Kinh điển Lãng mạn Truyện kể Genji - 1991 - Murasaki Shikibu & Edward G. Seidensticker (dịch)

Thảo luận trong 'Tủ sách Văn học nước ngoài' bắt đầu bởi tran ngoc anh, 22/5/21.

  1. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    cover.jpg

    Truyện Genji gồm năm mươi tư chương và mô tả đời sống cung đình ngắn ngủi của nước Nhật thời Heian, từ thế kỷ thứ mười đến khoảng thế kỷ thứ mười một. Rất rõ ràng là nó đã được bổ sung trong quãng đầu thế kỷ mười một. Trừ phiến đoạn ra những bản văn còn lại nằm trong vòng hai thế kỷ từ sau thời gian sáng tác, và như vậy thì những vấn đề văn bản học bao giờ cũng khiến các nhà học giả thích thú và quan tâm; những truyện Genji chắc chắn là công trình của một người duy nhất – công trình của một cung nhân tên là Murasaki Shikibu với những sự thêm thắt ở hai thế kỷ tiếp theo, tuy chúng không đủ tầm cỡ để làm thay đổi bản gốc. Ít ra cũng có chương “Dòng sông Trúc” được nhiều người coi là của một người khác viết, và hai chương ngắn ngủi trước đó, cũng đáng ngờ. Cũng có thể rằng các chương đã bị thất lạc, nhưng công trình gồm trên năm mươi chương vào thập niên 1020 rõ ràng là rút từ Nhật ký Sarashina, do một cung nhân khác viết vào giữa thế kỷ mười một.

    Cũng không có thông tin chính xác về Murasaki Shikibu. Chúng ta không được biết tên thật của bà, mặc dù các nhà học giả đã dày công nghiên cứu. Ở nước Nhật thời Heian, điều coi là không đúng đắn khi nêu tên tuổi các phu nhân thuộc gia đình quyền quý, ngoại trừ – mà cũng đáng lạ lùng – các bà vợ của vua và các quận chúa thuộc hoàng gia – biệt hiệu Shikibu, chỉ một chức vụ của cha bà. Murasaki có thể xuất phát từ tên một phu nhân quan trọng trong chính cuốn Genji hoặc nó có ý nghĩa “màu tía” (thuộc dòng vương giả) và Fuji, nửa đầu của tên họ có nghĩa là “đậu tía”. Bà thuộc ngành thứ của dòng họ lớn Fujiwara trị vì đất nước với những ông vua trong suốt phần lớn thời kỳ Heian. Bà và Fujiwara Michinaga – quan “đại chưởng ấn” điều khiển việc nước trong buổi đầu thế kỷ mười một – có cùng một tổ phụ về phía họ nội sáu thế hệ trước đó, nhưng vào lúc bà ra đời thì chi họ của bà tụt xuống hàng thứ trong giới quý tộc triều đình. Cha bà có địa vị khiêm nhường ở thủ đô và hai lần làm tỉnh trưởng.

    Trong truyện Genji, các tỉnh trưởng thông thường bị coi khinh. Tuy nhiên lớp quý tộc trong đám họ đóng góp nhiều cho nền văn học thời buổi đó hơn là bất cứ tầng lớp nào, và theo quan niệm chung, đó là một thời đại rực rỡ hiếm có, và chính Genji cũng là kiệt tác vô song của nền văn xuôi Nhật Bản. Tại sao nền văn học vào giữa triều đại Heian do phụ nữ chi phối, đó lại là một vấn đề khác làm bận tâm các học giả. Có thể điều này liên quan đến một thực tế rằng Nhật Bản hình như tương đối thoát khỏi các hoạt động chính trị hậu cung thường xảy ra ở các nước phương Đông và vì vậy các phụ nữ tài ba tìm được lối thoát cho năng lực của họ. Cũng có thể là phụ nữ họ ít công thức hơn là nam giới.

    Bà lấy chồng năm 998 hoặc 999, chồng là một người bà con xa. Từ đó có lý do để tin rằng, so với thời buổi bấy giờ, bà lấy chồng khá muộn, có lẽ là vào tuổi hai mươi. Về tuổi thơ ấu, chúng ta không biết gì nhiều ngoài những điều tự bà nói với chúng ta. Một lời mào đầu nổi tiếng trong cuốn Nhật ký Murasaki Shikibu mô tả các biến cố triều đình từ cuối 1008 đến đầu 1010 cho chúng ta biết là cha bà, thấy con có khả năng trong việc học hành, than phiền bà không sinh ra là con trai. Cha bà trở thành tỉnh trưởng Echizer ở vùng Biển Nhật Bản, phía bắc thủ đô Kyoto, vào năm 990. Chắc chắn bà đi theo cha, và trước khi lấy chồng thì trở về. Bà sinh được một người con gái vào năm 999, và góa bụa năm 1001.

    Bà vào triều, hầu hạ hoàng hậu Akiko hoặc Shōshi vào khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ XI, Nhật ký Murasaki Shikibu có liên quan chủ yếu đến sự ra đời của hai người con trai của Hoàng hậu bởi vì bà là con gái của Michinaga và qua các cháu thuộc hoàng gia, ông có địa vị vững chắc trong hoàng gia. Cả hai hoàng tử sau đó lần lượt trở thành vua. Trong “Nhật ký” của mình Murasaki nói cho chúng ta biết rằng bà vào triều ngày Hai mươi chín tháng Chạp. Đáng tiếc là bà không cho biết năm. Có thể là các năm âm lịch 1005 và 1006.

    Hoàng hậu Akiko góa chồng năm 1011. Có bằng chứng Murasaki Shikibu còn ở lại phục vụ hoàng hậu hai năm nữa, nhưng không ai biết ngày bà rời khỏi cung đình và mất ngày nào. Người ta có thể tham quan một địa điểm ở vùng phía bắc Kyoto được coi như mộ của bà; và điều kỳ diệu, là có thể như vậy. Có người thì lập luận rằng việc không có tên bà trong các tư liệu dùng bằng cớ xác đáng, chứng tỏ bà không sống lâu sau khi chồng hoàng hậu Akiko mất – vua Ichijō. Những người khác thì lập luận rằng các chương cuối của Genji chứng tỏ tác giả là một người lịch duyệt và có tuổi. Nếu chúng ta cho rằng Murasaki Shikibu mất năm 1015, thì có điều chắc là bà không sống quá bốn thập niên.

    Nhật ký Murasaki Shikibu gợi ý mạnh mẽ rằng ít ra một phần của tác phẩm được viết khi bà vào phục vụ Akiko. Có lẽ nó bắt đầu vào những năm đầu bà góa bụa và có lẽ vì các phu nhân quyền quý thời bấy giờ coi trọng văn chương, cho nên nhờ tác phẩm của mình mà bà có dịp để được mời vào triều.

    Không có bằng cứ dứt khoát chứng tỏ Genji vào lúc đó đã viết xong hay chưa, và ngày nay cũng không có bằng cứ chắc chắn về điều đó. Chương cuối, ở một số khía cạnh, khác với các chương khác, nhất là trong đề mục. “Chiếc Cầu mộng mơ Bồng bềnh” trừu tượng hơn. Sự trệch hướng này có thể có nghĩa rằng Murasaki Shikibu (chúng tôi không biết các chương mang đề mục như ngày nay, vào lúc nào) muốn nó tách riêng ra, để báo đấy là chương kết thúc; ấy thế nhưng chương đó có một vẻ dự báo, như thể báo trước sự mở đầu của toàn bộ một chu kỳ mới. Có thể rằng những sự nhận xét như vậy đều không có giá trị. Tác giả không phải là người theo phái Aristote, hoạch định phần đầu, phần giữa và phần cuối trước khi chấp bút. Cuốn Genji đầy những do dự, những sự rẽ hướng lầm lẫn. Người ta có thể hình dung nếu người đọc “chiếc cầu mộng mơ Bồng bềnh” mà hỏi tác giả chẳng hay đã hết thật hay chưa, chắc bà đã trả lời: “Sáng ngày sau sẽ biết” và nói “sáng ngày sau” cũng là nói biết đâu bà đang đi vào giờ phút chót của cuộc đời.

    Cốt chuyện của Genji bao trùm gần ba phần tư thế kỷ. Bốn mươi mốt chương đầu liên quan đến cuộc đời và các cuộc tình duyên của một chàng quý tộc có biệt hiệu “Genji Hào Quang”, Genji hoặc Minamoto là tên mà vua cha đặt cho, như là một dân thường. Genji ra đời ở chương đầu và theo truyện kể phương Đông đến chương cuối thì chàng đã năm mươi hai tuổi. Ba chương chuyển tiếp – những chương đáng ngờ nhất – viết sau khi chàng chết. Nhân vật chính của mười chương cuối, Kaoru, theo người ta nghĩ là con của Genji nhưng thực ra là cháu của người bạn thân nhất của chàng, lên năm tuổi khi Genji xuất hiện lần cuối và hai mươi tám tuổi ở chương cuối. Rất lâu các học giả Nhật Bản đã cho rằng lúc đầu, tác giả muốn tác phẩm của bà có tính cách lịch sử, có lẽ ba phần tư thế kỷ trước thời của bà. Nếu như bối cảnh lịch sử được ghi chi tiết và nhất quán thì dĩ nhiên bà đã đưa nó lần lần từ giữa thế kỷ X đến ngày sinh thời của bà; nhưng không phải thế. Tất cả những gì có thể nói ra, ấy là một bầu không khí luyến tiếc mơ hồ lơ lửng trên câu chuyện và bối cảnh chỉ mang tính lịch sử mơ hồ: “Ý nghĩa” duy nhất của Genji, ấy là, những ngày tốt đẹp nằm ở quá khứ.

    Murasaki Shikibu có một vốn phong phú về văn học lịch sử Trung Hoa, và thơ ca trữ tình Trung Hoa và Nhật Bản. Về truyện hư cấu bằng văn xuôi, bà cũng chỉ biết không nhiều hơn là những trước tác buổi đầu của chính người Nhật Bản vào thế kỷ X; tiểu thuyết văn xuôi không phải là loại hình của người Trung Hoa ca ngợi hoặc thành thạo vào thời đó. Đó là những trước tác buổi đầu có phần lý thú và đẹp đẽ đó; nhưng trong đó ít có cái gì báo sự xuất hiện một truyện tình lãng mạn vượt quá một truyện tình lãng mạn, trình bày những con người như thật trong những hoàn cảnh thực. Vào thế kỷ X khi các tác giả viết tiểu thuyết cố gắng xây dựng nhân vật – và một cách thô sơ – họ viết những truyện hư cấu; và khi họ viết những vấn đề như các chuyện dan díu ngấm ngầm ở chốn cung đình, thì sự xây dựng tính cách quá nhạt nhẽo khó mà gọi là tính cách. Các nhật ký thế kỷ thứ X có thể là một cái gì như một cảm hứng cho Murasaki Shikibu, nhưng muốn cho một điều tưởng tượng biến thành hiện thực hơn một điều thực, thì phải có một bước nhảy lớn lao của trí tưởng tượng, và Murasaki Shikibu đã làm được bước nhảy đó. Mặc dù số lớn các truyện lãng mạn của thế kỷ X đã mất, nhưng đấy là một bằng chứng rằng những tác phẩm quan trọng nhất vẫn tồn tại.

    Hình ảnh bước nhảy của trí tưởng tượng có thể bị thay đổi vì một loạt những bước nhảy, mỗi bước thêm táo bạo hơn. Truyện Genji rõ ràng bị ngắt làm hai với cái chết của Genji; nhưng trước đó cũng đã có một chỗ ngắt, lúc Genji đi vào giữa và cuối tuổi bốn mươi. Nếu cuốn sách như vậy mà được coi là chia làm ba phần, thì phần thứ nhất vẫn còn liên quan nhiều đến thế kỷ X, trong đó nhân vật là một hoàng tử được lý tưởng hóa, và mặc dù có những sự thất bại, sự nghiệp ban đầu của chàng chủ yếu là một câu chuyện về sự thành công. Từ lâu người ta đã lý luận mà cũng khá có lý, rằng tác giả đã có trong đầu óc một nhân vật lịch sử. Nếu như vậy thì một số điều không thỏa đáng trong việc xây dựng tính cách chàng Genji lúc ban đầu, có thể được giải thích bởi thực tế rằng, qua các độc giả hoặc thính giả ban đầu của bà, bà đã có thể nắm được một tri thức to lớn về mẫu người của bà.

    Khoảng hai phần ba câu chuyện đang bị chi phối bởi Genji, thì bỗng như có sự sắp xếp và gạt bỏ bớt những đồ đoàn, ai đó đang chuẩn bị sẵn sàng để đi tiếp; và vấn đề của tám chương cuối trước khi Genji biến khỏi sân khấu, có phần khác biệt. Sau khi hư cấu lãng mạn đã đủ, Murasaki Shikibu có vẻ muốn nói – và ai cũng hình dung được rằng bà đang từ bỏ tuổi trẻ lại phía sau; rằng điều buồn bã là điều thực tế. Bóng tối bao trùm lên cuộc sống của Genji. Câu chuyện kém bay bổng nhưng lại thân mật hơn, việc xây dựng nhân vật tinh tế hơn so với các đoạn đầu.

    Sau đó đột nhiên Genji mất. Chúng ta hầu như không được biết gì về những năm cuối của chàng mà, mặc dù biên niên của cuốn Genji nói chung là chính xác, chúng ta cũng không được hay chàng sống bao lâu. Một lần nữa, và lần này thì rất dũng cảm – Murasaki Shikibu lại đi tiếp, sau ba chương chuyển tiếp, đến cái mà thông thường được gọi là các chương Uji. Tính chất bi quan phát triển, động tác chính chuyển từ thủ đô tới làng Uji, cả tính cách lẫn động tác loãng đi và yếu hơn và Murasaki Shikibu đã có một cố gắng thành công, tạo nên một nhân vật phản diện đầu tiên trong nền văn học thế giới.

    Không có nhà phê bình cũng như học giả nào lại cho rằng không có gì được tiến hành để thay đổi bản thảo của Murasaki Shikibu trong hai thế kỷ và càng hơn thế trong thời gian giữa sáng tác và lúc văn bản sớm nhất xuất hiện; nhiều người còn cho rằng các chương Uji do một người nào đó viết. Truyền thống đó đã gán quyền tác giả những chương đó cho con gái bà, Daini no Sammi. Lập luận của giới học giả chống lại sự gán ghép đó kém có sức thuyết phục hơn là lối lập luận theo trực giác: khó mà tưởng tượng nổi một tài năng duy nhất lại có thể xây dựng được nhiều đến thế trên một nền tảng quá mỏng đến thế; nhưng cũng hầu như không tài nào hình dung nổi một tài năng thứ hai không được chuẩn bị đầy đủ mà lại kế tục một cách xuất sắc đến thế những gì mà người trước đã triển khai. Sự thực lịch sử ấy là, dù ai viết đi chăng nữa thì Genji cũng không có người kế tục, và như vậy thì lý thuyết về thiên tài quần chúng khó có chỗ dựa. Những truyện tình lãng mạn về sau, so với tác phẩm, thì cũng khá nghèo nàn.

    Nói tóm lại: những thay đổi và thêm thắt chi tiết sau này mới xảy ra, nhưng câu chuyện chủ yếu thuộc về một tác giả duy nhất lao động trên một thời gian lâu dài, chính bà đã sống khá lâu để có một sự hiểu biết trực tiếp những bóng mây che phủ tác phẩm của bà, những bóng đen đã đến cùng tuổi tác và kinh nghiệm, và bà đã lao động cho đến cùng. Nếu cuộc sống của riêng bà tiếp tục vào những năm mà nỗi buồn đến với cuộc đời của Genji, thì chắc là bà mất vào thập niên thứ ba của thế kỷ XI. Cuốn sách của bà có vẻ chưa hoàn thành, nhưng đối với chính bà ta cái tiếng “chưa hoàn thành” chắc không có ý nghĩa bao nhiêu.

    Bản dịch này dựa chủ yếu vào văn bản trong loạt truyện Nikon Koten Bungaku Taikei, gồm các tác phẩm cổ điển Nhật bản do Iwanami Shoten xuất bản. Người biên tập, Giáo sư Yamajishi Tohukei đã sử dụng một bản thảo chép tay của thời kỳ Muromachi trong Aobyōshi hay “sách xanh”, xuất phát từ công trình của Fujiwara Teika – nhà thơ và học giả lớn của thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII. Hai bản văn khác được tham khảo đều đặn; Chàng Genji Monogatari Hyoshaku của giáo sư Tamagami Takuya, và bản văn Shogakkan, mà chỉ có hai phần ba đã ra mắt khi bản dịch hoàn thành. Cả hai bản đều dựa trên bản thảo chép tay Aobyōshi. Ba bản dịch hiện đại của nữ thi sĩ Yosano Akiko và nhà viết truyện ngắn Tanizaki và Enji Fumiko, được tham khảo vào lúc này lúc khác.

    Từ ngữ “dịch” có vẻ thích đáng, mặc dù thực tế rằng người Nhật Bản sử dụng nó khi chuyển một tác phẩm cổ điển Nhật sang tiếng Nhật hiện đại, hoặc chuyển cũng tác phẩm cổ điển đó sang tiếng nước ngoài. Về một số mặt nào đó, ngôn ngữ miền tây Nhật Bản mà tác phẩm này được viết ra mang tính hết sức bảo thủ. Một nhân vật thỉnh thoảng đưa ra một nhận xét mà ta có thể nghe trên đường phố Kyoto hoặc Ōsaka ngày nay. Tuy vậy thành phần kết hợp của ngôn ngữ, những động từ và định từ, được đơn giản hóa đáng kể đến nỗi mà các tín hiệu cơ bản giữa chủ thể (agent) và khách thể đã từng được truyền đạt một cách tế nhị, bây giờ rất thường khi được truyền đạt bằng những ý nghĩa khác cốt sao để nhấn mạnh chủ thể một cách rõ ràng. Trong thực tiễn điều này có nghĩa rằng đối với người phương Tây và người Nhật hiện nay cũng như người Nhật thời Heian, nó thật khó sử dụng và thường khi rất tối nghĩa. Một bản dịch, Murasaki Shikibu sang tiếng Nhật hiện đại hoặc tiếng nước ngoài chắc chắn là có vẻ rành mạch một cách không cần thiết và làm mất đi tính chất tao nhã.

    Khi tham khảo với ông Harold Strauss, chúng tôi thấy sự chú thích phải hết sức hạn chế. Trong những vấn đề khó khăn nhất, xẩy ra trong việc dịch một truyện phương Tây, có vấn đề tên gọi nhân vật. Trong bản gốc, chỉ có những kẻ bộ hạ, như gã Koremitsu của Genji, là có tên thật. Những nhân vật chủ yếu được gọi bằng những biệt danh biệt hiệu liên quan đến địa vị của họ trong cuộc sống hoặc một biến cố hoặc một đoạn ngắn ngủi trong câu chuyện. Thỉnh thoảng mối quan hệ giữa nhân vật và biệt danh thật mỏng manh. Như vậy nàng Aoi, một trong những “tên” của người vợ đầu Genji, thật sự có nghĩa là “phu nhân của chương Heartvine” vì chính nàng mất trong chương đó và chương này cũng bắt nguồn từ một bài thơ mà không phải của nàng. Một số những biệt danh đã trở thành tiêu chuẩn trên hàng thế kỷ, cho nên người Nhật Bản ngày nay muốn nói đến người vợ cả của Genji, họ gọi nàng là Aoi. Nếu tìm hiểu nhân vật bằng cách tham chiếu các biệt hiệu biệt danh, thì sẽ bị lẫn lộn nhiều. Giải pháp cụ thể là chấp nhận các tên gọi truyền thống và chẳng hạn gọi vợ Genji là Aoi, và tôi đã làm như vậy trong bản dịch này. Tuy nhiên điều đó dẫn tới những sự căng thẳng, đặc biệt khi sự mệnh danh truyền thống nói trước một sự cố có sau trong quá trình câu chuyện. Chẳng hạn Kashiwagi, con trai của Tō no Chūjō, mà tên có nghĩa là “cây sồi” liên quan đến bài thơ trong chương mà cậu ta chết.

    Các phố chính đông – tây của thủ đô Heian được tính số từ bắc tới nam bắt đầu, với Ichijō, hoặc “Đại lộ thứ nhất” ở ranh giới phía bắc của đô thành và kết thúc với Khujo, Đại lộ thứ chín ở phía nam. Các phố thường được nêu trong Truyện Genji là Nijō, Sanjō, Gojō và Rokujō, hoặc Đại lộ thứ hai, thứ ba, thứ năm và thứ sáu. Trong hai mươi chương đầu Genji ở tại Nijō chạy dọc theo bức thành phía nam của lâu đài. Đến chương 21, chàng dời sang phía nam, ở dinh Rokujō.

    Chỉ một số ít những lối chơi chữ đầy rẫy trong các bài thơ là được giải thích, và đó là điều cần thiết vì nếu không, câu thơ sẽ vô nghĩa; nhưng con số những lối chơi chữ thậm chí còn lớn hơn số các bài thơ (gần tám trăm). Lối chơi chữ chắc là một biện pháp tu từ thông dụng nhất trong thi ca ở thời tiền và trung Heian. Tuy vậy, nếu nó phổ biến thì nó cũng không hề quá đáng và thừa thãi. Trước thời Murasaki đã có một vốn từ vựng những lối chơi chữ quy ước. Một số lối chơi chữ phổ biến đến nỗi sự du nhập một hình ảnh vào thơ sẽ ngay lập tức đưa vào một lối thứ hai. Chẳng hạn, cây thông, thường thì gợi ý một tình yêu không được đền đáp chờ đợi mong mỏi, vì matsu, “pine” cũng có nghĩa “chờ đợi”. Mưa hay tuyết rơi cũng là các năm trôi qua; mùa thu cũng là sự trễ nải, lơ là; người đánh cá cũng là một ni cô; con sông, rào chắn, cổng Ōsaka gợi ý sự gặp gỡ, cũng như tỉnh hay hồ Ōmi cũng vậy; hoa iris cũng là sự nhận thức sáng suốt hoặc một kiểu mẫu; con chuột cũng là gốc rễ và tiếng khóc; một cuộc kinh lý của nhà vua là một ngày tuyết dày; nhặt nhạnh cũng là tích lũy chất đống; cắt rời có nghĩa là chia tay; con ngỗng trời gợi ý sự tan biến. Một trong những lối chơi chữ phổ biến nhất ở mười chương sau nhằm vào tên làng – Uji, gợi ý sự ảm đạm v.v..

    Nếu mục đích của một bản dịch là bắt chước bản gốc của tất cả mọi vấn đề quan trọng, bao gồm cả vấn đề nhịp điệu, thì thiết nghĩ bản dịch này [bản dịch tiếng Anh – ND] tự nó đã cung cấp một tập hợp những mục đích đầy đủ hơn một vài bản dịch khác [như của Waley – ND]. Nhưng có thành công hay không thì lại là chuyện khác.

    [Cuối cùng] Cô Odagiri Hiroki đã đọc phần lớn bản dịch qua phác thảo đầu tiên đã so sánh nó với bản gốc và chỉ ra những thiếu sót và sai lầm. Giáo sư Ikeda Tadashi cũng làm như vậy với những chương không được cô Odagiri xem xét kỹ. Các ông Charles Hamilton và Eric Johnson đọc và nhận xét toàn bộ bản dịch, và Cô Choo-won-Suh đánh máy bản thảo cuối cùng và dĩ nhiên đọc toàn bộ, đã giúp nhiều cho bản biên tập. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các vị đó.
    Edward G. Seidensticker
    1/1976​
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 23/5/21
    Dat1952, horungcn, bich_lac and 37 others like this.
  2. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Staff:


    @ryuuha9999 ơi mình còn thiếu thông tin nào bạn bổ sung giúp nhé!

    Cập nhật 23.05.21:
    • Bản pdf tiếng Anh của Edward G. Seidensticker (đính kèm rar) từ Internet Archive do @Nga Hoang cung cấp, đây là nguồn dịch của bản in tiếng Việt này.
    • Bản pdf text tiếng Anh của Edward G. Seidensticker (đính kèm zip).
    • Bản pdf Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link với hình minh họa màu tuyệt đẹp dành cho tham khảo.
     

    Các file đính kèm:

    Chỉnh sửa cuối: 23/5/21
  3. giangnguyen786

    giangnguyen786 Mầm non

    Vô cùng cảm ơn các bạn đã thực hiện ebook quý báu và đồ sộ này. Chúc các bạn thật nhiều sức khỏe và hạnh phúc trong cuộc sống.
     
  4. ryuuha9999

    ryuuha9999 Lớp 8

    Bạn thêm vào ebook giúp mình nhé:
    Nguồn sách: Ha Chan
    Chụp pic: Hoàng Nguyên
     
    nhan van and tran ngoc anh like this.
  5. tran ngoc anh

    tran ngoc anh Cử nhân

    Mình cập nhật xong rồi đấy!
     
    ryuuha9999 and nhan van like this.
  6. luusteel

    luusteel Mầm non

    Cảm ơn các bạn rất nhiều!
     
  7. pdk010192

    pdk010192 Mầm non

    File azw3 cho bạn nào cần.
     

    Các file đính kèm:

    amorphous and vqsvietnam like this.
  8. genjimonogatari

    genjimonogatari Mầm non

    Rất cảm ơn ạ! Cuối cùng cũng hoàn thành, khá là mong chờ hihi!
     

Chia sẻ trang này