Hoàn thành PG Truyện ngắn "Scheherazade," Haruki Murakami.

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi hoanghannom, 21/12/14.

?

Bạn đánh giá bản dịch ra sao?

  1. Tốt.

    66.7%
  2. Chấp nhận được.

    33.3%
  3. Thảm họa.

    0 phiếu
    0.0%
  1. hoanghannom

    hoanghannom Mầm non

    © Nguyễn Huy Hoàng dịch từ bản tiếng Anh (do Ted Goossen dịch từ nguyên tác tiếng Nhật). Murakami, H. (2014). “Scheherazade”. [online] Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link. [Accessed 2 Dec. 2014].
    Sau mỗi lần ân ái, cô đều kể Habara nghe một câu chuyện lạ kỳ và thú vị. Như Nữ hoàng Scheherazade trong "Nghìn lẻ một đêm." Dẫu dĩ nhiên, Habara, không giống nhà vua, chẳng có ý định chặt đầu cô vào buổi sáng hôm sau. (Dù sao cô cũng chưa bao giờ ở lại với anh đến sáng.) Cô kể Habara nghe những câu chuyện là bởi cô muốn thế, bởi, anh đoán, cô thích cuộn mình trên giường và nói chuyện với người đàn ông của cô trong những giây phút thư thái, thân mật sau khi làm tình. Và cũng có thể, bởi cô muốn an ủi Habara, anh phải tự nhốt mình suốt ngày trong nhà.

    Bởi vậy mà Habara đặt cho cô cái tên Scheherazade. Anh không bao giờ gọi thế trước mặt cô, nhưng đó là cách anh nhắc tới cô trong cuốn nhật ký nhỏ anh viết. "Hôm nay Scheherazade đến," anh sẽ ghi như thế bằng chiếc bút bi. Rồi anh sẽ ghi lại những ý chính trong câu chuyện của ngày hôm đó thật đơn giản, những từ ngữ khó hiểu chắc chắn sẽ làm rối trí bất cứ ai có đọc cuốn nhật ký sau này.

    Habara không biết liệu những câu chuyện cô kể là thật, là bịa, hay một phần là thật và một phần là bịa. Anh không cách nào biết được. Thực tế và giả định, nhận xét và thuần túy tưởng tượng dường như trộn lẫn với nhau trong những chuyện kể của cô. Bởi thế Habara có thể thưởng thức chúng như một đứa trẻ, mà không cần thắc mắc quá nhiều. Nói cho cùng, dù chúng là thật hay giả, hay là một sự chắp vá phức tạp của cả hai thì cũng có khác gì với anh?

    Thế nào đi nữa, Scheherazade cũng rất có khiếu trong việc kể lại những câu chuyện cảm động. Bất kể câu chuyện thuộc thể loại gì, cô cũng đều khiến nó trở nên đặc biệt. Giọng nói, cách nhấn nhá, cách ngắt nhịp của cô đều hoàn hảo. Cô thu hút được sự chú ý của người nghe, kích thích anh, khiến anh phải suy ngẫm và xét đoán, rồi cuối cùng, trao cho anh đúng thứ anh đang tìm kiếm. Say mê, Habara có thể quên thực tại xung quanh anh, dẫu chỉ trong phút chốc. Như tấm bảng đen được lau bằng miếng khăn ẩm, những phiền muộn, những ký ức khó chịu được xóa đi trong anh. Ai còn cần gì hơn thế? Tại thời điểm này trong cuộc sống của anh, kiểu lãng quên như vậy là thứ Habara mong mỏi hơn bất cứ điều gì khác.

    Scheherazade 35, hơn Habara bốn tuổi, làm nội trợ toàn thời gian và có hai đứa con đang học tiểu học (dẫu cô có bằng y tá và hình như thỉnh thoảng cũng được gọi đi làm). Chồng cô là một người đàn ông công sở điển hình. Nhà của họ cách nhà Habara hai mươi phút lái xe. Đó là tất cả (hoặc gần như tất cả) những gì cô tự chia sẻ. Habara không có cách gì kiểm chứng được bất cứ thông tin nào trong đó, nhưng anh cũng chẳng nghĩ được lí do cụ thể gì để nghi ngờ cô. Cô chưa bao giờ tiết lộ tên cô. "Cậu đâu cần phải biết, đúng không?" Scheherazade từng hỏi như thế. Cô cũng chưa bao giờ gọi Habara bằng tên anh, dù dĩ nhiên cô biết. Cô thận trọng tránh cái tên, như thể bằng cách nào đó sẽ là bất hạnh hoặc không phù hợp nếu cô bật nó khỏi môi.

    Chí ít là nhìn bề ngoài, nàng Scheherazade này không có điểm nào chung với nữ hoàng xinh đẹp trong "Nghìn lẻ một đêm." Cô đang trên đà tới tuổi trung niên và đã đang dần chảy nhão, với đôi má xệ và và những nếp nhăn chăng đầy hai bên khóe mắt. Kiểu tóc, cách trang điểm và cách ăn mặc của cô không hẳn là cẩu thả, nhưng cũng không chắc là có thể nhận được bất cứ lời khen ngợi nào. Nét mặt cô không phải là không cuốn hút nhưng gương mặt lại thiếu nổi bật, thế nên ấn tượng cô để lại khá mờ nhạt. Thành ra những người bước ngang qua cô trên phố hay đi cùng thang máy có lẽ sẽ ít chú ý tới cô. Mười năm trước, có thể cô cũng là một phụ nữ trẻ tươi tắn và hấp dẫn, có khi còn khiến một số phải ngoái đầu. Thế nhưng một lúc nào đó, tấm rèm đã buông phủ quãng cuộc đời đó của cô và có vẻ sẽ không thể kéo lên được nữa.

    Scheherazade đến gặp Habara hai lần mỗi tuần. Thứ ngày thì không cố định, nhưng cô chưa bao giờ đến vào cuối tuần. Chắc hẳn cô dành thời gian đó cho gia đình mình. Cô luôn gọi một giờ trước khi đến. Cô mua hàng tạp phẩm tại siêu thị địa phương và mang chúng đến cho anh bằng xe của cô, một chiếc Mazda hatchback màu xanh dương. Mẫu xe cũ, với một vết lõm ở ba-đờ-sốc và bánh xe đen kịt vì bụi bẩn. Đỗ xe ở bãi đất trống của ngôi nhà, cô xách những túi đồ đến cửa trước và nhấn chuông. Sau khi kiểm tra qua lỗ mắt mèo, Habara mở cửa, tháo xích, và để cô vào. Trong bếp, cô phân loại các đồ tạp phẩm và xếp chúng vào tủ lạnh. Tiếp đó cô lên danh sách những thứ cần mua sắm trong chuyến thăm lần sau. Cô làm tất cả những việc này một cách khéo léo với tối thiểu cử động thừa và nói rất ít suốt từ đầu đến cuối.

    Khi cô xong, hai người lặng lẽ đi vào phòng ngủ, như thể bị kéo vào bởi một dòng chảy vô hình. Scheherazade nhanh chóng cởi bỏ quần áo và, vẫn lặng lẽ, hòa cùng Habara trên giường. Cô cũng hầu như chẳng nói gì trong suốt cuộc ái ân của họ, thực hiện từng hành động như thể đang hoàn thành một nhiệm vụ. Khi cô đến ngày, cô dùng tay để hoàn thành một kết thúc tương tự. Điệu bộ khéo léo, đúng hơn là thạo nghề của cô nhắc Habara nhớ rằng cô có bằng y tá.

    Làm tình xong, họ nằm trên giường trò chuyện. Đúng hơn là cô nói còn anh nghe, thêm một từ thích hợp chỗ này, hỏi một câu ngẫu nhiên chỗ kia. Khi đồng hồ điểm bốn giờ ba mươi, cô ngắt đoạn câu chuyện của mình (thế nào đó mà lúc nào câu chuyện cũng có vẻ vừa mới đạt đến cao trào), nhảy ra khỏi giường, thu xếp quần áo và sẵn sàng ra về. Cô nói cô phải về nhà để chuẩn bị bữa tối.

    Habara theo cô ra tới cửa, móc lại xích, dõi theo chiếc xe nhỏ màu xanh cáu bẩn rời đi qua tấm rèm. Sáu giờ, anh nấu bữa tối đơn giản và ăn nó một mình. Anh từng làm đầu bếp, thế nên nấu ăn chẳng phải khó khăn gì to lớn lắm. Anh uống Perrier trong bữa tối (không bao giờ anh đụng tới cồn), sau đó nhấm nháp một cốc cà phê trong khi xem DVD hoặc đọc sách. Anh thích những cuốn sách dài, nhất là những cuốn anh phải đọc lại mấy lần mới hiểu. Chẳng có nhiều việc khác để làm. Anh không có ai để nói chuyện. Không ai để gọi. Không có máy tính, anh không tài nào truy cập được Internet. Không đặt báo, anh cũng chẳng xem truyền hình. (Có một lí do chính đáng cho điều đó.) Hiển nhiên anh chẳng thể ra ngoài. Nếu sao đó mà những chuyến thăm của Scheherazade không còn, anh sẽ bị bỏ lại một mình.

    Habara không quá quan tâm tới viễn cảnh này. Nếu thế thật thì, anh nghĩ, sẽ khó khăn đấy, nhưng mình sẽ lê lết qua bằng cách này cách khác. Mình đâu có bị mắc kẹt trên một hòn đảo hoang vu. Không, anh nghĩ, mình chính là hòn đảo hoang vu. Anh vẫn luôn thoải mái khi ở một mình. Dù thế, thứ khiến anh buồn phiền lại là suy nghĩ về việc sẽ không thể trò truyện trên giường với Scheherazade. Hay đúng hơn là việc bỏ lỡ đoạn truyện tiếp theo của cô.


    Đọc tiếp toàn bộ truyện ngắn tại
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link.
     
    Chỉnh sửa cuối: 25/3/16
    tducchau, Cải, NHTB and 1 other person like this.

Chia sẻ trang này