Văn học nước ngoài Tuổi trẻ băn khoăn - Herman Hesse

Thảo luận trong 'Phòng đọc trực tuyến' bắt đầu bởi Lan Giao, 10/8/17.

Moderators: teacher.anh
  1. Lan Giao

    Lan Giao Lớp 5

    Mã:
    Tuổi trẻ băn khoăn
    Nguyên tác: Die Geschichte von Emil Sinclairs Jugend
    Tác Giả: Herman Hesse
    Dịch Giả: Hoài Khanh
    Dịch từ bản tiếng.....?
    Nhà xuất bản Ca Dao (1968, 1971, 1974)
    Nhà xuất bản: Hội Nhà văn 1998
    Số trang: 252
    Kích thước: 13 x 19cm
    Trọng lượng: 180g
    Số quyển / 1 bộ: 1
    Hình thức bìa: Bìa mềm
    Giá: 18.000 VNĐ
    Cuốn mình đang làm là của nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1998 bị mất 4 trang: 75,76 và 93,94 do một tay sách bị đứt chỉ. Bạn nào có thì chụp hình 4 trang đó giúp mình. Cám ơn các bạn.

    Tuổi trẻ băn khoăn
    Hermann Hesse

    Hoài Khanh dịch

    Tựa


    Trọn một chu kỳ đã trôi qua kể từ khi tôi bắt tay lần cuối cùng với Hermann Hesse. Thật ra, thời gian dường như còn dài hơn, trong lúc ấy biết bao sự việc đã xảy ra - biết bao điều đã xảy đến trong lịch sử thế giới và ở cả giữa sự xôn xao, hỗn loạn của cái thời đại rối loạn này, biết bao điều đã đến từ sự tận tụy không ngừng nghỉ do bàn tay của chính chúng ta. Những biến cố bên ngoài, đặc biệt là sự sụp đổ không thể tránh được của nước Đức bất hạnh, cả hai chúng tôi đã thấy trước và cả hai đã từng chứng kiến - mỗi người ở cách xa hẳn trong không gian, xa đến nỗi có những lúc không thể liên lạc với nhau được, song luôn luôn cùng có nhau, luôn luôn nghĩ đến nhau. Lộ trình phổ quát của chúng tôi, rõ ràng là tiến hành một cách riêng rẽ qua lãnh vực tinh thần; theo một lề lối cái này xa cách với cái kia. Và tuy vậy trong một vài ý nghĩa thì chúng tôi là bạn đồng hành và là bằng hữu với nhau, hay có lẽ tôi nên nói, là một sự thân thiết không che đậy của những kẻ cùng chung một đoàn thể; bởi vì tôi thích nghĩ đến mối liên quan của chúng tôi, trong những giới hạn của sự gặp gỡ giữa các nhân vật của ông là Joseph Knecht và tu sĩ Jacobus Dòng thánh St. Benedict, trong tác phẩm Glasperlenspiel không thể xảy ra mà không “đầy thú vị và kéo dài ra cái cử chỉ lễ phép của những cái cúi đầu vô tận, giống như sự chào nhau giữa hai vị thánh hay những tay cự phách của giáo hội” - một cử chỉ lễ phép, nửa hài hước, trong đặc tánh của người Trung hoa, mà Knecht hết sức thích thú điều ấy, y nhận xét, Magister Ludi Thomas von der Trave cũng là bậc thầy quá khứ.

    Tự nhiên cho tới bây giờ tên tuổi của chúng tôi chỉ thỉnh thoảng mới được đề cập đến cùng nhau, và ngay khi việc này xảy ra trong cái cách thức kỳ lạ nhất nó lại làm cho chúng tôi dễ chịu. Một soạn nhạc gia tuổi tác nổi tiếng ở Munich, một người Đức cố chấp và giận dữ cay cú, trong một bức thư gửi cho nước Mỹ mới đây, đã gọi cả hai chúng tôi, Hesse và tôi, là “những kẻ đê tiện” bởi vì chúng tôi không tin rằng dân tộc Đức là những người cao cả và cao thượng nhất, là “một con chim kim tước ở giữa bầy chim se sẻ”. Chính sự so sánh thì đặc biệt yếu đuối và điều gàn dở hoàn toàn không ăn nhập gì với sự vô học, nội cái tính ngạo mạn bướng bỉnh phô bày ra đó khiến người ta sẽ nghĩ rằng, chỉ cái điều ấy không thôi, cũng đủ mang đến nỗi khốn khổ cho dân tộc xấu số này. về phần tôi, tôi đã chấp nhận X với sự cam chịu điều phán xét này của “linh hồn Đức”. Rất có thể ở trong nước tôi, tôi không là gì cả mà chỉ là một con chim se sẻ xám xịt thông minh, giữa một bầy chim hay hót đa cảm, và như thế, vào năm 1933, họ đã hết đỗi hân hoan tống cổ tôi đi, mặc dù ngày nay họ cố hết sức chứng tỏ là đã bị thương tổn sâu xa vì việc tôi không trở lại. Nhưng còn Hesse ? Những gì là dốt nát, những gì là thiếu thốn văn hóa, để xua đuổi con chim họa mi này, bởi vì dù thực ông không phải là con chim kim tước giai cấp trung lưu từ lùm cây Đức quốc của nó, nhà thi sĩ trữ tình này mà Moerike đã từng ôm siết vào lòng với mối cảm kích, người đã tạo nên từ ngôn ngữ của chúng ta những hình ảnh thuần túy nhất và hình thức tinh tế nhất, người đã sáng tạo nên từ những bài hát và châm ngôn, sự sáng suốt thâm trầm có nghệ thuật nhất -gọi ông là một “kẻ đê tiện”, kẻ bội phản di sản Đức quốc của ông, đơn thuần chỉ vì ông giữ cái ý kiến riêng rẽ từ cái hình thức mà nó thường được ngụy tạo đến như vậy;bởi vì ông nói với người đời cái sự thực mà nguồn gốc của nó vốn là những điều từng trải hãi hùng nhất vẫn không thể làm cho họ hiểu, và bởi vì những hành động bất chánh đã phạm phải bởi cái chủng tộc này trong sự hãnh tiến của nó đã đánh động lương tâm ông.

    Nếu ngày nay, khi chủ nghĩa cá nhân quốc gia đang hấp hối, khi không một vấn đề đơn thuần nào còn có thể giải quyết dược từ một quan điểm quốc gia thuần túy, khi tất cả đã liên quan với “tổ quốc”, trở nên chủ nghĩa địa phương ngột ngạt, phi tinh thần và không hề tiêu biểu cho truyền thống Âu châu như một toàn thể những phẩm giá được kính trọng gì cả, nếu ngày nay cái tinh thần quốc gia chân thật, đặc biệt thuộc về dân gian, vẫn còn bất cứ giá trị nào - và một giá trị tốt đẹp có thể nó vẫn còn giữ - rồi thì chắc chắn điều cốt yếu là, như bao giờ cũng vậy, không phải là cái ý kiến huyên náo om sòm mà là sự thành tựu hiện tại. Đặc biệt ở nước Đức, những kể nào ít bằng lòng với những điều thuộc về Đức quốc thì bao giờ cũng là những người Đức chân thật nhất. Và ai có thể không thấy rằng, nội cái việc làm giáo hóa lao khổ của Hesse, con người văn sĩ - ở đây tôi không nói đến nhà văn sáng tạo - bao quát những hoạt động tận tụy của ông như nhà xuất bản và người sưu tầm, có cái phẩm chất đặc biệt Đức quốc ? Cái ý niệm “văn học thế giới” tác tạo ra bởi Goethe, thì tự nhiên và bẩm sinh nhất đối với ông. Một trong những tác phẩm của ông, mà thật ra nó đã xuất hiện ở Mỹ, “xuất bản trong những lợi tức công cộng bởi uy thế của Người Bảo quản Quyền Sở Hữu người Ngoại Quốc, 1945”, mang đúng cái tiêu đề này: “Thư viện Văn học Thế giới” và là cái chứng tích đọc rộng và nhiệt thành với việc đọc sách, đặc biệt thân thuộc với những đền đài cẩn trọng của Đông phương và của một người theo chủ nghĩa nhân bản cao thượng thân thiết với “những tặng vật thiêng liêng và cổ nhất của tinh thần con người”. Các nghiên cứu đặc biệt của ông là những tiểu luận viết về Francis Assisi và Boccaccio mang niên hiệu 1904, và ba chương của ông viết về Dostoievski mà ông gọi là Blick in Chaos (Thoáng nhìn vào sự hỗn loạn). Những ấn bản truyện trung cổ, trung thiên và truyện ngắn của các văn gia Ý tiền bối, những chuyện thần tiên Đông phương, Ca khúc của các thi sĩ Đức, các ấn bản mới của Jean Paul, Novalis và các nhà lãng mạn Đức khác mang tên ông. Chúng tiểu biểu việc làm cần mẫn, trang trọng, chọn lọc, sắp đặt bài vở, tái bản và viết những bài tựa giới thiệu - đủ choán nhiều cuộc sống của một người cầm bút thông thái. Với Hesse nó chỉ là một sự yêu thích quá nhiều (và năng lực nữa chứ) một hoạt động tiêu khiển ưa thích thêm vào với cá nhân ông, một cá nhân lạ thường nhất, làm việc - làm việc mà trong nhiều bình diện của tưởng đã động cập và liên quan đến những vấn đề của thế giới và của cái tự ngã mà không để ý đến những người đương thời với ông.

    Ngoài ra, ngay như một thi sĩ, ông thích cái vai trò nhà xuất bản và người bảo quản văn khố, một trò chơi của cuộc khiêu vũ hóa trang đằng sau bề ngoài của kẻ “đưa ra ánh sáng” các trang giấy của những kẻ khác. Thí dụ lớn nhất của điểm này là tác phẩm tuyệt vời của tuổi già của ông, Glasperlenspiel, tác phẩm rút ra từ tất cả các nguồn văn hóa nhân loại, cả Đông phương và Tây phương, với phụ đề “Thử Phác họa Cuộc đời của Magister Ludi Thomas Knecht cùng với Di cảo của Knecht, Hermann Hesse xuất bản”. Lúc đọc nó tôi đã cảm thấy rất quả quyết rằng, (như tôi đã viết cho ông vào lúc đó), biết bao yếu tố mô phỏng, sự mơ hồ và nhẹ chế giễu của một tiểu sử dựa trên những ước đoán lượm lặt được, nói tóm lại, bằng lời lẽ khoái hoạt, đã giúp giữ trong vòng những giới hạn tác phẩm cuối cùng này, với sự tiến bộ trí năng hiểm nguy và việc góp phần vào sự bi đát hiển nhiên của nó.

    Người Đức ư? Vâng, nếu đó là câu hỏi, thì tác phẩm cuối cùng này cùng với hết thảy tác phẩm trước quả là người Đức, người Đức với một độ gần như không thích hợp, người Đức trong sự lỗi lầm của nó ‘đã từ chối cố gắng làm hài lòng thế giới, một sự khước từ mà chung cục sẽ là vô hiệu, bất cứ điều gì mà người tuổi tác có thể làm, bởi danh tiếng thế giới; vì một lý do giản dị thì đây là thuộc về người Đức trong tuổi già, hạnh phúc, tự do và ý nghĩa trí thức mà tên tuổi Đức quốc nợ nó cái tiếng tốt nhất, mà đối với điều ấy nó nợ sự giao cảm của nhân loại. Tác phẩm táo bạo và trong trắng này đầy sự lạ lùng và đồng thời tinh thần cao cả, thì đẩy truyền thống, trung tín, ký ức, kín đáo - quyết không hề bị chuyển nghĩa. Nó xây dựng sự thân thiết và quen thuộc với một tinh thần mới. Vâng; bình diện cách mạng - cách mạng không trực tiếp với chính trị hoặc ý thức xã hội, nhưng có phần thuộc về tâm linh, một thứ cách mạng đầy thi vị; trong cái phương thức chính tông và chân thật thì nó là tiên tri của tương lai. Tôi không biết làm cách nào khác diễn tả sự đặc biệt, sự hỗn tạp và sự quyến rũ vô song mà tác phẩm ấy gợi ra cho tôi. Nó sở hữu cái thanh sắc lãng mạn, mỏng manh, sự phức tạp, tính tình ưu uất của linh hồn Đức - khí quan và cá nhân buộc chặt với những yếu tố rất khác biệt và ít xa vời đặc tính của tình cảm, những yếu tố của sự phê bình ở Âu châu và của Tâm lý phân tích pháp. Mối liên quan của nhà văn Swabian trữ tình và chất phác này với sự phân tích sâu xa” về luyến ái quan của thành Vienne (1) chẳng hạn, đã dược phô diễn trong tác phẩm Narziss und Goldmund, một cuốn tiểu thuyết thi vị, độc đáo, hấp dẫn tuyệt vời và là cái tinh thần nghịch thường hấp dẫn nhất của loại đó.

    Sự hấp dẫn lạ thường và độc đáo của tác giả này không thua gì thiên tài Tiệp Khắc, Do thái, Franc Kafka mà trước đây ông ta đã được gọi là một “Hoàng đế không ngai của văn xuôi Đức” và đối với ông ta, ông đã phê bình tỏ lòng tôn kính ở mỗi cơ hội thuận tiện - trước rất lâu, trước khi tên tuổi của Kafka trở thành cái mốt ở Paris và New York như thế.

    Nếu ông là “người Đức”, rõ ràng về ông không có chi xấu xa hay đáng trách. Sự ảnh hưởng đầy phấn khích của tác phẩm Demian, đến cả một thế hệ ngay sau cuộc đệ nhất thế chiến, từ ngòi bút của anh chàng Sinclair huyền diệu, chắc chắn không sao quên được. Với sự chính xác kỳ bí, tác phẩm thơ mộng này đã đánh vào cân não thời đại và kêu gọi lòng hoan hỉ biết ơn của cả một thế hệ tuổi trẻ mà họ tin rằng sự chú giải cuộc sống nội tâm của họ đã mọc dậy từ giữa con người họ -trong khi đó thì một người đã bốn mươi hai tuổi đầu dâng hiến cho họ những gì mà họ tìm kiếm. Và cần bày tỏ rằng, như một cuốn tiểu thuyết thực nghiệm, thì cuốn Steppenwolf táo bạo đâu có thua gì Ulysses (2) và The Counterfeiters (3).

    Đối với tôi, tác phẩm cả đời ông, bắt nguồn từ chủ nghĩa lãng mạn của quê hương Đức quốc, trong mọi cơ hội lại là chủ nghĩa cá nhân một cách kỳ lạ, lúc thì nó nóng nảy buồn cười, khi thì nó tỏ vẻ khao khát sự làm mất thiện cảm một cách huyền bí từ thế giới và thời gian, những chí nguyện tinh thần cao cả và thuần khiết nhất và những việc làm vất vả của thời đại chúng ta. Cái thế hệ văn học mà tôi thuộc vào, trước hết tôi chọn ông, người mà nay đã thực hiện được cái tuổi già đạt đạo, như một người gần gũi và thân thiết nhất với tôi và tôi đã theo dõi sự khai triển của ông với một mối giao cảm nổi bật lên từ những khác biệt cũng như những tương tự của chúng tôi. Tuy nhiên, điều sau đôi khi đã làm tôi hết sức ngạc nhiên. Ông đã viết những điều - tại sao tôi sẽ không nhìn nhận nó nhỉ ? - như là Badegast và quả thật, có nhiều trong tác phẩm Glasperlenspiel, đặc biệt là sự giới thiệu trang trọng, mà tôi đã đọc và cảm thấy,”như thể nó là một phần của tôi”.

    Tôi cũng yêu Hesse như một con người, tính vui vẻ thâm trầm của ông, những lối nô đùa ầm ĩ, cái đẹp xa vời của cái nhìn của ông, ôi chao, cặp mắt đau khổ, mà ánh biếc của nó đã làm sắc sảo cho cái khuôn mặt của lão nông phu miền Swabian tinh khôn sắc sảo. Tôi mới chỉ biết ông một cách thân mật lần thứ nhất, trước đây mười bốn năm, khi đau đớn do sự xúc động về sự thất bại của xứ sở tôi và quê hương tôi, tôi thường ở với ông trong căn nhà và khu vườn xinh xắn của ông ở Ticino.

    Trong những ngày đó tôi đã thèm thuồng cuộc sống của ông biết bao! - không nói chỉ việc ẩn dật của ông ở một xứ tự do, mà trên hết cả là cái mực độ khó nhọc để thu đoạt cái tinh thần tự do mà do việc làm ấy ông đã vượt hơn tôi, bởi cái triết lý tách riêng ra tất cả các chính sách Đức quốc của ông. Không có gì vui thú hơn, xoa dịu hơn trong những ngày xáo trộn nọ hơn là sự đàm thoại với ông.

    Bởi vì trong một chu kỳ và hơn nữa, tôi đã từng thúc giục là tác phẩm của ông phải được ban tặng giải thưởng văn chương quốc tế của nước Thụy điển. Điều ấy cũng không đến ngay vào giáp lục tuần của ông, và sự chọn lựa làm công dân của quốc gia trung lập Thụy Điền sẽ là một lối xử thế khôn ngoan, ở một cải thời khi mà Hitler (vì Ossielky) đã ngăn cấm việc nhận giải thưởng cho tất cả công dân Đức ở bất cứ lúc nào. Nhưng nay cũng đã có nhiều danh dự xứng đáng hơn, khi một tác giả bảy mươi tuổi thọ chính ông ta tưởng thưởng cho mình cái tác phẩm dồi dào phong phú với một cái gì tuyệt vời cao nhã, tiểu thuyết giáo dục trọng đại của ông. Giải thưởng này mang đến khắp thế giới cái tên tuổi mà cho tới nay đã không được chú ý thích đáng tại khắp các quốc gia và cũng như nó không thể nào không làm nổi lên thanh danh của tên tuổi này ở Mỹ. Vì vậy tôi lấy làm thích thú viết một lời tựa giao cảm cho ấn bản Anh ngữ của tác phẩm Demian nồng nàn đáng ca ngợi này, tác phẩm được viết trong một thứ văn xuôi vị thi khích động, được viết trong thời trung niên cường tráng của ông. Một tác phẩm mỏng manh, nhưng đó là những tác phẩm cỡ nhỏ thường hàm chứa cái cơ năng vĩ đại nhất, chẳng hạn như tác phẩm Die Leiden des jungen Werthers trong việc lưu tâm đến kết quả của nó ở Đức, thì Demian mang một sự tương tự xa xôi. Tác giả ắt đã có một giác quan rất linh hoạt ở hiệu lực của khả năng sáng tạo, vượt trên cá nhân ông như đã được chứng tỏ bởi cái chủ tâm không cho rõ nghĩa của nhan đề, “Câu chuyện của Tuổi Trẻ”, mà nhan đề ấy có thể ứng dụng cho cả thế hệ thanh niên tuổi trẻ cũng như cho một cá nhân. Cảm tưởng này cũng đã được bày tỏ bởi cái sự kiện là Hesse, không muốn cho tên mình xuất hiện trên cuốn sách đặc biệt này mà nó đã được biết đến và trở thành đặc trưng tiêu biểu. Thay vì thế, ông dùng bút hiệu là Sinclair - một tên được tuyển chọn trong giới Hoerlderlin - cho in trên cái bìa rời bên ngoài và trong một thời gian dài đã cẩn thận giấu tên tác giả của ông. Lúc đó tôi đã viết thư cho ông giám đốc nhà xuất bản, ông s. Fischer củng là người xuất bản tác phẩm độc đáo, cảm động này, và “Sinclair” có thể là kẻ nào vậy. Ông ta đã nói dối một cách trung thành: ông nhận bản thảo từ Thụy điển qua một người thứ ba. Song le, sự thật dần dà trở nên biết được, một phần qua sự phê bình phân tích bút pháp nhưng một phần cũng qua những sự khinh xuất để lộ ra. Tuy nhiên, tới lần tái bản thứ mười là ấn bản đầu tiên có mang tên Hesse.

    Ở cuối tác phẩm, (thời gian là năm 1914) Demian nói với bạn cậu Sinclair : “Sẽ có chiến tranh… Nhưng Sinclair ạ, cậu sẽ thấy rằng đây chỉ là mới bắt đầu. Có lẽ nó sẽ trở thành một cuộc chiến tranh trên một bình diện khổng lồ. Nhưng ngay cả điều ấy nó cũng chỉ là mới khởi đầu. Thế giới mới đang bắt đầu: và đối với những kẻ nào còn khư khư bám vào cái cũ thì thế giới mới ấy sẽ là một điều khủng khiếp. Cậu sẽ làm gì

    Câu trả lời đúng sẽ là : “Nâng đỡ cái mới mà không hy sinh cái cũ”. Những tên nô bộc tuyệt nhất của cái mới - Hesse chẳng hạn - có thể là người hiểu biết và yêu cái cũ và mang nó vào trong cái mới.

    (1) Freud.
    (2) Kiệt tác của James Joyce.
    (3) Kiệt tác của André Gide

    THOMAS MANN Tháng Tư, năm 1947.

    Tôi chỉ muốn gắng sống hòa hợp với những giục giã đến từ cái tự ngã thực sự của tôi thôi.
    Tại sao ước vọng chỉ có thế lại rất đỗi khó khăn.

     
    Chỉnh sửa cuối: 13/8/17 lúc 20:09
  2. Lan Giao

    Lan Giao Lớp 5

    Khai từ


    Tôi không thể nào kể lại câu chuyện của tôi mà không quay lại tận cái thời quá khứ xa vời. Nếu có thể tôi sẽ còn quay lại xa hơn - tận những năm đầu của thời thơ ấu của tôi, và vượt quá thời ấy vào tận quá khứ tổ tiên xa vời của tôi.

    Các tiểu thuyết gia khi họ viết những cuốn tiểu thuyết thường có khuynh hướng chọn một thái độ gần như thần thánh đối với đề tài của họ, đòi hỏi một sự hiểu biết hoàn toàn câu chuyện, đời sống một người, mà vì lẽ đó họ có thể thuật lại như Chính Đấng Thượng Đế quyền uy, không có gì đứng giữa họ và cái sự thật trơ trụi cả, toàn thể câu chuyện có đầy ý nghĩa trong mỗi chi tiết một. Tôi thì ít có khả năng này như tiểu thuyết gia, dù rằng câu chuyện của tôi đối với tôi nó còn quan trọng hơn bất cứ tiểu thuyết gia nào đối với câu chuyện của ông ta - bởi vì đây là câu chuyện của tôi; nó là câu chuyện của một người, nó không phải là câu chuyện bịa đặt, hoặc có thể có, hay đã được lý tưởng hóa, hay trải lại là cái diện mạo vắng mặt mà nó là cả một hữu thể duy nhất của máu và xương. Thế nhưng, ngày nay những gì làm nên con người là một sinh vật thật sự thì hình như ít được biết đến hơn là bất cứ thời gian nào trước đây, và mọi người - mỗi người họ tiêu biểu cho một thực nghiệm có giá trị lớn lao và duy nhất trong một phần của vũ trụ - và vì vậy nên ngày nay mới có cái cảnh bắn giết tập thể. Nếu chúng ta không là một cái gì độc nhất hơn là con người, nếu mỗi người chúng ta có thể thực sự bị giết chết lần chót bởi một viên đạn đơn độc, thì người viết truyện sẽ mất tất cả mục đích. Nhưng mỗi người thì có gì hơn là chỉ mình hắn thôi; hắn cũng tiểu biểu cho cái độc nhất vô nhị, cái đặc biệt và luôn luôn có ý nghĩa và cái điểm lạ thường mà ở đấy nó tương giao với hiện tượng của vũ trụ, chỉ một lần trong đường lối này và không bao giờ lại có nữa. Đó là lý do vì sao mỗi câu chuyện của con người là quan trọng, bất diệt, thiêng liêng, đó là lý do vì sao, mỗi người, chừng nào mà họ còn sống và hoàn thành cái ý lực của thiên nhiên thì là tuyệt diệu và mới đáng được suy xét. Trong mỗi cá nhân tinh thần trở nên xác phàm, trong mỗi con người sự sáng tạo bị thiệt thòi, trong mỗi con người có một đấng cứu thế bị đóng đinh trên thập giá.

    Ngày nay ít có người biết con người là gì. Nhiều người ý thức sự ngu muội này và dễ chết vì nó, cái cách thế tương tự mà tôi sẽ dễ chết vì nó một khi tôi hoàn thành câu chuyện này.

    Tôi không cho mình là ít ngu muội hơn phần lớn người đời. Tôi đã và vẫn là một kẻ tìm kiếm, nhưng tôi thôi tra vấn các vì sao và sách vở; tôi bắt đầu lắng nghe những giáo huấn của giòng máu tôi thì thầm với tôi.

    Câu chuyện của tôi không là một câu chuyện thú vị, nó không dịu dàng gì và cũng chẳng điều hòa nào như những câu chuyện bày đặt ra thường có; nó có cái hương vị phi lý và hỗn loạn, điên cuồng và mộng mị giống như cuộc sống của những người mà họ thôi không lừa dối chính họ nữa.

    Đời sống mỗi người tiêu biểu một con đường hướng về chính con người hắn, một nỗ lực nhắm vào ở chỗ như một con đường, sự cáo tri của một lộ trình... Không có kẻ nào chẳng bao giờ là nguyên vẹn và hoàn toàn là hắn cả. Song mỗi người vẫy vùng để trở nên điều ấy -người thì vụng về lúng túng, kẻ thì khôn ngoan lanh lợi hơn, mỗi người vận dụng hết sở trường của hắn. Mỗi người đều mang cái dấu vết sinh nở của hắn - đất bùn và vỏ trứng của cái quá khứ nguyên thủy của hắn -mang theo với hắn cho đến ngày chung cục của hắn -Một số người chẳng bao giờ trở thành con người, vẫn còn là ếch nhái, thằn lằn, rắn mối, và kiến. Một số người thì trên thắt lưng là người phía dưới là cá. Mỗi loại tiêu biểu cho một trò chơi trong một phần của thiên nhiên trong sự sáng tạo con người. Tất cả chúng ta đều chia sẽ cùng một nguồn gốc, ba me của chúng ta hết thảy chúng ta đều đến cùng một cánh cửa. Nhưng mỗi người chúng ta - những cuộc thực nghiệm chiều sâu - vùng vẫy hướng đến cái định mệnh của riêng hắn. Chúng ta có thể hiểu biết lẫn nhau; nhưng mỗi người chúng ta chỉ có thể bày tỏ con người mình với chính bản thân mình mà thôi.
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/8/17 lúc 07:19
    svcntnk42a1 and teacher.anh like this.
  3. Lan Giao

    Lan Giao Lớp 5

    I
    Hai thế giới

    Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện của tôi với kinh nghiệm tôi có vào lúc tôi lên mười và theo học trường La tinh ở cái thành phố nhỏ nhoi của chúng tôi.

    Nhiều điều dịu dàng từ thời ấy vẫn còn khuấy động và làm tôi xúc động với nỗi buồn sầu: những lối đi tối tăm và sáng sủa, những căn nhà và những tháp chuông, những khuôn mặt và những tiếng chuông, những căn phòng sang trọng, ấm áp, thoải mái và tiện nghi, những căn phòng mang chứa những điều bí mật. Tất cả mỗi thứ đều mang cái hương vị thân mật, đầm ấm, các cô gái giúp việc, những điều cải thiện gia đình và trái cây khô.

    Hai cõi của đêm và ngày, hai thế giới khác biệt đến từ hai cực đối chọi hẳn với nhau hòa hợp lẫn nhau trong lúc này. Ngôi nhà của song thân tôi làm nên một cõi, tuy vậy biên giới của nó còn hẹp hơn nữa là khác, bấy giờ chỉ bao quanh song thân tôi trong moi phương cách một - mẹ và cha, tình yêu thương và sự nghiêm trang, cách cư xử gương mẫu và học đường. Đó la một cõi chói sáng, minh bạch và sạch sẽ, những cuộc nói chuyện dịu dàng, những bàn tay rửa sạch, áo quần tươm tất và những cử chỉ đúng đắn đoan trang. Đây là một thế giới mà trong dó những bài nguyện kinh buổi sáng được xướng lên và lễ Giáng sinh được cử hành. Những vạch thẳng và các con đường mòn đưa đến tương lai; ở đó là bổn phận và tội lỗi, lương tâm hư nguy và sự thú tội, sự khôn ngoan và những lời lẽ của Thánh kinh. Nếu người ta muốn một đời sống trật tự và trong trắng, người ta tin cậy được trong việc liên kết với thế giới này.

    Tuy nhiên, cái cõi khác đã phủ lên nửa căn nhà của chúng tôi thì hoàn toàn khác hẳn; cõi ấy có một mùi vị khác, nói một thứ tiếng khác, hứa hẹn và đòi hỏi những điều khác. Thế giới thứ hai này gồm có những cô gái giúp việc và các công nhân, những câu chuyện ma quái hoang đường, những lời đồn đãi của một vụ xì căn đan. Nó ngự trị bởi một nỗi khủng khiếp dậy lừng âm mưu, hoảng sợ, những điều bí mật, kể cả các lò heo và những nhà tù, những kẻ đệ tử lưu linh và những mụ vợ ngư phủ miệng mồm choen choét, những con bò cái đang đẻ, những con ngựa đang ngã quị gục chết những câu chuyện trộm cướp, sát nhân và tự sát. Tất cả những câu chuyện man rợ và tàn bạo này, những điều hấp dẫn và ghê sợ đã vây quanh chúng tôi, có thể nhận thấy trong lối đi kế bên, căn nhà kế bên. Lính cảnh binh và những chuyến đi lêu lõng bạt mạng, những gã say rượu đánh đập vợ, những cô gái trẻ bị đẩy ra khỏi xưởng làm trong đêm, những bà lão bỏ bùa mê trên người bạn khiến bạn phải ốm, những tên cướp trốn tránh trong rừng, những tên đốt nhà thiên hạ bị cảnh sát địa phương tóm cổ được - bất cứ ở đâu, cái thế giới thứ hai dữ dội này cũng phun trào lên và để lại mùi vị của nó, bất cứ ở đâu, nghĩa là ngoại trừ trong những căn phòng của song thân chúng tôi.

    Và đây là cái thế giới tốt lành. Đó là sư êm ả kỳ diệu và trật tự, sự yên tĩnh và cái tâm lương thiện, sự khoan thứ và yêu thương đã cai quản trong cái cõi này và cũng kỳ diệu là cái cõi còn lại kia nó cũng tồn tại nữa, nó đã gia tăng những sự ồn ào ghê gớm, sự cau có và bạo động mà từ đó người ta vẫn có thể trốn thoát được với một cái nhảy vọt vào trong lòng bà mẹ.

    Lạ lùng xiết bao là cả hai thế giới ấy lại tiếp giáp lẫn nhau, kế cận với nhau ra sao! Chẳng hạn, Lina, cô tớ gái của chúng tôi, khi cô ta ngồi cạnh chúng tôi ở cửa phòng khách tại những buổi đọc kinh buổi chiều, và phụ họa vào cái giọng trong trẻo của cô với bài thánh ca hai bàn tay sạch sẽ của cô đặt trên chiếc yếm, thì cô thuộc về với cha mẹ tôi, thuộc về chúng tôi, thuộc về sự trú ngụ trong ánh sáng và sự hợp lẽ đứng đắn đó. Nhưng sau đấy, trong nhà bếp hoặc trong kho củi, khi cô kể tôi nghe câu chuyện của “người tí hon không đầu”, hay khi cô đôi co với các mụ đàn bà hàng xóm trong tiệm thịt thì cô lại là một người nào khác, thuộc về một thế giới khác, nó bao bọc lấy cô trong một tấm màn huyền nhiệm. Và đấy là điều mà mọi sự đã xảy ra, nhiều hơn hết cả là đối với bản thân tôi ! Không ngờ vực gì nữa tôi thuộc về cái cõi của ánh sáng và sự đúng đắn: tôi là đứa con bé nhỏ của cha mẹ tôi. Nhưng hễ tôi quay lại bất cứ hướng nào thì tôi đều cảm nhận ra cái thế giới khác đó, và hệt như tôi đã từng sống trong cái thế giới khác đó vậy, mặc dù thường khi tôi là kẻ xa lạ đối với cái thế giới ấy và khốn khổ từ nỗi kinh hoàng và một lương tâm bị cắn rứt. Có những lúc khi tôi thật sự thích sống trong một cõi bị ngăn cấm, và rồi quay lại với cái cõi của ánh sáng - cần thiết và tốt lành như có thể được vậy - hầu hết có vẻ như trở lại với một cái gì ít đẹp đẽ hơn, một cái gì khá u ám và chán ngắt. Đôi khi tôi quả quyết một cách tuyệt đối rằng định mệnh của tôi là trở nên giống y như cha mẹ, sáng suốt và có giáo dục, trật tự, ngăn nắp và có địa vị cao như ông bà. Nhưng chí nguyện này có vẻ xa biệt mù và để đạt đến nó có nghĩa là theo đuổi các trường học bất tận, nghiên cứu học hành, trải qua các cuộc khảo sát và thi cử, và con đường này dẫn qua con đường khác đến một cõi tối tăm hơn. Tất cả điều ấy không phải là không thể được mà người ta có thể là một phần của nó và chìm đắm vào trong đó. Đã có những câu chuyện của những đứa con đi lạc lối, những câu chuyện tôi đã đọc với sự say sưa. Những câu chuyện này luôn luôn hình dung sự trở về nhà như một điều khuây khỏa và như một cái gì khác thường mà tôi cảm thấy xác tín rằng nội điều này cũng là đúng, đấy là sự tìm kiếm tuyệt nhất. Tuy vậy, một phần câu chuyện đặt giữa sự xấu và sự mất mát thì mời gọi nhiều hơn bởi sự xa xôi, và -nếu tôi có thể tiếp nhận nó - có những lúc tôi không muốn là Đứa Con Đi Hoang, ăn năn hối hận và được tìm thấy lại. Nhưng chẳng mấy ai dám nghĩ đến điều này và nói ra. Dù sao, chỉ lúc hiện tại như một điềm báo trước, một điều có thể xảy đến tại căn nguyên ý thức của một người. Khi tôi hình dung ra con quỉ đối với bản thân tôi, tôi có thể dễ dàng tưởng tượng ra hắn ở dưới mặt đường, giả vờ che dậy hay không giả vờ che đậy, hoặc ở miền quê xinh đẹp hoặc ở tại tửu quán, nhưng không bao giờ ở nhà với chúng tôi cả.

    Các em gái tôi cũng thuộc về cái cõi của ánh sáng. Đối với tôi thì hình như chúng nó thường có vẻ có cái bản chất quan hệ thân tộc lớn lao hơn cha mẹ tôi: chúng nó ngoan hơn, lịch sự hơn tôi, ít có lỗi hơn tôi nhiều’. Dĩ nhiên chúng nó cũng có những lỗi lầm của chúng nó, chúng nó cũng có những giây phút xấu xa của chúng nó, nhưng những điều này không hề xuất hiện trầm trọng như nó đã xuất hiện với tôi, kẻ thường giao tiếp với sự xấu đến nỗi trở nên bị áp chế và đau đớn và đối với một kẻ mà cái thế giới tối tăm dường như gần hơn như thế. Các em gái tôi, giống như cha mẹ, thì yên thân và lễ phép; nếu tôi có cãi vã gì với chúng nó thì sau đó tôi luôn luôn tự trách mình, cảm thấy y như kẻ bị xúi giục, kẻ phải xin được tha thứ. Bởi việc phạm lỗi với các em gái tôi, tôi đã phạm lỗi với song thân tôi, mà tất cả họ thì tốt lành và tuyệt hơn hết. Có những điều bí mật mà tôi thà là đi chia sẻ với kẻ côn đồ vô lại thấp hèn nhất còn hơn là với các em gái tôi. Vào những ngày yên ổn, khi lương tâm tôi không quấy rầy tôi, thường thường là lúc vui vẻ nô đùa với chúng, để được là con người tốt và đoan trang như chúng vậy và để tôi tự thấy mình ở trong làn ánh sáng cao trọng đó. Việc ấy hẳn giống như một thiên nhần! Đấy là lễ nghi cao nhất mà một người có thể nghĩ đến. Nhưng những ngày như thế thất thường xiết bao! Thường khi vào lúc nô đùa, trong một vài hành động vô hại, tôi trở nên nhiệt thành và ương ngạnh đến nỗi quá sức chịu đựng cho các em gái tôi; những cuộc cãi vã và khó chịu này đã ném tôi vào cái thế như một cơn giận dữ cực độ, khiến tôi trở nên kinh khủng, làm và nói những điều thật tệ hại, những hành vi ấy đã làm khô héo tim tôi dù tôi chỉ nói không thôi. Rồi thì tiếp theo là những giờ hối tiếc cay đắng buồn tẻ, và sự dày vò hối hận, giây phút đau đớn khi tôi khẩn cầu được tha thứ, để lại được hướng dẫn bởi ánh sáng, sự yên tĩnh, lòng biết ơn và niềm vui không chia cách.

    Tôi theo học trường La tinh. Trong lớp tôi học có con ông thị trưởng và con ông chánh sở kiểm lâm; có những lúc hai đứa đến thăm tôi, chơi với tôi tại nhà, và mặc dù hai đứa rất ngỗ nghịch, cả hai chúng nó đều là những phần tử của cái thế giới đúng đắn tốt lành. Thế nhưng điều này không có nghĩa là tôi không dính dấp gì đến một số những đứa học sinh lân cận khác theo học trường công và đối với chúng nó, chúng tôi thường khinh bỉ miệt thị. Chính vì với một trong những bọn nó mà tôi phải bắt đầu câu chuyện của tôi.

    Vào dịp nghỉ lễ nửa ngày - lúc đó tôi chưa đầy mười tuổi - hai đứa bé hàng xóm và tôi đang đi lang thang rong chơi thì có một thằng lớn hơn, một thằng bé lực lưỡng và khỏe mạnh ở trường công, con của một bác thợ may, nhập đoàn với chúng tôi. Cha nó chè chén say sưa và cả gia dinh phải mang tiếng xấu. Tôi đã nghe nói nhiều về Franz Kromer, đã sợ nó, không muốn nó đến với chúng tôi chút nào cả. Cử chỉ tánh tình nó đã có ở người đàn ông nọ, và nó bắt chước dáng đi và giọng nói của các công nhân trẻ ở xưởng. Dưới sự cầm đầu của nó, chúng tôi bò xuống bờ sông bên cạnh cầu và núp dưới nhịp cầu dầu tiên. Nhịp cầu nhỏ hẹp giữa vòm khung cửa chiếc cầu và dòng sông lờ dờ trôi, không có gì cả ngoại trừ cặn bã, mảnh vỡ, những bó kẽm rỉ sét và rác rến khác. Một đôi khi người ta có thể lượm được một vật gì hữu dụng tại đấy. Franz Kromer chỉ bảo chúng tôi cào xới một vùng và đưa nó những gì chúng tôi tìm thấy. Nó sẽ hoặc nhét vào túi hoặc liệng xuống sông. Nó bắt chúng tôi để ý những vật làm bằng chì, đồng và thiếc, tất cả những thứ ấy nó cất kín -cũng có khi lượm được một cây lược cũ làm bằng sừng. Tôi cảm thấy rất khó chịu với sự hiện diện của nó không chỉ vì tôi biết rằng cha tôi sẽ không ưng thấy tôi cặp bè cặp bạn với nó, nhưng một diều giản dị là tôi cũng sợ chính con người nó, nữa, mặc dù tôi vui thú thấy rằng hình như nó chấp nhận tôi và đối đãi với tôi y như với những đứa khác. Nó đưa ra những sự chỉ bảo và chúng tôi thi hành - điều ấy có vẻ giống như một thói quen cũ kỹ, mặc dù đây là lần thứ nhất tôi gặp nó.

    Sau một lúc, chúng tôi ngồi xuống, Franz khạc xuống nước, và nó trông giống như một người đàn ông; nó khạc qua một cái lỗ giữa hàm răng và nhổ trúng bất cứ vật gì nó nhắm đến. Cuộc nói chuyện bắt đầu, và các cu cậu bắt đầu tán hươu tán vượn và tự khen mình về tất cả những thứ chuyện có tính cách số dách một cây của thằng học trò nhỏ và những trò trống mà chúng nó đã thi thố chơi đùa. Tôi giữ im lặng song e rằng rồi sẽ bị chú ý là sự im lặng của tôi có thể đặc biệt làm cho Kromer tức giận. Hai đứa bạn tôi đã bắt đầu lẩn tránh tôi ngay khi Kromer nhập bọn với chúng tôi; Tôi là một kẻ lạ ở giữa bọn chúng và cảm thấy những dáng điệu và quần áo của tôi nó tiêu biểu cho một thứ thách thức. Như một đứa học trò La tinh, đứa con hư hỏng của một người cha giàu có, Franz sẽ không thể nào giống như tôi cho được, và hai đứa khác, tôi đau đớn cảm thấy rằng ít lâu nữa chúng nó sẽ không nhìn nhận và xa lánh tôi.

    Cuối cùng, hoàn toàn bị kích thích, tôi cũng bắt đầu kể một câu chuyện. Tôi phịa ra một câu chuyện dài dòng về một vụ ăn cắp mà tôi thủ vai chính. Tại khu vườn nhà máy xay, tôi nói, cùng với một thằng bạn trong một đêm tôi đã ăn cắp cả một bao trái táo đầy và không phải hạng xoàng đâu mà là thứ trái táo thượng hạng. Giây phút ấy, tìm kiếm nơi ẩn trốn trong câu chuyện này - tôi đã bày đặt và kể câu chuyện một cách tự nhiên đối với tôi. Để khỏi phải rơi vào sự im lặng ngay sau đó, và có lẽ trở nên bị lôi cuốn vào việc tệ hại hơn, tôi phô bầy tất cả khả năng diễn tả của tôi

    Một trong hai đứa chúng tôi, tôi nói tiếp, phải đứng canh chừng trong khi đứa khác leo lên hái táo. Ngoài ra, cái bị đã đầy nặng đến nỗi chúng tôi phải mở miệng túi trút ra để lại bớt phân nửa số táo. Nhưng nửa giờ sau chúng tôi trở lại lấy nốt số còn lại.

    Khi tôi kể hết câu chuyện này tôi đã chờ đợi một sự tán đồng nào đó. Tôi đã kể câu chuyện bằng cái giọng điệu nhiệt thành từ đầu đến cuối và đã say sưa bởi sự hùng biện của tôi. Hai đứa nó vẫn giữ im lặng chờ đợi nhưng Franz thì nhìn tôi một cách tinh quái qua cặp mắt ti hí và hỏi giọng có vẻ dọa nạt.

    “Có thật không đó ?”.

    “Thật”, tôi nói.

    “Đúng thật à ?”.

    “Phải, đúng thật vậy” tôi nhấn mạnh một cách bướng bỉnh trong khi cố nén sự sợ hãi.

    “Mày sẽ chịu thề không ?”.

    Tôi trở nên rất hoảng sợ nhưng lập tức nói chịu.

    “Vậy thì hãy nói : Xin thề có trời tôi không nói dối”.

    “Xin thề có trời tôi không nói dối”.

    “Được, tốt lắm” nó nói và quay mặt đi.

    Bây giờ tôi nghĩ rằng mọi sự đã vừa ý và thích thú khi nó đứng dậy và đi về nhà. Sau khi chúng tôi leo trở lại chiếc cầu, tôi do dự nói rằng tôi sẽ phải đi thẳng về phía nhà tôi.

    “Mày không việc gì vội vàng như thế” Franz cười “Chúng ta sẽ đi cùng một đường có phải không ?”.

    Chậm rãi nó thong thả bước đi và tôi không dám bỏ chạy; thật thế, nó đi về hướng nhà tôi. Khi chúng tôi đã đứng trước căn nhà và tôi đã nhìn thấy cánh cửa trước và cái nắm cửa lớn bằng đồng, mặt trời chiếu vào các cánh cửa sổ và tấm màn trong phòng mẹ tôi, tôi thở ra nhẹ nhõm.

    Khi đó tôi vội vã mở cửa lách mình vào, sắp sửa đóng sầm lại thì khi đó Franz Kromer lách mình vào đằng sau tôi. Trong hành lang lát gạch mát mẻ chỉ sáng lên bởi một cánh cửa sổ đối diện với chiếc sân, nó đứng bên cạnh tôi, nắm lấy tay tôi và nói thật dịu dàng.

    “Này mày, đừng có vội vã như thế”.

    Tôi nhìn nó, khiếp vía. Nó nắm chặt lấy tay tôi giống như một cái kềm vặn. Tôi tự hỏi không biết trong đầu óc nó đang nghĩ gì và nó có thể muốn làm hại tôi hay không.

    Tôi gắng quyết định là bây ,giờ tôi có thể la lên, la thật lớn lên, may ra một người nào đó trên gác có thể nhanh chóng xuống cứu kịp tôi. Nhưng tôi từ bỏ ý nghĩ ấy.

    “Gì thế ?” tôi hỏi. “Mày muốn gì ?”.

    “Không có gì đâu. Tao chỉ muốn hỏi mày một vài câu thôi. Kẻ khác không nên nghe chuyện này”.

    “Ồ, thực à ?” Tao không nghĩ là có bất cứ điều gì nói với mày. Mày biết là tao phải lên gác”.

    Một cách dịu dàng Franz Kromer hỏi.

    Mày biết ông chủ vườn ở cạnh nhà máy xay có phải không?”.

    Tao không chắc. Tao nghĩ rằng tao biết ông chủ máy xay”.

    Franz đã choàng tay quanh người tôi và bây giờ nó kéo sát vào nó đên nỗi tôi phải nhìn sát vào mặt nó cách có vài phân. Cặp mắt gian giảo nó cười một cách ma quái; mặt nó đầy vẻ tàn bạo và có sức thu hút người ta.

    “Được, tao có thể nói với mày đích xác về khu vườn đó. Tao đã biết mấy lần có kẻ nào đã hái trộm táo ở khu vườn đó và ông chủ vườn đã nói là ổng sẽ cho bất cứ người nào hai đồng mã khắc (marks) nếu chỉ cho ổng kẻ hái trộm táo”.

    “A, trời ơi !” tôi kêu lên. “Mày sẽ không làm việc ấy có phải không ?”.

    Tôi cảm thấy vô ích việc gọi đến ý thức danh dự. Nó đến từ một thế giới khác: sự bội phản đối với nó không tội lỗi gì. Tôi đã ý thức rõ ràng việc này: bọn người ở thế giới khác không giống như chúng ta trong những vấn đề này.

    “Không nói gì cả à?”. Kromer cười. “Nhóc con, mày tưởng tao như thế nào ? Mày nghĩ tao là nhà đúc tiền à? Tao nghèo lắm, tao không có một người cha giàu sang như mày và nếu tao có thể kiếm được hai đồng mã khắc bằng bất cứ cách nào thì tao cũng không từ nan. Có lẽ lão chủ vườn sẽ cho tao nhiều hơn nữa đấy”.

    Bỗng nhiên hắn lôi tôi đi. Hành lang không còn hương vị yên tĩnh và an toàn, thế giới xung quanh tôi bắt đầu đổ vỡ. Hắn sẽ lôi tôi đến nạp cho cảnh sát! Tôi là một tội phạm, cha tôi sẽ được báo tin, có lẽ cảnh sát sẽ đích thân đến. Tất cả nỗi hoảng sợ tình trạng lộn xộn đe dọa tôi, mọi sự xấu xa và nguy hiểm đã hợp nhất chống lại tôi. Bỗng nhiên ách giữa đàng mang vào cổ!

    Những giọt lệ giàn giàn trong mắt tôi. Tôi cảm thấy tôi phải đương đầu với một cuộc mặc cả và một cách vô vọng tôi lục soát tất cả túi áo quần tôi. Không có dù chỉ là một trái táo, không có dao con, tôi không có gì cả. Tôi nghĩ đến chiếc đồng hồ của tôi, một chiếc đồng hồ bằng bạc cũ kỹ đã chết máy mà tôi đeo như một trò chơi. Chiếc đồng hồ này là của bà ngoại tôi. Tôi vội vàng tháo nó ra.

    Tôi nói :“Tao sẽ cho. Làm thế không đẹp đẽ gì. Tao sẽ cho mày chiếc đồng hồ của tao như một quà tặng, đây này, xem đi… Nếu mày không lấy tao cũng không có gì nữa cả. Mày có thể có chiếc đồng hồ, nó làm bằng bạc và kim chạy, à, nó hơi sai trật chút đỉnh gì đó’ mày chỉ sửa nó lại thôi”.

    Nó mỉm cười và ‘cầm chiếc đồng hồ trong lòng bàn tay nó. Tôi nhìn tay nó và cảm thấy nó tàn ác va thù nghịch sâu xa với tôi biết bao, làm thế nào nó đã túm lấy cuộc sống và sự yên tĩnh của tôi.

    “Bằng bạc đấy”, tôi nói giọng do dự.

    “Tao lấy làm gì cái đồng hồ bạc lạc son của mày”, nó nói giọng khinh bỉ. “Mày hãy sửa lấy”.

    “Nhưng, Franz !” tôi kêu lên, run rẩy với nỗi e sợ là nó có thể chạy đi. “Hãy đợi, đợi một chút thôi mà. Tại sao mày không lấy chiếc đồng hồ. Thực thà thì cái đồng hồ bằng bạc chính cống mà. Và tao cũng không có món nào khác nữa cả”.

    Nó ném tôi một cái nhìn khinh miệt lạnh lùng.

    “Được rồi, mày biết tao sẽ đi đến người nào rồi mà. Hay là tao có thể đến cảnh sát cũng chưa biết chừng… tao bắt bồ với một thầy đội”.

    Nó quay lại như thể bỏ di. Tôi níu lấy tay áo nó. Tôi không thể nào để cho nó đi. Tôi thà chết còn hơn là phải khốn khổ với những cái gì có thể xảy ra nếu để nó đi như nó đã nói.

    “Franz” tôi nài nỉ giọng lạc đi với sự lo lắng “đừng có làm bất cứ điều gì rồ dại. Mày chỉ nói đùa, có phải không ?”.

    “Phải, tao đùa, nhưng nó có thể biến thành một trò đùa đắt giá đấy”.

    “Thì hãy nói với tao tỉ như những gì tao phải làm, Franz. Tao sẽ làm bất cứ điều gì mày yêu cầu”.

    Nó nhìn tôi từ đầu đến chân với cặp mắt ti hí của nó và lại cười.

    “Đừng có đần độn như thế”, nó nói với giọng khôi hài giả dối. “Mày biết rõ cũng như tao là tao ở trong cái thế kiếm được hai đồng mã khắc. Tao không phải là một người giàu có đủ tiền để có thể vứt bỏ hai đồng đó đi, nhưng mày thì giàu sang - mày lại còn có cả chiếc đồng hồ nữa mà. Hết thảy điều mày phải làm là dưa cho tao hai đồng mã khắc, được thế thì mọi sự sẽ xuôi dầm mát mái chẳng có gì ráo”.

    Tôi đã hiểu lý luận của nó. Nhưng hai đồng mã khắc! Bấy nhiêu đó cũng nhiều như mươi, như cả trăm cả ngàn đồng không làm sao có được. Tôi không có lấy nửa xu. Mẹ tôi có giữ cho tôi một con heo đất. Khi mấy người bà con đến thăm họ sẽ ném vào đấy năm hoặc mười xu. Đó là tất cả tiền bạc mà tôi có được. Lúc dó tôi không được tiền trợ cấp nào cả.

    “Đúng là tao chẳng có, gì cả” tôi nói giọng buồn rầu. “Tao chẳng, hề có tiền bạc nào cả. Nhưng tao sẽ đưa mày bất cứ những gì khác tao có. Tao có món đồ chơi người lính Âu châu bằng thiếc và một cái com ba. Hãy đợi tao sẽ đi lấy cho mày”.

    Miệng Kromer vặn lại vẻ chế giễu im lặng. Rồi nó khạc nhổ trên sàn.

    Một cách nghiêm nghị nó nói. “Mày có thể giữ cái món dụ khị của mày. Một cái com ba! Đừng có làm tao điên tiết’! Mày nghe đây, tao cần tiền”.

    “Nhưng tao không có gì cả, tao không bao giờ kiếm được bất cứ đồng nào, tao không thể đào đâu ra”.

    Được rồi, vậy thì ngày mai mày sẽ đưa tao hai đồng mã khắc. Tao sẽ đợi mày sau giờ học ở gần chợ. Tất cả chỉ có thế. Mày sẽ thấy những gì sẽ xảy ra nếu mày không đem tiền theo”.

    “Nhưng tao biết đào đâu ra tiền khi tao không có gì cả ?”.

    “Trong nhà mày thiếu gì tiền. Đó là công việc của mày. Ngày mai sau giờ học. Và tao nói cho mày biết rằng : nếu mày không đem tiền theo… !” Nó ném tôi một cái nhìn trắng giả, khạc nhổ một lần nữa, và biến mất y như cái bóng.

    Tôi không thể nào leo lên thang gác cho được. Đời sống của tôi đã bị tai họa. Tôi nghĩ đến việc bỏ trốn đi và không bao giờ trở lại, hay là tự lao đầu xuống sông. Tuy nhiên, tôi không thể hình dung bất cứ điều gì về việc này thật rõ ràng. Trong bóng tối, tôi ngồi xuống bậc tam cấp cuối cùng ở chiếc cầu thang của chúng tôi, thu mình lại trong sự không tự kềm chế nổi sự đau đớn. Chính tại đấy mà Lina đã nhận thấy tôi đang khóc than khi chị trên thang gác bước xuống với cái bao đi hái củi.

    Tôi ván xin chị đừng nói một lời, rồi tôi leo lên thang gác. Bên phải cánh cửa kiếng cỏ treo chiếc nón của thân phụ tôi và chiếc dù của mẹ tôi; chúng cho tôi một cảm giác gia đình và tiện lợi, và tim tôi chào đón chúng một cách đầy biết ơn, y như Đứa Con Đi Hoang có thể chào đón cái quang cảnh và hương vị xưa cũ quen thuộc. Nhưng đối với tôi hiện giờ tất cả điều đó đã mất, tất cả đã thuộc về cái thế giới sáng sủa rõ ràng của song thân tôi, và tôi, tội lỗi và đã chìm sâu trong một thế giới xa lạ, đã vướng vào những cuộc mạo hiểm và tội lỗi, bị uy hiếp bởi một kẻ thù - bởi sự nguy hiểm, hoảng sợ và hổ thẹn. Chiếc nón và cái dù, sàn nhà đá mài cũ kỹ mà tôi lấy làm thích thú đến như vậy, bức hình lớn trên tường bên trên tủ chén, giọng nói của chị tôi từ phòng ngủ vang đến, tất cả đã biến đổi hơn, quí giá hơn, vui vẻ hơn trước đó hơn bao giờ hết, nhưng chúng đã không còn là một nơi ẩn náu và là một cái gì mà tôi có thể tin cậy được ở đó; chúng đã trở thành một lời trách mắng không thể lầm lẫn được. Không một điều nào của điều này còn thuộc về tôi gì nữa cả, tôi không còn có thể nào dự phần vào trong sự yên tĩnh vui thú đó nữa. Chân tôi đã dính đầy bùn, tôi không thể nào chùi sạch được dù chùi trên tấm thảm; bất cứ nơi nào tôi đi qua tôi cũng bị cái bóng đen theo đuổi mà đối với nó thế giới gia đình này không biết gì cả. Tôi đã có biết bao điều bí mật, tôi thường bị sợ hãi biết bao - nhưng tất cả là trò chơi con trẻ khi đem so sánh những gì tôi mang về nhà với tôi ngày hôm nay. Tôi đã bị quấy rối bởi sự không may, nó đã vội túm lấy tôi đến nỗi rằng mẹ tôi không thể che chở tôi được, vì lẽ rằng bà không được cho biết. Có thể tội lỗi của tôi là ăn cắp hay nói dối - chẳng phải tôi đã giả dối thề thốt với Thượng đế và bất cứ điều gì cho là thiêng liêng đó hay sao? - không quan trọng. Tội lỗi tôi không phải rành rọt tội này tội nọ nhưng ở tại việc bắt tay với ma quỉ. Tại sao tôi đồng lõa? Tại sao tôi vâng lời Kromer - còn hơn là vâng lời cha tôi? Tại sao tôi phịa ra câu chuyện tự kết nối mình vào với tội phạm như thể đó là một hành động anh hùng? Ma quỉ đã vồ bắt lấy tôi kẻ thù ở đằng sau tôi.

    Hiện giờ tôi không sợ chi nhiều những gì sẽ xảy ra vào ngày mai như một điều kinh khủng nhất định của đời tôi, từ đây trở đi nó sẽ dẫn dắt xa hơn vào nơi tăm tối. Tôi cảm thấy rõ ràng là những tội lỗi mới nhất định tránh được điều lăng nhục này, rằng sự hiện diện của tôi giữa chị tôi, việc chúc tụng và hôn cha mẹ tôi là một điều dối trá, rằng tôi đã che đậy một đời sống dối trá sâu xa trong con người tôi.

    Trong một giây phút, hy vọng và tự tin bừng lên trong tôi khi tôi thoáng thấy cái nón của cha tôi. Tôi sẽ nói với người tất cả mọi sự, sẽ chấp nhận sự phán xét và trừng phạt của người, và sẽ làm cho người thành ra kẻ rửa tội và đấng cứu nạn của tôi. Điều ấy sẽ chỉ là một sự tự trừng phạt vì hối hận, đấy là điều tôi thường hay làm, một giờ khốn khổ khó khăn, một sự cầu khẩn tha lỗi vất vả đáng thương.

    Điều dụ hoặc ấy dịu dàng xiết bao! Nhưng vô ích. Tôi biết là tôi sẽ không làm được. Tôi biết bây giờ. tôi đã có một điều bí mật, một tội lỗi mà tôi sẽ phải đền tội một mình. Có lẽ tôi đang đứng ở ngã ba đường, có lẽ giờ đây tôi sẽ thuộc về kẻ độc ác mãi mãi, chia sẻ những điều bí mật của chúng, tùy thuộc vào chúng, vâng lời chúng, phải trở nên một trong những thứ loại của chúng. Tôi đã đóng vai người lớn và anh hùng, giờ đây tôi phải gánh chịu cái kết quả của việc làm ấy.

    Tôi vui mừng khi cha tôi chỉ trích đôi giầy ống dính bùn của tôi. Sự chuyển hướng chú ý của người bởi việc tránh sang một bên vấn đề thực sự đã đặt tôi vào một vị trí chịu đựng những lời khiển trách mà bằng một cách bí mật tôi có thể chuyển sang việc khác tội lỗi nghiêm trọng hơn. Ở điểm này, một cảm giác mới mẻ kỳ lạ tràn ngập trong tôi, cái cảm giác đã nung nấu trong người tôi một cách vui vẻ: tôi cảm thấy đặc biệt hơn đối với cha tôi! .Chỉ trong một chốc lát thôi tôi cảm thây một sự quả quyết không ưa về việc không biết gì của người. Việc người mắng tôi về đôi giầy bị dính bùn có vẻ đáng thương hại- Câu “nếu ông biết một việc thôi” thoáng qua đầu óc tôi khi tôi đứng đó y như một kẻ phạm tội, bị cật vấn về tội ăn cắp ổ bánh mì trong khi đó tội trạng hiện phạm phải của tôi là sát nhân… Đó là một cảm giác thù địch, khả ố, nhưng nó chắc chắn và có sự hấp dẫn một cách sâu xa, và nó đã buộc chặt tôi hơn bất cứ việc gì khác đối với sự bí mật và lỗi lầm của tôi. Tôi nghĩ hiện giờ Kromer có thể đã đến cảnh sát tố cáo tôi, cái chuyện động trời ấy đang thành hình trên đầu tôi, trong khi đó tất cả những lúc này họ vẫn tiếp tục đối xử tôi như một đứa bé con.

    Biến cố này là giây phút quan trọng nhất và kéo dài ra cái toàn bộ kinh nghiệm. Đó là một lỗ thủng đầu tiên trong cái hình ảnh thiêng liêng của cha tôi, nó cũng là cái vết nứt rạn đầu tiên trong các trụ cột đã từng chống đỡ tuổi thơ của tôi mà mỗi cá nhân phải phá hủy trước khi hắn có thể trở nên chính con người của hắn! Phần nội tâm sâu xa, bản chất cốt yếu của định mệnh chúng ta gồm có những sự thử thách không lường được như thế. Những vết nứt rạn và những lỗ thủng như thế lại cùng nẩy nở, hàn gắn và rồi bị quên lãng, nhưng trong những chỗ kín đáo nhất chúng vẫn tiếp tục sinh sôi nẩy nở.

    Lập tức tôi cảm thấy một điều hoảng sợ như thế ở cái cảm giác mới mẻ, rằng tôi có thể quì xuống trước mặt cha tôi và hôn bàn chân người để xin tha tội. Nhưng người ta không thể nào xin lỗi cho một việc gì thực quan trọng, và một đứa bé cũng cảm thấy và hiểu biết điều này một cách sâu xa cũng như bất cứ một kẻ khôn ngoan nào.

    Tôi cảm thấy cần thiết đưa ra một vài ý tưởng cho cái cảnh ngộ mới mẻ của tôi, để suy xét những gì tôi sẽ làm vào ngày mai. Nhưng tôi không tìm ra thì giờ. Suốt cả buổi chiều tôi bận rộn với việc thay đổi quang cảnh trong phòng ngủ của chúng tôi. Đồng hồ treo tường và bàn ghế, thánh kinh và gương soi, kệ sách và các bức tranh treo trên tường đã bỏ tôi ra đằng sau: tôi bắt buộc phải quan sát với mối căm hờn trong tim tôi làm sao mà thế giới của tôi, sự tốt lành hạnh phúc, đời sống vô tư lự của tôi đã trở nên một phần của quá khứ, đã rút ra khỏi con người tôi, và tôi bắt buộc phải cảm thấy tôi đã bị buộc chặt vào với những gốc rễ mới ở bên ngoài tôi, với cái thế giới xa lạ tối tăm như thế nào. Bởi vì lần đầu tiên trong đời, tôi đã nếm cái hương vị tử vong, và sự tử vong ấy có cái hương vị cay nghiệt vì tử là sinh, là nỗi e dè hoảng sợ của một vài điều đổi mới kinh hoàng.

    Cuối cùng tôi được hài lòng khi nằm lên giường ngủ. Đúng ngay trước đó, như sự thống khổ cuối cùng của tôi, tôi đã phải chịu đựng lần đọc kinh chiều. Chúng tôi đã hát bài thánh ca mà nó là một trong những điều ưa thích của tôi. Tôi cảm thấy không thể nào hòa hợp vào đấy và mỗi giọng ca làm tôi khó chịu. Khi cha tôi nhấn giọng sự chúc tụng - khi ông chấm dứt với câu : “Chúa hằng ở với chúng ta”, thì một cái gì đã tan vỡ trong người tôi và mãi mãi từ đấy tôi đã không chấp nhận cái giới thân thiết này nữa. Ân sủng Thượng đế là tất cả đối với họ, còn đối với tôi nó không còn gì nữa. Lạnh lùng và mệt nhoài, tôi rời khỏi họ.

    Khi tôi đã nằm trên giường ngủ trong chốc lát, bao phủ bởi sự ấm áp và an toàn của nó, tâm hồn đầy sợ hãi của tôi một lần nữa quay trở lại với sự bối rối và do dự một cách bồn chồn lo lắng bên trên những gì giờ đây đã là quá khứ. Mẹ tôi đã nói lời chúc tôi ngủ ngon như thường lệ. Tôi có thể vẫn còn nghe bước chân của người vang lên bên phòng khác; cây đèn sáp vẫn còn chiếu sáng từng đường nứt trên cánh cửa. Giờ đây, tôi nghĩ bây giờ bà sẽ trở lại một lần nữa, bà đã cảm thấy một việc gì, bà sẽ hôn tôi và hỏi han, hỏi một cách dịu dàng với một hứa hẹn trong giọng nói bà và lúc bấy giờ tôi sẽ khóc, rồi sự nghẹn ngào trong cổ tôi sẽ vỡ ra, tôi sẽ choàng tay ôm người, và rồi tất cả sẽ đâu vào đấy tôi sẽ được cứu thoát! Và ngay cả sau khi đường nứt của cánh cửa chìm vào bóng tối tôi vẫn tiếp tục nghe ngóng và chắc chắn một cách giản dị rằng điều ấy sẽ phải xảy ra.

    Lúc bấy giờ tôi quay trở lại với những khó khăn của tôi và nhìn thẳng vào mặt kẻ thù của tôi. Tôi có thể thấy rõ ràng, một con mắt nhấp nháy, miệng nó vặn lại thành ra cái mỉm cười tàn ác, và trong khi tôi nhìn nó, càng lúc càng trở nên xác tín không thể tránh khỏi rằng nó càng to lớn hơn và xấu xí hơn và cặp mắt nham hiểm của nó thắp sáng với ánh phản chiếu vẻ tàn ác. Hắn ở ngay sát bên tôi cho đến khi tôi ngủ, tuy vậy tôi không hề mộng thấy nó cũng không thấy những gì đã xảy ra ngày hôm đó. Thay vì tôi mộng thấy song thân, chị tôi và tôi đang ở trên một chiếc thuyền trôi bềnh bồng, xung quanh vầy phủ bởi một sự tuyệt đối yên tĩnh và ánh sáng rực rỡ của ngày nghỉ lễ. Vào giữa đêm tôi thức giấc với dư vị của giấc mơ vui thú này. Tôi vẫn còn có thể thấy bộ quần áo mùa hè trắng tinh của chị tôi sáng long lanh dưới ánh mặt trời khi tôi từ chốn thiên đàng rơi trở lại thực tế, lại đối diện với kẻ thù với cặp mắt quái ác của nó.

    Sáng hôm sau, khi mẹ tôi chạy vào phòng kêu lên rằng đã trễ giờ rồi mà tại sao tôi vẫn còn nằm trên giường ngủ, tôi có vẻ bị đau ốm. Khi người hỏi tôi có điều gì bất tường chăng, tôi đã nôn mửa ra.

    Việc này có vẻ có một cái gì ích lợi. Dù ốm nhẹ tôi cũng được cưng chìu, được phép nằm trên giường suốt buổi sáng, được uống trà ướp hoa cam cúc, nghe mẹ tôi dọn dẹp các phòng bên cạnh hoặc Lina giao dịch với người hàng thịt ở phòng trước. Những buổi sáng không phải đến trường có vẻ vui thú, giống như một câu chuyện thần tiên; ánh mặt trời nhảy múa trong phòng không giống với ánh mặt trời không cho lọt vào lớp học khi các tàng cây xanh biết bao phủ hạ thấp xuống. Tuy vậy ngày hôm nay cả đến điều này cũng không đem đến cho tôi sự vui thích nào cả : về điều đó có một cái gì giả dối không thực.

    Giá tôi có thể chết đi! Nhưng như thường trước đây tôi chỉ hơi không được mạnh giỏi và không cần phải giúp đỡ, việc đau ốm của tôi khiến tôi khỏi đến trường học nhưng không tránh khỏi Franz Kromer vì nó vẫn đợi tôi vào lúc 11 giờ ở chỗ chợ. Và sự âu yếm của mẹ tôi thay vì an ủi vỗ về tôi lại hóa ra là một sự quấy rầy bực bội. Tôi làm bộ ngủ để được một mình suy nghĩ. Nhưng tôi có thể thấy không có lối thoát. Mười một giờ tôi phải có mặt ở chợ. Vào lúc mười giờ tôi lặng lẽ mặc quần áo vào và nói là tôi cảm thấy dễ chịu. Câu nói như thường lệ ở trường hợp này là: trở lại giường nằm hay là phải đi học vào buổi chiều. Tôi nói tôi sẽ vui sướng được đi học. Tôi đã bắt đầu một kế hoạch trong đầu.

    Tôi không thể nào gặp Kromer mà không có tiền cho được. Tôi phải lấy con heo đất của tôi. Tôi biết là nó không mảy may đựng đủ số tiền, tuy vậy nó có chút ít và tôi cảm thấy rằng có chút ít còn hơn không có gì cả, và điều ấy ít ra có thể làm cho Kromer yên tâm

    Tôi nhón gót lẻn nhẹ vào phòng mẹ tôi một cách tội lỗi và lấy con heo đất ra khỏi tủ của người; tuy vậy no không bằng một nửa những gì là chuyện xấu xa đã xảy ra ngày hôm qua với Kromer. Tim tôi đập liên hồi đến nỗi tôi cảm thấy mình có thể bị nghẹn thở. Nó làm cho tôi không dễ dàng đứng dậy được khi tôi nhận thấy bực tam cấp dẫn xuống nhà dưới rằng con heo đất đã bít miệng lại. Đập ra mà lấy thì việc dễ dàng rồi việc đó chẳng khó khăn gì; nhưng đập vỡ nó ra thì hư mất, nội cái điều này đa làm tôi là kẻ thực sự phạm tội ăn cắp rồi. Cho đến lúc đó tôi đã ăn cắp vài cục đường hoặc vài trái cây : lần này phạm tội ăn cắp nghiêm trọng hơn, dù tôi chỉ ăn cắp tiền của tôi… Tôi có cảm giác mình đã bước một bước gần hơn đến Kromer và thế giới của nó ra sao, làm thế nào từ chút một tất cả đã kéo tôi xuống dốc với nó. Tôi bắt đầu cảm thấy bướng bỉnh; một liều ba bảy cũng liều! Hiện giờ không có đường tháo lui. Một cách nóng nảy tôi đếm số tiền. Tuy trong con heo đất có vẻ là có rất nhiều, nhưng chỉ có chút ít nằm trên tay tôi một cách đau khổ : 65 xu phần trăm đồng mã khắc. Tôi giấu con heo đất trên sàn từng dưới, nắm chặt số tiền trong tay tôi,và bước ra khỏi nhà, cảm thấy nhiều điều khác lạ mà trước đây tôi chưa bao giờ cảm thấy khi tôi đi qua cổng. Tôi nghĩ là có nghe thấy một người nào từ trên thang gác gọi theo tôi nhưng tôi vội đi nhanh.

    Còn khối thì giờ mới đúng giờ hẹn. Cạnh một con đường rất quanh co khúc khuỷu, tôi len lỏi qua các ngõ hẻm của một thành phố biến đổi, đi qua những căn nhà sừng sững và thiên hạ nhìn tôi với cặp mắt ngờ vực. Lúc bấy giờ tôi chợt nảy ra cái ý muốn của thằng bạn học một lần đã lượm được một đồng tiền Đức xưa ở chợ gia súc. Tôi sẽ bằng lòng quì gối xuống và cầu nguyện Thượng đế thi hành phép lạ và cho tôi lượm được vật tương tự. Song tôi đã đánh mất cái quyền cầu nguyện, vả chăng, việc hàn gắn lại con heo đất sẽ đòi hỏi một phép lạ thứ hai.

    Franz Kromer từ đằng xa đã nhận ra tôi, nhưng nó la tôi là không lẹ làng và có vẻ không để ý tới tôi. Khi nó đến gần kề tôi, nó hống hách ra dấu tôi đi theo nó, và không một lần ngoảnh lại nó lặng lẽ đi xuống con đường mòn bờ ruộng và băng qua chiếc cầu khỉ nhỏ cho đến khi nó dừng lại trước một dinh thự ở ngoại ô. Không có người thợ nào ở đó cả, các bức vách trơ trọi, những cánh cửa lớn và cửa sổ thì trống không chưa gắn vào. Kromer ném cái nhìn xung quanh, đoạn đi qua cổng vô trong nhà và tôi bước theo nó. No dừng lại phía sau một bức vách, ra dấu cho tôi và đưa tay ra.

    “Mày có kiếm được không?” nó hỏi giọng hờ hững.

    Tôi mò túi lấy số tiền ra và ngửa tay ra bỏ hết xuống đất. Do vậy nó đã đếm trước khi một đồng xu phần trăm mã khắc cuối cùng rơi xuống kêu leng keng.

    “Đó là 65 xu phần trăm đồng mã khắc”, nó nói và nhìn tôi.

    “Phải” tôi nói giọng nóng nảy. “Đó là tất cả số tiền tao có. Tao biết nó không đủ, nhưng tao chỉ có bấy nhiêu đó thôi”.

    “Tao nghĩ mày là thằng thông minh nhiều mà” nó mắng mỏ giọng gần như dịu dàng. “Giữa những người biết điều mày phải làm việc phải chứ”.

    “Tao không muốn lấy ở mày bất cứ những gì không đủ số- tiền. Mày nên biết điều đó. Hãy lấy những đồng xu của mày đi, đó! Một người khác - mày biết người ấy là ai - sẽ không cố hạ giá. Hắn trả đủ”.

    “Nhưng thật ra tao không có một đồng xu nào khác. Đó là tất cả số tiền trong con heo đất của tao”.

    “Đấy là việc của mày. Nhưng tao không muốn làm mày khốn khổ. Mày còn nợ tao một đồng mã khắc và 35 xu phần trăm. Khi nào thì tao có số tiền ấy ?”.

    “A, mày phải cho biết chắc chớ Kromer. Hiện giờ tao không biết chắc chắn khi nào thì có - có lẽ tao sẽ có nhiều hơn ngày mai hay ngày mốt. Mày biết mà, có phải không, là tao không thể nào hé môi nói một lời với cha tao về việc ấy”.

    “Việc ấy không ăn nhập gì đến tao. Tao không làm gì hại mày. Tao có thể có số tiền của tao trước bữa ăn trưa nếu tao muốn, mày biết đó, tao thì nghèo. Mày mặc bộ đồ đắt tiền và mày được nuôi nấng đầy đủ hơn tao. Nhưng tao sẽ không nói gì. Tao có thể chờ đợi một chút, ngày mốt tao sẽ huýt gió cho mày. Mày biết tiếng huýt gió của tao như thế nào chớ, có phải không ?”.

    Nó cho tôi nghe tiếng huýt ấy. Tiếng huýt ấy tôi đã có nghe từ trước.

    “Vâng”, tôi nói “Tao biết rồi”.

    Nó rời bỏ tôi như thể là nó không hề thấy tôi trước đấy. Đó là công việc thương lượng giữa hai chúng tôi, không có gì khác nữa.

    Tôi nghĩ rằng tiếng huýt gió của Kromer sẽ làm khiếp đảm tôi ngay cả hôm nay nếu bất thần tôi nghe lại nó. Từ nay trở đi tôi phải nghe nó lặp đi lặp lại nhiều lần; đối với tôi dường như lúc nào tôi cũng nghe thấy tiếng huýt ấy cả. Không có một nơi độc nhất nào, không một trò chơi đơn độc nào, không một hoạt động nào, ý nghĩ nào, mà tiếng huýt này không thâm nhập vào, tiếng huýt ấy làm tôi nô lệ nó, nó đã trở thành vận số của tôi. Thường khi tôi sẽ đi vào khu vườn hoa nhỏ của chúng tôi, nơi tôi lấy làm thích thú vào những buổi chiều thu đầy sắc màu êm dịu, và một sự giục giã lạ lùng kích thích tôi một lần nữa lại vui chơi những trò chơi con trẻ của những năm thơ ấu của tôi; tôi đang nô đùa, có thể nói rằng, có một phần của kẻ nào trẻ trung hơn chính con người tôi, một kẻ nào vẫn còn tốt lành và tự do, ngây thơ và an toàn. Nhưng mà ở khoảng giữa cái điều này - luôn luôn mong đợi cái gì, song mỗi lần một cách bất ngờ dễ sợ - từ một nơi. nào đó tiếng huýt gió của Kromer sẽ vang lên phá hủy cuộc vui, đè bẹp những mộng tưởng của tôi. Lúc bấy giờ tôi sẽ phải rời bỏ khu vườn để đi theo tên hành khổ độc ác của tôi, đi đến những nơi xấu xa, nơi tôi sẽ phải bày tỏ với nó tình trạng tài chánh đáng thương của tôi và chính tôi không có tiền đâu trả. Có lẽ nguyên câu chuyện ngẫu nhiên này xảy ra đã nhiều tuần lễ song đối với tôi nó có vẻ như những năm dài vô hạn Thường chẳng mấy khi tôi có tiền bạc gì, nhiều nhất một tờ giấy năm hoặc mười phần trăm đồng mã khắc ăn cắp trên bàn nhà bếp, khi Lina để cái giỏ xách đi chợ nằm đâu đó. Mỗi lần gặp nó Kromer đã mắng nhiếc tôi, càng lúc càng trở nên khinh miệt: tôi đã lừa gạt nó, tước đoạt của nó những gì là hợp pháp của nó tôi đã ăn cắp của nó, làm nó khốn khổ! Trong đời tôi chưa bao giờ tôi cảm thấy lo lắng băn khoăn đến như vậy, chưa bao giờ tôi cảm thấy nhiều vô vọng nhiều nô lệ hơn vậy.

    Con heo đất tôi đã nhét đầy tiền giả và đặt lại vào ngăn tủ của mẹ tôi. Không ai hỏi tôi về nó. nhưng một cái việc có thể xảy ra đó có lẽ không bao giờ rời khỏi ý nghĩ của tôi. Những gì làm tôi khiếp vía còn hơn là tiếng huýt gió tàn bạo của Kromer ấy là bước chân của mẹ tôi bước đến tôi - có phải bà đến để cật vấn về con heo đất chăng ?

    Bởi tôi đã gặp kẻ hành khổ tôi nhiều lần tay không, nó bắt đầu tìm ra những phương thức khác để cư xử và hành hạ tôi. Tôi phải phục vụ nó. Nó phải chạy đi mua bán các thứ cho cha nó; tôi phải làm những việc ấy cho nó. Hoặc nó sẽ yêu cầu tôi trình diễn một vài hành động khó làm: nhảy nhót trong mười phút bằng một chân, ghim mảnh giấy vào áo một người đi qua đường. Nhiều đêm trong những giấc mộng tôi đã cẩn thận làm những việc hành xác này và nằm đó mình mẩy ướt đẫm mồ hôi trong cơn ác mộng.

    Có lúc tôi thực sự trở nên đau ốm. Tôi thường ọe mửa và chấm dứt với những cơn lạnh thường xảy ra luôn nhưng về đêm tôi sẽ bị nóng sốt và tháo mồ hôi. Mẹ tôi cảm thấy có một cái gì bất thường và rất ân cần âu yếm nhưng điều này chỉ làm cho tôi khổ thêm mà thôi vì lẽ rằng tôi không thể nào đáp lại bằng sự giải bày tâm sự với bà.

    Một đêm sau khi tôi đi ngủ bà mang cho tôi một miếng kẹo sô cô la. Việc ấy làm cho tôi nhớ lại những năm trước đây nếu khi nào tôi ngoan ngoãn thì tôi sẽ nhận được phần thưởng như thế trước khi tôi đi ngủ, giờ đây bà đứng đó và cho tôi miếng kẹo sô cô la, cái cảnh tượng thật não nề đến nỗi tôi chỉ gật đầu thôi. Bà hỏi tôi có gì chẳng lành và khẽ vuốt tóc tôi. Tất cả điều tôi có thể trả lời là. “Không, không! con không muốn gì cả!”. Bà để miếng kẹo sô cô la lên bàn ngủ của tôi và đi ra, sáng hôm sau, khi bà muốn hỏi về thái độ của tôi đêm rồi, tôi giả vờ quên hết câu chuyện xảy ra lúc đó, một lần nữa bà đem bác sĩ đến, ông khám bệnh và bảo tôi bị cảm lạnh vì tắm vào buổi sáng.

    Tình trạng của tôi lúc đó là một thứ mất tinh thần. Ở giữa sự yên tĩnh ngăn nắp của gia đình chúng tôi; tôi sống trong nỗi khổ đau thẹn thùng như một bóng ma; tôi không dự phần vào cuộc sống của những người khác, có lúc tự quên mình cả giờ đồng hồ. Đối với cha tôi, người thường khêu gợi và hỏi tôi có chuyện gì chăng, thì tôi hoàn toàn lạnh lùng.
     
    teacher.anh and svcntnk42a1 like this.
Moderators: teacher.anh

Chia sẻ trang này