Hoàn thành NC-17 Vượt thời gian - Linda Howard

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi Nguyễn Hằng, 8/12/14.

  1. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 12

    Nikita không đói nhưng món súp rất dễ chịu, và hệ thống điều hoà trong ngôi nhà được đặt ở chế độ hơi lạnh đối với cô, vì thế món súp nóng được hoan nghênh gấp bội. Họ ngồi ở chiếc bàn gỗ được chạm khắc trong bếp và múc nước sốt và mì béo ngậy – với vài miếng gà nhỏ được trộn lẫn trong nước sốt để khẳng định cái tên của món này – ra khỏi chiếc tô màu xanh kiểu cách. Anh đã gần như ăn hết bát của mình khi chiếc bộ đàm bắt đầu cất tiếng.

    Với một biểu hiện mệt mỏi, anh lắng nghe mã của vụ việc, và cầm chiếc bát và thìa của anh lên rồi cầm chúng đến bồn rửa, đổ nốt chỗ súp còn thừa vào máy nghiền thức ăn thừa, sau đó vặn nước và nhấn nút. “Tôi phải đi bây giờ,” anh nói một cách không cần thiết, “Hãy ở nguyên trong nhà và đừng trả lời điện thoại, trừ khi tôi là người gọi điện.” Anh viết lại số của anh trên một tờ giấy và đẩy nó về phía cô. “Nếu số này không hiện trên màn hình xác nhận số người gọi đến, thì đừng trả lời.”

    “Được rồi,” Nikita nói. Công nghệ như thế này khá là quen thuộc ở thời đại của cô.

    Anh dừng lại trên đường đi ra cửa và quay lại nhìn cô. “Liệu cô có còn ở đây khi tôi quay lại không?”

    “Đương nhiên,” cô nói thẳng, nuốt xuống cơn giận khi anh cảm thấy phải hỏi câu hỏi thừa thãi ấy. “Tôi vẫn có một nhiệm vụ phải hoàn thành, và tôi cần sự trợ giúp của anh để làm điều đó.”

    Anh gật đầu và lại bắt đầu bước ra hướng cửa, chỉ để dừng lại một lần nữa. “Chết tiệt” anh lầm bầm trong hơi thở, sải bước quay trở lại phía cô. Giật mình, cô tự hỏi không biết anh có định nhồi cô vào cốp sau xe anh, hay còng tay cô vào khung giường; cô thả chiếc thìa xuống và đẩy lùi chiếc ghế lại đằng sau, nhổm người dậy và sẵn sàng chiến đấu với anh.

    Thay vì vậy, anh cúi xuống, đặt tay trái lên bàn và ôm lấy phía sau đầu cô, và khép miệng anh trên miệng cô.

    Ah, cô nghĩ với một sự ngạc nhiên nho nhỏ. Sau đó: Ồ

    Anh đang từ tốn, rất từ tốn, và cẩn thận – cực kỳ cẩn thận. Lưỡi anh cuộn lại trong miệng cô như một người bạn cũ, chắc chắn về việc mình được chào đón. Cô đặt tay mình lên tay anh trên bàn và anh ngửa tay lên, ôm lấy tay cô, và đan tay họ vào nhau.

    Một tiếng rên nhẹ thoả mãn, trầm thấp, nghe giống một tiéng thở dài ngân lên từ cổ họng cô. Tất nhiên là cô đã chú ý – vài lần – là anh hấp dẫn đến thế nào, nhưng trừ một lần bị lỡ lời đó ra, cô nghĩ là cô đã che giấu được ý nghĩ của chính mình khá tốt. Hoặc tính cách trầm lặng của anh đã làm cô bị che mắt trước sự tự tin và táo bạo của anh, hoặc cô đã trở nên dễ bị nhìn thấu tâm trạng với sự biết ơn dành cho anh.

    Cô kết thúc nụ hôn một cách chậm rãi cũng như cách anh kéo dài nó, chỉ dần dần tách ra khỏi anh. Đôi mắt của anh sụp xuống với đam mê, và mí mắt của cô cũng cảm thấy nặng nề.

    “Anh có nghĩ là một nụ hôn sẽ giữ tôi ở đây không?” cô hỏi, giọng trầm thấp.

    Anh chặc lưỡi trong khi đứng thẳng lên. “Không, nhưng anh chắc chắn là muốn biết em có vị ra sao phòng khi em tách ra.”

    Tách ra? Anh nghĩ là cô có khả năng phân tách bản thân à? Cô không biết có phải anh đang có sự liên tưởng thô tục, kinh tởm hay anh đang nghĩ rằng cô có thể không sống sót được qua nhiệm vụ này và qua một vụ tấn công của tia laze khiến nạn nhân của nó trông như bị xẻ làm đôi, nhưng dù thế nào đi nữa thì......

    Anh cười phá lên. “Giá như mà cô nhìn thấy mặt mình lúc này nhỉ”

    “Vậy thì mắt tôi phải quay ngược vào trong.”


    “Tách ra – ý tôi là “rời đi,” anh giải thích, vẫn đang cười khúc khích trên đường ra ngoài cửa.

    Nikita ngồi tại bàn, đang tự hỏi cô đã bỏ qua ý nghĩa của những cụm diễn đạt mang tính thành ngữ bao nhiêu lần rồi, và liệu anh có nghĩ cô là một con ngốc không. Sau đó cô cũng cười khẽ với bản thân, vì ai mà quan tâm cơ chứ? Anh biết tại sao cô không hề quen thuộc với tất cả những cụm diễn đạt mà anh đã dùng. Một vài trong số chúng, nói một cách chính xác là vậy, chứ không phải tất cả. Anh có lẽ đã cười cô cả ngày rồi.

    Cô không muốn ăn thêm súp nữa, vì vậy cô mang chỗ súp của cô đến bồn rửa và bắt chước những gì anh đã làm; đổ chỗ súp xuống ống nước, bật nước lên, và bật cái nút tạo ra cái tiếng nghiền khủng khiếp. Khi âm thanh thay đổi, trở nên hơi êm ái hơn, cô tắt cái nút đó đi và sau đó là vòi nước.

    Anh có lẽ có một trong những chiếc máy rửa bát tự động đang rất phổ biến trong thế kỷ này, nhưng cô không muốn thúc ép vận may của mình quá nhiều. Cho đến khi cô nhin thấy anh vận hành chiếc máy đó, cô sẽ để nó yên. Thay vào đó, sau khi lục lọi dưới bôn rửa, và tìm thấy một chiếc chai nhựa có ghi “chất tẩy rửa bát đĩa”, cô đã quyết định rửa bát bằng tay, sử dụng một chiếc bàn chải cứng bằng lông dường như nằm đó với mục đích giúp cho việc rửa bát. Sau đó cô tìm thấy một cái khăn bếp sạch và trải ra trên quầy bếp, sau đó úp ngược những chiếc đĩa lên đó cho khô.

    Sau khi đã xong nhiệm vụ bếp núc, cô quyết định tận dụng sự vắng mặt của anh bằng cách đi xem xét nhà anh một cách cẩn thận. Nếu anh nghĩ rằng cô lịch sự đến nỗi bỏ lỡ cơ hội được khám phá một ngôi nhà nửa đầu thế kỷ hai mốt, thì sự trông đợi của anh còn xa mới đúng với thực tế.

    Cô bắt đầu với căn phòng nhỏ phía đằng sau, nơi hai chiếc máy trắng to đùng chiếm hết cả không gian. Cô nghĩ cô biết chúng là gì, và bằng cách đọc rất nhiều lựa chọn trên thân máy, cô biết rằng cô đã đúng. Chiếc máy có những lựa chọn tương tự như “Quick Wash” phải là một chiếc “máy giặt”, được dùng để giặt quần áo. Không ai trong thời kỳ của cô từng dùng nước để giặt quần áo. Chiếc máy còn lại, phải là máy sấy. Cô mở cả hai cái ra và nhìn vào bên trong. Chiếc giặt đầy ngập một nửa với những chiếc tất, quần áo lót, khô, vì thế cô cho rằng chúng cần giặt và cô nhanh chóng đóng nắp chiếc máy lại. Chiếc máy sấy đầy ngập khăn tắm, và chúng đều khô ráo, nên hiển nhiên là chúng đã được giặt ướt từ trước đó rồi.

    Cô kéo một chiếc khăn ra và ngửi nó; có một mùi chanh dịu nhẹ, ngon lành vấn vương trong những sợi vải. Một mẩu thẻ nhỏ thu hút sự chú ý của cô và cô đọc nó, vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra răng chiếc khăn được làm từ 100% cotton. Cotton! Anh có biết rằng nó đáng giá cả một gia tài không? Không, đương nhiên là anh không biết. Chỉ những người giàu, rất rất rất rất giàu có mới có đủ tiền để mặc quần áo làm từ sợi vải tự nhiên. Cotton, lụa, len, lanh – chúng còn quý giá hơn kim cương. Hầu hết vải vóc quần áo trong thời của cô đều làm từ sợi tổng hợp; chắc chắn là tất cả quần áo của cô đều là vậy.

    Chiếc khăn gợi cô nhớ lại bộ máy móc thiết bị dùng cho việc tắm rửa ở nhà nghỉ. Cô đã tìm ra cách sử dụng chúng, và mặc dù một phần trong cô vẫn đang nhặng xị lên với cái ý tưởng dùng nước để tắm, cô vẫn rất thích cảm giác có làn nước ấm nóng chảy tràn trên người. Knox có những thiết bị tương tự trong phòng tắm nhà anh, và sau một ngày trong bộ quần áo này, cộng thêm một thời gian vận động dưới thời tiết nóng nực, cô cần tắm. Thật tiếc là cô không có quần áo sạch để thay, nhưng ngay lúc này cô cảm thấy thoả mãn với việc giũ đi bụi đất và mồ hôi của cả một ngày mệt nhọc.

    Nghĩ xong cô lập tức hành động, cô anh chóng đi vào phòng tắm và khoá cửa lại, sau đó cởi bỏ quần áo. Một trong những ưu điểm của chất liệu bằng sợi tổng hợp là nếu bạn bị mắc mưa, nó sẽ khô rất nhanh, chỉ trong vòng vài phút. Cô nhanh chóng giặt quần áo lót và áo sơ mi của cô, và phơi chúng lên trước khi mở vòi sen. Cô đã có thể giặt hết cả bộ quần áo của mình, nhưng làm việc bằng tay có vẻ khá khó khăn. Nếu Knox không mang chiếc va li của cô về đây, cô sẽ phải giặt quần áo trước khi đi ngủ.

    Sau khi quấn chiếc khăn tắm quanh đầu để giữ khô tóc, cô bước vào dưới làn nước ấm và thở dài vì hạnh phúc. Trong thời đại của cô có lẽ rất tiện dụng, nhưng thời đại này chắc chắn là chiếm ưu thế về một vài mặt nào đó, và tắm bằng nước chắc chắn là một trong số chúng. Số lượng lớn khăn cotton là một điểm khác. Ồ, và cả giấy nữa! Cô nghĩ, gần như trở nên thèm thuồng trước ý tưởng mang một ít giấy về theo – trong trường hợp cô không bị giết, giả sử như SAR đã được gửi đi với những chiếc vòng thay thế để cô có thể về nhà, giả sử như rất nhiều yếu tố khác đều ủng hộ cô.

    Ý nghĩ về mái nhà của cô làm giảm đi sự vui vẻ trong lúc tắm rửa của cô. Cô không thể để bản thân nghĩ rằng cô không thể về nhà nữa. Cô đã có gia đình, bạn bè và một công việc mà cô yêu. Cô rất thân thiết với bố mẹ và cả em gái mình, Fair; em trai cô, Connor, đã làm mọi người kinh ngạc hai năm trước đây khi từ bỏ những ngày độc thân hoàng kim cho đời sống hôn nhân, và anh cùng vợ mình đã nhanh chóng cho ra đời một bé trai mũm mĩm, đáng yêu mà cô vô cùng yêu quý. Cô không thể tưởng tượng việc không bao giờ được nhìn thấy khuôn mặt dễ thương với đôi má núm đồng tiền của Jimmy một lần nữa, hay không được nghe thấy tiếng cười dễ lây của cậu bé. Cô phải về nhà, nếu không thì sẽ không thể chịu đựng được mất.

    Sau khi đã trở nên sạch sẽ và vấn vương mùi xà phòng thảo dược, cô tắt nước đi và lau khô người bằng khăn tắm đã quấn quanh đầu. Trên giá có một vài vật và cô nghiên cứu chúng, nhận ra một chiếc bàn chải đánh răng và một tuýp kem đánh răng – tuýp đó có chữ “kem đánh răng”, nên khả năng cô đoán sai rất nhỏ bé – và một chiếc dao cạo. Đàn ông vẫn sử dụng dao cạo ở thời của cô; đó là một trong những vật vẫn có tác dụng. Dù vậy, ở thời đại của cô, những chiếc bàn chải đánh răng đã bị ngừng sử dụng từ khoảng cả thế kỷ trước; thuốc kháng virus đã làm sạch sự sâu răng ở thế giới hiện đại, và nước xúc miệng đã diệt sạch những loại thức ăn dính hoặc kẹt trong chân răng, làm chúng biến mất hoàn toàn.

    Cô tìm thấy một chai sữa dưỡng ẩm không mùi và xoa đều nó lên da của cô, và sau đó mặc quần áo. Đồ lót và áo sơ mi của cô đã khô, và giờ thì mặc chúng mang lại cảm giác tuyệt hơn rất nhiều sau khi chúng đã được giặt sạch. Sau khi đã trở nên thư thái và thoải mái, cô tiếp tục chuyến thám hiểm ngôi nhà.

    Ở trong phòng chính – phòng khách – là một vài chiếc ghế êm ái dễ chịu và một chiếc ghế trường kỷ bằng da lớn, thêm vào đo là một màn hình ti vi to nhất mà cô từng nhìn thấy ở thời đại này. Chiếc ở trong phòng của nhà nghỉ trở nên vô cùng nhỏ bé so với chiếc ti vi này. Sàn nhà được bao phủ bởi một tấm thảm trông gần như còn mới nguyên, dường như là không ai đi lại nhiều trên nó. Trong phòng có một vài chiếc đèn, một vài chiếc bàn nhỏ, và ở đầu kia của phòng là một chiếc bàn làm việc với một trong những chiếc máy tính nguyên thuỷ to đùng, và một màn hình nhỏ khác. Và trong phòng còn có khá nhiều sách, tất cả chúng đều là từ giấy, và tay cô run rẩy vì hạnh phúc khi cô cầm lấy một quyển và lật giở qua các trang sách.

    Những con người sống ở thời đại này có nhận ra họ may mắn đều nhường nào không, vì họ có rất nhiều sách được in trên giấy? Một trong những thảm kịch lớn nhất của nửa sau thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là rất nhiều thể loại âm nhạc, sách vở, văn hoá, đã được lưu lại trên những đĩa mềm có thể tồn tại rất tốt qua thời gian. Trong hai thế hệ, những chiếc đĩa đã bị hư hại, và hầu hết dữ liệu đã bị mất. Một vài trong số chúng có thể được tái tạo, đương nhiên là vậy; những bài hát có thể được hát lại bởi những ca sĩ khác. Nhưng những bản ghi nguyên gốc đó đã biến mất, và không thể hồi phục lại được. Những bản thảo, những bản nghiên cứu,.... rất nhiều trong số chúng đã bị mất. Giấy dường như rất mỏng manh, nhưng vẫn có một vài tài liệu giấy còn tồn tại sau mấy trăm năm, chứng minh rằng, nếu cẩn thận, giấy vẫn là một phương thức khả thi để lưu giữ thông tin.

    Cô bật máy tính của anh lên, và chờ trong một khoảng thời gian dường như vô tận trong khi nó kêu ro ro và click liên tục trước khi có thể sử dụng được. Cô nói một cách lơ đãng “Bắt đầu chương trình giao tiếp”, và sau đó cười khẽ với chính mình khi chẳng có gì xảy ra sau đó cả. Chương trình nhận dạng giọng nói có tồn tại vào thời đại này, nhưng chúng không phải là chương trình được chuẩn hoá.

    Cô ngồi xuống trước màn hình máy tính và trải nghiệm cảm giác sử dụng chương trình trực tiếp qua các thao tác tay, cảm thấy vô cùng thú vị khi nhìn thấy mũi tên nhỏ chỉ thị nơi mà bạn đang ở trên màn hình. Kiến thức về máy tính đã bùng nổ vào cuối thế kỷ 20, cùng với rất nhiều ngành khoa học khác đã góp phần xây dựng nên thế giới của cô.

    Mặc dù vậy, cô không muốn can thiệp vào chương trình của chiếc máy tính quá nhiều, vì cô sợ sẽ phá huỷ hệ thống một cách không cố ý. Cô click vào rất nhiều biểu tượng khác nhau cho đến khi tìm ra được cách khiến cho chiếc máy tính tắt đi.


    Sau đó cô đi xem xét các phòng ngủ. Phòng của anh rộng hơn phòng anh chỉ định cô sẽ dùng, và chiếc giường cũng to hơn. Chiếc giường chưa được thu dọn, những chiếc gối được chồng lên nhau một cách rúm ró, tấm trải giường và những cái chăn bị vo tròn và vứt sang một bên. Trên chiếc tủ đầu giường là một tấm ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, và Nikita lại cần để xem kỹ hơn. Đôi mắt xanh lam của người phụ nữ như đang cười, và nụ cười ấy dường như kép theo một nụ cười đáp lại của người đối diện. Không còn bức ảnh nào khác trong phòng. Một chiếc điện thoại nằm trên chiếc bàn cạnh giường, cùng với một chiếc đèn bàn, 2 quyển sách, một tờ tạp chí, một chiếc cốc với một ít nước dưới đáy, và một chiếc tất.

    Có một điều chắc chắn không hề thay đổi qua 2 thế kỷ: đàn ông.

    Với trí tò mò đã được thoả mãn, cô quay về phòng khách và bật màn hình tivi to đùng lên. So sánh với những gì cô đã nhìn thấy đêm hôm trước trong phòng của nhà nghỉ, cô thấy mình có thể học về hệ thống máy móc của nền văn hoá này bằng cách xem tivi còn nhiều hơn ngồi 10 năm trong phòng nghiên cứu ở thời đại của cô.

    Cô ngồi xuống ghế và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.


    Tiếng điện thoại reo đánh thức cô dậy. Cô lồm cồm đứng thẳng dậy và chạy vào bếp để túm lấy chiếc điện thoại. Đầu tiên cô kiểm tra số điện thoại gọi đến trên màn hình, và nó khớp với con số mà Knox đã viết. Cô nhấn cái có lẽ là nút nhận cuộc gọi, sau đó nói “Xin chào.”

    “Vậy là cô vẫn ở đó.”

    “Tôi dã nói là tôi sẽ ở đây mà.” Cô rên rỉ, sau đó nhìn vào đồng hồ đeo tay của mình. Nó là một chiếc đồng hồ cơ thay vì đồng hồ điện tử, và trí óc cô đã quá mệt mỏi vì buồn ngủ để phân tích được ý nghĩa của vị trí những chiếc kim đó. “Tôi vừa mới ngủ một lúc, mấy giờ rồi thế?”

    “Chỉ mới hơn sáu giờ một chút. Tôi sẽ làm xong việc ở đây trong khoảng 15 – 20 phút nữa. Em có muốn anh mang gì về cho bữa đêm không?”

    Cô dừng lại, sau đó nói một cách cẩn trọng “Anh có cần làm vậy không?”

    “Nếu em muốn ăn tối, thì có. Anh không có nhiều thức ăn dự trữ trong nhà đâu.”

    Cô không thực sự thấy đói sau khi ăn chỗ súp vào buổi chiếu, nhưng cô vẫn nhớ bữa trưa đã có vị ngon thế nào nên nói “Liệu chúng ta có thể ăn hamburger nữa không?”

    Anh tắc lưỡi “Em thích những chúng, phải không?”

    “Phải. Chúng không hề tốt chút nào cho sức khoẻ, nhưng em thích vị của chúng.”

    “Bất cứ cái gì có vị ngon thì đều không tốt cho sức khoẻ. Đó là quy luật rồi.”

    Ngay cả điều đó cũng chưa từng thay đổi. Cứ mỗi khi cái gì đó có vị ngon lành được tạo ra và sản xuất, chỉ trong vòng 1 năm sẽ có những tiếng oán than về việc sản phẩm đó không tốt cho sức khoẻ đến mức nào. Không một thứ gì, kể cả rau củ và hoa quả thoát được sự chú ý của những chuyên gia cảnh báo đó.

    “Một chiếc hamburger,” cô nói một cách chắc chắn. “Và cả khoai tây chiên nữa.”

    “Đó mới là sống chứ. Anh sẽ về đến nhà trong khoảng 40 phút nữa, phụ thuộc vào việc mất bao lâu để mua được hamburger. Có ai gọi điện đến không?”

    “Không, mọi việc yên tĩnh lắm.”

    “Tốt. Anh hi vọng nó sẽ duy trì như thế.”


    Trong khi chờ anh về, cô hất nước lạnh lên mặt, và chải lại tóc. Giấc ngủ ngắn đã cung cấp lại năng lượng cho cô, và cô cảm thấy mình có thể tiếp tục làm việc trong vòng 12h nếu cần thiết.

    Anh đã ước lượng thời gian rất tốt, và đỗ xe vào đường cho xe chạy 39 phút sau. Cô đợi trong nhà bếp, nhận ra được cảm giác ấm áp của niềm hạnh phúc trong lúc chờ đợi cánh cửa được mở ra, và được nhìn thấy anh lần đầu tiên sau nụ hôn bất ngờ đó.

    Anh đi vào, tay cầm theo chiếc va li của cô và những chiếc túi giấy toát ra mùi hương quyến rũ nhất cô từng thấy. Anh đã cởi áo khoác ra, bao đựng súng được đeo trên vai. Đóng bộ trong đồ jean và ủng, anh nhìn như thể anh thuộc về một thế kỷ nào khác, khi ngựa vẫn là phương tiện di chuyển chính. Hàm anh đã tối đi vì hàm râu mọc ra, tóc mai phủ trước trán, nhưng anh nhìn không có vẻ gì là mệt mỏi. Thay vào đó đôi mắt xanh biển của anh trở nên sắc nét và đầy cảnh giác, và anh di chuyển một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển mà không kéo theo bất kỳ sự mệt mỏi nào.

    “Em đã làm gì ngoài ngủ vậy?” anh hỏi trong khi lấy hai cốc nước uống ra khỏi một chiếc túi và đẩy một cốc về phía cô.

    “Tắm và sau đó đi xem nhà của anh.”

    “Em đã tìm ra cách mà mọi thứ trong nhà hoạt động chưa?”


    “Em nghĩ vậy. Nhưng không có gì bị hư hại, ở bất cứ mức độ nào đâu.” Cô ngồi xuống ghế mà cô đã ngồi trước đây, và anh đặt một chiếc hamburger cùng một túi khoai tây xuống trước mặt cô. Với sự thèm ăn được kiểm soát, cô bắt đầu bóc lớp giấy gói của chiếc hamburger, nhưng lối cư xử lịch sự bắt buộc cô phải chờ anh ngồi xuống ăn trước khi cô cắn miếng đầu tiên.

    Họ ăn trong yên lặng, chấm miếng khoai tây chiên có vị mặn mặn vào nước sốt cà chua. Nhẩm lại lượng calory cô đã tiêu thụ trong ngày hôm nay, Nikita cho rằng cô phải chạy 10 dặm để có thể tiêu thụ hết chúng.

    “Khi trời tối, chúng ta sẽ đi lấy chiếc xe em đã thuê.” Cuối cùng anh cũng lên tiếng.

    “Việc để xe của em lại nhà của bố anh có an toàn cho ông không?”

    “Không ai biết là nó ở đó đâu. Không ai sẽ biết em ở đâu. Anh đã đi mua cho em một số đồ đấy, vài bộ quần áo sẽ khiến em hoà nhập tốt hơn, cái gì đó để che tóc em lại, và cả kính râm nữa.”

    Những thứ đó sẽ có ích. Chúng là phương pháp đơn giản, nhưng trong quá trình huấn luyện, những đặc vụ học được rằng mọi người thường không chú ý đến những người xung quanh, vì thế cô khá an toàn. Cô đã gặp may vì không ai ngoài Knox thực sự biết cô. Tuy nhiên đây vẫn chỉ là một thị trấn nhỏ, và hàng xóm của anh có thể sẽ chú ý đến một người phụ nữ lạ mặt ra vào ngôi nhà.

    Cô đã đến đây với sự chuẩn bị cho khả năng vào một lúc nào đó cô sẽ phải thay đổi bề ngoài của mình. Trong va li của cô là một vài dụng cụ cho việc này.

    “Liệu nhìn em sẽ ra sao nếu là một cô gái tóc vàng mắt xanh?” Cô hỏi, cười mỉm với anh.
     
    bambooautumn, B-Mon, uyenki and 8 others like this.
  2. nhungnhinh783

    nhungnhinh783 Lớp 1

    Cố lên nhé bạn ! Mong được đọc những chương tiếp theo quá !
     
    Dreami and Nguyễn Hằng like this.
  3. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 13

    Nửa tiếng sau Nikita ra khỏi phòng tắm và chậm rãi quay một vòng trước mặt anh.

    “Anh nghĩ thế nào?”

    Knox đang xem tin tức trên màn hình, nhưng anh từ từ đứng thắng dậy, nhìn chăm chăm vào cô. “Hubba, hubba,” anh nói, tông giọng trầm ấm của anh thậm chí còn khàn đi, đôi mắt của anh lại có cái nhìn sụp mí như vậy. “Anh thích nó. Anh vẫn thích em có tóc tối màu hơn, nhưng vẻ bề ngoài này cũng tuyệt. Thật sự rất tuyệt. Làm thế nào mà em thay đổi nhanh vậy?”

    Cô nói, bị xao lãng khỏi những gì cô đang nghe thấy. “Đây là một sản phẩm polime bao phủ bên ngoài tóc với màu khác đi; nó sẽ không bị mất đi nếu tóc bị ướt, nhưng chỉ một vài giọt xà phòng gội đầu sẽ làm nó trôi đi. Không cần phải dùng đến thuốc tẩy hay phải nhuộm lại.” Cô dừng lại. “Hubba, hubba?” Cô nghĩ chắc hẳn nó phải mang một ý nghĩa gì đó tốt đẹp, đặc biệt nếu cô tính đến sự thay đổi tông giọng của anh. Cô có thể cảm thấy má mình nóng lên khi cô phản ứng lại với cách anh đang nhìn mình.

    “Nó có nghĩa là yowzer.”

    Cô hít sâu một hơi. Sự giải thích đó chẳng hề có ích chút nào. “Và nó có nghĩa là--?”

    “Nó có nghĩa là em nhìn ngon lành lắm.”

    Từ đó thì cô biết, nhưng nó có nghĩa là thứ gì đó có vị rất ngon. Rõ ràng là những tiếng lóng trong thời đại này phải tạo cho nó một ý nghĩa khác, trừ khi..... ồ. Giờ thì má cô thực sự nóng bừng lên và cô bước lùi một bước cách xa khỏi anh, không chắc là phải làm gì. Cô không phải là Nancy Ngây thơ, cô đã có kinh nghiệm như thế này trước đây, nhưng đó là khi cô vẫn ở thời đại của mình. Có quan hệ với anh sẽ là ngu ngốc ngang với việc có quan hệ với một nghi phạm, điều có thể khiến đặc vụ đó bị đuổi việc nếu không phải là truy tố ngay lập tức. Về nhiều mặt, Knox giống như một đặc vụ hợp tác với cô, nhưng trong Cục biết về mối quan hệ thân tình có thể nảy sinh trong các nhiệm vụ, thì những chính sách được đặt ra vẫn cho thấy đó không phải là một ý tưởng hay.

    Nhưng việc có mối quan hệ thân mật về mặt thể xác với một người sẽ trở nên thiếu đạo đức đến mức nào, khi vẫn biết là mình sẽ rời đi sớm? Đó là trường hợp sẽ xảy ra khi mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, SAR sẽ mang cho cô những chiếc vòng để thay thế, cô không bị giết trong khi thực hiện nhiệm vụ, và các khả năng khác có thể xảy ra nữa. Những người đào tạo của cô trong những lớp về đạo đức nghề nghiệp đã rất thực tế: những mối quan hệ về mặt thể xác với người từ thời đại khác, về mặt bản chất con người, là không thể tránh được. Tuy nhiên nghịch lý là mối quan hệ thể xác đơn thuần có lẽ có đạo đức hơn việc hình thành một mối liên hệ tình cảm với ai đó từ một thời đại khác trong khi biết rằng mình có thể rời đi bất kỳ lúc nào.

    Cô không nghĩ mình sẽ có ý nghĩ về chiều hướng này về Knox Davis từ lần gặp đầu tiên với anh.

    Anh rút ngắn khoảng cách giữa họ, đặt một tay lên eo cô; sức nóng của bàn tay anh dường như cháy xuyên qua lớp vải áo. “Anh đã nghĩ về mọi khả năng có thể xảy ra rồi,” anh nói, vẫn với giọng trầm ấm, từ tốn ảnh hưởng đến cô mạnh mẽ như một loại thuốc gợi tình. “Anh biết rằng nếu mọi việc thuận lợi, em sẽ rời đi. Anh biết rằng anh sẽ làm mọi điều có thể để khiến em khoả thân, nhưng nếu em không muốn điều đó, tất cả những gì em phải làm là nói không.”

    Vào khoảnh khắc đó, như đập đầu vào một bức tường vững chắc, cô nhận ra rằng trong khi cô không thể chỉ có mối quan hệ ngắn ngủi với anh, anh lại hoàn toàn có thể cảm thấy bình thường với mối quan hệ như vậy. Những người đào tạo không đề cập đến khả năng đó, thay vào đó là tập trung vào những hành động bất công xuất phát từ phía đặc vụ.

    Và giờ cô đang ở đây, lo lắng về việc hành xử một cách thiếu đạo đức – và anh thì đang lo lắng về việc mang cô lên giường. Đúng là đàn ông.

    Có một cụm từ tuyệt vời đã chiến thắng sự thử thách của thời gian và tồn tại đến thời đại của cô; cô cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi có thể nở một nụ cười nhạt nhẽo với anh và nói “Em sẽ trả lại đúng cho anh những gì anh vừa nói.”

    Anh ngửa đầu về phía sau và cười lớn, tay siết chặt trên eo cô. “Em hãy làm thế đi,” anh nói với niềm vui rõ rệt. Sau đó anh lại hôn cô, và nó xảy ra đúng như nụ hôn trước đó, chậm rãi và thân mật một cách đầy ấn tượng. Dù vậy, lần này cả hai người họ đều đứng; và việc đứng sát lại gần anh, quấn tay quanh cổ anh và kiễng trên đầu ngón chân để hai người càng trở nên gần sát với nhau trở thành điều tự nhiên nhất trên thế giới. Cô cảm thấy cơn run rẩy đang chạy khắp người anh và đột nhiên nụ hôn không còn chậm rãi nữa, nó đói khát và đầy đòi hỏi, nóng bỏng với nhu cầu ngày càng tăng.

    Mùi hương và vị của anh chảy tràn qua người cô, khiến từng phần bản năng và hooc môn nữ giới trong cô thức tỉnh. Dương vật của anh đã cứng lại, chọc vào bụng dưới của cô thậm chí trước khi anh trượt tay ôm lấy mông cô và ôm siết cô vào người anh. Việc lên giường với anh thật dễ dàng, cô nghĩ một cách lơ mơ, cố gắng tập trung vào cái gì khác ngoài sự thoả mãn đang dần hình thành trong cô. Bất kể sự quyến rũ thể xác của anh xuất phát từ đâu, nó đều có ảnh hưởng chết người với sự tập trung của cô.

    Cô đã đáu tranh để lấy lại sự minh mẫn và kiểm soát của mình, cố gắng hít lấy không khí vào miệng, và thì thầm. “Chúng ta có nên đi bây giờ không?”

    “Chưa. Trời vẫn chưa tối hẳn.”

    “Good dark, có nghĩa là trái ngược với “bad dark”?”

    (Knox dùng “good dark” với nghĩa “trời tối hẳn” nhưng Nikita lại hiểu là “good” trái ngược với “bad”)

    “Anh muốn nói ngoài trời vẫn đủ ánh sáng để nhìn rõ.” Anh ấn một nụ hôn vội vào khoé môi cô, cắn nhẹ vào môi dưới của cô.

    Một cách kiên quyết, cô đặt tay mình đẩy vào ngực anh. Cô không phải đẩy; chỉ cách đặt tay của cô lên ngực anh đã khiến anh thở dài đầy hối tiếc và lùi về phía sau.

    Cô hít một hơi thật sâu, ổn định bản thân, và đứng lại xuống mặt đất. “Em xin lỗi, làm như vậy thật không chuyên nghiệp.”

    “Em cứ nói đi nói lại điều đó.”

    “Đúng là không chuyên nghiệp mà.”


    “Đồng ý. Nhưng vấn đề là em thấy điều đó là đáng tiếc, và anh thì không. Chết tiệt, sau tất cả những việc chúng ta làm hôm nay, một chút không chuyên nghiệp gây cảm giác như một làn gió trong lành vậy.”

    Có phải anh đang có ý là, ít nhất thì bây giờ anh không bị buộc phải phá luật và phản bội lại những tiêu chí cuộc đời của anh, vì vậy tại sao lại không lên giường với ai đó đúng không? Ý nghĩ đó cho cô sức mạnh cô cần để đặt khoảng cách lớn hơn giữa họ; cô muốn làm tình với anh vì rất nhiều lý do, nhưng để trở thành giải thưởng khuyến khích của em không phải là một trong số chúng.

    “Chỉ để anh biết lập trường của em,” cô nói “Rõ ràng em thấy anh rất hấp dẫn. Nhưng em sẽ không ở đây lâu, vì vậy bất kỳ mối quan hệ nào chúng ta có ở đây, theo nghĩa đen, cũng sẽ chỉ là ngắn ngủi. Em chưa từng có kiểu quan hệ như thế này trong đời, và em cũng không thấy lý do phải bắt đầu một mối quan hệ như thế bây giờ.”

    Anh huýt một tiếng sáo nhỏ. “Cái đó sẽ đặt anh vào đúng chỗ của mình đúng không?”

    Giờ thì cô thấy mình hơi tội lỗi. “Em không có ý xúc phạm anh; chỉ là....”

    “Suỵt.” Anh chạm một ngón tay vào cằm cô. “Em không phải xin lỗi, hay lấy cớ gì cả. Nếu thời điểm đến – anh không có ý định chơi chữ đâu nhé – anh nghĩ có thể có gì đó lâu dài giữa chúng ta.”

    Điều thực sự đáng buồn là, cô cũng nghĩ vậy. Sự nghiệp của cô khiến cô quá bận rộn đến nỗi không có nhiều thời gian cống hiến vào việc tìm kiếm Mr. Right, hoặc thậm chí kể cả Mr. Maybe. Giờ cô có tất cả thời gian trên thế giới và đã rơi vào lòng của Mr. Maybe, và có khả năng sẽ trở thành Mr. Right, và cô không thể ở lại được.

    Dù có cảm giác bị mê hoặc cô dành cho thời đại này, với toàn bộ năng lượng và sức sống mãnh liệt, sự bùng nổ của các ý tưởng và kỹ thuật trong thời đại này, nhưng cô vẫn thấy thích thời đại của mình hơn. Một vài nhà du hành thời gian nói về việc chọn một niên đại thú vị và ở lại, nhưng cô chưa bao giờ hiểu được làm cách nào họ có thể rời bỏ gia đình và bạn bè, khỏi tất cả những gì họ từng biết. Đương nhiên, cô phải nghĩ đến khả năng có lẽ họ không có bạn bè và gia đình họ là lý do họ phải ra đi, điều khiến tình huống thậm chí còn buồn hơn.

    Knox nói, như thể anh đang đọc được những gì cô nghĩ. “Nhưng nếu em ở lại....”

    “Em không thể.”

    “Không thể, hay không muốn?”

    “Để không bao giờ nhìn thấy gia đình em nữa sao?”
    cô hỏi nhẹ nhàng. “Anh có thể làm thế không?”

    “Ở đây chỉ có cha anh và mẹ kế, nhưng....không. Anh không thể rời bỏ họ một cách tự nguyện và không bao giờ được gặp mặt họ nữa.”
    Anh vươn tay ra và nghịch một lọn tóc mới của cô. “Liệu có còn ai ngoài gia đình đang đợi chờ em nữa không?”

    “Một người tình, ý anh là vậy phải không? Không. Em có nhiều bạn, cả nam và nữ, nhưng em không có hứng thú với ai theo chiều hướng lãng mạn cả.”
    Vì có vẻ như đây là thời gian cho hỏi và trả lời, cô nhướng mày lên một cách thắc mắc và hỏi “Còn anh?”

    “Không phải bây giờ.”

    Có nghĩa là đã từng có, nhưng sau khi nhìn thấy tấm ảnh trong phòng ngủ của anh, cô đã đoán được điều đó. “Em đã vào phòng ngủ của anh và nhìn quanh.” Một cách rình rập, đúng vậy, nhưng cô không xấu hổ về điều đó. Anh chắc hẳn cũng biết rằng cô muốn xem mọi thứ. “Có phải là người phụ nữ trong bức ảnh không?”

    Cô gần như có thể cảm thấy anh đang rút lui vào vỏ bọc của mình, ánh nhìn của anh hướng vào nội tâm, nhưng là vào những kỷ niệm thay vì vào sự giận dữ. “Rebecca. Cô ấy là vị hôn thê của anh. Cô ấy đã qua đời 7 năm trước.”

    Sự cảm thông khiến cô chạm vào tay anh. “Em rất tiếc. Vâng, em biết là em nói khá nhiều, nhưng điều này khác. Kể từ đó có còn ai khác không anh?”

    “Chỉ một vài lần lên giường với những mối quan hệ ngắn ngủi theo như cách nói của em, nhưng không ai gần gũi cả.”

    7 năm, cô nghĩ, và anh vẫn trung thành về mặt cảm xúc với cô ấy. Đây là một người đàn ông kiên định. “Anh hẳn phải yêu cô ấy rất nhiều. Cô ấy hẳn phải rất vinh hạnh.”

    Ánh nhìn của anh lại quay về phía cô. “Đó là một cách diễn đạt kỳ lạ, và một ý nghĩ ngọt ngào. Cảm ơn em. Đúng vậy, anh đã yêu cô ấy, và nỗi đau gần như lớn hơn anh có thể chịu đựng được. Nhưng nó đã nhạt đi, sau một thời gian, và lời nói về việc cuộc sống phải tiếp tục là sự thật.” Anh nhìn qua cô ra ngoài cửa sổ. “Hãy nói về việc khác đi, trong lúc em thay quần áo, trời sẽ đủ tối để chúng ta rời đi.”

    Và anh đã nói chuyện về cuộc sống cá nhân của anh nhiều đến mức mà anh có ý định chia sẻ, cô nghĩ trong khi đang cầm chiếc túi đựng quần áo về phòng. Cô không để việc phải dừng chủ đề quá nhạy cảm với anh như vậy. Hoặc có thể vì anh là một người đàn ông, anh nghĩ họ đã xoáy quá sâu vào tâm hồn anh, và không gì có thể được bàn bạc nữa.

    Ý nghĩ đó khiến cô mỉm cười, và cô lôi sự chú ý của mình về lại với việc thay đổi vẻ ngoài của cô nhiều hơn nữa.

    Chỉ với ánh đèn đến từ hành lang để chiếu căn phòng sáng mờ mờ, cô kéo tấm rèm lại che kín cả hai cánh cửa sổ, và sau đó bật đèn trong phòng lên và đóng cửa lại. Mở chiếc túi ra, cô lấy ra một chiếc mũ bòng chày, hai quần jean, hai áo phông, một đôi giày thể thao và một vài đôi tất. Chỉ để chắc chắn, cô nhìn vào nhãn của quần áo mới, và run rẩy vì hạnh phúc. Đã được ngâm tẩy, xử lý, làm mềm, và còn nữa, còn nữa, còn nữa. Đúng như cô đã nghĩ, chúng là cotton. Trước đây cô chưa bao giờ có đủ tiền để mua một chiếc áo cotton nào.

    Một cách nhanh chóng, cô cởi quần áo chỉ để lại đồ lót. Hai chiếc quần jean khá dễ nhận ra, vì vậy cô cầm lấy chiếc quần phía trên, xé bỏ nhãn, và mặc chúng vào. Phần lưng quần hơi rộng, nhưng chiều dài thì vừa vặn, và cô thấy yêu cái cách mà loại vải mềm mại này được cảm nhận trên chân mình. Nó gây cảm giác thật, nhưng không bị hạn chế, và khá thoải mái.

    Đây có thể là một câu khẩu hiệu mà nhà sản xuất có thể sử dụng, cô nghĩ trong niềm hạnh phúc ngập tràn. Đây chính là cảm giác thoải mái của cotton.

    Trong hai chiếc hồng và xanh lá cây, cô chọn chiếc áo màu hồng, và nhét đuôi áo vào quần jean. Kiểm tra mình trong chiếc gương của phòng ngủ, cô kêu khe khẽ trong vui sướng. Cô nhìn.... cô nhìn thật hợp với thời đại này!

    Thậm chí những người đã gặp cô ngày hôm nay cũng sẽ cảm thấy khó nhận ra cô, với quần áo kiểu khác và màu tóc cũng khác. Màu tóc mà cô đã chọn là một mày vàng ấm áp phù hợp với màu da của cô. Cô cũng mang theo những cặp kính sát tròng màu trong ví để có thể chuyển mày mắt cô sang màu xanh lam, nhưng vì họ sẽ đi trong khi trời tối, cô không nghĩ mình sẽ cần cặp kính sát tròng đó. Còn nếu là ban ngày, chiếc kính râm mà Knox đã mua cũng có thể giấu đi màu mắt của cô.

    Cô đội chiếc mũ bóng chày lên đầu và nhìn bản thân mình một cách chăm chú. Giờ thì ngay cả mẹ cô có khả năng nhận ra cô được nữa, đương nhiên, cả em gái cô nữa, nhưng cha và em trai cô thì có thể sẽ đi ngang qua cô mà không thèm nhìn lại lấy một lần.

    Sau khi đã đi đôi tất và giày mới vào, cô quay lại phòng khách và lần thứ hai xoay vòng trước mặt anh để hỏi ý kiến về vẻ ngoài của mình. “Anh thấy thế nào?”

    Anh gật đầu vẻ hài lòng. “Không ai sẽ nhận ra em đâu. Bỏ chiếc mũ ra đi và buộc tóc em cao lên.”

    Một cách ngoan ngoãn, Nikita bắt đầu buộc tóc mình lại. Nó không quá dài, thậm chí còn chưa chạm vai, vì vậy đuôi tóc của cô khá ngắn. Anh bước vào bếp và quay lại với một chiếc dây cao su đưa cho cô để buộc tóc. Cô đội lại chiếc và kéo đuôi tóc qua lỗ ở sau chiếc mũ, cảm thấy cần phải đảm bảo là nó đã được buộc chắc. “Cái dây đó là gì vậy?”

    “Nó là dây buộc của một chiếc túi đựng rác. Hôm nay nhà tôi không có dây buộc tóc, vì vậy chúng ta bắt buộc phải tận dụng mọi thứ thôi.”

    Cô lờ đi cái giọng châm chọc của anh và nói, “Tôi cần một chiếc áo sơ mi khác, hoặc áo khoác để che vũ khí của tôi đi.” Cô dừng lại, một nghi vấn kinh khủng nảy ra trong đầu cô. Cô nheo mắt lại nhìn vào anh. “Anh sẽ phải trả lại nó cho tôi chứ, phải không?”

    Anh nhún vai, một cái gì đó gần giống như nụ cười giả dối xuất hiện trên mặt anh. “Tại sao cô lại cần nó? Cô có chiếc bút laze đó rồi cơ mà, và nó có thể gây ra thiệt hại tương tự như một viên đạn 9 li.”

    “Đúng, nó có thể, và tôi sẽ dùng nó nếu tôi phải làm thế. Nhưng nếu tôi có thể tránh được việc thu hút sự chú ý vào nó, anh không nghĩ là sẽ thông minh hơn nếu làm thế à?”

    “Chắc chắn việc tránh thu hút sự chú ý là điều tốt nhất phải làm. Nếu cô bị nhìn thấy là đang mang vũ khí, cô sẽ tự động bị gắn mác cảnh sát, điều mà chúng ta đang tránh.” Anh dừng lại. “Vũ khí của em trong xe. Hãy mang nó trong ví của em, không phải là ở thắt lưng. Mặt khác, vùng này là vùng núi, nên đến đêm sẽ khá lạnh, đúng là em cần một chiếc áo khoác.”

    Anh đi vào phòng ngủ của anh và đi ra một lát sau, mang theo một chiếc áo sơ mi denim. “Em mặc cái này vào đi.”

    Chiếc áo là của anh, đương nhiên, và bao quanh người cô một cách hoàn hảo mặc dù cô cao hơn chiều cao trung bình một chút. Cô xắn tay áo lên đến khuỷu tay, và thả chiếc áo mà không cài cúc. “Em sẵn sàng rồi, trừ phi anh nghĩ ra việc phải thêm gì đó.”

    “Chỉ một thôi,” anh nói, và hôn cô lần nữa.


    [​IMG]

    Craftsman house
     
    B-Mon, uyenki, hollypingpong and 7 others like this.
  4. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 14

    Knox nhìn xuống Nikita khi cô nằm xuống chiếc ghế để không ai có thể nhìn thấy cô đang rời khỏi nhà anh. Có thể có ai đó sẽ nhìn thấy cô, nhưng anh không muốn cô xuất hiện ngay sau khi đặc vụ FBI Nikita vừa biến mất. Anh sẽ trả lời với bất kỳ ai hỏi là cô đã không tìm thấy bất kỳ mối liên quan nào giữa vụ ám sát Taylor Allen và những vụ cô đang điều tra nên đã rời đi. Cô là một đặc vụ liên bang; cảnh sát địa phương sẽ không hi vọng cô làm những điều họ thường làm. Hãy để một khoảng thời gian khoảng 2 – 3 ngày giữa sự rời đi của một người và sự xuất hiện của một người khác, và thường thì mọi người sẽ ít khi nghĩ đến sự liên quan giữa hai người này.

    Có gì đó về cô làm anh quan tâm, không phải chỉ là vì cô là một người đến từ 200 năm sau. Cô có thể là vừa bình tĩnh về mọi thứ, hay về cơ bản cô không hề có cảm xúc. Lần duy nhất anh thấy được phản ứng của cô là khi cô giết người đặc vụ đến từ tương lai, Luttrell. Trong một lúc, anh đã nghĩ là cô suýt nữa nôn ra. Sau đó cô đã bình tĩnh lại, và tiếp tục làm việc với một vẻ bình tĩnh của robot.

    Như một robot.

    Đầu của anh tự nhiên đau nhói, như thể tóc anh đã dựng ngược lên. Không đời nào. Điều anh đang nghĩ là không thể xảy ra. Cô cho anh cảm giác như một người phụ nữ thực sự, cô có mùi như một người phụ nữ thực sự. Làn da cô ấm áp, cô hít thở – hoặc ít nhất thì cô gây cho người ta cảm giác là cô đang hít thở. Anh đột nhiên có cảm giác muốn đưa tay xuống phía dưới mũi cô để xác định xem có cảm nhận được sự ấm áp của luồng không khí ra vào phổi cô không.

    Cô đã ăn 2 chiếc bánh kẹp, khoai tây chiên và súp. Liệu robot có ăn được không? Vì lý do gì mà ai đó lại phát minh ra một robot có thể ăn được chứ? Đó không phải là một sự lãng phí về mặt công nghệ sao, chưa nói đến thức ăn nữa chứ?

    Phụ thuộc vào việc robot đó được dùng vào việc gì, anh nghĩ. Nếu, vì một số lý do nào đó, một robot cần phải xâm nhập vào một nhóm lính và phải tỏ ra là một con người, vậy thì robot đó sẽ phải có khả năng ăn uống.

    Nhưng cô hôn như một người phụ nữ thực sự, với làn môi ấm áp, mềm mại và ẩm ướt của cô. Chẳng bao lâu sau, suy nghĩ đó mang lại sự nhẹ nhõm kiểu như “Mình đang nghĩ cái khỉ gì thế?” cho anh. Nhưng ngay sau đó anh lại nghĩ đến bộ phim của Blade Runner và những bản sao tái tạo của nó. Những bản sao tái tạo đã là con người về mọi phương diện, nhưng họ vẫn là những chiếc máy, được lập trình để “chết” vào độ tuổi nhất định. Liệu công nghệ như vậy có thể tồn tại ở thời đại của cô không? Liệu mọi việc đã phát triển nhanh chóng như vậy không?

    Lý trí của anh nói với anh “Tại sao không?”. Cuối cùng thì những dự án không gian đã đi từ việc bị chê cười vì không có cơ sở đến việc con người đặt chân lên mặt trăng trong vòng 30 năm. Trong vòng 50 năm của thế kỷ 20, loài người đã chứng kiến sự bùng nổ của công nghệ đến mức sự thay đổi mới xảy ra trước cả khi sự thay đổi trước được hoàn toàn tiếp thu. Một sự bùng nổ khác của tính sáng tạo và những phát minh có thể đã xảy ra trong thời đại của cô, mang lại những điều mà chỉ có Chúa mới biết là cái gì.

    Trong vòng 200 năm, con người đã phát triển phương tiện để du hành thời gian. Điều đó hẳn phải khó khăn hơn việc phát triển một loại robot có vẻ ngoài của con người và hoạt động như con người.

    Anh cố nghĩ ra một lý do để biện luận cho việc cô không thể là robot. Cô đã đỏ mặt; anh nhớ đôi má cô chuyển sang màu hồng như thế nào. Để đỏ mặt, một người phải cảm thấy xấu hổ. Liệu cảm xúc có thể lập trình được không? Hoặc công nghệ thời đại đó có thể đáp ứng cho việc lập trình những phản ứng cơ thể với một số tình huống nhất định?

    Khác với lúc cô giết Luttrell, cô chưa từng thể hiện một cảm xúc mạnh nào. Cô đã hơi bực tức, hơi vui vẻ, hơi phiền lòng. Nếu cân nhắc đến việc ngày hôm nay đã trở nên kịch tính như thế nào, thì sự tĩnh lặng về mặt cảm xúc của cô có thể mang tính an ủi rất lớn đối với anh nhưng đồng thời cũng có thể khiến anh thấy lạnh gáy, và anh không biết điều nào là chính xác.

    Anh không thể tin được là anh đang thực sự băn khoăn liệu có phải mình thực sự đang cố gắng làm tình với một cái máy.

    Với Knox, việc băn khoăn về một điều gì đó sẽ lập tức dẫn đến việc những câu hỏi được hỏi, vì anh không thể chịu đựng được việc mờ mịt về điều gì đó. “Em là gì vậy?”

    “Cái gì cơ?” cô hỏi vọng lên từ chỗ ngồi, quay đầu cô ngước lên để nhìn thẳng vào anh. Lông mày cô đã nhíu lại gần nhau vì thắc mắc, nhưng anh có ấn tượng là cô đang trở nên lo lắng. “Liệu chúng ta có nhất định phải trải qua chuyện này một lần nữa không? Em là một đặc vụ FBI.”

    “Đó không phải những gì anh muốn hỏi. Ý anh là, em có phải con người không?”

    Trong sự ngạc nhiên và nỗi lo lắng quặn lên của anh, cô không bật cười hay tỏ ra giật mình, hay làm bất cứ điều gì để làm anh yên tâm. Thay vì thế, cô khựng lại một thoáng, và hỏi với giọng bình tĩnh, “Tại sao anh lại hỏi vậy?”.

    “Cách em hành xử. Không ai có thể bình tĩnh đến vậy. Như thể là em là một con người đứng trên lằn ranh chuẩn mực và không dao động về bất cứ hướng nào gây nên sự mất cân bằng. Em có bực mình, nhưng không giận dữ. Em có vui vẻ, nhưng em không bao giờ cười to. Em có bị kích thích, nhưng chưa đến mức khiến hơi thở trở nên nặng nề. Nhịp đập tim em có bao giờ tăng nhanh lên không, hay em là một loại rô bốt nào đó?”

    Một lần nữa, sự khựng lại đầy ý nghĩa đó lại xuất hiện và cả giọng nói bình thản. “Anh có ý nói “robot” theo nghĩa đen hay robot về mặt hình thức thôi.”

    “Em thử nói xem.”

    “Em là con người,” cô trả lời, vẫn với cái giọng bị kiềm chế như vậy. "Vì vậy nếu về nghĩa đen thì em không phải robot.”

    “Vậy còn về mặt hình thức thì sao?”

    “Anh thử nói xem.” Một cách khéo léo, cô hỏi lại anh.

    Một chiếc bẫy vừa sập ngay dưới chân anh, và anh nhận ra rằng nếu cô hoàn toàn là con người, anh vừa mới làm mọi chuyện rối tung lên bằng việc nói với cô rằng phản ứng về mặt giới tính của cô hoàn toàn giống robot. Kể cả những phụ nữ bình tĩnh nhất cũng có thể trở nên buồn bã khi nghe nói vậy. Một vài phụ nữ, khi họ bị làm phật ý, họ sẽ cho cả thế giới biết. Những người khác thì chỉ trả đòn lại một cách thích đáng. Chính mẫu người sẽ trả đòn lại khiến anh phải e ngại.

    Khi anh giữ im lặng, cô ngồi thẳng dậy trên ghế và nhìn chăm chăm về phía trước. “Em xin lỗi,” cuối cùng cô nói “Em không nhận ra là mình đang hành xử một cách không đúng mực.”

    Anh đã hi vọng sẽ có sự giận dữ, nhưng thay vào đó, điều mà anh đang cảm thấy là sợ hãi. Và đó là điều đáng báo động hơn tất cả.

    Nikita cảm thấy cứng đờ một cách kỳ quặc. Rõ ràng cô đã làm gì đó sai, nhưng là gì? Cô đã cố cân nhắc điều mà mình nên nói, điều mình nên làm, cách phản ứng thông thường nhất là gì, nhưng theo cách mà anh vừa nói thì cô hoàn toàn không hiểu “thông thường” nghĩa là gì. Khi có khoảng cách lớn về mặt thời gian, với rất nhiều thông tin bị gián đoạn hoặc bị mất hoàn toàn, việc huấn luyện có thể thực hiện không nhiều. Có những cách hành xử cô hoàn toàn không có, những cách cư xử khéo léo mà cô hoàn toàn không hiểu tại sao người ta lại làm hay nói như vậy. Trong nghề này, những lỗi nhỏ như vậy có thể khiến cô bị giết.

    Nhưng điều khiến cô tổn thương chính là việc anh thấy cô có thiếu sót. Cô đã làm gì đó phạm vào điều kiêng kỵ của anh, nhưng cô không biết điều đó là gì. Anh đã rất thích hôn cô, cô không hề nhầm lẫn về những phản ứng của anh. Vậy thì cô đã làm gì trong vòng 15 phút kể từ lúc đó để khiến anh phản ứng như thế này?

    Cảm giác cứng ngắc nhạt dần đi, nhường chỗ cho sự xấu hổ cùng cực. Cô đã luôn rất cố gắng để trở thành con người mà mọi người kỳ vọng ở cô, để không ai nhìn thấy sự khác biệt để hoà nhập; địa vị pháp lý của cô lúc còn ở thời đại của mình rất mỏng manh, vì vậy cô đã luôn cố gắng không làm mất đi sự cân bằng mong manh đó. Một vài người có xuất thân giống cô đã khá nổi loạn, nhưng cô đã dành cả cuộc đời mình để làm vừa lòng các nhà cầm quyền. Những kẻ nổi loạn vẫn chưa bị tiêu diệt nhưng họ đã bị cách ly, và có một mối đe doạ bất thành văn là khi những vấn đề luật pháp được ban hành, nếu có ý kiến nào chống lại chúng thì họ sẽ bị tiêu diệt.

    Vầ nếu những thành viên cực đoan đã bị tiêu diệt, sẽ mất bao lâu trước khi dư luận yêu cầu tất cả bọn họ bị tiêu diệt?

    Cô đã muốn hỏi rằng cô đã làm gì sai, nhưng cô đã dành cả đời để hoà nhập, không hé một lời kể cả với bạn thân nhất của cô về tình trạng của mình; quán tính giữ bí mật đã quá mạnh mẽ và ngày càng được tăng cường trong những năm qua đến nỗi cô cảm thấy không thể nói về vấn đề này với Knox. Anh đã nghĩ cô có thể là một robot; điều tốt nhất là không xác nhận bất cứ nghi ngờ nào của anh cả.

    Cô ngồi bất động và vô cùng im lặng cho đến khi họ đến trụ sở toà án. Một lần nữa Knox lại đỗ xe vào khu vực được bảo vệ nơi những tù nhân quan trọng được mang đến, khuất khỏi sự quan sát của mọi người. “Đưa cho anh chìa khoá xe của em,” anh nói, và cô đưa chúng cho anh mà không nói một lời.

    “Em sẽ không gặp khó khăn gì với việc lái chiếc xe này chứ?” anh hỏi và cô tập trung sự chú ý của mình vào bộ phận điều khiển.

    “Em không nghĩ vậy,” cô nói sau khi quan sát chúng. “Tất cả mọi thứ quan trọng có vẻ đều nằm ở vị trí tiêu chuẩn.”

    “Hãy chờ ở đây trong khoảng 5 phút. Đến lúc đó anh đã rời đi trong chiếc xe thuê của em rồi. Hãy đi ra bằng đường mà chúng ta đã đi vào, và sau đó rẽ trái. Đi qua 3 toà nhà và em sẽ nhìn thấy một cửa hàng thực phẩm nhỏ ở góc đường bên phải. Anh sẽ đợi em ở đó.”

    Rõ ràng là anh sẽ đi một tuyến đường khác so với cô, để kiểm tra xem có ai đang theo dõi chiếc xe thuê không, bất kể việc nếu có người thực sự đang theo dõi chiếc xe thì cũng nhanh chóng nhận ra rằng chiếc xe đang được lái bởi một người đàn ông thay vì một phụ nữ. Nếu vậy, hẳn người đó phải nghĩ rằng anh đang đưa chiếc xe đến chỗ cô. Dù thế nào đi nữa, chiếc xe vẫn sẽ bị theo dõi. Anh rõ ràng đã nghĩ rằng 5 phút là đủ thời gian để cắt đuôi bất cứ kẻ theo dõi nào.

    Anh ra khỏi xe và cô trượt sang ghế bên cạnh để ngồi vào sau tay lái. Điều đầu tiên cô làm là trượt chiếc ghế lái về phía trước, để cô có thể chạm đến bàn đạp.

    “Nếu không may anh không chờ em ở đó, đừng hoảng sợ.” Anh hướng dẫn. “Hãy để xe nổ máy. Anh sẽ ở đó sớm thôi. Và một điều nữa: khi chúng ta đến nhà bố anh, hãy ở yên trong xe. Trời tối rồi, ông sẽ không thể nhìn thấy em; ông sẽ nghĩ em là một trong những nhân viên cảnh sát.”

    Sau đó anh rời đi, sải những bước dài vào toà nhà. Anh có thể bước ra khỏi toà nhà ở điểm gần với bãi đỗ xe, bước ra một cách chắc chắn và mạnh mẽ, như thể anh chẳng có gì để giấu cả.

    Nikita quay đầu xe lại, để cô có thể ngồi đối diện với lối ra và quan sát chiếc đồng hồ điện tử trên bộ phận điều khiển. Những con số dường như thay đổi một cách quá chậm chạp đến nỗi cô bắt đầu tự đếm lùi từng giây, cố gắng khớp nhịp đếm của cô với chiếc đồng hồ. Thời gian là một thứ kỳ lạ làm sao chứ, vẫn đều đều vận hành với cùng một chuỗi các con số, không bao giờ thay đổi, và lượng thời gian vẫn là chủ đề của các cuộc tranh luận gay gắt mang tính triết học và khoa học. Nó không chỉ là một lịch trình nhân tạo do con người tạo ra để điều chỉnh cuộc sống của mình; nó là một chiều không gian độc lập phụ thuộc vào chính nó, và tồn tại một cách thật sự như là mặt đất dưới chân họ vậy. Nhưng với mức độ phức tạp của thời gian, suy nghĩ về nó vẫn dễ dàng hơn là suy nghĩ về bản thân cô.

    Cuối cùng những con số cho thấy rằng 5 phút đã trôi qua. Cô thắt dây an toàn, nhìn vào hộp số và bàn điều khiển một lần nữa, và sau đó, một cách cẩn thận, gạt cần số về chế độ lái và nhấn vào bàn đạp để đẩy xăng vào máy xe. Chiếc xe di chuyển về phía trước một cách nhẹ nhàng.

    Cô không để mình trở nên vội vã. Cô không nhìn thấy bất kỳ xe cộ đang di chuyển hay người đi bộ nào trong bãi đỗ xe. Có một số lượng đáng ngạc nhiên những chiếc xe đang đỗ trong bãi, nhưng cuối cùng thì buổi đêm luôn là thời điểm bận rộn đối với lực lượng trị an nên có lẽ cô cũng không nên ngạc nhiên đến vậy.

    Cô đã đến cửa ra của bãi đỗ xe, và rẽ trái. Trên đường đi đến cửa hàng thực phẩm, cô đã kiểm tra kính hậu của xe để tìm bất kỳ chiếc xe nào có thể đang theo dõi cô, nhưng hoàn toàn không có bất kỳ ai theo sau cô khi cô đi qua cả 3 khu nhà.

    Ngay khi cô rẽ vào bãi đỗ xe của cửa hàng, cô nhìn thấy Knox đang ngồi trong chiếc xe thuê của cô. Anh gật đầu với cô, sau đó lùi xe ra đường, và cô lặng lẽ theo sau anh.

    Pekesville không phải là một thị trấn lớn, nhưng nó nằm men theo những thung lũng lọt giữa những ngọn núi liên tiếp nhau, cheo leo trên cả những mảng cắt địa lý và những đường nứt như thể nước trong một cái hồ vậy. Nó là một thị trấn dài, hẹp, với chỉ hai con đường chính và một mạng lưới những con đường phụ nằm theo tất cả các hướng tách ra từ đường chính và cắt ngang nó. Điều đó đồng nghĩa với việc có đèn giao thông ở mọi góc đường, làm chậm hành trình của họ, vì vậy phải mất đến mười lăm phút họ mới đi hết 4 dặm. Dù vậy, cuối cùng thì họ cũng ra khỏi vành đai thành phố, và lượng xe lưu thông giảm đi đáng kể. Những ngọn đèn đường mờ dần đi sau lưng họ, và chỉ ánh đèn xe của chính họ chiếu sáng con đường trước mặt.

    Nikita hết sức tập trung vào việc lái xe, giữ một tốc độ ổn định, sao cho không quá lại gần Knox để đảm bảo an toàn, nhưng cũng không để anh cách mình quá xa nhằm tránh đi lạc. Đó là cách cô đã sống cả đời mình: một cách an toàn, tách khỏi mọi người trong những đường ranh giới nhất định, tập trung vào những thứ khác như là công việc của cô, nơi cô không những được cho phép mạo hiểm mạng sống của mình mà trong những tình huốn đặc biệt còn được trông đợi là sẽ làm vậy.

    Không phải cô đang nghĩ đến chuyện mạo hiểm chính sinh mạng của mình, cô nghĩ trong sự khổ sở câm lặng. Cô đơn giản chỉ muốn được tự do mắc sai lầm, hay có lẽ là gào lên trog đám đông, nổi nóng một cách tuỳ ý mà không phải băn khoăn xem liệu có phải một vài trục trặc kỹ thuật đã khiến cô trở nên mất kiểm soát. Cô muốn được làm những điều ngốc nghếch chỉ đơn giản bởi vì cô muốn vậy. Cô không muốn sống trong sợ hãi bởi những điều có thể xảy ra nếu cô khiến ai đó không thoải mái.

    Có lẽ là bị tiêu diệt còn tốt hơn là sống như cô bây giờ. Có lẽ những kẻ nổi loạn đã đúng, tốt hơn là nên sống một cuộc sống tuy ngắn ngủi những ý nghĩa còn hơn là tự giam cầm bản thân trong một cuộc sống dai dẳng trong những ranh giới do chính mình tạo ra.

    Khi Knox rẽ khỏi đường cao tốc và tiến vào một con đường phụ, cô cảm thấy gần như không thở được, như thể không khí quá dày để hít vào phổi. Cô đang chết đuối, đã chết trong cả cuộc đời cô, và chỉ giờ đây cô mới nhận ra điều đó.

    Em có phải một robot không?

    Tại sao chứ, vâng, rõ ràng em là một robot. Cảm ơn anh vì đã chỉ ra điều đó.

    Đèn hậu chiếc xe do Knox lái đột nhiên hiện lên rõ ràng ngay trước mũi xe cô và cô lập tức đạp phanh khẩn cấp, và run lẩy bẩy. Anh đã giảm tốc độ, nhưng cô không để ý, và gần như là cô đã đụng vào đuôi chiếc xe thuê. Chết tiệt anh ta đi, tại sao anh ta lại nói vậy chứ? Và tại sao anh ta phải có khả năng quan sát tốt rồi lại còn tò mò về mọi thứ như vậy?

    Anh phanh dần xe lại, thậm chí còn chậm hơn, và sau đó rẽ trái vào một đường xe chạy dài vòng theo một ngọn đồi nhỏ, nơi một ngôi nhà nhỏ một tầng đang nằm giữa những cái cây to toả bóng. Một vài ánh đèn được bật trong ngôi nhà. Knox không dừng lại trước ngôi nhà, cô nghe anh nhấn một hồi còi khi anh đi ngang qua nó. Phía sau ngôi nhà là một hàng rào và ở bên kia là một kho chứa cỏ. Knox lái xe trực tiếp vào kho cỏ đó. Nikita dừng lại và để số về trạng thái “đỗ”, đèn pha xe cô chiếu sáng kho chứa cỏ.

    Một người đàn ông cao tuổi tiến lại từ phía bên phải cô – chắc hẳn phải là bố của Knox, nếu xét đến vẻ ngoài của ông. Họ đều có dáng cao dong dỏng, đôi vai rộng, hơi gầy gò đó; kể cả đầu họ cũng có hình dáng tương tự nhau. Anh bật chiếc đèn trong kho cỏ, chỉ có một bóng đèn treo lủng lẳng dưới xà nhà. Ông và Knox cùng nhau kéo một tấm bạt lớn che phủ ciếc xe thuê, kể cả lốp xe cũng được bao phủ; sau đó anh tắt đèn đi và họ đóng cánh cửa kép của nhà kho lại. Bố của Knox kéo một dây xích xuyên qua tay cầm trên cánh cửa và khoá lại bằng một ổ khoá.

    Ông Davis liếc về phía cô, và mặc dù cô biết ông không thể thấy được cô khi đèn pha vẫn bật thẳng về phía ông như thế này, cô vẫn cảm thấy sự tò mò của ông. Sự rung động như tóm lấy cô và cô tắt máy xe đi, sau đó lóng nga lóng ngóng tìm nút tắt đèn pha đi. Bước ra khỏi xe, cẩn thận để không bị vấp ngã trong bóng tối, cô bước về phía hai người đàn ông.

    Cô không cần phải nhìn mới biết được Knox đang không vui khi để bố anh gặp cô, nhưng vào lúc nào đó trong nửa tiếng vừa rồi, cô đã dừng việc để ý xem anh có vui hay không.

    “Xin chào,” ông Davis nói. “Bác đã nghĩ là một trong những nhân viên cảnh sát đang lái xe của Knox.”

    “Đáng lẽ em nên ở trong xe,” Knox nói, giọng của anh khá bình thản.

    “Anh đã nói em phải ở trong xe.” Nikita sửa lại anh cũng theo cách bình thản như vậy. “Anh đã gọi em là robot vì em không chịu lên giường với anh, vì vậy tại sao em lại phải làm theo đúng những gì mà anh bảo em chứ?”

    Knox phát ra một âm thanh nghẹn lại, được lặp lại bởi bố anh. Cô không thể tin được điều gì vừa thoát ra khỏi miệng cô ngay trước mặt bố anh, nhưng cô không quan tâm nữa. Không điều gì và không ai từng khiến cô tổn thương như Knox Davis đã làm, và anh thậm chí còn không cần cố gắng để làm được vậy. Điều đó thậm chí không phải lỗi của anh; anh không thể biết được cách dùng từ của anh đã ép thẳng cô đối mặt với bức tường thực tế và khiến cô phải đấu tranh với nhận thức đó. Cô quay mặt về phía ông Davis và chìa tay ra. “Xin chào, tôi là Nikita Stover.”

    Bố anh nắm lấy tay cô. “Kelvin Davis. Rất vui được gặp cháu.” Ông nghe có vẻ xao lãng, một giọng nói mà ngay lập tức biến mất khi quay sang nói chuyện với con trai. “Knox!”

    “Anh không – ý anh là, anh không hỏi xem em có phải là một robot không.” Knox nói với cố, “nhưng nó không phải là.....”

    “Tại sao con có thể nói một điều như vậy chứ?” bố anh hỏi.

    “Đó là vì một vài điều khác nữa.” Anh kết thúc một cách rời rạc.

    “À, đúng rồi, giờ thì em nhớ rồi. Em không nổi giận, em không cười to, và em không hứng lên chứ gì. Hai lý do kia thì khá chính xác, em cho là vậy, nhưng cứ thử đoán xem là anh sai ở chỗ nào đi!”

    Ông Davis cào tay qua mái tóc, chuyển trọng tâm từ chân nọ sang chân kia một cách không thoải mái. Rõ ràng là ông ước gì ông không bị kẹt giữa chuyện này. “Hai đứa đang hẹn hò hay gì đó hả?”

    “Không,” Nikita nói.

    “Vậy làm thế nào thằng bé lại....?” Người đàn ông dừng lại một cách ấp úng.

    Bị mắc giữa một cơn giận dữ đến tuyệt vọng, Nikita nói nốt hộ ông. ”Làm thế nào anh ấy biết được cháu có hứng hay không đúng không?”

    “Nikita, dừng lại đi.” Knox nói.

    “Đừng có bảo em dừng lại!” cô quay ngoắt sang đối diện với anh.”Em đã bị cấm đoán cả đời rồi, sợ làm điều này, rụt rè khi làm điều kia, sợ rằng có ai đó sẽ nghĩ là em quá phiền phức.” Với sự sợ hãi của chính mình, giọng cô dường như nghẹn lại và nước mắt dâng đầy trong mắt cô. “Em không thể khóc,” cô nói một cách hung tợn, “em sợ cả việc khóc nữa.”

    “Anh có thể thấy điều đó.” Giọng anh giờ đã trở nên nhẹ nhàng. “Em không phải khóc đâu. Nếu em phát điên lên với anh, cứ đánh anh đi. Nào, siết tay em lại và đấm mạnh vào cằm anh xem nào.”

    “Knox!” Ông Davis phản đối.

    “Đừng thách em,” cô nói với cơn giận mù quáng, tay cô đã nắm chặt lại thành đấm.

    “Nếu điều đó khiến em thấy khá hơn, thì cứ mạnh dạn đấm anh đi.”

    Nó có tác dụng, vì thế cô đã làm. Anh không hề biết anh đang khuyến khích điều gì đâu. Nikita không hề giảm nhẹ cú đấm của mình; cô siết chặt những bắp cơ ở cánh tay và lưng như cách cô đã được dạy và bắn thẳng cánh tay của mình ra từ vai trong một chuyển động xoáy tròn nhanh như điện xẹt. Cú đấm va chạm một cách vững chắc với má trái cằm Knox và anh giật mạnh người về phía sau, sau đó ngã ngửa ra.

    “Chết tiệt thật,” anh nói, ôm cằm.
     
    B-Mon, uyenki, hollypingpong and 4 others like this.
  5. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 15

    “Chết tiệt,” Kelvin Davis nói, nhìn chăm chăm vào con trai ông đang ngồi bệt trên đất. “Đó quả là một cú đấm không tồi đâu, Quý cô Stover ạ (Miss. Stover – gọi những người chưa có chồng). Hay bác nên gọi là Cô thôi (Ms. – dùng để gọi những người không rõ có chồng hay chưa)?”

    Cô đã đọc về cách dùng từ để gọi tên trong thế kỷ 21, được ghi lại trong những cuốn sách văn hoá kinh doanh đã được số hoa, vì vậy cô biết ông đang hỏi cái gì. “Cứ gọi cháu là Nikita thôi ạ.” Cô khịt mũi và lau mắt bằng mu bàn tay, sau đó nói với Knox, “Anh sẽ đứng dậy chứ, hay định ngồi đó cả đêm.”

    “Điều đó phụ thuộc vào việc em có định đánh anh nữa không,” anh trả lời. “Nếu em có, anh sẽ chỉ ngồi đây thôi, cảm ơn.”

    “Đừng có hành xử như một đứa trẻ to xác (large baby) như vậy,” cô giận dữ nói. “Chính anh là người đã thúc ép em cả ngày và em đã nói đi nói lại, nói đi nói lại với anh...”

    “Rằng em đã để anh làm vậy, rồi, anh nhớ rồi. Và người ta dùng từ “big baby” chứ không phải “large baby”. Anh đứng dậy một cách thận trọng, chắc chắn rằng anh đứng trong một khoảng cách an toàn.

    “Big hay large thì cũng như nhau cả thôi.” Cô đã quá bực mình để quan tâm đến việc mình có phạm phải một lỗi ngôn ngữ nữa hay không. Những sự kiện đã trở nên sáng tỏ; cô cũng đã rõ ràng về quan điểm của mình đến mức mà cô chẳng còn quan tâm đến chúng nữa.

    “Có lẽ con nên vào nhà và chườm vài viên đá lên cằm đi,” Kelvin nói với Knox.

    “Cảm ơn, con sẽ làm vậy. Con có thể tưởng tượng ra những gì mọi người sẽ bàn tán ngày mai khi con đi làm với một vết bầm tím to đùng trên mặt.”

    Kelvin quay sang Nikita một cách lịch sự, chìa tay ông về phía ngôi nhà. “Mời cháu.”

    Nikita sải bước đi trước hai người đàn ông, những suy nghĩ và cảm xúc của cô vẫn còn rối bời. Cô có thể nói rằng về một mặt nào đó, cô không thể hiểu được, tại sao cả Knox và bố anh đều nghĩ việc cô đã thật sự đánh anh là buồn cười. Sự bạo lực vẫn chưa giải thoát những cảm xúc đang ngày một chất đầy trong lòng cô; cô muốn đánh anh thêm cú nữa, cô muốn gào khóc lên, cô muốn hét lên sự tuyệt vọng của cô với trời xanh.

    Đèn thềm sau nhà đã được bật, và khi họ vào đến ngôi nhà, cô có thể nói rằng đây là một ngôi nhà gạch đỏ một tầng, có lẽ đã được xây khá lâu rồi, với những bụi cây được cắt tỉa thẳng hàng bao quanh nhà. Thềm nhà dường như mới được thêm vào sau, vì nó được làm bằng gỗ và sơn trắng. Kelvin mở một cánh cửa kính cũ với tiếng kêu cọt kẹt và đẩy họ lên thềm, sau đó mở một cánh cửa gỗ, cũng giống như nhà Knox, dẫn vào bếp.

    “Lynnette!” ông gọi to. “Có khách!”

    “Có phải Knox không?” một giọng nói báo hiệu một người phụ nữ bước nhanh sang từ một phòng khác. Bà dừng lại khi nhìn thấy Nikita, ngay lập tức nhìn về phía chồng mình chờ sự giải thích hoặc giới thiệu, bất kể cái gì là cần thiết vào trường hợp này.

    “Đây là Nikita Stover, là....bạn của Knox. Nikita, đây là vợ bác. Lynnette.”

    “Rất vui được gặp bác / cháu.” Cả Nikita và Lynnette nói cùng một lúc. Lynnette là một người phụ nữ mũm mĩm dễ thương, vào khoảng tầm 50 tuổi với mái tóc đỏ ngắn. Bà có một khuôn mặt dễ mến và có vẻ khá chuyên quyền.

    “Knox cần một ít đá cho hàm thằng bé.” Kelvin nói.

    “Đã có chuyện gì xảy ra vậy?” Ngay trong lúc đang hỏi, Lynnette đã hướng về phía tủ lạnh, mở một cánh ra và lấy ra một gói gì đó màu xanh.

    “Nikita đập con lăn ra,” Knox trả lời.

    Lynnette lấy ra một chiếc khăn dùng trong bếp mỏng từ một ngăn kéo và bọc nó xung quanh cái gói màu xanh rồi đưa nó cho Knox, người đặt nó lên bên trái hàm của anh. “Cố tình à?” bà hỏi.

    “Đúng rồi.” Knox kéo một chiếc ghế ra và ngồi xuống. “Con đã yêu cầu cô ấy đánh con.”

    “Có lẽ đang con đã mong chờ một cái tát yêu kiểu con gái chứ gì.” Lynnette nói móc cậu con trai.

    “Có lẽ vậy,” anh cũng đồng ý với bà.

    “Và đó không phải những gì con nhận được thì phải.”

    Anh tặc lưỡi. “Lần tới con sẽ cẩn thận hơn. Cô ấy có cú đấm của Mike Tyson.”

    Anh đang cười, Nikita nghĩ. Cười cơ đấy. Bên trong cô đang run lẩy bẩy và cô nghĩ mình có thể phát ốm lên mất. Không phải vì cô đã đánh anh; anh đã yêu cầu nó và anh cũng xứng đáng bị như vậy. Thật ra, cô muốn đấm anh lần nữa vì đã dám cười. Nhưng thay vào đó, cô đứng như trời trồng, nhìn chăm chăm vào cửa sổ nhà bếp dù cô chẳng nhìn thấy gì bên ngoài.

    “Ngồi xuống đi cháu.” Kelvin nói với cô, kéo một chiếc ghế ra và nhẹ nhàng ấn cô ngồi xuống. “Cháu muốn uống gì không? Nước nhé? Sữa? Hay cà phê?”

    “Cháu không muốn uống gì đâu, cảm ơn bác.” Cô nói.

    Knox xoay tròn trên chiếc ghế và nghiêng người về phía cô, ánh nhìn màu xanh tìm kiếm những nét khác lạ trên mặt cô. Cô không biết anh đang tìm kiếm điều gì; một vài chiếc xương thép lòi ra khỏi mặt cô, có lẽ vậy. Anh sẽ phải tìm kiếm trong vô vọng thôi; kim loại không được dùng để chế tạo robot trong cả trăm năm rồi.

    “Để anh xem tay em nào.”

    Anh không cho cô thời gian để làm theo, mà vươn tay ra nắm lấy tay phải của cô và ấp ủ nó trong tay khi anh xem xét nó. Những khớp ngón tay cô đã đỏ và đang sưng lên, và có một vết rách nhỏ xíu trên một trong số chúng. “Ouch!” anh nói “Tay em sẽ còn tệ hơn cằm anh nữa. Lynnette, chúng ta có một túi đá khác không?”

    “Không, nhưng chắc mẹ sẽ kiếm được một cái. Mẹ có một ít đậu đông lạnh.” Một lần nữa, mẹ kế của anh lại lấy một túi khác từ trong tủ lạnh ra, và quấn nó vào một cái khăn. “Xem nào.” Bà nói, cầm lấy tay Nikita từ tay anh và cẩn thận đặt bọc vải lạnh toát lên khớp ngón tay cô, sau đó buộc hai đầu của chiếc khăn thành một nút ở lòng bàn tay cô.

    Nikita hít vào một cách đột ngột trước cơn lạnh bất ngờ, điều mà có vẻ như khiến cơn co giật ở tay cô nghiêm trọng hơn. Thật là ngu ngốc. Cô đã rất ngốc khi khiến tay mình bị thương trong khi vẫn biết rằng mình phải ở trong trạng thái tốt nhất cho cuộc điều tra. Cô không thể quên tại sao mình lại ở đây, hay nhiệm vụ còn quan trọng hơn cảm xúc của cô.

    “Tại sao chuyện này lại xảy ra vậy?” Lynnette hỏi sau khi ngồi xuống. “Mẹ biết mẹ không nên hỏi, nhưng mẹ chỉ tò mò thôi, và cả hai con đang ngồi đây với hai bọc đá chườm vào những chỗ khác nhau trên cơ thể.”

    Kelvin khịt mũi. “Theo Nikita, cô ấy không chịu ngủ với Knox và nó đã gọi cô ấy là một robot.”

    “Đập nó tiếp đi,” Lynnette nhẹ nhàng khuyên Nikita.

    Nikita lại phải vật lộn để ngăn lại nước mắt của mình. Cô phải chấm dứt việc uỷ mị như thế này; cô phải kiểm soát bản thân ít nhất cho đến khi cô được một mình. “Tôi rất xin lỗi vì hành động không thích hợp của mình,” cô nói với cổ họng như bị sít lại.

    “Nếu nó gọi cháu là một robot, hành động đó không phải là không thích hợp. Bác sẽ nói là cháu đã hết sức kiềm chế rồi đấy.” Lynnette nheo mắt lại nhìn Knox. “Con đã gọi con bé như thế phải không?”

    “Theo một cách nào đó. Không chính xác là như vậy. Lúc đó chúng con đang có một cuộc thảo luận về chuyện khác.”

    “Và con sẽ không nói cho mẹ biết là các con đã thảo luận về chuyện gì.”

    “Không, con sẽ không nói đâu.” Giọng của anh nhẹ nhàng, nhưng cương quyết. “Và chỉ để nhắc nhở thôi ạ, mẹ không hề biết điều gì về Nikita. Mẹ chưa bao giờ gặp cô ấy, chưa bao giờ nghe nói về cô ấy. Cô ấy đáng lẽ phải ở trong xe để hai người không gặp được, nhưng điều đó đã không xảy ra. Cô ấy phải kín đáo, vì mạng sống của cô ấy phụ thuộc vào điều đó. Nếu bố mẹ nhìn thấy cô ấy trên phố, con sẽ giới thiệu cô ấy và sử dụng một cái tên khác, nhưng bố mẹ cũng đừng cư xử như thể bố mẹ nhận ra cô ấy, được không?”

    Cả Kelvin và Lynnette gật đầu. Có một điều hiển nhiên là đang có những câu hỏi lấp đầy tâm trí họ và chỉ chực chờ thoát ra khỏi miệng Lynnette, nhưng bà đã kìm giữ chúng lại. Thay vào đó bà lại đặt ra câu hỏi truyền thống của các bà mẹ, “Hai đứa đã ăn gì chưa? Để mẹ đi hâm nóng một số thứ một cách nhanh chóng cho hai đứa nhé.”

    “Cảm ơn mẹ, nhưng chúng con đã ăn rồi.” Knox nói, mỉm cười với tình cảm chân thành nơi bà. “Và chúng con cần phải đi rồi.”

    “Nhưng các con mới đến đây mà.”

    “Chúng con đang điều tra chung một vụ, và tối nay vẫn còn nhiều việc nhàm chán phải làm.”


    “Tuỳ vào việc định nghĩa của con về “việc nhàm chán” là gì.” Kelvin lẩm bẩm dưới hơi thở của mình, để nhận được một cái nhìn răn dạy từ vợ của ông và khiến Knox mỉm cười.

    “Loại việc mang tính chính thức ấy,” anh nói với bố mình. Anh đứng lên và đặt bọc đá lên bàn. “Cảm ơn mẹ vì bọc đá chườm nhé.”

    “Mang nó theo đi,” Lynnette nói. “Xe của con là hộp số tự động; con có thể lái xe bằng tay phải và dùng tay trái để giữ túi đá chườm. Hãy giữ nó ở đó trong khoảng 15 phút, sau đó bỏ ra trong 15 phút và lại đặt nó lên. Hãy làm việc đó liên tục vào và con sẽ không có cả một vết bầm tím đâu. Và hãy đảm bảo rằng con cầm bọc đậu đi cùng nhé, vì tay của con bé sẽ còn tệ hơn hàm con đấy.”

    Knox gật đầu và cầm bọc đá chườm lên. Anh tiến về phía Lynnette và cúi người xuống hôn má bà. “Cảm ơn mẹ lần nữa nhé. Mẹ là một bà mẹ kế có thể chấp nhận được đấy.”

    Bà mỉm cười và vỗ tay anh. “Ta đoán con cũng là một đứa con chồng tạm chấp nhận được.”

    Nikita đứng đó và nói với ông bà lời cảm ơn của mình, sau đó theo Knox ra cửa. Kelvin và Lynnette đứng ở lối ra vào và nhìn họ đi về phía xe của mình, khi họ đến chỗ chiếc xe, Kelvin tắt đèn hành lang và đóng cửa.

    Trong bóng tối riêng tư đến một cách đột nhiên, Nikita cảm thấy mình thậm chí bị tách biệt hơn cả trước kia. Cô ngồi vào ghế phụ lái, trong khi Knox trượt vào ngồi sau tay lái. Ít nhất là anh đã cố, và trong quá trình đó thì bị đập đầu gối vào tay lái và lẩm bẩm chửi thề trong khi anh chuyển chiếc ghế lùi về phía sau đủ để chân anh có thể được đặt một cách thoải mái.

    “Mọi chuyện diễn ra tốt đấy,” anh nói. “Giờ thì họ biết về em, và họ nghĩ anh là một tên khốn.”

    Cô muốn nói gì đó hưởng ứng theo cái kiểu “Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra” (The truth will come out) hoặc “Hãy chấp nhận thực tế đi” (If the shoe fits, wear it), nhưng những câu sáo ngữ đó đều không có vẻ hấp dẫn với cô lúc này. Cô chỉ ngồi đó hoàn toàn im lặng khi anh khởi động xe và lùi ra khỏi sân, rồi quay đầu xe.

    “Em định giữ im lặng suốt đấy à?” anh hỏi khi họ ra đến đường và anh hướng chiếc xe vào thị trấn.

    Cô khựng lại, cố gắng tập trung. “Khi chúng ta về đến nhà anh, em sẽ ngồi xuống một lát và dựng lại một khung thời gian, liệt kê tất cả những gì em biết về vụ ám sát của Taylor Allen....."

    “Đó không phải là những gì anh muốn nói.”

    “Vậy là anh muốn hỏi về những vấn đề cá nhân phải không? Được rồi, hãy làm rõ nhé. Đừng có hôn em lần nữa đấy. Giờ thì sao nào?”


    Anh thở dài. “Ngắn gọn và đúng trọng tâm. Giờ thì anh biết đó là cách em cảm nhận. Nghe này, anh chỉ đang nghĩ về việc em chấp nhận mọi việc một cách bình tĩnh ra sao, và về những thành tựu công nghệ được phát triển trong thời đại của em, và anh nghĩ đó có thể là một khả năng thôi mà.” Một vài giây trôi qua. “Đúng không?”

    “Bất kỳ ai đã giết Allen đều là một người lạ lẫm với thời đại này. Anh ta phải sống ở đâu đó, ăn uống ở đâu đó. Đây là một thị trấn nhỏ; việc tìm anh ta có lẽ là không khó khăn gì.”

    Trong một lúc cô đã nghĩ là anh sẽ không cho cô thay đổi đề tài như vậy, nhưng sau đó anh nói, “Nếu anh ta đang ở đây. Anh ta có lẽ đang ở một hạt khác, hay bang khác.”

    “Chúng ta không biết trừ khi chúng ta đi tìm.” Giọng của cô dường như không gợi ý cho cuộc nói chuyện được tiếp tục, và họ ngồi trong im lặng cho đến khi về tới nhà.

    Anh chỉ vừa mới mở cánh cửa sau dẫn vào nhà khi bộ đàm của anh kêu lên. Anh lắng nghe mã, khuôn mặt của anh trở nên lạnh lẽo. “Đã có một vụ ám sát khác,” anh nói ngắn gọn, đẩy cửa mở ra cho cô. “Hãy thực hiện như cũ: khoá cửa lại, và đừng trả lời điện thoại trừ khi đó là số điện thoại di động của anh. Hiểu không?”

    “Vâng, đương nhiên. Vụ này có lẽ có liên quan, đúng không?”

    “Bọn anh không có nhiều vụ ám sát ở Pekesville,” anh nói khi quay đi. “Tỉ lệ may mắn là bao nhiêu chứ?”
     
    B-Mon, huyenhanoi, meocontb and 10 others like this.
  6. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 16

    Ngài cựu thị trưởng già, Harlan Forbes, đang ở lứa tuổi 80 và xứng đáng với một cái chết có phẩm giá hơn là bị siết cổ chết trong khi đang ngồi ở chiếc ghế bành cũ ưa thích của ông và xem kênh trò chơi trên truyền hình. Ông đã giải phóng bàng quang và ruột của mình, và đôi chân đá lung tung trong lúc giãy dụa có lẽ đã làm đổ ngọn đèn. Bị siết cổ chết là một cái chết man rợ, với việc nạn nhân giãy dụa chống cự trong một thời gian dài trước khi bộ não chết hẳn. Và để làm được việc này phải rất tốn sức, hoặc phải rất hiểu biết về những kỹ thuật cần thiết để thay cho việc dùng sức mạnh.

    Hung thủ có lẽ là vô cùng khoẻ, nhưng hắn phải dùng tay. Không hề có dấu vết ngón tay rõ ràng nào trên cổ người đàn ông, chỉ có một vết dây mảnh, điều này có nghĩa là cái gì đó đã được vòng qua đầu ông, thắt lại và kéo. Có lẽ là một chiếc thắt lưng. Cũng có thể là một sợi dây thừng, một chiếc khăn quàng dài, bất kể cái gì đủ dài và có thể xoắn lại.

    Đây không phải hiện trường do Knox phụ trách. Ngài thị trưởng sống trong ranh giới của thành phố, nên hiện trường đang được điều tra bởi những thanh tra trực thuộc thành phố. Dù vậy thì hai lực lượng vẫn hợp tác rất khăng khít với nhau, kết hợp kinh nghiệm, sức mạnh và nguồn ngân quỹ của cả hai nơi một cách khá hiệu quả. Họ biết nhau, cùng thành lập lực lượng đặc nhiệm chung, và nơi này sẽ chi viện cho nơi kia khi cần thiết.

    Họ không cần Knox để điều tra vụ này, nhưng những thanh tra của lực lượng thành phố luôn muốn nghe những quan sát của anh; danh tiếng về sự tò mò không giới hạn của anh đã khá vang dội. Anh không phải thanh tra duy nhất của hạt có mặt, Roger Dee Franklin cũng ở đó, và đang làm cùng một việc mà Knox làm – quan sát.

    Vụ ám sát đã xảy ra khi trời vừa tối, theo như những gì hàng xóm miêu tả. Bà đã nhìn thấy Harlan lái xe ra vào buổi chiều muộn như những gì ông làm hàng ngày. Bà đã đến xem ông ra sao là vì một con mèo, vì con vật tội nghiệp đó đang đứng ở cửa và cào liên tục đòi vào, và ông chưa bao giờ phớt lờ con mèo của ông. Những tiếng ồn cuối cùng đã làm bà phiền lòng và bà đã gọi điện cho ông. Khi ông không trả lời điện thoại, bà đã gọi 911.

    Roger Dee nghe thấy câu chuyện về con mèo và quay trở về chỗ Knox đứng. “May mà con mèo đã ở ngoài,” anh thì thầm. Nếu những con mèo bị nhốt trong một căn nhà với người chết, chúng được biết đến với khả năng gặm nhấm những xác chết. Mọi người thường quên mất là mèo cũng là những kẻ ăn thịt chứ không chỉ là những vật nuôi. Sau khi chứng kiến một vài cảnh tượng trong những ngôi nhà của người già chết một mình, với chỉ một hay vài con mèo ở cùng, Knox thề với bản thân rằng nếu anh có một vật cưng trong nhà, nó chỉ có thể là một con cá mà thôi. Anh thích mèo, nhưng không đủ để tự nguyện trở thành thức ăn cho chúng.

    Knox để tia nhìn của anh quay trở lại với hiện trường vụ án. Không có gì tương tự như hiện trường trong vụ Allen; phương pháp khác, và về mặt ngoài của 2 nạn nhân thì chẳng có gì chung cả, một người là một luật sư khá giàu có với cô vợ trẻ xinh đẹp, người kia thì là một người đàn ông già goá vợ đã nghỉ hưu sở hữu một con mèo và đã sống trong cùng một ngôi nhà trong vòng 50 năm. Từ những gì người hàng xóm nói, Harlan Forbes không rời khỏi nhà mình quá nhiều, thích chăm sóc vườn tược hoặc ngồi trước nhà trong cái ghế yêu thích rồi nhìn xe cộ đi lại trước nhà. Con gái hoặc cháu gái ông thường mang thực phẩm đến một lần một tuần, hoặc đến đón và đưa ông đi chơi. Ông đang ngày càng trở nên yếu hơn trong vài năm gần đây, và đã bắt đầu nói về việc bán nhà và chuyển đến một căn hộ có dịch vụ hỗ trợ. Giờ thì người đàn ông lớn tuổi tội nghiệp không phải lo lắng về việc đó nữa rồi.

    Với không có gì để kết nối hai vụ sát nhân, Knox đã khá ngạc nhiên trước kết luận của bản thân anh rằng hai vụ này, bằng một cách nào đó, có liên hệ với nhau. Anh không đủ điên để nói điều đó cho bất kỳ ai nghe. Anh sẽ bị cười cho thối mũi. Nếu anh không biết Nikita, nếu anh không nhìn thấy một người hiện ra từ trong không trung ngay trước mặt anh, nếu anh không biết đến một kẻ giết người đến từ tương lai đang ở trong khu vực này, ý tưởng này sẽ chẳng bao giờ nảy ra trong đầu anh.

    Những điều kỳ quặc xảy ra gần đây đều có liên hệ với nhau. Chiếc rương thời gian, những ánh sáng kỳ lạ ở nhà của Bingham, Nikita, những chuyến du hành thời gian, vụ ám sát Taylor Allen – những điều đó chắc chắn có liên hệ với nhau, dù Nikita không biết chính xác Taylor Allen có liên quan gì đến chuyện này. Cô chỉ biết là một đồng đội của cô đã giết ông ta, không biết tại sao, hay chính xác là ai. Vì vậy.... vụ ám sát Harlan Forbes có liên hệ như thế nào với vụ này?

    Harlan không hề bị cướp. Không có dấu hiệu nào của việc đột nhập bất hợp pháp, nhưng cửa nhà cũng không hề bị khoá. Hầu hết những người sống quanh đây không khoá cửa của họ nếu họ đang ở nhà, cho đến khi họ đi ngủ. Cả phương pháp thực hiện việc này và thực tế là không có thứ gì bị lấy đi đã nói lên rằng vụ giết người này không phải do những kẻ nghiện gây ra, vì một tên nghiện có thể đã hi vọng sẽ lấy được tiền mặt hoặc thứ gì đó để bán.

    “Tội nghiệp ông ta,” Roger Dee nói, lặp lại những gì Knox đã nghĩ lúc trước, “Ai có thể muốn giết người như ông ấy chứ? Đã nghỉ hưu, sống trên đất của chính ông – và chỉ có chúa mới biết, thị trưởng của Pekesville không được trả nhiều tiền lắm. Nếu ông bị cướp, ít nhất mọi chuyện còn có lý, nhưng chỉ đến và giết ông ấy thôi à – tại sao chứ? Chắc là một người họ hàng nào đó của ông ấy rất sốt ruột trong việc thừa kế ngôi nhà cũ và một vài đồ nội thất tàn tạ?”

    “Cũng có thể.” Có lẽ Harlan có một hợp đồng bảo hiểm kếch xù, hoặc một tài khoản kha khá trong ngân hàng. Ông sống không theo kiểu ông có nhiều tiền lắm, nhưng cũng có nhiều người lớn tuổi đã phải trải qua thời kỳ Đại suy thoái nên cất sạch tiền của họ đi rồi sống như thể họ vô cùng khó khăn. Knox cố nghĩ về tất cả các khả năng có thể, nhưng thực sự thì anh vẫn bị thuyết phục là vụ này có liên quan đến vụ án của Nikita. Dù sao đi nữa đây không phải hiện trường của anh; những anh chàng thành phố này có thể kiểm tra những hợp đồng bảo hiểm hay những tài khoản ngân hàng, và anh sẽ giúp đỡ họ về mặt phỏng vấn hàng xóm.

    Anh và Roger Dee bắt đầu với những quyển sổ ghi, đi gõ cửa từng nhà một và hỏi từng người. Đây là một khu vực với những người hàng xóm tử tế đã sống với nhau lâu năm, và hầu hết những người sống ở đây đều đã nghỉ hưu, có nghĩa là họ thường ở nhà xem ti vi vào buổi tối. Không ai trong số họ nhìn thấy hay nghe thấy điều gì bất thường. Họ đều bất ngờ và sốc trước sự việc bạo hành xảy ra ở gần nhà, và với một người mà họ biết và quý trọng, nhưng tất cả những lời khai đó chẳng giúp được gì.

    Cuối cùng thì anh cũng lái xe về nhà một cách mệt mỏi sau 2 giờ sáng. Ngày hôm nay đã là một ngày rất dài, và khi anh lái xe vào đường cho xe chạy ở trước nhà anh và nhìn thấy những ánh đèn vẫn được bật sáng trong nhà, anh biết là mọi việc vẫn chưa kết thúc.

    Nikita ngồi bên bàn bếp, một tách cà phê bốc khói được đặt gần tay cô trong khi cô đọc một trong những quyển sách của Knox và chờ anh. Khi cô nghe thấy tiếng xe lái vào nhà, cô đứng dậy và nhìn ra ngoài từ cánh cửa bếp để đảm bảo rằng đó là anh, rồi mở khoá cửa và mở nó ra cho anh vào.

    Anh nhìn có vẻ mệt mỏi khi anh bước vào, nhưng làm sao anh có thể không mệt được chứ? Giờ đã muộn rồi, anh cần được ngủ. Tuy nhiên thay vì đi về giường, khi anh bước vào anh ngửi mùi hương trong không khí và hỏi “Cà phê mới pha à?”

    “Em đã pha nó khoảng 1 tiếng trước.” Cô nói khi cô quay lại ghế ngồi của mình cạnh bàn. Cô đã khá tự hào rằng mình có thể tìm ra cái nào là máy pha cà phê, và làm thế ào để vận hành nó. Cô đã làm được công đoạn đầu tiên vì cô đã nhìn thấy một cái máy ở văn phòng của Knox với chữ “Mr. Coffee” trên nó, và dù chiếc này không có cùng cái tên, nhưng có kết cấu tương tự, chúng chỉ khác nhau một chút về mặt hình dạng. Vì không có bất kỳ một hướng dẫn nào, cô đã tự nghiền ngẫm ra quy trình hoạt động của máy: cái bình to đùng trống rỗng có những mức chỉ định lượng được đánh dấu, vì vậy phải có cái gì đó được đổ vào chỗ đó. Cà phê? Nhưng nếu cà phê được đổ vào đó, vậy cái hộp đựng lọc cà phê bằng giấy được dùng để làm gì? Bằng cách thử nghiệm, cô phát hiện ra rằng cái lọc vừa một cách hoàn hảo vào cái giỏ nhỏ, vì vậy đó là nơi mà người ta phải đổ cà phê vào. Điều đó có nghĩa là cái bình là dùng để đổ nước.

    Cô tìm thấy một cái túi cà phê đã mở, đọc những hướng dẫn về việc phải dùng bao nhiêu cà phê cho một cốc nước, và cẩn thận đong cả hai thứ để đổ vào chiếc máy. Sau đó tất cả những gì phải làm chỉ là nhấn nút On, và sau một lúc thì nước bắt đầu sôi và đổ vào bình. Khá đơn giản. Và nó có vị thật tuyệt vời.

    “Anh đoán là 200 năm sau thì vẫn có cà phê.” Anh nói trong khi lấy một chiếc cốc từ trong tủ ra và đổ một ít cho mình.

    “Chắc chắn rồi. Nó là nguồn thu lớn nhất của Nam Mỹ.”

    “Thậm chí còn hơn cả dầu sao?”


    “Thị trường dầu đã sụp đổ khi khoa học kỹ thuật phát triển.” Cô ngồi tại chỗ, quyển sách vẫn mở trước mặt, và ánh mắt vẫn giữ nguyên trên quyển sách mặc dù cô không đọc được từ nào cả.

    Anh kéo một chiếc ghế đối diện với cô và ngồi sụp xuống nó. Anh xoa mắt mình, và ôm cả hai tay quanh cốc. “Nạn nhân là một cựu thị trưởng, Harlan Forbes. Cách thức sát hại hoàn toàn khác, bị siết cổ. Harlan đã 85 tuổi rồi, rất yếu ớt về mặt thể chất. Không hề có chi tiết nào để liên kết vụ của Taylor Allen với vụ này, trừ bản năng của anh.”

    “Liệu có phải ngài thị trưởng đã nói viết tài liệu nghiên cứu nào đó được đặt vào trong chiếc rương thời gian.”

    “Không, ông ấy thậm chí không học đại học. Ông ấy chỉ là một trong những anh chàng tốt bụng theo kiểu cũ với phong cách thân thiện quá đà và khả năng giao tế tốt, đủ thông minh để trở thành một nhà quản lý tốt, chứ không phải một nhà kinh doanh.”

    Hầu hết trong số đó, cô tự nói thầm, được nói bằng tiếng Anh, và cô có thể hiểu được nghĩa của những thành ngữ mà cô không biết thông qua cách mà anh dùng nó. “glad-hand” – phong cách thân thiện. Cô phải nhớ điều này mới được.

    “Có lẽ nó không có liên hệ với vụ kia chăng,” cô gợi ý.

    Anh lắc đầu. “Anh đã suy nghĩ, và nhớ lại những người đã có mặt trong buổi lễ 20 năm trước khi chiếc rương thời gian được chôn xuống. Huấn luyện viên của đội bóng, Howard Easly, đã được tìm thấy bị treo cổ vào ngay sáng hôm sau. Điều tra viên đã quyết định rằng đó là một vụ tự sát, nhưng giờ thì anh bắt đầu băn khoăn về một khả năng khác. Huấn luyện viên đã ở đủ gần để nhìn thấy chính xác cái gì đã được đặt vào chiếc rương thời gian; thật ra, ông ấy đã giúp việc chôn nó xuống đất. Ông thị trưởng đã đứng ngay đó. Và giờ khi anh nghĩ lại, Taylor Allen cũng đã ở đó. Ông ấy mới vừa bắt đầu công việc trong ngành luật, và ông ấy đã tham gia đủ mọi loại xã giao để xây dựng mạng lưới quan hệ. Ông ấy cũng là một phần của buổi lễ.”

    “Nhưng ông huấn luyện viên đã chết 20 năm trước rồi,” cô chỉ ra. “Tại sao lại phải đợi đến 20 năm mới giết những người khác?”

    “Anh không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng anh nghĩ anh bắt đầu nhìn thấy sự liên hệ ở đây rồi. Anh cần phải nhớ lại mọi thứ đã. Điều đầu tiên chúng ta làm vào ngày mai là đi đến thư viện, xem xét các bài báo, và kiểm tra xem có bài báo nào nói về danh sách những người đã ở đó không. Còn có cả một bức ảnh nữa, vì anh nhớ việc xem lại để xem bố và anh có ở trong đó không, nhưng góc độ chụp không thể lấy cả bố con anh vào.”

    Cô gật đầu và nhìn lại vào quyển sách.

    Sau một phút anh thở dài. “Nghe này – anh xin lỗi. Anh đã không có ý hỏi liệu em có phải là một robot không phải vì chuyện tình dục, anh thề đấy.”

    “Không có vấn đề tình dục gì ở đây cả. Anh đã hôn em vài lần, nó khá là dễ chịu, và nó sẽ không xảy ra lần nữa.” Cô khiến biểu hiện của mình bình tĩnh nhất có thể, đấu tranh sự thôi thúc sự xôn xao đang quét qua người cô lần nữa. Cô sẽ không khóc trước mặt anh nữa.

    Cô đóng quyển sách lại và đứng lên. “Giờ em sẽ đi ngủ đây nếu anh không phiền.”

    “Em sẽ không thể ngủ được sau khi uống chỗ cà phê đó. Chúng ta tốt hơn là nên ngồi đây và nói chuyện thôi.”

    “Em không uống nhiều lắm, và em khá mệt rồi. Chúc anh ngủ ngon.” Mang theo quyển sách, cô đi đến phòng ngủ nhỏ mà anh đã chỉ định như của cô và bật chiếc đèn bên cạnh giường lên. Cô không nói dối về việc cảm thấy mệt mỏi; cô đã kiệt sức đến mức không thể nghĩ thêm gì được nữa.

    Anh xuất hiện ở cửa ngay sau cô. “Em đã có mọi thứ mình cần chưa? Đồ ngủ ấy?”

    “Em ổn mà, cảm ơn anh.”

    “Em chắc không? Em có thể dùng một trong những cái áo phông của anh để làm đồ ngủ. Vào đêm trời cũng ấm, và hệ thống điều hoà của căn nhà này không phải loại tốt nhất. Một chiếc áo phông sẽ dễ chịu hơn nhiều.”

    “Em có đồ ngủ của mình rồi. Cảm ơn anh.”

    “Vậy thì tốt rồi.” Anh nấn ná ở cửa. “Anh sẽ gặp em vào sáng mai.”

    “Anh hỏi vậy để đảm bảo chắc chắn rằng anh sẽ gặp em vào sáng mai đấy à? Em sẽ không rời đi đâu. Em có việc phải làm mà.”

    “Anh biết rằng em sẽ không rời đi. Em có rất nhiều cơ hội để làm việc này, nếu em muốn. Chỉ là....chết tiệt thật. Anh đã làm em tổn thương và anh không cố tình làm vậy, nhưng anh không biết làm thế nào để bù đắp cho em.”

    “Anh đã xin lỗi. Thế là được rồi.”

    “Không, chưa được. Em vẫn thấy tổn thương.”


    “Vậy thì em sẽ vượt qua nó thôi,” cô nói bình tĩnh. “Em là một người trưởng thành rồi. Anh làm ơn đóng cửa giúp em nhé. Em muốn thay quần áo và đi ngủ.”

    Anh đứng đó thêm một vài phút nhìn có vẻ vô cùng buồn bã; sau đó, với một tiếng chủi thề lẩm bẩm anh lùi ra và đóng cửa lại phía sau anh. Nikita thở ra một hơi thở dài nhẹ nhõm. Cô không muốn giải quyết những bất đồng cá nhân, nhưng đặc biệt là khi cô mệt đến như thế này.

    Quần áo mà cô mua từ thời đại của cô không bị nhăn, nhưng cô lấy quần áo từ va li ra và cẩn thận treo chúng vào một trong những chỗ trống của cái tủ, rồi làm tương tự với những bộ quần áo Knox đã mua cho cô. Với những thứ mà cô đang mặc, cô cởi chúng ra và vắt lên thành chiếc ghế trong phòng. Khi cô đã khoả thân, cô mặc vào bộ đồ liền mảnh, một chiếc “sanssaum”, mà cô mặc khi đi ngủ. Nó rất thoải mái, được làm từ loại vải tổng hợp mờ đục, mềm mại có cảm giác như vải sa và có thể thích ứng với nhiệt độ cơ thể. Nếu bạn trở nên quá nóng nực, chấy liệu vải này sẽ khiến nhiệt thoát nhanh hơn từ làn da. Nếu bạn quá lạnh, nó sẽ lưu giữ nhiệt độ. Cô không thể tưởng tượng ra bằng cách nào mà chiếc áo phông của Knox có thể chỉ thoải mái bằng một nửa chiếc áo sanssaum của cô.

    Cô lật tấm phủ của giường lên và cẩn thận trèo vào giữa những tấm chăn, và vươn người ra để tắt đèn đi. Trong bóng tối phủ xuống bất ngờ, cô nằm thức chong chong, nhận thức được sự lạ lẫm của việc nằm tại đây / vào lúc này hơn cả khi cô vừa đặt chân đến. Chỉ mới 36 giờ trước đây cô vẫn đang đầy ngập nhiệt tình và các kế hoạch hành động. Vậy mà giờ đây cô đang bị bỏ rơi ở một thời đại không phải của cô, cô đã bị phản bội bởi một trong những đồng đội của mình, và cô cũng không biết liệu cô có bao giờ quay lại được hay không hay liệu một sát thủ khác có được cử đến để giải quyết cô.

    Điều đó có nghĩa là cô có sẽ thành công, và họ biết điều đó.

    Nếu không, tại sao lại phải giết chết cô? Nếu cô đã được sắp đặt sẵn để thất bại, họ có thể cứ để mặc cô ở đây và sẽ chẳng có ai biết cả. Cô đã không có khả năng thông báo cho gia đình cô về địa điểm cô sẽ thực hiện nhiệm vụ, vì những nhiệm vụ du hành thời gian là tối mật, chỉ được dùng bởi lực lượng quân đội và lực lượng trị an. Công nghệ này vẫn còn quá mới – chỉ 20 năm từ chuyến du hành đầu tiên, và trong 10 năm đầu, những chuyến du hành đã bị đe doạ với nhiều mối nguy hiểm, để lại hệ quả là đã có quá nhiều người chết đến nỗi những tình nguyện viên tham gia dự án đều biết tỉ lệ có thể sống sót quay về cao nhất là 50-50 – và những hậu quả về ảnh hưởng làm thay đổi lịch sử vẫn chưa được giải quyết triệt để, và những nhóm khủng bố cũng rất muốn có được công nghệ này.

    Nếu cô không quay về, không ai có thể biết được chuyện gì đã xảy ra với cô.

    Có quá nhiều chuyện đã xảy ra mà cô không hiểu. Chiếc rương thời gian là một sự ngạc nhiên, nhưng ai đó từ thời đại của cô đã đến và lấy nó. Là ai, và tại sao phải làm vậy? Knox biết mọi người trong thị trấn này, và anh đã nói cả ông luật sư và ngài thị trưởng đã nghỉ hưu đều không thể có kiến thức để phát triển công nghệ du hành thời gian bằng bất cứ cách nào.

    Và ai từ thời đại của cô lại cố gắng giết cô, và tại sao? Ai có thể biết về cô chứ?

    A: Tên sát nhân đã được cảnh báo về việc cô sẽ đến – và có thể về cả việc Houseman và McElroy nữa.

    B: Tên sát nhân đã tập hợp được lực lượng hỗ trợ tại đây. Nhưng tại sao tên đó không nói với cảnh sát trưởng rằng cô không phải là một đặc vụ liên bang thực sự?

    Liệu có khả năng nào hắn không muốn cô bi tống vào ngục? Chỉ tống cô ra khỏi đường đi của hắn là chưa đủ. Hắn muốn cô phải chết.

    Cô ngáp, quá mệt để tiếp tục suy nghĩ tỉnh táo. Xoay người sang một bên, cô chớp chớp đôi mắt buồn ngủ. Giờ đây khi mắt cô đã điều chỉnh với bóng tối cô có thể nhìn thấy hình dáng của hai chiếc cửa sổ, và cô ước gì mình có thể mở chúng. Căn phòng hơi tù túng, và một chút không khí trong lành có thể khá dễ chịu. Một cánh cửa sổ mở đồng nghĩa với một lỗ hổng an ninh; vào thời đại của cô, những cánh cửa sổ không bao giờ mở. Việc huấn luyện và thói quen giữ cô nằm nguyên trên giường, ao ước thay vì đứng dậy và hành động.

    Không khí ở nơi đây, trên những dãy núi thật trong lành, và sự xao xác của những cơn gió nhẹ xào xạc trên những cây cổ thụ khổng lồ gần như là thường xuyên, tạo ra những âm thanh êm đềm như những bài hát ru. Những thảm cỏ đều xanh mướt và thơm tho, và những bông hoa tô điểm thêm sắc màu và mùi hương rực rỡ trên nền cỏ xanh đó. Cây cỏ và hoa lá vẫn tồn tại ở thời đại của cô; thật ra cây cối đã thực sự nở rộ lên trong thời cô vì người ta không còn dùng chúng làm giấy nữa. Những loại hoa mới, với màu sắc và hương thơm đã dạng được trồng thành những khóm lớn.

    Nhưng chúng không giống như thế này. Những loại ở đây mới hơn. Và đây không phải là nhà. Nó sẽ không bao giờ trở thành nhà.
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 5 others like this.
  7. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 17

    Knox tỉnh dậy vào thời gian bình thường của anh và làm nóng hai cốc cà phê còn lại bằng lò vi sóng. Cà phê bị hâm nóng sẽ không bao giờ mang hương vị hấp dẫn, nhưng anh không thấy hợp lý khi bỏ cà phê đi chỉ vì chúng đã bị lạnh trong vài giờ. Tạ ơn Chúa là Nikita đã uống cà phê đen, vì vậy anh không phải bận tâm đến chuyện phải cân đong những gì sẽ phải bỏ vào. Anh không thể ngay lập tức tìm được chiếc khay mà anh biết là mình có, vì vậy anh đành ứng biến và đặt những chiếc cốc cà phê lên chiếc khay làm bánh, và mang cả hai lên phòng ngủ của cô. Nếu được tính đến như một dấu hiệu làm hoà thì một cốc cà phê cũng không đáng gì, nhưng đây là điều tốt nhất anh có đến thời điểm này.

    Anh chắc chắn là không mặc một chiếc áo sơ mi, không phải để khoe cơ thể nam tính của mình, mà vì với kinh nghiệm của mình, cách duy nhất để khiến một phụ nữ chạm vào anh là cởi bỏ áo. Là do pheromone, anh đoán. Dù với lý do gì đi nữa, thì việc này cũng hiệu quả, và cô cần anh chạm vào cô. Những đụng chạm thể xác sẽ giúp hàn gắn khoảng cách giữa họ, mang cô lại gần anh hơn.

    Anh biết rằng anh xâm nhập sự riêng tư của cô một cách thô bạo, nhưng điều đó không ngăn được anh gõ cửa một lần, và sau đó xoay tay nắm cửa rồi bước vào.

    Bị giật mình tỉnh dậy, Nikita ngồi dậy trên giường “Có chuyện gì vậy?” cô hỏi một cách khẩn cấp, hất những sợi tóc buông xoã che mặt mình ra.

    Trái tim Knox gần như ngừng đập, và khay bánh chao nghiêng trên tay anh. Chiếc áo ngủ màu da mà cô đang mặc giống như một loại chất lỏng nào đó, mềm mại đổ xuống trên bụng cô. Nó không hề chật, và anh không thể nhìn xuyên qua nó, nhưng anh gần như không phải làm vậy, vì nó đang ôm quanh từng đường cong, từng đường nét gợi cảm của cơ thể cô.

    Anh nuốt khan, và cố gắng để có thể nói được bằng giọng gần như bình thường. “Anh mang cho em cà phê. Anh nghĩ em có thể cần nó để kích thích bản thân sáng hôm nay.”

    “Kích thích (jump-start) á?” cô hỏi, nhăn mày lại một cách bối rối.

    Anh nhịn không mỉm cười. Cô có thể không thích việc anh thích thú với cách cô nhầm lẫn về những ngôn ngữ đương đại có nguyên nhân từ việc cô áp dụng ngôn ngữ một cách quá sách vở. “Kích thích (jump-start) có nghĩa là sử dụng một yếu tố từ bên ngoài để khiến em tỉnh táo vào buổi sáng. Đó là một ngôn từ sử dụng trong công nghiệp ô tô.” Anh cầm chiếc khay lại phía cô và đặt nó lên chiếc bàn cạnh giường, sau đó ngồi xuống, ngay cạnh hông cô. Anh cầm cả hai chiếc cốc lên và chìa một cái về phía cô.

    “Ồ.” Cô nhận lấy chiếc cốc. “Cảm ơn anh.” Cô hớp một ngụm chất lỏng bốc khói một cách cẩn trọng, sau đó nhăn mặt lại. “Cái này không có vị như đêm qua. Anh đã làm gì với nó vậy?” Cô liếc một cái vào ngực anh, rồi nhìn lảng đi.

    “Hâm nó trong lò vi sóng.” Anh hớp một ngụm từ cốc của anh, thích chất lỏng nóng này dù nó không phải loại tốt nhất trên thế giới.

    (Nhưng đồng thời “nuked” còn có nghĩa là xử lý cái gì đó bằng phóng xạ. Đó là lý do cho sự hoảng sợ của Nikita sau này.)

    Một cách hoảng sợ, cô nhìn chăm chăm vào cốc cua mình, và anh phải bật cười. “Chỉ là loại cà phê từ tối qua thôi; anh chỉ làm nóng nó bằng lò vi sóng thôi. Nó không có chứa phóng xạ đâu.” Anh đảm bảo với cô.

    Cô hớp một hớp nữa, sau đó nói, “Em khuyên anh nên đổ hết chỗ cà phê cũ đi và làm lại một bình mới.”

    Anh chắc lưỡi, “Nó nóng, và nó có chứa caffeine. Đó là tất cả những gì anh cần. Một bình mới đang được làm rồi, nhưng cái này giữ anh tỉnh táo cho đến khi bình đó sẵn sàng.” Anh đang nói chuyện tầm phào với cô trong khi cố giữ tia mắt mình khỏi chăm chăm vào ngực cô, nhưng chứ ơi, anh chỉ là con người thôi, và cô có bờ ngực đẹp: không quá to, không quá nhỏ, nhưng tròn trịa, và trên nó là những đầu vú nhìn có vẻ mềm mại. Anh muốn cởi hẳn quần áo ra và leo vào giường với cô, nhung cô chưa cho anh ám chỉ nào rằng cô sẽ tha thứ cho anh trong cả thế kỷ tới, vì vậy anh không dám liều với vận may của mình. Nếu cô đấm anh lần nữa, cô có thể làm vỡ cằm anh.

    Cô cũng đang quan sát anh, với những cái liếc nhanh vào bộ ngực và vai trần, nưng sau đó cô đã cống hiến toàn bộ sự chú ý của mình cho cốc cà phê. Có lẽ cô sẽ không chạm vào anh, nhưng cô đang nghĩ về việc đó.

    Anh chạm tay vào và nghịch một nếp gấp trên chiếc váy ngủ của cô, chỗ cuộn lại trên bụng cô, nơi lớp vải hơi nhăn lại. “Đây là loại vải gì vậy? Nó nhìn như nước ấy.”

    Cô nhìn xuống mình, cau mày. “Nó nhìn ướt à?”

    “Không, ý anh là cái cách nó chảy xuôi theo người, như một loại chất lỏng nào đó vậy.”

    “Chính xác. Đây là một loại vải tổng hợp được lưu hoá, đương nhiên, và sự thoải mái của nó là ưu điểm chính. Nó khiến anh ấm lên khi anh lạnh, và mát mẻ nếu anh quá nóng. Tất cả những chiếc áo sanssaum đều được làm từ chất liệu này...”

    “Sanssaum?”

    “Là tên của loại váy mà em đang mặc. Nó có nghĩa đen là “không có đường may”. Tên cho loại vải này trên thị trường là “Elegon”, nhưng ai biết được nó được làm như thế nào. Một số nhà hoá học đã sáng tạo ra nó.”


    “Anh thích cảm giác khi chạm vào nó.” Anh xoa làn vải giữa hai ngón tay, để những khớp ngón tay của anh vuốt ve bụng cô. Anh có thể cảm thấy cái hít vào đột ngột của cô.

    Quyết định rằng anh đã đẩy cuộc nói chuyện đủ xa, anh đứng dậy. “Anh sẽ đi tắm đây,” anh nói khi quay đi. “Anh sẽ tắm xong trong 10 phút, sau đó em có thể dùng phòng tắm.”

    Việc rời khỏi căn phòng đó gần như là điều không thể với anh. Cô nhìn quá quyến rũ trong chiếc váy đó đến nỗi mỗi chi tiết của cơ thể cô đều được phơi bày mà không thực sự cần lộ một phân da thịt nào cả, mái tóc vàng mới của cô rối tung, đôi mắt sụp mí vì ngái ngủ. Cô đang ảnh hưởng đến anh một cách nghiêm trọng. Đêm qua, khi anh nhìn thấy ánh nhìn nghiêm túc trong mắt cô, anh đã có thể tự đá bản thân khi dám đưa ra ý tưởng cô không phải con người. Sự tò mò chết tiệt của anh đã khiến anh mở cái miệng rộng của mình và làm cô tổn thương. Những con robot không thể bị tổn thương; chúng có thể bắt chước cảm xúc, nhưng không phải thực sự.

    Nhưng làm thế nào anh biết được những cảm xúc của cô có phải mô phỏng hay không?

    Anh lập tức chặn đứng cái suy nghĩ ấy lại trong lúc cởi cái quần jean ra và bước vào dưới vòi sen. Cô đã nói cô là con người. Và anh sẽ tin cô. Cô cho anh cảm giác của một con người thật sự, và điều đó là đủ với anh. Nếu cô là bất cứ cái gì khác, anh không muốn biết.

    Anh sẽ phải quyến rũ cô. Anh chưa bao giờ quyến rũ một phụ nữ trước đây, không phải bởi vì anh là một người tình nóng bỏng, mà vì bất cứ cảm giác nào anh dành cho một người phụ nữ khác thì đều là từ hai phía. Cũng có một vài lần không phải từ hai phía, nhưng có lý do cho việc không tồn tại tình cảm từ cả hai phía và anh chỉ ngừng quan tâm.

    Với Rebecca, cái cảm giác quay cuồng vì yêu rất rõ ràng, xảy ra tức khắc và chắc chắn là đến từ hai phía. Nó giống như việc họ nhìn thấy nhau và đơn giản là biết điều đó; tình dục đã rất tuyệt vời vì họ khá đồng điệu với nhau.

    Cách anh cảm thấy về Nikita thì hầu như khác hẳn, được phát triển một cách chậm hơn, nhưng anh chắc chắn là cảm thấy sự tăng lên đột biến của testosterone khiến anh muốn chộp lấy cô ngay tức khắc. Anh là một người đàn ông lý trí, vì vậy anh bị bất ngờ khi biết anh đã mù quáng thế nào khi cảm nhận về cô. Anh không thể giữ khoảng cách theo yêu cầu của cô được; chỉ là không thể.



    Nikita ngồi trên giường, uống loại cà phê dở tệ đó, và cố xoa dịu những dây thần kinh mỏng manh đang rung lên của mình. Đầu tiên anh đã khiến cô giật mình tỉnh dậy, tuy vậy, khá kỳ lạ khi dường như cô đã ngay lập tức nhận ra anh, vì cô đã không chộp lấy vũ khí của mình ngay lập tức. Sau đó những giác quan của cô đã bị dồn vào một cơn sốc nhẹ vì anh không mặc áo, và tất cả hơi ấm của anh, làn da trần của anh khiến cô muốn cuộn tròn lại gần anh để cảm nhận sự bao bọc ấm áp của anh quanh cô, để chôn khuôn mặt cô vào anh và hít vào cái mùi hương đàn ông nồng nàn đó.

    Cô biết đó là do pheromone. Đó là phản ứng sinh lý đơn giản: pheromone của một người đàn bà như được phát tán trong không khí và có khả năng thu hút đàn ông từ khoảng cách xa. Còn pheromone của một người đàn ông lại được phát tán qua sự tiếp xúc. Và như cách mà anh ngồi gần cô, cô chắc chắn đã cảm thấy sự lôi kéo, thúc giục cô vươn ra và vuốt ve ngực anh.

    Về mặt thẩm mĩ, đó là một bộ ngực đẹp, có cơ bắp và lông lá – cơ bắp hơn cô đã tưởng, xét về hình thể dong dỏng của anh. Hoặc là anh phải tập thể hình hoặc anh được ban phước lành với những gien tốt. Hàm râu chưa kịp cạo buổi sáng đã làm cằm anh có màu hơi tối – hơi đậm hơn về phía bên trái, nơi cô đã đánh anh vào đêm hôm trước – và tóc anh cũng cần được chải. Cô đã muốn kéo anh xuống giường với cô, nhưng cô vẫn đăng dằn vặt, cắn rứt. Sau một lúc thì cô sẽ vượt qua được nỗi đau, nhưng ngay lúc này, tất cả những gì cô có thể làm là giữ lấy sự bình tĩnh mong manh của mình. Khi cô về đến nhà – cô phải tin rằng bằng cách nào đó cô có thể về nhà – cô có thể giải quyết những vấn đề tình cảm anh đã thể hiện. Trong lúc này, cô vẫn phải làm việc với anh, dù cô có thích việc bỏ chạy và trốn đi đến mức nào.

    Tiếng vòi hoa sen dừng lại. Cô đợi thêm 5 phút nữa; sau đó cô nghe thấy tiếng cửa phòng tắm mở ra và Knox gọi, “Trả phòng tắm cho em này.”

    Cô không rời giường cho đến khi anh đã vào bếp. Cô thu thập quần áo cần mặc trong ngày và cầm chúng vào phòng tắm với mình; nơi vẫn còn mờ hơi nước và ẩm ướt sau khi anh tắm. Mùi hương của anh vương vấn trong không gian, lẫn với mùi của xà phòng và hương bạc hà thoang thoảng.

    Sự mới lạ của một bồn tắm ướt át quyến rũ cô lần nữa, và làm thần kinh cô dịu đi,dù cô đã quên thay đổi màu tóc của mình. Dù vậy, một cách tổng thể, khi cô mặc quần áo mới vào, cô cảm thấy gần như đã sẵn sàng để chiến đấu với bất cứ điều gì sẽ xảy ra, và cô bắt đầu bước đi theo mùi hương của thức ăn được nấu chín vào đến bếp.

    Anh đang đứng trước lò nướng, quay lưng lại phía cô, và anh vẫn chưa mặc áo vào. Một cách không thể cưỡng lại, cô để tia nhìn của mình trượt dọc theo những đường cong và cơ bắp của lưng anh, lần theo cái cách mà những cơ bắp trên lưng anh chuyển động khi anh vươn ra để lấy cái gì đó. Cô cảm thấy như thể cô đã bị quẳng vào một hồ nước nóng vậy. “Em quên cốc cà phê của mình rồi,” cô nói lúng búng, và rồi phi thẳng lên phòng ngủ.

    Lần trốn thoát ngắn ngủi để lấy chiếc cốc đã cho cô thời gian cần thiết để bình tĩnh lại. Rõ ràng là anh không có ý định mặc áo vào cho đến khi anh phải đi làm, vì vậy cô sẽ chỉ đơn giản là lờ sự khiêu khích đó đi thôi. Khi cô bước lại vào bếp, cô hỏi, “Anh đang nấu gì vậy? Mùi thơm quá.”

    “Anh không nấu nhiều thứ lắm: thịt xông khói, trứng, và bánh mì nướng là cực hạn của anh rồi, và anh sẽ may mắn nếu có những nguyên liệu để làm chúng trong nhà. Bình thường thì anh ăn sáng ở ngoài.” Anh liếc về phía cô. “Em vẫn ăn thịt và trứng trong thời đại của em đúng không?”

    “Một vài người có, còn một vài người không. Đạm động vật thật có thể sẽ rất đắt. Em thường ăn những thanh dinh dưỡng cho bữa sáng.”

    Anh nhăn mặt lại, và chỉ về một phần của chiếc tủ. “Em lấy hai cái đĩa xuống giúp anh nhé.”

    Cô quay đi và mở cánh cửa tủ, sau đó lấy xuống hai chiếc đĩa có màu nắng nhạt mà cô không nghĩ là sẽ có mặt trong nhà của một anh chàng độc thân. “Những chiếc đĩa này đẹp quá.” Cô nói.

    “Lynnette tặng chúng cho anh vào Giáng sinh năm ngoái. Bà nói thật đáng thương cho một người đàn ông trưởng thành khi anh ta không có gì trong nhà ngoài những chiếc đĩa giấy.”

    Nikita nghiêng đầu và ngẫm nghĩ một lúc, “Bà nói đúng đấy.” Cuối cùng thì cô cũng nói trong khi đưa những chiếc đĩa cho anh.

    “Trời ạ, cảm ơn em nhé,” anh nói một cách gượng gạo. Anh đặt những chiếc đĩa vào trong lò vi sóng và bấm nút tính giờ.

    “Anh đang làm gì thế?”

    “Làm ấm những chiếc đĩa lên. Anh không thích thức ăn của mình bị lạnh và làm cách này thì chúng sẽ được giữ ấm lâu hơn.”

    Lời giải thích khá rõ ràng với cô. Cô nhìn quanh, “Có gì khác em có thể giúp không?”

    “Em bày bàn ăn đi. Dao nĩa nằm trong ngăn tủ đăng kia.” Anh chỉ với một chiếc xẻng xúc.

    Sự sắp xếp đồ đạc là một điều nữa không thay đổi nhiều lắm trong 2 thế kỷ: đĩa, khăn ăn, và những đồ dùng để ăn uống. Cô nhìn quanh và không nhìn thấy khăn ăn nào cả, vì vậy cô hỏi anh xem chúng ở đâu.

    Một lần nữa anh lại dùng chiếc xẻng xúc để chỉ. “Chúng ta có thể dùng khăn giấy đằng kia.”

    Lại bị mê hoặc với việc giấy ở đây nhiều và rẻ đến mức nào, cô rút hai tờ giấy ra khỏi cuộn giấy ăn, gấp chúng lại, và đặt chúng ở nơi mà anh và cô đã dùng để ăn hôm qua. Lò vi sóng kêu một tiếng báo hiệu chu trình đã xong trong khi cô đang xếp dao nĩa, và Knox lấy mấy chiếc đĩa ra, sau đó bắt đầu đặt thức ăn trực tiếp lên chúng.

    Anh có cảm giác về thời gian tuyệt vời, vì lúc này hai miếng bánh mì cũng nảy ra khỏi máy nướng. Anh chụp lấy chúng, đặt lên mỗi đĩa một miếng, nhanh chóng phết bơ lên chúng, và sau đó đưa những chiếc đĩa đó cho cô trong khi anh đặt thêm hai miếng bánh nữa vào trong lò nướng bánh.

    Nikita nhìn vào những đĩa thức ăn; với cô thì chúng trông giống y hệt nhau, vì vây cô cho rằng chẳng quan trọng việc đặt đĩa nào ở đâu. “Em đã luôn băn khoăn việc trứng rán hay ốp thì trông như thế nào,” cô nói khi đặt những chiếc đĩa lên bàn.

    Anh ngoái lại, nhìn ngạc nhiên. “Anh biết là em nói chúng đắt nhưng....chắc hẳn là em phải ăn trứng rồi chứ.”

    Cô lắc đầu, “Khi em còn bé, bố mẹ em không có nhiều tiền lắm vì....” vì họ gần như đã biến thành ăn mày chỉ để mua cô.... “họ có một vài khoản chi không lường trước được. Tình hình tài chính của họ đã khá hơn, đương nhiên là vậy, vì giờ con cái họ đều đã trưởng thành và rời nhà, như cách anh nói.”

    “Em có bao nhiêu anh chị em?”

    “Một em trai và một em gái.” Cô chưa bao giờ nói với ai về chị cô, người không thực sự là chị em với cô. Cô chưa bao giờ biết rõ về chị, và cố gắng không nghĩ về chị ấy.

    “Mọi người trong gia đình em có gần gũi với nhau không?” Anh rót đầu những chiếc cốc với cà phê mới pha, đặt chúng cạnh những chiếc đĩa, sau đó kéo ghế của cô ra và đợi đến khi cô ngồi xuống rồi anh mới ngồi xuống chỗ mình.

    “Có,” cô nói và mỉm cười. “Em trai em, Connor, đã có một em bé mà chúng em đều yêu thích. Fair, em gái em sẽ kết hôn vào mùa xuân tới.”

    “Vậy họ là em em, nhưng cả hai đều đã lập gia đình. Tại sao em vẫn chưa?”

    Vì những thứ giống cô không được phép sinh sôi. “Em kết hôn với công việc của mình,” cô trả lời một cách nhẹ nhàng nhất có thể. “Quá trình huấn luyện vô cùng khắc nghiệt; sau đó thì em phải học chuyên sâu nữa.”

    “Về cái gì?”

    “Lịch sử. Nửa cuối của thế kỷ kỷ 20 và nửa đầu thế kỷ 21, cụ thể là vậy.”

    “Thật khó để nghĩ đến chuyện thời đại này rồi cũng sẽ trở thành lịch sử.”


    “Thậm chí còn khó hơn khi nghĩ rằng nếu ở thời đại của em, anh được coi là đã qua đời được 150 năm.”

    “Ouch!”
    anh dành cho cô một cái nhìn thất thần. “Em biết chính xác khi nào thì anh chết à?”

    “Không, đương nhiên là không.” Dù đang trong một câu chuyện không thể nghiêm túc hơn, cô vẫn thấy buồn cười với biểu hiện của anh. “Vì em không biết tên anh để có thể tra cứu tư liệu. Và co lý do khác, những tư liệu được lưu lại của bọn em cũng thiếu thốn rất nhiều. Với tất cả những thành tựu công nghệ mà các anh đạt được ở thời đại này, các anh cũng thật sự rất ngố trong việc lưu trữ thông tin.”

    “Em đã nói thế trước rồi. Điều đó nghĩa là những đĩa CD ca nhạc của anh sẽ không tồn tại ở thời đó hả?”

    “Không, chúng sẽ được dùng một cách rộng rãi trong khoảng 20 năm. Có thể nói là, khi vấn đề được chú ý đến, nó đã được nhanh chóng sửa chữa, nhưng trừ khi có một bản cứng của âm nhạc, sách, báo chí, bất kể thứ gì, nếu không thì không có cách nào phục hồi lại những gì đã bị mất. Ví dụ, chúng em biết về tất cả bài hát của The Beattles, nhưng rất ít bài được lưu lại từ năm 1995 đến 2020.”

    “Sách thì sao?”

    “Những gì được in ra thì tồn tại được khá lâu. Đương nhiên là không phải tất cả. Một vài trong số chúng đã được in trên giấy có chất lượng thấp và có thể bị phân huỷ. Dù vậy những quyển khác thì có sức bền cao. Cứ thử tưởng tượng xem có bao nhiêu tiền giấy vẫn tồn tại.”


    “Đúng vậy, chúng là những loại giấy tốt.”

    “Không, nó không phải giấy, là một loại vải đặc biệt.”

    Anh nhìn có vẻ giật mình. “Em chắc không?”

    “Vâng, nó đã được phân tích mà.”

    “Bất ngờ thật. Mà nói về nó mới nhớ, nếu em nhìn sát vào em có thể thấy các thớ vải trên tờ tiền.” Anh cuối cùng thì cũng cầm chiếc nĩa lên và bắt đầu ăn, và Nikita làm tương tự – đầu tiên thì hơi gượng gạo, nhưng sau đó thì nhiệt tình hơn. Cô không quan tâm đến nguyên liệu của món trứng, nhưng thích vị của nó, đặc biệt khi nó được kết hợp với vị của thịt xông khói. Miếng bánh mì không đặc biệt lắm, nhưng cũng khá ngon.

    “Anh ước gì anh đã cầm theo chiếc máy quét DNA của em đêm qua,” anh nói sau khi đã ăn xong, và cô đang quan sát cách anh để chiếc đĩa của mình vào máy rửa bát. “Anh không biết là mình sẽ dùng nó kiểu gì để không thu hút sự chú ý, nhưng có thể anh đã có cơ hội rồi.”

    “Anh dùng nó hôm nay được không?”

    “Có rất nhiều người trong nhà, rải các mẫu DNA khắp nơi. Liệu chiếc máy quét có còn hữu ích nữa không?”


    Cô nhún vai. “Có lẽ vậy. Có thể đó là công việc vô ích, khi cố tìm kiếm một mẫu nằm trong ngân hàng dữ liệu của máy, nhưng nếu anh có đủ thời gian mà không bị xen ngang, có lẽ anh sẽ tìm thấy gì đó."

    “Việc giữ để mình không bị ngắt ngang là cả một vấn đề đấy. Hay chúng ta quay lại nhà Allen, nơi mà kẻ bắn tỉa đã đứng ngày hôm qua? Sáng hôm qua sương rất dày, liệu việc đó có huỷ đi bằng chứng không?”

    “Điều kiện ở đây không phải là tối ưu, và dù sao đi nữa, chúng ta hầu như chắc chắn là chẳng tìm thấy gì trong ngân hàng dữ liệu đâu vì kẻ bắn tỉa gần như chắc chắn là thuộc thời đại này.”

    “Ừ, anh quên mất. Khốn thật.” Anh thở dài. “Được rồi, hãy đến thư viện và tìm kiếm những bản photo của tờ báo hôm đó vậy. Chúng ta sẽ tìm ra những gì được cho là đã bỏ vào chiếc rương thời gian, tìm một vài cái tên, nói chuyện với vài người. Vài người có lẽ sẽ nhớ được chút gì đó.”

    “Anh không phải đi làm à?”

    “Anh đang làm việc rồi. Và anh không bao giờ bị ngắt liên lạc.”
    Anh chỉ về phía chiếc bộ đàm được đặt trên bàn.

    Cô nhìn anh đặt một chiếc túi nilon nhỏ vào một chỗ trên cửa của chiếc máy rửa bát, đóng nắp lại, và sau đó đóng cửa. Việc cài đặt nhìn có vẻ khá dễ để thực hiện, vì vậy cô chẳng thèm quan tâm đến việc quan sát nữa; tất cả những gì cô quan tâm là học cách vận hành. Anh từ từ quay nút cho đến khi có một tiếng click nhỏ và một chiếc đèn đỏ sáng lên, và xong. “Ah,” cô nói. “Em hiểu rồi.”

    “Hiểu cái gì?”

    “Làm thế nào để khiến một chiếc máy rửa bát hoạt động. Anh chỉ cần chỉ cho em cách vận hành chiếc máy sấy quần áo thôi, em sẽ tự giặt được quần áo của mình.”


    “Anh sẽ làm thế khi chúng ta về nhà tối nay, trừ khi em đang hết quần áo và cần giặt cái gì đó bây giờ?”

    Cô lắc đầu. “Không, tối nay cũng được.”

    “Em có cần đội chiếc mũ bóng chày hôm nay không?” cô hỏi khi họ đã sẵn sàng để ra ngoài. “Nếu vậy, em rất muốn buộc tóc mình lại với cái gì khác hơn là một chiếc dây buộc túi rác.”

    Anh cười khẽ. “Chúng ta sẽ dừng lại ở đâu đó để mua cái gì đấy cho em. Anh thích vẻ bề ngoài của em, với mũ, kính và mọi thứ em đang dùng, cứ như thể một ngôi sao truyền hình đang cố gắng che dấu danh tính. Em biết không, em khá quyến rũ khi mặc như vậy đấy.”

    “Quyến rũ?” cô nhắc lại với vẻ giật mình. Đó chắc chắn không phải từ mà cô dùng cho bản thân. Sự quyến rũ ám chỉ vẻ đẹp rực rỡ và có phong cách; trong khi cô chẳng sở hữu cái nào trong hai cái đó cả, và cũng không có đủ tiền để khiến mình trông như vậy.

    “Nó nằm trong cách em bước đi, vai thẳng, đầu ngẩng cao, như thể em đang trong quân đội hay đã được huấn luyện về múa ba lê vậy.”

    “Không phải cả hai. Em muốn đi học ba lê khi em còn bé, nhưng nhà em không đủ tiền.”

    “Anh cá là em có thể trở nên vô cùng dễ thương khi ra ngoài trong bộ váy ba lê đấy,” anh nói; và sau đó mắt anh lại quay trở lại cái nhìn đầy gợi cảm khi anh quan sát cô. “Anh thực sự rất muốn được nhìn em mặc nó bây giờ.”

    Nikita khựng lại, sợ rằng anh sẽ cố hôn cô lần nữa. Cô đã nghĩ là cô đang làm tốt việc giả vờ như chưa hề có chuyện gì xảy ra, vẫn hành động bình thường, vẫn nói chuyện thoải mái, nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài. Cô tuyệt đối không muốn anh chạm vào cô lần nữa, vì cô sợ rằng nếu anh làm vậy, cô sẽ bắt đầu khóc lóc ầm ĩ và không thể dừng lại được. Với chỉ một câu hỏi, anh đã giật tung vết thương từ lâu đã đóng vẩy trong đời cô, khiến tâm trạng cô trở nên vô cùng tồi tệ và đau đớn.

    Anh thở dài với ánh nhìn khắc nghiệt trên mặt cô. “Được rồi, anh không định chộp lấy em đâu,” anh nói một cách nhẹ nhàng. “Anh biết là anh đang bị phán xét. Hãy cho anh một cơ hội, được không?”

    Cô cố gắng gật đầu, một cái gật rất khẽ nhưng chắc chắn. Anh chạm vào cánh tay cô, một cái vuốt ve ngắn ngủi, ấm áp và đã chấm dứt trước khi cô có thể giật tay ra; sau đó anh giật giá ghi nhãn trên mũ xuống và sau đó quay lại để mở cửa sau.

    Vì trời còn khá sớm, không cửa hàng nào anh nghĩ có phụ kiện cần thiết giúp cô buộc tóc mở cửa, vì vậy họ đã lái xe đến Wal-mart. Nikita ép những suy nghĩ của cô tránh xa khỏi những vấn đề cá nhân và nhìn quanh sung sướng. Knox dẫn cô đến chỗ mà anh gọi là “Khu giành cho tóc”, nhưng cô đã bị thu hút bởi hàng dãy liên tiếp những đồ cotton. Vào lúc anh chú ý đến việc cô không còn đi theo anh nữa và quay lại để tìm cô thì cô đã đi qua dãy hàng bán áo phông và áo quây, đang chạm tay dọc theo những chiếc quần kaki.

    “Em có cần thêm quần áo không?” anh hỏi, câu mà cô chắc chắn là một câu hỏi tu từ. Cô đã có 4 bộ quần áo; cô đã định mua thêm quần áo khi đến đây, trừ khi bằng cách đột biến nào đó mà cô có thể bắt được tên du hành thời gian bất hợp pháp và quay trở lại trong vòng 4 ngày. Vì rõ ràng là tên này đã trưng viện được sự trợ giúp từ người dân địa phương, cô không nghĩ điều này sẽ xảy ra.

    “Em có, nhưng em không phải mua chúng bây giờ.”

    Anh kiểm tra đồng hồ. “Em vẫn có một chút thời gian. Thư viện sẽ không mở cửa cho đến tận 9 giờ.”

    Vào thời đại của cô, những thư viện luôn mở cửa và có thể vào được thông qua máy tính; nếu ai đó đi xa khỏi nhà và cần thông tin gì, luôn có những máy tính công cộng ở mọi nơi. Thứ gần nhất với một thư viện sách thực là “Archive”; nhưng quyền tiếp xúc với chúng là vô cùng hạn chế bởi sự mong manh của những tư liệu này.

    Cô tin lời anh, và trong khi anh đi lấy xe đẩy hàng, cô bắt đầu kéo những chiếc móc khỏi dãy treo hàng và nhìn vào chúng. Cô biết có một hệ thống đánh giá cỡ, nhưng không hề biết cỡ của bản thân mình là gì. Tất cả quần áo trong thời đại của cô đều được làm cho từng cá nhân bởi các máy tính: người nào cần quần áo sẽ đứng trong một phòng riêng, cơ thể người đó đã được đo đạc và phác thảo, chỉ cần chọn loại vải bạn muốn từ một màn hình cảm ứng, và 5 phút sau, những bộ quần áo vừa người sẽ được đẩy qua cửa trượt vào phòng. Để mở được cánh cửa giữ đồ, bạn phải có thẻ dùng cho Hàng hoá và Dịch vụ, số tiền dùng để mua đồ sẽ được trừ đi khỏi thẻ của bạn, và thế là xong.

    Khi anh quay lại với chiếc xe đẩy hàng, cô đang cầm một chiếc quần cotton và thử lên người, cố để xem nó có vừa không. “Làm thế nào anh biết cần mua cho em cỡ nào?” cô lẩm bẩm.

    “Anh đã nghiên cứu mông em một cách kỹ lưỡng,” anh trả lời. Một người phụ nữ đằng sau anh khụt khịt trong tiếng cười, và nhanh chóng rút lui khỏi khu vực đó. Nhăn mày, Nikita nhìn khi bà bỏ đi.

    “Em nghiêm túc đấy,” cô nói.

    “Anh cũng vậy.”

    “Thôi được, vậy mông em cỡ nào?”


    “Em khá vừa vặn với cỡ tám, có thể nhích lên cỡ mười một chút. Thanh mảnh, nhưng không quá gầy. Về cơ bản, anh đã đoán mò, vì không có một cỡ nào là tiêu chuẩn cả. Em sẽ cần phải thử chúng vào. Hoặc em có thể mua chúng bây giờ, về nhà thử tối nay, và ngày mai mang ra những gì không vừa.”

    “Anh có thể làm vậy được sao?”

    “Đúng, bọn anh có thể.” Anh mỉm cười trước sự ngạc nhiên của cô.

    “Vậy thì em sẽ làm vậy. Cỡ 8 à?” Cô quay lại chỗ giá bầy hàng, chọn 4 chiếc quần và 4 chiếc áo mà cô thực sự thích. Một cái thậm chí còn có hạt cườm. Từ chỗ đó cô đi đến chỗ đồ lót, nơi có hệ thống kích cỡ hoàn toàn khác, trong sự ngạc nhiên của cô.

    “Điều này thật vô lý,” cô phàn nàn trong sự chán nản.

    “Cỡ năm,” anh nói, chọn một chiếc quần ren đen và đưa nó về phía cô.

    Cô nhìn mẩu vải nhỏ bé trên tay anh, và lắc đầu. “Em không nghĩ vậy đâu.”

    “Thế còn cái này thì sao?” Đặt cái quần lót đen về chỗ cũ, anh lấy ra một chiếc màu đỏ nhìn thậm chí còn nhỏ hơn chiếc kia.

    “Không đời nào.” Phía đằng sau của chiếc quần không gì hơn là một sợi dây mảnh, và cô biết chính xác sợi dây đó nằm ở đâu.

    Anh trả lại cái mà anh đã chọn về giá một cách đầy hối tiếc.

    Cô đã quyết định mua một túi 6 chiếc quần ghi “cotton tự nhiên”, ném nó vào xe đẩy, và tiếp tục đi đến hàng bán tất và giày. Knox nói cho cô biết cỡ nào, cô quyết định mua một đôi dép quai hậu nhìn có vẻ mềm mại cho chân, và cuối cùng thì họ cũng đi đến phía trước cửa hàng và tiến về phía đồ dùng cho tóc. Không may, trước khi họ đến được khu vực này, họ đã đi qua dãy hàng cho mỹ phẩm và đồ dưỡng da, và Nikita lại bị xao nhãng. Cô phải có được một thỏi son từ thời đại này.

    Cô chỉ vừa mới quay lại nhìn Knox với một thỏi son trong tay, và nói “Anh nghĩ thế nào về màu này?” khi một người phụ nữ phía sau anh nói: “Knox?”

    Anh nhìn quanh, và một cảm xúc nào đó cô không thể định nghĩa được làm thay đổi hẳn biểu hiện trên mặt anh. “Ruth,” anh gọi cái tên đó với giọng nhẹ nhàng mà cô vô cùng quen thuộc. Anh bỏ tay cầm của chiếc xa ra để ôm người phụ nữ. “Cô ra ngoài sớm thế.”

    “Cô cũng có thể nói tương tự về cháu, trừ khi ta biết rằng cháu luôn ra ngoài sớm và cả muộn nữa. Khi nào thì cháu đi ngủ thế?”

    “Đôi khi cháu không ngủ.” Với cánh tay của anh vẫn đang vòng quanh bà, anh quay về phía Nikita. “Ruth, đây là Tina. Tina đây là Ruth Lacey. Mẹ của Rebecca.”

    Tina? Anh không thể giới thiệu cô bằng tên thật, vì cô được cho rằng sẽ rời khỏi thị trấn. Cô chìa tay ra, “Rất vui được gặp cô.”

    Ruth lắc tay cô, trong lúc đó vẫn quan sát cô một cách kỹ lưỡng. Người phụ nữ lớn tuổi nhìn khá đẹp và gọn gàng, với một lớp trang điểm nhẹ nhàng. Vì bà là một phụ nữ, bà cũng chú ý đến những gì nằm trong xe đẩy. “Hai đứa đã hẹn hò với nhau lâu chưa?” bà hỏi.

    “Cũng được một thời gian rồi,” Knox nhanh chóng nói.

    “Cô mừng cho cháu,” bà nói trong một giọng nhẹ nhàng. “Đã quá lâu rồi.” Dù vậy, vẫn có nét mất mát trong ánh mắt bà. Bà ôm Knox, và nói, “Cô thật sự phải đi bây giờ. Chúc hai cháu có một ngày vui vẻ.”

    Bà nhanh chóng rời khỏi dãy hàng, và khi bà đã cách xa khu vực có thể nghe thấy, Nikita nhìn vào Knox và nhướng mày. “Tina?”

    “Anh không thể nhớ được tên đệm của em. Dù vậy thì anh biết nó bắt đầu với chữ T.”

    “Không sao đâu. Tina thì Tina. Tên đệm của em có vẻ là quá bất thường ở đây.” Cô thả thỏi son đã chọn vào trên đống quần áo trong xe đẩy, và họ chuyển đến dãy hàng bán đồ dùng cho tóc. Cô chọn một túi nhỏ gồm nhiều dây buộc nhiều màu, và sẵn sàng để kết thúc chuyến mua sắm.

    “Em cảm thấy tiếc cho bà,” cô nói.

    Knox không cần phải hỏi mới biết cô đang nhắc đến ai. “Anh biết. Anh nghĩ rằng điều đó thật sự làm bà tổn thương khi nhìn thấy anh đi với em. Khi Rebecca qua đời, Ruth đã bảo anh tiếp tục sống, nhưng anh không nghĩ bản thân bà đã cố gắng làm vậy.”

    “Không,” Nikita nói, ánh nhìn của cô dường như đang chìm vào trong nơi nào đó thẳm sâu trong tâm trí cô. “Những người mẹ không bao giờ làm thế.”
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 5 others like this.
  8. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 18

    Khi đến thư viện, họ đi vào một căn phòng nhỏ hẹp với 3 chiếc máy vi thẻ xếp hàng cạnh nhau. Căn phòng chỉ sáng mờ mờ, nhưng những dữ liệu vi thẻ được giữ ở ngoài trong phòng chính của thư viện, được trông giữ bởi một cô gái trẻ có vẻ buồn chán, người đảm bảo chắc chắn rằng họ đã ký tên họ trong một danh sách, cùng với tên của vi thẻ mà họ đã mượn. Rõ ràng là đã có người bước ra ngoài cầm theo những chiếc vi thẻ, dù vậy thì lý do để ai đó làm vậy, trừ khi họ có một máy đọc ở nhà, vẫn là một bí ẩn.

    Knox và Nikita không phải săn lùng qua hàng đống dữ liệu vi thẻ; Knox biết chính xác ấn bản nào của tờ báo mà anh muốn tìm: Ngày 1 tháng 1 năm 1985. Họ kéo ghế gần vào nhau để ngồi trước một chiếc máy trong khi anh chuyển những trang chiếu qua để tìm bài báo mà anh nhớ. Nikita phải tựa vào để đọc được màn hình, khiến cô sát vào người anh, vai họ khẽ đụng vào nhau. Hơi ấm của anh khiến khiến cô cảm thấy gần như cháy sém, đốt cháy cô thậm chí cả khi họ không hề chạm vào nhau. Cô chỉ có thể chịu đựng được nó một lúc trước khi cô phải dịch ra.

    “Em nói dối,” anh nói như thể sự thật là phải thế, quay lại với màn hình. “Em muốn anh nhưng em vẫn giận, vì vậy em không muốn phải muốn anh, và chạm vào anh thì quá quyến rũ để cưỡng lại. Anh đoán đúng không?”

    “Gần đúng rồi đấy,” cô nói, mà không thể hiện gì trên nét mặt.

    “Thật tốt khi biết vậy,” anh nói và nháy mắt với cô. “Giờ thì trượt lại gần đây để em có thể đọc được những gì anh đang đọc."

    “Không cần thiết phải vậy. Cứ đọc to danh sách những vật cho vào chiếc rương đi, và em sẽ viết chúng xuống, cũng như những người đã có mặt ở đó mà anh có thể nhớ ra hoặc nhận ra.” Cô cầm lấy quyển sổ của anh, cái mà anh dùng để ghi chú khi điều tra, và anh đã yêu cầu cô không dùng bản ghi nhớ của cô.

    “Hèn nhát.”

    “Cẩn tắc vô áy náy mà.”

    “Chỉ có một tên hèn nhát mới nói thế thôi.”

    “Anh có thể làm ơn tập trung tìm cái bài báo khỉ gió ấy không.” Cô gắt lên, để rồi nhìn quanh một cách tội lỗi để xem có làm phiên ai không. Điều đó gần như không thể xảy ra, chỉ có một số ít người trong thư viện, và cô cùng Knox là những người duy nhất trong phòng vi thẻ. Dù sao đi nữa, cô cảm thấy nóng bừng lên vì xấu hổ, cô đã giành cả đời quyết tâm tránh thu hút sự chú ý. Cô thấy khó chịu vì cô gần như đã hét lên ở một nơi công cộng, và cũng vì anh dường như không nhận ra cô khó chịu đến mức nào. Không, làm thế nào anh có thể hiểu được chứ? Cô sẽ phải kể với anh về bản thân trước khi anh có thể hiểu ra, và đó là chuyện mà cô chưa bao giờ làm trước đây. Từ khi còn nhỏ cô đã được cảnh cáo bởi cha mẹ cô, yêu cầu cô không được kể về nguồn gốc của mình, hay vị thế pháp lý của cô.

    “Đây rồi,” Knox nói nhẹ nhàng. “Max Browning đã viết bài báo này. Ông ấy vẫn đang làm việc cho tờ báo. Chúng ta có thể hỏi ông ấy vài câu hỏi. Xem nào.... những vật đã được đưa vào chiếc rương thời gian bao gồm: quyển niên giám từ trường Trung học Pekesville năm 1984, một băng nhạc ghi lại 10 bài hát đứng đầu lúc bấy giờ và 1 chiếc đài băng – ai đó khá thông minh đã đặt chúng vào cùng nhau đấy – những bức ảnh và một quyển sách về lịch sử Hạt Peke, 1bản của bài báo về sự thành lập Hạt – dù anh cũng không thể hiểu được sao ai đó lại nghĩ rằng có người lại quan tâm đến nó trong cả trăm năm sau. Trong này còn liệt kê cả một ấn bản của tờ báo địa phương. Hết rồi.”

    “Vậy là có bảy,” cô nói.

    “Đó là tất cả những gì được liệt kê ra. Bài báo nói, ‘Ngài thị trưởng và những người khác sẽ đặt 12 vật vào chiếc rương thời gian, bao gồm...’ và sau đó nó liệt kê những vật mà anh vừa đọc. Nó không nói rõ 5 vật khác là gì. Khốn thật,” anh lẩm bẩm chửi thề trong sự thất vọng.

    “Những ai đã ở đó vậy?”


    “Ông thị trưởng, đương nhiên, Halan Forbes. Taylor Allen. Huấn luyện viên đội bóng, Howard Easley. Edie Proctor, thầy giáo vụ của trường. Uỷ viên hội đồng thị trấn Lester Bailey và Alfred ‘Sonny’ Akins. Đó là tất cả những cái tên được liệt kê ra.”

    “Anh có nhớ ai khác không?”

    “Max Browning, đương nhiên rồi. Cựu cảnh sát trưởng, Randolph Sledge. Ông đã nghỉ hưu khoảng 1 năm sau ngày này, và mất khoảng 10 năm trước. Ngài thẩm phán về thừa kế cũng ở đó. Anh không thể nhớ ra được tên ông ta.... cái gì đó Clement. Ông ấy cũng mất rồi. Còn có một số doanh nhân, trong đó có cả bố anh nữa, trưởng nhóm cảnh sát, những uỷ viên hội đồng của Hạt. Anh không biết tên họ, nhưng tất cả những người này đã được ghi lại trong Trụ sở của toà án, và toà thị chính sẽ có thông tin về trưởng nhóm cảnh sát lúc đó.”

    “Vậy chúng ta sẽ đi đâu tiếp theo?”

    “Anh không muốn em đi đến Trụ sở toà án, chấm hết. Các cảnh sát rất giỏi trong việc nhận biết mọi người, đặc biệt là khi người đó ở đúng nơi mà họ đã từng ở trước đó. Ai đó có thể cũng đã nghiên cứu mông em.”

    “Em đã ở trong văn phòng của anh, và ngồi lên nó.”

    “Em đã ở hiện trường vụ án của Taylor Allen trong khoảng ít nhất là 2 giờ, hơn nữa họ đã nhìn thấy em đi vào văn phòng anh và nhìn thấy em đi ra. Tin anh đi.”

    “Em từ chối tin rằng mông em lại dễ nhận ra đến vậy,” cô gắt lên, đầy bất mãn. Không phải vì cô muốn đi đến Trụ sở toà án; mà là vì anh nói như thể mông cô có vẻ ngoài kỳ quặc hoặc khác biệt thế nào đó đến mức mọi người có thể nhận ra cô vì nó.

    “Đó là vì em không phải một người đàn ông. Đàn ông bọn anh thích nhìn mông phụ nữ. Trên thực tế, bọn anh nhìn chằm chằm vào chúng.”

    “Cảm ơn anh vì đã giải thích; em cảm thấy khá hơn nhiều rồi.”

    Anh nhìn qua vai cô để chắc chắn rằng họ vẫn ở một mình. “Thôi nào. Đừng có nó với anh là mọi việc đã thay đổi quá nhiều trong 200 năm tới và đàn ông không quan tâm về mông phụ nữ nữa nhé. Họ vẫn nhìn chăm chú vào chúng, đúng không?”

    Cô suy nghĩ một chút, cân nhắc câu hỏi khá nghiêm túc. “Không phải ở nơi làm việc, họ không nhìn khi làm việc,” cuối cùng cô cũng nói. Đó là nơi cô đã giành hầu hết toàn bộ thời gian trong vòng 8 năm qua, cô nghĩ, vừa ở nơi làm việc, hoặc trong khoá huấn luyện hoặc học tập. Những đặc vụ mà cô được huấn luyện và làm việc cùng, nam hay nữ đều giống nhau, đã có cùng tình huống với cô, khi mà họ quá bận rộn với sự nghiệp mình đã chọn đến nỗi họ không có thời gian cho những mục đích bên ngoài. Một vài đặc vụ, khi họ được nghỉ, đã hình thành những mối quan hệ với các đặc vụ khác – và đều dần dần chấm dứt chúng. Không bị đuổi việc, nhưng một trong hai người sẽ được chuyển sang thành phố khác. Sau đó thì họ sẽ được phép sắp xếp mối quan hệ theo ý thích của mình, nhưng họ sẽ không thể thực hiện nhiệm vụ cùng nhau. Nghiên cứu, dạy học và phòng thí nghiệm – đồng ý. Nhưng làm việc hiện trường – không đời nào.

    Nikita chưa hề có nhiều thời gian nghỉ trong vòng 8 năm qua. Cô đã chọn hướng sự nghiệp chuyên môn hoá, và việc học tập đòi hỏi phải giành ra nhiều thời gian ngoài giờ làm việc thông thường. Với những thời gian rảnh mà cô có, cô thường giành cho gia đình mình, trừ một mối quan hệ khác mà cô có khoảng 4 hay 5 năm trước đây, quan hệ mà cô đã tưởng là cuối cùng – nhưng cuối cùng thì cũng đã dần nhạt đi. Không có gì quá kịch tính, không có gì thăng hoa, chỉ là một sự thay đổi cảm xúc thông thường.

    Và điều đó chính xác là cách mà cả cuộc đời cô sẽ diễn ra – không kịch tính, không thăng hoa. Không có sức nóng, không đam mê, không có quyền lên tiếng, không gì khác ngoài một sự tuân thủ nghiêm ngặt với luật lệ và quy chế.

    “Này,” anh nói, đặt tay lên đầu gối cô. “Đừng buồn như vậy. Nếu đàn ông không nhìn vào mông em ở nhà, thì bất cứ khi nào thấy cần, em cứ đến đây và chúng ta sẽ giải quyết vấn đề. Scratch that (ý anh là “Gạch chân nó đi”) – anh sẽ giải quyết vấn đề cho em.”

    Cô đẩy tay anh ra. “Cảm ơn anh, nhưng em đang nghĩ về chuyện khác. Giờ thì anh muốn cào cái gì cơ?”

    Anh bật cười, và cô ngồi xuống, thất vọng khi rõ ràng là một lần nữa cô đã hiểu nhầm một thành ngữ nào đó.

    “Nó có nghĩa là ‘chỉ ra / tô đậm lên’,” anh giải thích. “Như thế này này.” Anh cầm lấy quyển sổ từ chỗ cô, viết một từ, và nhanh chóng tô đậm nó vài lần. “Em thấy không? Đây là tô đậm lên.”

    “Em hiểu rồi,” cô nói một cách đầy phẩm giá. “Đáng lẽ em nên biết trước mới phải, vì bút và giấy đã được phát minh ra rất lâu trước khoảng thời gian cuối thế kỷ 20 bị mất trong dữ liệu của bọn em.”

    “Về mặt cá nhận, anh khá ngạc nhiên khi em có thể sử dụng được ngôn ngữ giao tiếp tiếng Anh tốt như vậy đấy. Em thử nói gì đó bằng cách nói thông thường của em xem.”

    “Em không phải một con khỉ biểu diễn cho anh xem đâu nhé,” cô nói bằng cách nói với tốc độ nhanh thông thường của mình, và nói nhịu các từ với nhau.

    Anh hấp háy mắt. “Wow. Nhanh thật đấy. Nghe em nói như thể một người điều khiển phiên bán đấu giá ấy. Mọi người đều nói nhanh vậy à?”

    “Không, đương nhiên là không. Một vài người nói nhanh hơn, một vài người nói chậm hơn. Đối với em, cách nói của mọi người ở đây nghe rất chậm và có thể nghe khá rõ ràng, gần như cách nói trang trọng.”

    “À, em đang ở phía đông Kentucky mà; nó khiến cách nói chậm đi đấy. Anh không biết về phần ‘trang trọng’.”

    Cảm thấy như thể cuộc nói chuyện đã đi quá xa chủ đề chính, mà thông thường là như vậy, Nikita gõ gõ quyển sổ với móng tay của mình. “Em nghĩ chúng ta nên tập trung vào kế hoạch hành động của mình. Anh không muốn em có mặt ở Trụ sở toà án. Em không quá đồng ý với logic của anh, nhưng vì anh là đàn ông, em sẽ tin anh vậy. Có lẽ em sẽ nghiên cứu tên của những người trong hội đồng thị trấn, nếu anh đưa em đến Toà thị chính.”

    “Em có lẽ đã làm anh xao lãng, vì giờ thì anh có thể suy nghĩ một cách rõ ràng hơn rồi, anh đã nhớ ra chúng ta đang ở đâu. Chúng ta đang ở trong một thư viện.”

    “Vâng, em biết,”
    cô nói, với vẻ ngạc nhiên. Từ khi nào chúng ta lại quên mất chúng ta đang ở đâu vậy?

    “Tất cả những gì chúng ta phải làm là tìm kiếm những bài báo xuất bản sau ngày bầu cử. Được rồi, để anh xem, những ngày bầu cử được tổ chức vào những năm chẵn, và bọn anh sẽ không có bất kỳ đợt bầu cử nào vào năm ngoái vì vậy lần bầu cử cuối cùng là vào năm 2002. Tính ngược lại, điều đó nghĩa là đợt bầu cử hội đồng thành phố mà chúng ta cần tìm được tổ chức vào năm 1982, và vì bầu cử hội đồng thành phố và hội đồng hạt tách rời nhau, cuộc bầu cử hội đồng hạt là vào năm 1984. Những cuộc bầu cử hội đồng thành phố ở đây được tổ chức vào tháng 6, vì vậy chúng ta cần ấn bản của tờ báo vào tháng 6 năm 1982, và tháng 11 năm 1984 cho những uỷ viên hội đồng hạt. Anh xin lỗi vì anh không nhớ chính xác được ngày.”

    “Em không nghĩ là em có thể tiếp tục với chỉ chút xíu thông tin như vậy được,” cô nói một cách khô khan, và anh tắc lưỡi. Trước khi ah có thể trả lời, bộ đàm của anh kêu bíp mọt tiếng, và một giọng nói bắt đầu phát lên mộ chuỗi các dãy số mã hoá. Anh lấy bộ đàm ra khỏi thắt lưng và gọi, và đó là khi Nikita nhận ra nó là một sự kết hợp giữa radio và điện thoại. Cô nhìn vào nó với vẻ hứng thú hơn, tự hỏi không biết anh có cho phép cô nghiên cứu nó không. Đây phải là một trong những chiếc bộ đàm hai chiều đầu tiên.

    “Anh phải đi bây giờ,” anh nói, và vẫn đứng đó. Anh nhíu mày khi nhìn xuống cô. “Liệu ở đây một mình thì em có ổn không?”

    Cô đảo tròn mắt. “Không, em chỉ là một đứa trẻ năm tuổi thay vì là một người đã 30; em không biết làm thế nào mà em có thể làm được mọi việc nữa.”

    “Em không phải mỉa mai cay đắng như thế.”

    “Rõ ràng là em đã làm rồi.”


    “Anh chỉ cảm thấy như em đang ở trong một đất nước xa lạ, hay cái gì đó tương tự vậy.”

    “Em không, em đang ở trên chính đất nước của mình. Em có tiền, em có số điện thoại của anh, và em chắc chắn có thể gọi điện được nếu cần thiết.”


    “Được rồi, được rồi.” Anh cúi xuống và đặt một nụ hôn lên đỉnh đầu cô. “Chiếc điện thoại của em có phải thật không, hay nó chỉ được tạo ra cho giống một cái đến từ thời đại này thôi.”

    Cô cảm thấy mình nên cằn nhằn gì đó từ nụ hôn, nhưng cùng lúc đó nó đã quá bình thường đến nỗi nhắc đến nó sẽ gần như là làm toáng lên vì một sự việc chẳng đáng gì cả. “Em e là nó là giả. Nó nhìn giống của bọn anh, nhưng bọn em đã không còn dùng công nghệ này nữa và không chiếc nào còn tồn tại ở thời đại của em.”

    “Được rồi, anh sẽ mua cho em một cái thật. Anh muốn liên lạc dược với em mọi lúc mọi mơi. Ở yên đây cho đến khi anh quay lại nhé.”

    “Anh nghiêm túc không đấy? Đây chính là định nghĩa của em về thiên đường, khi được ở trong một thư viện như thế này. Chỉ cần nghĩ về những nghiên cứu em có thể thực hiện ở đây.”

    Anh dừng lại trên đường đi ra ngoài, sự tò mò đang thấp thoáng trên gương mặt. “Anh đã từng thắc mắc về cái này. Để thu thập đủ những dữ liệu trong giai đoạn các em bị mất, tại sao mọi người không du hành thời gian về về các thời đại này và lấy CD hay những thứ tương tự như thế về cùng.”

    “Vì một lý do, những công nghệ của các anh ở đây là không thể dịch chuyển được. Bọn em đã thử rồi. Sách vở thì bằng cách nào đó lại được, dù chúng có một chút hư hại trong quá trình dịch chuyển. Máy tính và CD – không. Bất cứ cái gì là sinh học sẽ dịch chuyển dễ dàng nhất. Bọn em đã phải nghiên cứu ra loại vải đặc biệt để dùng cho quần áo, vì vải có thành phần tự nhiên là quá đắt và hiếm ở thời đại của em.”

    Đầu anh ngẩng phắt lên. “Ý em là ai đó mặc vải nilon thì không thể dịch chuyển được?”

    “Ồ, có chứ, nhưng quần áo của anh ta thì không.”

    Một nụ cười sáng bừng nở rộ trên gương mặt anh. “Ý em là anh ta sẽ đến nơi mà hoàn toàn khoả thân.”

    “Chính xác.”

    “Như là Kẻ huỷ diệt vậy.”


    Khi cô nhìn anh trống rỗng, anh giải thích. “Đó là một bộ phim, trong đó kẻ ám sát từ tương lai quay trở về mà không mặc gì cả.”

    “Nếu vậy thì đúng rồi đấy, như Kẻ huỷ diệt. Nhưng anh có thể thấy là bổ sung những dữ liệu còn thiếu đó khó khăn thế nào rồi đấy. Em có thể nghiên cứu trong khi ở đây, chụp ảnh – điều mà những nhà du hành thời gian đã từng làm – nhưng đã có quá nhiều thứ mất đi. Và nếu kẻ du hành trái phép này thành công, vậy thì chúng sẽ mãi mất đi.”

    “Anh ta sẽ không đâu. Chúng ta sẽ tìm ra bằng cách này hay cách khác. Anh sẽ quay lại càng sớm càng tốt.” Anh nói, và rời đi.

    Nikita chuyển sang chiếc ghế mà anh vừa đứng dậy. Cô không hoàn toàn bị mắc kẹt – sau cùng thì chân cô vẫn hoạt động được – nhưng không có phương tiện của mình thì cô sẽ bị hạn chế di chuyển. Nhưng thư viện là một nơi thật tuyệt vời; cô không nững có thể nghiên cứu bao nhiêu tuỳ thích, mà cô còn cảm thấy an toàn ở đây. Thật ra, bây giờ với sự hiện hữu của Knox không còn khiến cô xao nhãng nữa, trái tim dường như rung lên vì háo hức. Một thư viện! Những khả năng nghiên cứu là vô hạn. Dường như hăng hái hơn bao giờ hết, cô bắt đầu ngồi xuống làm việc.



    “Sao vậy?” Byron hỏi nhẹ nhàng, dùng khuỷu tay nâng người lên bên cạnh bà. Bàn tay ấm áp của hắn đặt lên làn da trần trên bụng bà, trong một sự đụng chạm mang cả nét sở hữu và xoa dịu.

    Ruth Lacey nhìn vào khuôn mặt người tình của bà. Bà vẫn không thể tin được là bà đang làm gì, sau ngần ấy năm, bà đang thực sự không chung thuỷ với chồng bà theo cách mà ông vẫn làm với bà. Không, điều đó không đúng; một người tình trong số hơn 30 năm không thể sánh được với hàng tá, có lẽ là hàng trăm. Bà chưa từng để Edward chạm vào bà hàng năm trời rồi, bắt đầu không lâu sau sự ra đời của Rebecca, vì bà sợ ông có thể truyền cho bà căn bệnh nào đó lây nhiễm qua đường tình dục. Sau đó, là nỗi lo sợ về thảm hoạ AIDS, đã hoàn toàn huỷ diệt cơ hội mong manh bà nối lại quan hệ giường chiếu với ông. Bà cho rằng bằng cách nào đó ông đã duy trì tình trạng không bị bệnh trong ngần ấy năm, nhưng bà không thực sự quan tâm để hỏi.

    Bà đã nên ly dị với ông từ lâu rồi. Bà đã có thể xây dựng một cuộc đời tốt đẹp hơn cho bà và Rebecca. Nhưng bà đã hoãn việc đó lại mãi, muốn đợi đến khi đã chắc chắn Rebecca đã ổn định; sau đó con gái bà qua đời, và đi cùng con bé là bất kỳ ý định tiếp tục sống nào của bà.

    Bà thở dài. Không có cách nào từ chối nỗi u sầu của mình. “Em nhìn thấy hôn phu của con gái em sáng nay, cùng với người phụ nữ khác.”

    Byron nhìn bối rối. “Anh nghĩ là em nói con gái em đã qua đời được 7 năm rồi.”

    “Nó qua đời rồi, nhưng em vẫn nghĩ về Knox như hôn phu của con bé. Về mặt logic, em biết là có rất ít đàn ông có thể đợi lâu đến như vậy trước khi có mối quan hệ khác, và thực sự thì em quý Knox và muốn thằng bé được hạnh phúc, nhưng về mặt cảm xúc, em cảm thấy như thể thắng bé đang lừa dối Rebecca.”

    “À, anh hiểu rồi. Liệu Rebecca sẽ cảm thấy thế nào?”


    Đó là điều mà bà yêu nhất ở Byron, thực tế là hắn ta lắng nghe và không coi thường cảm xúc của bà. Từ cái chết của Rebecca, bà đã sống trong một hoang mạc cảm xúc mà sự chú ý mà hắn giành cho bà giống như nước được tưới lên một luống đất khô cằn, bà thấm đẫm nó, thích thú với nó, dường như nở bừng lên trong sự hiện diện của hắn, và khi bà phải rời xa hắn, tất cả những gì bà có thể nghĩ đến chỉ là hắn mà thôi.

    Bà nhăn mặt. “Rebecca gần như sẽ nổi điên lên vì thằng bé đã chờ lâu như vậy. Hai đứa thật đẹp đôi; như thể chúng là hai nửa giành cho nhau vậy. Chúng hoà hợp với nhau. Con bé sẽ muốn thằng bé được hạnh phúc. Điều đó khiến em trở nên thật ích kỷ, nhưng...”

    “Nhưng?” hắn hỏi, khi bà im lặng trong một lúc.

    “Em cảm thấy như thể em cũng đã mất thằng bé. Nó đã cố gắng hết sức để cứu sống con bé. Những nhân viên cấp cứu kể với em rằng khi họ đến nơi, nó đã kiệt sức vì làm CPR đến nỗi nó chỉ có thể nằm thở; nó không thể làm gì thậm chí gượng dậy thôi. Và nó đang khóc. Cho đến bây giờ, điều đó diễn ra như thể em và thằng bé cùng chia sẻ sự trống rỗng khi không có sự hiện diện của con bé trong cuộc đời. Như thể là em không cần phải chịu đựng một mình vậy.”

    Hắn dừng lại, và sau đó hỏi một cách khéo léo, “Chồng em không...?”

    Bà bật cười, tiếng cười cay đắng, “Ồ, ông ta có khóc chứ, nhưng khi con bé đã được chôn cất, cũng trong cùng đêm đó, ông ta đã ra ngoài săn tìm nhân tình. Nếu ông ta cảm thấy tiếc thương, ông ta thể hiện nó bằng cách ông ta vẫn thường làm, đuổi theo mọi phụ nữ đặt cái nhìn lên ông ta.”

    Bàn tay của Byron di chuyển nhẹ nhàng trên eo bà. “Anh có thể nói anh rất tiếc, nhưng nếu ông ta là một ông chồng hoàn hảo, thì em sẽ không ở đây với anh. Anh tiếc khi không được gặp em trước ông ta, nhưng việc đó có tồi tệ không khi anh thừa nhận rằng anh mừng vì em đã không hạnh phúc khi ở cùng ông ta?”

    Bà tặng hắn một nụ cười ngượng ngịu. “Điều đó không tồi tệ chút nào. Nó chân thành. Và hơi nịnh đầm đấy.” Ruth rúc vào gần hắn hơn, xoay người để bà có thể vòng một tay quanh vai và chạm đến tóc hắn. Bà yêu việc được chạm vào người hắn. Cho đến tận khi Byron đến, bà đã sống quá lâu mà không vuốt ve ai hay được vuốt ve, không có tình yêu hay tình dục hay bất kỳ sự kết hợp nào của cả hai, bà đã cảm thấy như một trinh nữ trong vòng tay hắn. Mọi thứ đều mới mẻ, và đáng sợ; bà đã rất bối rối vì cái cách mà bà luôn sẵn sàng cho hắn, và lần đầu tiên đó đã hơi đau đớn, cứ như thể bà chưa từng quan hệ với ai bao giờ.

    Sự thật thì bà chưa bao giờ cảm thấy mình là một người trọng dục; bà thích sự an toàn hơn là tình yêu, và đã ngăn chặn toàn bộ các cảm xúc đó. Những lựa chọn mà bà dã chọn đã trao cho bà Rebecca, nhưng khi con gái bà qua đời, bà đã bị bỏ lại với sự trống rỗng và cay đắng khôn cùng. Những ngày của cuộc đời bà đã trôi qua y hệt nhau trong sự ảm đạm tối tăm, không hi vọng, cho đến khi bà gặp Byron. Hắn đã trao bà tình cảm mà bà khát khao lâu nay, nhưng hơn cả thế, hắn đã cho bà lý do để sống tiếp, để có thể xoá nhoà nỗi đau và sự mất mát trong quá khứ.

    Ở hắn có rất nhiều điều mà bà thích. Điều đầu tiên, hắn không phải người địa phương. Khi họ gặp nhau không phải ở Pekesville, mà là ở hạt bên cạnh, vì vậy bà không phải lo lắng về việc vô tình gặp ai đó bà biết. Với một vài người, hạt bên cạnh cũng vẫn được coi là địa phương nhưng bà đã sống ở Pekesville cả đời và chưa bao giờ đi xa, vì vậy “địa phương” trong quan niệm của bà khác.

    Hắn không phải một người đàn ông cao ráo, chỉ cao hơn bà vài inch, và Ruth thấy bà thích như vậy. Họ rất phù hợp vơi nhau, Edward là một người đàn ông khá cao, vì vậy bà thấy mừng vì chẳng điểm nào ở Byron gợi bà nhớ về chồng bà – trừ việc họ đều có dương vật, đương nhiên, nhưng cách họ sử dụng chúng khác nhau. Edward đã luôn ích kỷ về mặt tình dục; Byron lại hoàn toàn ngược lại, tốt bụng và kiên nhẫn trên giường, sẵn sàng để trao cho bà sự thoả mãn, không cần biết mất bao lâu, hay bằng cách nào. Hắn dường như không nghĩ dương vật của hắn là thứ duy nhất tạo nên niềm vui; hắn yêu bà với cả cơ thể hắn.

    Hắn trẻ hơn bà; gần sáu tuổi. Bà cũng thích cả điều đó nữa; nó là một sự vuốt ve êm ái cho tự tôn của bà vì biết mình được khao khát. Byron thích sách, và phim ảnh, và đi bộ trong tĩnh lặng trong khi đang nắm tay bà trên suốt quãng đường đi. Hắn thỉnh thoảng, một cách vô thức, nâng tay bà lên môi và hôn, một sự trao tặng tình cảm một cách tự nhiên và vô thức gần như khiến bà bật khóc khi hắn làm thế lần đầu tiên. Hắn thích trò chuyện với bà, và hắn khá thông minh. Hắn có những giả thiết và thí nghiệm mà hắn giải thích cho bà, chỉ cho bà thấy, cho thấy hắn tôn trọng sự thông thái của bà như thế nào. Có một vài chi tiết mà bà vẫn chưa hiểu lắm, nhưng vào lúc này bà hoàn toàn tin tưởng hắn. Nếu hắn nói với bà điều gì đó có thể thành công, bà tin hắn.

    “Người đàn bà mà em đã nhìn thấy đi cùng Davis là ai vậy?” hắn thì thầm bên thái dương bà. “Em biết cô ta không?”

    “Không, em chưa bao giờ nhìn thấy cô ta. Một cô gái tóc vàng nào đó tên là Tina. Thằng bé đã giới thiệu chúng em với nhau, nhưng không nhắc đến họ của cô ta. Chúng đang ở trong Wal-Mart, đi mua sắm cùng nhau – trước 8h sáng nay. Em nghĩ chúng ta ở bên nhau cả đêm.”

    “Vì hai người bọn họ đang ở Wal-Mart sao?” hắn hỏi, hàng lông mày cau lại vì bối rối.

    “Không, vì hai đứa đang đi mua sắm cùng nhau ở Wal-Mart vào trước 8h sáng, và cô ta đang mua quần áo và đồ nội y, đồ trang điểm, những thứ thông thường như vậy. Anh có thể vào siêu thị sớm như vậy để mua một thứ mà anh đã hết và đang cần, nhưng anh không đến đó để đi mua sắm, đặc biệt lại là cùng nhau. Em nghĩ cô ta đã ở cùng thắng bé đêm qua, và không có những thứ cô ta cần vào sáng nay, vì vậy hai đứa đã ra ngoài để mua những thứ đó.”

    “Nhưng tại sao cô ta không về nhà?” hắn ta vẫn giữ nguyên ánh nhìn bối rối như vậy.

    “Em không biết.” Giải pháp đó nghe có lý hơn hẳn. “Có lẽ cô ta không sống ở đây. Nhưng nếu vậy, tại sao cô ta lại ở cùng Knox? Tại sao cô ta không lái xe của mình đến siêu thị? Ý em là, cô ta có thể về nhà và lấy xe trước khi đi làm, nếu không cô ta sẽ bị kẹt ở đây. Vì vậy đáng lẽ hai đứa không cần thiết phải đi mua sắm nếu thằng bé có ý định đưa cô ta về nhà. Chuyện này nghe vô lý quá.”

    Byron đang thật sự nhíu mày, cách mà hắn vẫn làm khi đang làm việc với các thuật toán trên máy tính của hắn. “Em nói cô ta tên gì nhỉ?”

    “Tina. Sao vậy?”

    “Và cô ta tóc vàng?”

    “Anh biết một cô tóc vàng nào đó tên là Tina hả?”


    Không, không phải vậy. Anh chỉ đang thắc mắc....người phụ nữ mà anh ta đi cùng ngày hôm qua......cứ cho là cô ta đã rời khỏi thị trấn.”

    “Đúng vậy. Jason MacFarland nói là Knox kể với ông ta rằng cô ta đã quyết định các vụ của họ không hề có liên quan gì với nhau, vì vậy không có lý do gì để cô ta ở lại.”

    Đôi mắt nâu của hắn rất dịu dàng khi hắn vuốt tóc bà. “Nhưng chúng ta biết rằng cô ta không thể nào nói những điều như thế được đúng không? Cô ta không thể rời đi, vì Pekesville là nơi cô ta cần ở. Cô ta và Knox đã trải qua một thời gian dài cùng nhau hôm qua. Và rất dễ để thay đổi màu tóc ai đó mà.”

    Ruth hít một hơi hốt hoảng, ngồi bật dậy trên giường và quay phắt lại để nhìn chăm chăm vào hắn. “Anh nghĩ rằng Tina là------ anh có chắc không?”

    “Không. Anh sẽ phải nhìn thấy cô ta trước khi anh có thể khẳng định. Nhưng anh nghĩ có khả năng rất cao là hai người họ là một, em có thấy vậy không?” hắn mỉm cười. “Nếu vậy, biết được điều đó sẽ là một lợi thế lớn cho chúng ta. Nếu em biết nơi Knox sống, anh có thể cài đặt hệ thống theo dõi ngôi nhà. Chúng ta sẽ biết sự thật sớm thôi.”
     
    B-Mon, uyenki, hollypingpong and 6 others like this.
  9. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 19

    Chưa đến một tiếng Nikita đã có được tên của tất cả các thành viên của hội đồng thành phố và uỷ viên hội đồng quận vào năm 1985; vì cô còn nhiều thời gian và là một người khá cẩn thận, cô còn lấy ra một bản tin về vụ tự sát của Howard Easley. Người đưa tin, Max Browning, đã chớp lấy cơn sốc và sự đau buồn của những học sinh trung học và những giáo viên đồng nghiệp của ông một cách khéo léo, nhưung đặc biệt là của đội bóng đá. Huấn luyện viên Easley là một người khá nổi tiếng. Một cột bên cạnh liệt kê ra những dấu hiệu của sự tuyệt vọng, và những dấu hiệu của xu hướng tự sát. Bản cáo phó đã kể ra nơi ông sinh ra, học đại học ở đâu, ông đã làm huấn luyện viên bao lâu, giáo xứ mà ông đến.

    Danh sách những người khiêng quan tài khá thú vị, trong đó có đề cập đến vài vị trong hội đồng thành phố và vài uỷ viên hội đồng quận đã được ghi lại trong danh sách của Nikita đã tham gia vào quá trình tiễn dưa Huấn luyện viên Easley đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Cô in một bản sao của bảo cáo phó và bài báo để đưa cho Knox đọc. Cô không thể nghĩ ra tại sao chúng lại liên quan, nhưng Knox đã sống ở đây trong phần lớn cuộc đời anh và anh có thể đã chú ý điều gì đó mơ hồ mà cô hoàn toàn không nắm được.

    Công việc chính thức của cô đã kết thúc, Nikita giành ra vài giờ vui vẻ đi lang thang giữa các kệ sách. Cô lấy chiếc máy ảnh mini trong túi ra và một cách bí mật, chụp những tấm ảnh về những điều mà cô nghĩ có thể gây hứng thú ở thời đại của cô. Chiếc máy ảnh không cần thêm ánh sáng mà cũng có thể chụp được những bức ảnh có chất lượng cao, và cả tất cả các cơ chế máy móc bên trong – tất cả những gì cô mang theo đều được mô phỏng theo cơ chế của các hợp chất hữu cơ để chúng có thể được chuyển dịch thời gian.

    Vấn đề con người là một dạng sống cơ bản là các bon đã là một vấn đề khá phức tạp với các nhà khoa học khi họ phát minh ra các lý thuyết cũng như quá trình hoạt động thực tiễn trong du hành thời gian. Vấn đề quần áo là dễ dàng nhất, vì cuối cùng thì vải vóc chẳng phải làm gì ngoài việc được giữ nguyên vẹn và có thể che đậy được cơ thể. Tích hợp công nghệ của họ với du hành thời gian đã là một vấn đề còn khó khăn hơn cả chuyển dịch cơ thể con người. Trong những thí nghiệm ban đầu, thông thường thì những máy móc sẽ vượt qua được chuyến du hành nhưng những gì tham gia trực tiếp trong việc thao tác – bất kể loại máy nào họ sử dụng – đều bị nướng đen – và đó đã là khung cảnh dễ chịu nhất rồi. Đôi khi chúng chỉ đơn giản là biến mất. Việc chúng có xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào khác trong chuỗi thời gian hay không chỉ là phỏng đoán của tất cả mọi người.

    Vì vậy chiếc bút laze, máy quét DNA, quần áo, máy ảnh, kể cả bộ EN đều được làm theo công nghệ mô phỏng những hợp chất hữu cơ đến cấp độ phân tử.

    Vậy làm thế nào mà ngọn giáo có thể được mang đến thời đại này?

    Suy nghĩ đó đã tạo nên những cơn sốc trong não cô. Tại sao cô không nghĩ đến điều này trước đây chứ?

    Ngọn giáo trong bảo tàng đã tồn tại trước cả thời điểm có công nghệ du hành thời gian, và ngọn giáo đó đã bị đánh cắp. Khi McElroy báo cáo rằng anh ta đã nhìn thấy Taylor Allen bị ám sát bởi một ngọn giáo, và anh ta đã theo dấu kẻ du hành bất hợp pháp đó đến nhà của Allen, ai mà còn nghĩ về điều gì khác ngoài việc khẳng định rằng hai ngọn giáo đó là một chứ, và đã được sử dụng bởi giá trị mang tính biểu tượng của nó đối với những ATT – những nhóm phản đối du hành thời gian.

    Vậy nếu nó tồn tại trước công nghệ du hành thời gian và đã được chuyển dịch một cách thành công, thì nó được làm từ gì chứ? Không phải gỗ hay thép; gỗ có thể chuyển dịch được, nhưng thép thì không phải chất hữu cơ. Dù là gì đi nữa, khi Trung Quốc sản xuất đại trà các ngọn giáo, họ không sử dụng thép và gỗ. Họ đã dùng sứ và những nguyên liệu khác, không cái nào trong số chúng có nguồn gốc từ những sinh vật sống.

    Kết luận duy nhất mà cô có thể rút ra là ngọn giáo dùng để sát hại Allen không đến từ tương lai, mà thực ra là vật đến từ hiện tại. Và nếu nó đến từ hiện tại, vậy thì họ có thể lần theo dấu nó.

    Nhưng tại sao kẻ du hành trái phép kia phải trải qua nhiều rắc rối đến vậy để tìm một ngọn giáo nhằm sát hại Taylor Allen nếu không phải vì giá trị mang tính biểu trưng của nó và hắn ta không dùng nó để khẳng định điều gì? Có những cách dễ dàng hơn nhiều để giết ông ta, ví dụ như sử dụng súng laze, nếu hắn ta đã có cách để lọt vào kho vũ khí laze, và nếu hắn ta có thể vào được Phòng thí nghiệm Du hành thời gian, thì hắn ít nhất cũng có thể lấy được vũ khí laze, vì lấy chúng còn dễ hơn là vào phòng thí nghiệm. Hoặc nếu không thành công, hắn cũng có thể lấy được vũ khí ở đây; những viên đạn được nhồi thuốc súng cũng rất hiệu quả.

    Không, ngọn giáo đã được dùng vì một lý do nào đó, nhưng nó là gì mới được chứ? Và một ngọn giáo đã bị đánh cắp khỏi bảo tàng. Sự trùng hợp ngẫu nhiên này là quá lớn để lờ đi; nó phải có một ý nghĩa nào đó.

    Cô ngồi xuống trước một bàn vắng người và lấy máy EN ra. Mở nó ra, cô bắt đầu viết lên màn hình, lẩm bẩm nhỏ trong miệng trong khi cô làm vậy.

    “Em có thấy những cái tên ổn không?”

    Cô nhảy dựng lên, và chiếc bút bay khỏi tay cô lăn tròn trên sàng và lăn xuống một giá sách.

    Knox ngồi xổm xuống, quỳ xuống trên sàn để lấy nó ra, với vẻ thích thú rõ ràng trên mặt. “Em đang khá tập trung vào cái gì đó,” anh bình luận, “đến nỗi không nghe thấy tiếng anh bước đến.”

    “Ngồi xuống đi,” cô nói một cách khẩn cấp, chỉ vào chiếc ghế bên cạnh mình.

    Anh nhướng mày một cách thắc mắc, nhưng cũng ngoan ngoãn ngồi xuống. “Có chuyện gì vậy? Em tìm thấy gì đó phải không?”

    “Không phải trong những tờ báo, nếu ý anh là vậy. Em có lấy được những cái tên, nhưng em nghĩ ra một điều khác.” Cô nghiêng đầu sát vào anh hơn. “Ngọn giáo. Nó không thể đến từ thời đại của em được.” Cô vẫn chỉ đang nói nhỏ, gần như thì thầm; thư viện vẫn đang rất vắng vẻ, nhưng càng về trưa, càng có nhiều người vào.

    Hàng lông mày anh lại nhướng lên lần nữa. “Làm thế nào em biết?” sau đó mắt anh nheo lại, và cô có thể cảm thấy những suy nghĩ luân chuyển liên tục trong đầu anh. “Hữu cơ. Em đã nói rằng phải là hữu cơ, hoặc những hợp chất mô phỏng hữu cơ thì mới có thể dịch chuyển được.”

    “Đúng vậy, và những ngọn giáo trong bảo tàng được làm trước thời điểm có công nghệ du hành thời gian, vì vậy lúc đó vẫn chưa có công nghệ nào để sản xuất chúng từ những vật liệu phù hợp cho du hành thời gian dù cho có ai đó muốn lãng phí tiền bạc vào việc sản xuất chúng. Nếu em nhớ không lầm, những ngọn giáo trong bảo tàng có cán bằng sợi thuỷ tinh, và mũi giáo làm bằng sứ.”

    “Đối với anh chúng nhìn như gỗ vậy. Cái cán ấy. Phần đầu bị vùi trong lưng của Taylor Allen.”

    “Không, em đã nhìn những mũi giáo ấy rồi. Cán giáo không đời nào lại được làm theo kiểu mô phỏng gỗ.”

    “Một ngọn giáo đã bị đánh cắp từ bảo tàng,” cô nói một cách chậm rãi, hồi tưởng lại những sự kiện trong đầu và cố gắng khớp chúng vào một giả thiết thích hợp. “Khi McElroy báo cáo là Allen đã bị ám sát bởi một ngọn giáo, một giả thiết hợp lý mà ai cũng có thể rút ra là chúng đã sử dụng ngọn giáo bị đánh cắp.”

    “Chẳng lẽ mọi người không biết đó không thể là ngọn giáo bị đánh cắp à?”

    “Chỉ khi họ đã xem bộ sưu tập thôi. Nếu một ngọn giáo được báo cáo là biến mất và sau đó một đặc vụ nó rằng một ngọn giáo đã được sử dụng để ám sát vào thời điểm mà công nghệ du hành thời gian bắt đầu được khơi mào, ở nơi mà nó bắt đầu phát triển, cũng như việc nó là một biểu tượng cho nhóm Chống Du hành thời gian, thì một điều đương nhiên người ta sẽ kết luận là kẻ du hành thời gian trái phép đã mang theo ngọn giáo để lấy đi tính mạng của người được cho là hạt nhân của công nghệ du hành thời gian.”

    “Whoa,” anh nói, “Em nói nhanh thật đấy, và anh nghĩ là tất cả những thông tin đó chỉ nằm trong một câu thôi. Tua lại chút đi, và lần này thì chậm thôi.”

    Nikita hít một hơi thật sâu, kìm nén sự thiếu kiên nhẫn của mình lại. Một cách chậm hơn nữa, bắt chước cách nói của anh, cô nhắc lại những điểm cốt yếu.

    “Được rồi, anh đã hiểu,” anh nói. “Vậy người đặc vụ kia, McElroy, không hề biết chiếc giáo bị đánh cắp nhìn như thế nào đúng không?”

    “Không nhất định vậy, có lẽ là không. Em giành khá nhiều thời gian trong các bảo tàng vì những khoá học thêm mà em tham gia.”

    “Anh có thể hiểu tại sao em rút ra được kết luận đó rồi. Có lẽ tới thời đại của em thì mọi người không còn quen thuộc với các chất hữu cơ nữa – và đó là điều duy nhất lý giải việc tại sao không ai kiểm tra xem ngọn giáo được làm từ cái gì.”

    Cô gật đầu. “Nó là một hiểu biết thông thường, không phải điều gì tuyệt mật cả.”

    “Vậy tại sao lại dùng một ngọn giáo mà không vì lý do gì? Có rất nhiều cách dễ dàng hơn để giết một người. Tại sao không đơn giản là bắn cho ông ta một phát?”

    “Đó chính xác là những gì em nghĩ. Điều duy nhất có lý là ai đó đang muốn chúng ta nghĩ rằng đây là một trong những hành động của nhóm Chống du hành thời gian. Ai đó đã phải mất công để ăn cắp ngọn giáo ở thời của em, và tìm thấy hoặc chế tạo ra một ngọn giáo ở thời đại này. Nhưng tại sao? Nếu đó là một nhóm Chống du hành thời gian, họ không phải dùng ngọn giáo, họ có thể chỉ thực hiện vụ ám sát và nhận trách nhiệm cho nó. Nhưng ở đây mọi việc lại như thể ngọn giáo được dùng để thuyết phục chúng ta tin rằng vụ ám sát này là do một nhóm Chống Du hành thời gian gây ra.”

    “Chậm lại đã,” anh nói một cách cẩn thận. “Chắc hẳn là anh đã nghe được nhanh hơn, vì anh có nắm được trọng điểm của những gì em vừa nói. Nghe có vẻ như một ai đó ở thời đại của em hoặc đang cố tiêu diệt những nhóm Chống Du hành thời gian bằng cách khuấy lên những hành động mang tính cực đoan chống lại họ, hoặc đang đánh lạc hướng sự chú ý của dư luận khỏi chính hắn.”

    “Nhưng ai mới được chứ, và hắn sẽ có lợi ích gì?” cô im lặng một lúc và sau đó nói. “Ai đó này chắc hẳn phải là người của FBI, có lẽ là trong đơn vị của em. Chúng ta biết điều đó. Nhưng làm thế thì có lợi gì, trừ khi người này đang có một mối hiềm khích cá nhân với ai đó trong đội ngũ tổ chức Chống Du hành thời gian, và dù thế nào đi nữa, tại sao hắn lại phải giết một người vô tội? Tại sao lại phải cử người của thời đại các anh để bị giết chứ?”

    “Vì hắn ta bắt buộc phải làm vậy,” Knox nói một cách chậm rãi, có vẻ đăm chiêu. “Gửi các đặc vụ đến đây là những gì mà hắn thường làm, vì vậy nếu hắn không làm vậy thì không thể tránh được việc thu hút sự chú ý. Nhưng bằng cách nào đó hắn đã cảnh báo cho tên đồng bọn, vì vậy những người đặc vụ được gửi đến đã hoặc bị cản trở hoặc bị giết chết. Theo phỏng đoán của anh, McElroy có lẽ là một điều tra viên hàng đầu, vì anh ta không bao giờ đến gần với gã này nếu không thì anh ta đã không còn sống mà quay về rồi.”

    “Tên này phải là một trong những chỉ huy của em.” Nikita tự hỏi không biết nhìn cô có nhợt nhạt và hốt hoảng như cô đang cảm thấy không. “Em có thể tưởng tượng ra việc Phòng thí nghiệm Du hành thời gian được đưa vào dưới sự kiểm soát của FBI trong nhiệm vụ này, và điều đó sẽ dễ dàng hơn cho tên này để gửi thông tin quay trở lại thời đai này, hay thậm chí tự mình du hành nếu sự liên lạc trực tiếp là cần thiết.”

    “Em đã bao giờ nghĩ là những vụ giết người này không có liên quan gì đến công nghệ du hành thời gian chưa? Nếu ngọn giáo đó là một cách để đánh lạc hướng, thì lý do đằng sau nó có lẽ cũng là vậy.”


    “Chiếc rương thời gian của các anh đã bị đánh cắp,” cô chỉ ra. “Bởi ai đó du hành ngược thời gian từ thời đại của em. Nhưng tại sao lại lấy nó nếu không phải để lưu giữ nó an toàn?”

    “Em đang cho rằng một người tốt đã giữ nó.”

    “Em vẫn đang ở đây đấy thôi.” Cô nói một cách đơn giản.

    Một lần nữa, anh lại chìm vào suy tư trong khi đang nhìn chăm chăm vào cô. “Nếu thứ chứa trong chiếc rương đã bị phá huỷ, và nếu cái gì ở trong đó quá quan trọng với việc phát triển công nghệ này, vậy thì du hành thời gian không thể tồn tại được và em cũng sẽ không ở đây.”

    “Chính xác. Và miễn là em ở đây, tài liệu hoặc bất kỳ cái gì chứa trong đó vẫn đang tồn tại.”

    Anh nhìn hoảng sợ. “Ý em là anh có thể đang hôn em, và em chỉ đơn giản là biến mất?”

    “Về mặt lý thuyết thì là như vậy.”

    “Chết tiệt thật, đừng có làm vậy! Anh sẽ bị đau tim mất.”


    “Điều đó có thể xảy ra nếu anh đang hôn em, mà chắc chắn là anh sẽ không hôn em nữa.”

    “Đừng có quá chắc chắn về điều đó. Nhưng thử nghĩ xem: đó có thể là ai, ngoài nhóm Chống Du hành thời gian, muốn ngăn không cho du hành thời gian xảy ra? Lợi ích mà họ có là gì? Và tại sao lại phải giết cả Taylor Allen và Thị trưởng Forbes, không ai trong số họ biết về du hành thời gian mà? Khỉ thật, từ những gì anh biết về ngài cố thị trưởng, ông ấy cũng không đời nào thừa nhận du hành thời gian có tồn tại dù cho ai đó có bốc hơi ngay trước mặt ông ấy. Ông ấy cũng không hề nghĩ rằng việc con người đặt chân lên mặt trăng là có thật nữa kìa.”

    Nikita chớp chớp mắt trong sự ngạc nhiên tột độ. “Anh nghiêm túc chứ?”

    “Vô cùng nghiêm túc luôn,”
    anh nói, giơ tay phải lên như một lời thề lặng lẽ.

    Cô giữ im lặng một lúc trong khi đang cố vật lộn để hiểu tại sao con người ta có thể chối từ một sự thật hiển nhiên đến vậy trong khi hàng đống sự kiện đang xảy ra liên miên trước họ.

    “Một vài người vẫn nghĩ rằng trái đất này dẹt đấy,” anh thêm vào.

    “Em đã nghe nói về họ rồi. Họ được đề cập đến trong những cuốn sách lịch sử của bọn em. Khi thuộc địa đầu tiên của bọn em trên Mặt trăng được thành lập, một trong những nhà lãnh đạo của Hội đã được đưa lên đó. Ông ta đã bị thuyết phục, nhưng những người dưới trướng ông ta thì không. Trong một thời gian dài họ vẫn khăng khăng là đó là một sân khấu được dàn dựng sẵn, và ông ấy vẫn chưa lên đến Mặt trăng.”

    “Vậy cuối cùng thì làm thế nào để họ bị thuyết phục?”

    “Giáo hoàng đã lên đó.”


    Anh nhìn chăm chăm vào cô mà không nói nổi một lời, mặt anh đỏ lựng lên. Đột nhiên anh đứng bật dậy và phóng nhanh đến phòng vệ sinh công cộng, vai anh nhô lên. Anh cố gắng kìm giữ bản thân cho đến khi vào được phòng vệ sinh, và cánh cửa đóng sau lưng cũng ngăn chặn tràng cười rú lên nổ ra sau đó.

    Nikita nghiêng đầu. Có gì buồn cười về việc giáo hoàng đi lên mặt trăng chứ?

    Khi anh quay lại, mắt anh ươn ướt và môi vẫn cong lên trong hình dáng của một nụ cười. “Xin lỗi em nhé,” anh nói với một giọng bị kìm nén. “Nó chỉ hơi......anh tưởng tượng ông ta ngồi trong quả tên lửa, với cái đám đồ lễ đó trên người....” giọng của anh nhỏ dần đi trong khi đang lắc đầu.

    “Đừng ngốc nghếch thế,” cô nói. “Ông ấy mặc đồ vũ trụ như tất cả những người khác thôi.”

    Knox nấc cục và lập tức quay trở lại nhà vệ sinh.

    Anh là người dễ bị xao lãng nhất mà cô từng gặp, cô nghĩ. Họ có thể đang trong một cuộc thảo luận vô cùng nghiêm túc về cuộc điều tra và điều tiếp theo cô biết là cô đang giải thích về nguyên nhân tại sao những nhà du hành thời gian lại khoả thân nếu họ mặc đồ làm từ sợi tổng hợp.

    Khi anh chưa quay lại, cô nhìn vào những ghi chú mà cô đã viết ra trên máy ghi chú cá nhân EN, và suy nghĩ mọi việc cẩn thận hơn. Điều này thì có lợi gì cho kẻ chủ mưu? Vấn đề tại sao và ai làm luôn có liên hệ chặt chẽ với nhau; chỉ cần tìm ra một thì sẽ phát hiện ra nốt điều còn lại.

    Kẻ – hoặc những kẻ giết người, vì chắc chắn rằng có ít nhất là hai kẻ tham gia vụ này, có lẽ là chưa tìm thấy những gì chúng đang tìm kiếm, và hắn đang kiểm tra toàn bộ những người nằm trong danh sách liên quan đến chiếc rương thời gian.

    Cuối cùng thì Knox cũng quay lại, và Nikita ngăn chặn bất kỳ sự bùng nổ nào của khiếu hài hước nơi anh bằng cách gõ vào danh sách tên mà cô thu thập được. “Ai đó trong danh sách này là mục tiêu tiếp theo của tên giết người. Chúng ta có thể làm gì để giúp họ sống sót?”

    Câu hỏi đó quét sạch dư âm của sự vui vẻ khỏi biểu cảm của anh. Anh đứng nhìn chăm chú vào danh sách, và cuối cùng cũng nói, “Không nhiều lắm. Họ có quá nhiều người. Văn phòng cảnh sát trưởng và đội ngũ cảnh sát có gộp lại cũng không đủ người để bảo vệ họ. Một vài người trong số họ cũng đã qua đời rồi” – anh cầm bút lên, cúi người xuống và gạch bỏ vài cái tên khỏi danh sách- “nhưng như vậy cũng để lại 12 người cần được bảo vệ. Điều tốt nhất mà Cảnh sát trưởng Cutler có thể làm là cảnh báo họ. Nhưng đấy là trong trường hợp có ai đó trong số họ tin rằng có kẻ đang săn lùng để giết họ vì một chiếc rương thời gian đã bị chôn vùi 20 năm trước.”

    “Chúng ta phải tự mình phỏng vấn họ.” Cô nói.

    “Không. Anh phải phỏng vấn họ. Em phải trốn đi. Đặc vụ Stover đã rời thị trấn, nhớ không? Em là Tina, tình nhân đang chung sống với anh.”

    “Em không nghĩ vậy đâu,” cô nói bình thản.

    “Anh biết thế.” Anh đặt một tay lên bàn và bàn tay còn lại lên lưng ghế cô đang ngồi, nghiêng người bao phủ cô. “Đó chính xác là những gì Ruth đã nghĩ lúc ở Wal-Mart vào sáng nay, và cũng chính xác là cách chúng ta sẽ cư xử nơi công cộng. Đó là cách duy nhất anh có thể nghĩ ra để giữ em an toàn và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Lựa chọn khác là tìm một chỗ để em có thể trốn đến khi mọi việc đi qua.”

    Cô đứng bật dậy nhanh đến nỗi anh phải thẳng ngay người dậy nếu không muốn bị húc vỡ đầu. “Tốt thôi. Nhưng nếu anh lợi dụng tình huống này, lần tới nếu em phải đánh anh, em sẽ đánh vỡ cằm anh luôn đấy. Em hứa đấy.”

    “Anh chưa bao giờ nghi ngờ điều đó cả,” anh nói, và mỉm cười trêu cô.
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 8 others like this.
  10. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 20

    Knox đã dành thời gian để mua một chiếc di động mới cho Nikita và yêu cầu thanh toán phí vào tài khoản của anh, cũng như trả thêm tiền để mua thêm pin ngoài đã được nạp đầy cho cô. Vì sau cùng thì anh cũng sẽ giữ lại chiếc điện thoại này sau khi Nikita quay về thời đại của cô, đơn giản vì cô không thể mang nó theo được, nó không phải hợp chất hữu cơ, và nó sẽ không thể vượt qua quá trình du hành để đến với thời đại đó được – anh đã quyết định phung phí một chút và mua một chiếc có chức năng chụp ảnh quay phim, chỉ vì anh thích những ứng dụng của nó. Điều đó nghĩa là anh phải nâng cấp máy tính để có thể tải những bức ảnh xuống và in chúng ra, nhưng kệ chứ, dù sao đi nữa thì nó cũng cần được nâng cấp.

    Sau khi đón cô từ thư viện, anh đưa cô đến một điểm bán bánh kẹp qua cửa xe, anh nhận ra rằng với cách này thì danh tính của cô sẽ được bảo vệ, và khi họ ngồi trong xe đỗ dưới bóng râm của một cây sồi lớn, cắn ngập răng vào những chiếc bánh kẹp béo ngậy và thưởng thức món khoai tây rán mặn, anh đã chỉ cho cô cách sử dụng của tất cả những tính năng của chiếc điện thoại. Trong khi anh đang thao thao bất tuyệt giải thích một cách đầy nhiệt tình về tính năng chụp ảnh của chiếc điện thoại, anh liếc lên và thấy biểu cảm đầy kiên nhẫn trên mặt cô.

    Anh dừng lại trong khi đang nói dở câu. “Anh đoán là em có là đang quá chán chường với tất cả những điều này, hoặc là em có thể vận hành những công cụ như thế này kể cả khi mắt đang nhắm. Vậy là cái nào vậy?”

    “Cái sau,” cô nói với một giọng dịu dàng.

    “Vậy nếu em không phiền, hãy để anh nói xong với em về cái này, vì một vài thứ quá tuyệt đến nỗi anh phải cho ai đó xem.”

    Trong trường hợp này thì cô còn làm được gì khác ngoài cười? “Em sẽ lắng nghe.”

    Khi anh đã nghịch điện thoại của cô xong – đặt nhạc chuông với loại nhạc mà cô thích , “Toréado”, sau đó đặt điện thoại về chế độ Rung thay vì để nhạc chuông, khiến cho toàn bộ quá trình cài đặt trở nên vô ích; nhập số điện thoại của anh vào danh bạ của điện thoại, sau đó nhập số của cô vào danh bạn của anh – cô đã ăn xong còn thức ăn của anh đã lạnh ngắt trong khi anh đang nghịch chiếc điện thoại của cô.

    Trong khi anh đang bận ăn và miệng vẫn đang đầy ứ, Nikita gợi lên một vấn đề mà cô biết anh sẽ không thích. “Em đang nghĩ; việc phụ thuộc vào anh quá nhiều như thế này là không cần thiết. Nó bó buộc cả hai chúng ta. Anh có thể thuê cho em một chiếc xe, dưới tên anh, và ai mà biết được? Em sẽ trả lại tiền cho anh với số tiền em có.”

    Cô không hề ngạc nhiên khi anh cau mày lại, và nuốt thức ăn một cách hơi vội vã. “Anh đoán là anh thích biết em ở đâu,” anh thú nhận. “Sau vụ anh làm hỏng mọi thứ vào tối qua, anh sợ là em sẽ rời đi trước khi anh có thể sửa chữa mọi thứ.”

    Nikita thở dài và nhìn chăm chăm vào cảnh vật trước kính chắn gió. Cô không muốn nói về câu hỏi tàn nhẫn mà anh đã đề cập tối qua, vì nguyên nhân khiến câu hỏi đó trở nên tàn nhẫn không phải vấn đề anh cần biết. Cô liếc anh, nhìn thấy nét nghiêm túc trong đôi mắt xanh thẳm của anh, và cảm thấy bên trong cô như thít lại. Một lý do khác khiến câu nói của anh làm cô tổn thương lại là việc cô cũng rất có cảm tình với anh. Giá như có thời gian và cơ hội, cả hai điều mà cô đều không có, cô nghĩ cô có thể bắt đầu yêu anh. Anh có sự ấm áp trong tâm hồn mà cô đã luôn ngưỡng mộ, một cảm giác chắc chắn về bản thân, và một bản năng giới tính quá mạnh mẽ đến nỗi nó thu hút cô như một ngọn hải đăng.

    Tuy nhiên, nếu cô thành công với nhiệm vụ của mình, cô sẽ rời đi khi nó kết thúc, đi đến một nơi mà anh không thể theo kịp. Nếu cô không thành công, cô có thể chết hoặc đơn giản chỉ là tan biến trong không khí, như cách mà anh đã nói trước đây. Cô có thể trở về nhà với gia đình và tất cả những điều này sẽ như chưa bao giờ xảy ra, vì sẽ không có công nghệ du hành thời gian để đưa cô đến thời điểm này, đưa cô đến nơi này.

    Cô ước gì cô là kiểu người có thể để bản thân dính vào một cuộc tình đơn giản chỉ vì cô bị thu hút bởi một người đàn ông, nhưng cô không phải. Cô luôn phải cẩn trọng. Cho đến khi trạng thái pháp lý của cô được quyết đinh, không người đàn ông tỉnh táo nào lại nghĩ đến chuyện kết hôn với cô, và cô tuyệt đối sẽ không giữ một chuyện nghiêm trọng như vậy như một bí mật với người đàn ông cô yêu. Nếu trong một bước ngoặt bất ngờ nào đó, một người đàn ông vẫn muốn kết hôn với cô sau khi biết sự thật, cô biết là cô sẽ không thể nào tin tưởng vào sự thong thái của anh ta lần nữa, và liệu cô có thể để bản thân mình trở thành một gánh nặng về mặt pháp lý cho ai như vậy không? Bất công, có lẽ vậy, nhưng nó lại là sự thật.

    “Em nói gì đi chứ.” Đặt cốc nước giải khát vào chỗ giữ cốc, anh vươn tay và khẽ nâng cằm cô bằng tay phải. Những ngón tay anh mát lạnh và hơi ẩm vì cầm chiếc cốc, nhưng cô có thể cảm nhận được hơi ấm dưới làn da anh. Sự đụng chạm của anh rất nhẹ nhàng, anh đang vuốt ve cô thay vì giữ lấy cô, nhưng cảm giác như thấm sâu đến tận xương cô.

    “Anh không nên chạm vào em,” cô thì thầm. “Đó là sự xao lãng mà chúng ta không thể cho phép xảy ra.” Cô quay đầu đi và nhìn vào anh, ánh mắt họ gặp nhau trong không gian mờ mờ của chiếc xe, và bên trong cô dường như lại rung động, lần này mạnh mẽ hơn. Người đàn ông này đang nhìn lại cô, ánh mắt xanh thẳm nheo lại và chăm chú, không hề bỏ qua bất kỳ biểu hiện nào của cô dù nhỏ nhất. Có những từ khác để miêu tả anh, như là “low-key” (kìm chế tốt, có tính kiểm soát tốt), nhưng anh không hề dễ bị vượt mặt. Anh đang tập trung và có quyết tâm cao – tập trung vào cô, và quyết tâm có được những gì anh muốn. Cô nhớ người đàn ông xa lạ có đôi mắt tập trung tìm tòi đứng trước cô trong sân sau nhà Taylor Allen, và ngay lập tức biết rằng đó là bản chất thật sự của người đàn ông này.

    Anh có thể kiên nhẫn, anh có thể thấu hiểu, nhưng dưới sự hài hước nhẹ nhàng và những cố tật nhỏ của anh là sự cứng rắn như thép. Anh đã kìm nén bản thân; anh đang tán tỉnh cô.

    Một sự xôn xao bí mật lan tỏa dọc xương sống cô, và trong đầu cô bật ngay ra một thành ngữ vô cùng phù hợp. “Anh đang muốn chơi em.” Anh đang vờn cô như vờn một con cá đã mắc câu, được trao cho tự do bỏ chạy với dây câu đang dần dần kiên nhẫn được nhả ra, nhưng cũng từ từ được kéo lại khi con cá đã mệt mỏi. Kỹ thuật của anh quá tốt đến nỗi dù cô đột nhiên nhận ra anh đang làm gì, nhưng cô không hề có ý định nhả mồi ra và bỏ chạy. Liệu anh có đủ giỏi để lôi cô về phía anh không? Tính thử thách của việc này đã giữ cô lại, vì cô muốn biết câu trả lời.

    Cô có thể hợp lý hóa việc này bằng lý do công việc giữ cô ở đây, và đó là một lý do hoàn toàn chính xác. Cô cần sự giúp đỡ của anh. Cô đã bị kẹt, vào lúc này. Nhưng cô không phải ở lại trong nhà anh, đúng nơi mà anh muốn cô ở. Cô vẫn còn có những lựa chọn khác, vì giờ cô đã thay đổi vẻ ngoài của mình. Không nhiều lắm, nhưng cũng có vài lựa chọn, như khách sạn có cung cấp bữa sáng mà anh đã đề cập đến trước kia.


    Một khóe miệng anh nhếch lên khi anh tiếp tục chạm vào khuôn mặt cô, những ngón tay anh nhẹ nhàng vuốt ve dọc theo đường nét của cằm cô. “Anh không chơi đùa gì cả, Nikita.”

    Không, anh không làm vậy. Có những mối tình thoáng qua, hời hợt, nhưng sự hấp dẫn giữa họ quá mãnh liệt để thoáng qua như vậy.

    Cô hiểu phản ứng hóa học của nó sự hấp dẫn đầy ma mị khiến tay cô gần như đau đớn với mong muốn được chạm vào anh. Cô còn hiểu rằng việc này là vô cùng tồi tệ, cô không hề giống những phụ nữ khác và anh có quyền được biết về tình trạng của cô nếu cô quyết định chấp nhận để mình rơi vào lưới tình của anh, biết rằng không điều gì họ có là bền vững dù họ khao khát được như vậy. Có những đạo luật để khống chế du hành thời gian, được ban hành vì những lý do chính đáng. Dù cô có thích thời đại này đến mức nào đi nữa, cô cũng không muốn ở lại đây, và anh cũng không được phép rời đi cùng cô. Nếu với một phép lạ nào đó, anh muốn đi đến thời hiện đại cùng cô – một vấn đề cần phải bàn thảo, vì đến bản thân cô cũng chưa tìm được cách trở về - anh có khả năng sẽ bị gửi trả về, và cô sẽ bị tống giam. Thậm chí trường hợp tệ hơn có thể xảy ra, những hành động phạm pháp của cô có thể sẽ thuyết phục các nhà lập pháp rằng trong số những người giống cô, kể cả những người tuân thủ luật pháp nhất cũng mang tính không ổn định, và nên bị tiêu diệt.

    Một cách run rẩy, cô giật ánh nhìn của mình ra khỏi ánh nhìn chăm chú của anh và nhìn chăm chăm một cách mù quáng qua kính chắn gió. “Có những lý do khiến câu trả lời nên là không.”

    Anh thả tay xuống. “Có phải một trong những lý do đó là em không bị anh hấp dẫn không?”

    “Không phải,” cô thừa nhận một cách chán nản, biết rằng dù cô có đưa ra cho anh lý do nào đi nữa, anh sẽ chỉ nghe thấy câu này và hành động như thể nó cho phép anh không những tiếp tục ve vãn cô mà còn có thể làm điều đó trầm trọng thêm.

    “Đó là điều quan trọng nhất rồi. Em có thể kể ra điều gì khác nữa không?”

    Anh đã biết những lý do gián tiếp rồi, cô nghĩ. Anh biết thừa rằng cô sẽ “tan biến” bất cứ lúc nào. Vì vậy cô tiếp tục với những lý do khác chưa được nói đến, dù cho cô vẫn sẽ giữ lý do quan trọng nhất không cho anh biết. “Em không phải một người đàn ông. Em không quá thoải mái với việc----“ cô xua xua tay, tìm cụm từ nào đó mạnh mẽ hơn “tình dục bừa bãi”, vì cô đã dùng cụm đó rồi và anh đã lờ nó đi mà không quan tâm. Hầu hết những cụm từ tiếng lóng được sử dụng trong thời của cô, anh sẽ không hiểu, nhưng có một cụm từ không hề thay đổi theo thời gian: “tình một đêm” (đoạn này chị dùng drive-by fucking chỉ những mối quan hệ chóng vánh về mặt thể xác).

    “Chà, cái đó sẽ cho anh biết vị trí của mình, đúng không?” anh lẩm bẩm. “Đó là tất cả ý nghĩa của mối quan hệ này đối với em sao? Không hơn?”

    “Trong tình trạng này thì nó còn có thể là cái gì được nữa?”

    “Anh không nói về việc thời gian chúng ta có với nhau ngắn ngủi thế nào, mà là về cảm xúc đằng sau nó. Anh là một người đàn ông, nhưng dù sao đi nữa cũng cứ thử nói về cảm xúc của chúng ta đi. Những gì chúng ta có không chỉ là những cảm xúc thông thường, ít nhất là từ phía anh. Nhưng nếu em không cảm thấy tương tự, thì chỉ cần cho anh biết thôi. Chỉ là đừng nói dối về nó, vì như vậy là chúng ta đang ném đi một điều vô cùng quý giá.”


    Một cách thận trọng, Nikita cân nhắc những gì anh nói. Hầu hết những điều đó đều có thể hiểu được, nhưng một câu cứ lặp đi lặp lại trong đầu cô. Cô nghĩ đi nghĩ lại về nó, môi cô hơi hé ra rồi lại khép lại trong khi cô lặp lại các từ.

    Anh phá ra cười. “Anh đang cố gắng để trở nên nghiêm túc, còn em thì khiến anh bật cười suốt. Anh biết em đang nghĩ gì. “Just not that into me” nghĩa là em cũng khá thích anh, nhưng em không cảm thấy gì đặc biệt đối với anh.”

    Và anh đã yêu cầu cô không được nói dối, mà đương nhiên là cô sẽ không làm vậy, nhưng anh đã thành thật với cô, vì vậy anh cũng xứng đáng với điều tương tự. “Không”, cuối cùng cô cũng lên tiếng, “em không thể nói như vậy được.”

    “Đó là tất cả những gì anh cần biết.” Anh thu thập những mẩu thức ăn thừa từ bữa ăn của họ, nhét giấy gói và những chiếc cốc trở lại túi đựng, và bước ra khỏi xe để vứt chiếc túi vào một chiếc thùng rác màu đỏ tươi. Một cách vô vọng, Nikita quan sát anh, cách anh di chuyển một cách nhẹ nhàng khiến cô thấy xốn xang trong lòng. Cũng như cô, anh là một cảnh sát, và ở nơi anh luôn có vẻ gì đó đầy uy quyền được tạo nên từ quá trình huấn luyện, kinh nghiệm và từ việc anh được trang bị vũ khí. Phần còn lại đơn giản chỉ là bản chất của Knox, một người đàn ông cảm thấy thoải mái với cơ thể mình, vô cùng bình tĩnh xử lý mọi việc. Nếu anh làm tình giống như cách anh di chuyển, ôi Chúa ơi…

    Và vì anh là một cảnh sát, vào lúc anh quay lại xe, đầu óc anh đã quay lại với công việc rồi. “Em có mang theo chiếc máy quét DNA không?” anh hỏi khi ngồi vào trong xe.

    Nhẹ nhõm vì đề tài đã được thay đổi, cô vỗ vỗ vào chiếc túi bên hông. “Ngay đây rồi.”

    “Anh đang gặp khó khăn trong việc áp dụng những công nghệ của em vào cuộc điều tra, vì nó không nằm trong tầm hiểu biết của anh và anh liên tục quên những chi tiết về nó,” anh thừa nhận. “Nhưng vào đúng đêm mà chiếc rương thời gian bị mất, một công dân đã báo lại rằng những chiếc lốp máy cày của ông ấy đã bị cắt và những con gà của ông ấy đã bị giết. Anh không nghĩ là chuyện này có liên quan gì đến kẻ du hành trái phép của em, nhưng ông ấy còn miêu tả lại việc đã nhìn thấy những tia sáng rực rỡ trong khu rừng đối diện với ngôi nhà của ông ấy. Vị trí không giống với nơi mà em đã xuất hiện, nhưng khá gần. Liệu em có thể quét những mẫu DNA một cách chính xác sau 4 ngày không?”

    “Gần đây có mưa không?”

    “Không, mưa phùn cũng không.”


    “Vậy thì có khả năng sẽ thành công đấy.” Sự thích thú ngập tràn qua người cô. “Ở một địa điểm vắng vẻ, có khả năng là sẽ không có nhiều mẫu ngoại lai ảnh hưởng đến việc quét, và bất kỳ ai đã xuyên thời gian đến đây đều sẽ ở trong hệ thống. Chúng ta sẽ biết mục tiêu của mình là ai. Em không hề biết là anh biết địa điểm xuất hiện của người này.”

    “Như anh đã nói, anh gặp vấn đề rất lớn với việc thực hành những thao tác với chiếc máy quét của em. Anh cảm thấy mình như một thằng ngốc khi không nghĩ đến việc này trước đây.”

    Cô cười với anh. “Nếu nghĩ đến tất cả những việc đã xảy ra trong 24 giờ vừa qua, em nghĩ điều đó là có thể hiểu được.”

    “24 giờ thôi sao? Mới chỉ có thể thôi á? Anh cảm thấy như hàng tuần đã trôi qua rồi.”

    Cô biết anh muốn nói gì. Từ lúc họ gặp nhau vào hôm qua, họ đã hầu như không lúc nào rời nhau. Rất nhiều việc đã xảy ra, kể cả sự thật rằng anh đã bước qua một ranh giới vô hình khi anh không báo cáo lại cái chết của Luttrell. Nhận định của cô có thể sai, nhưng cô cảm thấy như thể cô đã biết anh còn rõ hơn biết về những đồng nghiệp mà cô đã làm việc và cùng được đào tạo trong hàng năm trời.

    Khi anh lái xe đưa họ tiến vào vùng đồng quê, anh giải thích cho cô về sự khó tính cáu bẳn của Jesse Bigham. “Đừng để ông ấy làm em buồn; ông ấy đối xử tệ với tất cả mọi người. Nếu ông ấy thấy chúng ta từ phía bên kia đường, ông ấy sẽ thấy tò mò về những gì chúng ta đang làm, và tiến đến để xem xét. Thực ra, anh có thể đảm bảo điều đó. Vì vậy cứ lờ tịt những gì ông ta nói đi.”

    Cô gật đầu, và hơi nheo mắt khi ánh sáng mặt trời rực rỡ bắn thẳng qua kính chắn gió. Cô lấy kính râm ra, đeo vào, và gần như thở dài vì thoải mái. Vùng núi này không nóng như Florida, nhưng cũng đủ nóng; thậm chí cả mắt cô cũng cần bóng râm.

    Dù vậy thì khung cảnh lại khá đẹp. Những ngọn núi không mang hình dáng của những con quái vật khổng lồ cao lớn như núi Rockies hay Himalaya; ở đây chúng lâu đời hơn, mang vẻ khắc khổ bởi mưa và xói mòn qua hàng triệu năm vì những mảng kiến tạo dưới chân chúng đã bị chen vào với nhau và khiến mặt đất ở trên bị ngăn ngang xẻ dọc. Mọi thứ nơi dãy núi Applachia này đều cho người ta cảm giác già cỗi, và hơi bí ẩn, như thể trong tất cả những năm tháng đó mỗi người đã đặt chân đi qua nơi đây đều để lại một phần của chính họ, để tiếp tục gửi những lời thì thầm vào gió và tiếp tục nhìn xuyên qua những tán cây cổ thụ.

    Cô chưa bao giờ đến Kentucky trước đây, nhưng cô đã hứa với bản thân khi cô quay về thời đại của mình, cô sẽ cố gắng đến thăm nơi đây, quay về vùng đất này và thể nghiệm sự thay đổi của nó trong 200 năm tới.

    Và có lẽ là tìm kiếm mộ của Knox?

    Cô gần như thở gấp khi sự đau đớn đó cắt ngang qua cô. Đến khi cô quay trở về thời đại của mình, Knox đã ra đi mãi mãi rồi. Cô nhìn ngang qua về phía anh, gần như không thể chịu đựng được ý nghĩ về anh nằm dưới mặt đất lạnh lẽo, không hề có sinh khí, và một cách chậm rãi sẽ tan biến vào hư không.

    Đây là lý do tại sao du hành thời gian trở thành một nguy hiểu tiềm tàng, không những vì sự hấp dẫn không thể cưỡng lại của việc thay đổi các sự kiện trong lịch sử mà đáng lẽ không nên thay đổi, nhưng vì họ chỉ là con người không thể loại bỏ cảm xúc của mình khi họ du hành thời gian. Con người tạo nên các mối quan hệ; đó là sự thật cơ bản của cuộc sống. Nếu có đủ sự trao đổi qua lại, con người từ hai thời đại khác nhau cũng có thể hình thành nên mối quan hệ và tình cảm. Vậy người ta phải làm sao để lưu giữ những tình cảm đó? Không một ai trong quá khứ được cho phép đi tới thế giới tương lai. Có những luật ngăn không cho những nhà du hành ở lại thời đại mà họ đi đến. Nếu người đó không muốn trở về một cách tự nguyện, một thành viên đội Tìm kiếm và Giải cứu sẽ được cử đến để đưa người đó về.

    Thật ra, luật pháp có khả năng đã tạo ra một lớp tội phạm hoàn toàn mới. Chưa ai phá luật, một vài nhà du hành đã phải được giải cứu, vì những chiếc vòng liên kết của họ đã bị mất hoặc hỏng trong một vài tình huống, nhưng không ai tự nguyện ở lại quá khứ. Nhưng sẽ chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi có ai đó muốn ở lại, hoặc ai đó muốn đến tương lai. Vì không ai biết tình trạng hỗn loạn nào sẽ bị tạo ra từ việc đó, Hội đồng đã ban hành những Luật và Điều lệ vô cùng hà khắc để ngăn chặn những người phá luật đó.

    Cô không thể ở lại, và Knox không thể đi.

    Cô bị lôi trở lại hiện tại khi Knox tấp xe vào lề đường. Cô nhìn quanh, và thấy một ngôi nhà nhỏ bé gọn gàng màu trắng ở cuối đường lái xe bên tay trái, với một khoảng sân rộng gọn gàng không kém và một chiếc máy cày đang bị xịt lốp. “Đó là nhà của Jesse,” Knox nói, và chỉ về phía bên phải. “Chúng ta sẽ đi lên đó.” Anh liếc mắt nhìn xuống chân cô. “Anh cần lấy ủng cho em. Có quá nhiều rắn quanh đây để em có thể đi lại trong rừng mà chỉ đeo một đôi giầy như thế kia.”

    Anh đang đi ủng, y hệt như những gì anh đã đi ngày hôm qua. Cô nói, phòng trường hợp anh đang nghĩ đến việc bỏ lại cô phía sau. “Hôm qua em không đi ủng khi chúng ta đi vào rừng. Em sẽ đánh liều lần này nữa.”

    Anh lẩm bẩm một cách cáu kỉnh, nhưng không phản đối. Cô là một người trưởng thành và cô cũng là một cảnh sát, giống như anh. Nếu cần thiết, anh sẽ đi chân không vào rừng, và cả hai người đều biết điều đó.

    Họ ra khỏi xe, và Knox khóa cửa xe trước khi họ nhảy qua con mương để đi vào trong rừng. Những bụi cây và gai móc vào quần jean của họ cho đến tận khi họ đã ở dưới tàng cây của khu rừng, nơi những cây bụi thấp thưa đi trông thấy. Mùi của đất mùn và mùi hương của hàng trăm loại cây khác nhau lấp đầy phổi cô. Nhưng chú chim chuyền dọc theo các cành cây, những tiếng hót thánh thót của chúng tràn ngập trong không gian. Một vài tiếng động sột soạt thỉnh thoảng vang lên báo hiệu những chú sóc hoặc có thể là những chú chuột đang lẩn trốn để tìm kiếm sự an toàn hay một chú côn trùng nhỏ bé đang bận rộn trong công việc hàng ngày của chúng. Những tiếng động cũng có thể là của một chú rắn đang trườn đi, trong khi chuyến đi săn hàng ngày bị làm phiền bởi sự xuất hiện của con người.

    Knox có cảm giác về phương hướng rất tốt, anh dẫn họ đi lên một con dốc đổ xuống mà không dừng lại để xác định phương hướng. Đầu anh liên tục di chuyển trong khi anh liên tục quan sát mọi hướng xung quanh. Nikita vốn là một cô gái thành phố, cảm thấy thoải mái khi đi trên vỉa hè hơn là trên đất, nhưng cô thích sự khác nhau giữa khung cảnh xung quanh lúc này với những gì cô vẫn quen thuộc. Bản thân cô có cảm giác về phương hướng khá tốt, nhưng vì cô không hề biết hai người đang đi đâu, la bàn của cô là vô dụng. Cô đơn giản chỉ đi theo anh, dù trong đầu cô vẫn đánh dấu lối đang đi.

    “Đây rồi,” anh nói. Anh chỉ vào một trảng đất trống nơi những chiếc lá trông như thể đã bị động vào.

    “Ai đó có thể đã chôn những chiếc vòng liên kết của anh ta ở đây,” cô nói, cố giấu vẻ mong chờ khỏi giọng nói của mình. Tất cả những gì cô cần là một bộ vòng liên kết hoàn chỉnh, và cô có thể về nhà. Cô đã có 3 chiếc từ Luttrell, nhưng cô cần cái thứ tư.

    Những vấn đề cá nhân của cô sẽ được đặt sau việc quét mẫu DNA, vì cô không muốn làm hỏng mẫu nào cả. Cô lấy chiếc máy quét ra và mở máy, rồi quét qua khu vực xung quanh. Một vài vị trí có mẫu DNA hiện ra sáng mờ mờ trên màn hình.

    “Mẫu của anh có thể sẽ có ở đây,” Knox nói. “Và cả của Jesse nữa. Nếu những phân tích của em có nói về đối tượng như là một tên khốn lùn tịt nóng tính, thì đó chính là Jesse đấy.”

    “Chiếc máy quét không hiển thị nhiệt độ,” cô nói với khuôn mặt vô cảm.

    “Anh biết. Đó chỉ là một trò đùa.”

    “Em biết.” cô quay lại, tặng anh một nụ cười ngọt ngào. “Lừa được anh rồi nhé.”

    Anh mỉm cười, không hề lo ngại về việc cô đã trêu anh lần này. Cô tập trung vào công việc, cẩn thận xác định vị trí của những mẫu thử và thu thập chúng cho việc phân tích. Một vài mẫu bị trùng, đương nhiên là vậy; con người phát tán các mẫu DNA khắp nơi như cây phân tán hạt giống vậy. Cô nhận ra bản mô tả về Knox 4 lần, và một chủ thể không xác định khác có gấp đôi số mẫu thử so với Knox; cô đoán đó là “tên khốn lùn tịt nóng tính”. Mẫu DNA của McElroy cũng xuất hiện, điều mà cô nghĩ là sẽ xảy ra, và một lượng lớn mẫu thử của Houseman. Houseman chắc hẳn đã chết ở đây, cô nghĩ một cách buồn bã. Đây chắc chắn là điểm đến của sự chuyển dịch. Cô không nhìn thấy dấu vết máu nào, nhưng những vũ khí laze tạo ra những vết thương không hề đổ máu. Vạt lá bị chạm vào có lẽ chính là nơi Houseman ngã xuống.

    Cô quỳ xuống trên nền đất mùn để quét một mẫu khác, và giữ nguyên tư thế quỳ trên một gót chân, nhìn chăm chăm vào màn hình.

    Knox cúi xuống bên cạnh cô. “Cái gì vậy?”

    “Một đặc vụ khác. Hugh Byron. Anh ta là bạn thân nhất của McElroy.”
     
  11. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 21

    Knox ngồi xổm xuống bên cô, đọc thông tin từ trên màn hình. “Liệu anh ta có dịch chuyển đến đây sau khi Luttrell được cử đến không?”

    “Em không nghĩ vậy. Đây là mẫu có dấu vết mờ nhạt nhất mà chiếc máy quét đọc được, có nghĩa là nó có khả năng là mẫu cũ nhất.”

    Anh khẽ gầm lên trong cổ họng. “Nếu đây là mẫu cũ nhất, thì anh ta phải là người dịch chuyển đến đầu tiên. Anh ta chính là kẻ du hành bất hợp pháp của em.”

    Cô nhìn chăm chăm qua trảng đất trống, không nhìn thấy gì ngoài hình ảnh đang được hình thành dần dần trong tâm trí. “Đó là lý do tại sao McElroy không điều tra được gì: anh ta biết đó là Hugh Byron, và anh ta chẳng them nỗ lực làm gì.”

    “Hoặc họ tham gia vào vụ này cùng nhau.”


    Cô gật đầu, cảm thấy thất vọng với khả năng đó. “Hoặc họ âm mưu vụ này cùng nhau,” cô đồng ý với anh. Cô run rẩy vì sợ hãi. Điều này có nghĩa là Hugh chính là người đã giết Houseman, một đồng nghiệp của anh ta, và McElroy có khả năng là một đồng lõa. Sự phản bội này thật đáng kinh ngạc. Nếu những đặc vụ không thể tin tưởng vào nhau, vậy sự thành công của mỗi một nhiệm vụ đều bị đe dọa, vì nếu bạn không tin vào đặc vụ hỗ trợ bạn, bạn không thể thực hiện công việc của mình.

    Nhận ra Hugh chính là kẻ du hành bất hợp pháp đã giải thích tại sao hệ thống an ninh ở Phòng thí nghiệm Du hành đã dễ dàng bị xâm nhập đến vậy, tại sau McElroy, người còn trên cả mức tài giỏi và thành thạo, đã không thể tiến triển gì hơn trong việc điều tra vụ án. Đó phải là kế hoạch hai người đó đặt ra từ trước, để McElroy quay về trông chừng những việc có thể xảy ra ở tương lai. Và có chúa mới biết những thông tin và sự hỗ trợ nào anh ta đã cung cấp cho Hugh khi anh ta ở đây.

    Lợi thế duy nhất của họ, mà Nikita thấy, là McElroy không thể liên lạc với Hugh trù khi anh ta tự mình dịch chuyển đến đây. Vì vậy nếu một giám sát viên có cử một ai đó đến và di chuyển chiếc rương thời gian vì lý do an toàn, McElroy không có cách nào để thông báo cho Hugh là chiếc rương không còn ở đó nữa. Hugh có lẽ vẫn đang tìm kiếm nó, và tìm kiếm người đã đặt đồ vật quan trọng vào trong chiếc rương.

    Điều này cũng thay đổi nhận thức của cô về những sự việc đã xảy ra. “Anh ta đáng lẽ không biết, khi anh ta ở đây, thì em đã là đặc vụ tiếp theo được cử đến,” cô lẩm bẩm. “McElroy, chắc chắn là anh ta. Hoặc những kẻ đồng lõa khác có lẽ đều biết. Vì vậy anh ta có khả năng đã cảnh cáo Hugh, nhưng Hugh có lẽ đang theo dõi biết nhà của Allen. Đó là nơi có lý nhất mà em có thể đến, dù người của anh đã làm sạch nơi đó kỹ đến nỗi em sẽ chẳng thể nào lấy được thông tin gì từ hiện trường. Ít nhất thì em cũng phải thử. Anh ta biết em,” cô thêm vào. “Anh ta có thể nhận ra bất kỳ ai trong Cục điều tra Du hành thời gian, vì trong đội không có nhiều người lắm. Nhưng tại sao lại sử dụng một khẩu sung trường? Tại sao không sử dụng súng laze?”

    “Tầm ảnh hưởng của súng laze như thế nào? Có lẽ nó không được xa lắm.”

    “Laze là một loại tia sáng,” cô nói một cách khô khốc. “Nó sẽ đi thẳng cho đến khi có vật thể gì đó chặn nó lại, hoặc mặt đất cong khỏi đường đi của nó, dù là cái nào đi nữa.”

    “Chết tiệt thật, ý em là nếu em bắn trượt, nó sẽ tiếp tục đi thẳng và thiêu cháy luôn cái gì chắn đường nó sao?”

    “Được rồi, thì em hơi làm quá lên một chút, nhưng trong những cuộc thử nghiệm nó đã được chứng minh là có tầm ảnh hưởng trong vòng 1 dặm. Đó là những thử nghiệm được thực hiện trên mặt đất, vì rõ ràng là anh không muốn một vụ khí cầm tay không có tầm ảnh hưởng cố định. Còn trên không gian thì-“

    “Khoan đã, đừng bắt đầu kể cho anh về tất cả những thứ đó vào lúc này. Anh có một đống câu hỏi anh muốn hỏi, và anh không muốn bị xao nhãng. Hãy quay lại với những điều em đã nói. Em có ý gì khi nói người của anh đã làm sạch nơi đó?”

    “Ý em là những người bên đội điều tra hiện trường đã làm việc với hiện trường đó, những chất hóa học đã được sử dụng, thêm vào đó là đã có quá nhiều người ở đó đến nỗi…”


    “Nó không bị làm sạch – nó đã bị làm ảnh hưởng.”

    “Hãy cứ cho đó là sự kết hợp của cả hai thứ.” Cô nhíu mày. “Nhưng McElroy có thể đã bước vào khi anh ta phát hiệu ra cái xác lần đầu tiên và đã sử dụng máy quét DNA của anh ta để biết về danh tính của kẻ tấn công. Anh ta có thể lẽ đã nghĩ ra một lý do để nói với người khác là anh ta không làm vậy, có lẽ là do anh ta đã nghe tiếng còi của xe cấp cứu chẳng hạn.”

    “Hãy cho anh biết một điều khác nữa: tại sao em không đến đây vào 2 hay 3 ngày trước khi việc này xảy ra, đợi tên giết người, và ngăn hắn ta khỏi việc giết Taylor Allen?”

    “Vì hắn ta đã giết Taylor Allen rồi khi bọn em biết về việc này. Ông Allen đã chết. Có một luật: anh không được phép can thiệp và khiến người đã chết sống lại. Em đã giải thích điều đó rồi. Anh không thể biết được chuyện gì sẽ xảy ra. Bọn em đã học được một bài học: có những sự việc nhỏ, những việc , những việc không liên quan có thể không quan trọng lắm; nhưng những việc như sống và chết của một con người có thể thay đổi lịch sử hoàn toàn.”

    “Về mặt lý thuyết thôi.”


    Cô nhìn anh một lúc lâu. “Anh có muốn là người phát hiện ra điều đó không, chỉ là cho chắc chắn thôi.”

    “Không, cảm ơn.”
    Anh gãi gãi cằm. “Anh hiểu ý em muốn nói. Hội đồng của em cần cẩn trọng với mọi chuyện.”

    “Và kể cả sau đó quyết định bắt đầu những chuyến du hành thời gian cũng gây nên khá nhiều dư luận trái chiều, đã có các cuộc bạo loạn phản đối những hoạt động này xảy ra ở các nước phát triển. Rất nhiều người nghĩ việc này không nên xảy ra, rằng chúng em đang góp phần tạo nên thảm họa.”

    “Và có lẽ đúng là người của em đang làm thế.”


    “Em biết. Đó là lý do tại sao bọn em phải cẩn thận. Những gì chúng ta đang làm bây giờ cũng giống như trải nghiệm một điều mà bọn em hoàn toàn không biết.”

    “Nghiêm trọng đấy. Như anh đếm, đã có 6 người của em đến đây. Em bị bắt buộc phải thực hiện những sự thay đổi lớn hay cái gì đó tương tự.”

    “Hay cái gì đó. Hai người đã chết: Houseman và Luttrell.” Xác của Luttrell cũng nằm không xa đây lắm, cô nhớ lại với một cái rùng mình. “McElroy đã quay trở về. Em thì ở đây, và Hugh Byron cũng ở đây. Em nghĩ chúng ta nên nghĩ đến việc McElroy sẽ đến đây sớm, nếu anh ta có thể nghĩ ra một lý do để được phép làm việc đó. Nhưng anh ta không hề biết là em đã mất chiếc vòng liên kết của mình, vì vậy anh ta phải giả định rằng em chưa hoàn thành nhiệm vụ hay có tiến triển gì với vụ án, còn nếu không em đã phải quay về rồi.”

    “Anh ta biết em có một chiếc máy quét DNA, vì vậy chả lẽ anh ta không nghĩ đến khả năng là em sẽ thu thập được cái gì đó sao? Anh ta phải nghĩ đến điều đó chứ, đúng không?”

    “Trong thâm tâm anh ta, em đã chết rồi. Kế hoạch là như vậy. Sau cùng thì phát đạn đó chỉ chệch có một chút thôi. Chỉ đến khi nào em có thể quay về, hoặc anh ta đến đây, anh ta sẽ không nghĩ khác đâu. Hugh biết, nhưng McElroy thì không. Và em vẫn nghĩ là ai đó ở đây đã bắn em, vì Hugh sẽ không thành thạo với loại vũ khí đó, dù cho anh ta có tìm được cách có được một khẩu. Ở đây các anh có điều luật nào để quản lý việc mua bán các loại vũ khí đó không?”

    “Luật pháp chả có ý nghĩa gì với những người muốn vi phạm chúng. Em có thể luôn mua được vũ khí trên phố nếu em muốn, hoặc mua nó từ một ai đó, mà không phải thông qua quá trình nhận dạng. Anh không thể nghĩ ra lý do tại sao Hugh không dùng súng laze, tại sao anh ta phải tìm một đồng minh là người địa phương.”

    Cô nhún vai. “Vì anh ta chưa tìm ra chiếc rương thời gian và anh ta quá bận với việc đi tìm nó chăng? Em không biết."

    Anh đứng đó và nhìn quanh khu đất trống giờ đang ngập tràn ánh nắng. “Chúng ta cần làm một bảng thống kê về vụ án này, nhờ thế chúng ta có thể nhìn vào tất cả các miếng ghép của vụ án vào cùng một lúc. Việc này quá rắc rối, anh sợ chúng ta sẽ bỏ qua chi tiết quan trọng nào đó. Một biểu đồ dòng thời gian như cái mà em đã vẽ trong văn phòng của anh có thể sẽ có ích đấy.”

    “Em có thể làm vậy khi chúng ta quay lại nhà anh. Anh có thể gửi đi một lệnh tìm kiếm với những miêu tả về Hugh không, hay anh sẽ đưa ra một vài lý do tại sao anh không thể gửi nó đi?”

    “Anh sẽ phải xem xét về những hành động anh thực hiện hay không thực hiện. Cảnh sát trưởng Cutler có chính sách quản lý rất chặt chẽ khi có vấn đề gì liên quan đến nguồn ngân quỹ của hạt. Vì vậy anh có thể gửi đi một lệnh tìm kiếm, nhưng sau đó sẽ có một bảng kế toán thống kê cho nó vào chiều nay. Cảnh sát trưởng trước đây đã để mọi thứ hơi vượt ra khỏi tầm kiểm soát vì những cuộc điều tra cá nhân.”


    Vậy thì hướng này không giúp gì được rồi. Anh không thể sử dụng nguồn lực của sở cảnh sát mà không phải giải thích tại sao, và anh sẽ không thể đưa ra bất kỳ giải thích hợp lý nào cho những việc mà anh phải làm; không may là sự thật không phải lúc nào cũng hợp lý.

    Chỉ để kiểm tra kỹ hơn, cô nhanh chóng đào bới một chút ở chỗ mà những chiếc lá đã bị động vào, hi vọng rằng Hugh cũng đã chôn những chiếc vòng kết nối của anh ta, nhưng cô không tìm thấy gì cả. Họ đã được dạy chôn những chiếc vòng là cách giấu an toàn nhất, nhưng đôi khi những tình huống đòi hỏi người dùng phải chôn những chiếc vòng ở những vị trí dễ tiếp cận hơn, vì vậy nơi những đặc vụ chôn vòng sẽ tùy thuộc vào lựa chọn cá nhân. Hugh có lẽ muốn những chiếc vòng của hắn ở gần người.

    Khi họ đang đi bộ xuống ngọn đồi ra khỏi rừng để quay trở về xe, Knox nói một cách đầy suy tư, “Anh thấy ngạc nhiên là Jesse đã không lao ra ngoài này để đánh hơi xung quanh và muốn biết chúng ta đang làm gì đấy, nhưng có lẽ ông ta đang làm việc trong vườn và không nhìn thấy chúng ta. Anh tự hỏi liệu ông ta có nhìn thấy bất kỳ thứ gì từ sáng thứ Hai khi anh đang ở đây không. Hãy đi và hỏi ông ta nào.”

    Họ vào xe và Knox lùi xe ngang qua đường để vào đường lái xe dẫn đến nhà của Jesse. Một chiếc xe tải có thùng đang đỗ trước nhà, và về phía bên phải ngôi nhà là một nhà chứa cỏ. Knox càu nhàu khi anh nhìn thấy chiếc máy cày vẫn đang nằm trên những chiếc lốp xẹp. “Có lẽ là anh nghĩ là Jesse đã gọi người sửa những chiếc lốp đó rồi.” Đột nhiên biểu cảm của anh thay đổi và anh nhấn phanh, dừng xe không so với ngôi nhà.

    “Lấy vũ khí của em ra khỏi hộp đựng găng tay đi,” anh nói với Nikita.

    Không hề có một câu hỏi nào được thốt ra, cô thực hiện đúng như những gì anh bảo, bản năng của cô đang cảnh báo một cách mạnh mẽ cũng giống như của anh. Anh đã nhìn thấy cái gì đó không đúng, và cô chỉ cần biết thế là đủ.

    Không cái gì đang di chuyển trong trang trại trừ những chiếc lá cây đang đung đưa trong gió nhẹ.

    “Jesse nuôi gà,” anh nói. “Chuồng gà được đặt ở phía sau, nhưng thông thường em có thể nhìn thấy một hay hai con đi lại trong sân.”

    Nikita chưa bao giờ nhìn thấy một con gà còn sống trước đây, nhưng cô biết chúng nhìn như thế nào. Một cách chậm rãi, từng người họ mở cửa xe và đặt một chân xuống đất, tất cả các giác quan trong tình trạng cảnh giác cao độ và theo dõi mọi hướng, nhưng khong có gì bất thường mà họ có thể nhìn hay nghe thấy.

    “Jesse!” Knox gọi. “Jesse Bingham! Cảnh sát đây!”

    Yên lặng.

    “Ông ta trông như thế nào?” cô hỏi.

    “Như một ông già Noel lùn với vẻ bề ngoài có khuynh hướng của một con quỷ.” Anh dừng lại. “Em biết ông già Noel mà, phải không?”

    “Không phải quan hệ trực tiếp.”

    “Vui thật đấy.” Anh ra hiệu cô nên đi về phía bên phải, khi anh đi về phía bên trái.

    Cô gật đầu và họ tách ra, mỗi người đều cầm vũ khí một cách chắc chắn bằng cả hai tay. Đầu cô liên tục di chuyển để có thể quan sát cả trước và sau để ghi nhận tất cả mọi việc. Một nông trại không phải một cái gì đó cô đã từng trải nghiệm trước đây, nhưng nếu cô nhìn thấy ai đó trông không giống một ông già Santa nhỏ thó độc ác, cô biết mình phải làm gì.

    Một cách thận trọng, cô đi vòng quanh kho chứa cỏ, kiểm tra cả khu vực bên hông và bên trong nhà kho, nhưng chúng đều trống hoác và im lặng. Cô chưa bao giờ được ở trong một kho chứa cỏ; nó có một mùi khá thú vị, dường như là hỗn hợp của bụi, rơm và máy móc, với một mùi hương phảng phất của đất mùn. Nhưng nói chung, nó không quá khó chịu, và nếu là một lúc khác cô sẽ muốn đi khám phá một chút.

    Cô và Knox gặp nhau ở phía sau ngôi nhà. Một chiếc chuồng gà nhỏ được đặt dựa vào hàng rào, một vài con chim nhỏ ở trong đó đang mổ lia lịa xuống mặt đất. Những chiếc lưới mắt cáo cũng được sử dụng trên nóc khoảnh sân nuôi gà, giữ những con chim đó không bay ra ngoài, ít nhất thì cô đoán vậy.

    “6 con gà của ông ta đã bị giết vào đêm Chủ nhật,” Knox nói. “Ông ta luôn luôn mở cửa chuồng vào ban ngày để chúng có thể đi lại kiếm ăn quanh sân, sau đó đóng cửa vào ban đêm để chúng có thể được bảo vệ khỏi cú và những kẻ săn mồi khác.”

    Bây giờ đã là đầu giờ chiều, và lũ gà vẫn đang ở trong chuồng của chúng.

    Họ đi vòng ra đằng trước để đến cửa chính. Trên lối ra vào, Knox đặt tay anh lên mui của chiếc xe tải. “Lạnh.” Anh nói.

    Đứng trên thềm, Knox đập tay mạnh vào cửa. “Jesse! Cảnh sát đây.” Họ lắng nghe nhưng không có tiếng trả lời.

    “Chiếc máy cày vẫn đang bị xẹp lốp, và xe tải của ông ta vẫn ở đây, vì vậy ông ta hẳn phải ở nhà. Việc không thay những chiếc lốp bị xẹp đó ngay lập tức không hề giống Jesse chút nào.”

    “Ông ta có người bạ nào mà ông ta có thể đến thăm không?”

    Knox khịt mũi vẻ khinh thường. “Jesse không hề có bạn, chỉ có đối thủ thôi.” Anh đặt tay trên nắm đấm cửa, chửi thề nhỏ khi nó được xoay một cách dễ dàng. “Và không đời nào Jesse đi mà để cửa không khóa như thế này.”

    Họ bước vào trong, đầu tiên là Knox, sau đó là Nikita, che chắn cho nhau. Một máy điều hòa lắp bên cửa sổ đang chạy và bên trong ngôi nhà khá mát mẻ, điều đã giúp cho mùi xác thối không quá tệ. Nhưng dù vậy người ta vẫn không thể nhầm được, và Knox cầm lấy điện đàm của mình. Anh hơi do dự, và ánh mắt anh gặp ánh mắt Nikita. Cô không cần phải ở đây, và đầu tiên họ phải kiểm tra nhân dạng của người đã gây ra nguồn gốc của mùi này, và để chắc chắn người đó đã chết như thế nào. Nạn nhân gần như chắc chắn là Jesse Bingham, nhưng họ cần phải đảm bảo chắc chắn hơn.

    Ngôi nhà này có hai tầng. Nikita bước lên cầu thang, cẩn thận để không chạm vào bất cứ cái gì, và kiểm tra những phòng trên tầng. Ngôi nhà gọn gàng một cách đáng ngạc nhiên, và không có ai trên tầng, hay có dấu hiệu nào của bạo lực.

    Cái xác nằm trong bếp, co quắp ngay dưới bàn bếp. Bất kỳ ai cố gắng đi vào lối đó đều sẽ không thể nào mở được cửa. Không hề có máu, vì đường rãnh dài và sâu hoắm trên người Jesse được gây ra bởi nhiệt độ cực cao từ một tia laze.

    “Chiết tiệt thật,” Knox bật thốt. “Chết tiệt thật!”

    “Giờ thì làm thế nào anh có thể báo cáo về vụ này?” Nikita khẽ khàng hỏi. “Làm thế nào anh giải thích được lý do anh ở đây?”

    “Anh đã đến đây vào sáng thứ Hai khi ông ta báo cáo về những kẻ lang thang. Nên việc anh đến đây kiểm tra lại không hề lạ, dù vậy anh vẫn nên điều tra về vụ Taylor Allen. Ngoại trừ việc anh biết ai giết Taylor Allen; anh chỉ không biết là tên khốn đó đang ở đâu và anh không có bất kỳ công cụ thông thường nào để tìm kiếm hắn ta, thêm vào đó anh cũng không thể chứng minh là hắn đã làm. Anh thấy yêu cái vụ chết tiệt này quá.” Sự chán nản của anh rung lên trong giọng nói, và anh nhìn như thể muốn đấm nát cái gì đó.

    Trước khi cô nghĩ, cô đã vươn tay ra và chạm vào cánh tay anh, đem lại cho anh sự an ủi mà cô có thể. “Em muốn chỉ ra rằng điều này cho thấy em cần phải có một phương tiện di chuyển độc lập, nhưng điều này đã quá muộn rồi. Vậy giờ thì em cần đi đâu để không bị nhìn thấy?”

    “Không có chỗ nào như thế cả,” anh nói một cách cộc cằn, “Anh sẽ phải đưa em quay về nhà anh, sau đó anh phải gọi báo là anh đang đến đây; sau đó anh sẽ phải báo cáo về vụ này ngay khi anh quay về.”

    Cô không thể nghĩ ra cách nào tốt hơn, hơn là việc không hề báo cáo gì về vụ này, nhưng cô biết rằng điều này là quá nhiều so với sự chịu đựng của Knox. Không báo cáo về cái chết của Luttrell đã là quá sức với anh. Vì vậy thay vì tranh cãi, cô chỉ đơn giản nói, “Hãy lau sạch vân tay của anh trên cửa đi, chỉ đề phòng có ai đó tìm thấy ông ta trước khi anh có thể quay lại.”

    Bật chửi thề, anh làm vậy và bước xuống khỏi thềm. “Đây là một quả bom hẹn giờ, lúc nào cũng có thể nổ tung trong chúng ta. Có bao nhiêu chiếc xe đã lái qua đây và nhìn thấy xe của anh đỗ ở ven đường? Đây là một con đường vắng, nhưng không phải hoàn toàn không có người đi qua. Đã có bao nhiêu người đi qua đây từ khi chúng ta vào nhà?”

    “Em không biết,” cô nói. “Vài người. Xe của anh sẽ bị nhận ra chứ?”

    “Nó là xe của hạt. Tất cả mọi người biết nó nhìn như thế nào.”

    Họ chỉ có thể hi vọng không ai có thể tìm ra thời gian chính xác của việc báo cáo cái chết của Jesse. Nếu ai đó đã nhìn thấy xe của hạt đỗ ở đây, và vì lý do nào đó đã quay trở lại và chú ý rằng chiếc xe đã đi, đó sẽ là một vấn đề lớn. Tình huống lúc này đã quá nguy hiểm cho Knox đến nỗi Nikita đã bị quyến rũ bởi ý định đề nghị anh báo cáo ngay bây giờ, và rằng cô sẽ đi bộ về thị trấn. Đó sẽ là một quãng đường dài dưới trời nóng nực, nhưng nó sẽ không giết chết cô.

    Thực ra, đi bộ về chính xác là những gì cô sẽ làm. “Em sẽ đi bộ-“ cô bắt đầu nói.

    Knox liếc cô. “Không, em, vì Chúa, sẽ không đi bộ. Ai đó đang cố để giết em, nhớ không, và không phải là Hugh, vì thế em sẽ không biết đó là ai để tránh. Anh sẽ đưa em về nhà nhanh nhất có thể, và cầu nguyện cho điều tốt nhất.”

    Anh không đặt đèn hiệu cảnh sát lên trên nóc xe hay bật còi báo hiệu, nhưng anh đã lái nhanh nhất có thể mà không thu hút thêm sự chú ý, và đưa cô về nhà trong vòng 15 phút. Anh không ra khỏi xe, chỉ rút từ túi ra một chùm chìa khóa và đưa cho cô. “Đây là chìa khóa nhà. Nó là chiếc với đầu phẳng. Hãy cứ quy định như cũ nhé: đừng mở cửa, va đừng trả lời điện thoại. Nếu anh gọi cho em, anh sẽ gọi vào di động.”

    Cô gật đầu và trượt ra khỏi xe. Anh đã khởi động xe trước khi cô đóng cửa xe lại, và cô phải dùng lực đẩy mạnh để đóng được nó trước khi xe anh vượt ra khỏi tầm với.

    Sử dụng chìa khóa của anh, cô bước vào nhà qua cửa sau và cẩn thận khóa cửa lại. Nếu mọi chuyện với Knox tệ đi, nếu những chi tiết bị lộ ra mà anh không thể giải thích, cô sẽ phải giải thích cho anh. Giữ bí mật là một chuyện, nhưng đây không phải một vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia và cô sẽ không để Knox phải chịu trách nhiệm về bất cứ chuyện gì.

    Nhưng liệu chuyện đó có giúp ích gì không, hay người ta có tin cô hay không thì vẫn còn là một câu hỏi.
     
  12. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 22

    Nikita đứng trong bếp, nhìn quanh. Cảnh này gần như giống hệt với hôm qua, những mọi việc đã thay đổi quá nhiều đến nỗi cô thậm chí cảm thấy như thể cả con người cô đã thay đổi. Thực ra, điều duy nhất đã thay đổi là bản thân cô, và quan niệm của cô về bản thân.

    Em có phải người máy không? Sự chua chát mỉa mai đã đủ tệ, nhưng sự nghiêm túc một cách cẩn trọng trong giọng anh đã cắt xuyên qua cô.

    Cô muốn ghét anh, nhưng điều đó sẽ không xảy ra. Cô không thể ghét anh được. cô ghét tình thế mà cô bị buộc phải rơi vào, cô ghét cái lồng cảm xúc mà cô đang phải sống trong nó, cô ghét nỗi sợ đã khiến nó trở nên cần thiết, nhưng cô không bao giờ có thể ghét Knox.

    Anh…..đặc biệt, và cô không nghĩ anh biết anh đặc biệt đến thế nào với nhiều người. Khi cô bị bắn và anh đã gọi đội hỗ trợ, và cả đội SWAT chết tiệt đó và nửa lực lượng cảnh sát đã chạy đến, anh đã nói đùa với cô rằng họ yêu anh – và điều đó không khác mấy so với sự thật. Họ có thể gọi nó khác đi; họ có thể sẽ nói anh là một người tốt, họ thích anh, và tất cả những cách khác mà mọi người nói để diễn tả việc họ quan tâm đến một người nào đó; nhưng ý nghĩa thì vẫn vậy thôi.

    Tình cảm mọi người giành cho anh có thể khiến mọi người nghiêng về hướng ủng hộ anh nếu có sự nghi ngờ dấy lên khi những câu hỏi kỳ quặc được đặt ra. Nhưng dù sao việc này phụ thuộc rất nhiều vào việc may rủi: giả sử có ai đó đã vô tình lái xe qua và chú ý đến xe của anh, nếu người đó có chú ý đến thời gian, nếu những chi tiết liên quan đến vụ án được đề cập đến với ai đó có thông tin. Việc những chi tiết rắc rối đó có được bỏ qua hay không vẫn cần phải được xem xét. Nếu mọi việc diễn ra thuận lợi, và họ không sao. Nếu không – cô và nhiệm vụ của cô sẽ bị phát hiện.

    Cô bắt đầu nghĩ vẩn vơ về việc chuyện gì có thể xảy ra sau đó. Có vài khả năng, điều đầu tiên có thể là sẽ chẳng có ai tin cô cả, vì vậy cô sẽ phải thực hiện vài điều để minh họa những gì cô nói, mà những việc này cũng có khả năng là chẳng thuyết phục được ai. Knox đã bị hấp dẫn, nhưng anh vẫn không bị thuyết phục cho đến khi Luttrell xuất hiện. Không may là bất kỳ thử nghiệm nào với súng laze chắc chắn đều sẽ thuyết phục ngài cảnh sát trưởng rằng cô chính là người đã giết Jesse Bingham.

    Nhưng nếu mọi người tin cô, những sự việc này sẽ nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Theo một cách logic, chính phủ liên bang sẽ được liên lạc. Đặc biệt là tổ chức FBI. Tổ chức của cô, nhưng là tổ chức mà đến 200 năm cô mới tham gia, có thể sẽ bắt giam cô. Cô sẽ bị tra khảo, thí nghiệm, phải trải qua một loạt các cuộc kiểm tra tâm lý, và có thể sẽ bị giam lại để được bảo vệ. Cô có bằng lái xe giả và một thẻ tín dụng giả. Cô có rất nhiều tiền mặt. Hơn thế nữa, người của thời đại này có số an sinh xã hội; cô không có. Cô có một số sê ri, được khắc vào da thịt. Cô được đánh số 233704272117. 4 số đầu tiên là thứ tự cô được sản xuất; cô mang số 2,377. Những số còn lại là ngày cô được “sinh ra”, 27 tháng 4 năm 2177.

    FBI có thể sẽ có một vụ ra trò với việc này.

    Dù vậy, cô cũng chỉ có thể nói với họ nhiều thứ. Cô có thể nói với những nhà khoa học những gì cô biết về tia laze dạng rắn, về động cơ phản lực, du hành vũ trụ, ổ đĩa đọc – không phải sâu sắc như các nhà khoa học từ thời đại của cô có thể nói, cô phải thừa nhận là vậy, nhưng cô là một người phụ nữ thông minh, đọc nhiều sách về nhiều thể loại, và cô đã đạt điểm rất cao với các môn khoa học cô đã học tại trường. Cô có thể vẽ các bản vẽ chế tạo thuyền vũ trụ, các phương tiện giao thông phục vụ cá nhân, nhưng không chắc lắm về việc có thể khiến những người đó tin cô.

    Nếu không có những chiếc vòng đó, không có bằng chứng xác thực, cô không thể chứng minh được gì. Chiếc bút laser và chiếc máy quét DNA có thể được tháo ra, và cô cô có thể tưởng tượng được việc họ sẽ thấy hứng thú thế nào, nhưng chúng có thể chứng minh được gì cơ chứ? Cô không thể chỉ đơn giản là chỉ vào một tòa nhà và tuyên bố “Chúng đã được sản xuất tại đây.”

    Nhưng dù sao tất cả những sự lo lắng này chỉ là một nỗ lực viển vông, vì cho đến khi cô nghe được từ Knox chính xác người ta đã phát hiện ra cái gì, cô không biết chính xác mình cần làm gì. Vào lúc này, một lần nữa cô bị cô lập, không có cách nào giúp đỡ được anh hay thậm chí tiếp tục cuộc điều tra của mình. Nếu cô có thể vượt qua đêm nay một cách thành công mà không bị bắt, đến sáng cô có thể chắc chắn rằng tình huống sẽ cải thiện càng sớm càng tốt.

    Buổi chiều đang dần qua và cô đang mệt dần. Hai ngày vừa qua chắc chắn là tràn đầy sự kiện: 2 ngày, 2 cái xác. Đối với Knox thì là 3 cái, vì anh đã có mặt ở nhà cố thị trưởng, cô thì không. Anh thậm chí còn đang điều tra cái chết của Taylor Allen. Chắc hẳn anh phải bị choáng ngợp bởi sự chết choc và bạo lực.

    Cô có thể đoán đại khái được chuyện gì đã xảy ra với Jesse Bingham già tội nghiệp – hay tại sao. Chắc hẳn ông già đã xem xét xung quanh khu vực nơi ông nhìn thấy những tia sáng đo, và vì lý do nào đó Hugh Byron đã quay trở lại chỗ đó và Jesse đã nhìn hay nghe thấy điều đó mà ông ta không nên. Có lẽ những chiếc vòng kết nối của hugh đã được chôn gần khu vực này và hắn ta đã quyết định nên chuyển chúng đến một nơi nào khác an toàn hơn, và Jesse đã phát hiện ra hắn ta khi hắn ta quay lại để lấy chúng. Jesse chắc hẳn đã bị giết với một tia laser. Vết thương khá dễ để nhận ra.

    Một cú tấn công của năng lượng vào một mục tiêu cố định có thể tạo ra một vết thương lớn, nhưng phương thức thông thường là bắn một tia duy nhất trong khi lướt nó về phía mục tiêu. Cử động vung lên của người điều khiển chính là nguyên nhân tạo ra những vết bỏng dài, sâu hoắm và có miệng rộng hoác như vậy. Phần da thịt bị tia năng lượng chạm đến đã bị hóa hơi, và khu vực biểu mô xung quanh đều bị nướng chin. Jesse đã chết ngay lập tức, nhưng liệu ông ta đã mời Hugh vào nhà hay Hugh đã xâm nhập ngôi nhà đó?

    Sự thoải mái của Hugh trong việc giết người cho cô biết rằng cô phải sẵn sàng để tiêu diệt anh ta, hoặc cơ hội sống sót của cô sẽ giảm xuống một cách đáng kể. Anh ta đã được đào tạo giống như cô, và anh đã chứng minh bản thân mình là một kẻ tàn bạo. Anh ta còn có một kẻ đồng phạm giấu mặt. Mặt khác, cô đã có Knox như trợ thủ của mình, và sự xuất hiện bất ngờ của cô có lẽ sẽ cho phép cô tóm Hugh khi hắn không đề phòng. Đúng vậy, cô có Knox, miễn là anh không bị bắt, và miễn là cô tránh xa khỏi nhà tù.

    Điện thoại reo.

    Nikita nhảy dựng lên, cô đã chìm sâu vào suy nghĩ và âm thanh vang lên đột ngột đập dồn lên các đầu dây thần kinh của cô như chiếc búa tạ.

    Đó không phải là Knox, anh đã nói là anh sẽ gọi cô bằng điện thoại di động. “Khỉ thật!” Nikita chửi thề, nghiêng người cầm lấy cái ví và lấy điện thoại ra. Nó vẫn đang bật. Cô thở ra nhẹ nhõm. Knox đã bật nó lên để chỉ cho cô biết các tính năng và bản thân anh cũng ngồi nghịch với nó, và anh đã tắt nó đi trước khi thả nó vào lòng cô.

    Cuộc gọi được chuyển thẳng đến máy trả lời tự động sau bốn lần chuông reo. Giọng của một người phụ nữ vang lên, “Đây là Ruth Lacey. Làm ơn hãy nhấc máy.” Đương nhiên là Nikita không nhấc máy, và sau một lúc cuộc gọi bị ngắt.

    Ruth Lacey, Nikita nghĩ. Đó là mẹ của vị hôn thê đã qua đời của Knox. Tại sao bà ấy lại gọi? Và việc bà gọi ngay sau khi nhìn thấy họ đi mua hàng với nhau sáng nay có phải tình cờ không?

    Nikita ngay lập tức cảm thấy hơi xấu hổ. Theo như cô biết, Knox vẫn nói chuyện với bà một cách thường xuyên.

    Để chắc chắn rằng cô biết số điện thoại của bà Lacey, cô nhấc chiếc điện thoại không dây lên và nhìn vào màn hình hiển thị, nhưng nó đã trở nên trống rỗng và cô không biết làm cách nào để xem lại số vừa gọi.

    Hơi căng thẳng, cô kiểm tra lại các cửa sổ và cửa chính để chắc chắn rằng chúng đã được chốt lại, và sau đó quyết định cô sẽ tận dụng thời gian ở riêng này để tận hưởng cái nhà tắm và làm một vài việc riêng tư, ví dụ như là giặt giũ chẳng hạn. Rèm đã được kéo lại hết, cô có cả hai loại vũ khí đặt gần mình, điện thoại di động vẫn bật. Chắc chắn cô sẽ không tìm được thời gian nào tốt hơn cho việc này.



    “Cô ta không trả lời,” Ruth Lacey nói, đặt ống nghe điện thoại xuống. Byron đã thuê một phòng nghỉ ở Pekesville để hắn có thể ở gần đây, nhưng hiện tại cả hai người họ đang ở nhà bà. Đương nhiên là Edward đã ra ngoài để đến một quán rượu nào đó. Ông ta rất ít khi về nhà trước nửa đêm, và nếu ông ta có về nhà trong khi Byron đang ở đây, bà chỉ đơn giản là không quan tâm. Bà Byron đang ở trong phòng khách, cả hai người đều mặc quần áo đầy đủ, nhưng thậm chí nếu Edward có tóm được họ khỏa thân trong phòng ngủ, bà cũng chẳng quan tâm. Ông ta chẳng là cái gì đối với bà cả, chẳng là gì cả.

    “Cô ta ở đó,” Byron nói. “Anh đã nhìn thấy cô ta đi vào nhà.”

    “Em không muốn để lại một tin nhắn mà em không thể giải thích,” bà nói một cách lo lắng. “Đó là điều đầu tiên cảnh sát làm, nghe tất cả các tin nhắn. Không ai, kể cả Knox, sẽ nghĩ việc em nói chuyện với cậu ấy là việc bất thường, nhưng nếu em nói “Tina, nhận điện thoại đi”, điều đó sẽ khiến mọi người nghi ngờ.”

    “Anh biết. Em đã rất thông minh khi không nói tên ai cả. Anh không thể nhìn thấy mặt cô ta khi cô ta đi vào trong nhà; cô ta đội mũ lưỡi trai. Anh cần nghe giọng cô ta, hoặc nhìn thấy mặt cô ta.”

    “Em cho là em có thể đến đó, gõ cửa, nhưng nếu hàng xóm nhìn thấy em thì sao?” Ruth hỏi.

    “Đừng lo,” hắn nói, ôm bà gần hơn và hôn lên trán bà. “Nếu hôm nay chúng ta không biết chắc được Tina này có thật là đặc vụ Stover hay không, chúng ta sẽ có cơ hội vào ngày mai.”

    “Em không biết mình có thể chờ bao lâu nữa.” Nước mắt dâng đầy trong mắt bà. “Em có thể. Dù có dài đến đâu đi nữa. Em xin lỗi em không thể giúp gì hơn.”

    “Em đã giúp anh rất nhiều rồi, nhiều hơn mức em tưởng tượng.” Hắn ôm lấy khuôn mặt bà bằng bàn tay hắn, sự dịu dàng dâng đầy trong mắt. Hăn nhẹ nhàng lau đi những giọt nước mắt vượt khỏi vành mắt bà bằng ngón cái của hắn, và hôn lên đôi môi mềm mại của bà.

    Ruth vùi đầu mình vào hõm vai hắn. Một tuần trước đây, bà chìm đắm trong sự hối tiếc và đau buồn, nhưng kể từ khi bà và Byron gặp nhau trong nghĩa trang, cả cuộc đời bà đã hoàn toàn thay đổi. Hắn thú nhận đã nhìn thấy bà ở ngôi mộ của Rebecca vào thứ hai, đang nói chuyện với Knox – dù đương nhiên hắn không biết Knox là ai – và đã quay lại vào ngày hôm sau với hi vọng mong manh là sẽ gặp lại bà. Bà đã thực sự quay lại vào ngày hôm sau, vì nói chuyện với Knox đã làm sâu sắc nỗi đau của bà hơn và bà đã cảm thấy sự khao khát muốn được ở gần với người con gái đáng thương đã qua đời của bà nhất có thể. Byron đã tự giới thiệu bản thân hắn, điều tiếp theo bà biết là hai người họ đã uống và phê cùng nhau, và trong vòng vài tiếng sau hắn đã trở thành người tình của bà.

    Tốc độ mà mọi việc xảy ra thật quá sức tưởng tượng và đầy cuồng nhiệt.

    Khi Byron bảo với bà sẽ có một cảnh sát đến từ tương lai để bắt những kẻ giết người đang cố gắng ngăn chặn phát minh du hành thời gian ra đời, trái tim của bà đã gần như tan vỡ. Trái tim khao khát sự yêu thương của bà đã rộng mở cho hắn mà không e ngại, và giờ đây bà thấy hắn như một sự ảo tưởng nảy sinh ra từ hệ tinh thần phân liệt của bà. Bà đã bật khóc và hắn thì bật cười.

    “Anh sẽ chứng minh cho em thấy,” hắn nói, cười với bà một cách lười biếng, và hắn thật sự đã làm vậy. Hắn đã đưa bà đến vùng quê vào đêm đó và biểu diễn cho bà xem về một trong những vũ khí của hắn, cũng như giới thiệu bà với người hợp tác cùng hắn, một người đàn ông với đôi mắt lạnh lẽo tên McElroy – người đã chứng minh những lời Byron nói là sự thật. McElroy đã hoàn toàn thuyết phục được bà bằng cách đeo vào những chiếc vòng kết nối, có 4 chiếc, 2 cho cổ tay và 2 cho cổ chân, và rồi….biến mất. Hoàn toàn. Ngay trước mắt bà.

    Byron đã hôn lên trán bà, và ôm bà vào sát hơn. “Anh cần được trợ giúp,” hắn nói. “Nếu chúng ta có thể ngăn chặn tên sát nhân này, sau đó anh sẽ chỉ cho em cách quay lại ngày trước khi con gái em qua đời.”

    “Em không muốn phải sống lại ngày kinh khủng đó một lần nữa,” bà nói, nỗi đau dâng tràn trong mắt.

    “Không hề. Em sẽ quay lại với sự hiểu biết của ngày hôm nay, với sự hiểu biết về tất cả những gì đã xảy ra ngày đó. Du hành thời gian không xóa đi ký ức. Nếu em có thể thuyết phục con bé…… anh cũng không biết nữa, để con bé đi đến bác sỹ hay kiểm tra thân thể, có lẽ em có thể cứu được con bé.”

    “Có lẽ?” Ruth cảm thấy đau đớn. Có lẽ sao? Bà có lẽ sẽ một lần nữa phải sống qua cái chết của Rebecca? Bà không thể chịu được điều đó.

    “Có một số điều không thể thay đổi được,” hắn dịu dàng giải thích. “Rebecca có lẽ sẽ không lắng nghe em. Hoặc không đủ thời gian để hoàn thành các xét nghiệm. Anh nghĩ em nên quay lại thời điểm ít nhất là một tháng trước cái chết của con bé.”

    “Nhưng em đã ở đó sẵn rồi mà?”

    “Không, đương nhiên là chưa. Nếu em đi dọc con đường này thêm khoảng một dặm nữa, sau đó quay ngược lại và quay trở lại chính nơi này, em sẽ không gặp chính bản thân em. Nếu em đi đến thời điểm trước cái chết của con bé, em sẽ biết tất cả mọi điều đã xảy ra trong những năm kể từ lúc đó, nhưng về cơ bản, tại thời điểm đó sẽ chỉ có một bản thể của em.”

    Sự cám dỗ là một con quái vật đáng yêu, và hy vọng là một bông hoa đáng yêu sợ hãi khi phải chạm vào đầu nó. Được nhìn thấy Rebecca lần nữa, được có con gái bà trong vòng tay khỏe mạnh và vẫn còn sống – “Vậy nếu con bé nghe lời em thì sao? Liệu nó có quay trở lại thời không này với em không?”

    “Con bé có thể, nhưng tại sao em lại muốn vậy? Khi em thay đổi một điều, thì thực tế sẽ..tự tổ chức lại chính nó. Đó là cách duy nhất anh có thể dùng để giải thích việc này. Em sẽ tạo ra một hiện thực thay thế, trong đó con gái em còn sống, kết hôn, chăm sóc một gia đình. Và em sẽ ở đó với con bé.”

    Và nó đã ở đây, cái gai vẫn đang găm trong tim bà bất lâu nay. Giờ bà đã cảm thấy nó. “Nhưng còn về anh thì sao?” bà khóc.

    Nụ cười hắn trao bà vừa dịu dàng vừa buồn bã. “Anh sẽ không ở đó.”

    Vậy đó là lựa chọn hắn trao cho bà: bà có thể quay ngược thời gian và cứu Rebecca, nhưng cái giá phải trả là bà sẽ mất Byron. Hắn không thể tiếp tục ở lại thời không này, hắn không thể đợi bà. Hắn có việc phải làm, và sau đó hắn sẽ quay trở về thời đại của hắn. Nếu bà không quay lại để cứu Rebecca, bà sẽ đến thời đại của hắn. Hắn không yêu cầu bà làm vậy, không bức bách bà bằng cách yêu cầu bà phải chọn giữa hắn và con gái bà. Nhưng điều đó nằm trong ánh mắt hắn, sự thấy hiểu rằng nếu hắn trao cho bà điều bà khao khát nhất, hắn sẽ không bao giờ gặp lại bà lần nữa.

    Còn bây giờ, bà sẽ yêu hắn đến tận cùng linh hồn mình. Bà sẽ trân trọng mỗi giây phút bà được ở bên hắn, khắc ghi mọi chi tiết vào tâm trí mình: cách hắn nói chuyện, cách hắn di chuyển, mùi hương làn da hắn, khoảnh khắc khi một lúm đồng tiền thoáng hiện khi hắn cười. Bà sẽ yêu hắn, và sẽ yêu say đắm, trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà họ có.

    Bà sẽ trả bất kỳ giá nào để có được Rebecca trong vòng tay lần nữa.

    Byron đã mang theo một máy quét sóng bộ đàm của cảnh sát, và họ đang lắng nghe một dòng lũ những lời bàn tán của họ. Ruth không biết các mã của cảnh sát, nhưng Byron biết. Hắn đã nói với bà rõ ràng là đã có ai đó chết trong nhà của ai đó, nhưng bà cảm thấy cái máy quét này quá khó hiểu và cái tiếng ồn thường xuyên đó khiến bà khó chịu, vì thế bà cố gắng khiến nó nhỏ đi.

    “Anh có nhất định phải nghe nó không?” bà hỏi, cố gắng nghe không có vẻ khó chịu.

    “Các hoạt động của cảnh sát cho anh thông tin anh cần,” hắn nói, dù hắn có bật nhỏ đi một chút.

    “Anh không thể chỉ đơn giản là giả định Tina là người phụ nữ chúng ta đang tìm. Stover có thể vẫn còn ở ngoài kia, và cái này ít nhất cho anh biết một chút về những chuyện đang xảy ra trong đất nước này.”

    “Em biết rồi. Em xin lỗi. Chỉ là em hơi căng thẳng quá thôi.” Bà xoa mắt và thở dài. “Em có nên gọi điện lại không? Đôi khi sự nổi điên nhất thời sẽ khiến ai đó trả lời điện thoại.”

    Hắn gật đầu, và Ruth lại nhấn số điện thoại lần nữa. Một lần nữa, điện thoại reo 4 lần, và lần này cũng chỉ có tiếng của máy trả lời tự động đáp lại. Bà không để lại tin nhắn vào lần này, mà chỉ đơn giản là cúp máy.

    “Vẫn không ai trả lời.”

    “Sau khi trời tối,” hắn nói, “chúng ta sẽ đến đó.” Hắn liếc ra ngoài cửa sổ, mặt trời đang lặn dần, nhưng vẫn có ít nhất là 1 tiếng nữa mới tối hẳn.

    Trong 1 tiếng nữa, Ruth nghĩ, chắc chắn bà sẽ khiến người phụ nữ tên Tina này nổi điên đến nỗi cuối cùng cũng phải trả lời cái điện thoại chết tiệt này.


    Ruth Lacey chắc chắn là có vấn đề về thần kinh, Nikita nghĩ khi chiếc điện thoại lại bắt đầu đổ chuông, lần này ít nhất là lần thứ 40 rồi. Cô kiểm tra lại thông tin của người gọi điện, chính xác, vẫn cùng một số. Ruth đã không để lại tin nhắn nào kể từ cuộc gọi đầu tiên, nhưng bà không cần phải làm vậy.

    Nikita đã đi tắm, và cho quần áo bẩn vào máy giặt. Một ít quần áo của Knox đã được đặt trong cái giỏ cạnh máy giặt, vì vậy cô cũng đã cho chúng vào chung với quần áo của cô. Cô đã sử dụng máy giặt của anh, nước của anh, chất tẩy rửa của anh, vì thế việc cho thêm quần áo của anh vào máy giặt là điều nhỏ nhất mà anh có thể làm.

    Điện thoại đã reo khi cô bắt đầu tắm, và nó vẫn reo khi cô ra khỏi nhà tắm. Nó đã reo khi chiếc máy giặt kết thúc công việc của nó và cô chuyển quần áo sang máy sấy. Nó reo khi cô lục lọi bếp để kiếm cái gì đó ăn. Cô thực sự, vô cùng, vô cùng muốn nhấc máy và nghe nói với người phụ nữ kia là bà ta nên tìm cách khác để giết thời gian, nhưng Knox đã nói không được trả lời điện thoại, vì thế cô đã không trả lời.

    “Chết tiệt thật!” cuối cùng cô cũng hét lên, và bắt đầu xem xét cái điện thoại để tìm ra cách ngắt cái âm thanh như từ địa ngục ấy đi. Và kia rồi, một nút nhỏ được đặt tên “Tắt chuông”. Sử dụng móng tay của mình, cô di chuyển công tắc, và tiếng chuông dừng lại, ít nhất là trên cái điện thoại này. Cái ở trong phòng ngủ của anh vẫn đang kêu lên ầm ĩ.

    Cô lao vào phòng và tìm thấy chiếc công tắc kỳ diệu trên chiếc điện thoại đó. Sự yên tĩnh giờ khiến cho cô cảm thấy thật tuyệt vời. Nếu người phụ nữ điên khùng đó muốn để lại tin nhắn, thì bà ấy vẫn có thể để lại, và Nikita sẽ lắng nghe chúng, nhưng ít nhất cô không phải lắng nghe tiếng chuông thêm một lần nào nữa.

    Nhưng cũng thật không may là điện thoại di động của cô vẫn chưa reo lần nào.

    Khi đã bình tĩnh hơn, cô lục tủ lạnh của Knnox và thấy nó gần như không có tí thức ăn nào. Anh đã nói vào sáng nay là anh không có nhiều thức ăn ở đây, và anh không hề nói dối. Cô nhìn vào tủ nơi anh đã lấy hộp súp ra, và tìm thấy nhiều hộp súp hơn. Ít nhất thì cô cũng không chết đói, cô nghĩ, và chọn một hộp viết “Bò hầm rau (Vegetable beef)”, dù cho nó có là cái gì đi nữa. Có lẽ là rau có vị bò.

    Cô nhìn ra ngoài cửa sổ phòng bếp. Giờ đang là lúc chạng vạng, Knox đã đi được gần 4 tiếng rồi. Anh có lẽ sẽ không quay về nhà trong vòng 1 tiếng nữa.

    Vì không còn gì để làm, cô ngồi xuông chiếc ghế bành ở phòng khách và bật ti vi lên.

    Một khi cô đã thư giãn, thì không mất nhiều thời gian để cô chìm vào giấc ngủ.

    Cô đột nhiên tỉnh giấc vì tiếng gõ cửa gấp gáp vang lên. Những tấm rèm đã được kéo lại và cửa của Knox rất vững chắc, vì vậy cô không thể nhìn thấy đó là ai. Chiếc ti vi vẫn bật, nhưng cô không điều chỉnh âm lượng vì nếu cô làm vậy, đó chắc chắn là một dấu hiện rõ ràng cho thấy ai đó đang ở nhà. Knox nối anh thường xuyên để đèn sáng khi anh ra ngoài vào buổi tối, vì vậy cô không lo lắng lắm về điều đó, nhưng ti vi thì không tự điều chỉnh âm lượng được.

    Tiếng gõ cửa lại vang lên lần nữa, cương quyết hơn.

    “Tina,” tiếng của Ruth Lacey vang lên. “Tôi biết cô đang ở trong đó. Tôi muốn nói chuyện với cô.”
     
    B-Mon, huyenhanoi, hathao and 6 others like this.
  13. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 23

    Hmmm, Nikita nghĩ. Trả lời hay không trả lời, một câu hỏi mới hay làm sao.

    Cô hẳn phải là một tên ngốc khi mở cửa cho một người phụ nữ mà rõ ràng là có vấn đề về cả tinh thần và cảm xúc vì người đàn ông mà người con gái đã qua đời của bà đã đính hôn từ 7 năm trước cuối cùng thì cũng đang gặp gỡ con gái khác. Thực ra thì Knox cũng không hẹn hò với cô nhưng Ruth Lacey nghĩ rằng anh có, và điều đó rõ ràng đã đẩy bà đến sự điên loạn.

    Mặt khác, nếu người phụ nữ này đạp cửa liên tục như cái cách mà bà đã gọi điện, Nikita có lẽ sẽ bị ép đến mức phải hành động để cứu lấy lương tri của bà.

    Cô đứng lên khỏi chiếc ghế bành, cúi người xuống thấp để bóng của cô không chiếu lên rèm. Trường hợp khả quan nhất là bà Lacey chỉ bị làm phiền, và tệ nhất là bà ta có thể trở nên bạo lực. Thêm vào đó, việc Nikita không biết nhân dạng của người đã cố giết cô và cô phải phỏng đoán từ thực tế, dù cho việc đó có khó tin và cơ may thấp đến mức nào, rằng bà Lacey có thể là người đó.

    Không, cô chắc chắn sẽ không mở cánh cửa đó ra.

    Thay vì vậy, cô quỳ xuống, chộp lấy di động của mình từ chiếc bàn trà trước ghế bành, và bò vào phòng ngủ còn tối của cô. Nếu ai đó bắn xuyên qua cửa sổ, cô có thể nằm dưới tầm đạn bắn.

    Ví của cô đang nằm trên giường. Cô tóm lấy quai nó và kéo về phía mình, lấy chiếc bút laze của mình từ nó và trượt cái vũ khí nhỏ bé, mảnh mai ấy vào túi quần mình. Vũ khí tự động của cô, vẫn còn nằm trong bao, đang nằm trên cái tủ đầu giường và ngay sau cái tủ là một cửa sổ nhìn ra sân trước.

    Một cách cẩn trọng, cô tiến về phía tủ và đồng thời cũng là nơi cô để vũ khí. Cô nhìn xung quanh, qua cánh cửa phòng ngủ không có nhiều ánh sáng có thể chiếu vào phòng, vì nguồn sáng duy nhất của căn nhà là chiếc đèn ở trong phòng khách và chiếc ti vi, nhưng nếu cô kéo cái rèm sang một bên, thì vẫn có đủ ánh sáng để làm cô bị lộ.

    Cô nhắm mắt lại để có thể điều chỉnh cho mắt mình quen với bóng tối trong khi nhẹ nhàng lần sờ đường đi cảu mình và bò lại về phía cánh cửa rồi nhẹ nhàng đóng nó lại, khiến căn phòng chìm trong bóng tối hoàn toàn. Khi cô mở mắt, cô vẫn chưa nhìn thấy gì, nhưng sau một lúc cô cũng đã nhìn rõ hơn phần khung chữ nhật mờ mờ của cửa sổ, và dải ánh sáng nhạt của đèn đường lọt qua khe hở bé xíu của rèm cửa sổ.

    Có tiếng bước chân trên thềm, và đột nhiên dải ánh sáng đó biến mất.

    Nikita đông cứng tại chỗ. Với căn phòng ngủ chìm trong bóng tối hoàn toàn và ánh đèn đường sáng bừng ở bên ngoài, cô có thể nhìn rõ cái bóng của ai đó đứng trên thềm nhà ngay phía ngoài cửa sổ, với một điểm tối hơn nơi khuôn mặt người đó ấn vào kính khi cố gắng nhìn vào trong nhà.

    Cô biết cô không thể bị nhìn thấy, không khi mà căn phòng tối hơn phía ngoài thềm. Mắt người không nhìn được tốt nhất khi cố gắng nhìn từ chỗ có ánh sáng vào chỗ tối. Miễn là cô không di chuyển, không ai có thể nhìn thấy cô. Dù biết là vậy, nhịp tim của cô vẫn đập thình thịch trong lông ngực khi adrenalin được bơm vào máu. Cô đã được đào tạo để hành động, nhưng đồng thời, chìa khóa của vấn đề nằm ở chỗ chọn lựa cách hành động khôn ngoan nhất. Đừng chỉ hành động, một trong những giáo viên đã nhắc đi nhắc lai với họ, mà hãy hành động khôn ngoan.

    Trong trường hợp này, hành động khôn ngoan là hoàn toàn án binh bất động. Sẽ chẳng có điều gì tốt lành xảy đến khi mà cô đối đầu với Ruth Lacey.

    Tình huống đã đột nhiên chuyển từ việc chỉ hơi tức giận và điên khùng đến việc có dấu hiện của bạo lực. Mà chính xác hơn, cô nghĩ, bằng chứng của bạo lực tiềm tàng đã ở đó ngay từ đầu nhưng chỉ đến bây giờ cô mới nhận ra.

    Cái bóng rời khỏi cửa sổ, và cô nghe tiếng bước chân đi xa, sau đó đi xuống những bậc thềm phía trước nhà. Có tiếng một người phụ nữ, nhưng nó quá nhỏ nên cô không hiểu được nội dung. Bà ấy đang nói chuyện với ai vậy?

    Nikita bò về phía cửa sổ, cẩn thận để tránh vấp vào bất kỳ thứ gì để khiến đầu gối cô khuỵu xuống sàn. Khi cô đến cửa sổ, cô không chạm vào rèm, vì bất kỳ chuyển động nào của tấm rèm có thể khiến sự hiện diện của cô bị lộ. Thay vì thế, cô khéo léo nghiêng người để nhìn xuyên qua khe hở giữa hai tấm rèm, và từ từ nhô đầu lên.

    Một chiếc xe đỗ ở lề đường, và bà Lacey đang nói chuyện với ai đó bên trong. Góc nhìn hẹp không cho phép cô nhìn thấy bất kỳ một cái gì khác ngoài một nửa phần lưng của bà Lacey và cánh tay phải của bà ta. Người phụ nữ đang ra hiệu về phía ngôi nhà. Sau đó, rõ ràng là đã quyết định việc đập cửa nhà Knox là một việc lãng phí thời gian, bà ta vào xe và nó lùi dần ra ngoài đường.

    Nikita thay đổi vị trí, cố gắng nhìn rõ hơn người ở trong xe với bà Lacey là ai, nhưng tầm nhìn của cô bị hạn chế quá nhiều.

    Cô ngồi yên tại chỗ, lom khom trên sàn nhà và quan sát con phố phòng trường hợp bà Lacey đủ điên để lái xe vòng lại một lần nữa, hi vọng rằng Nikita sẽ bật một chiếc đền khác lên và từ đó xác định rằng có ai đó trong nhà. Nikita không thể thề rằng chiếc xe đã không đỗ ngay trên đầu con phố và những người ngồi trong không chờ để xem trong nhà có dấu hiệu nào cho thấy có người đang ở trong hay không.

    Nikita ngồi bệt xuống sàng và mở nắp chiếc điện thoại của cô; màn hình và những con số trên bàn phím lập tức sáng lên, và một cách tự động, cô che ánh sáng đó bằng bàn tay của mình trong khi cô bấm số di động của Knox.

    “Vâng, Davis nghe đây,” anh trả lời sau hồi chuông thứ hai. Anh có lẽ đã nhận ra số của cô nhưng từ cách anh trả lời cho cô thấy rằng anh không ở một mình và có lẽ vẫn đang ở hiện trường vụ sát nhân.

    Cô nói nhỏ tiếng đi, chỉ to hơn một tiếng thì thầm một chút. “Chỉ để anh biết điều gì đã xảy ra ở đây thôi; anh không cần phải làm gì cả. Ruth Lacey đã bắt đầu gọi điện đến một cách điên cuồng từ chiều này. Tôi không đếm số lần bà ấy đã gọi, nhưng chắc khoảng 40 – 50 lần. Sau đó bà ấy đã đến đây và bắt đầu đập cửa ầm ầm, và gọi ầm tôi lên với cái tên Tina và nói rằng bà ấy biết tôi đang ở đây.”

    “Nghe có vẻ không ổn lắm,” anh nói.

    “Tôi nghĩ bà ấy đang có vấn đề về mặt cảm xúc. Tôi đã không trả lời điện thoại hay ra cửa.”

    “Tốt đấy. Đừng có ra.”

    “Anh còn ở lại hiện trường khoảng bao lâu nữa?”

    “Chắc phải vài tiếng nữa.”

    “Có vấn đề gì không?”

    “Vẫn chưa.”

    “Vậy thì tôi sẽ gặp anh sau vài tiếng nữa nhé.”

    Cô gập điện thoại lại và kết thúc cuộc gọi, sau đó quỳ xuống trên đầu gối để liếc ra ngoài cửa sổ một lần nữa.

    Chiếc xe đó, với đèn xe được tắt đi, đã được đỗ ngoài lề đường một lần nữa.

    Trái tim Nikita đập thịch một tiếng, và cô ép bản thân phải ngồi yên tại chỗ. Cô tự nói với mình rằng cô có thể thấy họ nhưng họ không thể thấy cô. Tất cả những gì cô phải làm là duy trì trạng thái đứng im và bất động, và họ sẽ không bao giờ biết được là cô đang quan sát họ. Họ đã quay đầu xe lại, để phía bên lái xe gần nhất với ngôi nhà. Những cái bóng ở trong xe quá tối và cô không thể nhìn được cái gì rõ hơn là hai cái bóng mờ mờ đang ngồi trong xe, và cô nghĩ người lái xe là một người đàn ông. Có lẽ là ông Lacey chăng?

    Cô băn khoăn không biết họ đang muốn làm gì. Ra lệnh cho cô biến khỏi thị trấn và rời bỏ Knox chăng? Hay bà Lacey đã quá mất trí đến nỗi chỉ đơn giản là tấn công thôi, trong trường hợp đó thì Nikita sẽ phải tự vệ, và cô không nghi ngờ chút nào về việc cô sẽ là người chiến thắng trong bất kỳ cuộc đọ sức nào với người phụ nữ đó.

    Những con người đang ghen tị có thể làm đủ trò ngớ ngẩn; 200 năm khoảng cách về mặt thời gian giữa thời đại của cô và bây giờ cũng chẳng thể thay đổi được điều đó. Nhưng bà Lacey không hề ghen tị theo nghĩa nguyên bản của nó; mà bà ấy dường như đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng để khiến mọi thứ được giữ nguyên như cũ; để khiến Knox vẫn mãi yêu người con gái đã chết của bà, và bằng cách đó bà ấy vẫn níu giữ được một phần của cuộc sống cũ.

    Nikita tự hỏi liệu họ sẽ làm gì khi Knox lái xe đến. Cô biết anh sẽ không, ít nhất sau một lúc lâu nữa, nhưng họ không biết điều đó. Họ đã nghĩ về những điều họ sẽ nói chưa, hay họ chỉ đơn giản là thực hiện việc này mà không có kế hoạch gì cả?

    Lý trí thông thường phải quay trở lại với họ vào một lúc nào đó chứ, và họ sẽ quay trở về nhà. Cô hi vọng.


    “Ở đây không có cái xe nào khác cả,” Byron nói. “Anh ta về nhà vào chiều nay, thả cô ta xuống và lại lái đi. Cô ta mở cửa và vào nhà.”

    “Em không nghĩ cô ta ở trong nhà đâu,” Ruth nói một cách không chắc chắn. “Em đã lắng nghe, nhưng trong nhà chẳng có tiếng gì ngoài tiếng ti vi cả. Không ai đi lại quanh nhà. Và chỉ có một chiếc đèn trong nhà được bật; nên có đèn được bật trong bếp nữa, nếu trong nhà có người.”

    “Tại sao?” hắn hỏi, giọng của hắn không để lộ điều gì ngoài sự tò mò.

    “Vì những người xem ti vi sẽ vào bếp trong các giờ quảng cáo, để kiếm cái gì đó để ăn hay uống. Vì vậy họ sẽ để đèn sáng, thường là bóng đèn phía trên bồn rửa bát, hay đèn của bếp nấu. Chỉ một bóng đèn nhỏ thôi, đủ để nhìn. Đó chỉ là cách mà mọi người hay làm thôi.”

    “Nhưng cô ta rời đi thế nào chứ? Cô ta không có xe mà.”

    “Em cho là cô ta đã gọi cho ai đó đến đón cô ta. Anh đến đón em và em đã cố gắng gọi cho cô ta qua điện thoại khoảng 2 tiếng đồng hồ rồi, có lẽ còn lâu hơn. Có nhiều thời gian để cô ta làm vậy mà. Cô ta có lẽ đã gọi một chiếc taxi.”

    “Anh thật sự cần nhìn kỹ cô ta hơn,” Byron nói một cách hối tiếc, gõ gõ ngón tay lên bánh lái trong khi nhìn chăm chăm vào ngôi nhà. Hắn ta đã quan sát một cách cẩn thận, và không hề có một động thái nào, kể cả sự di chuyển của một góc rèm cũng không. Nếu Tina này đúng là Nikita Stover, cô ta cũng không có lý do gì để nghi ngờ Ruth và chắc chắn sự tò mò tự nhiên của con người sẽ khiến cô ta ít nhất cũng phải ngó ra ngoài một chút. Vì vậy có lẽ là Ruth đã đúng, và trong nhà chẳng có ai cả.

    Hắn ta không thích việc con mồi trốn thoát khỏi cái bẫy hắn giăng sẵn. Hắn không thích có gì đó chưa được làm rõ. Và hắn đặc biệt không thích việc có một đặc vụ được đào tạo bài bản như Nikita Stover lang thang ở đâu đó ngoài kia, không bị phát hiện. Những kỹ năng của hắn ta cũng tương đương với cô, nhưng hắn đang thực hiện hai vụ tìm kiếm, trong khi cô đang thực hiện một. Hắn phải tìm ra cái rương thời gian chết tiệt ấy, hay tìm ra người phải gió nào đã đặt phần thông tin quan trọng đó vào chiếc rương. Còn cô ta, mặt khác, chỉ phải tìm ra hắn.

    Nếu McElroy đã thực hiện chính xác phần việc của hắn, thì chắc hẳn cô ta hoàn toàn không có nhận dạng của người du hành thời gian bất hợp pháp – chính hắn, Byron, là điểm an toàn lớn nhất với hắn. Dù cho cô ta có nhìn thấy hắn, cô ta hẳn sẽ cho rằng hắn là người được cử đến để hỗ trợ cô ta. Cô ta chắc hẳn không bao giờ nghi ngờ một đồng nghiệp của mình.

    Mặt khác, có lẽ việc đưa Ruth đi cùng không phải cách tiếp cận khôn ngoan nhất, nhưng lúc đó thì hắn ta không hề biết điều này. Việc lợi dụng bà ta có vẻ như hợp lý nhất; bà ta là một phụ nữ, và theo lẽ thường thì ít đe dọa hơn với một phụ nữ khác. Cũng có khả năng là việc gọi điện thoại liên tục như vậy, thay vì khiến người nghe cảm thấy chán nản và phát khùng lên, lại phản tác dụng và khiến Ruth có vẻ như không được tỉnh táo lắm.

    Nhưng có vẻ như không hề có ai trong nhà Knox Davis, hoặc người ở trong đó cảnh giác hơn những gì hắn trông đợi.

    Lần tới, hắn sẽ dùng biện pháp kín đáo hơn và theo dõi họ. Con người thường bất cẩn hơn khi họ không biết họ đang bị theo dõi.
     
    huyenhanoi, uyenki, hathao and 10 others like this.
  14. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 24

    Sau khi chiếc xe đã rời đi một lần nữa, Nikita đã đợi nửa tiếng trong bóng tối, quan sát để xem nó có còn quay lại hay không. Cô vẫn không thể chắc chắn rằng họ không đỗ xe ở chỗ nào đó trên phố để theo dõi ngôi nhà, dù cho việc đó có khiến những người hàng xóm cảnh giác, nhưng ít nhất thì họ cũng không đỗ xe trước cửa nhà Knox nữa.

    Nửa tiếng sau, cô di chuyển một cách lặng lẽ xuyên qua ngôi nhà, không bật thêm một bóng đèn nào trong khi di chuyển. Cô đã kiểm tra tất cả các cửa sổ để chắc chắn rằng chúng đã được khóa, nhưng giờ thì cô kiểm tra chúng để đảm bảo rằng tất cả các rèm cửa đều được kéo lại một cách khít khao, để không ai có thể nhìn vào.

    Cả buổi tối nay đã khiến cô khó chịu gần như đến mức giới hạn. Đầu tiên là các cuộc điện thoại, lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại như giục hồn, và cuối cùng là cảm giác bị săn đuổi, ở nơi mà cô được cho là sẽ an toàn, đã khiến cô gần như phát điên. Buổi tối nay đã cho cô cảm nhận được sự biết ơn về những hình phạt dành cho tội quấy rối; những đặc vụ liên bang không phải giải quyết chúng, nhưng đôi khi quấy rối là dấu hiệu của một trạng thái tâm lý đang leo thang, và có thể kết thúc với những vụ việc liên quan đến liên bang như một vụ bắt cóc một cách đầy bạo lực. Chỉ sau một buổi tối như thế này, Nikita đã trong trạng thái muốn hành hung ai đó rồi. Cô không thể tưởng tượng được ai đó phải đối đầu với chuyện này một cách thường xuyên.

    Sau một giờ mà không có sự cố nào xảy ra, cô cẩn trọng di chuyển vào phòng khách, nơi chiếc ti vi vẫn đang cần mẫn làm công việc truyền phát tin. Có lẽ cô đã quá cẩn thận, nhưng cô vẫn cúi người xuống để không có cái bóng nào in trên rèm. Cô còn giữ cả chiếc ví và vũ khí trong tầm tay, và trượt chiếc điện thoại di động nhỏ xíu vào túi. Sau đó cô nằm dài ra trên chiếc ghế bành và cố xem ti vi, cố thư giãn, nhưng mỗi khi một chiếc xe đi ngang qua, người cô lại cứng đờ và quên luôn những gì cô đang xem trong khi đang lắng nghe để chắc chắn rằng chiếc xe không dừng lại.

    Khoảng hơn một tiếng sau, một chiếc xe dừng lại, và lái vào đường dành cho xe chạy ở trước nhà. Cô chờ đợi; một cách logic, người lái xe nên là Knox đang về nhà, nhưng cô không đưa ra bất kỳ một giả thiết nào cả. Cho đến khi chiếc xe đỗ vào phía sau nhà thì cô mới đứng lên để vào bếp và liếc ra ngoài để chắc chắn rằng đó là xe của Knox trước khi cô mở cửa.

    Cô đặt ngón tay mình lên môi khi anh bước vào khu bếp tối om. Anh không phải là một tay cớm vô dụng; anh gật đầu, toàn bộ không khí quanh anh chuyển từ mệt mỏi sang đề phòng. Anh đóng và khóa cửa lại sau khi đã bước vào trong, sau đó thì thầm, “Sao trong bếp tối om vậy?”

    “Vì tôi không muốn bật đèn khi bà ấy đến đây. Nếu tôi bật một bóng đèn nào khác, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy ai đó ở nhà. Nhưng vì anh về rồi, anh có thể bật bao nhiêu đèn tùy thích. Nhân tiện, chìa khóa của anh ở trên bàn ấy.”

    Anh bước đến chỗ bồn rửa và bật bóng đèn huỳnh quang được gắn sau đường viền bằng gỗ. Những chiếc rèm ở trên cửa sổ gần đó cũng được kéo lại, nhưng chúng chỉ che được nửa dưới của chiếc cửa sổ.

    “Hãy kể lại cho anh nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra.” Anh vẫn nói nhỏ trong khi di chuyển đến tủ lạnh và lấy ra một chai đồ uống có ga.

    “Không, anh kể trước. Chuyện giết người quan trọng hơn quấy rối.”

    Họ đi vào phòng khách và ngồi xuống cạnh nhau trên chiếc ghế đệm dài, để có thể nói chuyện dễ dàng hơn mà không bị nghe trộm.

    “Cho đến bây giờ thì mọi chuyện vẫn ổn,” anh nói một cách mệt mỏi, trượt người xuống chiếc ghế sao cho đầu anh có thể nằm tựa lên lưng ghế. “Những cha khám nghiệm tử thi thấy rất hứng thú với vết thương, vì anh ta chưa bao giờ nhìn thấy cái gì giống thế. Xác chết đã được đưa đến phòng khám nghiệm tử thi. Thử thách chính sẽ chính thức diễn ra vào ngày mai khi mọi người bắt đầu gọi điện đến để thông báo việc họ đã nhìn thấy một chiếc xe tại chỗ của Jesse và ngày này, giờ này. Tuy vậy anh nghĩ chúng ta sẽ ổn thôi, vì Jessse đã chết được vài ngày rồi. Ông ta thậm chí còn có khả năng chết từ thứ Hai, khiến người gặp ông ta cuối cùng khi còn sống là anh. Bọn anh sẽ tìm kiếm những phương tiện đã dừng ở nhà ông ta vào thời điểm sớm hơn của tuần.”

    Cô gật đầu. Cô nên nghĩ về việc đó trước đây rồi; họ nên cân nhắc việc đó. Thậm chí nếu xe của Knoc có bị nhìn thấy ở nhà của Jesse vào ngày hôm nay, thời điểm ông ta chết có thể khiến việc đó trở thành vô nghĩa.

    “Hãy kể cho anh nghe về Ruth đi,” anh nói, xoay đầu để nhìn thẳng vào cô. Mắt anh nhìn mệt mỏi, mí như sụp xuống.

    “Anh biết về những cuộc gọi rồi đấy, và bà ấy đã đến đây. Bà ấy đập cửa rầm rầm trong ít nhất là 5 phút, nói rằng bà ấy biết Tina đang ở trong này. Sau đó bà ấy cố nhìn qua các cửa sổ. Bà ấy bỏ đi, và đó là khi tôi gọi cho anh.”

    “Thế thôi à?”

    “ Không chỉ vậy. Ai đó đã đi cùng bà ấy – tôi nghĩ đó là một người đàn ông. Tôi không nhìn rõ để có thể miêu tả được, nhưng bà ấy chắc chắn là đã nói chuyện với ai đó đang ngồi trong xe với bà ấy lúc đó, và từ hình dáng, tôi khá chắc chắn đó là một người đàn ông. Họ đã quay trở lại, đỗ xe ngay lề đường và quan sát ngôi nhà trong một lúc, rồi sau đó lai rời đi.” Cô kiểm tra lại thời gian. “Đó là khoảng một tiếng rưỡi trước. Từ lúc đó mọi việc vẫn yên tĩnh lắm.”

    “Chúa ơi,” anh nói, nhắm mắt lại. “Anh chưa bao giờ nghĩ Ruth có thể hoảng loạn khi nghĩ đến việc anh đang có mối quan hệ nghiêm túc với ai đó. Sau khi Rebecca qua đời, bà thậm chí còn bảo anh phải tiếp tục sống cho tốt và thành lập mối quan hệ với một cô gái khác. Anh sẽ nói chuyện với bà ấy ngày mai, và nói rằng đã có một trong những người hàng xóm phàn nàn về tiếng ồn.”

    “Liệu hàng xóm của anh có nhận ra Ruth không?”

    Anh ngẫm nghĩ một lúc. “Không. Phán đoán tốt đấy. Anh phải mệt hơn anh tưởng rồi.”

    “Vì anh chưa bao giờ phạm sai lầm đúng không?” Cô hỏi một cách nhẹ nhàng.

    “Đừng có nói đến chuyện đó,” anh nói với một nụ cười mỉm. “Anh đã gây nên một số vụ khá lùm xùm (doozies), và những việc như thế thường liên quan đến việc anh không giữ cho miệng mình ngậm lại khi anh nên thế.”

    Cô chớp mắt. “Chính xác thì “doozy” là cái gì vậy? Em hiểu nghĩa đại khái từ cách dùng trong câu, nhưng…..” Cô nhún vai, hơi nhướng mày chờ câu trả lời từ anh.

    “Anh cũng chẳng biết nữa. Theo cách mà anh vừa dùng thì nó có nghĩa là những lỗi sai tệ hại. Nếu ai đó có một mắt bị bầm đen – nhân tiện, cám ơn em vì đã không đấm anh vào mắt – anh sẽ nói anh ta có “a doozy of a shiner”. Nếu ai đó là “a doozy of a cook”, nó mang nghĩa là cô ấy là một đầu bếp đại tài. Vì vậy nói chung thì đó là một cách so sánh.”

    “Em có thấy anh dùng “anh ta” khi nói đến mắt bị bầm, và “cô ta” khi nói đến nấu ăn.”

    “Cứ kiện anh vì tội phân biệt giới tính đi,” anh nói một cách thoải mái, chìm người thậm chí sâu hơn vào chiếc ghế.

    Anh nhìn như thể anh sẽ ngủ ngay tại chỗ. “Anh đã ăn gì chưa?” cô hỏi, trước khi mắt anh khép lại hoàn toàn.


    “À, rồi, một trong những cảnh sát ở đó đã vào thị trấn và mua một túi bánh kẹp.” Mắt anh mở bừng ra. “Chết tiệt thật, anh quên mất chuyện đó. Anh không có nhiều thức ăn ở đây lắm. Em đã ăn gì chưa?”

    “Súp. Tôi ổn. Nhưng cứ làm theo cách này không ổn đâu. Tôi cần phải hoạt động độc lập so với anh. Và tôi không thể ở lại đây với Ruth Lacey cứ phát điên lên và theo dõi ngôi nhà vì bà ấy không thể chịu được việc anh có một mối quan hệ khác.”

    “Em có thể ở chỗ nào khác được?”

    “Anh đã đề cập đến một địa điểm “bed-and-breakfast”. Tôi cho là nơi đó có giường để ngủ và cung cấp bữa sáng đúng không?”


    “Đó chính xác là những gì nó mang nghĩa, nhưng anh không thích ý tưởng đó của em chút nào.” Anh ngáp, và đứng thẳng dậy vươn vai. “Anh sẽ đi tắm đây. Chúng ta sẽ nói về chuyện này khi anh đã tỉnh táo lại.”

    Cô nhìn anh bước đi, ánh nhìn của cô tự động trượt xuống mông anh. Yummy, như một nhân vật hoạt hình trên ti vi đã nói. Nó đúng là một từ đầy sức biểu cảm.

    Bằng cách nào đó mà cô đã không còn giận dữ với anh nữa. Không điều gì trong tình huống của cô thay đổi, nhưng khi ngày trôi qua, sự tổn thương và giận dữ của cô đã dần trôi đi. Thành thật mà nói, cô đã không quá tức giận mà là bị tổn thương nặng nề, nhưng anh không thể nào biết được câu hỏi của anh đã khiến cô tổn thương đến mức nào.

    Cô lại duỗi người ra lần nữa, gối đầu lên hai bàn tay. Cả hai người bọn họ đều mệt mỏi; cô có thể sẽ ngủ ngon tối nay, trừ khi Ruth lại ghé thăm lần nữa. Cô nhắm mắt lại, và điều tiếp theo cô biết là căn phòng đã tối om và Knox đang bế cô trên tay.

    “Tôi dậy rồi,” cô nói, theo phản xạ, cô ôm lấy anh vì sợ anh sẽ đánh rơi mình. Những ngón tay cô bám chặt vào cơ bắp ấm áp, cứng rắn và vẫn còn đẫm hơi ẩm.

    “Thế thì tốt. Làm tình sẽ luôn tốt hơn khi cả hai người cùng tỉnh.”

    Trái tim cô đập điên cuồng trong lồng ngực, và những ý nghĩ của cô không tập trung. “Nhưng….em……không phải…..”
    (Từ bây giờ tớ sẽ dùng "em" khi Nikita xưng hô với Knox vì mối quan hệ của họ đã thay đổi đối với Nikita ^^)

    “Yên nào,” anh nói, và hôn cô.

    Người anh có mùi nước và xà phòng tắm, của đàn ông, và của sức nóng. Bờ môi anh chậm rãi và nài nỉ, và đột nhiên cô nghĩ, “Yes.” Có lý do để cô không nên thành lập mối quan hệ thân mật hơn nữa với anh, và cô không hề quan tâm đến chúng dù chỉ một chút. Cô muốn anh, muốn có được cơ thể cao lớn, mạnh mẽ của anh nằm lên trên cô, muốn có anh giữa hai chân mình và bên trong cơ thể mình.

    Cô dứt môi ra khỏi nụ hôn, và anh nói, “Không bàn cãi gì nữa.”

    “Em đang định nói ‘yes’.”

    “Ồ,” anh khựng lại. “Vậy thì được.” Và anh cười lớn trước khi chiếm lấy môi cô bằng đôi môi anh khi trong khi đi đến phòng ngủ. Cô bám lấy anh khi anh cúi xuống để đặt cô xuống giường, níu giữ lấy nụ hôn cho đến khi anh mất thăng bằng và đổ ập lên người cô.

    Cả hai người họ đều cười phá lên như những đứa trẻ khi họ lăn lộn trên giường trong bóng tối, bàn tay tìm kiếm và thăm dò. Cô vuốt ve bờ lưng cơ bắp của anh, dụi mặt cô vào bộ ngực có lớp lông mỏng, tìm thấy đầu vú anh nổi lên và khẽ cắn chúng, rồi tiếp tục với những thứ đáng quan tâm hơn. Cô kéo khóa quần anh và phát hiện ra đó là tất cả những gì mà anh mặc, trượt tay cô xuống dưới cạp quần đã lỏng ra để úp chúng lên mông anh và bóp nhẹ. Phần da thịt cứng rắn đó mát lạnh và mượt mà dưới tay cô, nhanh chóng ấm lên.

    Anh lại phá ra cười lần nữa khi đang cố gắng lôi cô ra khỏi đống quần áo vướng víu. Anh đang gặp khó khăn với quán trình đó vì cô không chịu thả mông anh ra. Anh cố gắng bứt ra và cô lợi dụng việc đó để luồn tay vào phần để mở phía trước của quần anh. Dương vật anh đâm vào tay cô; nó rất cứng, chọc thẳng về phía trước, và anh gầm khẽ khi cô chạm vào anh. Một cách đói khát, cô cuộn tay mình quanh nó, và thấy sung sướng trước sự dày dặn, với cái cách mà nó giật lên khi cô chậm rãi vuốt ve lên xuống, và bàn tay còn lại ôm lấy “bi” của anh.

    “Chúa ơi. Cởi quần áo em ra đi,” anh rên rỉ, đổ vật ra giường.

    “Anh cởi chúng ra đi,” cô nói thản nhiên, tập trung vào việc mà cô đang làm.

    “Anh không thể. Em đã có anh trong lòng bàn tay rồi. Theo nghĩa đen đấy.” Anh rên rỉ khi cô lại bóp nhẹ anh lần nữa. “Đừng để anh đạt đỉnh, không phải bây giờ.”

    (Ở đây Knox đang chơi chữ. “get someone by the ball” nghĩa là nắm được ai đó trong tay, khống chế được ai đó – thường dùng cho đàn ông, và lúc này Nikita cũng đang nắm lấy anh ở vị trí “đó”.)

    “Đừng lo về điều đó,” cô thì thầm khi thả anh ra để nhanh chóng trút bỏ quần áo trên người và ném chúng sang một bên. Anh giúp cô, tay họ vướng vào nhau khi họ làm vướng víu lẫn nhau, nhưng bằng cách nào đó mà họ đã xoay xở để cởi được quần áo cô ra và anh đá quần jean của mình bay sang một bên, và giờ họ lại đổ xuống giường mà trên người không có lấy một sợi vải.

    Nhanh nhẹn như một chú mèo, cô bật dậy đẩy anh nằm ngửa ra giường và cưỡi lên anh. Anh phát ra một âm thanh trầm thấp của khoái cảm khi cô yên vị trên dương vật cứng rắn nóng bỏng của anh, bao trùm nó trong sự ẩm ướt nóng bỏng giữa hai chân cô. Anh nhấc hông lên, cố gắng chọn góc độ để đẩy vào, nhưng cô lại lùi người ra. “Không nhanh vậy đâu. Em thích cảm nhận anh theo cách này.” Cô lại ngồi xuống, trượt người cô từ trước ra sau để cọ xát vào anh.

    “Nó sẽ còn tuyệt vời hơn từ phía trong cơ,” anh nói một cách khẩn cấp, những ngón tay anh bấm mạnh vào hông cô.

    “Rồi chúng ta sẽ đến phần đó sau,” cô nói trong tiếng thở gấp gáp. “Anh không thích chơi đùa một chút sao?” Trêu anh thật vui, cô quyết định vậy. Cô cũng cảm thấy khoái cảm đó, quá tuyệt vời đến nỗi cô chắc chắn mình có thể cứ cọ xát với anh như thế này mà vẫn lên đỉnh.

    Anh lại gầm nhẹ lần nữa. “Làm tình trước, chơi đùa sau.”

    Cô bắt đầu cười khi anh đẩy mình dậy, quấn tay quanh người cô và lăn một vòng, nhưng lần này anh nằm trên người cô và đầu dương vật của anh đã bắt đầu tiến vào cô.

    Tất cả những tiếng cười tắt lịm và anh treo mình ở vị trí phía trên cô trong bóng tối và chờ đợi, chờ đợi. Hơi thở của cô bị ghìm lại trong phổi và hơi nóng của anh thấm đẫm người cô, cả cơ thể cô thư giãn khi cả con người cô, toàn bộ tâm hồn cô tập trung vào sự xâm chiếm đầy đe dọa này. Và nó đang ở đó, chậm rãi và nóng bỏng, đang đẩy sâu vào cô khi cả caow thể cô rộn rã trong sự háo hức được đón nhận anh và bao bọc lấy anh.

    Anh lùi lại, gần như ra khỏi cô, và lại đẩy về phía trước lần nữa. Lưng cô cong lên khi cô rên rỉ, yêu cái cảm giác anh đang tạo ra. “Đúng rồi. Như thế.”

    Anh tuân theo, và trong một phút cô đang vặn vẹo, gần như chạm đến bờ vực của sự cực khoái, khi anh dừng lại, thở hổn hển.

    “Anh không thể,” anh nói khi cô lẩm bẩm phản đối. “Anh đến quá gần rồi. Em phải làm việc này thôi.”

    Anh rút ra và nằm ngửa ra giường, và Nikita lại trượt lên người anh một cách đầy háo hức. Lần này không còn chơi đùa gì nữa; cô muốn anh lại ở trong cô lần nữa. Cô nhấn mình sâu xuống anh khi tay anh bao trọn lấy ngực cô, và cô rơi vào nhịp điệu của anh, trượt lên trượt xuống một cách chậm rãi, bao bọc anh, thả ra, lại bao bọc lần nữa.

    Cực khoái của cô đã đến rất gần, chỉ còn một chút nữa thôi. Cô muốn nó đến tuyệt vọng, nhưng cô cũng không muốn nó kết thúc. Mỗi sự vuốt ve đều trở nên chậm rãi đến phát điên, cảm giác này quá mạnh mẽ đến nỗi cô gần như không thể chịu được nữa. Mỗi khi cô nhấn người xuống và anh lại đẩy vào sâu trong cô, cô đều rùng mình đáp lại, nhịp điệu của cô bị phá vỡ và mất đi cân bằng.

    “Nhanh nữa lên,” anh rên lên, chộp lấy mông cô khi anh nhấn mình lên giữa hai chân cô.

    Hành động của anh khiến anh chìm sâu vào hơn nữa, tiến đến gần vùng cực khoái. Cô hét lên và ngập sâu xuống anh hơn nữa khi cực khoái của chính cô quét qua người như những con sóng dồn dập, khiến lưng cô cong lên, và khiến những tiếng hét xen lẫn rên rỉ nối liền không dứt.

    Anh đẩy hông cô lên, rồi lại kéo mạnh cô xuống mình, một lần, hai lần trong khi anh run rẩy bên dưới cô. Một cách run rẩy, cô đổ ập xuống anh trong khi anh vẫn đang giữ lấy hông cô khóa vào anh, rên rỉ khi bắn hạt giống của mình vào trong cô.

    Một cách chậm rãi, anh bình tĩnh lại, cơ thể mạnh mẽ của anh run rẩy trong khi cơ thể cô cũng vậy. Ngực anh chuyển động lên xuống khi anh tranh đấu để cố lấy lại hơi thở, và cô cố lật người sang bên cạnh để anh thở dễ dàng hơn, nhưng anh vòng tay anh quanh người cô. “Ở lại nguyên đó đi em,” anh nói với giọng thô ráp. “Ở nguyên như thế này.”

    Cảm xúc bất ngờ ngập tràn cô, khiến cô gần như bật khóc. Cô cố nén sự nghẹn ngào đó lại, thay vào đó cô vùi mặt mình vào cổ anh và ôm chặt lấy anh. Điều này thật là bất ngờ với cô, và cô tự hỏi không hiểu tại sao mình lại muốn khóc. Điều này thật là tuyệt vời. Cơ thể của họ vô cùng đồng điệu, không hề có một sự chuyển động sai lầm nào khiến trải nghiệm bớt diệu kỳ đi. Cô yêu cảm giác có anh trong vòng tay, mùi hương của anh, và có lẽ sự hoàn hảo của trải nghiệm này đã khiến cô trở nên ủy mị.

    Hơi thở của họ chậm dần, trở nên bình thường hơn. Một cách uể oải, cô nép vào anh. Cô cần phải dậy thôi, cô tự nhủ; cô cần phải tắm rửa, và họ đã khiến cái giường nhìn bề bộn không chịu nổi. Nhưng giờ cô cảm thấy quá thỏa mãn, và họ luôn có thể thay ga giường bất cứ lúc nào họ muốn.

    “Này, dậy đi em,” anh lẩm bẩm vào mái tóc cô. Anh đang vuốt ve lưng cô, mông cô và cô nghĩ nếu anh muốn cô dậy thì anh thực sự không nên vuốt ve cô dịu dàng như vậy. “Đây không thực sự là thời gian để hỏi việc này, nhưng em có đang dùng thuốc tránh thai không?”

    Cô mỉm cười khi vùi mặt vào cổ anh. “Ý anh là anh đã quên à?”

    “Hoàn toàn luôn.” Giọng anh nghe có vẻ buồn rầu. “Vậy em có đang dùng không?”

    “Có, em vẫn còn khoảng 4 tháng nữa thì liều thuốc hàng năm mới hết tác dụng.”

    Cô cảm thấy sự hứng thú của anh tăng lên. “Một liều thuốc hàng năm sao? Em chỉ phải dùng nó một lần một năm sao?”

    “Đúng vậy.”

    “Nhưng không phải là nếu uống nó chỉ một năm một lần thì em sẽ quên mất à?”

    “Em nhận được một tin nhắn nhắc nhở tự động. Bất kỳ ai đăng ký dùng thuốc hàng năm đều nhận được tin nhắn nhắc nhở 1 tháng trước khi thuốc hết tác dụng, một lần nữa cách hai tuần, và một lần nữa vào 1 ngày trước khi hết tác dụng. Việc có muốn dùng nữa hay không là tùy thuộc vào người đó, và nếu họ muốn dừng việc dùng thuốc tránh thai lại, họ chỉ cần thông báo với hệ thống để nó không phải tốn thời gian để gửi đi những thông báo vô tác dụng.”


    “Chế độ này chỉ áp dụng cho nữ, hay áp dụng cả cho nam nữa?”

    “Nữ thôi. Hệ thống dành cho nam khác. Liều dùng tránh thai hoàn hảo nhất cho nam cho đến thời điểm hiện tại, kéo dài được khoảng 1 tháng.”
    Và số lượng đàn ông đăng ký tham gia chương trình sử dụng thuốc tránh thai; nhưng bất kể các nhà khoa học xã hội phản đối đến mức nào, thực tế vẫn là đàn ông thì không mang thai, vì thế thuốc tránh thai quan trọng với phụ nữ hơn. Việc đó dường như là không công bằng, nhưng đó là cách mà cuộc sống diễn ra.

    Cô rõ ràng cảm thấy những câu hỏi đang chất chồng trong đầu anh, nhưng cô đặt ngón tay mình lên miệng anh trước khi anh có thể tuôn chúng ra. “Em buồn ngủ quá rồi,” cô thì thầm. “Chúng ta sẽ nói chuyện vào ngày mai nhé. Em chỉ muốn tắm rửa và đi ngủ thôi.”

    “Chúng ta có thể làm vậy,” anh nói, cuối cùng cũng thả cô ra để cô trườn xuống nằm bên cạnh anh. “Việc đó chỉ lãng phí thời gian thôi, nhưng vậy thì có sao chứ, anh có rất nhiều nước nóng mà.”
     
    bambooautumn, B-Mon, uyenki and 16 others like this.
  15. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Hic, cuối cùng thì anh chị cũng......... Dịch đoạn này mà mồ hôi mẹ, mồ hôi con cứ thi nhau toát ra. Hic, khi đọc thì không thấy gì chứ đến khi tự tay mình viết ra mới thấy. Thật khâm phục những người đã đi trước mình quá :confused:
     
    B-Mon, thanhbt, vqsvietnam and 4 others like this.
  16. hoahuynh2011

    hoahuynh2011 Lớp 1

    Cảm ơn bạn Nguyễn Hằng nhiều lắm, rất rất mong phần tiếp theo.
     
    B-Mon and Nguyễn Hằng like this.
  17. meocontb

    meocontb Lớp 2

    Cảm ơn Nguyễn Hằng. Đúng là truyện của Linda Howard nóng bỏng quá. Khâm phục tốc độ dịch của bạn lắm.
     
  18. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 25

    Knox đánh thức cô hai lần trong đêm đó để làm tình. Và sau lần thứ ba, khi cô bắt đầu quay trở lại thực tế từ khoái cảm thân xác đầy mãnh liệt, lương tâm của cô cũng bắt đầu có sự trả thù khốc liệt của nó.

    Việc cô lợi dụng sự thiếu hiểu biết của anh về tình trạng của cô là không công bằng. Có những điều quan trọng về cô mà anh cần biết, mà bất cứ ai muốn xây dựng một mối quan hệ gần gũi với cô, dù là tình bạn hay tình yêu, đều nên biết. Nếu sau đó anh có chọn chấm dứt việc biến mối quan hệ của họ trở nên gần gũi hơn, vậy thì tốt hơn hết là cho anh biết bây giờ, khi nó mới chỉ bắt đầu, khi cả hai người đều chưa đặt nhiều tình cảm vào mối quan hệ này. Cô đã học được sự thật là không nên chờ đợi từ những bài học vô cùng khó khăn.

    Sau khi tắm rửa lại, họ đã quay trở lại giường. Anh nằm nằm ngửa ra, gối đầu trên gối của mình và kéo cô lại gần bên anh hơn, đầu cô gối lên vai anh và tay trái của anh thì ôm vòng quanh cô. Cô lắng nghe nhịp tim đập mạnh mẽ, đều đặng trong ngực anh và lặng lẽ cầu nguyện rằng đây không phải lần cuối cùng cô được nằm gần anh đủ để lắng nghe nhịp đập tim anh.

    “Có điều này em cần nói cho anh biết,” cô nói trước khi quyết tâm của cô mất đi.

    “Có chuyện không hay rồi,” anh bình luận sau khi khựng lại một chút.

    “Cái gì không hay cơ?”

    “Cách mọi người bắt đầu cuộc nói chuyện với những từ đó. Những gì theo sau sẽ chẳng bao giờ là những gì anh muốn nghe cả. Lần này có gì khác biệt không?”

    “Có lẽ là không,” cô thì thầm, sự sợ hãi khiến cổ họng cô như nghẹn lại.

    “Nếu em đã kết hôn rồi, Nikita, thì anh thề với Chúa là..” anh bắt đầu với sự giận dữ ngấm ngầm.

    “Không, không phải! Em không nói dối. Em chưa bao giờ kết hôn trước đây.”

    “Vậy thì chuyện gì? Đừng có hòng thuyết phục anh là em bị đồng tính nhé.”

    Cách nói tồn tại từ khá lâu này khiến cô có được vui vẻ một chút, nhưng chỉ một chút thôi.

    “Cũng không phải vậy. Em là một bản sao,” cô nói một cách vững vàng, quyết tâm khiến những lời nói bật ra trước khi anh làm cô xao lãng.

    “Là một cái gì cơ?”

    “Một bản sao,” cô nói. Trong những năm của cuộc đời mình, cô đã học được cách giữ cho giọng nói của cô bình thản khi cô hé lộ về nguồn gốc của mình. “Em đã được sinh ra. Chính xác hơn là được ‘nuôi trồng’. Như rau củ vậy.”

    “Chết tiệt thật. Em không đùa chứ? Trong một hàng, giống như cà rốt á? Cái gì trồi lên trước, đầu em, hay chân em?”

    Hình ảnh đó quá nực cười đến nỗi cô ngồi bật dậy trên giường, vô cùng tức giận. “Em nghiêm túc đấy! Đây không phải chuyện để đùa đâu.”

    “Anh không cười mà,” anh chỉ ra, kéo cô nằm xuống lại với anh. “Anh đã hỏi một câu hỏi mà.”

    “Anh không thể…” cô dừng lại, vì rõ ràng là anh có thể nghĩ vậy. Ý nghĩ của anh có thể hơi rắc rối một chút, để có thể hình thành nên được cái giả định về những củ cà rốt như vậy.

    “Em đã nói là ‘rau củ’. Anh phải nghĩ gì đây? Những quả đậu à? Hay là các bụi cà chua?”

    “Anh có thể câm đi được không? Em không phải một quả đậu! Hay một quả cà chua.”

    Anh bóp nhẹ mông cô. “Thế còn một trái đào thì sao? Em nhìn ngon lành và ngọt ngào lắm đấy.”

    Đã tức quá mức chịu đựng, cô phát khùng lên. “Em đã được nuôi để cung cấp nội tạng thay thế cho…..chị của em. Nhưng chị ấy không phải chị thật, vì bản thân em chính là chị ấy. Em là bản sao của chị ấy. Em nhìn giống hệt, trừ việc em còn sống còn chị ấy đã chết.”

    Cô rơi vào một sự im lặng nặng nề, dường như vô tận, và cô cảm thấy như thể cô đang bị siết cổ trong bóng tối. Cô vươn ra để bật chiếc đèn ngủ lên, để cô có thể nhìn thấy khuôn mặt anh, và để có thể ngăn cái cảm giác như các bức tường đang dần ép lên cô, khiến cô ngạt thở. Anh ngăn cô lại, bàn tay anh rất dịu dàng chạm vào cánh tay cô.

    “Đừng bật đèn,” anh nói một cách dịu dàng. “Nằm xuống và kể cho anh nghe về chuyện đó đi. Trong thời đại của em, con người được nhân bản và các bản sao bị giết để cung cấp nội tạng cho họ sao? Không phải anh có ý thù địch gì đâu, nhưng nó nghe có vẻ quá dã man với anh.”

    “Không, chuyện không phải vậy.” Cô có thể cảm thấy sự buồn bã trong giọng mình, và cố gắng lấy lại tông giọng bình thản như cũ.

    “Vậy chuyện là thế nào? Làm thế nào mà em lại được nuôi để cung cấp nội tạng? Anh không nghĩ em giống như là thằn lằn, có khả năng tái sinh các bộ phận đâu.”

    “Anh có thể dừng cái việc so sánh em với rau củ và thằn lằn không? Làm ơn đấy!”

    “Đào là một loại hoa quả mà em.”

    Đã bị dồn nén đến mức không thể kiểm soát được nữa, cô tóm lấy một nắm lông ngực của anh và giật thật mạnh.

    “Oái!” anh ré lên. “Này! Đừng có động vào lông ngực anh!”

    “Lần tới, em sẽ tóm lấy vật nằm giữa hai chân anh đấy,” cô cảnh cáo. “Anh có chịu lắng nghe không, hay tiếp tục đưa ra những lời nhận xét thông minh đến vậy nào?”

    “Sau sự đe dọa như vậy, anh sẽ lắng nghe bất kỳ điều gì.”

    Trong ánh nhìn ngạc nhiên của cô, cô nhận ra anh thực sự đang mỉm cười, và cô mừng vì anh không thể nhìn thấy cô trong bóng tối. Cảm giác sợ hãi đã giảm đi một chút; có lẽ việc này sẽ không phải quá tồi tệ, có lẽ anh sẽ không quá sợ hãi như những người ở thời đại của cô. Khi anh kéo cô nằm lại xuống giường và ôm cô lại vào vòng tay anh, cô đã để anh làm vậy.

    “Nhân bản là phạm pháp,” cô nói. “Kết quả trong những ca thí nghiệm nhân bản chưa bao giờ tốt cả; những người nhân bản dường như có sự thiếu sót trong gien di truyền. Họ dễ dàng bị nhiệm bệnh, hầu hết trong số họ chết trẻ, và nếu họ trưởng thành và sinh con, con cái của họ đều được sinh ra với những bệnh bẩm sinh nghiêm trọng. Vì vậy việc nhân bản đã bị nghiêm cấm, nhưng hàng tỉ đã được chi vào việc phát triển công nghệ cho phép con người nuôi trồng các phần nội tạng thay thế từ một tế bào của chủ thể. Những vấn đề lớn nhất là nuôi trồng các nội tạng đó đủ nhanh, vì người cần hiến có thể đang trong tình trạng sức khỏe vô cùng tồi tệ và không đủ sức chờ cho bộ phận đó được nuôi trồng. Vì vậy chương trình thử nghiệm này đã được đưa vào hoạt động nhằm nuôi trồng nội tạng một cách nhanh chóng………………..”


    “Khoan đã” anh ngắt lời cô. “Bất kỳ nội tạng nào được nuôi trồng từ tế bào của một người bệnh đêu sẽ có thiếu sót về mặt di truyền đã tấn công và gây nên bệnh của người đó đúng không?"

    “Nếu bệnh đó là di truyền thì đúng vậy. Nhưng nếu anh có nguy cơ bị bệnh tim, và khi anh 50 tuổi, anh bị một cơn suy tim nặng thì sao? Một trái tim mới có thể cho anh sống thêm được 50 năm, hay lâu hơn, vì anh phải tính đến sự phát triển của dược phẩm. Liệu anh có chấp nhận trái tim đó, biết rằng nó sẽ khiến anh có nguy cơ bị cùng bệnh đó trong vòng 50 năm nữa không?”

    “Chắc chắn là có. Em không thể bỏ qua cơ hội đó được.”

    “Hầu hết mọi người trên thế giới đều có cùng suy nghĩ như vậy. Chương trình nuôi trồng nhanh đã đạt đến đỉnh cao vào khoảng 35 năm trước, khi bố mẹ em sinh người con đầu lòng, một cô bé có tên Annora Tzuria. Chị ấy đã rất xinh đẹp, khỏe mạnh, nhưng khi chị ấy được 2 tuổi, chị ấy đã bị nhiễm một loại virus và đã tàn phá trái tim và thận của chị ấy một cách nghiêm trọng đến nỗi chị ấy cần được ghép nội tạng trong vòng 1 năm để có thể sống được. Bố mẹ em đã ngay lập tức đăng ký chương trình nuôi trồng nội tạng nhanh này, những tế bào khỏe đã được lấy từ cơ thể chị ấy để làm nhân nuôi trồng nội tạng, và họ đã chờ đợi.”

    “Và thay vì thế, họ đã nhận được em.” Anh xen vào.

    “Đúng vậy, nhưng đừng cầm đèn chạy trước ô tô. Có một số cơ sở trong chương trình phát triển này đã cạnh tranh để nhận được vốn đầu tư….”

    “Có một số điều chẳng bao giờ thay đổi cả.”

    “Chắc chắn không phải điều đó. Các nhà nghiên cứu tại một cơ sở đã tin rằng họ đã khiến quá trình nhân bản trở nên hoàn thiện và loại bỏ các nhân tố khiến các bản sao trở nên yếu ớt hơn những bản sao trước đó. Họ đáng ra phải nuôi trồng nội tạng. Nhưng thay vì vậy, trong khoảng 2 năm, họ đã nuôi trồng con người. Có hơn 4000 người nhân bản đã được tạo ra khi nhà chức trách phát hiện ra chuyện này và chương trình đã bị chấm dứt.”

    “Khó để dấu được 4000 người.”

    “4000 đứa trẻ. Chúng em sinh trưởng bình thường; không phải được nẩy mầm lên từ đất như một người trưởng thành. Chúng em được đánh dấu với các số sê ri, trùng với số thứ tự chúng em được tạo ra, cộng thêm với ngày sinh, vì vậy số sê ri của em là 233704272177. Nó được in vĩnh viễn vào sau tai trái của em. Nếu lớp da bị động đến, nếu em cố xóa bỏ con số đó bằng phẫu thuật hay phương pháp nào khác, một tín hiệu sẽ được truyền đến một trung tâm an ninh chuyên theo dõi các bản sao và em sẽ ngay lập tức bị bắt giữ.”


    “Nhưng em là một đặc vụ FBI, không phải một tên tội phạm.” anh nói, nghe đầy vẻ giận dữ thay cho cô.

    “Em còn là một bản sao nữa. Trạng thái pháp lý của các bản sao thường không rõ ràng. Cho đến khi một quyết định chính thức được đưa ra, luật pháp nghiêm cấm việc phân biệt đối xử với chúng em. Những đặc vụ liên bang phải được đối xử một cách vô tư, công bằng trong quá trình tuyển dụng, nhưng em đã được nhận vào học viên dựa trên số điểm ở trường của em. Nhưng điều đó xảy ra sau này. Để em kể cho anh việc xảy ra vào thời điểm ban đầu đã.”

    “Được rồi, em được sinh ra như một em bé với đầy đủ các bộ phận, gào khóc ầm ĩ.”

    “Và người ta phát hiện ra những gì người trong tổ chức đó đang thực hiện. Phòng nghiên cứu đã bị đột kích, và các mẫu vật được chuyển về dưới sự giám sát của liên bang cho đến khi có quyết định của việc ai là người có tội gì và ai là người hiến tế bào đầu tiên cho 4000 đứa trẻ này. Những số sê ri đều khớp với sổ sách, và mọi người được liên lạc.”



    Tay anh siết chặt quanh người cô. “Chắc chắn đó là một cú sốc lớn. Trong một lúc bạn nghĩ là bạn đang cứu lấy mạng sống của mình, hay mạng sống của con mình, và thay vì vậy bạn thấy cả một con người trước mặt. Họ đã làm gì? Cụ thể là bố mẹ em ấy, nhưng cả những người khác nữa?”

    “Một số người đã quá hoảng sợ để đối mặt với nó, và những đứa trẻ đã được cho làm con nuôi hoặc tiếp tục nằm dưới sự bảo hộ của liên bang. Một vài người đưa những đứa trẻ đó về nhà với họ. Đó là điều mà bố mẹ em đã làm. Không quan trọng là mẹ em có sinh ra em hay không, về mặt di truyền, em vẫn là con của họ, và giống hệt với Annora khi chị ấy bằng tuổi em. Nhưng thực tế là những Bản sao hoàn toàn là con người có nghĩa là những người đáng lẽ ra được cứu thì lại chết đi vì vào lúc thí nghiệm này bị phát hiện ra thì đã không còn đủ thời gian để nuôi trồng những nội tạng dùng để thay thế, cái mà đáng ra phải được nuôi trồng ngay từ đầu.”

    “Chúa ơi.” Đó là tất cả những gì anh có thể thốt ra, nhưng sự thấu hiểu sâu sắc đã nằm trong giọng nói của anh, trong một từ duy nhất đó.

    “Họ trao cho em tên đệm tương tự như chị ấy, Tzuria, với sự tưởng nhớ đến Annora. Chị ấy đã chết 3 tháng sau khi cha mẹ em đưa em về nhà. Em không nhớ chị ấy, và trong một thời gian dài, khi nhìn thấy ảnh chị ấy, em đã nghĩ đó chính là mình.”

    “Anh không thể tưởng tượng được cha mẹ cảm giác ra sao,” anh nói một cách trầm ngâm. “Họ đã phải chôn cất chính con họ, và giờ….em ở ngay đó, một đứa trẻ tương tự, chỉ khác là khỏe mạnh hơn.”

    “Mẹ em nói em đã cứu vớt linh hồn bà, rằng bà có thể chỉ cần nhìn vào em và thấy một đứa bé cần bà và phụ thuộc vào bà. Em nhìn giống Annora, nhưng cùng lúc đó, em là một người khác hoàn toàn. Annora dành phần lớn thời gian của cuộc đời chị ấy trên giường bệnh, trong khi em khỏe mạnh và hiếu động. Nhưng mẹ luôn bảo vệ em, và vì những vấn đề về mặt luật pháp vẫn rất nhạy cảm, cũng như những vấn đề đạo đức mọi người có với các Bản sao….Em đã luôn rất cẩn thận với lời nói và việc làm của mình. Bà đã nói với em ngay từ khi em đủ lớn để hiểu rằng em không thể vướng vào bất kỳ loại rắc rối nào.”

    “Điều đó là quá nặng nề đối với một đứa trẻ.” Anh ôn lên trán cô. “Thì ra đó là lý do em dường như quá..”

    “Giống robot?” cô kết thúc câu của anh một cách khô khốc.

    “Anh đang định nói ‘lý trí’.” Anh tặc lưỡi. “Anh đã học được bài học của mình rồi. Từ bắt đầu bằng chữ cái ‘R’ sẽ không bao giờ phát ra từ miệng anh nữa.”

    “Giống robot chính xác là cách em vẫn sống, và nó đã cứa vào em như một vết dao khi anh nói vậy, chỉ vì em đã nhận ra em đã luôn kiềm chế bản thân như thế nào. Em chưa bao giờ cho phép bản thân thực sự giận dữ, em chưa bao giờ la hét, em chưa bao giờ khiêu vũ. Em kiềm chế mọi thứ bên trong, vì mọi thứ đều dường như quá bạo lực, hoặc quá nhiệt tình, hoặc quá làm sao đó, có thể được sử dụng để khiến những người như em bị tuyên bố một cách hợp pháp là một mối nguy hiểm của xã hội.”

    “Anh không thể làm cách nào diễn tả được anh hối hận đến mức nào khi nói như vậy.” Anh hôn cô lần nữa, lần này giữ cằm cô ngẩng cao để anh có thể chạm đến môi cô. “Khi anh thấy mình khiến em tổn thương đến mức nào, anh muốn đá chính mình.”

    “Và anh đã sợ rằng anh đã hủy hoại cơ hội có sex,” cô thêm vào.

    “Cả cái đó nữa.”

    Cô ngáp, đột nhiên thấy kiệt sức. Cô vẫn chưa thể tin được anh đã chấp nhận tình huống của cô một cách tự nhiên như thế nào, khi mọi người ở thời đại của cô đã rất sững sờ với việc này. “Một vài Bản sao đã làm mọi việc rất tốt,” cô thừa nhận. “Rối loạn nhân cách dường như là hiện tượng thường gặp hơn là những ngoại lệ. Tỉ lệ phạm tội có liên quan đến bạo lực cũng cao đối với những Bản sao. Việc bọn em có nên bị giam giữ vì lợi ích của chính mình hay không vẫn còn là vấn đề đang được tranh cãi.”

    “Anh đoán là không ai nghĩ đến việc biến một đứa trẻ trở thành người bị quản chế của quốc gia, ngăn cấm nó có một gia đình, luôn chỉ trỏ và tìm kiếm sự bất bình thường có thể gây ra rối loạn nhân cách và xu hướng bạo lực phải không? Cứ nhìn vào em mà xem. Em đã được nuôi dạy trong một gia đình với những người yêu thương em. Vấn đề lớn nhất là môi trường nơi họ trưởng thành, không có gì liên quan đến bản năng của một Bản sao.”

    “Định kiến chống lại việc nhân bản đã quá sâu sắc rồi, và vì những lý do thiết thực, nó sâu sắc đến nỗi hầu hết mọi người phản ứng với tình cảm của họ đầu tiên khi họ biết được em là một Bản sao. Em luôn nói với mọi người điều đó khi em trở nên thân thiết với họ, để họ có thể lựa chọn việc tiếp tục là bạn của em hay không. Hầu hết mọi người chọn không.”

    “Là sự mất mát của họ thôi,” anh nói ngắn gọn. “Anh đoán đó là lý do thực sự khiến em vẫn chưa kết hôn, chứ không chỉ vì áp lực công việc.”

    “Có cả vấn đề về kiếm soát việc sinh sản nữa,” cô nói, và dù đã rất nỗ lực, cô vẫn nghe được tiếng vọng của nỗi đau trong giọng nói của mình. Cô thở sâu và lấy lại sự kiểm soát bản thân. “Những bản sao không được phép có con. Về mặt luật pháp, em bắt buộc phải dùng thuốc tránh thai. Nếu em không đến để dùng liều của mình hàng năm, em sẽ bị bắt giữ và triệt sản bắt buộc.”

    Vì đang được ôm sát vào người anh, cô có thể cảm thấy sự căng thẳng đang xấm chiếm các cơ của anh, cảm thấy sức nóng của cơn giận dữ đang bừng lên trên làn da anh. “Anh phải xin lỗi khi nói điều này, nhưng điều đó đối với anh nghe như thể nền văn minh đã bị đảo ngược thay vì tiến bộ hơn. Không quan trọng công nghệ của các em như thế nào, xã hội của các em tệ thật đấy.”

    “Tuy nhiên, nếu anh đã sống ở thời điểm chứng kiến những dị tật bẩm sinh kinh khủng gây ra do nhân bản vô tính, anh có lẽ sẽ thấu hiểu hơn.”

    “Có lẽ là không. Anh là một người Kentucky; anh thích trở thành lực lượng dân quân ngầm hơn, cố gắng lật đổ những kẻ thống trị. Đối với người vùng Cao nguyên, Cuộc nội chiến đã là quá khứ rồi, và Cách mạng đã là chuyện thời tiền sử. Từ ‘thuế’ vẫn còn khiến bọn anh khó chịu.”


    “Thế thì anh sẽ không muốn sống trong thời của em đâu.” Cô thừa nhận.

    “Có lẽ là không, nhưng anh chắc anh sẽ muốn đến thăm. Thế nó như thế nào?” Anh xoay người để đối diện với cô, và như cách cô cảm nhận được cơn giận của anh, giờ cô có thể cảm nhận được sự háo hức tò mò của anh. “Dân số thế giới là bao nhiêu? Hình thức chính phủ hiện tại có còn được duy trì không? Có bao nhiêu bang? Xe cộ thế nào?”

    Cô cười khẽ và vòng một tay quanh cổ anh. “Đừng lo lắng về xe cộ nữa. Chúng được gọi là phương tiện di chuyển cá nhân, và được cấp năng lượng bởi nhiều nguồn khác nhau: từ trường, năng lượng hydro, điện. Có làn đường tự do di chuyển và làn đường được quản lý. Nếu anh chọn làn đường được quản lý, tốc độ và lượng giao thông sẽ được kiểm soát, vì vậy anh sẽ không bao giờ đi được quá nhanh, nhưng anh cũng sẽ không bị tắc đường hay kẹt xe gì cả. Anh đặt lộ tuyến của mình cho máy tính của phương tiện anh chọn, và sau đó có thể ngồi đọc sách hoặc tự giải trí cho bản thân trong khi xe của anh đưa anh đến chính xác nơi anh muốn đến.”

    “Cả làm tình nữa chứ?” anh gợi ý, và bật cười.

    Cô cũng phải cười với ý tưởng này. “Phải, con người thì vẫn là con người mà, đôi khi người ta cũng có làm tình trong xe. Nếu anh nhìn thấy một phương tiện cá nhân có màn che được nâng lên, anh có thể khá chắc chắn về chuyện gì đang xảy ra trong đó rồi. Đôi khi một cặp đôi sẽ bị bắt giữ vì không nâng màn che lên."

    “Vậy làn đường tự do thì sao?”

    “Chúng đúng như tên của mình: giao thông không bị kiểm soát. Anh tự quản lý phương tiện của mình. Anh lựa chọn tốc độ. Đã có những tai nạn kinh khủng xảy ra trên những làn đường tự do di chuyển, nhưng mỗi khi có ai đó muốn đặt ra luật lệ để chuyển những làn đường tự do sang đường được quản lý, đều nhận được sự phản đối gay gắt và các chính trị gia bị tống ra khỏi cái ghế của họ vào mùa bầu cử sau.”


    “Anh có thể tưởng tượng ra điều đó. Chính phủ có như cũ không? Vẫn là hai đảng, Dân chủ và Cộng hòa?”

    “Giờ thì đã có ba đảng rồi, nhưng không có Dân chủ và cộng hòa nữa. Hai đảng này đã được khai tử từ những năm đầu của thế kỷ 22. Không, khai tử là cách gọi sai. Họ đã thay đổi diện mạo, và họ đã trở thành loại hình khác. “Murphy” phải không nhỉ?”


    “Murphy?” Knox lặp lại. “Ai là Murphy? Hay em định nói thay đổi diện mạo (morphed) phải không nhỉ?”

    “Đúng rồi, là từ đó. Chúng đã thay đổi và hình thành hình thức chính trị như hiện nay.”

    “Vậy phần còn lại của thế giới thì sao?”


    “Một vài quốc gia thay đổi, một vài quốc gia không. Lúc này có 8 tỉ người trên thế giới. Đáng lẽ con số đã lớn hơn, nhưng đã có những loại virus đáng sợ vào khoảng cuối thế kỷ 21 đã giết chết hàng tỉ người. Con số thương vong bởi những loại virus này đã đóng góp vào sự thay đổi trong chính trị gây ra sự thay đổi với những người theo dảng Dân chủ và đảng Cộng hòa.”

    “Và các cuộc chiến tranh?”

    “Luôn luôn có chiến tranh xảy ra.”

    “Ừ, anh cũng nghĩ vậy. Về mặt bản chất thì con người không thay đổi nhiều lắm. Kể cho anh nghe về du hành vũ trụ đi. Con người đã có một căn cứ trên Mặt trăng chứ?”


    “Và trên Sao Hỏa nữa. Căn cứ trên Sao Hỏa được thiết lập dưới mặt đấy, trong hệ thông hang động; đó là cách duy nhất để được an toàn. Căn cứ trên mặt trăng vẫn được ưa chuộng nhất, vì hiện tượng dâng lên của Trái Đất. Em nghĩ khoảng 400.000 người sinh sống trên Sao Hỏa, và con số này trên Mặt trăng là trên 2 triệu người. Đã có lệnh cấm được đặt ra để ngăn không cho người mới định cư lên Mặt Trăng.”


    (Earthrise: tên một hiện tượng quan sát được trên Mặt Trăng từ tàu Apollo 8 của Nasa. Hiện tượng này chỉ việc quan sát được Trái Đất dâng lên từ đường chân trời của Mặt Trăng – như hiện tượng trăng lên hay mặt trời lên quan sát được từ Trái Đất.)

    “Anh rất muốn được lên Mặt Trăng và quan sát việc Trái Đất dâng lên,” anh lẩm bẩm. “Em đã từng chứng kiến chưa?”

    “Chưa, đó là một kỳ nghỉ vô cùng đắt đỏ. Nhân viên công vụ không làm ra nhiều tiền đến thế.”

    “Một điều nữa chưa bao giờ thay đổi,”
    anh nhận xét.

    “Em e là chưa.”

    “Không có căn cứ nào ngoài không gian nữa sao? Không có liên lạc gì với giống loài khác? Và cũng không có cách du hành nào nhanh hơn ánh sáng?”


    “Không, không và không. Nếu chúng ta sở hữu được công nghệ cuối cùng anh đề cập đến, có lẽ chúng ta sẽ làm được điều đầu tiên. Nhưng chưa ai từng thực hiện bất kỳ hình thức giao tiếp nào với dạng sự sống ngoài hành tinh nào cả.”

    “Anh thấy thất vọng đấy. Sau 200 năm, bạn nên hi vọng vươn xa hơn việc nói chuyện ám phúng của nhà hàng xóm chứ.”


    “Đương nhiên là vậy. Nhưng bọn em đã đưa được Giáo hoàng lên Mặt Trăng đấy, anh phải ghi nhận chiến công cho bọn em cho việc đó.”

    “Wow, anh sẽ phải trả tiền để được xem việc đó. Báo chí chắc đã làm rùm beng vụ đó lên và nói về nó trong một thời gian dài mất.”


    (Ở đây, Knox dùng cách nói “wall-to-wall” có nghĩa là được thực hiện trên diện rộng, vậy nên Nikita mới gặp khó khăn trong cách hiểu, vì “wall-to-wall” còn được dùng với các loại thảm phủ kín sàn phòng)

    Wall-to-wall có liên quan đến thảm, điều này thì cô chắc chắn. Cô thấy bối rối với câu này, cố gắng hiểu ra ý nghĩa của từ này. Wall-to-wall, thảm…. Chúng được trải thảm bởi những bài báo? Phải rồi, điều đó có vẻ có ý nghĩa.

    “Những bài báo sẽ không bao giờ dừng lại,” cô đồng ý, và sau đó ngáp đến chảy nước mắt, sái cả quai hàm khiến anh phải bật cười.

    “Chúng ta không có nhiều thời gian để ngủ, nhưng chúng ta có thể cố gắng chợp mắt trong khoảng một tiếng,” anh nói bên thái dương cô. “Anh sẽ giữ các câu hỏi của mình đến sau này.”

    “Đó đúng là một ý kiến hay.”
    Cô ngáp lần nữa. “Knox – cảm ơn anh.”

    “Vì điều gì?”

    “Vì không cảm thấy ghê tởm với bản chất của em.”

    “Em là một người phụ nữ,”
    anh nói một cách lặng lẽ trong bóng tối. “Và anh là một người đàn ông. Chúng ta đang bên nhau, và đó mới là điều quan trọng.”
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 7 others like this.
  19. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 26

    Nikita nằm trên giường, nhìn quanh một cách ngái ngủ trong khi Knox tắm một lần nữa trước khi đi làm. Chỉ vừa mới bình minh, nhưng những tấm rèm được kéo lại đã khiến cho phòng mờ mờ tối. Cô hơi ê ẩm, vô cùng thư giãn, và hoàn toàn đắm đuối với anh. Về mặt thể xác, cô đã bị áp đảo bởi pheromone nam của Knox thông qua tất cả những tiếp xúc về mặt thể xác giữa hai người, và về mặt cảm xúc, cô đã bị tấn công đột ngột bởi sự chấp nhận một cách dễ dàng của anh với tình trạng của cô. Cô nghi ngờ rằng sự kết hợp giữa hai thứ là quá nhiều cho hàng rào phòng thủ của cô.

    Cô không thể khiến cảm giác của cô với anh biến mất; đã quá muộn để làm vậy. Không gì cô có thể làm ngoài việc tận hưởng những khoảnh khắc với anh trong khoảng thời gian cô còn ở đây, bất kể khoảng thời gian ấy là bao lâu. Cô vẫn có một nhiệm vụ phải hoàn thành, một nhiệm vụ đầy rẫy sự phức tạp. Thậm chí nếu cô có thành công trong việc bắt giữ Hugh Byron, những chiếc vòng của cô cũng đã mất tích, bị ăn cắp bởi ai đó không nhận thức được họ đang có gì trong tay, và nguy cơ mà người đó có thể gặp phải khi sở hữu những chiếc vòng nhưng không hề biết cách vận hành chúng khiến cô sợ đến dựng tóc gáy.

    Không gì làm mờ nhạt cảm giác thỏa mãn về mặt thể xác sau khi làm tình hiệu quả bằng một liều thực tế, cô nghĩ. Nghĩa vụ gặm nhấm cô. Cô muố được cuộn tròn người lại và ngủ thêm một vài tiếng nữa, nhưng ép bản thân lật chăn ra và ra khỏi giường. Vừa ngáp cô vừa đi vào phòng ngủ còn lại và mặc chiếc áo sanssaum của cô vào; cô thích được khỏa thân với Knox, nhưng việc khoản thân hoàn toàn trước mặt anh khi anh đang mặc đồ và thực hiện các công việc khác của mình thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Cô vẫn chưa thoải mái với anh đến thế.

    Anh đã pha một bình cà phê, và cô đi theo cái mùi hấp dẫn đó vào bếp. Khi cô đi ngang qua, cánh cửa phòng tắm bật mở và một luồng hơi ấm, ẩm ướt tràn ra. Knox đứng đó, hoàn toàn khỏa thân, đang lau tóc với một chiếc khăn tắm. “Chào buổi sáng,” anh nói, mí mắt của anh sụp xuống khi anh quét ánh mắt dọc thân hình cô. “Trời ơi, anh yêu cái áo ngủ em đang mặc quá. Nó còn quyến rũ hơn một chiếc bikini nữa.”

    Cô có thể thấy rằng anh hoàn toàn thoải mái với việc khoản thâ trước mặt cô, cô nói, “Chào buổi sáng,” gửi cho anh một nụ hôn gió, và tiếp tục đi về hướng bình cà phê.

    Cô rót ra 2 cốc, và mang cả hai đến phòng tắm. Knox đang đứng trước bồn rửa mặt, chiếc khăn được quấn quanh hông anh, trong khi anh đang xịt bọt cạo râu lên lòng bàn tay. Nikita chìa một cốc ra, “Anh có muốn uống một hớp cà phê trước khi anh bôi cái đó lên mặt không?”

    “Chúa ơi, đương nhiên là có.” Anh đặt bình kem cạo râu xuống và cầm lấy chiếc cốc, một tia sáng hạnh phúc lướt qua mặt anh khi anh hớp thứ chất lỏng nóng đó. “Vài người không hề uống cà phê,” anh bình phẩm, “Anh luôn thắc mắc họ là kiểu người gì.”

    Cô không thể kìm chế bản thân tránh được việc luồn tay xuống dưới tấm khăn và vỗ lên bờ mông đẹp đẽ của anh, và khiến bản thân bị hôn một cách say đắm, ít nhất là say đắm hết mức có thể, vì cả hai người họ đều đang cầm cà phê và tay kia của anh thì đang đầy bọt. “Em có nên bắt đầu nấu bữa sáng không?” cô nói khi môi đã được tự do. Cô ấn một nụ hôn lên bờ vai trần của anh. “Nếu anh nói cho em nên nấu gì và nấu như thế nào, em có thể thử xem.”

    Anh nhìn cô với cảm giác tội lỗi. “Anh không nghĩ là chúng ta có gì trong nhà cho bữa sáng đâu.”

    “Không có thức ăn à?”

    “Không có thức ăn. Chúng ta sẽ ăn ngoài. Và anh sẽ mua thực phẩm hôm nay, anh hứa đấy.”

    Nếu anh có thời gian, cô nghĩ. Anh chắc chắc chưa hề có một phút dư dả nào trong vòng 2 ngày qua. Có lẽ cô có thể làm dideuef này thay anh, sau khi anh đã thuê một chiếc xe cho cô. Anh có những vụ khác anh cần quan tâm đến; anh cũng cần phải dành thời gian cho chúng nữa. Cô phải phụ thuộc vào anh để điều chỉnh hiện tại, vì thế cho đến khi anh rảnh rỗi, cô cũng có thể khiến bản thân mình trở nên hữu ích.

    Trong khi cô chờ anh tắm xong, cô đi vào phòng khách và xem xét giá sách của anh. Một loạt sách to, khá mỏng khiến cô chú ý; cô kéo một quyển ra và, không nhìn vào trang bìa, mở nó ra. Nó đầy ảnh.

    Cô giở lại sách và nhìn vào bìa. Nó làm bằng da màu trắng, và từ Trường Trung học Pekesville được in trên tấm da, cùng với con số 1986. Đó là một cuốn niên giám của trường trung học của Knox. Mỉm cười, cô giở qua các trang cho đến khi tìm thấy Knox, một thanh niên nằm trong băng đảng với một biểu cảm nghiêm túc trên gương mặt. Anh phải đang ở độ tuổi 16 hay tầm đó, với dấu vết của sự mạnh mẽ đã xuất hiện trên cổ và bờ vai anh, và một chút bóng mờ trên hàm cho thấy anh đã cạo râu, một cách thường xuyên.

    Cô đẩy quyển niên giám quay trở lại chỗ cũ và lấy ra một quyển khác. Quyển này từ năm 1985, năm mà chiếc rương thời gian được chôn xuống. Cô tìm thấy tấm ảnh của lớp Knox, chú ý thấy sự khác biệt mà khoảng thời gian một năm đã tạo ra. Anh nhìn rất trẻ trong bức ảnh này, mang nét của một cậu bé chưa trưởng thành, mà không có bóng của bộ râu mà anh mang trong năm tiếp theo.

    Vì tò mò, cô giở đến trang đầu tiên của cuốn niên giám và bắt đầu lật giở từng trang. Tấm ảnh của cả khóa khiến cô chũ ý và cô nhìn vào người huấn luyện viên của đội bóng, người đã tự sát, Howard Easley. Ông là một người đàn ông khá dễ nhìn, cô nghĩ, khuôn mặt của ông không hề mang lại dấu hiệu nào của sự buồn bã bên trong đã dẫn đến hành động cực đoan cuối cùng của ông. Việc đoán tuổi của một ai đó từ một tấm ảnh khá là khó khăn, nhưng cô nghĩ ông nhìn vào khoảng chớm 40, với mái tóc đen dầy và đôi mắt màu xanh nhạt nổi bật.

    Cô đọc danh sách bằng cấp của ông; ông có một vài bằng cấp, trong đó bao gồm cả một bằng thạc sỹ, và ông dạy cả Giáo dục thể chất và Vật lý. Ông đã học Đại học Kentucky, và Học viện Công nghệ California.

    Cô vẫn nhìn chăm chăm vào một trang khi Knox vào phòng vài phút sau, đã cạo râu sạch sẽ và đang mặc dở quần áo. Ít nhất thì anh đã mặc quần jeans vào. “Em đang xem cái gì vậy?”

    “Cuốn niên giám năm 1985 của anh.” Cô ngẩng lên nhìn vào anh. “Huấn luyện viên bóng đá, ông Howard Easley ấy. Ông ấy đã đi học tại Cal Tech. Em không nghĩ một sinh viên tầm thường có thể nhận được bằng thạc sỹ từ trường này phải không? Ông ấy dạy Vật lý và cả Giáo dục thể chất. Ông ấy là người duy nhất cho đến lúc này có đủ tiềm năng để viết thứ mà chúng ta đang tìm kiếm.”

    Anh đến đứng cạnh cô, đầu hơi cúi xuống khi đọc các bằng cấp của huấn luyện viên. “Anh không hiểu rõ về ông ta đến thế. Anh chỉ mới là học sinh lớp 11 khi ông ấy tự sát, và anh tham gia vào đội bóng rổ thay vì bóng đá. Ông ấy không gây ấn tượng cho anh như một thiên tài, nhưng những đứa trẻ thì biết gì chứ? Anh đã chú ý đến các cô gái và bóng rổ chứ không phải một ông già ở tuổi 40. Và không, Cal Tech không nhận những sinh viên tầm thường.”

    “Ông ấy có còn gia đình sống trong khu vực này mà chúng ta có thể nói chuyện không? Ai đó mà anh biết có thể làm cùng với ông ấy với những dự án nhỏ, những việc mà họ làm vì sở thích chẳng hạn?”

    Knox đặt tay trái của anh lên phía sau cổ cô, và xoa bóp nhẹ nhàng. “Anh không nghĩ ông ấy là người vùng này, nhưng anh có thể tìm hiểu. Vẫn có những người quanh vùng biết ông ấy. Anh có thể tìm ra những dự án mà ông ấy đã tham gia mà ông ấy còn học ở Cal Tech.” Anh liếc xuống cô. “Em đã nói từ ‘Cal Tech’ thay vì Học viên công nghệ California như trong những gì cuốn niên giám đề cập đến. Xem ra Cal Tech vẫn tồn tại ở thời đó phải không?”

    “Cal Tech là nơi đầu tiên nghiên cứu về Du hành Vũ trụ. Nó có mối liên hệ mật thiết với NASA.”

    “Du hành vũ trụ khác xa với Du hành thời gian.”

    “Thực ra là không. FTLT và du hành thời gian có rất nhiều điểm chung.”

    Anh nheo mắt lại, nghĩ về từ viết tắt đó. “Anh hiểu rồi. ‘Du hành với vận tốc nhanh hơn ánh sáng’ (Faster-than-light travel). Chúng ta đã có công nghệ đó chưa?”

    “Vẫn chưa,” cô nói một cách đầy hối tiếc. “Nhưng đội làm việc với FTLT tình cờ phát triển công nghệ du hành thời gian khi những nghiên cứu đầu tiên lại dẫn đến một hướng phát triển bất ngờ.”

    Họ nhìn vào nhau, mắt họ sáng lên với sự háo hức khi khoảnh khác ơ rê ka đến với họ. Đôi khi, dù không có đầy đủ các mảnh ghép của trò ghép hình, một người vẫn có thể biết chắc chắn bức tranh trông như thế nào khi các mảnh ghép đã vào đúng chỗ. Đây là một trong những khoảnh khắc như vậy, và họ biết Howard Easley là chìa khóa. Vấn đề là ông ta đã chết được hơn 20 năm rồi.

    “Vẫn có những người sống quanh đây biết Huấn luyện viên Easley.” Knox nói. “Max Browning, ví dụ; anh ta tham gia vào tất cả các trận bóng đá.”

    “Tên của ông Browning đã được nhắc đến rất nhiều lần,” Nikita nhận thấy. Cảnh sát không tin vào sự tình cờ; liệu họ có nên xem xét ông Browning kỹ hơn không?

    “Trong nhiều năm qua, chỉ có hai phóng viên, và họ cũng tự chụp hình. Max có thể có file lưu của những bức ảnh đã không được đăng trên tờ báo vào ngày đó, vì vậy ông ấy nằm hàng đầu trong danh sách những người cần liên lạc của anh.” Anh nhíu mày. “Anh cần nói chuyện với Ruth và tìm hiểu xem bà đang làm cái chết tiệt gì. Sẽ có những cú điện gọi đến về vụ giết Jesse và anh cũng sẽ phải kiểm tra cả những cái đó nữa.”

    Anh đi về hướng phòng ngủ, vẫn đang lẩm bẩm với bản thân, tâm trí anh đang chạy đua khi anh cố gắng cân nhắc tất cả những việc anh cần làm trong ngày hôm đó. Mỉm cười, Nikita đi theo anh, nhưng chỉ để lấy quần áo sạch từ phòng ngủ của cô và đi vào phòng tắm để tắm rửa một cách nhanh chóng. Cô phải gội đầu, vì vậy mái tóc vàng của cô thế là đi thẳng xuống cống. Chỉ là một vấn đề đơn giản khi tiếp tục dùng thuốc nhuộm polymer, và sau đó là làm khô tóc.

    Khi cô ra khỏi nhà tắm, Knox liếc cô và sặc cà phê. Một cách tự nguyện, cô đến chỗ anh và vỗ lên lưng anh. Qua đôi mắt ngập nước, anh nhìn chăm chăm vào mái tóc đỏ rực của cô. “Wow,” anh cuối cùng cũng cố gắng để cất nên lời. “Anh nghĩ anh thích màu tóc này của em hơn màu vàng. Em có bao nhiêu màu tất cả thế?”

    “Ba. Vàng, đỏ và đen.” Cô thích việc có thể thay đổi màu tóc dễ dàng đến thế, và cô đặc biệt thích sắc đỏ vì nó rất hợp với làn da và màu mắt cô. “Hàng xóm của anh sẽ nghĩ anh là một anh chàng rất đào hoa đấy.”

    “Ý em là họ sẽ nghĩ anh là một chú chó săn.” Anh vuốt những ngón tay qua những lọn tóc đỏ của cô, xem ánh sáng lấp lánh xuyên qua chúng.

    “Em ghét việc cứ phải nhai đi nhai lại việc này, nhưng em cũng cần phương tiện đi lại. Em không thể ngồi đây cả ngày, và em cũng không thể ngồi trong văn phòng anh.”

    “Chết tiệt thật. Xem này, em có thể lái một xe sang số bằng tay không?”

    Cái nhìn mà cô trao cho anh hoàn toàn trống rỗng.

    “Một bộ sang số bằng tay. Cần sang số.”

    Cô nhướng mày. “Em có thể lái cái cần của anh, anh chàng to xác.”

    (Ở đây, chị đang hiểu lầm một cách nghiêm trọng, hic. Anh đã dùng từ “a stick shift” để chỉ cần sang số trên những xe sang số bằng tay chứ không phải sang số tự động. Nhưng chị lại hiểu anh đang hỏi chị về cái…… của anh.)

    Anh tặc lưỡi và trao cho cô một nụ hôn vội vàng. “Rõ ràng là em có thể; em đã lái anh quá mạnh đấy. Nhưng nó không phải cái mà anh đang nhắc đến. Một số chiếc xe – hầu hết là xe thể thao và xe tải – có bộ sang số bằng tay. Em phải tự sang số.”

    “Vậy thì, không, em không thể. Em còn chưa bao giờ nhìn thấy một cái như thế.”


    “Thế thì không thể mượn chiếc xe tải cũ của bố anh không được rồi. Anh sẽ lấy một cái xe cho em; anh đã hy vọng không cần phải dùng một công ty cho thuê xe, nhưng anh không thấy có cách nào khác cả.”

    “Dùng một hãng cho thuê xe thì sao hả anh?”


    “Những chiếc xe rất dễ nhận ra, đó là lý do thứ nhất. Tất cả những chiếc xe đều có dán đề can với tên công ty cho thuê ở chỗ nào đó trên chúng. Xe tải cũ của bố anh thì nhìn giống hệt như cả ngàn chiếc quanh đây; sẽ chẳng ai chú ý đến nó đâu.”

    “Anh dạy em cách lái xe sang số bằng tay được không?”


    “Anh có thể chỉ cho em vài điều căn bản, nhưng việc đó sẽ phải mất thời gian thực hành lâu đấy. Để xe bị giât mỗi lần em tăng ga, sang số sẽ khiến người ta chú ý, mà anh không muốn điều đó xảy ra.”

    “Việc không biết ai đang cố giết em chắc chắn là một điều bất lợi,”
    cô chỉ ra.

    Anh cằn nhằn, “Đừng có quá chán nản về nó thế chứ.”

    Nikita chống tay lên hông cô và liếc anh. “Em đang chán á? Em đã theo kỹ từng chỉ dẫn một mà. Em đã không hề mở cửa đêm qua khi em thực sự, thực sự muốn quăng người phụ nữ đó ra khỏi hiên.”

    “Và anh thật sự cảm kích sự kìm chế của em. Anh đoán anh chỉ đang nói là hãy cẩn thận thôi. Em đã cầm theo điện thoại chưa?”

    “Em cầm ở đây rồi.”

    “Vũ khí thì sao?”

    “Đã xong.”


    “Thế còn vũ khí la ze?”

    “Em sẽ chẳng bao giờ đi đâu mà không có vũ khí la ze của mình.”


    “Vậy thì em được trang bị đầy đủ rồi.” Anh cúi xuống và hôn cô, bờ môi anh ấm áp và nụ hôn thì từ tốn. “Dù anh muốn tống em vào một bộ áo giáp nếu anh có thể. Hãy đi ăn sáng thôi nào, sau đó chúng ta sẽ đến một công ty cho thuê xe và hy vọng rằng họ vẫn còn xe cho thuê.”

    Nikita vuốt tóc về sau và buộc chặt lại, và sau đó đội chiếc mũ bóng chày và kính râm của cô lên. Cô đang chết đói đến nơi, vì vậy cô mừng vì anh đã đặt bữa sáng lên đầu danh sách. Cô sẽ ăn cái gì đó ngoài trứng. Cô thấy món đó không hợp khẩu vị với cô lắm.


    Hugh Byron đỗ xe ở lề đường cách đó vài ngôi nhà. Hắn ta đã mạo hiểm việc có ai đó có thể ra ngoài và phàn nàn về cách hắn đỗ xe ở đó, nhưng đã có vài chiếc xe đỗ bên lề đường, vì vậy hắn đang hy vọng hắn hòa nhập với chúng. Hắn có một cặp ống nhòm nằm trên ghế xe bên cạnh hắn, và hắn theo dõi ngôi nhà của Knox Davis để tìm kiếm dấu hiệu của người ở trong. Tay thanh tra trưởng của hạt sẽ rời nhà vào lúc này, Ruth nói hắn có thói quen đi làm sớm, và giờ đã sắp 7 giờ rồi.

    Cuối cùng hắn nhìn thấy có người di chuyển ở phía sau ngôi nhà, và hắn tóm lấy chiếc ống nhòm. Chúng đã được chỉnh tiêu cự, vì vậy tất cả những gì hắn phải làm là chĩa chúng về phía hai người đang đi ra khỏi nhà.

    Hắn lẩm bẩm chửi thề; Davis đang đứng giữa hắn và người phụ nữ. Nhưng hắn có thể nhìn thấy màu tóc đỏ của cô ta dù cô ta đang đội một chiếc mũ bóng chày; kính râm giấu đi màu mắt của cô ta. Cô ta nói gì đó với Davis và cười với hắn ta, và bàn tay hắn ta trượt xuống ôm lấy mông cô ta khi hắn cúi xuống hôn ả. Sau đó hắn mở cửa xe cho cô ta, đóng nó lại và đi vòng để sang bên kia.

    Ruth đã đúng về một điều, Byron thầm thấy thích thú; Davis chắc chắn là đã làm tình với cô ta. Nhưng họ đã nhìn thấy một cô nàng tóc vàng, và cô gái này tóc đỏ. Một là Davis có nhiều hơn một người phụ nư, hai là người phụ nữ đó đã thay đổi màu tóc.

    Thay đổi màu tóc quá dễ đến nỗi nó không khác gì thay quần áo. Với chiếc mũ bóng chày và chiếc kính râm, Byron không thể nhìn rõ mặt người phụ nữ để xác định danh tính cô ta một cách chính xác, nhưng bản năng cho hắn biết đó là Nikita Stover. Cô ta có cùng chiều cao và khoảng cân nặng tương tự, và cô ta đi cùng với Davis. Stover đã được nhìn thấy lần cuối khi đang rời khỏi tòa án cùng với anh ta; sau đó Davis đã báo cáo lại việc cô ta đã rời khỏi thị trấn. Byron biết cô ta không đời nào làm việc đó, vì vậy nó có nghĩa là Davis đang nói dối.

    Stover đã khiến Davis trở thành đồng lõa của cô ta, có lẽ là trói anh ta lại bằng tình dục. Không ai biết được cô ta đã nói với anh ta nhiều đến mức nào, nhưng có lẽ là không nhiều lắm; cô ta là một trong những đặc vụ tuân thủ luật nhất, người không có khả năng ứng biến hoặc quá sợ để lách luật. Mặt khác, có lẽ hắn đã đánh giá thấp cô ta, vì cô ta rõ ràng là đã ứng biến với Davis. Cô ta đang sử dụng anh ta để có nơi ăn chỗ ở, và có lẽ là đang sử dụng những nguồn lực anh ta có để điều tra.

    Trong vài giây ngắn ngủi, hắn cân nhắc việc loại bỏ cả hai người bọn họ, nhưng cảnh sát có xu hướng mất đi tính khách quan khi một trong những đồng đội của họ bị giết hại. Những cảnh sát địa phương đã khó chịu sẵn rồi, với 3 vụ sát hại trong vòng một tuần với thị trấn nhỏ này, nơi không nhìn thấy nhiều vụ sát hại đến thế trong 1 năm. Những người dân cũng trở nên cảnh giác, và chú ý rất sát với những điều gì bất thường.

    Không, điều này chắc chắn phải được thực hiện với thời gian và địa điểm riêng tư hơn. Nó không quan trọng. Hắn biết cô ta ở đâu. Cô ta nghĩ đã được an toàn, nhưng rõ ràng Davis đi vắng rất nhiều đêm và Stover sẽ bị để lại nhà một mình. Và hắn sẽ xử cô ta vào lúc đó.
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 9 others like this.
  20. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 27

    Knox lái xe từ từ dọc theo con đường với những hàng cây rợp bóng, đầu anh ngoái lại. Anh đang cầm điện thoại trong tay và bấm số. “Hãy cho tôi thông tin đăng ký của xe mang biển số sau.” Anh đọc con số và sau đó thêm vào “Càng nhanh càng tốt.”

    Với Nikita anh nói, “Hãy quan sát chiếc xe kia, chiếc xe có màu xanh thẫm. Đó có phải là chiếc xe em nhìn thấy tối qua không?”

    Cô liếc nhanh về phía nó, nhưng cô không cần phải làm vậy. “Không, chiếc tối qua màu sáng, có thể là màu ghi sáng hoặc trắng.”

    “Vậy thì đó có thể là xe của Ruth.”

    “Có chuyện gì với chiếc xe màu xanh thẫm đó à?”

    “Như anh biết, nó không thuộc về bất kỳ ai trong khu phố này cả.”


    Cô không hề ngạc nhiên khi anh có thể nhận ra tất cả các xe của hàng xóm. Cảnh sát thường chú ý đến mọi điều. Không hề cố tình, họ chú ý đến cách ăn mặc, cử chỉ, khung cảnh xung quanh họ. Nếu cô và Knox đang lái xe dọc theo một con đường cao tốc đông đúc, anh có thể đã miêu tả mọi chiếc xe đi vượt qua anh trong 5 phút vừa qua, cộng thêm tất cả những chiếc xe xung quanh anh, và vài chiếc đỗ bên lề đường. Làm việc trên đường phố giúp người ta phát triển cách nhận thức nhanh nhạy như vậy. Cô cũng có cách làm tương tự, không thiên hướng về xe cộ lắm, nhưng cô phát triển cách nhận thức đó trong việc phân tích các bằng chứng và báo cáo. Cô biết cái gì sai, và cái gì quan trọng.

    Lực lượng bảo vệ luật pháp vào thời của cô đã quá phụ thuộc vào công nghệ, cô nghĩ. Giao thông được điều khiển vởi các camera quan sát ở hầu như khắp mọi nơi, trừ những con đường nhánh dài hoang vắng của đường cao tốc về phía Tây; và như một hậu quả, cô không hề biết đến một cảnh sát nào ở thời của cô chú ý đến giao thông. Họ vẫn chú ý đến mọi người, có thể đọc ra ngôn ngữ cơ thể như một chuyên gia, nhưng một phần sự cẩn trọng của họ đã bị bỏ rơi và trao cho những chiếc camera không bao giờ nghỉ ngơi.

    Con người đã học được những bài học tương tự hết lần này đến lần khác, quá nhiều cuộc chiến trong nhiều thập kỷ - những trận chiến chống khủng bố kéo dài trong thế kỷ này đã được tiến hành trong không gian mạng. Các vệ tinh thông tin liên lạc đã trở thành mục tiêu, không phải bằng tên lửa, mà bằng những thủ thuật spam, làm nghẽn và virus siêu công nghệ. Những trang web bảo mật đã bị hack. Khi mạng máy tính bị sập, thương mại sẽ là điều đầu tiên bị làm gián đoạn, và sau đó là sập theo hoàn toàn. Có được nền khoa học công nghệ cực kỳ tiên tiến là một điều tuyệt vời; nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào nó thì quá ngu ngốc.

    Điện thoại của Knox kêu beep một tiếng và tiếng một người phụ nữ nói. “Biển đăng ký đó thuộc về Enterprise.”

    “Okay, thanks.”

    “Được rồi, cảm ơn cô.”


    Enterprise là tên của một hãng cho thuê xe mà Nikita đã dùng để thuê chiếc xe của cô. “Đó là một hãng cho thuê xe phải không?”. Cô hỏi.

    “Đúng, và anh sẽ tìm ra người đã thuê nó.”

    Nikita thở dài. Cô không nghĩ mình sẽ được ăn sáng sớm. Mặt khác, có điều gì đó đã khiến Knox bất an, và cô chỉ vừa nghĩ rằng bản năng của anh sắc bén hơn nhiều so với cảnh sát vào thời của cô, và điều dĩ nhiên là cô nên chú ý đến những điều mà bản năng đó mách bảo. Có lẽ một trong những người hàng xóm của anh đã có khách ghé thăm hoặc một chiếc xe của gia đình họ phải mang đi sửa, nhưng nó phải được điều tra.

    Cô không hề ngạc nhiên, văn phòng cho thuê xe mà anh đến là cùng một nơi mà cô đã thuê chiếc xe của mình; nó phải là văn phòng duy nhất trong thị trấn, cô nghĩ. Một thị trấn nhỏ như Pekesville, không có sân bay thương mại, sẽ không có sự bùng nổ về dịch vụ cho thuê xe. Tòa nhà một tầng gọn ghẽ được xây bằng gạch vàng, với một sự bổ sung nửa vời của khung cảnh tự nhiên với một vài bụi cây được trồng hai bên cửa. Khu vực đỗ xe nhỏ gọn ở đằng trước được che bóng bởi những cây to, trong khi khu vực được rào lại phía sau có những chiếc xe có sẵn để cho thuê. Thật không may, như cô quan sát thấy, khu vực đó đang hoàn toàn trống rỗng.

    Knox tháo kính râm xuống khi họ bước vào trong, và Nikita làm tương tự, móc một bên gọng kính lên cổ áo phông của cô.

    “Này, Dylan,” anh gọi người đàn ông trẻ siêng năng ngồi sau quầy. “Có Troy ở đây không?”

    “Anh ấy đang ở phía sau, ông Davis. Tôi có cần gọi anh ấy không?” Dylan liếc nhanh về phía Nikita, sau đó thêm lần nữa. Cô mỉm cười với anh ta, và anh ta đỏ mặt khi nhìn ra chỗ khác.

    “Có, tôi có một vài câu hỏi mà tôi nghĩ anh ấy có thể giúp.” Knox nghiêng người tựa lên quầy, thể hiện một thái độ uể oải. “Sẽ chẳng mất thời gian lắm đâu.”

    Dylan biến mất qua cánh cửa. Nikita dựa người vài quầy bên cạnh Knox. “Rõ ràng là anh biết anh ta.”

    “Ừ, anh bắt quả tang thằng nhóc đó đang hút cần sa khi thằng nhóc mới 12 hay 13 tuổi. Dọa nó sợ gần chết. Tuy nhiên thì từ sau đó anh chưa bao giờ gặp rắc rối với nó nữa.”

    “Anh làm tốt lắm,” cô nói, vỗ vào mông anh một cách khen ngợi.

    Một bên chân mày anh nhướng lên khi trao cho cô cái nhìn xanh thẳm, lâu dài đặc trưng của anh. “Em cứ làm vậy mãi. Em thấy gắn bó với mông anh hay thế nào vậy?”

    “Nó đẹp mà.” Cô thì thầm, vì cô có thể nghe tiếng Dylan đang quay lại. Cô đặt cả hai cánh tay lên quầy, một hình ảnh lịch thiệp một cách cố ý.

    Dylan dẫn theo một người đàn ông lực điền mặc một cái áo sơ mi trắng cộc tay và cà vạt, đang lau tay của anh ta bằng một cái khăn. “Tôi đang rửa một trong những chiếc xe,” anh ta giải thích, khiến Nikita tự hỏi tại sao người quản lý lại đang làm công việc chân tay, nhưng có lẽ anh ta là kiểu người thích làm những công việc ngoài trời hơn là ngồi bàn giấy. “Dylan nói rằng anh có một câu hỏi. Hãy sang văn phòng của tôi và tôi sẽ xem mình có thể giúp gì được anh không.”

    Không thể dễ dàng như thế được, Nikita nghĩ khi cô và Knox theo Troy quay lại văn phòng của anh ta. Vào thời của cô, không một mẩu thông tin hay bằng chứng nào được đưa ra mà không có lệnh của tòa. Không quan trọng thông tin đó nhỏ bé đến đâu, không quan trọng là người cảnh sát đó có phải đang nói chuyện với một thành viên trong gia đình anh ta không, tất cả mọi thứ cần phải được phê chuẩn.

    “Tina, đây là Troy Almond. Bọn anh đi học cùng nhau. Troy, đây là Tina.”

    Nếu Troy có để ý thấy Knox đã bỏ qua họ của cô, anh ta cũng không chỉ ra, mà chỉ mỉm cười và nói “Rất vui được gặp cô.” Và chờ cho đến khi Nikita đưa tay cô ra trước khi anh đưa tay ra và bắt tay cô. Vào thời của cô, không ai còn bắt tay nữa; thủ tục đó đã bị loại bỏ khi đại dịch virus đã giết hại hàng triệu người. Dù vậy cô đã đọc về nó, và đọc được rằng những người đàn ông lịch sự sẽ không chìa tay ra trước mà chờ người phụ nữ đưa tay ra, vì có thể cô ấy sẽ cảm thấy không thoải mái khi bắt tay. Đó là vấn đề về việc trao đổi pheromone, cô nghĩ, về mặt bản năng, nó khiến một vài phụ nữ lo lắng khi phải chạm vào một người đàn ông mà họ không biết.

    Troy ngồi xuống sau bàn của anh ta, và Knox cùng Nikita ngồi xuống hai chiếc ghế còn lại trong không gian bé xíu đó. Anh ta nói với Knox, “Tôi có thể làm gì cho anh, anh bạn?”

    Nikita chớp mắt. Cô chắc chắn từ đó là tiếng Anh, nhưng một lần nữa cô thấy bối rối. Tuy nhiên Knox không hề gặp vấn đề với nó.

    (Troy đã dùng từ “bud” thay cho “buddy” là “anh bạn, cậu bạn” gọi theo nghĩa thân mật nên Nikita không rõ từ đó nghĩa là gì)

    “Tôi có biển số một chiếc xe của anh; có thể đến từ đây, hoặc địa điểm khác. Tôi cần biết ai đó thuê nó.”

    “Knox, anh biết là tôi không thể cung cấp thông tin đó mà không có lệnh từ tòa án,”
    Troy phản đối.

    Knox gãi cằm. “Tôi có thể xin một lệnh từ tòa án, nhưng tôi nghĩ là có thể tiết kiệm được thời gian. Nó là một đầu mối có liên quan đến những vụ sát hại gần đây.”

    Troy nuốt mạnh. “Anh nghĩ tôi đã cho một tên giết người thuê xe của mình? Một tên giết người đang ở đây sao?”

    “Tôi phải nói điều đó là có khả năng đấy. Tôi chỉ cần một cái tên, và số bằng lái thôi. Ngay bây giờ tôi không cần giấy tờ gì cả, dù nếu điều tôi nghi ngờ là đúng, tôi chắc chắn sẽ có lệnh được đưa ra để bảo vệ anh.”

    “Chết tiệt, không thể tin được điều đó,” Troy nói một cách choáng váng. “Xin lỗi cô. Nhưng một tên giết người!”

    “Tôi không chắc về điều đó; nhưng đấy là một đầu mối.” Knox nói một cách kiên nhẫn.

    “Chết tiệt thật, Knox, tôi biết anh và biết rõ tính anh. Xin lỗi cô lần nữa nhé. Nếu anh đang theo đuổi đầu mối này, anh chắc chắn một cách chết--- chắc chắn là đã có gì đó trong tay. Xin lỗi cô nhé. Được rồi, tôi sẽ kiểm tra dữ liệu trong máy tính.”

    Troy quay chiếc ghế của anh ta sang bên để chạm đến bàn phím và lôi ra một chương trình trên máy. “Biển số là gì?” anh ta hỏi, và Knox đọc lại biển số trong khi Troy nhập nó vào chương trình. Anh ta nhấn Enter , và chờ đợi. Một màn hình khác nhảy ra, và anh ta thông báo, “Tôi không nhận ra cái tên này. Dylan có lẽ đã xử lý trường hợp này.”

    “Ai vậy?”

    “Một gã Byron Hughes nào đó. Số đăng ký lái xe của California.”
    Anh ta đọc số đăng ký lái xe và Knox viết lại nó.

    “Cảm ơn, anh bạn, đó là tất cả những gì tôi cần biết,” Knox nói, và vỗ vai Troy. “Giờ, anh có chiếc xe nào bây giờ không? Tina cần phương tiện đi lại.”

    “Giờ thì không có gì.” Troy nói một cách hối tiếc. “Một chiếc theo lịch sẽ được mang trả lại vào chiều nay, nhưng đó là thời gian sớm nhất mà tôi có gì đó cho anh.”

    “Anh gọi cho tôi khi nào xe được trả lại được không?” anh hỏi, nhanh chóng để lại một số điện thoại trên tờ giấy nhớ.

    “Chắc chắn là được. Tôi sẽ không nói cho ai biết về những gì anh hỏi đâu.”

    “Cảm ơn anh nhé.”

    “Đó là một sự trùng hợp quá lớn,”
    Nikita nói khi họ quay trở về xe Knox. “Hugh Byron, Byron Hughes.”

    “Phải,” Knox nói một cách ủ ê. “Và hắn ta đang ngồi ngay ngoài nhà anh.”

    “Hắn biết em ở đó.” Nikita nhìn chăm chăm về phía trước qua kính chắn gió. “Hãy cho em xuống ở ngã rẽ tiếp theo. Nếu em đi với anh, anh sẽ bị nguy hiểm đấy.” Giọng của cô bình tĩnh và lý trí. Cuộc săn đuổi đã bắt đầu, và cô có thể cảm thấy từng phần trong cô bắt đầu tập trung, tập trung vào mục tiêu trước mặt. Hugh có lẽ biết cô đang ở đâu, nhưng giờ thì cô biết hắn ta ở đâu, hoặc ít nhất nơi hắn ta đã từng ở. Và nếu hắn đã quan sát nhà Knox trước đây, chắc chắn hắn sẽ làm lại việc đó, chờ để có tầm bắn rõ ràng và hạ gục cô. Lợi thế đang nghiêng về phía cô, và trên thực tế, cô có cơ hội cao hơn để hạ hắn khi cô đi bộ.

    “Anh sẽ không thả em ở đâu cả.” Anh bắn một ánh nhìn giận dữ về phía cô. “Đừng có mà gợi ý chuyện đó.”

    “Em vừa mới làm đấy, và không phải là đã quá muộn để yêu cầu em làm thế rồi sao?”

    “Thế thì đừng gợi ý lại lần nữa. Anh phải đưa em đến nơi nào an toàn-“

    “Xin lỗi,”
    cô nói một cách nhẹ nhàng. “Anh không quên gì chứ?”

    “Cái gì?”

    “Đây là công việc của em. Bắt giữ hắn ta là lý do em ở đây.”


    Anh nhìn cô một lúc, và nói “Chết tiệt.” Anh lái xe trong yên lặng qua một vài toàn nhà trước khi bổ sung. “Chuyện này tệ thật đấy.”

    Từ sự thất vọng trong giọng anh, cô cho rằng anh thực sự đã quên lý do cô có mặt tại đây và anh chỉ đơn giản là phản ứng với bản năng bảo vệ của nam giới sở hữu thôi. Cô vươn người sang, vỗ nhẹ đùi anh với sự cảm thông. Thật khó khăn khi bản năng đấu tranh với nghĩa vụ. Đó là lý do tại sao những đặc vụ kết hôn cùng nhau không bao giờ được làm việc chung một đơn vị.

    Một khi đã hồi phục từ cơn sốc của việc nhận ra anh không thể dễ dàng giấu cô ở đâu đó, và hơn thế nữa, về cơ bản, cô có thể dự đoán được những hành động tiếp theo của Hugh dễ hơn anh rất nhiều, anh nói, “Được rồi, chúng ta biết là hắn có lái xe. Anh nên dừng lại khi anh nhìn thấy chiếc xe; hắn có lẽ đang nằm ngả người trên ghế để trốn khi chúng ta lái qua. Việc tiếp theo hắn có khả năng làm nhất là gì?”

    “Hãy mừng vì anh đã không dừng lại,” Nikita nói, máu cô trở nên lạnh lẽo khi nghĩ đến việc đã có thể xảy ra. “Anh đã nhìn thấy một tia la ze có thể làm gì rồi đấy. Hắn ta không thể đến đó mà không mang theo vũ khí được.”

    “Anh ngạc nhiên là hắn ta lại tự mình đến đó. Anh đã trông đợi việc hắn ta cử đồng bọn của mình đến, dù người đó có là ai đi nữa.” Anh nheo mắt lại một cách đăm chiêu. “Phát bắn đó có thể được dùng để làm em xao lãng và lạc hướng, ngăn cản cuộc điều tra của em, và đó chính xác là điều mà nó đã làm được. Vào lúc này, hắn ta đã được tự do để tìm hiểu về bất kỳ thông tin nào.”

    Trong đầu cô nhanh chóng kiểm tra các khả năng và gật đầu. Nếu ý định của hắn là ngăn cản cô, phát bắn đó chắc chắn đã hiệu quả. Cô đã bị buộc phải trốn, không thể hoạt động trong vai trò đích thực của mình là một đặc vụ FBI, vì cô không biết có thể tin tưởng được ai, ngoài Knox. Nếu phát bắn đó đã thực sự giết chết cô, thì còn tốt hơn, vì sau đó Hugh sẽ có một vùng trống trải để hoạt động trong ít nhất là 1 tháng trước khi SAR được gửi đến tìm cô.

    Đột nhiên các chi tiết khựng lại, như thể có gì đó không ăn khớp. Cô xoa bóp trán, như thể cô có thể dùng cách đó để đẩy các ý nghĩ vào đúng chỗ của chúng. Điều này không giải thích được sự xuất hiện của Luttrell. Tại sao Luttrell lại được gửi về đây, rõ ràng với chỉ dẫn là phải tiêu diệt cô? McElroy không thể biết chuyện gì đang xảy ra tại đây, vì Hugh không có cách nào để liên lạc với hắn trong khi họ vẫn đang ở hai thời không khác nhau. Có lẽ chúng đã lên kế hoạch để giết bất kỳ ai được gửi về thời đại này, nhưng làm thế nào McElroy biết được nỗ lực đó đã thất bại?

    Có lẽ Luttrell là một phần của âm mưu này, dù âm mưu này có mục đích gì đi nữa. Vào lúc này cô không quan tâm tại sao chúng lại đang thực hiện việc này; cô chỉ muốn ngăn chúng lại. Cô sẽ tìm hiểu về nguyên nhân sau. Có lẽ Luttrell là một biện pháp an toàn, được gửi về để hỗ trợ Hugh, và anh ta đã không gặp may khi dịch chuyển đến gần như là ngay trên đầu cô. Điều này có thể giải thích phản ứng tức thời của anh ta – cố gắng giết cô tại chỗ.

    Giả định đó nghe có vẻ có lý với cô, và theo một cách nhất định nó gây nên sự thoải mái nơi cô, vì điều đó nghĩa là cô không hề giết một người đàn ông vô tội. Cái chết của Luttrell đã đè nặng lên cô, dù cho cô không hề có lựa chọn nào khác cả.

    Điều đó có lý khi Luttrell không dịch chuyển vào cùng một thời điểm với Hugh. Nếu họ đã chờ đợi, để gửi kẻ đồng mưu thứ ba đến sau này, hắn có thể đã mang theo thông điệp cần thiết và thông báo lại những thay đổi đáng lo ngại của vụ việc. Nhưng nếu đó là điều đã xảy ra, chúng phải thỏa thuận trước về cách thức liên lạc. Hugh phải đang lo lắng về lý do tại sao Luttrell chưa xuất hiện.

    “Sao thế?” Knox hỏi, như thể anh có khả năng nghe thấy cô đang nghĩ gì.

    “Luttrell phải là một phần trong kế hoạch này,” cô nói, và giải thích lý do.

    Knox gật đầu, cân nhắc thông tin đó. “Có lý đấy. Và vì Luttrell không xuất hiện, Hugh sẽ hơi lo lắng. Hắn muốn loại bỏ em. Nhưng hắn sẽ phải nhận ra việc em đã hợp tác với anh chứ?”

    “Không, hắn không nghĩ vậy đâu. Như em biết, anh là người đầu tiên trong quá khứ từng được kể về việc này.”

    Một cái nhìn sung sướng lướt qua mặt anh. “Anh là người đầu tiên phải không? Tuyệt.”

    “Em sẽ không nói với anh nếu anh không chuẩn bị bắt giữ em,” Nikita chỉ ra.

    “Chuẩn bị á, không đời nào; anh đã bắt giữ em rồi đấy chứ. Chỉ là anh đã thả em mà không khởi tố thôi.”

    Anh đỗ xe vào một nhà hàng bán đồ ăn qua cửa sổ xe. “Chúng ta sẽ mua vài cái bánh quy và cà phê, sau đó đi nói chuyện với vài người về Howard Easley. Chúng ta đang tìm cùng một thứ như Hugh, nhưng chúng ta đã dẫn trước hắn ta, vì vậy chúng ta có lợi thế. Chúng ta không muốn mắc phải lỗi lầm với bất cứ chuyện gì mà hắn dính vào, vì hắn có vũ khí la ze mà, như em đã tốt bụng để chỉ ra đấy. Chúng ta cần có một kế hoạch.”
     
    B-Mon, huyenhanoi, uyenki and 11 others like this.

Chia sẻ trang này