ông cao to với súng dấu dưới áo khoác đứng gác hai bên cánh cửa, bọn họ có vẻ là những vệ sĩ được ai đó thuê cánh gác cho căn phòng này.

    Tiếp cận bọn họ, cô chìa ra hộ chiếu giả.

    Gray và Kowalski cũng làm tương tự.

    Chỉ một lúc sau khi một vệ sĩ gõ cửa, cánh cửa mở ra cho họ. Seichan bước vào đầu tiên và nhanh chóng xác định bố cục trong căn phòng. Bức tường cũng được sơn màu vàng, trang trí bằng một tấm thảm có dệt một biểu tượng với hai màu đen và đỏ. Một cái bàn bài cào được bọc nỉ màu xanh nằm đơn độc trong góc phía bên trái cô, một ghế bành bọc lụa đỏ và một phòng khách nhỏ nằm góc bên phải cô. Căn phòng trống không, ngoại trừ một người.

    Tiến sĩ Hwan Pak.

    Sự có mặt của ông ta ở đây là lý do cho rất nhiều sự đề phòng và lẩn tránh. Ông ta là nhà khoa học hàng đầu của Trung tâm nghiên cứu Khoa học hạt nhân Yongbyon nằm ở Bắc Hàn – một nơi được biết tới như một địa điểm nổi tiếng với công nghệ làm giàu uranium để cung cấp nhiên liệu phục vụ cho các chương trình thử nghiệm vũ khí hạt nhân của nước này. Ông ta cũng là một con bạc khát nước, dù rằng thông tin này chỉ có một số ít cơ quan tình báo được biết.

    Rút ra một điếu thuốc, Hwan Pak nhổm dậy khỏi chiếc ghế, đứng thẳng chỉ cao hơn mét rưỡi một tí và gầy đét như que củi. Hơi cúi người làm động tác chào, mắt ông ta nhìn thẳng Gray như để xác định anh mới là người chỉ huy, bỏ qua không để ý tới cô.

    “Anh tới trễ,” ông ta nói, giọng lịch sự nhưng chỉ trích rõ ràng. Ông ta với lấy cái túi rút ra một cái điện thoại. “Các người đã mua một tiếng đồng hồ của tôi. Trả ngay tám trăm ngàn như thỏa thuận.”

    Seichan khoanh tay, để mặc Gray trả giá.

    “Bốn trăm ngàn giao ngay,” Gray nói. “Phần còn lại chỉ đưa khi tôi hài lòng với thông tin ông cung cấp.”

    Giá này là tính theo tiền Hồng Kông, nó tương đương khoảng tám mươi ngàn đô la Mỹ ở thời điểm hiện tại. Seichan sẵn sàng trả gấp mười lần số tiền đó nếu gã thực sự có bất kỳ tin tức nào của mẹ cô. Từ ánh mắt tuyệt vọng của Pak, nhà khoa học đã để lộ cho thấy bọn họ có thể giải quyết được chuyện này với giá thấp hơn mức họ được đề nghị. Ông ta đã có những món nợ lớn cần phải thu xếp với bọn cặn bã, những món nợ mà ngay cả khi giao dịch này hoàn tất cũng không trả được hết.

    “Anh sẽ không phải thất vọng,” Pak đáp.

    1:14 sáng.

    Từ văn phòng của mình nằm khá xa Ma Cao, Ju-long Delgado mỉm cười khi thấy Hwan Pak dẫn đường đưa những vị khách mới của ông ta bước sang căn phòng khách nhỏ được trang hoàng toàn bằng lụa đỏ. Gã vệ sĩ có vẻ cảnh giác, di chuyển lại gần bàn bài cào, tựa vào nó, làm động tác vô thức gõ nhẹ lên bề mặt phủ nỉ của cái bàn.

    Hai mục tiêu sáng giá – sát thủ và cựu chiến binh – theo sau Pak và ngồi xuống.

    Ju-long ước gì có thể nghe lén câu chuyện của bọn họ, nhưng nguồn thông tin mật từ Lisboa truyền đến chỉ có hình ảnh.

    Một sự xấu hổ.

    Nhưng nó chỉ là một lỗi nhỏ so với phần thưởng đang tới gần.

    Và như ông luôn biết: Tất cả những gì tốt đẹp chỉ đến với ai biết chờ đợi.

    1:17 sáng


    Seichan để cho Gray bước tới thẩm vấn Hwan Pak, cô ý thức được là nhà khoa học Bắc Hàn sẽ có đáp trả đầy đủ hơn nhiều gã đàn ông khác.

    Tên khốn Sô vanh [1].

    “Vậy ông biết người phụ nữ bọn tôi đang tìm?” Gray hỏi phủ đầu.

    “Đúng,” Pak gật đầu trả lời ngay lập tức. Gã châm thuốc và rít nhả khói liên tục, một biểu hiện của lo lắng. “Tên bà ấy là Guan-yin. Dù tôi ngờ rằng đó không phải là tên thật của bà ta.”

    Không phải, Seichan nghĩ. Hoặc ít nhất nó không đúng.

    Mẹ cô tên thật là Mai Phương Ly

    Một đoạn ký ức đột ngột lóe lên trong đầu cô, bộc phát ngoài ý muốn. là một cô gái, Seichan ngồi trên bụng cô, bên cạnh cái ao nhỏ, thò tay khua khắng trong nước, cố nhử một con cá chép vàng – rồi khuôn mặt của mẹ cô hiện ra phản chiếu ngay cạnh cô, chao đảo vì mặt nước bị khua khoắng dợn sóng, hình ảnh được bao phủ bởi những cánh hoa anh đào rơi xuống nổi đầy trên mặt nước.

    Chúng trùng tên mẹ cô.

    Những bông hoa anh đào

    Seichan chớp mắt, tự mình tóm tắt lại mọi chuyện. Cô không ngạc nhiên khi mẹ mình lấy một tên mới. Bà ấy đã bỏ trốn, cần một cái tên để ẩn náu. Và một tên mới mở ra một cuộc đời mới.


    [1] Chủ nghĩa Sô vanh (chauvinism) là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa dân tộc. Người theo chủ nghĩa Sô vanh (chauvinist) là những người mù quáng, lờ đi các thực tế có thể làm thay đổi quyết định của mình.

     
    My Nga Nguyen thi thích bài này.
  16. teacher.anh

    teacher.anh Rùa lười

    Chương 2.4

    Bằng cách sử dụng các nguồn lực của Sigma, Seichan tìm ra nhân dạng của những gã đàn ông có vũ trang đã bắt cóc mẹ cô.
    Bọn chúng từng là mật vụ người Việt, nói theo lối hoa mỹ thì là người của Bộ Công An. Bọn họ đã lần ra được mối quan hệ đẩy đưa của bà với một nhà ngoại giao người Mỹ - chính là cha cô, và cô chính là kết tinh từ mối tình đó. Họ đã tìm cách moi được những bí mật của Hoa Kỳ từ bà.


    Mẹ cô từng bị giam giữ như một tội phạm ngoài thành phố Hồ Chí Minh – cho tới khi bà trốn thoát nhờ một cuộc bạo loạn của các tù nhân một năm sau đó. Đó là một khoảng thời gian ngắn, do một sai sót trong ghi chép, bà được công bố là đã chết, bị giết trong cuộc bạo loạn. Sai sót đó là một vận may đủ để giúp bà có một khởi đầu thuận lợi, chạy trốn khỏi Việt Nam và tan biến trong thế giới.

    Lẽ nào bà ấy đang kiếm mình? Seichan tự hỏi. Hoặc bà ấy nghĩ cô thực sự đã chết?

    Seichan có cả ngàn câu hỏi chưa có lời giải đáp.

    “Guan-yin,” Pak tiếp tục. Thoáng nở một nụ cười nhạo báng và cay đắng. “Một cái tên đẹp như thế chắc chắn không hợp với bà ấy... chắc chắn không khi tôi gặp bà ấy tám năm trước.”

    “Ý ông là gì?” Gray hỏi.

    Guan-yin nghĩa là Phật Bà Quan Âm.” Pak giơ tay trái lên để lộ cho thấy nó chỉ còn có bốn ngón. “Đây là minh chứng cho lòng khoan dung của bà ta.”

    Seichan nhích lại gần, lần đầu tiên mở miệng. “Làm thế nào ông biết đó là do bà ấy?” cô lạnh lùng hỏi.

    Pak lúc đầu định bỏ qua câu bắt lỗi của cô, nhưng rồi mắt gã nheo lại. Gã nhìn chăm chú Seichan, như thể mới thấy cô lần đầu tiên. Sự nghi ngờ hiện lên trong mắt gã.

    “Giọng cô…” gã lắp bắp. “Ngay lúc… nhưng chuyện này là không thể.”

    Gray ngả người về phía trước, nhìn chằm chằm vào mắt gã. “Thời giờ rất đắt đỏ, Tiến sĩ Pak. Như cô đây đã hỏi… làm thế nào ông biết đó là Guan-yin? Căn cứ nào minh chứng cho nó?”

    Gã vuốt thẳng vạt áo khoác, rõ ràng cố ý thu mình lại. Chỉ khi đó, gã mới nói. “Bà ấy từng ở đây,” gã vừa nói khẽ hất hàm ám chỉ dãy phòng VIP. “Như một thủ lĩnh của băng đảng trước khi rời bán đảo Cửu Long, Đoản Chi – thành viên hội Tam Hoàng”

    Seichan lưỡng lự trước cái tên đó, nhưng cô không thể cưỡng lại chính mình.

    Gray khịt mũi nhạo bám. “Ý ông nói Đoản Chi là bà chủ của Hội Tam Hoàng Trung Hoa?”

    Ye,” ông ta nhấn mạnh. “Bà ta là người phụ nữ duy nhất trở thành đầu lĩnh. Để đạt tới vị trí này, bà ta đã ra tay rất tàn nhẫn. Tôi lẽ ra phải đủ khôn ngoan để không vay mượn gì từ bà ấy."”

    Pak xoa phần còn lại chỗ ngón tay bị cụt của mình.

    Gray lưu ý đến hàng động này. “Bà ấy đã cắt cụt ngón tay ông?”

    Aniyo,” (Không – tiếng Hàn) ông ta phủ nhận. “Bà ta tự mình khắc lên nó. Bà ta đến từ Cửu Long [1] với một cái búa và một cái đục. Tên trong hội Tam hoàng của bà ta là Gãy Cánh. Nó cũng là chữ ký đóng dấu của bà ta với ý nhắc nhở phải thanh toán kịp thời các khoản nợ.”

    Gray nhăn nhó, hình dung rõ ràng việc làm thủ công tàn bạo ấy.

    Seichan lúc này cũng chẳng khá hơn. Hơi thở của cô trở nên nặng nề, cô cố trấn tĩnh bằng cách hồi tưởng lại những lần chăm sóc dịu dàng của mẹ. Nhưng cô biết người đàn ông này không nói dối.

    Gray thấy thiếu sức thuyết phục. “Làm thế nào biết chủ nhân của hội Tam Hoàng là một phụ nữ khi mà chúng tôi chưa từng gặp mặt? Ông có chứng cứ gì? Ông có một tấm ảnh chụp chung với bà ta không?”

    Trong một cuộc điều tra trên diện rộng, Sigma đã có được những bức ảnh của mẹ cô, một trong số đó được lấy từ một nhà tù ở Việt Nam, nơi bà từng bị giam giữ. Họ đã xác định được vài địa điểm phù hợp, không may với những cắt khắp khu vực Đông Nam Á, dù cho có một máy tính được trang bị tối tân cũng chẳng thể nào nhận diện được rõ nơi đó sau hai mươi năm.

    Tiến sĩ Pak nhận ra cá có khả năng cắn câu.

    “Một bức ảnh?” Nhà khoa học người Bắc Hàn lắc đầu. ông ta châm một điếu thuốc và rít lấy rít để. “Bà ấy giữ hình tượng bản thân trong cộng đồng. Chỉ những người đứng đầu Hội Tam Hoàng mới biết bộ mặt thật của bà ta. Bất cứ ai từng thấy bà ấy, họ sẽ không sống đủ lâu để nhắc đến chuyện đó.”

    “Vậy làm thế nào ông…?”

    Pak sờ tay lên cổ. “Con rồng. Tôi đã thấy nó khi bà ấy cầm búa… nó treo lủng lẳng trên cổ bà ta, sáng lấp lánh ánh bạc, sắc lạnh như chính chủ nhân của nó.”

    “Giống cái này?” Seichan đưa tay lên cổ áo lôi ra mặt dây chuyền hình con rồng của mình. Hồ sơ tình báo có lưu trữ một bức ảnh của vật này. Động tác mê hoặc của Seichan chỉ tạo nên một phiên bản khác. Ký ức về hình ảnh nguyên bản khắc sâu trong xương tủy cô, nó thường hiện ra trong những giấc mơ.

    . . . nằm cuộn tròn trong vòng tay mẹ trên giường nhỏ dưới cửa sổ để mở, tiếng chim hót vọng lại trong đêm, ánh trăng phản chiếu xuống con rồng bằng bạc nằm ngơi nghỉ nơi cổ mẹ tỏa sáng lung linh mờ ảo theo từng nhịp thở…

    Hwan Pak rõ ràng có một ký ức khác hẳn. Hắn ta co rúm lại khi nhìn thấy mặt dây chuyền của cô, như thể né tránh nó.

    “Có rất nhiều mề đay hình rồng được làm ra tương tự cái này,” Gray nói. “Những gì ông đưa ra không được coi là bằng chứng.

    “Có rất nhiều mề đay hình rồng được làm ra tương tự cái này,” Gray nói. “Những gì ông đưa ra không được coi là bằng chứng. Chỉ dựa vào những lời ông nói về một phần của món trang sức mà ông thấy cách đây tám năm.”

    “Nếu ông muốn có bằng chứng cụ thể - ”

    Seichan bỏ mặc ông ta, đứng lên, cất con rồng bạc vào lại chỗ cũ. Cô ra hiệu cho Gray theo ra chỗ khác để nói chuyện riêng.

    Khi họ đã ra ngoài tầm nghe của bàn bài cào, cô nói nhỏ vào tai anh. Thân hình cao to của Kowalski đứng chắn che cho họ

    “Hắn ta nói thật,” Seichan nói. “Chúng ta phải vượt sông sang bờ bên kia để thẩm vấn người này và tìm ra mẹ tôi đang ở đâu trên bán đảo Cửu Long.”

    “Seichan, tôi biết cô muốn tin ông ta, nhưng theo tôi - ”

    Cô xiết chặt bắp tay anh để buộc anh im miệng. “Đó là tên của người thuộc Hội Tam Hoàng. Duàn zhī – Đoản Chi.

    Anh im lặng, chờ cô lên tiếng, nhận thấy điều gì đó thoáng qua trên khuôn mặt cô.

    Cô cảm thấy nước mắt dâng lên, tuôn trào từ nơi chứa đựng cả niềm vui lẫn nỗi buồn, nơi những con chim đêm vẫn hót trong rừng

    “Cái tên … Gãy Cánh,” cô nói. Ngay khi nói điều này, cô đã có cảm giác có gì đó tan vỡ trong cô.

    Anh chờ đợi, tuy không hiểu lắm, song anh để cô có thời gian bình tĩnh lại giải thích cho hành động và việc làm của mình.

    “Tên tôi,” cô ngập ngừng nói, cảm thấy như bị đột ngột lột trần, “đó là một trong những thứ tôi nhận được từ mẹ mình … một thứ tôi đã bỏ lại, Một thứ tôi buộc phải bỏ lại phía sau cùng tuổi thơ của mình … đó là Chi.”

    Một cái tên mới mở ra một cuộc đời mới.

    Gray mở to mắt. “Tên thật của cô là Chi.”

    “Đã từng,” cô nhấn mạnh

    Cô gái đã chết trước đó.

    Seichan hít một hơi thật sâu. “Trong tiếng Việt, Chi nghĩa là cánh

    Cô đọc thấy sự mơ hồ không rõ hiện lên trên mặt Gray.

    Mẹ cô đã lấy tên là đó sau khi bà mất con gái, lúc gia nhập Hội Tam Hoàng.

    Trước khi Gray có thể phản ứng, một tiếng ho khan vang lên bên kia cánh cửa – nhưng tiếng ồn ào vọng lại không phát ra từ cuống họng. Tiếng nhiều người đập cửa thình thịch ngoài hành lang đã nhấn chìm những tiếng ồn ào - có tiếng súng uy hiếp.

    Gray thực sự dao động trước chuyện phải đối mặt với mối đe dọa, viễn cảnh Kowalski bày ra với anh.

    Pak gọi từ bên kia phòng. “Anh đã hỏi bằng chứng!” Ông ta dùng điếu thuốc đang cháy chỉ vào một cánh cửa. “Nó đó!”

    Seichan ngay lập tức nhận ra Pak đã làm chuyện gì. Cô lẽ ra nên nghi ngờ sớm hơn, xem xét tới những gì họ vừa mới học được. Cô nguyền rủa bản thân. Trong quá khứ, cô chưa từng mất cảnh giác như thế này. Từ lúc gia nhập Sigma cô đã thả lỏng mình.

    Pak bước về phía cửa, nhưng trông không có vẻ gì sợ hãi. Đây là cuộc chơi của ông ta, một bước tới gần món tiền lớn hơn gấp nhiều lần con số Gray đề nghị, một cách để xóa tất cả những khoản nợ của gã. Trong một hành động thông minh của sự phản bội, gã con hoang lật ngược tình thế, truyền đi lời cảnh báo tới một phụ nữ, người đã gắng hết sức để ẩn náu, lẩn trốn thế giới.

    Một người phụ nữ như vậy sẽ tiêu diệt bất cứ ai để ngăn họ tới quá gần sự thật.

    Seichan hiểu rõ điều này.

    Cô sẽ làm điều tương tự.

    Bạn phải làm việc cần làm.

    1:44 sáng

    Ju-long Delgado không hiểu nổi chuyện gì đột nhiên làm thay đổi tình thế tại sòng bạc Lisboa. Ông bật dậy và chộp vội lấy điện thoại.

    Trên màn hình, ông thấy ba người nước ngoài phản ứng lại với những chấn động ngoài cửa phòng VIP. Hai người đàn ông xoay lật cái bàn bài cào, đặt nó xen vào giữ họ và cánh cửa, như một lá chắn bảo vệ. Ở phía bên kia căn phòng, nhà khoa học Bắc Hàn trông có vẻ hơi lo sợ, nhưng ngay lập tức ông ta lùi sát về một góc xa, giữ an toàn cho mình.

    Với một ngón cái, Ju-long bấm số gọi Tomaz đang chờ ở ngoài Lisboa. Trước đó, Ju-long đặc biệt yêu cầu nhóm gã này không đuổi theo những mục tiêu cho tới khi tiến sĩ Pak rời đi. Ông không muốn có bất kỳ rắc rối nào với những người Bắc Hàn này. Ông có nhiều khoản béo bở ràng buộc với chính phủ của họ, giúp đỡ qua lại với vài thành viên nổi bật - như Hwan Pak, đế và đi từ Ma Cao. Trên thực tế, ông từng đích thân tới Bình Nhưỡng, ăm mặc tề chỉnh và những mối liên hệ bí mật được hình thành ở đó.

    Ngay khi chọn được kênh, Tomaz báo cáo, giọng hổn hển nghe như vừa nói vừa chạy. “Bọn em đã thấy nó, dựa vào camera chỗ bảo vệ. Một cuộc đấu súng. Tôi lên đó ngay bây giờ. Ai đó đang tấn công những phòng VIP.”

    Một cơn phẫn nỗ chính đáng ập tới xuyên thẳng qua Ju-long. Ai đó đang cố thử đánh cắp hàng của ông? Kẻ nào đã bất mãn tới mức quyết định phá vỡ thỏa thuận và tự mình nhúng tay vào?

    Tomaz đã đúng. “Chúng tôi tin một trong số đó là người của hội Tam Hoàng.”

    Ông cuộn tay thành nắm đấm.

    Bọn khốn Trung Quốc …

    Kế hoạch của ông hẳn đã bị rò rỉ vào tai kẻ khác.

    Thưa ông, ông muốn chúng tôi làm thế nào? Rút lui hay tiếp tục theo kế hoạch?”

    Ju – long không có sự lựa chọn. Nếu ông không trả đũa đủ mạnh, Hội Tam hoàng sẽ coi đó là dấu hiệu của sự yếu đuối, ông đã phải mất nhiều năm mới dành được lãnh địa này. Phải trả giá cùng với sự lung lay vị trí của mình trong mắt các quan chức Trung Quốc, những người đã chạy sang Ma Cao, là không thể dung thứ.

    Biện pháp cực đoan là cần thiết.

    “Bao vây Lisboa,” ông ra lệnh, phải đánh mạnh để làm gương cho những kẻ có ý xâm phạm. “Mang thêm vài thằng. Bất cứ thằng nào biết đến Hội tam hoàng, dù có liên quan hay không, tao muốn giết chúng để thị uy. Bất cứ đồng minh khả nghi nào, bất cứ ai xúi giục hay biết tới vụ đình công này, tao chúng phải chết.”

    “Vậy còn những mục tiêu?”

    Ông cân nhắc giữa lợi ích và thiệt hại. Khi mà nguồn lợi thu được từ cặp đôi này khá lớn thì cái chết của bọn họ cũng có tác dụng như một bài học quan trọng. Nó sẽ chứng tỏ lòng trung thành của Ju-long, khi hy sinh lợi ích để duy trì quyền lực và vị trí của ông. Với người Trung Quốc, danh dự và thể diện cũng quan trọng như hơi thở.

    Ông đã để cơn giận vượt ngoài tầm kiểm soát, đành phải chấp nhận tình hình thực tế. Chuyện gì đã xong thì cho qua.

    Bên cạnh đó, khi hoàn tất, xác bọn họ cũng có thể mang lại một khoản tiền.

    Và lợi dụng một chút còn hơn không có gì.

    “Giết chúng,” ông ra lệnh. “Giết tất cả bọn chúng.”



    [1] Kowloon: Cửu Long, một trong ba khu vực lớn nhất của Hồng Kông, nó bao gồm cả bán đảo Cửu Long.
     
    My Nga Nguyen thi thích bài này.

Chia sẻ trang này