Đang dịch NC-17 The Raven Prince [Princess Trilogy #1] - Elizabeth Hoyt

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi thanhbt, 2/10/13.

  1. thanhbt

    thanhbt Học sinh Thành viên BQT


    [​IMG]

    The Raven Prince

    Hoàng tử quạ

    (Princess Trilogy #1)

    Tác giả: Elizabeth Hoyt

    Chuyển ngữ: lovecocktail (kutecat)

    Nguồn: Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link

    The Raven Prince (Hoàng tử quạ) là cuốn đầu tiên trong seri Princess của nữ tác giả Elizabeth Hoyt. Seri này gồm có bốn tác phẩm là: The Raven Prince (Hoàng tử quạ), The Leopard Prince (Hoàng tử báo), The Serpent Prince (Hoàng tử rắn), và The Ice Princess (Công chúa Băng).

    CÓ MỘT THỜI ĐIỂM TRONG CUỘC ĐỜI CỦA MỘT QUÝ CÔ...

    Nàng goá phụ Anna Wren đang có một ngày tồi tệ. Sau khi bị một gã đàn ông thô lỗ cưỡi ngựa suýt chút nữa cán qua người, nàng trở về nhà để nhận ra rằng mình đang trong tình trạng tài chính khủng hoảng nghiêm trọng. Một quý cô được nuôi dạy theo cung cách của tầng lớp thượng lưu sẽ phải làm gì đây?

    KHI CÔ ẤY BUỘC PHẢI LÀM NHỮNG ĐIỀU KHÔNG TƯỞNG...

    Bá tước của Swartingham đang trong tình trạng nan giải. Làm cho hai thư ký của mình hoảng sợ phải bỏ việc, Edward de Raaf cần ai đó có thể chịu đựng được tâm trạng tồi tệ và cung cách hành xử khó chịu của mình. Mẹ kiếp! Tìm được một thư ký đủ tốt thì có thể khó khăn đến mức nào chứ?

    VÀ TÌM KIẾM VIỆC LÀM.


    Khi Anna trở thành thư ký của bá tước, vấn đề của cả hai đều được giải quyết. Và rồi nàng khám phá ra rằng anh định tới nhà thổ tai tiếng nhất ở London vì những nhu cầu “đàn ông” của anh. À! Anna ngượng ngùng - và quyết định làm dịu bớt những khao khát “nữ tính” của mình... cùng vị bá tước khi vô tình không nhận thức được anh là người tình của mình.

    Tác phẩm của Elizabeth Hoyt tuy ít được dịch ra tiếng Việt nhưng cô là một tác giả khá nổi tiếng với nhiều giải thưởng. Nhiều cuốn sách của cô xếp trong Top 100 tiểu thuyết tình cảm hay nhất năm 2010 do Likebooks.com bình chọn. Trung bình trên Amazon.com và Goodreads.com, các tác phẩm của cô cũng đạt 4/5 và 4.3/5. Thêm vào đó nữa là trên 1 trang wattpad cá nhân của một độc giả nước ngoài thì mình có đọc được bạn ý viết rằng nếu từng đọc Devil in Winter của Lisa Kleypas thì không thể bỏ qua tác phẩm này. Do đó, mặc dù chưa hề đọc qua truyện này cũng như tác giả này và ban đầu có nhiều dự án khác nhưng mình vẫn quyết định dịch thử:D. Theo Top 100 mà mình nói ở trên thì cuốn này xếp thứ 9 đấy ^^.

    Tác phẩm được post tại e-thuvien và wordpress cá nhân. Vui lòng không mang sang các trang web khác.

    __________________
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link :)
     
    Chỉnh sửa cuối: 7/10/13
    teacher.anh and ichono87 like this.
  2. thanhbt

    thanhbt Học sinh Thành viên BQT


    Dành tặng cho chồng tôi, FRED, chiếc bánh hương việt quất nhiệt tình của tôi - ngọt ngào, chan chát, và luôn làm tôi cảm thấy được an ủi.


    Lời cảm ơn

    Xin gửi lời cảm ơn tới trợ lý của tôi, SUSANNAH TAYLOR, vì óc hài hước tuyệt vời và sự hỗ trợ không ngừng của cô; tới người biên tập của tôi, DEVI PILLAI, vì sự nhiệt tình phi thường và khiếu thẩm mỹ xuất sắc của cô; và tới người cộng sự phê bình của tôi, JADE LEE, người đã tiếp tế socola cho tôi vào những thời điểm quan trọng và không ngừng lặp lại, “Hãy tin tưởng!”

    Chương 1

    Chuyển ngữ:
    lovecocktail (kutecat)

    Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng đất xa lắm, có một vị công tước nghèo khổ và ba cô con gái của ngài cùng sinh sống...

    - từ Hoàng tử Quạ

    LITTLE BATTLEFORD, nước ANH

    Tháng 3, 1760

    Sự kết hợp giữa một con ngựa phi nước đại nhanh kinh khủng, một con đường nhỏ lầy lội có một khúc quanh, và một quý cô đi bộ không bao giờ là tốt cả. Dù trong những điều kiện tốt nhất của trường hợp đó thì tỉ lệ của một kết quả lạc quan vẫn thấp đến thảm hại. Nhưng thêm một con chó - một con chó rất to - thì, Anna Wren thầm nghĩ, thảm hoạ trở thành không thể tránh khỏi.

    Con ngựa được nhắc tới đã đột ngột nhảy một cú nghiêng sang bên trên con đường của nó theo như Anna nhìn thấy. Con chó to, vốn đang chạy bên cạnh con ngựa, phản ứng lại bằng cách chạy sát vào nó, điều đó dẫn đến việc con ngựa chồm lên. Những cái móng ngựa to cỡ chiếc đĩa nhỏ vụt lên trong không trung. Và chắc chắn là người cưỡi ngựa cao to trên lưng nó cũng bị hất văng ra. Người đàn ông ngã lên chân nàng như một con chim ưng bị bắn rơi khỏi bầu trời, mặc dù là ít duyên dáng hơn. Đôi chân dài của ông ta sóng soài khi rơi xuống, ông ta làm rơi cả chiếc roi ngựa lẫn chiếc mũ ba sừng, và rồi tiếp đất với một cú bắn tung toé trong một vũng nước nhỏ đầy bùn. Một bức tường nước bẩn vọt tới làm nàng ướt sũng.

    [​IMG]

    Mũ ba sừng​


    Mọi người, bao gồm cả con chó, im bặt.

    Tên ngốc, Anna nghĩ, nhưng đó không phải là những gì nàng nói. Những người goá phụ đáng kính ở một độ tuổi nhất định - ba mươi mốt tuổi hai tháng - sẽ không bật ra những lời nói xúc phạm, dù cho nó phù hợp, vào mặt của những quý ông. Không, quả thực là vậy.

    “Tôi rất hy vọng là ngài không bị thương bởi cú ngã,” thay vào đó, nàng nói. “Tôi có thể giúp ngài đứng lên chứ?” Nàng mỉm cười qua hàm răng khép chặt với người đàn ông ướt sũng nước.

    Ông ta đã không thèm đáp lại sự lịch sự của nàng. “Cô đang làm cái quỉ gì ở giữa đường hả, đồ phụ nữ ngu ngốc?”

    Người đàn ông ráng nhấc mình lên khỏi vũng bùn để đứng cao vượt hơn hẳn nàng theo một cái cung cách đáng ghét mà những quý ông sử dụng để cố làm ra vẻ quan trọng mỗi khi họ vừa mới mới trông rất ngốc nghếch [tự ái đàn ông =.=]. Nước bẩn nhỏ giọt trên khuôn mặt tái nhợt, có vết rỗ của ông ta tạo ra cho ông ta một hình ảnh thật đáng sợ. Những cọng lông mi đen đan khít vào nhau quanh đôi mắt đen hạt huyền, nhưng nó khó có thể bù đắp lại cho cái mũi và cằm to bành cùng đôi môi mỏng, trắng bệch.

    “Tôi rất xin lỗi.” Nụ cười của Anna không dao động. “Tôi đang đi bộ về nhà. Đương nhiên, nếu tôi biết rằng ngài cần cả chiều rộng của con đường thì -”

    Nhưng rõ ràng là câu hỏi của ông ta chỉ là câu tu từ thôi. Người đàn ông đã bước đi, bỏ rơi nàng và lời giải thích của mình. Ông ta cũng lơ luôn chiếc mũ và cái roi da để đuổi theo con ngựa, quay nó trong một nhịp đều đều chậm rãi, từ tốn đến kì cục.

    Con chó ngồi xuống để xem cuộc trình diễn.

    Con ngựa, là một con ngựa hồng gày gò, có những đốm sáng khác thường trên bộ lông, đã khiến nó có một vẻ ngoài lốm đốm thiếu may mắn. Nó đảo mắt với người đàn ông và rụt rè bước một vài bước.

    “Đúng rồi. Nhảy nhót loạn lên như một ả gái trinh lần đầu tiên bóp vú ý, mày đáng kinh tởm như đống giòi bọ ở dưới da ấy,” người đàn ông ngân nga với con vật. “Khi tao giữ chắc được mày, cái kết quả đê tiện của một con lạc đà bệnh hoạn đàng điếm với một con lừa gù lưng, tao sẽ siết chặt cái cổ ngu si của mày, tôi hứa đấy.”

    Con ngựa quay quay đôi tai không phù hợp để nghe tốt hơn giọng nam trung trầm ấm và bước một bước không chắc chắn về phía trước. Anna cảm thông với con vật. Giọng của người đàn ông ngu ngốc giống như một cọng lông trượt trên lòng bàn chân của nàng: tức tối và giày vò cùng lúc. Nàng tự hỏi liệu giọng ông ta có giống thế khi ông ta làm tình với một người phụ nữ không. Người mà sẽ hy vọng ông ta thay đổi các từ ngữ đi.

    Người đàn ông tiếp cận đủ gần với con ngựa đang bị hoảng sợ để bắt được dây cương của nó. Ông ta đứng trong một phút, thì thầm những lời tục tĩu; rồi ông ta leo lên con vật đó trong một chuyển động mềm mại. Cơ bắp giữa hai đùi ông ta, lỗ mãng hiện ra trong chiếc quần ống túm ướt nhẹp, siết chặt quanh bụng ngựa khi ông ta quay mũi của nó.

    Ông ta nghiêng cái đầu trần về phía Anna. “Quý cô, ngày tốt lành.” Và không một cái liếc nhìn ra sau, ông ta cho ngựa chạy nước kiệu xuống con đường nhỏ, con chó đuổi theo bên cạnh ông ta. Chỉ chốc lát, ông ta đã mất hút. Rồi sau đó, âm thanh tiếng vó ngựa cũng không còn.

    Anna nhìn xuống.

    Chiếc giỏ của nàng nằm trên vũng nước, những thứ ở bên trong - những đồ mà nàng mua buổi sáng - đổ ra đường. Nàng chắc chắn đã đánh rơi nó khi né tránh con ngựa chồm tới. Bây giờ, một nửa tá trứng đã rỉ ra lòng đỏ vào vũng nước bùn, và một con cá trích nhìn nàng một cách độc địa như thể đổ tội cho nàng vì đã tiếp đất đầy vụng về. Nàng nhặt con cá lên và phủi bụi cho nó. Nó, ít nhất, có thể còn cứu được. Chiếc váy màu xám của nàng, tuy vậy, lại rũ xuống đầy chán nản, mặc dù màu sắc thực cũng không khác gì lắm với lớp bùn đã đóng bánh ở trên nó. Nàng kéo mạnh vào chiếc váy để tách nó khỏi chân mình trước khi thở dài và thả rơi nó. Nàng nhìn qua con đường theo cả hai chiều. Những cành lá hiếm hoi của những cái cây cao quá đầu rung rinh trong cơn gió. Con đường nhỏ vắng vẻ hiu quạnh.

    Anna hít một hơi và nói to những từ ngữ vốn bị cấm trước mặt Chúa và trước tâm hồn kiên định của nàng:

    “Đồ con hoang!” Nàng nín thở, đợi chờ một tiếng sét hoặc, có khả năng hơn là một cơn đau nhói của tội lỗi đánh tới mình.

    Không có gì xảy ra cả, điều đó đáng lẽ phải khiến nàng không thoải mái. Sau tất cả, các quý cô sẽ không nguyền rủa các quý ông, bất chấp sự khiêu khích trêu chọc thế nào đi chăng nữa.

    Và nàng, trên hết, là một quý cô đứng đắn, không phải sao?

    Vào lúc nàng lò dò đi tới lối đi bộ ở phía trước điền trang của mình, váy của Anna đã khô thành một đống cứng quèo. Vào mùa hạ, những đoá hoa mọc lên um tùm tràn ngập khu vườn nhỏ ở phía trước khiến cho nó thật vui mắt, nhưng vào thời gian này của năm, mảnh vườn chủ yếu chỉ là bùn đất. trước khi nàng có thể vươn tới, cánh cửa đã mở ra. Một người phụ nữ nhỏ nhắn với những lọn tóc xoăn màu xám nhạt lắc lư ở hai bên thái dương nhìn ngó quanh khung cửa.

    “Oh, con đây rồi.” Người phụ nữ vung vẩy một cái thìa gỗ lốm đốm nước sốt, vô tình làm vài rọt rớt lên gò má của bà. “Fanny và mẹ đang làm món thịt cừu hầm, và mẹ thực sự nghĩ là món nước sốt của cô ấy đang được cải thiện. Tại sao ư, vì con khó mà có thể tìm thấy những chỗ bị vón.” Bà nghiêng người tới trước để thì thầm, “Nhưng chúng ta vẫn đang tiếp tục làm bánh hấp.

    Mẹ sợ rằng chúng sẽ có một hình dạng khá là khác thường đấy.”

    Anna mỉm cười uể oải với mẹ chồng của mình. “Con chắc chắn món hầm sẽ rất tuyệt.” Nàng bước vào đại sảnh chật hẹp và đặt cái giỏ xuống.

    Người phụ nữ kia vẫn tươi cười, nhưng rồi mũi bà nhăn lại khi Anna bước qua bà. “Con yêu, có một mùi kì cục phát ra từ...” Bà im bặt và nhìn lên đỉnh đầu của Anna. “Sao con lại đội những lá cây ướt nhẹp lên chiếc mũ của mình thế?”

    Anna nhăn nhó và vươn lên để sờ thử. “Con đã gặp phải một tai nạn nhỏ trên đường cái.”

    “Một tai nạn?” Mẹ Wren đánh rơi cái thìa trong sự lo âu. “Con có đau không? Tại sao, váy áo của con trông như con đã bị đầm mình vào một chuồng heo ấy.”

    “Con khá ổn ạ; chỉ hơi ướt thôi mẹ à.”

    “Ừm, chúng ta phải để con thay trang phục khô ráo ngay lập tức, con yêu. Và tóc con nữa - Fanny ơi!” Mẹ Wren tự ngắt lời mình để gọi trực tiếp vào hướng nhà bếp. “Chúng ta phải lau nó. Ý mẹ là tóc con ấy.

    Nào, để mẹ giúp con lên lầu trước. Fanny à!”

    Một cô gái, với cả khuỷu tay, hai bàn tay đỏ rần, và trên đỉnh đầu là mớ tóc đỏ hoe, rụt rè đi vào đại sảnh. “Gì thế ạ?”

    Mẹ Wren dừng lại trên những bậc thang phía sau Anna và dựa vào tay vịn. “Tôi đã nói với cô bao nhiêu lần là phải nói, ‘Vâng, thưa bà’ rồi? Cô sẽ không bao giờ trở thành hầu gái trong một dinh thự lớn được nếu cô không nói đúng.”

    Fanny đứng chớp mắt nhìn hai người phụ nữ. Miệng cô khép hờ.

    Mẹ Wren thở dài. “Đi đổ một ấm nước vào để đun đi. Miss Anna sẽ gội đầu.”

    Cô gái vội vã chạy vào phòng bếp, rồi lại bất thình lình thò đầu ra. “Vâng, thưa mẹ.”

    Đi hết những bậc cầu thang sẽ mở ra một hành lang cực nhỏ. Đến bên trái là căn phòng của người phụ nữ nhiều tuổi hơn; sang bên phải, là của Anna. Nàng bước vào căn phòng nhỏ của mình và đi thẳng đến chiếc gương được treo trên tủ quần áo.

    “Mẹ không hiểu thành phố nhỏ này sẽ đi đến đâu nữa,” mẹ chồng nàng hổn hển nói ở phía sau nàng. “Con đã bị té bởi một cỗ xe ngựa đúng không? Một vài gã đánh xe chở thư hoàn toàn vô trách nhiệm. Chúng cứ nghĩ cả con đường là của mình chúng ấy.”

    “Con không thể đồng ý với mẹ nhiều hơn được nữa,” Anna đáp lại khi nàng săm soi hình ảnh của mình. Một vòng hoa táo sấy khô đã héo tàn được dùng để trang trí viền của tấm gương, một vật kỷ niệm từ đám cưới của nàng. “Nhưng trong trường hợp của con thì chỉ là một người cưỡi ngựa thôi.” Mái tóc của nàng là một cái ổ chuột, và cũng có lốm đốm bùn trên trán nàng.

    “Thậm chí còn tệ hơn thế, những quý ông trên ngựa,” người phụ nữ luống tuổi lẩm bẩm. “Tại sao chứ, mẹ không nghĩ là họ có thể điều khiển được con vật cưỡi của mình, một vài người trong số họ ấy. Nguy hiểm kinh khủng. Họ là mối đe doạ đối với an toàn của phụ nữ và trẻ nhỏ.”

    “Vâng.” Anna cởi chiếc khăn choàng lưng, đụng cẳng chân vào một cái ghế khi nàng di chuyển. Nàng liếc quanh căn phòng bé tẹo. Đó là nơi nàng và Peter đã sống suốt cả bốn năm của cuộc hôn nhân của họ. Nàng treo chiếc khăn choàng lên và móc vào cái móc nơi áo khoác của Peter đã từng ở đó. Chiếc ghế nơi anh từng chất đống những cuốn sách luật nặng trịch giờ được sử dụng làm bàn cạnh giường của nàng. Tuy nhiên chiếc lược chải tóc của anh với một vài sợi tóc đỏ dính vào lớp lông cứng thì đã được cất đi từ lâu lắm rồi.

    “Ít nhất thì con cũng đã giữ được con cá trích.” Mẹ Wren tiếp tục băn khoăn. “Mặc dù mẹ không biết việc nhúng vào bùn liệu có cải thiện được mùi vị của nó.”

    “Không nghi ngờ gì là thế ạ,” Anna lơ đễnh đáp lại. Đôi mắt nàng đang trở về với vòng hoa. Nó đang vụn ra. Không có gì phải thắc mắc cả, bởi vì nàng đã goá chồng được sáu năm rồi. Món đồ dơ dáy. Nó sẽ tốt hơn khi ở trong đống rác ngoài vườn. Nàng xé nó ra để sau đó sẽ vứt đi.

    “Nào, con yêu, để mẹ giúp con.” Mẹ Wren bắt đầu tháo móc chiếc váy từ đằng sau lưng. “Chúng ta sẽ phải tẩy sạch nó ngay lập tức. Có cũng kha khá bùn quanh viền áo đấy. Có lẽ nếu mẹ đáp thêm một món đồ trang trí mới...”

    Giọng bà nghẹt lại khi nàng nghiêng người đi. “Oh, nhắc mới nhớ, con đã bán dải dây đăng ten của mẹ cho người làm trang phục chưa?”

    Anna đẩy chiếc váy xuống đất và bước ra khỏi nó. “Vâng, bà ấy khá là thích dải dây ấy. Bà ấy nói đó là thứ tốt nhất mà bà ấy từng thấy trong một thời gian dài.”

    “Ừm, mẹ đã làm dây đăng ten trong suốt gần bốn mươi năm rồi mà.” Mẹ Wren cố gắng trông khiêm tốn. Bà thanh thanh cổ họng. “Bà ấy trả con bao nhiêu cho nó?”

    Anna cau mày. “Một siling sáu penny ạ.” Nàng vươn tay tới chiếc áo choàng đã mòn xơ mòn xác. [theo đơn vị tiền Anh cổ trước 1971 thì 1 pao là 20 siling, 1 siling là 12 penny]

    “Nhưng mẹ đã làm nó trong suốt năm tháng đấy,” Mẹ Wren thở hắt ra.

    “Con biết.” Anna thở dài và tháo mái tóc ra. “Và, như con nói, người thợ làm trang phục đã đánh giá món đồ của mẹ có chất lượng tốt nhất mà. Đó chỉ là vì dải đăng ten không bán được giá cho lắm thôi mẹ à.”

    “Nó được giá khi bà ấy cho nó lên vành của một chiếc mũ hoặc một bộ váy,” Mẹ Wren thì thầm.

    Anna cau mày đầy thông cảm. Nàng lấy một chiếc khăn tắm xuống khỏi một chiếc móc bên dưới mái hiên, và hai người phụ nữ cùng đi xuống cầu thang trong im lặng.

    Ở phòng bếp, Fanny đang đứng canh chiếc ấm nước. Hàng bó thảo được đã sấy khô được treo từ trên những thanh xà nhà màu đen, toả hương ra khắp không khí. Chiếc lò sưởi bằng gạch cũ kĩ chiếm trọn cả một bức tường. Đối diện là một cái cửa sổ có khung treo rèm mở ra khu vườn ở phía sau. Rau diếp mọc đều theo một hàng màu xanh lục nhạt ngay ngắn dọc theo mảnh đất nhỏ, và những cây củ cải trắng và củ cải turnip lúc này cũng đã lên được một tuần rồi.

    [​IMG]

    Củ cải turnip (mình cũng chả biết dịch là gì, chỉ thấy từ điển nói là củ cải thui:| )

    Mẹ Wren đặt một cái chậu đã sứt mẻ lên chiếc bàn bếp. Trở nên nhẵn mịn bởi nhiều năm lau chùi hàng ngày, chiếc bàn tự hào được đặt ở vị trí trung tâm của căn phòng. Buổi tối họ đẩy nó vào tường để cô hầu gái nhỏ có thể trải một cái nệm rơm ở bên cạnh lò sưởi.

    Fanny mang chiếc ấm nước ra. Anna nghiêng cái chậu, và Mẹ Wren rót nước vào đầu nàng. Nước vừa đủ ấm.

    Anna soa xà phòng lên tóc nàng và hít một hơi thở sâu. “Con e rằng chúng ta sẽ phải làm gì đó đối với tình trạng tài chính hiện nay.”

    “Oh, đừng nói là có thêm những sự tiết kiệm nữa nhé, con yêu,” Mẹ Wren rên rỉ. “Chúng ta đã từ bỏ thịt tươi trừ thịt cừu vào thứ ba và thứ năm. Và cũng đã nhiều năm rồi mà cả hai mẹ con mình đều chưa có bộ váy mới nào cả.”

    Anna nhận ra rằng mẹ chồng nàng đã không đề cập đến việc nuôi Fanny. Mặc dù cô gái vốn được cho là người giúp việc kiêm đầu bếp của họ, nhưng trên thực tế cô là cơn bốc đồng của lòng từ thiện ở cả hai người họ. Họ hàng duy nhất của Fanny, ông của cô, đã chết khi cô lên mười. Lúc đó, đã có cuộc họp ở làng về việc gửi cô bé đến viện tế bần nhưng Anna đã bước ra can thiệp, và Fanny sống cùng họ từ đó đến nay. Mẹ Wren đã hi vọng đào tạo cô bé để làm việc được trong một gia đình lớn, nhưng cho tới nay thì những tiến bộ của cô rất thấp.

    “Mẹ đã rất nỗ lực trong những sự tiết kiệm mà chúng ta đưa ra,” Anna nói ngay khi nàng chà miếng xà phòng nhỏ lên da đầu của mình. “Nhưng những khoản đầu tư mà Peter để lại cho chúng ta không cho kết quả tốt như chúng đã từng. Lợi tức của chúng ta đã giảm dần kể từ khi anh ấy đi xa.”

    “Thật đáng buồn khi thằng bé để lại cho chúng ta quá ít để sống tiếp được,” Mẹ Wren nói.

    Anna thở dài. “Anh ấy không định để lại một lượng nhỏ như thế. Anh ấy chỉ là một người đàn ông trẻ khi cơn sốt đã cướp anh ấy đi.

    Con chắc chắn nếu anh ấy còn, anh ấy sẽ gây dựng được nên khoản tiết kiệm đáng kể mà mẹ.”

    Thực ra, Peter đã cải thiện được vấn đề tài chính của họ kể từ cái chết của cha anh không lâu trước cuộc hôn nhân của hai người. Người đàn ông luống tuổi ấy từng là một luật sư, nhưng một vài vụ đầu tư nhẹ dạ đã nhấn ông chìm sâu vào sự nợ nần. Sau đám cưới, Peter đã bán ngôi nhà nơi anh được nuôi lớn lên để trả nợ và chuyển cô dâu mới cùng người mẹ goá chồng của anh vào một điền trang nhỏ hơn nhiều. Anh đã làm công việc luật sư cho đến khi anh bị ốm và qua đời chỉ trong vòng hai tuần.

    Bỏ lại Anna với công việc quản lý gia đình nhỏ của chính cô. “Mẹ dội cho con với ạ.”

    Một dòng nước lạnh ngắt đổ lên gáy và đầu của nàng. Nàng cảm thấy chắc chắn là không còn xà phòng dư lại nữa, rồi vắt cho một lượng nước lớn chảy ra khỏi mái tóc mình. Nàng quấn một cái khăn quanh cổ và nhìn lên. “Con nghĩ con nên tìm kiếm một công việc.”

    “Oh, con yêu, chắc chắn không nên như thế.” Mẹ Wren ngồi xuống một chiếc ghế ở nhà bếp. “Những quý cô không làm việc.”

    Anna cảm giác miệng mình giật giật. “Mẹ thà để con tiếp tục là một quý cô và cả hai chúng ta cùng phải thiếu ăn ạ?”

    Mẹ Wren do dự. Bà dường như thực sự đang cân nhắc đến vấn đề.

    “Mẹ đừng trả lời mẹ à,” Anna nói. “Dù gì thì cũng sẽ không đến mức đói ăn đâu ạ. Tuy vậy thì chúng ta thực sự cần tìm cách để mang thêm thu nhập về cho gia đình mình.”

    “Có lẽ nếu mẹ làm ra nhiều dây đăng ten hơn. Hoặc, hoặc mẹ có thể thôi ăn thịt hẳn,” mẹ chồng nàng nói với một chút thiếu kiểm soát.

    “Con không muốn mẹ phải làm thế đâu mẹ à. Thêm vào đó, Cha cũng đã đảm bảo để con có một nền giáo dục tốt mà.”

    Mẹ Wren tươi tỉnh lên. “Cha con là mục sự tốt nhất mà Little Battleford này từng có, Chúa phù hộ cho linh hồn ông ấy.

    Ông ấy đã để mọi người cùng được biết quan điểm của mình về việc giáo dục con trẻ.”

    “Vâng.” Anna lấy chiếc khăn xuống khỏi đầu và bắt đầu chải mái tóc ướt ra. “Cha đảm bảo con được học đọc và viết cũng như làm tính. Con thậm chí còn biết một chút tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp. Con nghĩ con sẽ tìm việc của một gia sư hoặc một người đi kèm vào ngày mai xem sao.”

    “Mrs. Lester đáng kính gần như đã mù. Chắc chắn là con rể của bà ấy muốn thuê con để đọc - ” Mẹ Wren ngưng lại.

    Anna cũng nhận ran gay lúc đó về một mùi chua chua trong không khí. “Fanny à!”

    Cô hầu gái nhỏ, người đã dõi theo cuộc trao đổi giữa những người chủ của mình, kêu lên và chạy tới với cái nồi thịt cừu trên lò sưởi. Anna rên rỉ.

    Một bữa tối nữa bị khê.

    FELIX HOPPLE dừng lại trước cánh cửa thư viện của Bá tước của Swartingham để ngắm nghía lại vẻ ngoài của mình. Bộ tóc giả của ông, với hai lọn quăn dài thuôn chặt như hai cái xúc xích ở hai bên, đã được phủ bột thành một màu hoa oải hương rất hợp [màu xanh nhạt hơi pha đỏ]. Dáng người ông ta - khá gọn gàng đối với một người đàn ông ở tuổi đó - được nhấn bởi chiếc áo gile màu nâu sẫm có viền những chiếc lá nho vàng. Và bít tất của ông ta có những sọc ngang màu xanh dương và cam, đẹp mà lại không hề khoe khoang. Cung cách ăn mặc của ông tự bản thân nó đã là một sự hoàn hảo. Thực sự không có lý do nào để ông phải do dự ở bên ngoài cửa nữa cả.

    Ông ta thở dài. Ngài bá tước có một khuynh hướng khá khó chịu là hay gắt gỏng. Là người quản lý bất động sản của Tu viện Ravenhill, Felix đã nghe những tiếng càu nhàu gắt gỏng khó chịu ấy khá thường xuyên trong suốt hai tuần trước đó. Nó khiến ông cảm thấy giống như một trong những người thổ dân bất hạnh được nhắc tới trong những cuốn sách về du lịch phải sống trong bóng tối của những ngọn núi lửa lớn và rất đáng lo ngại. Cái kiểu núi lửa mà có thể phun trào bất kì lúc nào ấy. Tại sao Ngài Swartingham lại chọn cư trú ở Tu viện sau nhiều năm đi xa đầy hạnh phúc, Felix không thể đoán được, nhưng ông có cảm nhận trong sâu thẳm rằng bá tước có ý định lưu lại trong một thời gian rất, rất dài.

    Người quản lý rà một bàn tay dọc xuống phía trước chiếc áo gile. Ông tự nhắc nhở mình rằng mặc dù vấn đề mà ông sắp sửa mang tới cho bá tước không dễ chịu gì, nhưng nó không nào bị cho là lỗi của ông được. Do đó, khi đã sẵn sàng, ông gật đầu và gõ vào cánh cửa thư viện.

    Có một khoảng lặng và rồi một giọng trầm, chắc chắn gắt lên, “Vào đi.”

    Thư viện nằm ở phía tây của toà trang viên, và ánh mặt trời lúc chiều muộn ùa vào qua những cánh cửa sổ lớn chiếm gần hết cả bức tường bên trong. Ai đó có thể nghĩ điều đó khiến cho thư viện là

    một căn phòng ngập nắng và ấm áp, nhưng bằng cách nào đó mà ánh nắng lại bị nuốt mất bởi không gian sâu hẳn vào bên trong như hang động này ngay khi nó vừa vào đến căn phòng, để lại gần như cả căn phòng trong phạm vi của bóng tối. Cái trần nhà - với hai tầng cao - được bao bọc trong sắc tối ảm đạm.

    Ngài bá tước ngồi cạnh một chiếc bàn kiểu ba - rốc to, cái mà hẳn là sẽ khiến cho một người đàn ông nhỏ nhắn hơn bị lấn át. Gần đó, một cái lò sưởi nỗ lực để reo vui và thất bại thê thảm. Một con chó nâu đốm to tổ chảng nằm dài trước lò sưởi cứ như chết rồi ấy. Felix cau mày. Con chó là phép lai giữa những con mastiff [loài chó cụp tai lớn] và có lẽ là một vài con thuộc giống chó Nga. Kết quả là cho ra đời một con chó xấu xí, ngoại hình kém cỏi khiến cho ông phải cố hết sức để tránh nó.

    [​IMG]

    Chó Mastiff

    [​IMG]

    Chó Nga

    Ông thanh thanh lại cổ họng của mình. “Liệu tôi có thể xin vài phút được không, thưa ngài?”

    Ngài Swartingham nhìn lên từ tờ giấy trong tay mình. “Thế bây giờ là cái gì đây hả Hoppple? Vào hẳn đi, vào đây. Ngồi xuống trong khi tôi đọc xong cái này đã. Tôi sẽ cho ông sự chú ý của tôi trong một phút.”

    Felix bước tới một trong những cái ghế bành trong chiếc bàn gỗ dái ngựa và ngồi xuống, trong khi vẫn canh chừng con chó. Ông sử dụng lệnh hoãn thi hành án đó để nghiên cứu ông chủ của mình nhằm dò xét tâm trạng của ngài ấy. Ngài bá tước cau mày với trang giấy trước mặt mình, những nốt rỗ khiến nét mặt ngài đặc biệt không thu hút. Dĩ nhiên, đó không nhất thiết là một dấu hiệu xấu. Ngài bá tước vẫn có thói quen cau mày.

    Ngài Swartingham xé đôi tờ giấy. Ngài tháo cặp kính nửa vầng trăng dùng để đọc của mình và ném trọng lượng đáng kể của mình trở lại chiếc ghế, khiến nó kêu lên ken két. Felix nao núng trong sự thương cảm.

    “Sao, Hopple?”

    “Thưa ngài, tôi có một vài tin tức không được dễ chịu mà tôi hy vọng ngài sẽ không tiếp nhận một cách quá tồi tệ.” Ông mỉm cười ngập ngừng.

    Bá tước nhìn xuống cái mũi to của mình mà không bình luận gì.

    Felix kéo mạnh vào cổ tay áo sơmi của mình. “Tin về viên thư ký, Mr. Tootleham, được báo tin về việc khẩn cấp của gia đình buộc anh ta phải đưa đơn xin từ chức khá nhanh chóng.”

    Vẫn không có sự thay đổi trong biểu cảm khuôn mặt của bá tước, mặc dù ngài ấy đã bắt đầu gõ những ngón tay lên tay ghế.

    Felix nói nhanh hơn nữa. “Dường như cha mẹ của Mr. Tootleham ở London đang ốm liệt giường vì một cơn sốt và cần đến sự trông nom của anh ta. Nó là một cơn sốt virut gây đổ mồ hôi và đi ngoài, kh - khá dễ lây ạ.”

    Bá tước nhướn một bên lông mày đen.

    “Th - thực tế là hai anh trai, ba chị gái, người bà, người cô, và gia đình mèo của Mr. Tootleham đều đã bị lây và họ hoàn toàn không thể tự xoay xở được nữa.” Felix ngừng lại và nhìn bá tước.

    Sự im lặng.

    Felix vật lộn kịch liệt để không nói quá nhiều.

    “Con mèo?” Ngài Swartingham gầm gừ nhẹ nhàng.

    Felix bắt đầu lắp bắp một lời đáp lại nhưng lại bị ngắt bởi một lời nói tục tĩu bị rống lên. Ông nhanh chóng cúi đầu xuống kèm theo sự im lặng mới được luyện tập gần đây khi bá tước cầm lên chiếc ấm bằng gốm và ném nó qua đầu của Felix vào thẳng cánh cửa. Nó đập một cú dữ dội và tạo ra một tiếng keng của những mảnh vỡ rơi ra. Con chó, rõ ràng là đã quá quen với cách cư xử kì cục mà Ngài Swartingham dùng để xả sự cáu giận, chỉ đơn thuần là thở dài.

    Ngài Swartingham thở nặng nhọc và đóng ghim Felix bằng đôi mắt màu than đen của mình. “Tôi tin tưởng là ông đã tìm ra được một người thay thế.”

    Khăn quàng cổ của Felix bất chợt có cảm giác như thít chặt lại. Ông rà một ngón tay quanh đường riềm phía trên của cái khăn. “Ờm, thực ra, thưa ngài, mặc dù, dĩ nhiên là tôi đã tìm kiếm khá cần cù, và thực tế là tất cả các ngôi làng ở quanh đây hầu như đã được lùng sục, nhưng tôi vẫn chưa - ” Ông ta hít sau và bắt lấy ánh mắt của ông chủ mình một cách dũng cảm. “Tôi e rằng tôi vẫn chưa tìm được một thư ký mới ạ.”

    Ngài Swartingham không di chuyển. “Tôi cần một thư ký để chép lại bản thảo của tôi cho một loạt các bài thuyết trình được cung cấp bởi Hiệp Hội Ruộng đất trong bốn tuần,” ngài tàn khốc tuyên bố. “Tốt nhất là ai đó ở lại được hơn hai ngày. Đi tìm một người đi.” Rồi ngài lại cầm lên một tờ giấy khác và bắt đầu đọc.

    Cuộc hội kiến chấm dứt.

    “Vâng, thưa ngài.” Felix nhảy lên khỏi chiếc ghế một cách đầy bất an và chạy vội tới phía cánh cửa. “Tôi sẽ bắt đầu tìm kiếm ngay, thưa ngài.”

    Ngài Swartingham đợi cho đến khi Felix gần đến cánh cửa mới quát lên, “Hopple.”

    Gần chạy thoát được, Felix rút tay mình khỏi nắm đấm cửa với vẻ tội lỗi. “Thưa ngài?”

    “Ông có thời gian cho đến sáng ngày kia.”

    Felix nhìn vào mái đầu vẫn cúi gằm xuống của ông chủ mình và nuốt xuống, cảm thấy khá giống với người bạn của Hercules khi lần đầu phải nhìn thấy chuồng ngựa của Augeas vậy [chuồng ngựa của Augeas: là chuồng chứa tới 3000 con bò và không hề dc dọn phân trong suốt ba mươi năm, lượng phân đóng dày đặc thành một lớp dày. Việc dọn chuồng bò của Augeas là một trong mười hai thử thách mà Hercule phải vượt qua và chàng đã dọn nó chỉ trong có một ngày]. “Vâng, thưa ngài.”

    EDWARD DERAAF, Bá tước đời thứ năm của Swartingham, đã hoàn thành việc đọc báo cáo được gửi từ bất động sản Bắc Yorkshire của mình và ném nó vào đống giấy lộn cùng với cặp kính của ngài. Ánh nắng từ cửa sổ đang nhạt đi nhanh chóng và sẽ sớm không còn. Ngài đứng lên khỏi chiếc ghế của mình và bước tới để nhìn ra ngoài. Con chó ngồi dậy, vươn vai và chậm rãi bước qua để đứng bên cạnh ngài, dụi vào tay ngài. Edward lơ đễnh vuốt ve đôi tai của nó.

    Đây đã là thư ký thứ hai bí mật rời đi vào buổi đêm trong quá nhiều tháng. Người ta sẽ nghĩ ngài là một con rồng. Mỗi viên thư ký đều đã làm chuột nhiều hơn làm người. Mới chỉ thể hiện đôi chút sự cáu giận, cao giọng hơn bình thường là họ đã bỏ chạy trối chết rồi. Nếu một trong những thư ký của ngài từng có dù chỉ một nửa sự dũng cảm của người phụ nữ mà ngày hôm qua ngài gần như là chạy trốn khỏi thì... Đôi môi ngài giật giật. Ngài đã nghe thấy lời đáp đầy châm biếm của cô khi ngài gặng hỏi là tại sao cô lại ở trên đường. Không, người phụ nữ đó vẫn giữ vững được lập trường của mình khi ngài thét ra lửa vào mặt cô. Thật tiếc là những người thư ký của ngài không thể làm điều tương tự.

    Ngài cau mày nhìn ra cánh cửa sổ mờ tối. Và rồi có thêm

    ... Nỗi phiền muộn

    bức bối khác. Ngôi nhà thời thơ ấu của ngài không như những gì mà ngài từng nhớ về nó.

    Đúng, bây giờ ngài là một người đàn ông. Khi ghé thăm Tu viện Ravenhill lần gần đây nhất, ngài là một chàng thanh niên trẻ tuổi đang đau buồn vì mất đi gia đình mình. Rồi trong suốt hai thập kỷ tiếp sau đó, ngài đã lang thang từ những bất động sản phía bắc của mình tới dinh thự ở London, nhưng không rõ là làm thế nào mà dù cho thời gian có trôi qua bao nhiêu đi chăng nữa thì những nơi đó vẫn không bao giờ cho ngài cảm giác giống như một mái ấm. Chính xác là ngài đã bỏ chạy bởi vì Tu viện sẽ không bao giờ còn giống như khi gia đình ngài từng sống ở đây. Ngài đã trông đợi một số sự thay đổi. Nhưng ngài đã không chuẩn bị sẵn sàng trước sự thê lương ảm đạm này. Cũng như cảm giác cô đơn tồi tệ này. Sự trống trải hết cỡ của những căn phòng đã đánh bại được ngài, chế giễu ngài bằng tiếng cười và ánh sáng mà ngài còn ghi nhớ được.

    Gia đình mà ngài tưởng nhớ.

    Lý do duy nhất mà ngài kiên quyết trong việc để toà biệt thự hoạt động trở lại là bởi ngài hy vọng mang cô dâu mới của ngài tới đây - cô dâu mới trong tương lai của ngài, người vẫn chưa được quyết định tuỳ thuộc vào sự dàn xếp thành công của bản thoả ước hôn nhân. Ngài sẽ không lặp lại

    những sai lầm trong cuộc hôn nhân đầu tiên ngắn ngủi của mình và cũng sẽ không cố để định cư ở nơi nào khác. Trở lại với thời đó, ngài đã nỗ lực để khiến người vợ trẻ của mình được hạnh phúc bằng cách tiếp tục ở lại miền Yorkshire nơi quê nhà của cô. Nó không hiệu quả. Trong những năm tiếp theo kể từ sau cái chết quá trẻ của vợ mình, ngài đã đi tới kết luận rằng cô sẽ không được hạnh phúc ở bất kì nơi nào mà họ chọn để xây dựng tổ ấm của mình.

    Edward rời khỏi cửa sổ và rảo bước tới cánh cửa thư viện. Ngài sẽ bắt đầu như ngài đã định; tiếp tục sống ở Tu viện; biến nó trở thành tổ ấm một lần nữa. Nó là ngôi nhà trong thời gian làm bá tước của ngài và là nơi ngài định trồng lại chiếc cây phả hệ gia đình mình một lần nữa. Và khi cuộc hôn nhân đơm hoa kết trái, khi những đại sảnh lại một lần nữa rộn vang tiếng cười của lũ trẻ, chắc chắn vùng đất Tu viện Ravenhill sẽ có sức sống trở lại.

    __________________
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link :)
     
  3. thanhbt

    thanhbt Học sinh Thành viên BQT


    Chương 2

    Chuyển ngữ: lovecocktail (kutecat)

    Cả ba người con gái của công tước đều đẹp như nhau. Cô chị cả có mái tóc màu đen nhựa đường sẫm hơn cả làm ánh lên những tia sáng màu xanh đen; cô chị hai có những lọn tóc màu rực rỡ như lửa phù hợp với một làn da trắng như sữa; và cô gái nhỏ tuổi nhất có màu vàng tươi, trên cả khuôn mặt và dáng vóc, vì vậy mà trông cô như thể được tắm trong ánh mặt trời vậy. Nhưng trong ba người thiếu nữ ấy, chỉ có cô em gái út được ban tặng lòng tốt của cha họ. Tên cô là Aurea...

    - từ Hoàng tử Quạ

    Ai sẽ đoán được rằng lại chỉ có một số lượng rất nhỏ đến thế công việc dành cho những quý cô của tầng lớp thượng lưu ở Little Battleford đây? Anna đã biết rằng tìm kiếm một vị trí là không hề dễ dàng khi nàng rời khỏi ngôi nhà lúc sáng nay, nhưng dù sao thì nàng vẫn bắt đầu với một vài hy vọng nào đó. Tất cả những gì mà nàng cần là một gia đình với lũ trẻ chưa biết đọc biết viết cần một nữ gia sư hoặc một quý bà cao tuổi đáng kính muốn tìm một người giúp cuộn len. Chắc chắn trông đợi như thế không phải là quá nhiều chứ?

    Hiển nhiên là có rồi.

    Bây giờ đã là giữa trưa rồi. Đôi chân nàng nhức mỏi vì bước thấp bước cao trên những con đường nhỏ đầy bùn đất, và nàng vẫn chưa tìm được một công việc. Mrs. Lester đáng kính chả có tí tình yêu nào đối với văn học. Và dù thế nào chăng nữa thì con rể của bà ấy cũng quá keo kiệt để chịu thuê một người trông nom. Anna cũng đã gõ cửa nhà của một số quý cô khác, gợi ý rằng nàng đang rỗi và sẵn sàng có một công việc, chỉ để hiểu được rằng tất cả họ đều không thể chi trả được cho một người đi kèm hoặc đơn giản là không cần người.

    Rồi nàng đến nàng của Felicity Clearwater.

    Felicity là cô vợ thứ ba của Điền chủ Clearwater, cái người mà hơn vợ ông ta đến khoảng 30 tuổi. Ngài điền chủ là chủ đất lớn nhất trong địa hạt bên cạnh Bá tước Swartingham. Làm vợ ông ta, Felicity rõ ràng đã tự cho mình là nhân vật thuộc tầng lớp trên của xã hội ở Little Battleford này và cao quý hơn gia đình Wren hèn mọn. Nhưng Felicity lại có hai cô con gái ở vào độ tuổi phù hợp với một nữ gia sư, vì vậy Anna cũng ghé thăm cô ta. Cô đã dành ra nửa tiếng cực kì khó chịu để bắt đầu một cách cẩn thận như một chút mèo bước trên những hòn đá sắc nhọn. Khi Felicity đã hiểu được lý do chuyến viếng thăm của Anna, cô ả vuốt một bàn tay được chăm chút kĩ lưỡng lên kiểu tóc vốn dĩ đã hoàn hào của mình. Rồi cô ta ngọt ngào hỏi về kiến thức nhạc lý của Anna.

    Văn phòng mục sư trước đây chưa bao giờ từng chơi đàn clavico [loại đàn có từ thế kỉ 15, là nguồn gốc của đàn dương cầm cổ điển] khi gia đình Anna phụ trách nó. Một sự thật mà Felicity biết quá rõ, bởi vì cô đã từng ghé qua đó trong nhiều dịp khi cô ta còn là một đứa bé gái.

    Anna hít một hơi thở sâu. “Tôi e rằng tôi không có bất kì khả năng âm nhạc nào cả, nhưng tôi biết đôi chút tiếng Latin và tiếng Hy Lạp.”

    Felicity trượt mở một chiếc quạt và khẽ mỉm cười phía sau nó. “Oh, tôi rất xin lỗi,” cô ta nói khi cô ta bình thường lại. “Nhưng các con gái của tôi sẽ không học bất cứ thứ gì nam tính mạnh mẽ như tiếng Latin hay tiếng Hy Lạp cả. Cái đấy khá là không phù hợp ở một quý cô, cô không nghĩ như thế sao?”

    Anna nghiến răng, nhưng vẫn xoay xở được một nụ cười. Cho đến khi Felicity đề nghị cô nên thử vào bếp để xem liệu đầu bếp có cần một cô hầu gái mới để làm công việc dọn dẹp. Mọi chuyện trở nên tồi tệ từ đó.

    Lúc này Anna khẽ thở dài. Nàng có lẽ sẽ trở thành một cô hầu gái làm công việc dọn dẹp hoặc tệ hơn thế, nhưng không phải ở nhà của Felicity. Đã đến lúc phải về nhà rồi.

    Rẽ vào ngã tư của cửa hàng bán các đồ gia dụng bằng sắt, nàng chỉ kịp tránh được một vụ va chạm với Mr. Felix Hopple đang vội vã đi theo hướng khác. Nàng trượt tới một cú huých của lồng ngực người quản gia ở Ravenhill.Một túi gồm những cái kim, một số chỉ thuê màu vàng và một gói trà nhỏ cho Mẹ Wren rơi từ túi nàng xuống đất. [chị hình như có sức hút với va chạm ý nhỉ =.=]

    “Oh, tôi rất xin lỗi, Mrs. Wren,” người đàn ông tốt bụng thở gấp khi ông ta cúi xuống để nhặt các thứ lên. “Tôi cho rằng tôi đã không hề bận tâm nơi đôi chân tôi mang mình đi đâu.”

    “Mọi thứ cũng không sao mà.” Anna nhìn vào chiếc áo gile có sọc đỏ tía và tím mà ông ta mặc và chớp mắt. Chúa ơi. “Tôi nghe nói ngài bá tước cuối cùng cũng định cư ở Ravenhill. Ông chắc phải bận rộn lắm.”

    Những chuyện ngồi lê đôi mách ở làng đều xì xào về sự xuất hiện trở lại của ngài bá tước bí mật ở vùng lân cận sau quá nhiều năm, và Anna cũng chỉ tò mò như những người khác mà thôi. Thực tế là nàng đã bắt đầu tự hỏi về nhân dạng của quý ông xấu xí, kẻ đã gần như chạy khỏi nàng ngày hôm qua...

    Mr. Hopple để bật ra một cái thở dài. “Tôi sợ là vậy.” Ông rút ra một cái khăn tay và lau trán của mình. “Tôi đang điên cuồng tìm kiếm một thư ký mới đáp ứng được quy tắc của ngài ấy. Chả phải một cuộc tìm kiếm dễ dàng gì cho cam. Người đàn ông cuối cùng mà tôi phỏng vấn đã liên tục bôi bẩn tờ giấy của mình, và tôi không hoàn toàn chắc chắn về khả năng đánh vần của anh ta nữa ấy chứ.”

    “Đó là một vấn đề ở một thư ký,” Anna lẩm bẩm.

    “Đúng vậy.”

    “Nếu ông không tìm được ai trong hôm nay, ông cứ nhớ rằng có rất nhiều quý ông ở nhà thờ vào sang chủ nhật,” Anna nói. “Có lẽ ông sẽ tìm được ai đó ở đó đấy.”

    “Tôi sợ là sẽ chả được ích lợi gì với tôi đâu. Quy định của ngài ấy nhấn mạnh là ngài ấy phải có một thư ký mới cho đến sáng mai.”

    “Sớm thế ư?” Anna mở to mắt nhìn. “Có rất ít thời gian còn lại.” Một ý nghĩ sáng lên.

    Người quản gia cố gắng phủi sạch bùn đất khỏi túi kim nhưng không thành công.

    “Mr. Hopple,” nàng chậm rãi nói, “bá tước có nói là ngài ấy cần một nam thư ký không ạ?”

    “À, không,” Mr. Hopple lơ đễnh đáp lại, vẫn đang bận tâm đến cái túi. “Ngài bá tước chỉ đơn giản là yêu cầu tôi đi thuê một thư ký khác, nhưng cái gì khác - ” Ông đột ngột dừng lại.

    Anna vuốt phẳng chiếc mũ rơm màu đồng và mỉm cười đầy ngụ ý. “Thực tế là tôi chỉ vừa mới nghĩ rằng tôi có khá nhiều thời gian rảnh rỗi. Ông có lẽ không biết, nhưng giờ tôi đang tay trắng. Và tôi hoàn toàn biết đánh vần như thế nào.”

    “Cô không phải đang gợi ý...?” Mr. Hopple trông choáng váng, khá giống với một con cá bơn bị mắc trong một bộ tóc giả màu hoa oải hương.

    “Vâng, tôi thực sự nghĩ thế.” Anna gật đầu. “Tôi nghĩ đó là một việc cần thiết. Vậy tôi nên báo cáo ở Ravenhill vào chín hay mười giờ sáng mai?”

    “Ờm, chín giờ cô ạ. Ngài bá tước dậy khá sớm. Nh - nhưng thật sự cô, Mrs. Wren - ” Mr. Hopple lắp bắp.

    “Vâng, thật mà, Mr. Hopple. Vậy nhé. Chuyện này đã được ấn định rồi nhé. Tôi sẽ gặp ông vào chín giờ sáng mai.” Anna vỗ nhẹ vào ống tay áo của người đàn ông tội nghiệp. Ông ta trông không thực sự ổn lắm. Nàng quay đi nhưng rồi lại dừng lại khi nhớ ra một điều rất quan trọng. “Còn một chuyện nữa. Bá tước đề xuất mức lương bao nhiêu thế ạ?”

    “Lương ư?” Mr. Hopple chớp mắt. “À, ờm, bá tước trả cho viên thư ký trước ba bảng một tháng. Như vậy ổn chứ cô?”

    “Ba bảng.” Đôi môi Anna chuyển động khi nàng lặp lại những từ đó trong im lặng. Hôm nay thật không ngờ lại là một ngày tươi sáng ở Little Battleford. “Vậy là tuyệt rồi.”

    “VÀ CHẮC CHẮN RẰNG NHIỀU phòng ngủ ở tầng trên sẽ cần được sửa chữa hoặc cả sơn lại nữa.

    Ông nghe rồi chứ, Hopple?” Edward đi xuống khỏi ba bậc thềm cuối ở phía trước Tu viện Ravenhill và rảo bước tới chuồng ngựa, ánh mặt trời lúc chiều muộn tỏa hơi ấm lên lưng ngài. Con chó, vẫn như thường lệ, theo ngài sát gót.

    Không có lời đáp lại.

    “Hopple? Hopple!” Ngài quay ra, đôi giày ống của ngài tạo ra tiếng lạo xạo trên những viên sỏi vụn, và đồng thời liếc ra sau mình.

    “Một lúc thôi, thưa ngài.” Ông quản gia chỉ mới bắt đầu đi xuống những bậc thềm ở phía trước. Ông trông như thể hết hơi. “Tôi sẽ ở đây... trong... một... lúc thôi ạ.”

    Edward đợi, gõ nhịp chân, cho đến khi Hopple bắt kịp, rồi ngài lại tiếp tục quanh quẩn ở phía sau. Tới đây nền sân bằng sỏi vụn đã bị thay thế bởi đá sỏi được mài mòn trong khoảng sân nhỏ. “Ông đã nghe rõ về những căn phòng ngủ tầng trên chưa?”

    “Ơ, những căn phòng ngủ tầng trên ấy ạ, thưa ngài?” người đàn ông nhỏ thó thở khò khè khi ông nhìn ra những ghi chú trên tay mình.

    “Bảo người làm thuê quét dọn chúng đi,” Edward chậm rãi nhắc lại. “Kiểm tra xem liệu chúng có cần sơn không. Hãy cố mà theo kịp lời tôi đi, ông quản gia.”

    “Vâng, thưa ngài,” Hopple lẩm bẩm, vội vã viết ngoáy xuống.

    “Tôi tin tưởng là ông đã tìm được một thư ký.”

    “Ờm, à...” Ông quản gia nhìn chằm chằm vào bản ghi chú của mình một cách có chủ ý.

    “Tôi chắc chắn đã nói với ông là tôi cần một người vào sáng mai.”

    “Vâng, đúng ạ, thưa ngài, và thực ra tôi cũng có tìm được một - một người mà tôi nghĩ có lẽ sẽ rất ổn -”

    Edward dừng lại trước cánh cửa đôi nặng nề dẫn vào chuồng ngựa. “Hopple, ông có kiếm được một thư ký cho tôi hay không hả?”

    Ông quản gia hoảng hốt. “Có, thưa ngài. Tôi thực sự nghĩ người ta có thể nói là tôi đã tìm được một thư ký.”

    “Vậy tại sao lại không nói thế?” Ngài cau mày. “Có gì sai trái với người đó à?”

    “K - không, thưa ngài.” Hopple vuốt lại cái áo gile màu tím xấu xí của mình. “Tôi hứa là thư ký sẽ đáp ứng được khá tốt những yêu cầu của ngài ở vị trí là một, ừm, là một thư ký.” Đôi mắt ông ta dán dính vào con ngựa đảo gió ở trên mái chuồng ngựa.

    [​IMG]

    Cánh quạt đảo gió trên mái nhà

    Edward thấy bản thân ngài cũng đang xem xét cái cánh đảo gió. Nó kêu cọt kẹt và chậm rãi quay tròn. Ngài rời ánh mắt khỏi nó và nhìn xuống. Con chó ngồi bên cạnh ngài, đầu nó nghiêng nghiêng, và cũng nhìn cái cánh đảo gió.

    Edward lắc đầu. “Tốt. Tôi sẽ vắng mặt vào sáng mai khi cậu ta tới.” Họ bước từ chỗ có ánh mặt trời lúc chiều muộn vào bóng tối của khu chuồng ngựa. Con chó túc tắc đi lên trước, khụt khịt ngửi vào những góc xó xỉnh.

    “Vậy nên ông sẽ cần chỉ cho cậu ta bản thảo viết tay của tôi và hướng dẫn chung cho anh ta về nhiệm vụ của mình.” Ngài quay lại. Chỉ là sự tưởng tượng của ngài hay quả thật Hopple trông thư giãn hơn hẳn?

    “Vâng, thưa ngài,” ông quản gia nói.

    “Tôi sẽ lên London sớm mai và sẽ đi cho tới hết tuần. Cho đến lúc tôi về, anh ta sẽ phải sao chép lại xong những bản thảo mà tôi đã để lại.”

    “Tất nhiên ạ, thưa ngài.” Viên quản gia rõ ràng là đang tươi cười.

    Edward nhìn ông ta và khịt mũi. “Tôi sẽ rất trông đợi được gặp thư ký mới của mình khi trở về.”

    Nụ cười của Hopple nhạt đi.

    Tu Viện Ravenhill là một địa danh đáng chán, Anna đã nghĩ thế khi nàng đi trên con đường dẫn đến dinh thự vào sáng hôm sau. Chuyến đi bộ từ làng đến điền trang dài gần ba dặm [1 dặm là khoảng 1,6km], và hai bắp chân của nàng bắt đầu nhức mỏi. Thật may là ánh mặt trời chiếu rực rỡ. Những cây sồi già đứng tạo thành đường biên của con đường, một sự biến đổi từ những cánh đồng thưa chạy dọc theo con đường từ Little Battleford của lúc trước. Những cái cây đã già đến nỗi hai người đánh xe ngựa có thể đánh xe chạy song song cùng chiều với nhau qua khoảng cách ở giữa chúng.

    Nàng rẽ vào một khúc ngoặt, thở hổn hển, và dừng lại. Những cây hoa thủy tiên điểm nhánh cỏ xanh mềm mại bên dưới những cây cổ thụ.

    Những nhánh cây phía trên chỉ có một nhúm nhỏ lá non, và ánh mặt trời chiếu xuyên qua chúng mà không gặp bất kì trở ngại nào. Mỗi cây hoa thủy tiên vàng lại tỏa ánh sang trong mờ và đẹp tuyệt vời, tạo nên một xứ sở thần tiên mong manh dễ vỡ.

    Kiểu người nào lại rời xa khỏi nơi này trong gần hai thập kỷ cơ chứ?

    Anna nhớ lại những câu chuyện kể về dịch bệnh đậu mùa khủng khiếp đã tàn phá Little Battleford trong nhiều năm trước khi gia đình nàng chuyển vào văn phòng mục sư. Nàng biết gia đình của vị bá tước hiện tại đều đã qua đời vì cơn bệnh đó. Cho dù thế, anh ta cũng đã không ít nhất là ghé thăm nơi này trong những năm đó ư?

    Nàng lắc đầu và tiếp tục. Chỉ cần đi qua cánh đồng hoa thủy tiên, một bãi cây nhỏ sẽ mở ra và nàng có thể nhìn thấy Ravenhill một cách rõ ràng. Tòa biệt thự cao bốn tầng, xây bằng đá xám theo phong cách cổ điển. Một cánh cửa đơn nằm ngay chính giữa ở tầng một đã chiếm lĩnh mặt tiền. Từ cánh cổng vào, bộ đôi cầu thang uốn dẫn xuống mặt đất. Trong một đại dương của những cánh đồng thưa thớt, mảnh đất Tu viện là một hòn đảo, cô độc và ngạo mạn.

    Anna bắt đầu đi trên con đường dài dẫn tới Tu viện Ravenhill, niềm tin của nàng phai nhạt dần khi khoảng cách càng lúc càng gần. Cánh cửa phía trước đó đơn giản là quá oai nghiêm. Nàng ngần ngừ một lúc khi đến gần tòa nhà Tu viện, rồi bất chợt rẽ vào gó ngoặt. Chỉ đi qua chỗ ngoặt là nàng thấy cánh cổng của những người hầu. Cánh cửa đó, cũng cao và là cửa đôi, nhưng ít nhất nàng không phải leo len những bậc thềm bằng đá gra-nít để đến được với nó. Hít một hơi thở sâu, nàng kéo mạnh cái nắm đấm cửa cỡ lớn bằng đồng và đi thẳng vào phòng bếp rộng lớn.

    Một người phụ nữ cao lớn với mái tóc vàng nhạt đứng bên một cái bàn khổng lồ ở trung tâm. Bà nhào bột làm bánh, hai cánh tay của bà dồn toàn lực vào cái bát sứ có kích cỡ của một cái ấm đun nước. Những lọn tóc rơi xuống từ búi tóc nhỏ trên đỉnh đầu bà và dính vào mồ hôi trên hai gò má đỏ bừng. Những người khác duy nhất trong căn phòng là một cô hầu gái làm việc quét dọn và một cậu trai đánh giày. Cả ba người cùng quay lại nhìn chằm chằm vào nàng.

    Người phụ nữ với mái tóc màu nhạt - chắc là đầu bếp chăng? nhấc hai cánh tay đầu bột lên. “Vâng?”

    Anna nâng cằm lên. “Chào buổi sang. Tôi là thư ký mới của ngài bá tước, là Mrs. Wren. Bà có biết Mr. Hopple có thể ở đâu không?”

    Không hề đón lấy ánh mắt từ Anna, người đầu bếp la hét với cậu bé trai đánh giày. “Cậu tới đây, Danny. Đi đưa Mr. Hopple tới đây và bảo ông ấy là Mrs. Wren đang ở ngay trong nhà bếp. Đấy, đi nhanh lên.”

    Danny cuống quít chạy khỏi nhà bếp, và người đầu bếp lại quay về với đống bột làm bánh của bà.

    Anna đứng yên chờ đợi.

    Cô hầu gái làm việc quét dọn bên cạnh chiếc lò sưởi cỡ đại nhìn chằm chằm sang, vô thức cào cả vào tay mình. Anna mỉm cười với cô ấy. Cô gái nhanh chóng rời ánh mắt đi chỗ khác.

    “Tôi chưa bao giờ nghe về một quý cô làm thư ký trước đây.” Bà đầu bếp vẫn giữ ánh mắt nhìn vào đôi tay mình, nhanh nhẹn nhào nặn chỗ bột. Bà thành thạo tung cả đống bột len bàn và lăn nó thành một quả bóng, những đường cơ trên cẳng tay bà căng lại. “Vậy cô đã gặp ông chủ của ông ấy rồi chứ?”

    “Chúng tôi chưa từng được giới thiệu,” Anna nói. “Tôi thảo luận về công việc với Mr. Hopple, và ông ấy không băn khoăn gì về việc tôi trở thành thư ký của ngài bá tước cả.” Ít nhất là giọng nói của Mr. Hopple đã không có tí băn khoăn nào, nàng tự thêm vào ở trong đầu.

    Bà đầu bếp lẩm bẩm mà không hề nhìn lên. “Thế là tốt.” Bà mau mắn bẹo ra những mẩu bột cỡ bằng quả hồ đào và lăn chúng thành những viên tròn. Một lượng lớn viên tròn được tạo ra. “Bertha, đi lấy cái khay kia đến cho tôi đi.”

    Cô hầu gái lấy cái khay bằng gang đến và xếp những viên bột tròn thành hàng trong chiếc khay. “Ngài ấy cho tôi những cơn ớn lạnh phát run, khi ông ấy quát tháo,” cô ta thì thầm.

    Bà đầu bếp liếc một con mắt tức giận và châm biếm vào cô hầu gái. “Kể cả âm thanh của tiếng cú kêu đêm cũng khiến cho cô ớn lạnh phát run ấy chứ. Ngài bá tước là một quý ông tốt bụng. Trả cho tất cả chúng ta một khoản tiền lương thích đáng và cho chúng ta những ngày nghỉ định kì, chính ngài ấy làm đấy.”

    Bertha cắn môi dưới của mình khi cô cẩn thận xếp từng viên bột. “Ông ấy có miệng lưỡi sắc bén kinh khủng. Có lẽ đó là lý do tại sao Tootleham rời đi quá - ” Cô ta dường như nhận ra bà đầu bếp đang liếc nhìn mình và thình lình ngậm chặt miệng lại.

    Sự xuất hiện của Mr. Hopple đã phá vỡ khoảnh khắc im lặng đầy lung túng. Ông ta mặc chiếc áo gile màu tím, cả bề mặt áo thuê những quả anh đào đỏ tươi.

    “Chào buổi sáng, chào buổi sáng, Mrs. Wren.” Ông ta hướng một cái liếc nhanh sang bà đầu bếp và cô hầu gái đang dõi theo rồi hạ thấp giọng xuống. “Cô chắc chắn chứ, ờm, về việc đó ấy?”

    “Dĩ nhiên rồi, Mr. Hopple.” Anna mỉm cười với người quản gia theo một kiểu mà nàng hy vọng là đầy tự tin. “Tôi đang rất mong chờ được làm quen với ngài bá tước.”

    Nàng nghe bà đầu bếp khẽ hừ ở phía sau mình.

    “Ah.” Mr. Hopple ho khẽ. “Về việc đó, ngài bá tước đã lên đường tới London làm chút chuyện. Ngài ấy thường dành thời gian ở đó, cô viết đấy,” ông nói bằng tông giọng thân mật. “Gặp gỡ với những quý ông có học thức khác. Ngài bá tước là người được ủy quyền về những vấn đề nông nghiệp.”

    Sự thất vọng bắn qua người nàng. “Liệu tôi có nên đợi đến khi ngài ấy trở lại không?” nàng hỏi.

    “Không, không. Không cần,” Mr. Hopple nói. “Ông chủ đã để lại một số tài liệu để cô sao chép lại ở thư viện.

    Tôi sẽ chỉ đưa cô đến đó thôi nhé, được không?”

    Anna gật đầu và theo người quản gia đi khỏi nhà bếp và lên cầu thang phía sau để vào hành lang chính.

    Sàn nhà được lát đá cẩm thạch đen và hồng, chạm trổ hoa văn xinh đẹp, mặc dù hơi khó để nhìn trong ánh sáng mờ mờ ở đây.

    Họ đi đến cửa chính, và nàng nhìn đăm đăm vào cầu thang lớn. Chúa ơi, nó to kinh khủng. Những bậc thang dẫn lên khu vực chiếu nghỉ có kích cỡ bằng cả căn bếp của nàng và rồi lại tách sang thành hai cầu thang uốn cong dẫn lên tận những tầng tối om ở phía trên. Làm thế quái nào mà một người đàn ông lại sống được ở một ngôi nhà rộng cỡ này hả trời, cho dù ông ta thực sự có một đội quân người hầu đi chăng nữa?

    Anna nhận ra rằng Mr. Hopple đang nói chuyện với nàng.

    “Viên thư ký trước và, dĩ nhiên, người tiền nhiệm của anh ta làm việc trong phòng làm việc riêng của họ ở dưới cầu thang,” người đàn ông bé nhỏ nói. “Nhưng căn phòng đó khá ảm đạm vắng vẻ. Không phù hợp với một quý cô chút nào. Vì vậy tôi nghĩ tốt nhất là cô nên bắt đầu ở thư viện, nơi ngài bá tước làm việc. Trừ khi,” Mr. Hopple nín thở hỏi dò, “cô thích có căn phòng dành riêng cho mình hơn?”

    Ông quản gia đi tới thư viện và giữ cả cho Anna. Nàng đi vào trong và bất chợt dừng lại, buộc Mr. Hopple phải bước tới cạnh nàng.

    “Không, không đâu. Căn phòng này quá tuyệt rồi.” Nàng ngạc nhiên với sự bình tĩnh mà giọng nàng thể hiện ra. Có quá nhiều sách!

    Chúng xếp ở ba mặt của căn phòng, giáp quanh lò sưởi và cao tới tận trần nhà mái vòm.

    Phải có tới hơn một ngàn cuốn sách ở trong căn phòng này. Một cái thang ọp ẹp đứng ở góc phòng trên những bánh xe, rõ ràng để phục vụ cho mục đích duy nhất là lấy những quyển sách ngoài tầm tay. Cứ tưởng tượng việc được làm chủ tất cả những cuốn sách này và có thể đọc chúng bất cứ khi nào muốn.

    Mr. Hopple dẫn nàng tới một góc của căn phòng sâu như hang động đó, nơi đặt một chiếc bàn bằng gỗ dái ngựa cỡ cực lớn.

    Đối diện với nó, cách một vài feet, là một chiếc bàn bằng gỗ hoa hồng nhỏ hơn.

    “Chúng ta ở đây, Mrs. Wren ạ,” ông nhiệt tình nói. “Tôi đã bày sẵn mọi thứ mà tôi nghĩ là cô sẽ cần: giấy, bút lông ngỗng, mực, khăn lau, giấy thấm, và cát. Đây là bản viết tay mà bá tước muốn được chép lại.” Ông ta chỉ một đống giấy cỡ bốn inch xếp lộn xộn. “Có một cái dây rung chuông ở góc xa kia, và tôi chắc chắn bà bếp sẽ rất vui được đưa trà và bất kì món đồ ăn nhẹ nào mà cô muốn. Có chuyện gì khác mà cô muốn nữa không?”

    “Oh, không. Tất cả thế là ổn rùi.” Anna vỗ hai tay vào nhau ở trước mặt và cố không tỏ vẻ bị choáng ngợp.

    “Không à? À, nhớ bảo tôi nếu cô cần thêm giấy, hoặc bất cứ cái gì khác cho việc này.” Mr. Hopple mỉm cười và đóng cánh cửa đằng sau ông.

    Nàng ngồi vào chiếc bàn nhỏ thanh nhã và cung kính rà một ngón tay trên hình chạm khắc bóng loáng. Thật là một món đồ nội thất tuyệt vời. Nàng thở dài và cầm lấy tờ đầu tiên trong bản thảo của ngài bá tước. Một loại chữ viết tay ấn đậm, nghiêng nặng sang bên phải, điền kín cả trang. Đâu đó, các câu văn bị gạch đi và những câu thay thế thì được viết vội dọc theo các lề kèm theo các mũi tên để chỉ chỗ mà chúng sẽ đứng.

    Anna bắt đầu chép lại. Chữ viết của nàng tuôn ra nhỏ và gọn. Nàng dừng lại đôi lúc khi cố gắng dịch một từ. Chữ của bá tước thực sự rất xấu. Mặc dù vậy, sau một lúc thì nàng cũng bắt đầu quen với chữ Ys cuộn vòng và chữ Rs được viết nhanh của ngài.

    Qua buổi trưa một chút, Anna để chiếc bút lông ngỗng sang một bên và chà lau vết mực ở các đầu ngón tay. Rồi nàng đứng dậy và ngập ngừng kéo lên chiếc dây rung chuông ở góc phòng. Nó im lặng, nhưng có thể một cái chuông đã kêu lên ở nơi nào đó để yêu cầu ai đó mang lên cho nàng một tách trà. Nàng nhìn vào hàng sách ở gần chiếc dây chuông. Chúng rất nặng, những tập sách được chạm nổi với những cái tên tiếng Latin. Tò mò, nàng kéo một cuốn ra. Khi nàng làm thế, một cuốn tập mỏng rơi xuống sàn nhà với một tiếng thịch. Anna nhanh chóng cúi người nhặt nó lên, liếc nhanh đầy tội lỗi về phía cánh cửa. Vẫn không có ai đáp lại cái rung chuông cả.

    Nàng quay lại với cuốn sách trong tay mình. Nó được bọc gáy bằng da dê thuộc màu đỏ, cho cảm giác mềm như bơ khi chạm vào, và không hề có tiêu đề. Chi tiết trang trí duy nhất là một cái lông chim màu vàng được chạm nổi trên góc dưới bên phải của cái bìa. Nàng nhíu mày và trả lại sự lựa chọn đầu tiên của nàng vào vị trí cũ, rồi cẩn thận mở cuốn sách bằng da màu đỏ ra. Bên trong, trên một trang trống ở đầu, được viết bằng một loại chữ viết như của trẻ con, Elizabeth Jane de Raaf, cuốn sách của cô ấy.

    “Vâng, thưa cô?”

    Anna suýt nữa đánh rơi cuốn sách đỏ khi giọng cô hầu gái trẻ vang lên. Nàng vội vã trả nó về giá và mỉm cười với cô hầu. “Tôi tự hỏi liệu tôi có thể có một ít trà được không?”

    “Vâng, thưa cô.” Cô hầu gái nhún gối và rời đi mà không có lời nói gì thêm.

    Anna liếc nhìn lại vào cuốn sách của Elizabeth nhưng quyết định rằng sự thận trọng đã vượt qua sự dũng cảm và quay trở lại bàn để đợi trà.

    Vào lúc năm giờ, Mr. Hopple vội vàng trở lại thư viện. “Ngày đầu tiên của cô thế nào? Không quá vất vả chứ, tôi hy vọng thế?” Ông ta cầm lên một số các tờ giấy đã hoàn thành và liếc qua vài tờ đầu. “Chúng trông rất tốt. Ngài bá tước sẽ hài lòng khi chuyển chúng tới các thợ in.” Ông ta nói với vẻ nhẹ nhõm.

    Anna tự hỏi liệu ông ta có phải đã dành cả ngày để lo lắng về khả năng của nàng không. Nàng thu dọn các thứ và, nhìn một lần cuối cái bàn của mình để chắc chắn mọi thứ ở đúng vị trí, chúc Mr. Hopple buổi tối tốt lành và trở về nhà.

    Mẹ Wren thình lình vọt tới ngay khi Anna về tới ngôi nhà tranh nhỏ và dồn dập đưa lời hỏi nàng đầy sốt sắng. Thậm chí Fanny còn nhìn nàng như thể làm việc cho bá tước là cực kì hợp thời vậy.

    “Nhưng con vẫn còn chưa gặp ngài ấy,” Anna phản đối nhưng không hiệu quả.

    Những ngày tiếp theo trôi qua nhanh chóng, và đống giấy đã được sao chép lại cũng dần tăng lên. Chủ nhật là một ngày nghỉ ngơi đáng để hoan nghênh.

    Khi Anna trở lại vào thứ hai, Tu viện mang một bầu không khí đầy sự hứng thú. Ngài bá tước cuối cùng cũng đã trở về từ London. Bà bếp thậm chí còn chẳng them nhìn lên khỏi nồi súp mình đang khuấy khi Anna đi vào nhà bếp, và Mr. Hopple không có ở đấy để đón nàng như lệ thường của ông. Anna tự đi tới thư viện một mình, trông chờ việc cuối cùng cũng được gặp ông chủ của mình.

    Chỉ để thấy căn phòng không một bóng người.

    Oh, tốt thôi. Anna thở ra một hơi đầy thất vọng và đặt cái túi đựng bữa trưa xuống chiếc bàn gỗ hoa hồng. Nàng bắt đầu công việc, và thời gian trôi qua, chỉ bị đánh dấu bởi âm thanh chiếc bút lông ngỗng của nàng chạy lạo xạo trên giấy. Sau một lúc, nàng cảm nhận một sự hiện diện khác và nhìn lên. Anna thở hổn hển.

    Một con chó to đứng bên cạnh chiếc bàn của nàng chỉ cách xa có một cánh tay. Loài động vật đó đi vào mà không hề có tiếng động.

    Anna buộc bản thân thật yên lặng trong khi cố gắng suy nghĩ. Nàng không sợ những chú chó. Khi còn bé, nàng đã từng có một con chó săn nhỏ dễ thương. Nhưng con chó này là con to nhất mà nàng từng gặp phải. Và không may là nó cũng rất quen thuộc. Nàng đã thấy chính con vật này không tới một tuần trước, chạy bên cạnh người đàn ông xấu xí bị ngã ngựa trên đường cái. Và nếu con vật này ở đây lcus này thì... oh, trời ơi. Anna đứng dậy, nhưng con chó bước một bước về phía nàng và nàng nghĩ tốt hơn là không nên bỏ chạy khỏi thư viện. Thay vì vậy, nàng thở ra và chậm rãi ngồi xuống phía sau. Nàng và con chó mắt đối mắt. Nàng đưa một bàn tay, long bàn tay hướng xuống dưới, cho con chó hít ngửi. Con chó dõi mắt theo cử động của bàn tay nàng, nhưng xem thường hành động đó.

    “À,” Anna nhẹ nhàng nói, “nếu mày không di chuyển, thưa ngài, thì tôi ít nhất là cũng có thể tiếp tục với lại công việc của mình.”

    Nàng lại nhặt lên chiếc bút lông ngỗng của mình, cố gắng lờ con vật to lớn bên cạnh mình đi. Sau một lúc, con chó ngồi xuống nhưng vẫn nhìn nàng. Khi chiếc đồng hồ trên mặt lò sưởi điểm giờ nghỉ trưa, nàng đặt cây bút xuống và chà xát tay mình. Thận trọng, nàng vươn tay lên quá đầu, chắc chắn là mình cử động một cách chậm rãi.

    “Có lẽ mày sẽ muốn ăn trưa gì đó chứ?” nàng lẩm bẩm với con quái vật. Anna mở cái túi bọc vải nhỏ mà nàng mang theo mỗi sang ra. Nàng nghĩ đến việc rung chuông yêu cầu một ít trà để ăn kèm với bữa trưa nhưng không chắc liệu con chó có để nàng đi khỏi cía bàn không.

    “Và nếu ai đó không tới để kiểm tra tao,” nàng càu nhàu với con quái vật, “thì tao sẽ bị dán dính vào cái bàn này suốt cả chiều chỉ vì mày mất thôi.”

    Cái túi chứa bánh mì và bơ, một quả táo, và một mẩu pho - mát nhọn, được bọc lại trong một tấm vải. Nàng đưa một miếng vỏ bánh mì tới chỗ con chó, nhưng nó thậm chí còn không thèm ngửi.

    “Mày kén cá chọn canh chứ gì?” Nàng trệu trạo nhai miếng bánh mì. “Tao đoán mày đã quen ăn bữa tối với gà lôi và sâm - panh.”

    Con chó vẫn giữ im lặng.

    Anna ăn xong bánh mì và bắt đầu ăn sang quả táo dưới con mắt thận trọng của con quái vật ấy. Chắc chắn nếu nó nguy hiểm thì nó sẽ không được cho phép đi lang thang ở quanh vùng đất Tu viện đúng không? Nàng bớt lại miếng pho - mát sau cùng. Nàng hít vào khi tháo miếng vải cuộn nó và tận hưởng mùi vị hăng hăng. Pho - mát là một thứ khá xa xỉ vào lúc này.

    Nàng liếm môi.

    Con chó sử dụng thời điểm đó để vươn cổ lên và hít ngửi.

    Anna dừng lại với miếng pho - mát đã nửa đường đi tới miệng. Nàng nhìn vào nó đầu tiên và rồi quay lại với con chó. Đôi mắt nó là một màu nâu ướt. Nó đặt một chân nặng nề lên đùi nàng.

    Nàng thở dài. “Một ít pho - mát hả, nhà quý tộc?” Nàng bẻ ra một miếng và đưa nó ra.

    Mẩu pho - mát biến mất chỉ trong một miếng, để lại một vệt nước bọt chó trên lòng bàn tay nàng, chỗ con chó vừa ăn. Cái đuôi dày lông của nó quét lên tấm thảm. Nó nhìn nàng đầy trông đợi.

    Anna nhướn lông mày đầy lạnh lùng. “Mày, quý ngài ạ, là đồ giả mạo.”

    Nàng cho con vật quái thai đó phần còn lại của miếng pho - mát. Chỉ khi đó thì nó mới hạ cố để cho nàng vuốt ve đôi tai nó. Nàng đang vuốt lên cái đâu to của nó và nói với nó rằng nó là một người đồng hành đẹp trai, đáng tự hào thì chợt nghe thấy âm thanh của những bước chân đi ủng ở trên hành lang. nàng nhìn lên và thấy Bá tước của Swartingham đang đứng ở cửa, đôi mắt màu đá vỏ chai đậm chiếu vào nàng.

    [​IMG]

    Đá vỏ chai

    __________________
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link :)
     
  4. thanhbt

    thanhbt Học sinh Thành viên BQT


    Chương 3

    Chuyển ngữ: lovecocktail (kutecat)

    Một vị hoàng tử đầy uy quyền, không hề biết hãi sợ cả Chúa trời hay con người, đã đến cai trị vùng đất ở phía đông của công tước.

    Hắn là một người đàn ông tàn bạo và cũng là một người có lòng tham không đáy. Hắn ghen tỵ với ngài công tước về sự phì nhiêu ở vùng đất của ngài và cả sự sung sướng hạnh phúc của người dân nơi đó. Rồi một ngày, vị hoàng tử tập hợp được một lượng đông đảo những người đàn ông và cùng tiến vào vùng đất nhỏ của ngài công tước, vừa đi vừa cướp bóc đất đai và con người nơi đó cho đến khi đội quân đến được bên ngoài những bức tường của lâu đài ngài công tước.

    Vị công tước già leo lên đầu những bức tường có lỗ châu mai và quan sát một biển những tên chiến binh kéo dài từ chỗ những hòn đá của lâu đài ngài tuốt tới tận đường chân trời. Làm thế nào ông có thể đánh bại được mội đạo quân đầy uy lực như vậy đây? Ông khóc cho người dân của ông và cho những cô con gái của ôn
    g, những người chắc chắn sẽ bị chúng cưỡng bức rồi giết hại. Nhưng khi ông đứng đó và chìm trong nỗi tuyệt vọng thì ông nghe thấy một giọng nói như tiếng kêu của loài chim thú. “Xin đừng khóc, công tước. Tất cả giờ vẫn chưa mất...”

    - từ Hoàng tử Quạ


    Edward tạm ngừng động tác bước vào thư viện của mình. Ngài chớp mắt. Một người phụ nữ đang ngồi trên chiếc bàn dành cho thư ký của ngài.

    Ngài kiềm chế thôi thúc bản năng muốn bước lùi lại và kiểm tra lại cái cửa. Thay vào đó ngài mở to mắt mình, nhìn chằm chằm vào kẻ xâm nhập trái phép. Nàng là một tạo vật nhỏ nhắn trong bộ váy màu nâu, mái tóc nàng bị giấu trong một chiếc mũ có diềm vải xếp nếp xấu kinh dị. Nàng giữ lưng mình thẳng bang đến mức nó không hề chạm vào chiếc ghế. Nàng trông giống như mọi quý cô khác có phẩm hạnh tốt đẹp nhưng của cải thì không dư dả, ngoại trừ là nàng đang vuốt ve - vì Chúa, là vuốt ve - chính con thú to tướng của ngài. Cái đầu của con vật lười biếng ngả xuống đầy thư giãn, cái lưỡi thì thè xuống dưới cằm như một tên ngốc đờ đẫn, hai con mắt nó khép hờ trong tâm trạng sung sướng.

    Edward quắc mắt với nó. “Cô là ai?” anh hỏi nàng bằng giọng điệu trầm khàn hơn anh định tỏ ra.

    Khuôn miệng của người phụ nữ mỏng manh đầy nghiêm nghị đã thu hút được ánh mắt của anh. Nàng có cái miệng gợi tình nhất mà anh từng thấy ở một người phụ nữ. Nó rộng, với phần môi trên đầy đặn hơn phần môi dưới, và một khóe môi cong lên. “ Tôi là Anna Wren, thưa ngài. Con chó của ngài tên là gì ạ?”

    “Tôi không biết.” Anh chậm rãi bước vào phòng, chú ý để không di chuyển đột ngột.

    “Nhưng” - người phụ nữ nhíu lông mày - “nó không phải con chó của ngài sao?”

    Anh liếc nhìn vào con chó và bị thôi miên trong giây lát. Những ngón tay tinh tế của nàng đang vuốt ve trên bộ lông của con chó.

    “Nó chạy theo tôi và ngủ bên cạnh giường tôi.” Edward nhún vai hờ hững. “Nhưng nó không có tên gọi nào mà tôi được biết cả.”

    Anh dừng lại bên cạnh chiếc bàn gỗ hoa hồng. Nàng sẽ phải di chuyển qua anh để chạy khỏi căn phòng.

    Hai hang lông mày của Anna Wren hạ xuống đầy thất vọng. “Nhưng nó phải có một cái tên chứ. Ngài gọi nó như thế nào ạ?”

    “Hầu hết thời gian thì tôi không gọi.”

    Người phụ nữ này thật giản dị. Nàng có chiếc mũi nhỏ, cao, đôi mắt màu nâu và mái tóc màu nâu - đó là những gì anh có thể nhìn được về mái tóc ấy.

    Không có điểm gì ở nàng là khác với một người thường. Ngoại trừ khuôn miệng đó.

    Đầu lưỡi nàng lướt nhẹ để làm ẩm khóe môi kia.

    Edward cảm thấy con gà trống của mình [cái ấy ý =.=] nhảy lên và cứng lại; anh hy vọng đến chết đi được là nàng sẽ không chú ý và bị sốc đến mức ngây ngốc với tâm hồn của một thiếu nữ. Anh đã bị khuấy động bởi một người phụ nữ ăn mặc tầm thường và lỗi mốt mà anh thậm chí còn chưa làm quen.

    Con chó chắc chắn đã chán cuộc trò chuyện. Nó trượt mình ra khỏi bàn tay của Anna Wren và nằm xuống cạnh lò sưởi kèm theo một hơi thở dài.

    “Cô cứ đặt tên cho nó nếu cô phải làm thế.” Edward lại nhún vai và đặt những ngón tay của bàn tay phải lên chiếc bàn.

    Cái nhìn chằm chằm đánh giá mà nàng đặt lên anh đã khuấy đảo lại một ký ức. Đôi mắt anh mở lớn. “Cô chính là người phụ nữ đã khiến con ngựa của tôi nhảy sang một bên trên đường cái ngày hôm trước.”

    “Vâng.” Nàng trao cho anh một cái nhìn của sự ngọt ngào đáng nghi ngờ. “Tôi xin lỗi vì ngài đã ngã nhào khỏi ngựa của mình.”

    Xấc xược. “Tôi đã không ngã nhào. Tôi chỉ bị lật khỏi nó thôi.”

    “Thật ư?”

    Anh sắp sửa tranh cãi về cái từ đó, nhưng nàng lại đưa một tập giấy ra cho anh. “Ngài sẽ để tâm xem xét những gì tôi đã chép lại hôm nay chứ?”

    “Hmm,” anh tạo ra một âm thanh đầy lấp lửng.

    Anh rút cặp kính từ một túi áo và đặt nó lên sống mũi. Mất một lúc để có thể tập trung vào trang giấy trên tay mình nhưng khi anh chú ý, Edward mới nhận ra chữ viết tay của người thư ký mới của mình. Anh đã đọc những trang chép lại vào tối qua, và trong khi anh tán thành sự gọn gàng trong nét chữ, anh lại tự hỏi về sự ẻo lả đàn bà của nó.

    Anh nhìn vào Anna Wren nhỏ nhắn qua cặp kính của mình và khịt mũi. Không phải ẻo lả. Mà là nữ tính. Điều đó giải thích cho sự lảng tránh của Hopple.

    Anh đã đọc thêm được một vài câu nữa trước khi một ý nghĩ khác lướt qua trong anh. Edward chuyển một cái liếc nhanh qua bàn tay của người phụ nữ và thấy nàng không đeo nhẫn. Tất cả những người đàn ông quanh đây có lẽ ngại phải tỏ tình với nàng.

    “Cô chưa kết hôn à?”

    Nàng có vẻ bị giật mình. “Tôi là một góa phụ, thưa ngài.”

    “Ah.” Vậy nàng đã được tỏ tình và đã kết hôn, nhưng giờ thì không còn nữa. Giờ đây không người đàn ông bảo vệ nàng cả.

    Xuất hiện ngay lập tức sau ý nghĩ đó là một cảm giác đầy tính lố bịch, cho việc có những suy nghĩ muốn ăn tươi nuốt sống với một người phụ nữ tẻ nhạt như này. Ngoại trừ khuôn miệng đó... Anh di chuyển một cách không thoải mái và đưa những suy nghĩ vẩn vơ của mình trở lại với trang giấy mình đang giữ. Không có những vết mực rây hay những lỗi sai chính tả nào mà anh có thể tìm được. Đó chính xác là những gì anh trông đợi từ một góa phụ nhỏ nhắn, xám ngắt tẻ nhạt. Anh thầm cười toe toét.

    Ha. Một lỗi. Anh nhìn vào nàng góa phụ qua cặp kính. “Từ này phải là compost [bón phân trộn], chứ không phải là compose [kết hợp]. Cô không thể đọc được chữ của tôi à?”

    Mrs. Wren hít một hơi thở sâu như thể để củng cố sự kiên nhẫn của mình, việc đó khiến cho vùng ngực đầy đặn của nàng căng ra hơn.

    “Thực ra, thưa ngài, không, tôi không thể dịch được mọi chữ.”

    “Hừ”, anh lầm bầm, thất vọng đôi chút vì nàng đã không tranh cãi. Nàng chắc là phải hít sâu nhiều lần nếu bị làm cho tức phát điên lên.

    Anh chấm dứt việc đọc qua các trang giấy và vứt chúng xuống bàn của nàng, nơi chúng trượt tán loạn.

    Nàng cau mày với đống giấy tờ cao thấp lộn xộn và cúi xuống để nhặt một tờ bị rơi xuống sàn nhà.

    “Các tài liệu này trông khá tốt rồi.” Anh đi tới phía sau nàng. “Tôi sẽ làm việc tiếp ở đây vào cuối chiều nay trong khi cô hoàn thành việc chép lại các bản thảo này cho xong đi.”

    Anh vươn qua người nàng để búng một mẩu xơ vải ra khỏi cái bàn. Vào khoảnh khắc đó, anh có thể cảm nhận được sự nóng bỏng của cơ thể nàng và ngửi được mùi hương hoa hồng nhàn nhạt thoảng qua từ hơi ấm của nàng. Anh cảm giác nàng cứng cả người lại.

    Anh đứng thẳng lại. “Ngày mai tôi sẽ cần cô làm việc cùng tôi về những vấn đề liên quan đến điền trang. Tôi mong là nó không quá sức của cô chứ?”

    “vâng, dĩ nhiên là không, thưa ngài.”

    Anh cảm nhận rằng nàng quay người đi để nhìn anh, nhưng anh đã đi tới cánh cửa rồi. “Tốt. Tôi có công chuyện phải tham dự trước khi bắt đầu làm việc của mình ở đây.”

    Anh dừng lại ở cạnh cửa. “Oh, và Mrs. Wren này?”

    Nàng nhướn đôi lông mày. “Vâng, thưa ngài?”

    “Đừng rời Tu viện trước khi tôi trở lại.” Edward sải bước vào hành lang và quyết định đi tìm kiếm, chất vấn viên quản gia của mình.

    Trong thư viện, Anna mở to đôi mắt nhìn vào cái lưng đang thoái lui của ngài bá tước. Thật là một người đàn ông độc đoán.

    Anh ta thậm chí trông cũng đầy kiêu căng khi nhìn từ đằng sau, hai bờ vai rộng thẳng băng, cái đầu ở một độ nghiêng đầy hống hách.

    Nàng suy nghĩ những từ cuối của anh ta và đưa một cái cau mày đầy bối rối vào chú chó đang nằm ườn trước lò sưởi. “Sao anh ta lại nghĩ mình sẽ rời đi nhỉ?”

    Con chó cụp tai mở một mắt nhưng dường như cũng biết đó chỉ là câu hỏi tu từ nên lại nhắm mắt lại.

    Nàng thở dài và lắc đầu, rồi kéo một trang giấy trắng ra khỏi chồng giấy. Trên tất cả thì nàng là thư ký của anh ta; nàng vừa mới phải học cách để chịu đựng vị bá tước độc tài này. Và, dĩ nhiên là phải luôn luôn kéo những suy nghĩ của nàng về với bản thân mình.

    Ba giờ sau, Anna gần như đã hoàn thành việc chép lại những trang giấy và đã vẹo cả một bên vai vì những nỗ lực của mình. Ngài bá tước vẫn chưa trở lại, mặc dù anh ta đã có lời báo trước. Nàng thở dài và gập bàn tay phải của mình, rồi đứng dậy.

    Có lẽ đi dạo vài bước quanh phòng thì vẫn đúng quy định. Con chó nhìn lên và đứng dậy đi theo nàng. Một cách vẩn vơ, nàng dò những ngón tay dọc theo một giá sách. Chúng là những quyển sách ngoại cỡ, những tập bách khoa địa lý, được phân loại theo tiêu đề ở gáy sách. Những cuốn sách này chắc chắn là to hơn cuốn bìa đỏ mà nàng đã thấy tuần trước. Anna dừng lại. Nàng đã không có được sự can đảm để khám phá cuốn tập nhỏ nhắn đó bởi vì nàng đã bị cô hầu gái xen ngang, nhưng giờ đây sự tò mò đang đưa nàng đến với giá sách gần sợi dây rung chuông.

    Nó ở đó, nằm yên ổn bên cạnh những người bạn đồng hành to lớn hơn, chỉ như là nàng vừa mới bỏ nó xuống vậy. Cuốn sách màu đỏ mỏng dính dường như đang ra dấu gọi nàng tới. Anna kéo nó ra và mở đến trang tiêu đề. Dòng chữ in theo kiểu hoa văn và khó có thể đọc được: Hoàng tử Quạ. Không có tên tác giả. Nàng nhướn đôi long mày và lật vài trang cho đến khi nàng đến hình ảnh minh họa của một con quạ to màu đen, lớn hơn nhiều so với một con bình thường. Nó đứng trên một bức tường đá cạnh một người đàn ông có chòm râu trắng dài và một khuôn mặt nhuốm đầy nét mệt mỏi. Anna nhíu mày. Mái đầu của con quạ nghiêng đi như thể nó biết thứ gì đó mà người đàn ông già nua thì không, và cái mỏ của nó mở ra như là nó có thể -

    “Cô cầm cái gì ở đó thế?”

    Giọng trầm của ngài bá tước khiến nàng run bắn lên đến nỗi Anna đã đánh rơi cuốn sách ngay lúc đó. Làm sao mà một người đàn ông cao lớn cỡ đó lại di chuyển quá im lặng đến vậy chứ? Anh đang bước qua tấm thảm, không hề bận tâm đến những vết bùn đất mà mình để lại, và nhặt cuốn sách dưới chân nàng lên. Nét mặt của anh tĩnh lặng khi anh nhìn phần bìa cuốn sách. Nàng không thể nói được là anh đang nghĩ gì lúc này.

    Rồi anh nhìn lên. “Tôi nghĩ là tôi sẽ gọi đưa trà lên,” anh nói đơn giản. Anh kéo vào cái dây rung chuông.

    Con chó to bất thình lình dụi mõm mình vào bàn tay còn lại của ông chủ nó. Ngài Swartingham chải lên đầu con chó và quay sang để đặt cuốn sách lên ngăn kéo bàn của mình.

    Anna thanh thanh cổ họng của mình. “Tôi chỉ mới nhìn qua. Tôi hy vọng ngài không phiền -”

    Nhưng ngài bá tước đã vẫy bảo cô im lặng khi cô hầu gái của phòng khách xuất hiện ở cửa. Anh nói với cô hầu gái. “Bitsy, bảo bà bếp mang một khay gồm một ít bánh mỳ và trà cùng bất kì cái gì khác mà bà ấy có lên.” Anh liếc qua Anna, có vẻ như là một suy nghĩ được thêm vào sau. “Xem liệu bà ấy có bánh ngọt hay bánh quy không nữa, rõ chưa?”

    Anh đã không hỏi trước xem liệu Anna có thích đồ ngọt hơn không, vì vậy việc đó cũng giống như là nàng có thích. Cô hầu gái cúi chào và nhanh chóng đi khỏi căn phòng.

    Anna khẽ bặm môi. “Tôi thực sự không định -”

    “Không sao,” anh ngắt lời. Ngài bá tước đang ngồi xuống bàn của mình, kéo lọ mực và chiếc bút lông ngỗng ra bằng một cách thức bừa bãi.

    “Cứ nhìn quanh đi nếu cô muốn thế. Tất cả những quyển sách ở đây nên được sử dụng vì mục đích nào đó. Mặc dù, tôi không biết liệu cô có thấy nhiều điều thú vị trong chúng không. Hầu hết đều là các cuốn lịch sử tẻ nhạt, nếu như tôi nhớ đúng, và có lẽ là cũng đầy nấm mốc nữa.”

    Anh dừng lại để cẩn thận đọc một tờ giấy nằm ở trên bàn. Nàng mở miệng định cố gắng thêm một lần nữa nhưng rồi lại bị xao lãng bởi hình ảnh anh lơ đãng vuốt ve chiếc bút lông ngỗng trong khi đọc. Bàn tay anh rộng và rám nắng, sạm hơn nhiều so với bàn tay mà một quý ông nên có. Những sợi lông đen mọc ở lưng bàn tay. Suy nghĩ rằng anh có lẽ cũng có cả lông ở vùng ngực bất chợt nảy ra trong đầu nàng. Nàng đứng thẳng lại và thanh thanh cổ họng.

    Ngài bá tước nhìn lên.

    “Ngài có nghĩ ‘Công tước’ là một cái tên đẹp không ạ?” nàng hỏi.

    Khuôn mặt anh trống rỗng trong một giây trước khi thong suốt. Anh liếc con chó trong khi cân nhắc. “Tôi không nghĩ thế. Nếu có tên đó thì nó sẽ vượt cả tước vị của tôi.”

    Sự xuất hiện của ba cô hầu gái mang theo một cái khay nặng trĩu đã cứu Anna khỏi việc phải đáp lại. Họ bắt đầu phục vụ trà trên một chiếc bàn gần cửa sổ rồi rút lui. Bá tước ra hiệu cho nàng đến chỗ ngồi ở một phía trong khi anh chiếm chiếc ghế đối diện.

    “Tôi rót nhé?” nàng hỏi.

    “Cảm ơn.” Anh gật đầu.

    Anna rót trà ra. Nàng nghĩ mình cảm nhận được bá tước đang ngắm nhìn nàng khi nàng tiến hành nghi thức này, nhưng khi nàng nhìn lên, tia nhìn của anh lại đang chiếu vào tách trà của mình. Lượng thức ăn được đưa lên thật khiến người ta phát hoảng. Có bánh mì và bơ, ba loại mứt khác nhau, giăm bông lạnh đã cắt lát, bánh nhân thịt chim bồ câu, một ít pho mát, hai cái bánh pút - đinh khác loại, những cái bánh ngọt cỡ nhỏ được làm lạnh, và hoa quả sấy khô. Nàng lấy một cái đĩa cho bá tước với một phần của mỗi thứ, nhớ lại xem một người đàn ông sau khi tập thể dục thì sẽ đói đến mức nào; rồi nàng lại chọn một vài miếng hoa quả và một cái bánh ngọt cho mình. Rõ ràng là ngài bá tước không thích nói chuyện trong khi ăn. Anh xử lý gọn gàng chỗ đồ ăn trên đĩa của mình.

    Anna nhìn anh trong khi nàng ăn từng miếng nhỏ chiếc bánh chanh.

    Anh ngả ra chiếc ghế, cong một bên đầu gối còn chân kia thì nửa duỗi bên dưới bàn. Đôi mắt nàng lướt theo chiều dài của đôi giày ống lấm bùn đất của anh, lên hai bắp đùi căng đầy sức lực đến vùng hông nhỏ gọn, qua vùng bụng phẳng tới một lồng ngực nở ra dẫn đến hai bờ vai khá là rộng đối với một người đàn ông chắc nịch như thế. Tia nhìn của nàng nhanh chóng kéo tới khuôn mặt anh. Đôi mắt đen của anh chiếu lại vào mắt nàng.

    Nàng đỏ mặt và thanh thanh cổ họng. “Con chó của ngài quá” - nàng liếc qua chỗ con thú xấu xí - “khác thường. Tôi không tin tối lại từng được thấy con chó nào giống nó trước đây. Ngài đã nhận nó ở đâu vậy?”

    Ngài bá tước khịt mũi. “Câu hỏi đúng phải là, nó nhận tôi ở đâu?”

    “Xin lỗi nhưng cái gì cơ ạ?”

    Ngài bá tước thở dài và dịch người trên chiếc ghế. “Nó xuất hiện vào một đêm khoảng một năm về trước ở bên ngoài điền trang của tôi ở Bắc Yorkshire. Tôi thấy nó trên đường. Nó gầy còm nhom, bị bọ chét cắn, và có một sợi dây thừng quấn quanh cổ và hai chân trước. Tôi cắt rời sợi dây, và con vật chết tiệt này theo tôi về nhà.” Anh quắc mắt với con chó ở bên cạnh chiếc ghế của mình.

    Nó vẫy đuôi đầy vui mừng. Ngài bá tước vứt một mẩu vỏ bánh ra và con chó đớp lấy nó từ trên không.

    “Từ đó thì không thể nào tống khứ nó đi được.”

    Anna mím môi để che giấu một nụ cười. Khi nàng nhìn lên, nàng nghĩ bá tước đang nhìn chằm chằm vào khuôn miệng nàng.

    Oh, trời ơi. Nàng không làm rây đồ ăn lên mặt mình đấy chứ? Nàng vội xoa nhẹ đôi môi mình bằng một ngón tay. “Nó chắc chắn là rất trung thành với ngài sau khi ngài cứ nó.”

    Anh lầu bầu. “Chính xác hơn là nó trung thành với những mẩu thức ăn thừa của nhà bếp mà nó có được khi ở đây.” Ngài bá tước đứng dậy đột ngột và rung chuông để yêu cầu dọn các thứ, con chó đi theo chân anh. Rõ ràng là bữa ăn phụ đã kết thúc.

    Cả phần còn lại của ngày trôi qua trong thân thiện.

    Bá tước không phải là một tác giả im lặng. Anh lẩm bẩm với mình và vuốt một bàn tay lên mái tóc mình cho đến khi những sợi tóc rơi ra khỏi bím tóc và rơi xuống má anh thành một mớ lộn xộn. Đôi khi anh đột ngột đứng lên bước quanh phòng trước khi trở lại bàn để viết nghệch ngoạc một cách giận dữ. Con chó dường như đã quen với phong cách làm việc của bá tước nên vẫn ngáy ngủ bên cạnh lò sưởi, không hề bận tâm.

    [​IMG]

    Kiểu tóc của đàn ông năm 1760

    Khi đồng hồ ở đại sảnh báo năm giờ, Anna bắt đầu thu dọn chiếc túi của mình lại.

    Ngài bá tước cau mày. “Cô sẽ rời đi luôn à?”

    Anna dừng lại. “Đồng hồ đã điểm năm giờ rồi, thưa ngài.”

    Anh có vẻ rất ngạc nhiên, rồi anh liếc qua cái cửa sổ đang tối dần. “Phải rồi.”

    Anh đứng dậy và đợi cho đến khi nàng thu dọn xong và hộ tống nàng ra đến cửa. Anna cảm thấy rất rõ sự hiện diện của anh bên cạnh nàng khi nàng đi xuống đại sảnh. Đầu nàng không cao đến vai anh, điều đó lại nhắc nàng rằng anh là người đàn ông cao lớn đến mức nào.

    Bá tước cau mày khi anh thấy con đường vắng tanh ở bên ngoài. “Xe ngựa của cô đâu?”

    “Tôi không có cái nào,” nàng nói hơi chua cay. “Tôi đi bộ từ làng đến.”

    “Ah. Dĩ nhiên rồi,” anh nói. “Đợi ở đây. Tôi sẽ cho xe ngựa của tôi đánh tới đây.”

    Anna bắt đầu phản đối, nhưng anh đã chạy xuống khỏi những bậc thềm và sải bước đi tới chuồng ngựa, để lại nàng với con chó bầu bạn với nhau. Con vật rên rỉ và ngồi xuống. Nàng vuốt ve đôi tai nó. Họ cùng im lặng đợi, lắng nghe tiếng gió lao xao trên những ngọn cây. Con chó bất chợt vểnh tai lên và đứng dậy.

    Chiếc xe ngựa tạo ra âm thanh lộc cộc quanh ngã rẽ và được đưa tới trước những bậc thềm. Ngài bá tước leo xuống và mở cửa cho Anna. Một cách hăm hở, con chó cụp tai bắt đầu đi xuống khỏi những bậc thềm trước cả nàng.

    Ngài Swartingham quắc mắt với con vật. “Không phải mày.”

    Con chó cúi đầu và đi tới đứng cạnh anh. Anna đặt bàn tay đeo gang của mình vào tay ngài bá tước khi anh giúp nàng bước vào trong cỗ xe. Lúc đó, những ngón tay mạnh mẽ, nam tính nắm chắc quanh bàn tay nàng; rồi nàng được thả ra để ngồi vào chiếc ghế bọc da màu đỏ.

    Ngài bá tước dựa vào cạnh cỗ xe. “Ngày mai cô không cần phải mang theo bữa trưa đâu. Cô sẽ ăn cùng với tôi.”

    Anh ra hiệu với người đánh xe trước khi nàng có thể nói lời cảm ơn và cỗ xe đột ngột tiến về phía trước. Anna vươn cổ để ngoái lại nhìn. Ngài bá tước vẫn đứng trước những bậc thềm cùng con chó lớn. Vì lí do nào đó mà hình ảnh đó khiến nàng đầy ắp sự cô đơn buồn bã. Anna lắc đầu và quay mặt lại, tự trừng phạt bản thân.

    Ngài bá tước không cần sự thương hại của nàng.

    Edward dõi theo chiếc xe ngựa đi qua ngã rẽ. Anh có một cảm giác khó chịu là anh không nên để nàng góa phụ nhỏ nhắn ấy rời khỏi tầm mắt mình. Sự có mặt của nàng bên cạnh anh ở thư viện vào chiều nay là sự êm dịu lạ kì. Anh tự cười mình. Anna Wren không phải dành cho anh. Nàng thuộc một tầng lớp khác với anh, và thêm nữa, nàng là một góa phụ đứng đắn đến từ ngôi làng. Nàng không phải là một quý cô thuộc tầng lớp thượng lưu sành điệu - người mà có thể sẽ nghĩ đến một mối quan hệ bất chính ngoài hôn nhân.

    “Đi thôi.” Anh vỗ một tay lên đùi mình.

    Con chó theo anh trở lại trong thư viện. Căn phòng lại lạnh lẽo và ảm đạm. Làm cách nào đó mà nó đã trở nên ấm áp hơn khi Mrs. Wren ngồi đây. Anh đi ra sau chiếc bàn bằng gỗ hoa hồng của nàng và nhìn thấy chiếc khăn tay ở trên sàn nhà. Nó màu trắng với những bông hoa được thêu ở một góc. Có lẽ là những bông hoa vi-ô-lét chăng? Thật khó nói rõ được vì chúng hơi không cân xứng. Edward nâng chiếc khăn lên mặt và hít vào. Nó có mùi hương hoa hồng.

    Anh rà ngón tay theo chiếc khăn và đi tới chỗ những chiếc cửa sổ đang tối dần. Chuyến đi của anh tới London đã kết thúc tốt đẹp.

    Ngài Richard Gerard đã chấp nhận lời cầu hôn với con gái của ông ta. Gerard chỉ là một nam tước, nhưng gia đình ông lâu đời và có tiếng tăm. Bà mẹ đã sinh ra bảy đứa con, năm người trong số đó vẫn còn sống tới tuổi trưởng thành. Gerard cũng sở hữu một điền trang nhỏ không bị hạn chế trong việc thừa kế nằm tiếp giáp với điền trang của anh ở Bắc Yorkshire. Người đàn ông đó đã không chịu thêm mảnh đất này vào của hồi môn của cô con gái lớn, nhưng Edward cảm thấy chắc chắn rằng ông ta rồi cũng sẽ thay đổi. Trên tất cả, Gerard sẽ có một vị bá tước làm con rể còn gì. Rõ là một chiến tích lẫy lừng của ông ta. Còn về cô con gái...

    Suy nghĩ của Edward dừng lại, và trong một khoảnh khắc kinh khủng, anh không thể nghĩ ra được tên cô. Rồi nó cũng bật ra với anh: Sylvia. Dĩ nhiên là Sylvia. Anh đã không dành nhiều thời gian để ở riêng với cô, nhưng anh đã đảm bảo rằng cuộc hôn nhân này là phù hợp với cô gái đó. Anh đã hỏi thẳng cô rằng liệu những vết sẹo do đậu mùa có làm cô thấy kinh tởm. Cô đã nói là chúng không khiến cô cảm thấy thế. Edward cuộn tay mình lại thành nắm đấm. Cô ta có nói thật không? Những người khác đã nói dối về những vết sẹo của anh và anh đã bị lừa dối trong quá khứ. Cô gái này đã rất tốt bụng khi nói với anh điều mà anh muốn nghe và anh sẽ không đi khám phá sự thật về sự kinh tởm của cô cho đến sau này. Nhưng thay vào đó anh có gì? Để duy trì tình trạng không kết hôn và không con cái trong suốt phần còn lại của cuộc đời anh chỉ vì nỗi sợ về một lời nói dối có thể chấp nhận được ư? Cái hậu quả đó không thể được bảo vệ.

    Edward lướt một ngón tay lên má anh và cảm thấy lớp vải lanh mềm trên da mình. Anh vẫn giữ chiếc khăn tay. Anh nhìn chằm chằm vào nó một lúc, chà miếng vải bằng ngón tay cái; rồi anh cẩn thận gập nó chiếc khăn tay và đặt nó lên bàn.

    Anh sải bước ra khỏi căn phòng, con chó theo sát bóng anh.

    Sự trở về nhà của Anna trên chiếc xe ngựa sang trọng đã tạo ra một sự hứng thú trong ngôi nhà nhỏ của nhà Wren. Nàng có thể thấy được khuôn mặt trắng trẻo của Fanny nhìn chăm chú qua những cái rèm cửa sổ phòng khách khi người đánh xe ghìm những con ngựa bên ngoài ngôi nhà tranh. Nàng đợi cho đến khi người hầu kéo những bậc thang ra rồi mới xuống khỏi xe ngựa một cách từ tốn.

    “Cảm ơn.” Nàng mỉm cười với anh hầu trẻ. “và cả ông nữa, ông đánh xe John ạ. Tôi rất xin lỗi vì đã đặt hai người vào sự phiền hà này.”

    “Không phiền hà gì đâu, thưa cô.” Người đánh xe chạm những đầu ngón tay ông ta lên vành chiếc mũ tròn. “Rất mừng là chúng tôi có thể thấy cô về nhà an toàn.”

    Người hầu trẻ nhảy lên phía sau cỗ xe, và với một cái gật đầu với Anna, người đánh xe ngựa John hô lên với lũ ngựa. Chiếc xe chỉ vừa rời đi khi Mẹ Wren và Fanny nhào ra khỏi ngôi nhà tranh để tấn công nàng bằng những câu hỏi.

    “Ngài bá tước đã gửi con về nhà bằng xe ngựa của ngài ấy,” Anna giải thích khi nàng dẫn đường quay trở vào trong.

    “Ôi, thật là một người đàn ông tốt bụng,” mẹ chồng nàng thốt lên.

    Anna nghĩ về cái cách mà ngài bá tước đã ra lệnh cho nàng sử dụng chiếc xe ngựa. “Đúng thế ạ.” Nàng tháo chiếc khăn choàng vai và chiếc mũ của mình ra.

    “Vậy cô đã gặp mặt ngài bá tước chưa, thưa cô?” Fanny hỏi.

    Anna mỉm cười với cô gái trẻ và gật đầu.

    “Em chưa bao giờ được thấy ngài bá tước cả, cô ạ. Ngài trông thế nào ạ?”

    “Anh ấy chỉ là một người đàn ông như bất cứ người nào khác,” Anna đáp lại.

    Nhưng nàng không chắc chắn với những ngôn từ của chính nàng. Nếu ngài bá tước giống bất kì người đàn ông nào khác, vậy tại sao nàng lại có một sự thôi thúc kỳ lạ được kích động anh ta vào những cuộc tranh luận? Không người đàn ông nào khác mà nàng quen lại khiến nàng muốn thử thách họ cả.

    “Em nghe nói ngài ấy có những vết sẹo kinh khủng trên khuôn mặt do bệnh đậu mùa.”

    “Fanny, cháu yêu,” Mẹ Wren thốt lên, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn đấy.”

    Tất cả bọn họ cùng suy nghĩ về thái độ của nhà quý tộc ấy trong một lúc. Fanny nhíu mày khi cô xoay xở với vấn đề đó.

    Mẹ Wren thanh thanh cổ họng. “Mẹ đã nghe kể là những vết sẹo đậu mùa chạy dọc một nửa trên của khuôn mặt ngài ấy.”

    Anna ngăn lại một nụ cười. “Anh ấy đúng là có những vết sẹo đậu mùa trên mặt, nhưng chúng thực sự không dễ nhận thấy.

    Bên cạnh đó, anh ấy có mái tóc đen dày, hấp dẫn và đôi mắt sẫm màu rất đẹp cùng với giọng nói rất cuốn hút, thậm chí là rất tuyệt, đặc biệt khi anh ấy nói nhẹ nhàng. Và anh ấy khá cao, với hai bờ vai rộng, căng tràn.” Nàng đột ngột dừng lại.

    Mẹ Wren nhìn nàng với vẻ kì cục.

    Anna giật hai chiếc găng tay của mình ra. “Bữa tối đã xong chưa ạ?”

    “Bữa tối á? Oh, rồi, bữa tối đã sẵn sàng rồi.” Mẹ Wren xua Fanny đi vào nhà bếp. “Chúng ta có một cái bánh put - đinh và một con gà quay mà Fanny đã mua được với giá hời ở Farmer Brown’s. Con bé đang luyện kĩ năng mặc cả của mình, con biết đấy. Mẹ và con bé nghĩ đây là để chúc mừng chuyện kiếm được việc làm tốt của con.”

    “Thật tuyệt ạ.” Anna bắt đầu đi lên những bậc thang. “Con sẽ rửa mặt và thay đồ ạ.”

    Mẹ Wren đặt một bàn tay lên cánh tay nàng. “Con có chắc là con biết rõ mình đang làm gì không, con yêu?” bà hỏi bằng một giọng thấp. “Đôi khi những quý cô ở một độ tuổi nhất định, ừm, bị quyến rũ bởi những quý ông.” Bà dừng lại rồi nói bằng một giọng gấp gáp. “Ngài ấy không ở cùng tầng lớp với chúng ta, con biết đấy. Nó sẽ chỉ dẫn đến đau khổ thôi.”

    Anna nhìn xuống bàn tay già nua mong manh trên tay nàng; rồi nàng thận trọng mỉm cười và ngước lên. “Con nhận thức rất rõ rằng bất cứ cái gì mang đặc tính cá nhân giữa Ngài Swartingham và con đều sẽ không được phép mà mẹ.

    Mẹ không cần lo lắng đâu mẹ ạ.”

    Người phụ nữ luống tuổi tìm kiếm đôi mắt của nàng thêm một lúc lâu nữa trước khi vuốt lên bàn tay của Anna. “Đừng lâu quá nhé, con yêu. Chúng ta vẫn chưa dùng bữa tối nay đâu đấy.”

    __________________
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link :)
     
  5. thanhbt

    thanhbt Học sinh Thành viên BQT


    Chương 4

    Chuyển ngữ: lovecocktail (kutecat)

    Ngài công tước quay lại và nhìn thấy một con quạ to đậu trên bờ tường của lâu đài. Con chim nhảy xuống gần hơn và hếch cái đầu của nó lên. “Ta sẽ giúp ông đánh bại được hoàng tử nếu ông chịu để một trong những cô con gái của ông làm vợ ta.”

    “Sao mi dám chứ, đồ xấu xa kia!” Vị công tước già run run trong sự phẫn nộ. “Mi đã xỉ nhục ta khi bảo ta nên nghĩ đến việc để cho một trong những con gái của mình đi kết hôn với một con chim bẩn thỉu.”

    “Những lời cao quý đấy, ông bạn của tôi,” con quạ mỉa mai. “Nhưng đừng có nhanh quá chứ. Chỉ trong một lúc nữa thôi, ông sẽ mất cả các cô con gái lẫn cuộc đời của mình đấy.”

    Ngài công tước nhìn đăm đăm vào con quạ và nhận ra nó không phải một con chim bình thường. Nó đeo một sợi dây vàng quanh cổ, và một mặt dây chuyền bằng ruby có hình một cái vương miện nhỏ, đẹp tuyệt vời được treo trên sợi dây. Ông lại nhìn xuống đoàn quân của kẻ địch đang đe dọa ở trước cổng lâu đài của mình, trong khi hiểu ra rằng ông có rất ít thứ để mất, và rồi đồng ý với vụ giao dịch kinh khủng này...


    - từ Hoàng tử Quạ

    “Ngài có cân nhắc cái tên ‘Sweetie’ không ạ?” Anna hỏi khi nàng múc lên một ít của món táo hầm. [Sweetie: kiểu gọi yêu người hoặc con vật, tương tự như cưng]

    Nàng và bá tước đang ngồi ở một đầu của chiếc bàn rộng mênh mông trong phòng ăn. Từ lớp bụi phủ dày trên mặt gỗ dái ngựa ở đầu kia của chiếc bàn, nàng đoán là căn phòng này đã không được sử dụng thường xuyên lắm. Ngài bá tước đã từng ăn tối ở đây chưa? Nhưng căn phòng ăn này đã được mở cửa mỗi ngày trong tuần trước để họ ăn trưa. Trong tuần đó, nàng đã hiểu ra rằng bá tước không phải là một người hay nói chuyện. Sau nhiều ngày nhận những lời đáp lại đầy càu nhàu và chỉ bằng một âm tiết, giờ đây việc kích động cho được một sự phản ứng từ ông chủ của nàng đã trở thành thứ gì đó như một trò chơi vậy.

    Ngài Swartingham tạm dừng hành động cắt một miếng bánh nhân thịt bò và bầu dục. “Sweetie á?”

    Đôi mắt anh đặt trên khuôn miệng nàng, và Anna nhận ra rằng mình đã liếm môi. “Vâng. Ngài không nghĩ ‘Sweetie’ là một cái tên đáng yêu à?”

    Họ cùng nhìn xuống con chó ngồi bên cạnh ghế của của bá tước. Nó đang cắm cúi gặm một khúc xương ống, những cái răng nanh sắc nhọn lóe sáng.

    “Tôi nghĩ ‘Sweetie’ có lẽ không hoàn toàn phù hợp với đặc tính của nó đâu,” Ngài Swartingham nói, đặt một lát bánh lên đĩa của mình.

    “Hmm. Có thể ngài nói đúng.”Anna nhai một cách trầm ngâm. “Nhưng, chính ngài cũng chưa đưa ra một sự lựa chọn nào.”

    Ngài bá tước mạnh mẽ cắt vào một tảng thịt. “Đó là bởi vì tôi thấy cứ để con vật đó không tên cũng được.”

    “Ngài không có con chó đực nào à?”

    “Tôi?” Anh nhìn nàng chằm chằm như thể nàng vừa mới hỏi liệu anh có phải từng có hai đầu khi còn bé không vậy. “Không.”

    “Không một con thú nuôi trong nhà nào ư?”

    Anh cau mày với cái bánh mặn của mình. “Ừm, có con chó nhỏ của mẹ tôi -”

    “Đấy, anh có mà,” Anna thốt lên trong chiến thắng.

    “Nhưng con vật đó là một con chó pug và là một con vật cực kì dễ bị kích động của loài này.”

    “Cho dù thế -”

    “Đã từng gầm gừ và cắn vào tất cả mọi người trừ Mẹ tôi,” ngài bá tước nói một cách đầy suy tư, hình như là với chính bản thân mình. “Không ai thích nó cả. Từng cắn cả một người hầu. Cha đã phải cho người hầu khốn khổ đó một si - ling.”

    “Và con pug đó có tên không?”

    “Fiddles.” Bá tước gật đầu và cắn một miếng bánh. “Nhưng Sammy gọi nó là Piddles. Nó cứ cho con chó ăn kẹo dẻo chỉ để nhìn nó bị dính kẹo ở cổ họng mình.”

    Anna mỉm cười. “Sammy là em trai của ngài à?”

    Ngài Swartingham nâng cái ly rượu vang lên môi mình, và rồi anh dừng lại ngay trước khi nhấp một ngụm. “Phải.” Anh lại đặt chiếc ly xuống chính xác vị trí bên cạnh cái đĩa của mình. “Tôi sẽ cần phải kiểm tra tiếp những vấn đề khác ở điền trang vào chiều nay.”

    Nụ cười của Anna phai nhạt đi. Sự vui đùa của họ rõ ràng là đã đến giới hạn.

    Anh tiếp tục, “Ngày mai tôi sẽ cần cô cưỡi ngựa ra ngoài với tôi. Hopple muốn chỉ cho tôi những phần ruộng gặp vấn đề về thoát nước, và tôi muốn cô ghi chú cho chúng tôi khi chúng tôi bàn luận những giải pháp có thể hữu dụng.” Anh nhìn lên. “Cô có thói quen cưỡi ngựa chứ, phải không?”

    Anna gõ nhẹ những ngón tay mình lên chiếc tách trà của mình. “Thực ra tôi chưa bao giờ cưỡi ngựa cả.”

    “Chưa bao giờ?” Đôi lông mày anh nhướn lên.

    “Chúng tôi không có con ngựa nào cả.”

    “Không, tôi cũng nghĩ là không.” Anh cau mày với cái bánh trên đĩa của mình như thể nó là nguyên do cho sự thiếu thốn trang phục cần thiết của nàng. “Cô có bộ áo dài nào phù hợp có thể sử dụng cho chuyến cưỡi ngựa không?”

    Anna âm thầm lướt qua trí nhớ chiếc tủ quần áo sơ sài của nàng. “Tôi có thể thay một chiếc áo cũ.”

    “Tuyệt. Mặc nó vào ngày mai và tôi sẽ dạy cô bài học cưỡi ngựa cơ bản. Nó cũng không quá khó.

    Chúng ta sẽ không đi quá nhanh.”

    “Oh, nhưng, thưa ngài,” Anna phản đối, “Tôi không muốn mang đến phiền phức cho ngài. Tôi có thể nhờ một trong những người giữ ngựa dạy tôi học.”

    “Không.” Anh liếc nàng. “Tôi sẽ dạy cô cưỡi ngựa.”

    Người đàn ông độc đoán. Nàng mím môi và kiềm lại một lời đáp trả, trong khi nhấp một ngụm trà để thay thế.

    Bá tước ăn xong chiếc bánh của mình trong hai miếng cắn nữa và đẩy chiếc ghế ra. “Tôi sẽ gặp cô trước khi cô rời đi vào chiều nay, Mrs. Wren.” Với một lời lầm bầm “Đi thôi,” anh sải bước ra khỏi căn phòng, con chó vẫn không có tên theo sát anh.

    Anna nhìn chằm chằm theo cả hai. Có phải nàng đã khó chịu bởi vì anh cứ liên tục bảo nàng phải làm cái này cái kia một cách độc đoán, quá giống như anh làm với con chó chăng?

    Hay đã cảm động vì anh cứ nhất định muốn tự mình dạy nàng cưỡi ngựa?

    Nàng nhún vai và uống nốt chút trà còn lại của mình.

    Bước vào thư viện, nàng bước đến chiếc bàn của mình và bắt đầu viết. Sau chỉ một lúc, nàng vươn tay lấy một tờ giấy trắng và chỉ để nhận ra rằng không còn tờ nào cả. Phiền thật. Anna đứng dậy để rung chuông yêu cầu thêm giấy rồi lại nhớ ra chồng giấy trong ngăn kéo bên cạnh của bá tước. Nàng trườn ra sau bàn anh và mở ngăn kéo ra. Ở đây nằm trên một chồng giấy trắng là cuốn sách bằng da màu đỏ. Anna đẩy nó sang bên và kéo một vài tờ giấy ra. Một mẩu giấy rơi xuống sàn nhà khi nàng làm như thế. Nàng nghiêng người để nhặt nó lên và thấy đó là một bức thư hay một tờ hóa đơn. Một cái dấu lạ được khắc ở phía trên. Ở đó dường như có hai người đàn ông và một người phụ nữ, nhưng nàng không thể nhìn rõ được những hình người nhỏ xíu đó đang làm gì. Nàng lật qua lật lại lá thư trong tay mình, xem xét nó kỹ lưỡng.

    Ngọn lửa thình lình nổ lốp đốp ở góc phòng.

    Tất cả diễn ra cùng một lúc khi Anna chợt hiểu ra và gần như đánh rơi lá thư. Một người phụ nữ trẻ và hai người đàn ông dâm dục đang tham gia vào một hành động mà dường như không thể nào thực hiện được theo quy luật tự nhiên. Nàng nghiêng đầu mình sang một bên. Rõ ràng là nó có thể thực hiện. Những từ ngữ Hang Động của Aphrodite được khắc trên một dòng chữ hoa mỹ bên dưới hình ảnh thô tục đó. Tờ giấy là một hóa đơn cho hai đêm nghỉ lại ở một ngôi nhà, và người ta có thể đoán được đó là loại nhà nào từ bức tranh nhỏ khiếm nhã ở đầu trang giấy. Ai mà biết là một nhà thổ lại gửi các hóa đơn hàng tháng giống như một nhà may thế này chứ?

    Anna cảm thấy một cơn nhào lộn trong dạ dày mình gây ra cảm giác nôn nao phát ốm. Ngài Swartingham chắc phải thường xuyên ghé thăm nơi này nếu như anh ta đã có tờ hóa đơn ở trong ngăn bàn. Nàng nặng nề ngồi xuống và che miệng mình bằng một bàn tay. Tại sao việc khám phá ra những thú vui trụy lạc của anh lại làm nàng phiền muộn đến thế? Ngài bá tước là một người đàn ông trưởng thành đã mất vợ trong nhiều năm rồi. Không người nào có một chút kiến thức thực tế lại mong đợi anh sẽ sống chay suốt phần đời còn lại cả. Nàng vuốt phẳng lại tờ giấy đáng ghét trong lòng mình. Nhưng một thực tế vẫn cứ tồn tại là suy nghĩ về anh dính vào một hành động như thế với một người phụ nữ xinh đẹp nào đó mang tới một sự căng tức kì lạ trong lồng ngực nàng.

    Sự tức giận. Nàng cảm thấy tức giận. Xã hội có thể không trông chờ lối sống không dục niệm từ ngài bá tước, nhưng họ chắc chắn trông đợi nó từ nàng. Anh, với tư cách là một người đàn ông, có thể đi đến những ngôi nhà mang đầy tiếng xấu đó và nô đùa cả đêm với những tạo vật đầy sức quyến rũ, thạo đời. Trong khi nàng, với tư cách là một người phụ nữ, được cho là phải trong trắng tiết hạnh và thậm chí là không được nghĩ đến những đôi mắt đen và vùng ngực rậm lông. Nó rõ là không công bằng. Không công bằng một chút nào. [tư tưởng bình đẳng giới =)))]

    Nàng trầm tư suy nghĩ về cái lá thư đáng nguyền rủa ấy trong một lúc lâu nữa. Rồi nàng cẩn thận đặt nó trở lại ngăn kéo bàn, bên dưới đống giấy mới. Nàng làm động tác chuẩn bị đóng ngăn kéo, nhưng lại dừng lại, nhìn đăm đăm vào cuốn sách con quạ.

    Khuôn miệng của Anna dãn ra, và nàng cầm cuốn sách lên mà chưa kịp suy nghĩ gì. Nàng nhét nhanh nó vào ngăn kéo ở giữa chiếc bàn của chính nàng và trở lại làm việc. Phần còn lại của buổi chiều chậm chạp lết qua. Ngài bá tước đã không hề trở về từ những cánh đồng như đã hứa.

    Nhiều giờ sau, trên đường về nhà trong chiếc xe ngựa kêu lọc cọc, Anna gõ mặt sau móng tay lên kính cửa sổ và nhìn ngắm những cánh đồng đã trở thành những con đường nhỏ đầy bùn trong làng. Những cái ghế dài bằng da có mùi mốc từ không khí ẩm thấp. Nàng nhận ra một con phố quen thuộc khi họ vòng ở một khúc quanh, và ngay lập tức nàng đứng lên rồi gõ vào trần cỗ xe. Bác đánh xe John kêu lên với những con ngựa, và cỗ xe thình lình nảy lên để dừng lại.

    Anna đi xuống và vội vã cảm ơn người đánh xe ngựa. Nàng đang ở một khu vực có những ngôi nhà mới hơn và rộng lớn hơn nhiều so với ngôi nhà tranh của nàng. Ngôi nhà thứ ba từ con đường nhỏ đi vào là một ngôi nhà gạch đỏ với đồ trang trí màu trắng. Nàng gõ vào cánh cửa.

    Một lúc sau, một cô hầu gái ló ra.

    Anna mỉm cười với cô gái. “Chào Meg. Mrs. Fairchild có nhà không em?”

    “Chào buổi chiều, Mrs. Wren.” Cô gái tên Meg với mái tóc đen mỉm cười vui vẻ. “Cô chủ sẽ rất mừng vì được gặp cô. Cô có thể đợi ở phòng khách trong khi em đi nói với cô chủ là cô đến ạ.”

    Meg dẫn đường đi vào một phòng khách nhỏ với những bức tường màu vàng tươi sáng. Một con mèo lông vàng duỗi người trên tấm thảm trải sàn, tắm mình trong ánh nắng đang nhạt dần chiếu xiên qua những cái cửa sổ. Trên ghế sô - pha đặt một rổ những thứ đồ may vá, những cuộn chỉ kéo lê ra ngoài một cách lộn xộn. Anna cúi người đùa nghịch với con mèo trong khi nàng đợi.

    Những bước chân lộp cộp đi xuống cầu thang, và Rebecca Fairchild xuất hiện ở cửa ra vào. “Mừng quá! Lâu lắm rồi cậu không đến chơi đến nỗi mình bắt đầu nghĩ là cậu đã bỏ rơi mình khi mình cần được giúp đỡ rất nhiều.”

    Người phụ nữ đó ngay lập tức tự tạo mâu thuẫn với lời nói của mình bằng cách bước vội tới và ôm chầm lấy Anna. Vòng bụng của cô khiến cho cái ôm thật khó khăn, bởi vì nó tròn ủng và nặng nề, xô tới trước cả người Rebecca giống như những cánh buồm căng gió của một con thuyền vậy.

    Anna đáp lại cái ôm của người bạn một cách nồng nhiệt. “Mình xin lỗi. Bạn nói đúng. Mình đã không chú ý tới việc đi thăm bạn.

    Bạn khỏe chứ?”

    “Béo lắm. Không, thật đấy,” Rebecca thuyết phục trước sự phản đối của Anna. “Thậm chí cả James, người đàn ông chân tình đó cũng đã ngừng đề nghị được đưa mình lên cầu thang. “Cô gần như ngay lập tức ngồi xuống chiếc ghế sô - pha, cẩn thận tránh cái rổ đựng đồ may vá. “Chivalry thì cũng ốm. Nhưng cậu phải kể tất cả với mình về công việc của cậu ở dinh thự Tu viện đi.”

    “Cậu đã nghe rồi à?” Anna ngồi xuống một trong những cái ghế đối diện với cô bạn của mình.

    “Mình đã nghe á? Thực tế là mình chẳng nghe được gì khác cả.” Rebecca hạ thấp giọng mình một cách đầy kịch tính. “Ngài bá tước bí ẩn và kín đáo của Swartingham đã thuê nàng góa phụ trẻ Wren vì những mục đích không được biết đến và ngày ngày nhốt bản thân với nàng để đạt được những thứ đáng ghê tởm.”

    Anna nhăn mặt. “Mình chỉ đang chép lại những bản thảo cho anh ta thôi mà.”

    Rebecca phẩy tay với lời giải thích nhàm chán này khi Meg bước vào với một khay trà. “Đừng nói điều đó với mình. Cậu nhận ra rằng cậu là một trong số ít những người thực sự gặp gỡ người đàn ông đó chứ? Nghe được những kẻ buôn chuyện của làng nói về việc đó, anh ta giấu mình trong tòa biệt thự xấu xa của mình đơn giản là để tước của họ cơ hội được dò xét anh ta. Anh ta có thực sự đáng ghét giống như những tin đồn nói không?”

    “Oh, không!” Anna cảm thấy một cơn giận bộc phát. Chắc chắn họ không nói Ngài Swartingham là đáng ghét chỉ vì một số những vết sẹo chứ hả? “Ngài ấy không đẹp trai, dĩ nhiên, nhưng ngài ấy cũng không phải là không hấp dẫn.” Dù sao thì cũng khá hấp dẫn đối với nàng, một giọng nói nhỏ thì thầm ở bên trong. Anna cau mày nhìn xuống đôi tay mình. Từ khi nào mà nàng đã ngừng chú ý đến những vết sẹo của anh ta và thay vào đó là bắt đầu tập trung vào người đàn ông ở bên dưới chúng nhỉ?

    “Tiếc thật.” Rebecca tỏ vẻ thất vọng với thông tin rằng ngài bá tước không phải là một con quỷ ăn thịt người bí hiểm. “Mình muốn nghe về những bí mật đen tối của anh ta và những nỗ lực của anh ta để quyến rũ bạn cơ.”

    Meg rời đi trong im lặng.

    Anna bật cười. “Anh ta có thể có đầy những bí mật đen tối” - giọng nàng chợt thay đổi khi nàng nhớ tới tờ hóa đơn - “nhưng anh ta không thể nào lại đi cố gắng quyến rũ mình đâu.”

    “Dĩ nhiên anh ta sẽ không trong khi cậu còn đang đội cái nón xấu ỉn đó.” Rebecca cầm lấy cái ấm trà trong khi xỉ nhục món đồ phụ kiện kia. “Mình không hiểu tại sao cậu lại đội nó. Cậu không già thế đâu.”

    “Các góa phụ được yêu cầu phải đội mũ mà.” Anna chạm vào chiếc mũ vải muslin một cách vô thức. “Bên cạnh đó, mình cũng không muốn anh ta quyến rũ mình.”

    “Tại sao lại không chứ?”

    “Bởi vì -” Anna dừng lại.

    Nàng nhận ra - thật kinh khủng - là đầu óc của nàng đã trở nên trống rỗng, và nàng không thể nghĩ được dù chỉ một lý do đơn giản là tại sao nàng không muốn ngài bá tước quyến rũ nàng. Nàng chộp lấy một cái bánh quy đưa vào miệng mình và chậm rãi nhai. May mắn là Rebecca đã không hề chú ý sự im lặng bất chợt của nàng và đang mải nói không dứt về các kiểu tóc mà nàng nghĩ sẽ phù hợp hơn với cô bạn của mình.

    “Rebecca,” Anna ngắt lời, “cậu có nghĩ tất cả đàn ông đều cần nhiều hơn một người phụ nữ không?”

    Rebecca, người đang làm động tác rót tiếp chén chà thứ hai, nhìn lên nàng theo một cách vô cùng thông cảm.

    Anna cảm thấy mình đỏ bừng lên. “Ý mình là -”

    “Không, bạn yêu quý. Mình biết ý bạn là gì.” Rebecca chậm rãi đặt cái ấm trà xuống. “Mình không thể nói về tất cả đàn ông, nhưng mình khá chắc chắn là James vẫn luôn chung thủy. Và thực sự thì nếu anh ấy định phản bội thì mình nghĩ anh ấy hẳn sẽ làm thế ngay lúc này rồi.”

    Cô vỗ nhẹ lên bụng mình và với lấy một chiếc bánh quy khác.

    Anna không thể ngồi yên lâu hơn nữa. Nàng đứng lên và bắt đầu xem xét món đồ trang trí được đặt trên bệ lò sưởi. “Mình xin lỗi. Mình biết James sẽ không bao giờ -”

    “Mình rất vui là bạn hiểu.” Rebecca khẽ khịt mũi tế nhị. “Cậu đáng lẽ nên nghe lời khuyên mà Felicity Clearwater đã nói với mình về việc nên mong đợi gì từ một ông chồng khi người vợ có bầu. Theo như lời cô ả thì mọi người chồng đều chỉ đơn giản là đợi -” Rebecca đột ngột ngưng lại.

    Anna cầm lên một cô gái chăn cừu bằng sứ và chạm tay vào lớp mạ vàng trên chiếc mũ của cô ấy. Nàng không thể nhìn rõ được nó.

    Đôi mắt của nàng mờ đi.

    “Giờ thì mình là người phải xin lỗi,” Rebecca nói.

    Anna không nhìn lên. Nàng đã luôn tự hỏi liệu Rebecca có biết không. Giờ thì nàng đã biết. Nàng nhắm mắt lại.

    “Mình nghĩ rằng bất cứ người đàn ông nào nói những lời thề ước hôn nhân một cách quá nhẹ nhàng,” nàng nghe Rebecca nói, “đều sẽ khiến bản thân phải hổ thẹn đến mức không thể tha thứ được.”

    Anna đặt cô gái chăn cừu trở lại bệ lò sưởi. “Còn người vợ? Cô ấy sẽ không bị đổ lỗi một phần nếu như anh ta tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài cuộc hôn nhân của mình sao?”

    “Không đâu, bạn yêu,” Rebecca đáp. “Mình không nghĩ người vợ lại từng bị đổ lỗi đâu.”

    Anna bất chợt cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Nàng cố mỉm cười, mặc dù nàng e rằng nó rất yếu ớt. “Cậu là người bạn tốt nhất đấy, Rebecca ạ.”

    “Ừm, dĩ nhiên rồi.” Người phụ nữ kia mỉm cười giống như một cô mèo đang có chửa và rất tự mãn. “và để chứng minh nó, mình sẽ gọi Meg để mang lên cho chúng ta thêm vài chiếc bánh kem nữa. Tự nuông chiều bản thân ấy mà, bạn yêu ạ!”

    Anna xuất hiện ở trang viên Tu viện vào sáng ngày hôm sau trong trang phục của một bộ váy bằng vải len màu xanh dương đã cũ. Nàng đã thức tới sau nửa đêm để nới rộng chiếc váy, nhưng lúc này nàng chân thành hy vọng rằng nàng có thể ngồi trên một con ngựa.

    Ngài bá tước đang đi đi lại lại trước cánh cửa của dinh thự Tu viện, rõ ràng là đang đợi nàng tới. Anh mặc chiếc quần ống túm bằng da hươi và đi đôi giày ống màu nâu cổ cao tới giữa đùi. Những thứ còn lại thì khá mòn và xỉn màu, làm Anna phải tự hỏi, không phải lần đầu tiên, về người hầu phụ trách trang phục của anh.

    “Ah, Mrs. Wren.” Anh ngắm bộ váy của nàng. “Được đấy, bộ váy này sẽ rất phù hợp.” Không thèm đợi lời đáp lại, anh đã sải bước dài quanh dinh thự để tới chuồng ngựa.

    Anna đi nhanh để theo kịp được anh.

    Con ngựa thiến màu đỏ tía của anh đã được thắng cương và đang bận rộn nhe răng ra với cậu bé chăm ngựa. Cậu bé giữ lấy dây cương của con ngựa trong chiều dài của cánh tay và trông rất thận trọng. Ngược lại, một con ngựa cái màu hạt dẻ béo tốt thì lại đang đứng lặng yên bên cạnh cây cột trụ. Con chó hiện ra từ phía sau chuồng ngựa và chạy tới với Anna. Nó dừng lại trước mặt nàng và bắt đầu lấy lại chút gì đó danh dự của mình một cách muộn màng.

    “Tao đã phát hiện được mày rồi, biết chưa,” nàng thì thầm với con chó, và xoa xoa đôi tai nó để chào hỏi.

    “Cô làm ơn kết thúc việc chơi với con vật này đi, Mrs. Wren ạ.” Ngài Swartingham cau mày với con chó.

    Anna đứng thẳng lên. “Tôi sẵn sàng rồi.”

    Anh chỉ vào cây cột, và Anna chần chừ tiến tới đó. Nàng biết lý thuyết về cách trèo lên cái yên ngựa để ngồi nghiêng, nhưng thực tế thì phức tạp hơn thế rất nhiều. Nàng có thể đặt một chân lên cái bàn đạp nhưng lại gặp khó khăn khi kéo người lên để móc chân kia qua quả táo yên ngựa.

    [​IMG]

    Kiểu yên ngựa ngồi nghiêng cho phụ nữ

    “Cô cho phép tôi chứ?” Ngài bá tước ở phía sau nàng. Nàng có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp của anh, mùi hương cà phê nhàn nhạt của anh, trên má nàng khi anh cúi xuống thấp hơn người nàng.

    Nàng gật đầu, im lặng.

    Anh đặt hai bàn tay to quanh eo nàng và nâng nàng lên mà không cần bất kì nỗ lực rõ ràng nào. Nhẹ nhàng, anh đặt nàng lên yên ngựa và giúp cái móc giữ lấy chân nàng một cách chắc chắn. Anna cảm thấy bản thân đỏ bừng khi nàng nhìn xuống mái đầu nghiêng nghiêng của anh. Anh đã để lại chiếc mũ ở chỗ người coi ngựa, và nàng có thể nhìn thấy một vài sợi tóc bạc đan xen trong bím tóc ở đằng sau của anh. Liệu tóc anh mềm mại hay thô cứng? Bàn tay đeo găng của nàng nhấc lên và, như thể đó là ý muốn của chính nó, chạm nhẹ lên tóc anh. Nàng ngay lập tức thu bàn tay của mình lại, nhưng ngài bá tước dường như đã cảm nhận được gì đó. Anh ngước lên và nhìn đăm đăm vào mắt nàng trong một khoảnh khắc dường như dài vô tận. Nàng nhìn được rằng khi hàng lông mi của anh hạ xuống, một vệt đỏ nhạt hiện lên trên xương gò má anh.

    Rồi anh đứng thẳng lên và bắt lấy cương ngựa. “Đây là một con ngựa cái rất hiền,” anh nói. “Tôi nghĩ cô sẽ không gặp vấn đề gì với cô nàng đâu miễn là không có chuột ở quanh đó.”

    Nàng nhìn xuống anh đầy khó hiểu. “Chuột á?”

    Anh gật đầu. “Cô nàng này sợ những con chuột.”

    “Tôi không thể đổ lỗi cho nó được,” Anna lẩm bẩm. Nàng ngập ngừng vuốt ve bờm con ngựa cái, cảm nhận bộ lông cứng bên dưới những ngón tay mình.

    “Tên nó là Daisy,” Ngài Swartingham nói. “Tôi sẽ dắt cô đi quanh sân một lát cho cô làm quen với nó nhé?”

    Nàng gật đầu.

    Ngài bá tước gọi khẽ và con ngựa cái lúc lắc đi về phía trước. Anna túm chặt sợi dây cương ngựa đầy cả bàn tay. Cả cơ thể nàng căng ra với cảm giác khác lạ của sự chuyển động quá xa khỏi mặt đất. Con ngựa lắc lắc đầu của nó.

    Ngài Swartingham liếc nhìn lên bàn tay nàng. “Nó có thể cảm nhận được nỗi sợ của cô. Đúng không, cô gái ngọt ngào của tôi?”

    Anna, bị bất ngờ bởi những từ ngữ cuối cùng của anh, liền thả lỏng sợi dây cương ngựa ra.

    “Tốt rồi. Để cơ thể cô thư giãn đi.” Giọng anh vây quanh nàng, bọc lấy nàng trong sự ấm áp. “Nó sẽ phản ứng tốt hơn với một cái chạm nhẹ nhàng. Cô nàng muốn được vuốt ve và được yêu, phải không, người đẹp của tôi?”

    Họ đi quanh sân chuồng ngựa, giọng trầm của ngài bá tước bỏ bùa mê con ngựa. Có thứ gì đó ở sâu thẳm trong con người Anna dường như nóng lên và tan chảy khi nàng nghe anh nói, như thể là nàng cũng đã bị bỏ bùa mê vậy. Anh đưa ra những chỉ dẫn đơn giản về việc làm thế nào để giữ dây cương và ngồi vững. Khi nửa tiếng trôi qua thì nàng đã cảm thấy tự tin hơn rất nhiều trên yên ngựa.

    Ngài Swartingham trèo lên con ngựa thiến của mình và dẫn đường cho một cuộc đi dạo xuống con đường nhỏ. Con chó chạy nước kiệu theo bên cạnh họ, đôi khi lại biến mất vào đám cỏ cao bên cạnh con đường để rồi lại hiện ra trong chỉ vài phút sau đó.

    Khi họ đi tới đường lớn, ngài bá tước để con ngựa màu nâu đỏ của mình chạy lên trước, phi nước kiệu một quãng ngắn xuống con đường lớn và rồi quay lại để tiêu hao mới một phần năng lượng. Con ngựa cái nhỏ nhìn trò hề của con ngựa thiến mà không hề có bất cứ dấu hiệu nào là nó muốn thoát khỏi cuộc đi dạo chậm rãi này cả. Anna nghiêng mặt hướng lên ánh mặt trời. Nàng đã rất nhớ sự ấm áp của nó sau mùa đông dài. Nàng bắt gặp một tia sáng màu nghệ tây nhạt bên dưới những bờ giậu chạy dọc theo con đường.

    “Nhìn kìa, những bông hoa anh thảo. Tôi nghĩ chúng là những bông đầu tiên của năm nay đấy, ngài có nghĩ thế không?”

    Ngài bá tước liếc nhìn đến nơi nàng chỉ. “Những bông hoa màu vàng đó ư? Tôi chưa từng thấy chúng trước đây.”

    “Tôi đã cố trồng chúng trong vườn nhà tôi nhưng chúng không thích bị cấy sang nơi khác,” nàng nói. “Mặc dù tôi cũng có một vài bông tu-lip. Tôi đã nhìn thấy những bông hoa thủy tiên đáng yêu trong lùm cây của dinh thự Tu viện. Ngài cũng có cả hoa tu-lip chứ, thưa ngài?”

    Anh dường như bị giật mình đôi chút vì câu hỏi. “Có thể cũng có những bông tu-lip vẫn ở trong các khu vườn. Tôi nhớ là mẹ tôi đã từng hái chúng, nhưng tôi đã không nhìn những khu vườn từ lâu...”

    Anna đợi, nhưng anh không nói thêm gì nữa. “Không phải ai cũng thích làm vườn, dĩ nhiên là như thế,” nàng nói một cách lịch sự.

    “Mẹ tôi thích làm vườn.” Anh nhìn đăm đăm xuống con đường. “Bà trồng những bông thủy tiên như cô đã thấy, và bà cho sửa chữa những khu vườn lớn có tường bao quanh ở đằng sau Tu viện. Khi bà mất...” Anh nhăn mặt. “Khi tất cả mọi người mất, có những việc khác, quan trọng hơn cần được xem xét. Và giờ các khu vườn đã bị bỏ hoang quá lâu, tôi nên cho người phá chúng đi thôi.”

    “Oh, chắc chắn không nên làm thế!” Anna bắt gặp hàng lông mày nhướn lên của anh và hạ giọng mình xuống. “Ý tôi muốn nói là một khu vườn tốt luôn luôn có thể được phục hồi.”

    Anh cau mày. “Để đạt mục đích gì?”

    Anna lúng túng. “Một khu vườn luôn luôn có một ý nghĩa nào đó.”

    Anh nhướn một bên lông mày đầy hoài nghi.

    “Mẹ tôi từng có một khu vườn rất đẹp khi tôi được nuôi dưỡng ở văn phòng của mục sư,” Anna nói. “Có cây hoa nghệ tây, hoa thủy tiên, và tu-lip vào mùa xuân, sau đó là cây hoa cẩm chướng, cây mao địa hoàng, và hoa trúc đào, cùng với hoa păng - xê lần lượt nở rộ.”

    Khi nàng nói, Ngài Swartingham ngắm nhìn khuôn mặt nàng một cách chăm chú.

    “Ở ngôi nhà tranh của tôi bây giờ, tôi dĩ nhiên cũng có những cây hoa thục quỳ, và rất nhiều những loài hoa khác mà mẹ tôi từng trồng. Tôi ước mình có nhiều không gian hơn để trồng thêm cả hoa hồng nữa,” nàng ngẫm nghĩ. “Nhưng những cây hoa hồng rất đắt và lại tốn khá nhiều không gian. Tôi e rằng tôi không thể chứng minh được sự cần thiết của loại chi phí này khi mà khu vườn rau vẫn là ưu tiên hàng đầu.”

    [​IMG]

    Hoa thục quỳ

    “Có lẽ cô có thể cho tôi lời khuyên về những khu vườn ở Tu viện vào cuối mùa xuân này,” ngài bá tước nói. Anh quay đầu con ngựa nâu đỏ và bắt đầu đi xuống một con đường gập ghềnh rải sỏi nhỏ hơn.

    Anna tập trung vào việc quay đầu con ngựa cái. Khi nàng nhìn lên, nàng đã thấy cánh đồng ngập nước.

    Mr. Hopple đã có mặt ở đó, đang nói chuyện với một người nông dân mặc chiếc áo khoác rộng và đội chiếc mũ rơm. Người đàn ông đang gặp khó khăn khi phải nhìn lên mặt của Mr. Hopple. Đôi mắt ông ta kéo lê xuống chiếc áo gi - lê màu hồng gây ngạc nhiên mà Mr. Hopple mặc. Khi Anna tới gần hơn, nàng nhìn ra rằng hình thêu dường như thể hiện những con lợn nhỏ màu đen. [ăn với chả mặc =.=]

    “Chào buổi sáng, Hopple, Mr. Grundle.” Ngài bá tước gật đầu với người quản gia của mình và người nông dân. Ánh mắt anh quét lên chiếc áo gi - lê. “Đây là một món trang phục rất thú vị, Hopple ạ. Tôi không biết là tôi đã nhìn thấy cái nào giống thế này trước đây chưa.”

    Giọng của ngài bá tước nghiêm nghị.

    Mr. Hopple mỉm cười rạng rỡ và vuốt một bàn tay dọc theo chiếc áo gi - lê của mình. “Tại sao chứ ạ, cảm ơn ngài. Tôi đã đặt làm nó ở một tiêm may nhỏ ở London trong chuyến đi gần đây nhất của tôi.”

    Ngài bá tước xoay một chân dài xuống khỏi con ngựa của mình. Anh trao sợi dây cương cho Mr. Hopple và đi tới con ngựa của Anna. Nhẹ nhàng ôm lấy eo của Anna, anh nhấc nàng xuống. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nhất, hai đầu ngực nàng sượt lên mặt trước áo khoác của anh và nàng cảm thấy những ngón tay dài của anh siết chặt lại. Rồi nàng được tự do, và anh quay lại với viên quản gia và người nông dân.

    Họ dành ra cả buổi sáng để đi bộ khắp cánh đồng, kiểm tra vấn đề thoát nước. Có lúc ngài bá tước đứng trong nước bùn ngập sâu đến tận đầu gối và kiểm tra một chỗ bị nghi ngờ là nguồn gốc gây ngập lụt. Anna ghi chú trong một cuốn vở mỏng mà anh đã đưa cho nàng. Nàng rất mừng là mình đã chọn một chiếc váy cũ để mặc bởi vì quanh viền váy đã nhanh chóng trở nên hoàn toàn bẩn thỉu.

    “Ngài dự định thoát nước cho cánh đồng như thế nào?” Anna hỏi khi họ cưỡi ngựa trở về Tu viện.

    “Chúng ta sẽ phải đào một con mương chạy về phía bắc.” Ngài Swartingham nheo mắt trầm ngâm. “Đó có thể cũng là một vấn đề vởi vì mảnh đất này chạy vào gia sản của nhà Clearwater, và để lịch sự thì tôi tôi sẽ phải bảo Hopple đi xin phép họ. Người nông dân kia đã mất vụ mùa đậu của anh ta rồi, và nếu cánh đồng này không được gieo trồng sớm thì anh ta cũng sẽ bỏ lỡ cả vụ lúa mì - ” Anh dừng lại và bắn một cái nhìn hài hước về phía nàng. “Tôi xin lỗi. Cô không thể nào lại có hứng thú lắng nghe mấy vấn đề như này được.”

    “Thực ra, tôi rất thích, thưa ngài.” Anna thẳng cười trên yên ngựa và vội vã nắm chặt bờm con Daisy khi con ngựa bước sang một bên. “Tôi đã hoàn toàn bị cuốn hút vào những trang bản thảo của ngài về việc quản lý đất đai. Nếu tôi hiểu những lý thuyết của ngài một cách đúng đắn thì người nông dân kia nên trồng một loại cây đậu đũa hoặc đậu Hà Lan sau vụ lúa mì và rồi lại đến một loại củ cải đường và cứ thế. Nếu đây là trường hợp đó thì người nông dân kia không nên trồng củ cải đường thay cho lúa mì ạ?”

    “Trong hầu hết các trường hợp thì cô nói đúng, nhưng trong trường hợp này thì...”

    Anna lắng nghe tông giọng trầm của ngài bá tước bàn về rau củ và ngũ cốc. Nông nghiệp có phải vẫn luôn hấp dẫn như thế và nàng chưa bao giờ nhận ra ư? Vì một lý do nào đó mà nàng không nghĩ vậy.

    Một giờ sau, Edward nhận ra bản thân anh thật đáng ngạc nhiên là lại đang thao thao bất tuyệt về nhiều cách khác nhau để thoát nước cho một cánh đồng với Mrs. Wren trong suốt cả bữa trưa. Dĩ nhiên chủ đề này rất thú vị, nhưng anh chưa từng có cơ hội để chuyện trò với một người phụ nữ về những vấn đề của đàn ông như thế này trước kia. Thực tế là anh hiếm khi có bất cứ cơ hội nào để chuyện trò với phụ nữ, ít nhất là từ sau khi mẹ và em gái anh mất. Anh đã từng tán tỉnh phụ nữ khi còn trẻ, và như một bản năng, anh cũng biết cách để tạo nên những cuộc tán gẫu xã giao nhẹ nhàng. Nhưng trao đổi những ý tưởng với một người phụ nữ giống như làm với một người đàn ông thì lại là một trải nghiệm mới. Và anh thích nói chuyện với Mrs. Wren nhỏ nhắn. Nàng lắng nghe anh nói với mái đầu nghiêng sang một bên, ánh mặt trời ùa vào qua cửa sổ căn phòng ăn nhẹ nhàng làm nổi bật đường cong của gò má nàng. Sự chú tâm hoàn toàn đó thật quyến rũ.

    Đôi khi nàng mỉm cười cong cong khóe miệng với những gì anh đang nói. Anh bị cuốn hút bởi nụ cười nửa miệng đó. Một viền môi đỏ hồng của nàng luôn luôn cong hơn so với viền bên kia. Anh bắt đầu nhận ra rằng anh đang nhìn đăm đăm vào khuôn miệng nàng, hy vọng được nhìn thấy nụ cười ấy một lần nữa, tưởng tượng xem vị của nó sẽ như thế nào.

    Edward quay đầu sang một bên và nhắm mắt lại. Sự khuấy động của anh đang áp chặt lên túi trước của chiếc quần ống túm anh mặc, khiến nó trở nên chật căng đến mức khó chịu. Anh nhận ra mình gặp phải vấn đề này liên tục thời gian gần đây kể từ khi ở cùng với thư ký mới của mình.

    Chúa ơi. Anh là một người đàn ông hơn ba mươi rồi, không phải là một cậu bé để mà khao khát nụ cười của một người phụ nữ. Tình trạng này sẽ rất nực cười nếu cậu nhỏ của anh không nhức nhối đến thế.

    Edward đột ngột nhớ ra rằng Mrs. Wren đang hỏi anh một câu hỏi. “Gì cơ?”

    “Tôi hỏi rằng ngài vẫn ổn chứ, thưa ngài,” nàng nói. Nàng trông đầy lo âu.

    “Ổn. Tôi khỏe.” Anh hít một hơi thở sâu và tức giận ước mong là nàng sẽ gọi anh bằng tên riêng.

    Anh ao ước được nghe nàng gọi Edward. Nhưng không. Sẽ là cực kì không thích hợp khi nàng gọi anh bằng tên Thánh như thế.

    Anh thu thập lại những ý nghĩ vẩn vơ của mình. “Chúng ta nên trở lại làm việc thôi.” Anh đứng lên và sải bước dài ra khỏi căn phòng, cảm thấy như thể anh đang chạy trối chết khỏi con quái vật thét ra lửa chứ không phải là một nàng góa phụ nhỏ nhắn giản dị.

    Khi chiếc đồng hồ điểm năm tiếng, Anna thu dọn đống nhỏ các bản chép lại mà nàng đã hoàn thành chiều nay và liếc nhìn bá tước. Anh đang ngồi cau mày với tờ giấy trước mặt mình. Nàng thanh thanh cổ họng mình.

    Anh nhìn lên. “Đến giờ rồi à?” Nàng gật đầu.

    Anh đứng dậy và đợi khi nàng thu thập đồ của mình. Con chó đi theo họ ra cửa, nhưng rồi nó chạy xuống các bậc thang để tới con đường xe chạy. Con vật khụt khịt đánh hơi cái gì đó trên mặt đất một cách chăm chú và rồi lăn lộn, hạnh phúc chà cái đầu và cổ của mình lên bất cứ cái gì.

    Ngài Swartingham thở dài. “Tôi sẽ để một trong những cậu bé chăm ngựa tắm cho nó trước khi nó được đi vào Tu viện lần nữa.”

    “Mmm,” Anna trầm ngâm lẩm bẩm. “Ngài nghĩ gì về ‘Adonis’?”

    Anh trao cho nàng một cái nhìn tràn ngập sự kinh dị đầy hoài nghi đến nỗi nàng phải cố nín để không cười phá lên. “Thôi, tôi cho rằng không được rồi,” nàng lẩm bẩm.

    Con chó đứng dậy sau trò giải trí của mình và lắc lắc người, bật một tai của nó từ trong ra ngoài. Nó chạy nhanh tới chỗ họ và cố gắng tỏ vẻ đạo mạo với một tai vẫn còn lật từ trong ra ngoài.

    “Kiểm soát bản thân đi, nhóc con.” Bá tước sửa lại cái tai của con chó.

    Anna im lặng mỉm cười với hành động đó. Anh liếc xéo nàng, và nàng nghĩ khuôn miệng rộng của anh đã giật giật. Rồi chiếc xe ngựa chậm rãi tiến đến, và nàng bước lên trong sự hỗ trợ của anh. Con chó giờ mới biết rằng nó không được phép ngồi trong xe ngựa và chỉ nhìn theo đầy buồn bã.

    Anna dựa ra sau và nhìn khung cảnh quen thuộc trôi qua. Khi cỗ xe ngựa đi vào vùng ngoại ô của thị trấn, nàng nhìn thấy một nhúm vải trên con mương cạnh đường. Tò mò, nàng nghiêng người khỏi cửa sổ để nhìn cho rõ hơn. Nhúm vải chuyển động, và một cái đầu với mái tóc màu nâu nhạt đẹp đẽ hiện ra và quay về phía phát ra âm thanh của cỗ xe ngựa.

    “Dừng lại! Bác John, dừng lại ngay lập tức!” Anna đập lên trần xe bằng nắm đấm.

    Cỗ xe ngựa giảm tốc và dừng kịch lại, và nàng nhào tới để mở cửa.

    “Cái gì vậy, thưa cô?”

    Nàng nhìn thấy khuôn mặt ngạc nhiên khó hiểu của Tom, người hầu trẻ đi theo, khi nàng chạy ra sau cỗ xe ngựa với một tay giữ lấy váy. Anna tiến đến chỗ mà nàng đã nhìn thấy bộ quần áo và nhìn xuống.

    Trong con mương có một người phụ nữ trẻ đang nằm đó.

    __________________
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link :)
     
  6. lovecocktail

    lovecocktail Mầm non

    Cảm ơn các bạn đã góp phần lưu giữ lại e-thuvien nói chung và các bài post của mình nói riêng :D. À, bạn ơi, có thể thêm giúp mình 1 chữ "s" vào chữ Princes ở tiêu đề được không với, cảm ơn bạn nhiều lắm :).
     
    Chỉnh sửa cuối: 6/10/13
  7. lovecocktail

    lovecocktail Mầm non

    Chương 5 (phần 1)

    [Khoảnh khắc ngài công tước chấp nhận lời thỏa thuận, con quạ bay vào không trung với một cái đập cánh mạnh mẽ. Cùng lúc đó, một đạo quân kì bí ào ạt xông ra từ tháp canh của lâu đài. Đầu tiên có mười ngàn người đàn ông, mỗi người đều được võ trang bằng một cái khiên và một thanh kiếm. Theo sau họ lại là mười ngàn cung thủ mang những cây cung dài, sắc nhọn chết người và những ống tên đầy. Cuối cùng, mười ngàn người đàn ông cưỡi ngựa phi nước đại ra, những con ngựa của họ siết chặt hàm răng và sẵn sàng cho cuộc chiến đấu. Con quạ bay tới chỗ người dẫn đầu đoàn quân và chào đón đoàn quân của tên hoàng tử bằng một thanh âm vang dội như tiếng sấm.

    Những đám mây bụi che phủ cả hai đội quân nên không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Chỉ có những tiếng kêu la thảm thiết của những con người tham gia trận chiến là vang vọng ra. Và khi bụi mù cuối cùng cũng tan, không một dấu vết nào của đội quân hoàng tử còn lại ngoại trừ một vài miếng móng ngựa bằng sắt nằm chỏng chơ trong đất bẩn.

    - từ Hoàng tử Quạ

    Người phụ nữ nằm nghiêng trong con mương, cả hai chân co rụt lại như đang tìm kiếm sự ấm áp. Cô siết chặt lấy một chiếc khăn quàng cổ bẩn thỉu quanh đôi vai gầy một cách đáng thương. Bộ váy bên dưới chiếc khăn đã từng có màu hồng tươi nhưng giờ đây đã bị bùn đất bôi bẩn. Đôi mắt cô nhắm nghiền trên khuôn mặt xanh xao và yếu ớt.

    Anna giữ chiếc váy của nàng cho khỏi vướng xuống đường bằng một tay và dùng tay kia để giữ bản thân thăng bằng trên bờ khi nàng leo xuống chỗ người phụ nữ ốm yếu. Nàng chú ý thấy một mùi hôi khi nàng đi tới gần hơn.

    “Cô có bị thương không, thưa cô?” Nàng chạm vào khuôn mặt tái nhợt.

    Người phụ nữ rên rỉ và đôi mắt to của cô mở ra, làm Anna giật mình. Đằng sau nàng, người đánh xe ngựa và anh hầu đang sải bước xuống con dốc nhỏ tạo ra tiếng bước chân lộp bộp.

    Bác đánh xe John làm thoát ra một âm thanh chán ghét từ cổ họng mình. “Đi thôi, Mrs. Wren. Nơi này không phải để dành cho những người như cô đâu.”

    Anna chuyển hướng ánh nhìn sang bác đánh xe kèm theo sự ngạc nhiên sững sờ. Ông quay mặt đi, nhìn vào những con ngựa. Nàng lại nhìn sang Tom. Anh ta đang dò xét những hòn đá dưới chân mình.

    “Quý cô này bị thương hoặc có thể là bị bệnh, bác John à.” Nàng cau mày. “Chúng ta nên cần phải giúp đỡ cô ấy.”

    “Aizz, cô à, chúng ta sẽ chỉ gọi ai đó tới để chăm lo cho cô ấy là được,” John nói. “Cô nên lên xe ngựa và về nhà ngay, Mrs. Wren ạ.”

    “Nhưng tôi không thể bỏ mặc quý cô này ở đây được.”

    “Cô không phải là quý cô gì cả, nếu cô hiểu ý của tôi.” John nhổ nước bọt ra một phía. “Hoàn toàn không hợp với cô khi làm mình dính dáng đến cô ta đâu ạ.”

    Anna nhìn xuống người phụ nữ mà nàng đã kéo vào đôi tay mình. Giờ đây nàng mới nhận ra những gì mà nàng đã chưa kịp thấy trước đó: vùng da thịt không đứng đắn lộ ra ở phần thân trên của chiếc váy mà người phụ nữ mặc và loại chất vải tầm thường lòe loẹt. Nàng nhíu mày suy nghĩ. Nàng đã từng gặp một cô gái điếm bao giờ chưa? Nàng nghĩ là chưa. Những người đó sống ở một thế giới khác hẳn với những góa phụ vùng nông thôn nghèo. Một thế giới mà cộng đồng của nàng rõ ràng là nghiêm cấm nó không được có giao cắt với thế giới của nàng.

    Nàng nên làm giống như bác John đề nghị và bỏ mặc người phụ nữ này. Trên tất cả, đó là những gì mọi người trông đợi ở nàng.

    Bác đánh xe John đang chìa bàn tay ra để giúp nàng đứng lên. Anna nhìn đăm đăm vào sự lệ thuộc ấy. Cuộc sống của nàng có phải đã luôn bị hạn chế như thế, những giới hạn của nàng quá hẹp đến nỗi mà rất nhiều lần nàng như đang bước trên một sợi dây vậy? Chẳng nhẽ nàng không có giá trị ngoài vị trí của nàng trong xã hội này?

    Không, nàng không phải thế. Anna siết chặt quai hàm. “Tuy nhiên, bác John ạ, cháu lại sẽ để mình dính dáng với người phụ nữ này. Bác làm ơn mang cô ấy lên xe ngựa với sự giúp đỡ của Tom đi ạ. Chúng ta sẽ mang cô ấy về ngôi nhà của cháu và cho gọi Bác sĩ Billings.”

    Hai người đàn ông trông không vui vẻ gì với tình huống đó, nhưng dưới cái nhìn chằm chằm cương quyết của nàng, họ cùng nhau dìu người phụ nữ lên xe ngựa. Anna lên trước và rồi quay qua để giúp đỡ người phụ nữ vào chiếc ghế trên xe. Nàng ôm lấy người phụ nữ vào người mình bằng cả hai tay để tránh cho cô không bị ngã khỏi ghế ngồi trên đường về. Khi cỗ xe ngựa dừng lại, nàng cẩn thận đặt người phụ nữ xuống và ra ngoài. John vẫn im lặng trên chiếc ghế của người đánh xe trên cao và nhìn thẳng lên với một bên lông mày nhăn lại.

    Anna đặt hai tay lên ngang hông. “Bác John, bác tới và giúp Tom đưa cô ấy vào ngôi nhà đi ạ.”

    John lẩm bẩm nhưng vẫn trèo xuống.

    “Chuyện gì đây, Anna?” Mẹ Wren đã đi tới cửa.

    “Một quý cô không may mà con gặp ở ven đường ạ.” Anna nhìn những người đàn ông thận trọng đưa người phụ nữ xuống khỏi xe ngựa. “Làm ơn đưa cô ấy vào hẳn bên trong ngôi nhà tranh với ạ.”

    Mẹ Wren lùi lại khỏi con đường khi những người đàn ông ráng sức đưa người phụ nữ bất tỉnh đi qua ngưỡng cửa.

    “Chúng tôi sẽ đặt cô ta ở đâu, thưa cô?” Tom thở hào hển.

    “Tôi nghĩ là ở trong phòng tôi, trên lầu ấy.”

    Điều đó giúp Anna nhận được một cái nhìn không đồng tình từ bác John, nhưng nàng tảng lờ nó. Họ đưa người phụ nữ lên trên gác.

    “Có chuyện gì với người phụ nữ vậy?” Mẹ Wren hỏi.

    “Con không biết ạ. Con cho rằng cô ấy có thể đang bị bệnh,” Anna nói. “Con nghĩ tốt nhất là mang cô ấy về đây đã.”

    Hai người đàn ông bước xuống khỏi những bậc cầu thang hẹp và đi ra ngoài.

    “Đừng quên dừng ở nhà của Bác sĩ Billings nhé,” Anna gọi với theo.

    Bác đánh xe John vẫy một bàn tay một cách tức tối qua vai mình để biểu thị rằng ông đã nghe rồi. Ngay sau đó, cỗ xe ngựa lạo xạo rời đi. Cho đến lúc này, Fanny vẫn đang đứng trên hành lang với đôi mắt mở lớn.

    “Em có thể đặt ấm đun nước để pha trà không, Fanny?” Anna hỏi. Nàng kéo Mẹ Wren sang bên ngay khi Fanny bắt đầu chạy vội vào nhà bếp. “Bác John và Tom nói rằng người phụ nữ khổ sở đó hoàn toàn không đáng được tôn trọng. Con sẽ để cô ấy rời đi nếu mẹ nói như thế.” Nàng nhìn một cách đầy lo âu vào mẹ chồng mình.

    Mẹ Wren nhướn lông mày. “Ý con là cô ấy là một con điếm hả?” Trước cái nhìn sững sờ của Anna, bà mỉm cười và vỗ nhẹ lên tay nàng. “Thật quá khó khi đến tuổi của con mà chưa từng được nghe về từ đó ít nhất là một lần nào, con yêu ạ.”

    “Không ạ, con không nghĩ thế,” Anna đáp lại. “Vâng, bác John và Tom cũng đã chỉ ra cô ấy là một cô gái điếm.”

    Mẹ Wren thở dài. “Con biết điều tốt nhất là nên để cô ta đi mà.”

    “Vâng, không nghi ngờ gì là như vậy ạ.” Anna nâng cằm lên.

    “Nhưng”- Mẹ Wren giơ hai tay lên không- “nếu mong muốn của con là được chăm sóc cho cô ấy ở đây thì mẹ sẽ không cản con.”

    Anna để thoát ra một hơi thở trong sự thư giãn và chạy lên lầu để xem bệnh nhân của mình.

    Mười lăm phút sau, có một tiếng gõ bất thình lình vào cánh cửa. Anna đi xuống dưới cầu thang đúng lúc Mẹ Wren nhẹ nhàng nâng váy và tới mở cửa.

    Bác sĩ Billings trong bộ tóc giả màu trắng lay động đang đứng ngoài cửa. “Một ngày tốt lành, Mrs. Wren, Mrs.Wren.”

    “Và ông cũng vậy, Bác sĩ Billings,” Mẹ Wren trả lời cho cả hai người.

    Anna dẫn bác sĩ đi vào phòng mình.

    Bác sĩ Billings đã phải cúi đầu để bước vào căn phòng ngủ. Ông ấy là một quý ông cao lớn, hơi gầy với thư thế hơi còng. Phần đầu chiếc mũi xương xương của ông luôn hồng lên, cho dù là vào mùa hè. “Ừm, chúng ta có vấn đề gì ở đây nào?”

    “Một người phụ nữ mà tôi đã tìm thấy đang kiệt sức, Bác sĩ Billings ạ,” Anna nói. “Ngài sẽ xem xem liệu cô ấy bị bệnh hay bị thương chứ ạ?”

    Ông thanh thanh lại cổ họng mình. “Nếu cô để tôi một mình với người này, Mrs. Wren ạ, tôi sẽ cố gắng khám cho cô ấy.”

    Rõ ràng là bác John đã kể với Bác sĩ Billings về loại người phụ nữ nào mà họ tìm được.

    “Tôi nghĩ tôi vẫn nên ở lại, nếu ngài không ngại, Bác sĩ Billings ạ,” Anna nói.

    Ông bác sĩ rõ ràng là thấy phiền nhưng không thể nghĩ ra được lí do nào để yêu cầu Anna phải ra khỏi phòng cả. Bất chấp ý kiến riêng của mình về bệnh nhân, Bác sĩ Billings vẫn kĩ lưỡng nhưng lịch sự trong công cuộc khám bệnh của mình. Ông nhìn xuống cổ họng của cô gái và bảo Anna quay đi để ông có thể kiểm tra vùng ngực của người phụ nữ bị bệnh.

    Rồi ông vuốt phẳng cái chăn lên người cô ấy và thở dài. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ nói chuyện tốt hơn khi ở dưới nhà.”

    “Dĩ nhiên ạ.” Anna dẫn đường từ căn phòng và đi xuống cầu thang, dừng lại để yêu cầu Fanny mang chút trà đến phòng khách. Rồi nàng chỉ vào cái ghế bành duy nhất cho bác sĩ và ngồi đối diện ông trên một bên rìa của chiếc ghế sopha nhỏ, siết chặt hai tay trên đùi mình. Liệu người phụ nữ có chết không?

    “Cô ấy khá yếu,” Bác sĩ Billings bắt đầu.

    Anna nghiêng người tới trước. “Sao ạ?”

    Ông bác sĩ tránh ánh mắt nàng. “Cô ấy bị sốt, có lẽ viêm phổi. Cô ấy cần nghỉ ngơi trên giường một thời gian để phục hồi lại.”

    Ông ngần ngừ và rồi rõ ràng là đã nhìn ra được sự sợ hãi trên gương mặt của Anna. “Oh, đây không phải cái gì nguy hiểm đến tính mạng cả, tôi đảm bảo với cô, Mrs. Wren. Cô ấy sẽ khỏe lại. Cô ấy chỉ cần thời gian để hồi phục thôi.”

    “Tôi nhẹ nhõm hơn rồi.” Anna mỉm cười. “Tôi nghĩ từ cách nói của ông là căn bệnh nguy hiểm chết người cơ.”

    “Thực sự là không.”

    “Cảm ơn Chúa.”

    Bác sĩ Billings vuốt ngón tay dọc theo một bên cánh mũi nhỏ gầy của mình. “Tôi sẽ cho gọi vài người đàn ông quanh đây tới ngay lập tức khi tôi về đến nhà. Cô ấy sẽ được đưa tới viện tế bần để chăm sóc, dĩ nhiên là như thế rồi.”

    Anna cau mày. “Nhưng tôi nghĩ là ông hiểu mà, Bác sĩ Billings. Chúng tôi muốn chăm sóc cho cô ấy ở đây, tại nhà.”

    Một vệt màu đỏ lan nhanh trên khuôn mặt ông bác sĩ. “Vớ vẩn. Điều này là hoàn toàn không thích hợp cho cô và Mrs. Wren đáng kính khi chăm sóc cho một người phụ nữ loại đó.”

    Nàng siết căng quai hàm. “Tôi đã bàn về việc này với mẹ chồng mình và chúng tôi cùng đồng ý là chúng tôi sẽ chăm sóc cho quý cô này trong nhà mình.”

    Khuôn mặt của Bác sĩ Billings hoàn toàn đỏ ửng. “Đây là việc không phải bàn cãi gì cả.”

    “Bác sĩ-”

    Nhưng Bác sĩ Billings đã ngắt lời nàng. “Cô ta là một ả gái điếm!”

    Anna đã quên những gì nàng định nói và ngậm miệng lại. Nàng nhìn đăm đăm vào ông bác sĩ và nhìn ra một sự thật trong vẻ mặt của ông: đây là cách mà hầu hết mọi người ở Little Battleford sẽ phản ứng.

    Nàng hít một hơi thở sâu. “Chúng tôi đã quyết định là sẽ chăm lo cho người phụ nữ. Nghề nghiệp của cô ấy chẳng làm thay đổi được sự thật này đâu ạ.”

    “Cô phải nhìn ra lý do chứ, Mrs. Wren,” ông bác sĩ cằn nhằn. “Cô không thể chăm sóc cho cái loại người đó.”

    “Tình trạng của cô ấy không lây nhiễm, đúng không ạ?”

    “Không, không, có lẽ là sẽ không còn lây nữa.” ông thừa nhận.

    “À, vậy thì chẳng có lí do gì mà chúng tôi không thể chăm sóc cho cô ấy cả.” Anna mỉm cười dứt khoát.

    Fanny chọn đúng thời điểm đó để đưa trà vào. Anna rót cho ông bác sĩ và cho mình, cố gắng để giữ mình càng bình tĩnh càng tốt. Nàng không quen tranh cãi với các quý ông, và nàng thấy điều khó khăn nhất là giữ vẻ quả quyết và không xin lỗi. Đó là một cảm giác khá đáng lo ngại khi biết rằng ông bác sĩ không đồng ý với cách giải quyết cuả nàng, rằng thực ra ông phản đối nàng. Cùng lúc đó, nàng lại không thể áp xuống một sự hồi hộp bất chính.

    Thật vui làm sao khi nói thẳng những suy nghĩ của nàng, không quan tâm đến ý kiến của một người đàn ông ra sao! Thực sự, nàng nên cảm thấy xấu hổ vì suy nghĩ đó, nhưng nàng không thể khiến bản thân phải hối lỗi vì điều đó được. Không, không một chút nào cả.

    Họ uống trà trong sự im lặng đầy căng thẳng, ông bác sĩ tốt bụng rõ ràng đã quyết định là ông sẽ không thay đổi suy nghĩ của nàng nữa. Sau khi uống xong tách trà, Bác sĩ Billings lấy một cái chai nhỏ màu nâu ra khỏi túi của ông và đưa nó cho Anna kèm theo những lời hướng dẫn làm thế nào để uống thuốc đúng cách. Rồi ông bác sĩ ấn chiếc mũ lên đầu mình và quấn chiếc khăn quàng màu hoa oải hương quanh cổ mình nhiều vòng.

    Ông dừng lại trước cửa chính khi Anna đang dẫn ông đi ra. “Nếu cô thay đổi suy nghĩ của mình, Mrs. Wren à, làm ơn hãy gọi cho tôi. Tôi sẽ tìm một nơi thích hợp cho người phụ nữ trẻ đó.”

    “Cảm ơn ông,” nàng lẩm bẩm. Nàng đóng cửa sau khi ông bác sĩ đi và dựa vào nó, đôi vai nàng hạ xuống.

    Mẹ Wren đi vào đại sảnh và cẩn thận quan sát Anna. “Cô ấy bị sao thế hả, con yêu?”

    “Lên cơn sốt và bị viêm phổi mẹ ạ.” Anna nhìn vào bà một cách mệt mỏi. “Có lẽ sẽ tốt hơn nếu mẹ và Fanny đến ở với mấy người bạn cho đến khi chuyện qua đi, mẹ ạ.”

    Mẹ Wren nhướn lông mày. “Ai sẽ chăm sóc cô ấy trong cả ngày khi con đang ở Ravenhill đây?”

    Anna nhìn chăm chú, đột ngột nhớ ra. “Con đã quên mất việc đó.”

    Mẹ Wren lắc đầu. “Có phải thực sự cần thiết khi khuấy đảo hết chừng đó rắc rối lên không, con yêu?”

    “Con xin lỗi.” Anna nhìn xuống và nhận ra một vết bẩn do cỏ gây ra trên chiếc váy của mình. Nó sẽ không lộ ra- những vết bẩn do cỏ gây ra chưa bao giờ bị lộ ra. “Con không định kéo mẹ vào đống phiền phức này đâu ạ.”

    “Vậy tại sao con không chấp nhận sự giúp đỡ của ông bác sĩ? Dễ dàng hơn nhiều khi chỉ việc làm những gì mà mọi người mong đợi ở con, Anna ạ.”

    “Có thể nó sẽ dễ dàng hơn, nhưng nó không phải là cách đúng đắn cần thiết ở đây, Mẹ ạ. Chắc chắn mẹ có thể hiểu con mà Mẹ?” Nàng nhìn vào mẹ chồng mình đầy tha thiết, cố gắng tìm kiếm từ ngữ để giải thích. Những hành động của nàng trở nên hoàn toàn có ý nghĩa khi nàng nhìn chăm chú vào khuôn mặt ốm yếu của người phụ nữ trong con mương. Giờ đây, khi Mẹ Wren đang đợi một cách đầy nhẫn nại thì việc kết nối tư duy của nàng lại khó khăn hơn. “Con đã luôn làm những gì được trông đợi, phải không ạ? Mà không quan tâm đó có phải là một việc làm đúng đắn hay không Mẹ ạ.”

    Người phụ nữ nhiều tuổi hơn cau mày. “Nhưng con chưa bao giờ làm sai gì cả-”

    “Nhưng đấy không phải là trọng điểm, đúng không ạ?” Anna cắn môi và thấy trong sự kinh hoàng là nàng sắp sửa khóc. “Nếu con không bao giờ bước ra khỏi vai diễn đã được định cho mình từ khi con sinh ra, con sẽ không bao giờ kiểm nghiệm được bản thân mình. Con đã quá e sợ ý kiến của những người khaác, con nghĩ thế Mẹ ạ. Con luôn là một người nhát gan. Nếu người phụ nữ đó cần con, tại sao lại không giúp cô ấy ạ- vì cô ấy… và vì con?”

    “Tất cả những gì mẹ biết là cách làm này sẽ dẫn tới khá nhiều sự đau khổ cho con đấy.” Mẹ Wren lắc đầu lần nữa và thở dài.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/10/13
    NHTB and thanhbt like this.
  8. nhungnhinh783

    nhungnhinh783 Lớp 1

    Mỗi khi thấy một thành viên quen thuộc của TVE tái xuất trên diễn đàn tve-4u là mình mừng vô hạn. Cảm ơn các bạn đã Tái Sinh TVE theo cách này hay cách khác!
     
  9. lovecocktail

    lovecocktail Mầm non

    Chương 5 (phần 2 và hết)

    Anna dẫn đường quay trở vào nhà bếp, và hai người phụ nữ lại chuẩn bị món canh thịt bò thái lát trần nước sôi <món này thường được sử dụng cho người ốm để kích thích khẩu vị>. Anna mang nó và bình thuốc màu nâu nhỏ lên gác, đến phòng của nàng. Lặng lẽ, nàng kéo cửa phòng mở ra và nhìn vào. Người phụ nữ cựa quậy yếu ớt và cố gắng nâng người dậy.

    Anna đặt cái khay xuống và đi vào phòng để đến chỗ cô ấy. “Đừng cố cử động.”

    Lúc tiếng nói của Anna vang lên, đôi mắt người phụ nữ vụt mở ra và cô nhìn quanh sợ sệt. “C-c-cô là-?”

    “Tên tôi là Anna Wre. Cô đang ở trong nhà của tôi.”

    Anna vội mang món canh thịt bò thái lát qua cho người phụ nữ. Nàng đặt một tay vòng quanh người bệnh nhân của mình, nhẹ nhàng giúp cô ấy ngồi lên. Người phụ nữ nuốt nước dùng còn ấm và nhai một cách khó nhọc. Sau khi cô ấy đã uống được nửa bát, đôi mắt cô lại bắt đầu nhắm lại. Anna hạ lưng của cô ấy xuống giường và thu lại chiếc bát và thìa.

    Người phụ nữ bắt lấy nàng bằng một cái lắc tay khi nàng quay đi. “Chị của tôi,” cô thì thầm.

    Anna nhíu lông mày. “Cô muốn tôi thông báo cho chị gái của cô ư?”

    Người phụ nữ gật đầu.

    “Đợi nhé,” Anna nói. “Để tôi lấy một mẩu giấy với cái bút để ghi lại địa chỉ của cô ấy.” Nàng vội vã bước tới chỗ cái tủ nhỏ của mình và kéo mở ngăn kéo ở dưới cùng. Bên dưới một chồng các thứ đồ vải lanh là một hộp đựng tài liệu đã ngả nâu vàng từng là của Peter. Anna lấy nó ra và ngồi lên cái ghế cạnh giường với tập tài liệu ở trên đùi mình. “Tôi nên đề địa chỉ lá thư gửi chị gái cô là ở đâu?”

    Người phụ nữ thều thào ra tên chị gái cô và nơi cư trú ở London, trong khi Anna ghi lại địa chỉ đó bằng một cái bút chì trên một mẩu giấy nhỏ được lấy ra. Rồi người phụ nữ lại ngã đầu xuống chiếc gối và hoàn toàn kiệt sức.

    Anna ngần ngừ chạm vào tay cô ấy. “Liệu cô có thể nói tên cô cho tôi được không?”

    “Pearl,” cô gái thì thầm mà không hề mở mắt.

    Anna mang hộp tài liệu rời khỏi phòng, nhẹ nhàng đóng lại cánh cửa ở đằng sau nàng. Nàng chạy xuống dưới và đi vào phòng khách để viết một lá thư cho chị gái của Pearl, một Miss Coral Smythe nào đó.

    Hộp tài liệu của Peter là một cái hộp hình chữ nhật phẳng. Người viết có thể đặt nó lên đùi mình và sử dụng nó như một cái bàn di động. Trên đầu là một cái nắp làm kiểu nửa chừng và có bản lề để mở ra một cái hộp nhỏ hơn đựng bút lông ngỗng, một lọ mực đi kèm theo bên cạnh nó, và những tờ giấy cùng những thứ đồ linh tinh khác được sử dụng cho mục đích viết thư. Anna chần chừ.

    Hộp tài liệu là một món đồ tinh xảo, nhưng nàng đã không chạm vào nó kể từ cái chết của Peter. Khi Peter còn sống, nó thuộc quyền sở hữu riêng tư của anh ấy. Nàng cảm giác gần như là một kẻ phạm tội khi sử dụng nó, đặc biệt là khi chúng lại không quá thân thuộc với thời điểm cuối của cuộc đời anh. Nàng lắc đầu và mở cái hộp ra.

    Anna cẩn thận viết nhưng nàng vẫn phải mất một vài bản nháp để hoàn thành được một lá thư. Cuối cùng, nàng có một bức điện thư mà nàng rất hài lòng, và nàng để nó sang một bên để ngày mai sẽ mang tới quán trọ cho khách đi xe ngựa của Little Battleford. Nàng đang đặt cái hộp bút lông ngỗng vào lại trong hộp tài liệu màu nâu vàng thì nhận ra có cái j đó đã bị mắc kẹt ở đằng sau. Hộp bút lông ngỗng không vừa được. Nàng lại mở hẳn cái nắp ra và dốc hết cả cái hộp nông đó ra. Rồi nàng sờ vào phía đằng sau bằng tay của mình. Có cái gì đó tròn và lành lạnh ở đó. Anna kéo mạnh và cái vật đó lỏng ra. Khi nàng rút tay về, một cái hộp trang trí nhỏ <cái mà dùng để lồng ảnh và đeo như mặt dây chuyền ý ah> bằng vàng nằm trong lòng bàn tay nàng. Cái nắp được chạm trổ đẹp đẽ bằng những vòng xoắn trang trí, và ở đằng sau là một cái ghim để một quý cô có thể đeo nó như một cái hoa cài áo.

    Anna ấn vào cái rãnh mỏng bằng vàng trên mặt. Cái hộp trang trí bật tách ra.

    Nó trống rỗng.

    Anna lại đóng hai nửa lại với nhau. Nàng ngón tay cái một cách đầy trầm tư trên hình chạm khắc. Hộp trang trí này không phải của nàng. Thực ra là nàng chưa bao giờ nhìn thấy nó trước đây. Trong nàng có một sự thúc giục đột ngột muốn quăng nó ra khỏi phòng. Sao anh ấy dám? Dù là sau sự qua đời của mình, anh lại làm nàng đau khổ theo cách này cơ chứ? Nàng đã không chịu đựng đủ khi anh còn sống hay sao? Và giờ đây nàng tìm thấy món đồ nhỏ đáng ghét này nằm đợi ở đó trong suốt những năm sau khi anh chết.

    Anna nhấc tay lên, chiếc hộp trang trí bị nắm chặt trong nắm tay của nàng. Những giọt nước mắt làm mờ tầm nhìn của nàng.

    Và rồi nàng hít vào một hơi dài. Peter đã nằm yên nghỉ trong sáu năm qua. Nàng thì còn sống, và anh đã trở về với cát bụi từ lâu rồi. Nàng hít sâu một lần nữa và mở các ngón tay ra. Chiếc hộp trang trí lấp lánh trong lòng bàn tay nàng một cách vô tội.

    Anna cẩn thận đặt nó vào trong túi của mình.

    Ngày tiếp theo là Chủ nhật.

    Nhà thờ Little Battleford là một tòa kiến trúc nhỏ bằng đá màu xám với tháp chuông nghiêng nghiêng. Được xây từ khoảng thời Trung cổ, nhà thờ trong những tháng mùa đông lạnh lẽo và có gió lùa khắp nơi. Anna đã dành ra nhiều ngày Chủ nhật để hy vọng bài giảng kinh sẽ kết thúc trước khi viên gạch nóng mà nàng mang đi từ nhà mất độ ấm và những ngón chân nàng hoàn toàn lạnh cóng.

    Một sự im lặng bất ngờ khi những người phụ nữ nhà Wren bước vào nhà thờ. Một vài con mắt đảo láo liên đã xác nhận sự nghi ngờ của Anna rằng nàng đang là chủ đề của cuộc bàn tán, nhưng Anna cất lời chào những người hàng xóm của mình mà không thể hiện bất cứ dấu hiệu nào là nàng biết là trung tâm của sự chú ý. Rebecca vẫy tay từ một hàng ghế dài ở phía trước. Cô ngồi bên cạnh chồng mình, James, một người đàn ông béo có mái tóc vàng với một cái bụng khá mập. Mẹ Wren và Anna bước đến bên cạnh họ và ngồi lên băng ghế dài.

    “Gần đây cậu chắc chắn là đang có một cuộc sống rất thú vị,” Rebecca thì thầm.

    “Thực á?” Anna còn đang bận rộn với găng tay và quyển kinh của mình.

    “Mmm-hmm,”Rebecca thì thầm. “Mình không biết là cậu lại đang cân nhắc đến cái nghề cũ nhất thế giới đâu đấy.”

    Điều đó đã thu hút được sự chú ý của Anna. “Gì cơ?”

    “Thực ra thì họ cũng chưa tố cáo cậu vì điều đó, nhưng cũng có một vài người sắp sửa làm rồi.” Rebecca mỉm cười với quý cô ở đằng sau họ, cái người mà đang ngả ra đằng trước.

    Người phụ nữ lập tức thẳng người lại và khụt khịt mũi.

    Bạn của nàng lại tiếp tục, “Những câu chuyện tào lao của thị trấn đã không đem lại nhiều sự vui thích đến vậy kể từ khi vợ của ông chủ cối xay sinh con mười tháng sau khi ông ta chết đấy.”

    Cha xứ bước vào và đám đông im lặng khi buổi làm lễ bắt đầu. Có thể đoán được là bài giảng kinh đang đến đoạn những tội lỗi của Jezebel, mặc dù Cha Jones tội nghiệp không có vẻ gì là thích được truyền tải nó. Anna chỉ phải liếc vào cái lưng thẳng như que nhồi thuốc súng của Mrs. Jones đang ngồi ở hàng ghế trước là đoán được là ai đã quyết định chọn chủ đề này <Cha sợ vợ :>. Cuối cùng thì buổi lễ cũng đi đến cái kết thê lương, và họ đứng dậy để rời khỏi nhà thờ.

    “Không biết tại sao mà họ lại bỏ lại hai lòng bàn tay và bàn chân của cô ta nhỉ,” James nói khi đám đông bắt đầu đứng lên.

    Rebecca nhìn lên chồng mình với sự bực tức đầy trìu mến. “Anh đang ba hoa về cái gì đấy, anh yêu?”

    “Jezebel ý,” James lẩm bẩm. “Những con chó đã không ăn lòng bàn tay và bàn chân của cô ta mà. Tại sao? Những con chó săn thường không tỉ mỉ đến thế đối với thức ăn của chúng đâu, đấy là theo kinh nghiệm của anh.”

    Rebecca đảo tròn đôi mắt và vuốt ve tay chồng. “Đừng bận tâm về nó nữa, anh yêu. Có lẽ họ có những con chó khác ở thời đó.”

    James có vẻ không hài lòng lắm với lời giải thích này, nhưng anh đáp lại bằng cách nhẹ nhàng đỡ lấy vợ mình đi tới cửa ra. Anna đã rất xúc động khi nhận ra rằng Mẹ Wren và Rebecca đều đi ở hai bên người mình còn James thì bảo vệ ở phía sau nàng.

    Tuy vậy, nàng nhận ra rằng mình không cần đến một sự phòng thủ trung thành đến như thế. Vào lúc mà nàng nhận được một số những cái liếc mắt chỉ trích và một ánh nhìn phê phán trực tiếp thì hóa ra không phải tất cả các quý cô ở Little Battleford này đều không đồng tình. Thực tế là rất nhiều các quý cô trẻ tuổi hơn đã rất ghen tị với công việc mới của Anna là được làm thư kí của Ngài Swartingham đến nỗi mà dường như trong mắt họ thì nó đã đánh bật cả hành động bảo vệ rất có vấn đề của nàng đối với một cô gái điếm.

    Anna sắp sửa rời khỏi sự chỉ trích phê phán của những người dân làng bên ngoài nhà thờ và đang bắt đầu thư giãn thì nàng lại nghe thấy một giọng nói quá ngọt ngào từ sau vai mình. “Mrs. Wren à, tôi rất muốn cô biết rằng tôi nghĩ cô dũng cảm biết nhường nào đấy.”

    Felicity Clearwater lơ đễnh giữ lấy chiếc áo choàng nhỏ nhắn của mình bằng một tay, để nhằm khoe cái áo choàng hợp mốt của mình. Những bó hoa màu vàng cam và màu xanh dương rải khắp trên một nền vải màu vàng nhạt. Chiếc váy được sẻ ở phía trên để lộ ra làn váy trong thêu kim tuyến mày xanh dương, và toàn bộ những lớp vải được xếp nếp trên những cái khung rộng.

    Trong một khắc, Anna đã buồn bã nghĩ về việc sẽ thật là tuyệt biết bao khi được mặc một chiếc váy đẹp như váy của Felicity; rồi Mẹ Wren ngẩng cao đầu ở phía sau nàng. “Anna đã không có một suy nghĩ nào về mình khi con bé mang người phụ nữ khốn khổ đó về nhà cả.”

    Đôi mắt của Felicity mở lớn. “Oh, thật à. Tại sao, để chịu đựng sự không hài lòng của cả làng, chứ chưa nói gì đến sự quở trách ngấm ngầm từ bài giảng kinh mà cô ấy vừa nhận được, Anna chắc chắn đã không có một suy nghĩ nào hết nhỉ.”

    “Tôi không nghĩ là tôi nên quá coi trọng những bài học về Jezebel,” Anna nhẹ nhàng nói. “Trên tất cả thì chúng cũng có thể áp dụng với những người phụ nữ khác ở cái làng này mà.”

    Vì lí do nào đó lời phản biện bình thường đó lại làm cho người phụ nữ kia cứng cả người. “Tôi sẽ không biết gì về chuyện đó cả.” Những ngón tay của Felicity mò mẫm vuốt dọc theo mái tóc của cô ta như những con nhện. “Không giống cô, chẳng ai có thể chê bai tôi vì những mối quan hệ bạn bè mà tôi có cả.” Mỉm cười cứng ngắc, Felicity nhanh chóng rời đi trước khi Anna có thể nghĩ đến một câu đốp lại thích hợp.

    “Đồ con mèo.” Đôi mắt của Rebecca híp lại khá là giống với một ả mèo.

    Về đến ngôi nhà tranh, Anna dành phần còn lại của ngày để vá những cái bít tất dài, một tài năng mà vì phải thường xuyên cần đến nên nàng đã trở thành chuyên gia mất rồi. Sau khi dùng bữa ăn tối, nàng rón rén đi lên phòng của Pearl và thấy người phụ nữ đã khá hơn nhiều. Anna giúp cô ấy ngồi lên và ăn một chút cháo yến mạch nấu loãng và sữa. Pearl là một người phụ nữ khá xinh đẹp, dù cho đang có vẻ ngoài mệt mỏi và kiệt sức.

    Pearl bồn chồn xoắn một lọn tóc màu nhạt của mình trong vài phút trước khi bật thốt ra, “Vậy tại sao cô lại tiếp nhận tôi?”

    Anna ngạc nhiên. “Cô đang nằm ở bên lề đường. Tôi không thể bỏ mặc cô ở đó được.”

    “Cô biết tôi là loại con gái gì mà, phải không?”

    “À-”

    “Tôi là loại đàn bà lẳng lơ.” Pearl nói từ cuối cùng với một đường cong khiêu khích ở khóe miệng mình.

    “Chúng tôi cũng nghĩ cô có thể như thế,” Anna đáp lại.

    “À, giờ thì cô biết rồi đấy.”

    “Nhưng tôi không thấy nó làm nên khác biệt gì cả.”

    Pearl trông thật sững sờ. Anna chớp lấy cơ hội để đút thêm vài thìa cháo vào cái miệng đang há ra của cô ấy.

    “Lúc này đây. Cô không phải là một trong những loại tôn sùng tín ngưỡng đó, phải không?” Đôi mắt của Pearl híp lại trong sự nghi ngờ.

    Anna dừng cái thìa lại ở giữa không trung. “Gì cơ?”

    Pearl lo lắng xoắn lấy tấm chăn đang phủ trên đầu gối mình. “Một trong những quý cô tôn sùng tín ngưỡng đó sẽ vồ lấy những cô gái như tôi để chấn chỉnh họ. Tôi được nghe kể là họ chả được các uqys cô ấy cho ăn gì ngoài bánh mì và nước và họ bị buộc phải làm các công việc may vá cho đến khi những ngón tay của họ tứa máu và họ phải biết đường ăn năn hối hận.”

    Anna nhìn vào chỗ cháo yến mạch nấu sữa ở trong bát. “Đây không phải chỉ là bánh mì và nước, đúng không?”

    Pearl đỏ mặt. “Không, thưa cô, tôi cho là không phải.”

    “Chúng tôi sẽ cho cô ăn thêm những đồ ăn bổ dưỡng nữa khi cô cảm thấy muốn ăn chúng, tôi đảm bảo với cô.”

    Pearl vẫn có vẻ hoài nghi, nên Anna thêm vào, “Cô có thể rời đi bất cứ khi nào cô muốn. Tôi đã gửi một lá thư cho chị gái của cô rồi.

    Có lẽ cô ấy sẽ đến ngay thôi.”

    “Đúng vậy.” Pearl dường như thoải mái hơn. “Tôi nhớ là đã cho cô địa chỉ của chị ấy rồi.”

    Anna đứng lên. “Cố đừng lo lắng quá; cứ ngủ đi.”

    “Vâng.” Lông mày của Pearl vẫn nhíu lại.

    Anna thở dài. “Chúc ngủ ngon.”

    “Chúc cô ngủ ngon.”

    Anna mang lại cái đựng cháo và cái thìa đi xuóng cầu thang và rửa sạch chúng. Cho đến khi nàng lui về chỗ tấm đệm nhỏ được dọn ra trong phòng của mẹ chồng nàng thì đã là khá muộn rồi.

    Nàng đi vào giấc ngủ không mộng mị và không tỉnh lại cho đến khi Mẹ Wren nhẹ nhàng lay vai nàng. “Anna. Con nên dậy đi, con yêu, nếu con định đến Ravenhill đúng giờ.”

    Chỉ khi đó thì Anna mới chợt tự hỏi là ngài bá tước sẽ nghĩ gì về bệnh nhân của nàng.

    Buổi sáng ngày thứ hai, Anna bước vào thư viện Abbey một cách thận trọng. Nàng đã đi cả con đường dài từ ngôi nhà tranh của mình với sự kinh hãi phải đối mặt với Ngài Swartingham, với hy vọng lớn lao rằng anh sẽ hiểu chuyện hơn ông bác sĩ. Tuy vậy thì ngài bá tước dường như vẫn như bình thường- làm lộn xộn và càu nhàu với mái tóc của mình cùng chiếc khăn quàng cổ bị lệch. Anh chào nàng bằng cách làu bàu rằng anh đã tìm ra một lỗi ở một trong những trang mà nàng đã chép ngày hôm trước. Anna thở ra một hơi vui vẻ thư giãn và yên vị để làm việc.

    Tuy nhiên, sau bữa ăn trưa thì may mắn của nàng đã bốc hơi hết.

    Ngài Swartingham có một chuyến đi ngắn vào thị trấn để bàn bạc với cha sứ về việc giúp đỡ tài trợ cho một sự tu sửa ở phần hõm trên mái vòm của nhà thờ. Sự trở về của anh được thông báo bằng tiếng đập rầm của cánh cửa trước vào tường.

    “MRS. WREN!”

    Anna nhăn mày với tiếng thét lớn và tiếng đóng sầm cánh cửa theo sau đó. Con chó bên cạnh lò sưởi nâng đầu dậy.

    “Thật đáng nguyền rủa! Người phụ nữ ấy đâu?”

    Anna đảo tròn đôi mắt. Nàng đang ở trong thư viện, nơi mà nàng luôn luôn có thể được tìm thấy kia mà. Thế anh ta nghĩ là nàng có thể ở đâu cơ chứ?

    Đôi chân mang giày ống nặng nề dậm ầm ĩ qua đại sảnh; rồi cái dáng cao lớn của ngài bá tước che khuất lối vào. “Cái người tị nạn không phù hợp ở nhà cô là gì thế, Mrs. Wren? Ông bác sĩ đã rất cố gắng để truyền tải cho tôi về sự điên rồ của cô.” Anh sải những bước dài đến chỗ chiếc bàn bằng gỗ hoa hồng và chống hai tay lên trước mặt cô.

    Anna nâng cằm lên và cố gắng coi thường áp lực của anh, nhưng không thành công chút nào bởi vì anh đang tận dụng chiều cao đầy uy quyền như một pháo đài của anh trước nàng như vậy. “Tôi gặp một người không may cần được giúp đỡ, thưa ngài, và, theo lẽ tự nhiên thôi, mang cô ấy về nhà mình để tôi có thể chăm sóc cho đến khi cô ấy khỏe lại.”

    Anh quắc mắt. “Một ả gái điếm không may, ý cô là thế hả. Cô không thấy phiền à?”

    Anh còn tức giận hơn nhiều so với dự đoán của nàng. “Tên cô ấy là Pearl.”

    “Oh, tốt.” Anh đẩy mình ra khỏi cái bàn của nàng một cách mạnh mẽ. “Cô có mối quan hệ thân thiết với cái loại đó.”

    “Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng cô ấy là một phụ nữ, không phải là một loại.”

    “Ngữ nghĩa.” Ngài bá tước phẩy một bàn tay đầy thô bạo. “Cô không có tí quan tâm nào đến danh tiếng của mình à?”

    “Danh tiếng của tôi khó có thể là mục tiêu.”

    “Khó là mục tiêu? Khó là mục tiêu à?” Anh thô bạo quay ngoắt lại và bắt đầu đi đi lại lại trên tấm thảm phía trước bàn của nàng.

    Con chó lại cụp tai lại và hạ đầu xuống, theo dõi những chuyển động của ông chủ mình bằng đôi mắt của nó.

    “Tôi ước là ngài sẽ không nhắc đi nhắc lại những lời của tôi nữa,” Anna lẩm bẩm. Nàng cảm thấy một vệt đỏ bừng lan nhanh trên má mình, và nàng ước nàng có thể kiểm soát được nó. Nàng không muốn trông yếu đuối trước mặt anh.

    Ngài bá tước, đang ở đầu xa hơn của đoạn đường ngắn mà ngài bước qua lại, dường như lại chẳng hề nghe thấy lời đáp lại của nàng gì cả. “Danh tiếng của cô là mục tiêu duy nhất.

    Cô vẫn được coi là một người phụ nữ đáng được tôn trọng. Một điều lầm lỗi như thế có thể bôi cô đen hơn cả một quạ.”

    Thật là! Anna vươn thẳng người lên từ chiếc bàn của mình. “Ngài đang nghi ngờ về danh tiếng của tôi ư, Ngài Swartingham?”

    Anh dừng lại ngay lập tức và quay khuôn mặt tức giận về phía nàng. “Đừng có làm một người ngu ngốc nữa. Dĩ nhiên là tôi không nghi ngờ danh tiếng của cô.”

    “Không ư?”

    “Ha! Tôi-”

    Nhưng Anna đã bước qua trước mặt ngài. “Nếu tôi là một người phụ nữ đáng được tôn trọng, thì chắc chắn là ngài có thể tin vào sự phán đoán đúng đắn của tôi chứ.” Nàng có thể cảm thấy cơn giận của mình đang tăng lên, một áp lực mạnh mẽ bên trong đầu nàng đe dọa muốn thoát ra. “Là một quý cô đáng tôn trọng, tôi cho rằng nhiệm vụ của mình là phải giúp đỡ những người kém may mắn hơn tôi.”

    “Đừng có sử dụng sự ngụy biện với tôi.” Anh chỉ một ngón tay vào nàng từ bên kia căn phòng. “Địa vị của cô ở trong làng sẽ bị hủy hoại nếu cô tiếp tục việc đó.”

    “Tôi có lẽ sẽ gặp phải một số sự chỉ trích”- nàng vòng hai cánh tay quanh người mình-“ nhưng tôi khó mà nghĩ được là tôi sẽ bị hủy hoại vì một hành động tuân theo sự nhân đạo của Chúa.”

    Ngài bá tước bật ra một âm thanh không thanh lịch. “Những người theo đạo Thiên Chúa ở trong làng sẽ là người đầu tiên muốn đeo gông vào cổ cô.”

    “Tôi-”

    “Cô cực kì dễ bị tổn thương. Một góa phụ trẻ trung, hấp dẫn-”

    “Làm việc cho một người đàn ông độc thân,” Anna ngọt ngào chỉ ra. “Rõ ràng là đức hạnh của tôi đang trong một mối nguy nan khẩn cấp.”

    “Tôi không nói thế.”

    “Không, nhưng những người khác thì có.”

    “Đó chính xác là những gì tôi muốn nói,” anh hét lên, rõ ràng có ấn tượng rằng nếu anh thét lên đủ to thì sẽ giúp truyền đạt ý kiến của anh một cách hiệu quả. “Cô không thể qua lại với người phụ nữ đó được!”

    Như vậy hiển nhiên là quá nhiều. Đôi mắt của Anna híp lại. “Tôi không thể qua lại với cô ấy à?”

    Anh khoanh tay trên ngực mình. “Chính xác-”

    “Tôi không thể qua lại với cô ấy à?” nàng lặp lại lời anh, lần này cao giọng hơn.

    Ngài Swartingham trông ái ngại với tông giọng của nàng. Cũng như anh nên thấy thế.

    “Thế còn tất cả những người đàn ông đã làm cô ấy trở thành giống như cô ấy bây giờ bằng cách qua lại với cô ấy thì sao?” nàng hỏi. “Không ai lo lắng về danh tiếng của những người đàn ông làm khách làng chơi của các cô gái điếm nhỉ.”

    “Tôi không thể tin là cô lại sẽ nói ra những thứ như thế,” anh nói lắp bắp trong sự cáu tiết.

    Áp lực trong đầu của Anna đã rời đi, bị thay thế bằng một con sóng của sự tự do kì lạ đầy thú vị đang tràn tới. “À, tôi sẽ nói những thứ như thế đấy. Và tôi biết những người đàn ông còn hơn là chỉ có nói về chúng. Tại sao, một người đàn ông có thể đến thăm một cô gái điếm thường xuyên-thậm chí là mỗi ngày trong tuần- và lại vẫn đáng được tôn trọng một cách hoàn hảo nhỉ. Trong khi đó một cô gái nghèo vướng vào một việc làm hoàn toàn tương tự như anh ta thì lại bị cho là thứ đồ bẩn thỉu nhỉ.”

    Ngài bá tước dường như đã đánh mất khả năng phát biểu. Anh tạo ra một loạt những tiếng khụt khịt mũi.

    Anna không thể dừng dòng sông từ ngữ đang chảy ra từ miệng mình. “Và tôi nghi ngờ là không phải chỉ những kẻ ở những tầng lớp thấp hơn mới làm khách quen của những người phụ nữ như thế. Tôi tin là những người đàn ông, và thực tế là cả những quý ông có địa vị cũng thường đến trú ngụ ở những nơi có tiếng xấu đó.” Đôi môi của Anna run lên một cách không thể kiểm soát được. “Thực là đạo đức giả khi một người đàn ông sử dụng một cô gái điếm nhưng lại không giúp cô gái đó khi cô ấy cần đến.” Nàng dừng lại và mau lẹ chớp mắt. Nàng sẽ không khóc.

    Những tiếng khịt mũi kết hợp thành một tiếng gầm rống. “Lạy Chúa tôi, đàn bà!”

    “Tôi nghĩ tôi nên về nhà ngay bây giờ,” Anna xoay xở để nói được chỉ ngay trước khi nàng chạy ra khỏi phòng.

    Oh, Chúa ơi, nàng đã làm gì thế này? Nàng đã mất bình tĩnh với một người đàn ông và cãi nhau với ông chủ của mình. Và theo tiến trình đó thì không nghi ngờ gì là nàng đã phá hoại bất kì cơ hội nào để có thể tiếp tục công việc làm thư kí cho ngài bá tước của mình mất rồi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/10/13
    NHTB and thanhbt like this.
  10. lovecocktail

    lovecocktail Mầm non

    Chương 6 (phần 1)

    Mọi người trong lâu đài nhảy múa và hò hét trong niềm vui sướng. Kẻ thù của họ đã bị đánh bại, và họ không còn phải sợ gì nữa cả. Nhưng vào giữa buổi lễ chúc mừng của họ, con quạ bay về và đậu trước mặt của ngài công tước. “Tôi đã làm những gì mà tôi nói và tiêu diệt tên hoàng tử. Giờ thì hãy trao cho tôi phần thưởng của tôi đi.”

    Nhưng cô con gái nào sẽ là vợ của nó đây? Cô chị cả khóc rằng cô ta sẽ không lãng phí nhan sắc của mình cho một con chim dơ dáy. Cô chị hai thì nói: bây giờ đội quân của tên hoàng tử xấu xa kia cũng đã bị đánh bại rồi, việc gì mà phải hoàn thành vụ giao dịch nữa chứ? Chỉ có cô con gái út, Aurea, đồng ý bảo vệc cho danh dự của cha mình. Cái đêm khác thường đó, trong một nghi lễ kì lạ nhất mà bất cứ ai từng được chứng kiến, Aurea đã kết hôn với con quạ. Và ngay khi cô được tuyên bố là vợ của nó, con quạ đã bảo cô leo lên lưng nó và nó bay đi mang theo cô dâu của mình bám trên lưng…

    - từ Hoàng tử Quạ

    Edward nhìn đăm đăm vào sau lưng Anna với sự giận dữ đầy bối rối. Chuyện gì vừa mới xảy ra đây? Khi nào thì anh đã mất kiểm soát trong cuộc trò chuyện vậy hả?

    Anh quay lại và chộp lấy hai cái tượng nhỏ bằng sứ và một hộp đựng thuốc lá từ trên mặt lò sưởi và ném chúng vào tường trong một chuỗi các hành động mau lẹ. Mỗi cái đều vỡ tan trong cú va chạm, nhưng nó không giúp ích được gì. Điều gì khiến người phụ nữ đó hành động như vậy cơ chứ?

    Anh chỉ nêu ra- và hoàn toàn chắc chắn là đã chỉ làm có thế- rằng đối với cô, việc cho một người như thế ở lại trong nhà mình là không hợp phép tắc đến nhường nào, và làm thế nào đó mà chuyện đó lại thất bại một cách bất ngờ.

    Cái quỷ gì đã diễn ra vậy?

    Anh sải bước dài đi vào đại sảnh nơi một người hầu nam có vẻ rất hoang mang đang nhìn chằm chằm ra ngoài cửa trước.

    “Đừng có chỉ đứng đó nữa, cậu kia.” Người hầu nam giật bắn cả mình và quay người lại khi nghe giọng cáu kỉnh của Edward. “Đi nói với bác đánh xe John đánh xe theo sau Mrs. Wren. Người phụ nữ ngốc nghếch đó có lẽ sẽ đi bộ cả quãng đường trở về làng chỉ để chọc tức tôi mất.”

    “Vâng thưa ngài.” Anh hầu nam cúi chào và chạy vội đi.

    Edward thọc hai tay vào mái tóc mình và giật mạnh đủ để khiến anh phải cảm thấy tóc mình tuột ra khỏi bím tóc tết ở đằng sau. Phụ nữ! Bên cạnh anh, con chó rên khẽ.

    Hopple nhìn ngó quanh góc tường như một con chuột thò ra khỏi cái tổ của nó để xem cơn bão đã đi xa chưa. Ông thanh thanh cổ họng của mình. “Những người phụ nữ thỉnh thoảng lại rất vô lý, hay không phải vậy chăng, thưa ngài?”

    “Oh, im đi, Hopple.” Edward dậm chân bước đi khỏi đại sảnh.

    Những con chim chỉ vừa mới bắt đầu điệu nhạc chói tai vui vẻ của chúng vào sáng hôm sau thì có tiếng gõ vào cánh cửa trước của ngôi nhà tranh. Lúc đầu Anna nghĩ tiếng ồn là một phần trong giấc mơ không rõ ràng, nhưng rồi đôi mắt nàng lờ đờ mở ra và giấc mơ tan biến.

    Tiếng đập cửa, thật không may, là lại không biến đi như thế.

    Anna bò ra khỏi cái giường của mình và tìm kiếm chiếc áo choàng rộng màu xanh dương của mình. Bọc nó quanh mình, nàng loạng choạng đi xuống những bậc cầu thang lạnh buốt bằng bàn chân trần, há rộng miệng ngáp ngủ đến mức quai hàm của nàng cũng phải kêu thành tiếng chèo chẹo. Cho đến lúc đó thì người gọi cửa đã ném mình vào một cơn giận muốn phát điên lên rồi. Dù đó có là ai đi nữa thì hẳn là người này có rất ít kiên nhẫn. Thực tế là về điểm này thì người duy nhất mà nàng biết có tâm tính dễ nổi nóng thế này là… “Ngài Swartingham!”

    Anh đã đặt một cánh tay mạnh mẽ chống lên thanh ngang ở phía trên đầu nàng, một tay kia thì nâng lên chuẩn bị cho một cái gõ khác vào cánh cửa. Một cách hấp tấp, anh hạ bàn tay đã nắm lại xuống. Con chó đứng lên cạnh anh và ve vẩy cái đuôi của nó.

    “Mrs. Wren.” Anh trừng mắt nhìn nàng. “Cô vẫn chưa thay trang phục à?”

    Anna nhìn xuống chiếc áo khoác ngoài có những nếp nhăn và những ngón chân trần của mình. “Rõ ràng là chưa, thưa ngài.”

    Con chó đi tới phía trước chân của bá tước và dụi mõm nó vào bàn tay nàng.

    “Tại sao lại không?” anh hỏi.

    “Bởi vì còn quá sớm để làm việc đó à?” Con chó dựa vào Anna khi nàng vuốt ve nó.

    Ngài Swartingham quắc mắt giận dữ với con chó săn lơ đễnh. “Mày là đồ ngờ nghệch,” anh nói.

    “Tôi xin lỗi!”

    Ngài bá tước quay cái quắc mắt của anh về phía nàng. “Không phải là cô, con chó cơ.”

    “Ai thế hả, Anna?” Mẹ Wren đứng trên những bậc thang, nhìn xuống với vẻ lo lắng. Fanny thì chết đứng ở phòng khách.

    “Đó là Ngài bá tước Swartingham, Mẹ ạ,” Anna nói cứ như thể chuyện những nhà quý tộc ghé thăm nhà vào trước bữa ăn sáng là hoàn toàn bình thường vậy. Nàng quay lại với anh và nói trịnh trọng hơn, “Tôi xin giới thiệu mẹ chồng tôi, Mrs. Wren. Mẹ, đây là ông chủ của con, Edward de Raaf, Ngài bá tước Swartingham.”

    Mẹ Wren, trong chiếc áo choàng màu hồng bóng, thực hiện một cái nhún gối chào đầy nguy hiểm ngay trên những bậc thang. “Rất vinh hạnh được gặp ngài.”

    “Hân hạnh cho tôi, ma’am,” người đàn ông ở cửa lẩm bẩm.

    “Ngài ấy đã ăn sáng rồi chứ?” Mẹ Wren hỏi Anna.

    “Con không biết ạ.” Anna quay lại phía Ngài Swartingham, người đang có hai gò má bị rỗ đỏ ửng lên. “Ngài đã ăn sáng chưa ạ?”

    “Tôi…” Anh dường như ở trong một tình trạng đánh rơi hết cả từ ngữ hoàn toàn trái với thường lệ. Anh nhíu mày sâu hơn.

    “Mời ngài ấy vào đi, Anna, nào,” Mẹ Wren mau mắn nói.

    “Ngài có vui lòng tham dự bữa sáng với chúng tôi không, thưa ngài?” Anna ngọt ngào hỏi.

    Ngài bá tước gật đầu. Vẫn đang nhíu mày, anh cúi đầu để tránh thanh xà ngang và bước hẳn vào bên trong ngôi nhà tranh.

    Mrs. Wren đáng kính bước nhanh xuống dưới cầu thang, những rải ruy băng màu hồng của hoa vân anh <màu hồng pha tím> khẽ đung đưa theo. “Tôi rất mừng khi được gặp ngài, thưa ngài. Fanny đâu, nhanh đi đun nước đi.”

    Fanny kêu lên và lao vội vào trong nhà bếp. Mẹ Wren dẫn vị khách của họ đi vào căn phòng khách nhỏ xíu, và Anna nhận ra kích cỡ của nó dường như còn thu nhỏ lại hơn nữa khi anh bước vào trong đó. Anh thận trọng ngồi xuống chiếc ghế bành duy nhất trong khi những người phụ nữ thì ngồi vào chiếc ghế sô-pha. Con chó vui vẻ dạo một vòng quanh phòng, dí cái mũi nó vào những góc nhà cho đến khi ngài bá tước phải lầm bầm bảo nó ngồi xuống.

    Mẹ Wren mỉm cười tươi tắn. “Anna chắc chắn là đã mắc lỗi khi con bé nói là ngài đã sa thải nó.”

    “Gì cơ?” Anh ghì lấy hai tay ghế của mình.

    “Con bé đã nghĩ là ngài sẽ không còn cần phải có một thư kí nữa.”

    “Mẹ à,” Anna thì thầm.

    “Đó là những gì con nói mà, con yêu.”

    Đôi mắt của ngài bá tước chú ý vào Anna. “Cô ấy đã nhầm rồi. Cô ấy vẫn là thư kí của tôi.”

    “Oh, thật tuyệt làm sao!” Mẹ Wren tươi cười rạng rỡ. “Con bé đã rất buồn vào tối qua vì nó nghĩ nó không còn được thuê nữa.”

    “Mẹ-”

    Người phụ nữ đứng tuổi nghiêng người về phía trước một cách bí hiểm như thể Anna đã biến mất khỏi căn phòng luôn rồi. “Tại sao chứ, đôi mắt của con bé đỏ hết lên khi nó bước ra từ cỗ xe ngựa. Tôi nghĩ con bé có lẽ đã khóc hết nước mắt.”

    “Mẹ!”

    Mrs. Wren chiếu một cái nhìn chăm chú đầy vô tội lên cô con dâu của mình. “À, hai mắt con đã như thế đấy, con yêu ạ.”

    “Thực vậy ư?” ngài bá tước lẩm bẩm <dĩ nhiên là ko =)))>. Đôi mắt màu gỗ mun của anh lóe lên tia sáng.

    May mắn là Fanny đã cứu nàng khỏi phải đáp lại bằng cách bước vào với một khay đồ ăn sáng. Anna, trong sự nhẹ nhõm, nhận ra rằng cô gái đã có đủ khả năng để làm thành công món trứng lòng đào và nướng một ít bánh mì để ăn kèm cháo yến mạch. Cô gái thậm chí còn kiếm được một chút thịt hun khói nữa. Anna gửi một cái gật đầu đồng tình với cô hầu gái nhỏ, người đã quay lại nhe răng cười toe toét đầy xấc xược.

    Sau khi ngài bá tước đã chia sẻ một phần thực sự đáng nể của số trứng trần lòng đào- thật may làm sao là Fanny lại đã đi chợ chỉ mới ngày hôm qua- anh đứng lên và cảm ơn Mẹ Wren cho bữa sáng. Mẹ Wren mỉm cười vui vẻ với anh, và Anna tự hỏi sẽ mất bao lâu trước khi cả làng nghe được tin là họ đã chiêu đãi Ngài bá tước Swartingham khi còn đang mặc áo choàng ngủ.

    “Cô có thể thay đồ cưỡi ngựa được không, Mrs. Wren?” ngài bá tước hỏi Anna. “Con ngựa thiến của tôi và Daisy đều đang đợi bên ngoài.”

    “Dĩ nhiên rồi, thưa ngài.” Anna tự bào chữa và đi vào phòng mình để thay đồ.

    Vài phút sau, nàng đi xuống cầu thang trở lại và thấy ngài bá tước đang đợi mình ở mảnh vườn đằng trước.

    Anh đang ngắm nghía khoảng đất ẩm chạy dài tới một bên cửa nhà nàng nơi mà những bông hoa nho lan dạ hương màu xanh dương và những bông hoa thủy tiên vàng đang nở rực rỡ. Anh nhìn lên khi nàng bước ra khỏi ngôi nhà, và trong một lúc, có một sự biểu cảm trong đôi mắt anh đã khiến nàng phải ngừng thở. Nàng liếc xuống để đeo đôi găng tay của mình vào và cảm nhận hai gò má mình nóng lên.

    [​IMG]

    Hoa nho lan dạ hương



    “Về thời gian,” anh nói. “Chúng ta bị muộn hơn so với kế hoạch của tôi.”

    Anna tảng lờ đi sự cộc lốc của anh và đứng bên cạnh con ngựa cái, đợi sự giúp đỡ của anh để lên ngựa. Bá tước tiến lên và vòng hai bàn tay rộng của anh quanh eo nàng trước khi đẩy nàng lên yên ngựa. Anh đứng bên dưới nàng một lúc, trong khi ngọn gió thổi tách một lọn tóc sẫm màu của anh ra, và anh tìm kiếm trên gương mặt nàng. Nàng quay lại nhìn chăm chú, mọi ý nghĩ đều bay biến khỏi đầu nàng. Rồi anh quay lại chỗ con ngựa của mình và trèo lên.

    Ngày sáng lên. Anna nhớ là mình đã không nghe thấy tiếng mưa suốt đêm qua, nhưng bằng chứng về nó thì nằm ở mọi nơi. Những vũng nước mưa có trên con đường nhỏ, và những hàng cây, hàng rào mà chúng đã chảy qua vẫn còn đang nhỏ giọt. Ngài bá tước cho con ngựa đi dạo ra khỏi làng và tiến vào vùng nông thôn.

    “Chúng ta đang đi đâu ạ?” nàng hỏi.

    “Những con cừu của Mr. Durbin đã bắt đầu đẻ, và tôi muốn xem những con cừu cái sẽ làm như thế nào.” Anh đằng hắng cổ họng. “Tôi cho rằng tôi đáng lẽ nên nói với cô về chuyến đi ra ngoài vào hôm nay sớm hơn.”

    Anna giữ đôi mắt mình nhìn thẳng và tạo ra một âm thanh lấp lửng.

    Anh ho khẽ. “Tôi đáng lẽ nên làm thế, nếu cô không bỏ đi quá vội vã vào chiều qua.”

    Nàng nhướn một bên lông mày nhưng không đáp trả.

    Một khoảng thời gian yên lặng kéo dài chỉ bị phá vỡ bởi tiếng kêu ăng ẳng đầy tức tối của con chó khi nó xua một con thỏ từ hàng giậu ở ven đường.

    Rồi ngài bá tước tiếp tục cố gắng. “Tôi đã nghe vài người nói là tâm trạng của tôi khá là…” Anh dừng lại, rõ ràng là đang tìm kiếm một từ ngữ.

    Anna giúp anh. “Dã man à?”

    Anh liếc xéo nàng.

    “Dữ tợn?”

    Anh cau mày và mở miệng.

    Nàng nhanh miệng hơn. “Hoang dã?”

    Anh cắt ngang lời nàng trước khi nàng có thể thêm vào danh sách của mình. “Phải, ừm, chúng ta hãy nói một cách đơn giản là nó đe dọa một số người.” Anh ngần ngừ. “Tôi sẽ không muốn dọa dẫm gì cô, Mrs. Wren.”

    “Anh không làm thế.”

    Anh nhanh chóng nhìn sang nàng. Anh không nói gì thêm nữa, nhưng nét mặt của anh tươi tỉnh lên hẳn. Trong một lúc khác, anh lại thúc vào mình ngựa để nó chạy nước kiệu vượt qua con đường nhỏ đầy bùn đất, làm bắn lên những hòn đất to. Con chó chạy đuổi theo bên cạnh với cái lưỡi của nó thè ra từ một bên mõm.

    Anna mỉm cười không vì lý do gì cả và nghiêng khuôn mặt mình để đón ngọn gió nhẹ của buổi sớm mai.
     
    Lang0999, phamjnn, dungbim and 4 others like this.
  11. loan

    loan Mầm non

    Cám ơn bạn đã đem đến một tác phẩm hay, mình rất thích hai nhân vật nam và nữ chính. Hai người dường như được sinh ra để dành cho nhau, và rất thích cách bạn dịch truyện ,thông minh và dí dỏm. Biết là bạn rất vất vả nhưng mong bạn cố gắng để tiếp tục giới thiệu những chương tiếp theo nha. Một lần nữa cám ơn bạn.
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/12/13
  12. vuanhquan

    vuanhquan Mầm non

    Truyện rất hay,cảm ơn bạn nhiều!
     
  13. Hebe

    Hebe Mầm non

    Thích truyện này quá đi,thanks!
     

Chia sẻ trang này