Phật Giáo TÌM HIỂU PHẬT GIÁO QUA HÌNH TƯỢNG CHƯ PHẬT, BỒ TÁT và LA HÁN

Thảo luận trong 'Tủ sách Tôn giáo' bắt đầu bởi crammer, 2/10/13.

  1. crammer

    crammer Lớp 1

    NGUỒN : THƯ VIỆN EBOOK (tve)
    NGƯỜI GỬI :tducchau

    ...

    *********Trong các chùa Phật giáo, chúng ta thường thấy có nhiều hình tượng được tôn thờ, trong đó có tượng là Phật, nhưng cũng có tượng là Bồ Tát, La Hán.

    Trên TVE, chúng ta cũng đã có nhiều dịp tìm hiểu về vấn đề nầy: 1. – “Thâm ý qua hình tượng Phật, Bồ Tát – HT Thích Thanh Từ” (Tovanhung thực hiện – Vui lòng xem tại đây) và 2. – “Giải thích hệ thống tượng Phật ở trong chùa – Cư sĩ TMĐ Nguyễn Đức Can” (SBC thực hiện – Vui lòng xem tại đây).

    Tuy nhiên, một số bạn vẫn còn có những thắc mắc rất ý vị, rất hay… Vậy, Cũng nên... vì tducchau cũng đang thực hiện loạt bài về "Mười tôn phái Phật giáo ở Trung Hoa" (Trong PHẬT HỌC PHỔ THÔNG - Khóa V)... xin mạo muội, “tiếp bước”, trình bày thêm một chút với các bạn về vấn đề nầy. Có thể có bài, có ý, có sự trùng lắp về tựa đề, nội dung… nhưng rất mong các bạn yên tâm – Nguồn tư liệu mà tducchau dẫn lược và trích lục, hoàn toàn dựa trên quyển 中國 古典 文化 百 科 書 (Bách Khoa thư Văn hóa Cổ điển Trung Quốc – Nguyễn Tôn Nhan, NXB Văn hóa Thông tin, 2002).

    Cũng xin trình tự thực hiện theo ba mục: Chư Phật, Bồ Tát và La Hán.
    Trân trọng...


    A. – CHƯ PHẬT


    DI LẶC PHẬT

    Ở Trung Quốc, (VN), trong các chùa miếu thường có thờ tượng hòa thượng mặc áo hở bụng, miệng cười tươi tỉnh và gọi đó là tượng Di Lặc. Thực ra, vị hòa thượng bụng to mập mạp ấy không phải là Phật vị lai Di Lặc trong “Tam thế Phật” mà chính là người Trung Quốc có tên hiệu Bố Đại hòa thượng, tên thật là Khiết Thử.

    Đời Hậu Lương, Ngũ đại, ở Chiết Giang xuất hiện một hòa thượng quái dị tên là Khiết Thử. Ông rất mập, bụng lớn như trống, thường dùng một thanh gậy trúc và đeo một cái túi vải lớn sau lưng đi hóa duyên đây đó với ngôn ngữ bất thường. Ông có khả năng tiên tri thời tiết và phúc họa cho người khác, những lời tiên tri của ông rất ứng nghiệm, vì vậy nổi tiếng một thời.

    Lúc Khiết Thử viên tịch (chết) cũng khác thường, ông ngồi ngay ngắn trên một tảng đá, đọc mấy câu kệ:

    Di Lặc chân Di Lặc
    Hóa thân thiên bách ức
    Thời thời nhị thời nhân
    Thời nhân tự bất thức.


    Di Lặc thực Di Lặc
    Hóa thân ngàn vạn ức
    Thường thường dạy người đời
    Người đời tự không biết.

    Đọc xong kệ, ông an nhiên lìa đời. Lúc ấy người ta mới tỉnh ngộ rằng vị hòa thượng mập mạp ấy chính là hóa thân của Di Lặc Phật. Về sau, người ta căn cứ vào hình dạng của ông để tạo thành tượng Phật Di Lặc mập mạp đã bị Trung Quốc hóa.

    Còn Đức Phật Di Lặc chân chính lại ít người được biết. Thân tượng Di Lặc chính thống có dạng của một Bồ Tát, thường đội mũ “thiên quan”.


    Di Lặc là phiên âm tiếng Phạn có nghĩa là “Từ thị” (người có lòng từ bi). Đó là họ, còn tên ngài là A Dật Đa. Theo thuyết Phật giáo, hiện nay ngài còn là Bồ tát nhưng trong tương lai chắc chắn thành Phật (tức Vị lai Phật) và cũng là nối tiếp Phật Thích Ca Mâu Ni. Địa vị ngài cực cao, khác hẳn với Bố đại hòa thượng ở đời Ngũ đại.

    Theo sách “Di Lặc thượng sinh kinh”, A Dật Đa sinh trong gia đình Bà La Môn lớn ở Nam Thiên Trúc, Ấn Độ. Sau khi trở thành đệ tử của Phật Thích Ca, ngài lìa đời nhập diệt trước cả Phật Thích Ca và vãng sinh đến trời Đâu Suất (Đâu Suất thiên). Trải qua 56 ức 7 ngàn vạn năm sau, Phật Di Lặc sẽ hạ sinh xuống trần truyền bá Phật pháp.


    ĐÔNG PHƯƠNG TAM THÁNH

    Xưa nay cái thế giới mỹ diệu mà cổ nhân hy vọng tới đều là thế giới phương đông hoặc thế giới phương tây, chưa hề thấy họ gởi gấm hi vọng vào phương nam hay phương bắc. Loại tín ngưỡng như vậy e rằng có quan hệ tới tập tục sùng bái mặt trời của cổ nhân. Thời hoang sơ, nhân loại chưa có đời sống định cư, hoàn cảnh trên mặt đất thường vẫn xảy ra nhiều biến động, còn mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao trên trời luôn luôn như những người bạn của họ, mà được họ chú ý nhất và có ảnh hưởng nhất đến đời sống con người vẫn là mặt trời.

    Mỗi ngày mặt trời mọc ở phương đông và lặn ở phương tây, lúc nó xuất hiện ánh sáng tỏa ra muôn nơi, nó làm cho người ta được ấm áp, muôn vật được nảy nỏ. Có thể nói mặt trời tượng trưng cho sự sống, tượng trưng cho sự sáng sủa, tượng trưng cho hạnh phúc. Mặt trời mọc lên ở phương đông và chìm xuống ở phương tây làm cho con người sinh ra biết bao nhiêu huyễn tưởng kỳ diệu. Trong thần thoại cổ đại Trung Quốc, phương đông có những núi thần như Bồng Lai, Doanh Châu với những miêu tả chẳng khác gì thiên đường cực lạc.

    Kinh Phật kể cũng gần giống như vậy, phương tây có một quốc gia cực lạc do Di Đà làm chủ còn phương đông có Tịnh Lưu Ly quốc do Dược Sư là chủ.

    Dược Sư Phật, chữ phạn là Bhaisaiyagururaiduryaprabhàsa, dịch trọn vẹn ra chữ Hán là “Dược Sư Lưu Ly quang Như Lai”, còn gọi là “Đại Y vương Phật”, ngài là Giáo chủ thế giới đông phương Tịnh Lưu Ly. Bên cạnh Dược sư Phật có hai vị Thần tướng là “Nhật Quang biến chiếu Bồ Tát” và “Nguyệt Quang biến chiếu Bồ Tát”, cả ba vị nầy được gọi chung là “Đông phương Tam Thánh” – Trong Mật tôn, Nhật Quang Bồ Tát còn được gọi là “Uy Đức Kim Cương”. Tượng thờ của Nhật Quang được tạc thành hình Bồ Tát, sắc vàng, tay trái cầm khăn quý, tay phải cầm vòng mặt trời (Nhật luân). Tượng thờ Nguyệt Quang cũng tạc hình Bồ tát, sắc vàng, tay trái cầm hoa sen xanh, bên trên có hình nửa mặt trăng.


    HOAN HỈ PHẬT

    Hoan Hỉ Phật là dịch ý chữ Phạn Ganapati (Nga na bát để), cũng có thể dịch là “Vô ngại” (Không bị chướng ngại). Có nhiều cách giải thích về Hoan Hỉ Phật:

    Một thuyết coi Hoan Hỉ Phật tượng trưng cho ngụ ngôn, tức một loại vừa ngụ ý vừa tượng trưng. Đó là hình tướng cực kỳ hung ác, chính diện là đầu trâu hoặc hình tượng chín đầu với 36 tay 36 chân. Kỳ thực hình tượng gốc vốn là Di Lặc Phật với diện mạo từ bi nghiêm trang, nhưng lại tạo hình thành hung ác là để tượng trưng sức mạnh dữ dội để trấn nhiếp tà ma ngoại đạo hãm hại Phật giáo, biểu hiện sự đại phẫn nộ, đại vô úy, đại thắng lợi. Dưới chân có hình người nữ khỏa thân, hoặc ôm chặt giao tiếp với người nữ khỏa thân, đại biểu cho sự hàng phục được giáo đồ dị giáo, do đó có sự “hoan hỉ” (vui vẻ) của Hoan Hỉ Phật, nhưng đây không phải là sự vui vẻ của dâm lạc nam nữ mà là sự vui vẻ hàng phục được kẻ địch, dành được thắng lợi.

    Còn một loại khác lý giải Hoan hỉ Phật hai thân đều trần truồng, tượng trưng không vướng mắc một chút gì, không nhiễm một hạt bụi, đã thoát ly khỏi bụi bậm phàm trần. Hai thân thể ôm lấy nhau, thân thể nam đại biểu phương tiện, thân nữ đại biểu trí tuệ, với ý nghĩa biểu thị phương pháp với trí huệ đều thành tựu, nam và nữ hòa hợp một thể, đầy đủ viên mãn. Tu chứng sở đắc tức là “vui vẻ”, nhưng loại vui vẻ này tượng trưng cho tín niệm chứ không phải sự dâm lạc nam nữ.

    Khác với hai thuyết trên, còn một cách giải thích khác, Hoan Hỉ Phật là “Thần tình yêu” (Ái thần), “Dục thiên” trong Phật giáo, có loại kinh văn công khai viết: “Tùy theo mọi loại tính dục của các chúng sinh, khiến được vui vẻ” (Tùy chư chúng sinh chủng chủng sinh dục, linh đắc hoan hỉ – Đại Nhật kinh). Loại lý luận như vậy đương nhiên có quan hệ đến tập tục sùng bái tính dục của tông phái nguyên thủy cổ Ấn Độ. Ban sơ có một phái gọi là “Tính lực phái” cho rằng vũ trụ vạn vật đều sinh ra do tính dục của nữ thần, vì vậy coi hành vi tính dục như một phương pháp thờ cúng sùng bái nữ thần ấy.


    NGŨ PHƯƠNG PHẬT

    Năm vị Phật ngự ở năm phương hướng. Ngũ phương Phật thuộc hệ thống Phật giáo Mật tôn, được sắp xếp như sau: phương đông A Thiểm Phật (biểu hiện tính giác ngộ), phương nam Bảo Sinh Phật (biểu hiện tính phúc đức), trung ương Tỳ Lô Giá Na Phật (Đại Nhật Như Lai), phương tây A Di Đà Phật (biểu hiện trí tuệ), phương bắc Bất Thành Tựu Phật (biểu hiện sự nghiệp).

    Tỳ Lô Giá Na là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa “ánh sáng chiếu khắp nơi” (quang minh biến chiếu), “khắp mọi nơi” (biến nhất thiết xứ), “mặt trời lớn” (đại thái dương) do vậy còn được gọi là Đại Nhật Như Lai. Thiên Thai tôn của Phật giáo Trung Quốc coi Tỳ Lô Giá Na là Pháp thân Phật, còn Thích Ca Mâu Ni là Ứng thân Phật. Thực tế, Tỳ Lô Giá Na là một loại thân Phật của Thích Ca Mâu Ni. Phật giáo Mật tôn tôn thờ Phật Tỳ Lô Giá Na (tức Đại Nhật Như Lai) như một ngẫu tượng chủ yếu.

    Nam phương Bảo Thắng Phật cũng gọi là Bảo Tướng Phật, Bảo Sinh Như Lai, ngụ ở thế giới Hoan Hỉ phương nam. Mật tôn còn gọi ngài là Bình Đẳng Kim Cương, cho rằng ngài quản lý tất cả tiền bạc. Toàn thân ngài màu vàng, tay trái nắm lại, ngón vô danh và ngón út tay phải cong gấp vào, ba ngón còn lại dựng thẳng lên.

    Tên “A Thiểm” của Đông phương A Thiểm Phật có nghĩa là “không động đậy” (bất động), “không giận dữ” (bất sân nộ). Ngài ngự ở thế giới Diệu Hỉ phương đông, nếu có người chuyên cần tu tập Phật pháp, phát nguyện sinh vào thế giới này, sau khi chết có thể chuyển sinh đến đó được. Mật tôn tạo hình tượng ngài có dáng ngồi, tay trái nắm lại, tay phải cầm Phạn hạp, toàn thân sắc vàng.

    Tây phương A Di Đà Phật, còn gọi là Vô lượng Thọ Phật, ngụ ở thế giới Cực Lạc.

    Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật, còn gọi là Vị Diệu Văn Phật, ngụ ở thế giới Liên Hoa.

    Theo truyền thuyết Phật giáo Mật tôn, Đại Nhật Như Lai có đủ năm loại trí tuệ, vì giáo hóa chúng sinh, ngài thành 5 Phật ở 5 phương.


    QUÁ KHỨ THẤT PHẬT

    Bảy vị Phật thời đã qua. Phật giáo cho rằng thời đã qua có 7 vị Phật, Thích Ca Mâu Ni là vị Phật cuối cùng trong số ấy, theo thứ tự cao thấp, 7 vị Phật quá khứ là:

    1. – Tì Bà Thí Phật
    2. – Thí Khí Phật
    3. – Tì Xá Bà Phật
    4. – Câu Lâu Tôn Phật
    5. – Câu Na Xá Phật
    6. – Ca Diếp Phật
    7. – Thích Ca Mâu Ni Phật.​

    Tì Bà Thi Phật là vị đầu tiên, tên này phiên âm từ tiếng Phạn, có nghĩa là “Thắng quan” (quan sát hơn người) hay “Chủng chủng quan” (quan sát nhìn thấy mọi thứ). Sách Phật viết Ngài đã thành Phật từ 91 đại kiếp trước. Theo truyền thuyết Phật giáo, một “kiếp” có 13 ức 4 ngàn vạn năm, vậy 91 kiếp là 1200 ức năm, đó là con số thiên văn khó tưởng tượng nổi.

    Thi Khí Phật là vị thứ hai trong 7 Phật quá khứ, tên này phiên âm từ tiếng Phạn, có nghĩa là “bậc cao nhất” (tối thượng).

    Tì Xá Bà Phật, vị thứ ba cũng là tên từ tiếng Phạn, có nghĩa là “tất cả đều có” (nhất thiết hữu).

    Câu Lâu Tôn Phật phiên âm tiếng Phạn nghĩa là “thành tựu tốt đẹp” (thành tựu mỹ diệu).

    Câu Na Xá Phật phiên âm tiếng Phạn nghĩa là “sự trầm lặng như vàng” (kim tịch).

    Ca Diếp Phật nghĩa là “uống ánh sáng" (ẩm quang).

    Theo truyền thuyết, Ca Diếp Phật chính là bậc thầy đời trước của Phật Thích Ca Mâu Ni, từng đoán trước Thích ca nhất định sẽ thành Phật. Hình tượng Ca Diếp Phật thường cưỡi trên lưng sư tử. Vị Phật Ca Diếp này là nhân vật khác với Ca Diếp (tên toàn vẹn là Ma Ha Ca Diếp, hay còn gọi là Đại Ca Diếp) đệ tử của Phật Thích Ca.


    TAM THẾ PHẬT

    Tam thế Phật (ba đời Phật) tức 3 Đức: Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai, trỏ: Dược Sư Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly phương đông, Thích Ca Mâu Ni Phật ở thế giới Ta Bà và A Di Đà Phật ở thế giới Cực Lạc tây phương. Tam Thế Phật tức là ba vị Phật của ba thế giới ấy.

    Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ của thế giới “Ta Bà” là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa là “thế giới chịu không nổi” (kham nhẫn) hay chịu nổi (năng nhẫn). Đây là thế giới do Thích ca Mâu Ni tiến hành giáo hóa, sự thực chính là thế giới hiện thực của loài người. Ở đây có mấy hàm nghĩa: thế giới hiện thực này đầy rẫy những đau khổ không thể chịu nổi, tội nghiệt chúng sinh nặng nề, Phật và các Bồ Tát phải chìm đắm trong cái thế giới “không chịu nổi” này để cứu vớt họ, biểu hiện lòng vô úy và từ bi.

    Dược Sư Phật là Giáo chủ thế giới Tịnh Lưu Ly phương đông, cái thế giới “Tịnh Lưu Ly” này chính là “Tịnh Thổ", “Lạc viên”, tức thế giới lý tưởng của Phật giáo. Dược Sư Phật từng lập 12 đại nguyện làm cho tất cả công dân ở thế giới Tịnh Lưu Ly đủ cơm ăn áo mặc, không có bệnh tật tai nạn, giải thoát khỏi đau khổ, thân tâm an lạc, nam nữ bình đẳng. Trong các điện thờ, thường tượng Dược Sư được đặt ngồi chính giữa, hai bên trái phải có hai thị vệ là Nhật Quang Bồ Tát và Nguyệt Quang Bồ Tát, gọi chung là “Dược Sư tam tôn” hoặc “Đông phương Tam Thánh”. Hình tượng điển hình của Dược Sư Phật là tay trái cầm bát đựng nước Cam Lộ, tay phải cầm viên thuốc.

    A Di Đà Phật là Giáo chủ tây phương Cực Lạc, đây là nước Phật có ảnh hưởng lớn nhất. tại sao gọi là “Cực Lạc?”, vì nơi đây không có bất cứ đau buồn khổ não nào. Các công dân ở đây tận tình hưởng hết vui vẻ, một thế giới như vậy ai không mong muốn? Trong sách Phật đã sẵn sàng cung cấp phương tiện cho tín đồ: chỉ cần toàn tâm nhất ý niệm danh hiệu “A Di Đà Phật”, A Di Đà Phật liền tiếp dẫn người niệm Phật vãng sinh đến thế giới Tây phương Cực Lạc. Chính vì vậy A Di Đà Phật còn được gọi là “Tiếp Dẫn Phật”.

    Hai bên tả hữu tượng A Di Đà Phật là Quan Thế Âm Bồ Tát và Thế Chí Bồ Tát, gọi chung là “A Di Đà Tam tôn”, hoặc “Tây phương Tam Thánh”.


    Hình tượng Tam Thế Phật còn là ba vị Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, thường được bài trí như sau:

    Chính giữa là Thích Ca Mâu Ni, Phật đời hiện tại, bên trái là Nhiên Đăng Phật, tức Phật đời quá khứ, bên phải là Di Lặc Phật, tức Phật đời vị lai. Phật Mâu Ni Thích CaPhật Di Lặc đã được giới thiệu ở trên, dưới đây chủ yếu nói về Phật Nhiên Đăng.


    Nhiên Đăng Phật còn gọi là “Đĩnh Quang Phật”, Đĩnh quang nghĩa là chân đèn. Vì sao gọi là “Đốt đèn?” (Nhiên đăng). Trong Kinh “Đại Trí độ luận” kể khi Phật Nhiên Đăng ra đời, toàn thân sáng rực như đèn nên mới có tên là Nhiên Đăng (đốt đèn). Lúc Thích Ca Mâu Ni còn bé, có lần Thích Ca đã dâng tặng Nhiên Đăng 5 cành hoa sen, Nhiên Đăng vui vẻ nhận Thích Ca làm đệ tử.

    Một hôm Thích Ca Mâu Ni theo Nhiên Đăng Phật đi ra ngoài, thấy đường toàn là bùn lầy, Thích Ca liền lấy áo trải xuống đường để sư phụ đi trên đó. Nhiên Đăng vui vẻ tiên tri: “Sau chín mươi mốt kiếp nữa, tức Hiền kiếp, con sẽ thành Phật với tên Thích Ca Như Lai”. Theo thứ tự, Phật Nhiên Đăng là bậc thầy đời trước của Thích Ca Mâu Ni. Nhân vì lúc ấy đang là đời quá khứ Trang Nghiêm kiếp, Nhiên Đăng tiên tri sau 91 kiếp nữa, Thích Ca sẽ thành Phật. Như chúng ta đã biết, theo Phật giáo, một kiếp là 13 ức 4 ngàn vạn năm, vậy thì câu nói trên kia của Nhiên Đăng ít ra cũng phải là trước 1200 ức năm…

    (Đến sách “Phong thần diễn nghĩa”, Nhiên Đăng Phật đã biến thành một lãnh tụ Đạo giáo có danh là Nhiên Đăng đạo nhân, giúp rập Khương Thái công đánh bại quân địch…!?).

    Phật quá khứ Nhiên Đăng với địa vị cao, Pháp lực lớn, nên được tông giáo bí mật dân gian (như Bạch Liên giáo) tôn thờ, thành một trong những ngẫu tượng được sùng bái nhất.

    __________________
    Thử hữu tắc bỉ hữu.
    Thử vô tắc bỉ vô.
    Thử sinh tắc bỉ sinh.
    Thử diệt tắc bỉ diệt.

    B. – BỒ TÁT


    CHUẨN ĐỀ QUAN ÂM

    Chuẩn Đề Quan Âm là phiên âm từ tiếng Phạn Candi-Avalokitesvava, cũng còn viết là Chuẩn Đề Quan Âm hay Chuẩn Đề Phật Mẫu, hay Tôn Đề Quan Âm. “Chuẩn Đề” có nghĩa là “thanh tĩnh” hay “tâm tính trong sạch yên lặng”. Hình tượng Chuẩn Đề có từ ba cánh tay đến 84 cánh tay, ngồi trên toàn sen mọc trên mặt nước, bên dưới có hai Long vương chắp tay, hiển thị công đức vô lượng, có khả năng trừ diệt tất cả khổ ách khổ nạn, làm tăng tiến trí tuệ phúc đức để chúng sinh được sống lâu khỏe mạnh. Chuẩn Để Quan Âm còn có thể làm cho trẻ con nín khóc, rất được giới phụ nữ hoan nghênh.

    Trước đây Chuẩn Đề Quan Âm được sùng bái rộng rãi trong dân gian, khắp nơi ở Trung Quốc có không ít am thờ Chuẩn Đề.


    ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

    Núi Cửu Hoa ở An Huy là một trong “Tứ đại danh sơn”. Nơi đây là đạo trường của Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng gia nhập vào hàng ngũ “Tứ đại Bồ Tát” cuối cùng và khác với Quan Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ tát muốn cứu độ tất cả “tội quỷ” đang ở trong địa ngục, còn Quan Thế Âm chủ yếu cứu độ chúng sinh ở thế gian. Hai vị này hình như đã tự phân công riêng biệt. Tại sao vị Bồ Tát này lại được gọi là “Địa Tạng?”

    Kinh Phật viết rằng: “An ổn nhẫn nhịn, yên lặng như đất, suy nghĩ tịch tĩnh, sâu sắc như sự chất chứa của đất”, nghĩa là Địa Tạng cũng như đất, chất chứa vô số chủng tử thiện căn. Theo truyền thuyết Phật giáo, Địa Tang nhận lời dặn dò của Phật Thích ca. Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt mà chưa đến lúc Phật Di Lặc ra đời, ở khoảng chưa có vị Phật nào ấy (gọi là Vô Phật thế giới), Địa Tạng Bồ tát chịu trách nhiệm giáo hóa chúng sinh lục đạo, tương đương với chức vụ “thay mặt Phật”.

    Nhận trách nhiệm, Địa Tạng lập lời thê: “Địa ngục chưa trống không, chưa thể thành Phật” (Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật). Tiếc thay, vòng lục đạo luân hồi vĩnh viễn không ngừng, làm sao Địa ngục trống không được. Do vậy, Địa Tạng vĩnh viễn cũng không thể ngưng nghỉ, cũng như vĩnh viễn không thể thành Phật. Cũng nhờ vậy, Phật giáo Trung Quốc coi ngài là một trong “Tứ đại Bồ Tát”, tương truyền ngài hiển linh thuyết pháp ở đạo trường Cửu Hoa sơn.

    Theo ghi chép trong sách Phật giáo, Địa Tạng Bồ Tát thác sinh trong nhà Vương tử nước Tân La (nay là bán đảo Triều Tiên) vào thời Võ Tắc Thiên đời Đường, Trung Quốc, họ Kim, tên Kiều Giác, từ nhỏ xuất gia học đạo, đời Đường Huyền tông đến Trung Quốc, vào núi Cửu Hoa, An Huy tu luyện. Kim Kiều Giác xây chùa ở đây và thu nhận tín đồ, làm cho nơi này trở thành thắng địa Phật giáo nổi tiếng khắp nơi.


    MÃ ĐẦU QUAN ÂM

    “Mã Đầu Quan Âm”là dịch từ chữ Phạn Hayartvaavalokite, phiên âm là “Hà Da Yết Lê Bà”. Vì trên đầu Quan Âm có hình đầu ngựa nên được gọi là “Mã Đầu Quan Âm”, cũng gọi là “Mã Đầu Quan Thế Âm Bồ Tát”, “Mã Đầu Bồ Tát”, “Mã Đầu Đại Sĩ”, “Mã Đầu Minh vương”. Phật giáo Trung Quốc Thiên Thai tôn còn gọi là “Sư Tử Vô Úy Quan Âm”.

    Quan Âm Bồ Tát có rất nhiều biến hóa, hầu hết đều thể hiện bằng tướng ôn nhu từ bi, chỉ có Mã Đầu Quan Âm là có tướng dữ dội. “Đại Nhật kinh sớ” giải thích là: “Hình trạng cực gầm thét giận dữ”. Mã Đầu Quan Âm có hai mắt xếch ngược lên, răng nanh nhe ra ngoài, mặt có ba mắt, tóc tết dựng trên đầu, đỉnh đầu có đầu ngựa. Hình dạng Quan Âm dũng mãnh dữ dội như vậy là biểu hiện nguyện vọng hàng phục yêu ma và các loại ma chướng, chiếu phá màn vô minh tăm tối của chúng sinh.

    Hình tượng Mã Đầu Quan Âm có nhiều loại: một mặt hai tay, một mặt bốn tay, ba mặt hai tay, ba mặt bốn tay, bốn mặt hai tay, ba mặt tám tay v.v…


    NHƯ Ý LUÂN QUAN ÂM

    Như Ý Luân Quan Âm dịch từ tiếng Phạn Intàmanicahra-avalokités-vava. Vì tay ngài cầm bảo châu Như ý và bánh xe pháp bảo nên được gọi bằng tên ấy. Bảo châu Như Ý biểu thị lời nguyện thỏa mãn đầy đủ cho chúng sinh, bánh xe pháp luân biểu thị bánh xe pháp thường chuyển. Phần lớn Như ý Luân Quan Âm là tượng ngồi với 6 tay, tư thế co chân phải lên, chân trái khoanh lại. Đây chính là thế ngồi thoải mái của “tướng tư duy” (Tư duy tướng).

    Sáu tay đều có ngụ ý riêng: tay thứ nhất bên phải là tay thệ nguyện cứu chúng sinh ra khỏi Địa ngục đạo; tay thứ hai cầm bảo châu Như Ý đặt trước ngực là câu thệ nguyện thực hiện tất cả nguyện vọng cứu chúng sinh ra khỏi Ngạ quỷ đạo; tay thứ ba tượng trưng lời thệ nguyện cứu chúng sinh ra khỏi Súc sinh đạo; tay thứ nhất bên trái cầm đóa hoa sen mới nở, có khi đặt một tòa núi tức “Quang Minh sơn” là lời thệ nguyện cứu chúng sinh ra khỏi A Tu La đạo; tay thứ hai cầm hoa sen là lời thệ nguyện cứu chúng sinh ra khỏi Nhân gian giới; tay thứ ba cầm bánh xe pháp giơ lên cao là lời thệ nguyện cứu chúng sinh ra khỏi Thiên giới.

    Trên đây là những biểu thị đại nguyện cứu chúng sinh khỏi “Lục đạo” của Như Ý Luân Quan Âm.


    PHỔ HIỀN BỒ TÁT

    Phổ Hiền là một trong “Tứ đại Bồ Tát” Phật giáo, đứng phụ trì bên phải Phật Thích Ca. Phật giáo cho ngài chuyên cai quản “Lý đức” biểu thị “Đại hạnh”. Phổ Hiền được dịch nghĩa là “Biến cát” (khắp nơi đều tốt lành). Chức trách của ngài là đem điều thiện phổ cập đến mọi nơi, có thể nói là công đức vô lượng.

    Lai lịch của Phổ Hiền cũng có nhiều thuyết khác nhau, “Hoa Nghiêm kinh” nói ngài là con của chư Phật, là anh em ruột với Quan Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù. “Tiểu thừa kinh” coi ngài là phụ nữ, con gái của Diệu Trang vương, tức chị của Quan Thế Âm. Đây là truyền thuyết theo mô thức Trung Quốc, theo thuyết của Phật giáo, Bồ Tát không thể gọi là nam hay nữ. Trước đời Đường, tượng Phổ Hiền phần nhiều có thân nam tướng nữ, từ sau đời Tống phần nhiều là thân nữ tướng nữ. Con vật mà Phổ Hiền cưỡi cũng khác biệt, đó là con voi trắng sáu ngà. Rõ ràng con vật này không thể có thật mà chỉ là vật tượng trưng. Phật giáo cho rằng con voi trắng này được Bồ Tát giáo hóa, tượng trưng cho sự uy linh “Nguyện hạnh rộng lớn, công đức tròn đầy”.

    Cũng giống như Quan Âm, Văn Thù, Địa Tạng, Phật giáo đồ Trung Hoa cũng chọn đạo trường cho Phổ Hiền thuyết pháp, đó là Nga Mi sơn ở Tứ Xuyên. Núi Nga Mi trùng điệp tú lệ, được xưng tụng là “Nga Mi thiên hạ tú”, vốn là nơi danh thắng của Đạo giáo, dần dần phát triển thành đạo trường của Phổ Hiền, trờ thành một trong “Tứ đại danh sơn” Phật giáo.


    QUAN ÂM BỒ TÁT

    Trong tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng “Tây Du ký” có nhiều đoạn miêu tả Hải Thiên tiên cảnh, nơi cư trú của Quan Âm Bồ Tát. Những miêu tả này hoàn toàn không phải do tác giả tưởng tượng hư cấu. Các cảnh đẹp như Lạc Già Sơn, Phổ Đà nham, Triều Âm động, Từ Trúc lâm mà sách nhắc đến đều là địa danh có thực cả, đó chính là Phổ Đà sơn, đạo trường của Quan Âm, trong quần đảo Chu Sơn, tỉnh Chiết Giang.

    Phổ Đà sơn và Ngũ Đài sơn ở Sơn tây, Nga Mi sơn ở Tứ Xuyên, Cửu Hoa sơn ở An Huy được gọi chung là “Tứ đại Phật sơn” và cũng là “Tứ đại đạo trường” của các Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng.

    Quan Thế Âm là đức Bồ Tát đứng đầu các Bồ tát trong nước Phật, ảnh hưởng và tên tuổi ngài rất lớn trong đời, không kém gì Phật Như Lai. Đặc biệt là với giới tín đồ phụ nữ… Địa vị của Bồ tát Quan Âm trong nước Phật ở dưới Đức Phật nên gọi là “Đại sĩ”. Bồ Tát có nghĩa là “Giác hữu tình”, “Đạo chúng sinh”, nhiệm vụ của các ngài là phụ giúp Đức Phật phổ độ cứu vớt chúng sinh đến thế giới cực lạc, cắt đứt tất cả phiền não để vĩnh viễn hoan lạc.

    Bồ Tát đệ nhất ở Phật quốc là Quan Thế Âm hay còn gọi là “Quán Tự Tại”, “Quan Âm đại sĩ”. Đời Đường, vì kỵ húy tên của Thái tông Lý Thế Dân, nên bỏ bớt chữ “Thế”, gọi tắt là “Quan Âm”. Tại sao ngài lại được gọi là “Quan Thế Âm”? Đó là vì khi chúng sinh ở cuộc đời này chịu đau khổ, tụng niệm tên ngài, ngài “quan sát” nghe thấy tiếng kêu ấy, lập tức đến giải cứu. Bản thân tên “Quan Thế Âm” đã biểu hiện lòng đại từ, đại bi và thần thông vô biên của vị Bồ Tát này.

    Hình tượng Quan Thế Âm trang nghiêm mỹ lệ như chúng ta thấy hiện nay đã trải qua quá trình lâu dài với nhiều diễn biến. Trong đạo Bà La Môn ở Ấn Độ cổ có một cặp sonh sinh đầu chó và ngựa rất dễ thương, tên gọi là “Quan Thế Âm”, họ là một đôi Thiện thần tượng trưng cho từ bi hòa thiện. Họ thần thông quảng đại, có thể làm người mù sáng mắt, người không con có con, cây mục nở hoa v.v… Họ được tôn thờ rộng rãi ở Ấn Độ cổ. Sau khi Phật giáp ra đời, Thần mã cẩu Quan Thế Âm ấy được hấp thụ vào, trở thành một vị Bồ Tát từ bi với tên gọi “Mã Đầu Quan Thế Âm” (Quan Thế Âm đầu ngựa), hình tượng là một loại nửa chó nửa ngựa như cũ.

    Sau đó hình tượng này được nhân cách hóa, được sửa đổi thành thân người nam. Từ đó Bồ Tát Quan Thế Âm từ loài vật biến thành một trượng phu dũng mãnh. Trong Phật giáo Mật tôn ngày nay vẫn còn một vị “Mã Đầu Quan Âm” (hay “Mã Đầu Minh vương”) tạo hình dữ dằn mạnh mẽ, đầu có bốn mặt và trên đầu có đắp một đầu ngựa màu xanh. Sau khi địa vị Quan Thế Âm trong Phật giáo được nâng cao, kinh Phật biến ngài thành dòng dõi cành vàng lá ngọc.

    Bi Hoa kinh” chép trước đây có bậc Chuyển Luân Thánh cương sinh hạ đại thái tử tên Bất Hú, tức Quan Thế Âm, thái tử thứ hai tên Ni Ma, tức Đại Thế Chí. Bất Hú có tâm đại bi, nảy sinh hạnh nguyện mong muốn chúng sinh được vĩnh viễn an lạc. Sau này Chuyển Luân Thánh vương tu hành thành Phật, tức Đức A Di Đà Phật ở thế giới tây phương Cực Lạc, Bất Hú và Ni Ma trở thành hai bậc hộ trì của cha, ba cha con là “Tây phương Tam thánh” (A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí). Lại cũng có kinh nói Quan Thế Âm và Đại Thế Chí là do hoa sen hóa sinh.

    Sau khi Tịnh Độ tôn được lưu truyền ở Trung Quốc, Quan Âm Bồ Tát càng được sùng bái rộng rãi. Để thỏa mãn sự cần thiết của người đời. Quan Thế Âm từ nam dần dần biến thành nữ, trở thành một vị Nữ Bồ Tát đại từ đại bi. Truyền thuyết, Quan Thế Âm có 33 hóa thân, trong ấy nhiều hóa thân là nữ giới, rồi dần dần hình tượng cố định của Quan Âm là nữ. Sau khi Quan Thế Âm truyền vào Trung Quốc, dần dần được Hán hóa triệt để, dân tộc, quốc tịch cho đến phái tính của ngài hoàn toàn được thay đổi cho thích hợp với tâm lý người Trung Quốc. Quan Thế Âm còn được phụ hội tô vẽ thành Công chúa người Hán, cho một cái tên là Diệu Âm, con gái Sở Trang vương (Diệu Trang vương).

    Trú xứ của Quán Thế Âm là Phổ Đà sơn, theo truyền thuyết vốn ở Ấn Độ. Nơi đó cách Trung Quốc quá xa, Phật giáo đồ Trung Quốc không dễ dàng đến triều bái, họ bèn chọn một nơi gần hơn làm đạo trường cho Quan Thế Âm, đó chính là Chu Sơn quần đảo ở Chiết Giang. Nơi đây phong cảnh u mỹ, được xưng tụng là “Hải Thiên Phật quốc”. Đời Tống, vua Thần tông hạ lệnh xây “Bảo Đà Quan Âm tự” ở đây (nay đổi là Phổ Tế tự). Đạo trường Quan Âm chính thức hình thành.

    Giới Phật giáo Trung Quốc coi ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày đầu sinh của Quan Âm Bồ tát, ngày 19 tháng 6 là ngày Quan Âm thành đạo, ngày 19 tháng 9 là ngày Quan Âm xuất gia, gọi chung là “Quan Âm hương hội”.


    THÁNH QUAN ÂM

    Thánh Quan Âm là phiên âm chữ Phạn Arya-Avlokitésvana, cũng gọi là “Chính Quan Âm” hay “Thánh Quán tự tại”. là đại biểu tổng thể cho các hình tượng Quan Âm. Hầu hết đều cho rằng nói tới Quan Âm tức là trỏ Chính Quan Âm, hình tượng tiêu chuẩn của Quan Âm Bồ Tát là một mặt hai cánh tay.

    Thánh Quan Âm ôn nhu đẹp đẽ, đầu đội mũ bảo quan hoặc kết tóc. Trong mũ bảo quan ấy có tượng A Di Đà Phật. Ngài ngồi kiết già trên đài sen, trong tay hoặc cầm hoa sen hoặc đang kết ấn, thân mặc áo lụa trắng, trang sức bằng vòng xuyến, anh lạc v.v… Diệu tướng trang nghiêm, từ bi mỹ lệ ấy là hình tượng phố biến khắp Trung Quốc từ rất lâu.

    Có thể phân biệt Quan Thế Âm với các tượng Bồ Tát khác bằng trong mũ thiên quan có hình tượng A Di Đà Phật như “Đại Nhật kinh” viết: “Trong búi tóc hiện ra Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà) (Kế hiện Vô Lượng Thọ). Hình tượng ấy tượng trưng đức Thánh Quan Âm có khả năng hàng phục ma chướng ngoại đạo.


    THẬP NHẤT DIỆN QUAN ÂM

    Quan Âm mười một mặt, tên chữ Phạn là Ekàdas-amukhàvalokitesvava. Vị Bồ Tát này hình dạng có phần quái dị, tổng cộng có tới 11 mặt, mỗi mặt đều khác nhau. Mười một mặt hay 11 đầu xếp chồng lên nhau như hình cái tháp, 11 đầu mặt theo hướng trước sau phải trái có thứ tự như sau:

    – 3 mặt chính diện là tướng từ bi thông thường của Bồ Tát.
    – 3 mặt cạnh trái là tướng phẫn nộ giận dữ.
    – 3 mặt cạnh phải là tướng nanh ác.
    – 1 mặt sau lưng là tướng cười lớn.​

    Tất cả 10 mặt, cộng thêm một mặt bản thể là 11 mặt. nếu cộng cả mặt Phật trên cùng là 12 mặt.

    Thập nhất diện Quan Âm nếu chỉ kể trước sau trái phải 10 mặt là đại biểu 10 giai đoạn tu hành của Bồ tát theo Đại thừa, tức gọi là “Thập địa”. Nội dung tu tập “Thập địa” bao gồm Thí (Bố thí), Giới (Ngăn ngừa), Nhẫn (Nhịn chịu), Tinh tiến (Tiến bộ), Tĩnh lự (Im lặng suy tư), Bát Nhã (Trí huệ), Phương tiện thiện xảo (Phương tiện hay đúng), Nguyện (Ý nguyện tốt), Lực (Sức mạnh), Trí (Hiểu biết). Mặt ở trên cao nhất là mặt Phật đại biểu cho Phật quả “Thập nhất địa”.

    Phật giáo đưa ra lý luận “Lục đạo luân hồi”, cho rằng thế giới sinh tử của chúng sinh hữu Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), Lục đạo (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La, Nhân, Thiên), thế giới này xoay chuyển như bánh xe quay không ngừng, luôn luôn tuần hoàn. Vì muốn hóa độ chúng sinh, Quan Âm Bồ Tát muốn phá trừ “Tam chướng” cho chúng sinh. Ba chướng ngại (Tam chướng) ấy là “Phiền não chướng”, “Nghiệp chướng”, “Báo chướng”. Vì đó, Quan Âm cần phải tùy duyên ứng hóa, xuất hiện bằng sáu loại hóa thân, tức “Lục Quan Âm”. Sáu vị Quan Âm này phá trừ Tam chướng của Lục đạo, cụ thể là:

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm phá Tam chướng “Địa ngục đạo”.
    Thánh Quan Âm phá Tam chướng “Ác quỷ đạo”.
    Mã đầu Quan Âm phá Tam chướng “Súc sinh đạo”.
    Thập Nhất Diện Quan Âm phá Tam chướng “A Tu La đạo”.
    Chuẩn Đề Quan Âm phá Tam chướng “Nhân đạo”.
    Như Ý Luân Quan Âm phá Tam chướng “Thiên đạo”.​


    THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUAN ÂM

    Quan Âm ngàn tay ngàn mắt. Phật giáo chia ra Hiển tôn và Mật tôn, Hiển tôn cũng gọi là Hiển giáo, là giáo nghĩa được Thích Ca Mâu Ni (Ứng thân Phật) thuyết giảng công khai (tức Hiển). Mật tôn cũng gọi là Mật giáo, Chân Ngôn thừa, Kim Cương thừa. Mật tôn tự cho nhận được tông chỉ bí mật huyền diệu của Đại Nhật Như Lai (Pháp thân Phật). Đặc trưng của Mật tôn là: tổ chức hóa cao độ các loại chú thuật, đàn trường, nghi thức với nhiều loại quy định nghiêm khắc và hình thức hết sức phức tạp, không trao truyền cho người ngoài giáo, tượng thờ của Mật tôn, cũng khác hẳn tượng thờ của Hiển tôn, vì sự cần thiết của giáo nghĩa, đa số tượng thờ của Mật tôn có hình tượng dữ dội khủng bố.

    Trong Mật tôn có “Sáu vị Quan Âm” (Lục Quan Âm) bao gồm: Thiên thủ Thiên Nhãn Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm và Như Ý Luân Quan Âm.

    Dưới đây là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm:

    Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm gọi tắt là “Thiên Thủ Quan Âm” hay “Đại Bi Quan Âm”. Theo kinh điển Mật tôn, “Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm Đà La Ni kinh” nói rằng, ở đời quá khứ “vô lượng ức kiếp”, Quan Thế Âm nghe được Thiên Quang vương Tĩnh Trú Như Lai thuyết giảng “Đại bi tâm Đà La Ni” bèn phát thệ muốn “lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh”, lập tức thân ngài mọc ra ngàn mắt ngàn tay, ngàn tay biểu thị cứu vớt khắp chúng sinh, ngàn mắt biểu thị quan sát khắp thế gian. Tóm lại là biểu hiện cứu độ cho tất cả chúng sinh, viên mãn quảng đại mà vô ngại, đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn. Tạo hình điển hình của tượng Quan Âm ngàn mắt ngàn tay như sau:

    Mặt có 4 mắt, cánh (tay) có ngàn tay, trong mỗi lòng bàn tay có một con mắt. đầu đội mũ quý, trong mũ có hình Hóa Phật. các cánh tay chính có 18 cánh tay, trước tiên là hai tay chắp giữa ngực, một tay cầm gậy kim cương, một tay cầm kích ba mũi, một tay cầm thẻ chữ Phạn, một tay cầm bảo ấn, một tay cầm trượng sắt, một tay cầm bảo châu, một tay cầm hoa sen, một tay cầm dải lụa, một tay cầm cành dương chi, một tay cầm ngọc, một tay cầm bình, một tay rải nước cam lộ, một tay rải mưa lành. Một tay úp đặt lên một tay ngửa trước bụng. Còn 812 tay kia mỗi tay cầm một loại khí tượng.

    Một ngàn cánh tay Quan Âm bố trí như hình nan quạt xèo ra hoặc như hình đuôi chim công đang múa.


    VĂN THÙ BỒ TÁT

    Sau khi Phật giáo được Hán hóa, các tín đồ Trung Quốc chọn ra trong Phật quốc ba vị có tên tuổi lớn nhất, tổ hợp thành “Tam đại Bồ Tát” hay còn gọi là “Tam đại sĩ”, tức Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm, sau này lại đưa thêm Địa Tạng vào hàng ngũ này, trở thành “Tứ đại Bồ tát” nổi tiếng. Phật giáo xưng tụng Văn Thù là “Đại trí”, Phổ Hiền là “Đại hạnh”, Quan Âm là “Đại bi” và Địa Tạng là “Đại nguyện”. Đạo trường của “Tứ đại Bồ Tát” hiển linh thuyết pháp gọi là “Tứ đại đạo trường” hay “Tứ đại danh sơn”.

    Đạo trường của Đại Trí Văn Thù ở Ngũ Đài sơn, Sơn Tây. Sách “Phật thuyết Văn Thù Đà La Ni kinh” nói: “Sau khi Phật Tổ nhập diệt, ở nước Đại Chấn Na, Nam Thiệm Bộ châu có tòa núi năm đỉnh, Văn Thù du hành đến đó, bèn vì chúng sinh mà thuyết pháp ở đó. Ngũ Đài sơn trở thành thánh địa của Văn Thù là bắt đầu từ đời Đường. Đường vương Lý Uyên dấy quân ở Thái Nguyên chiếm được thiên hạ, kiến lập vương triều Đường rồi coi Ngũ Đài sơn (trong đất Thái Nguyên) là đất “long hưng” và tu sửa chùa miếu trên Ngũ Đài sơn. Thời Đường, Ngũ Đài sơn hưng thịnh nhất có tới trên 360 chùa Phật với hàng vạn tăng ni.

    Văn Thù là chữ Phạn, gọi hoàn toàn là Văn Thù Sư Lị với ý nghĩa là “Diệu đức”, “Diệu cát tường”. Thông thường trong tất cả các chùa, tượng Văn Thù được đặt bên trái Đức Phật, cai quản về trí tuệ, biểu hiện sự “Đại trí”, ngang hàng với Phổ Hiền biểu hiện “Đại hạnh” đặt bên phải Phật Tổ. Hình tượng Văn Thù phần lớn có tướng không phải nam cũng không phải nữ, có lẽ hơi nghiêng về nữ hơn. Trước đời Đường có một ít tượng Văn Thù cũng như Phổ Hiền được vẽ thêm một hàng râu nhỏ trên miệng nhưng từ đời Tống về sau, hàng râu ấy mất hẳn. Văn Thù thường ngồi trên con sư tử xanh, biểu thị Trí tuệ uy mãnh còn tay cầm kiếm báu biểu thị sự sắc bén của Trí tuệ.

    Tạo hình Văn Thù theo Mật tôn, trên đỉnh tóc kết 5 múi biểu thị năm trí tuệ của Đại Nhật Như Lai (Pháp thân của Thích Ca Mâu Ni Phật) và biểu thị ý chân thực của một đồng tử nên Văn Thù còn được gọi là “Văn Thù Sư Lị đồng tử”. Năm ngọn núi ở Ngũ Đài sơn cũng được coi như tượng trưng cho 5 múi tóc của Văn Thù.

    Về lai lịch Văn Thù có nhiều thuyết không thống nhất. Có kinh nói ngài vốn là Phật, vì muốn trợ giúp Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh nên tạm hiển hóa ra thân Bồ Tát để phụ trì Phật Tổ; có kinh Phật nói ngài là bậc cha mẹ của các Phật; lại có thuyết cho ngài là thầy của Thích Ca; sách “Văn Thù Sư Lị Niết Bàn kinh” lại bảo ngài là đại đệ tử của Thích Ca, vốn sinh ra trong một gia đình Bà La Môn quý tộc, bỏ nhà theo Thích ca Mâu Ni học đạo, công đức viên mãn, tu thành thân Bồ Tát, được coi là đứng đầu trong các Bồ Tát.

    Thuyết cuối cùng này được lưu hành nhiều nhất nhưng địa vị “đứng đầu các Bồ Tát” sau này được thay thế bằng Đại từ đại bi Quan Thế Âm. Trong hầu hết các chùa trên Ngũ Đài sơn đều có tượng Văn Thù.


    C. – LA HÁN


    THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ

    Mười học trò lớn của Đức Phật. Tương truyền, bậc thầy lớn nhất ở Trung Quốc cổ đại là Khổng Tử có tới 3000 học trò, trong ấy có 72 người được thầy đắc ý nhất. Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni truyền giáo 45 năm, học trò rất đông nhưng đắc ý nhất chỉ có mười người, được gọi là “Thập đại đệ tử”.

    Theo “Duy Ma Cật kinh – Đệ tử phẩm”, mười vị học trò lớn ấy là: Ma Ha Ca Diếp (gọi tắt là Ca Diếp), Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên (gọi tắt là Mục Liên), Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Ma Ha Ca Chiên Diên (gọi tắt là Ca Chiên Diên), A Na Luật, Ưu Bà Ly, A Nan Đà (gọi tắt là A Nan) và La Hầu La. Truyền thuyết mỗi người trong họ đều có tài năng riêng biệt.

    Mười đại đệ tử này đều do chính đích thân Thích Ca Mâu Ni truyền dạy, họ đều nghe tận tai những lời dạy của Phật Đà trở thành người giác ngộ, vì vậy họ đều là “Thanh văn”; họ lại đều đạt tới A La Hán quả, vị vậy cũng được gọi là “La Hán”. La Hán, chữ Phạn là Arhat (A La Hán) là quả vị tối cao mà người tu hành Tiểu thừa đạt tới, còn theo Đại thừa, quả vị này còn dưới cả Phật và Bồ tát, được xếp vào hạng thứ ba. Phật giáo cho rằng, đạt được quả vị La Hán là đã diệt trừ được tất cả phiền não, viên mãn tất cả công đức, vĩnh viễn không phải chịu đầu thai đau khổ vì “luân hồi sinh tử” nữa. Người đạt được quả vị A La Hán, tức thành La Hán có thể được cả người và trời cung dưỡng.

    Trong 10 đại đệ tử này có 6 vị xuất thân quý tộc Bà La Môn, 3 người xuất thân dòng dõi quý tộc Sát Đế Lợi, chứng tỏ thượng tầng của Phật giáo lúc ấy hầu hết ở trong các nhân vật thượng đẳng.

    Mười đại đệ tử của Đức Phật với lai lịch và công năng sẽ được mô tả chi tiết trong từng tiểu mục riêng biệt.

    THẬT SỰ NỂ BẠN NÀY QUÁ
    __________________
     
    Last edited by a moderator: 18/1/15
    cfcbk, Thanhang72 and canlu2005 like this.
  2. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...


    A NA LUẬT

    A Na Luật là phiên âm chữ Phạn Aniruddha, nghĩa là "Như ý nguyện" (Như ý) và "Không tham lam" (Vô tham). Còn có tên là "A Ni Luật Đà". Theo truyền thuyết, ngài A Na Luật nầy là em họ của Đức Thích Ca, nghĩa là con trai của một người chú Thích Ca, Cam Lộ Phạn vương. Sau khi Thích Ca thành đạo từng đã quay trở về nhà, A Na Luật bội phục đạo hạnh của anh họ bèn theo Đức Phật xuất gia, trở thành một trong mười đệ tử của Phật.

    Mười đại đệ tử của Phật, mỗi người đều có tuyệt chiêu riêng, gọi là mỗi "Công năng đệ nhất". A Na Luật là "Thiên nhãn đệ nhất", cũng gọi là 'Thiên nhãn thông", một trong sáu thần thông (lục thần thông) của Phật gia.

    Trong "Lục thần thông", một là "Thần túc thông", có thể bay lên trời xuống đất, ra vào cõi tam giới. Hai là "Thiên nhãn thông", có khả năng nhìn thấu mọi sắc tướng trong lục đạo chúng sinh. Ba là "Thiên nhĩ thông", có khả năng nghe thấu mọi âm thanh các loại trong thế gian và nghe thấy mọi vui buồn, giận thương của chúng sinh. Bốn là "Tha tâm thông", hiểu biết suy nghĩ trong lòng chúng sinh. Năm là "Túc mệnh thông", hiểu biết số phận của mình và của chúng sinh lục đạo. Sáu là "Lậu tận thông", chấm dứt được mọi phiền não lầm lạc, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi sinh tử.

    A Na Luật tuy có thần thông "Thiên nhãn đệ nhất" nhưng bản thân vốn là một người mù. Theo "Lăng Nghiêm kinh" quyển 5, khi A Na Luật mới xuất gia rất ham mê ngủ, Thích Ca giận dữ mắng ngài. A Na Luật bị kích động, hạ quyết tâm khắc phục nhược điểm, ngài thức liên tục 7 ngày đêm để đến nỗi mù luôn mắt. Tuy bị mù nhưng ngài lại được "Thiên nhãn thông" có thể nhìn xa ngàn dặm. "Thiên nhan" của A Na Luật có thể nhìn rõ 10 phương (đông, tây, nam, bắc, đông nam, đông bắc, tây nam, tây bắc, thượng, hạ), đạt tới cảnh giới cực cao, thấy cõi "Diêm Phù đề" (tức thế giới loài ngưới) rõ như hạt bồ đào trong lòng tay. Vì nhìn thấy thế giới loài người quá rõ nên ngài là vị La Hán tĩnh ôn hòa nhất.

    ...
     
    cfcbk thích bài này.
  3. tducchau

    tducchau "Nhặt lá..." Thành viên BQT

    ...


    A NAN

    A Nan, tên đầy đủ là A Nan Đà (Ânanda) dịch ý nghĩa theo Hán văn là "Hoan hỉ" (vui vẻ) hay "Khánh hỉ" (mừng vui vẻ). A Nan vốn là anh em chú bác với Thích Ca Mâu Ni, sinh ra đời đúng vào đêm Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Năm Thích Ca 55 tuổi, ngài quay trở về quê hương truyền đạo, năm ấy A Nan 25 tuổi, đi theo anh họ xuất gia, theo hầu Thích Ca 25 năm, thọ trì Phật pháp, trở thành một trong 10 đệ tử lớn (Thập đại đệ tử) của Đức Phật.

    A Nan được xưng tụng là "hiểu biết nhiều nhất" (Đa văn đệ nhất), sở trường nhớ rất lâu. Sau khi Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, 500 đại La Hán tụ tập ở ngoài thành Vương Xá, nhớ lại những lời Phật dạy để kết tập thành kinh điển, tránh sai lạc về sau. Một mình A Nan đọc hết Kinh Tạng trong lần tập kết này. Thích Ca nhập diệt rồi, Ca Diếp tôn giả trở thành "Sơ tổ" Phật giáo, sau khi Ca Diếp viên tịch, A Nan kế thừa lãnh đạo đồ chúng, được đời sau gọi là "Nhị tổ".

    ...
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/1/15
    cfcbk thích bài này.

Chia sẻ trang này