Hoàn thành NC-17 Vượt thời gian - Linda Howard

Thảo luận trong 'Góc dịch các tác phẩm tiếng Anh' bắt đầu bởi Nguyễn Hằng, 8/12/14.

  1. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 28


    “Đương nhiên là ta nhớ khi Huấn luyện viên Easley tự sát rồi.” Max Browning cằn nhằn. Nikita nghĩ đó chắc là cách nói chuyện bình thường của ông ta. Ông ta thậm chí nhìn giống một giống chó đặc biệt, với khung xương hàm của giống cho bull, lông mày rậm rạp, và bờ vai cơ bắp. “Ta đã viết về câu chuyện đó. Tháng 1, năm 1985. Lạnh đến rụng cả mũi. Xin lỗi thưa cô.”

    (Ở đây ông ta đã dùng thành ngữ “cold as a witch’s titty” nghĩa là vô cùng lạnh lẽo, khiến đầu “ti” lúc nào cũng sưng lên và chĩa ra, chính vì cách dùng từ như vậy nên ông ta mới phải xin lỗi Nikita)

    “Nhưng chẳng có lá thư tuyệt mệnh nào được để lại cả, theo như tôi nhớ,”

    Max Browning ngả người trên ghế của ông. Họ đang ngồi trong nhà ông, trong một văn phòng nhỏ bé, chật chội được tách biệt với phần còn lại của căn nhà bằng một cánh cửa gấp. Vợ của ông, tóc bạc trắng và nhìn nhỏ nhắn gọn gàng, đã đưa họ vào, sau đó ra ngoài để pha cà phê, đề phòng việc họ chưa được nạp đủ điện cho một ngày. Knox và Nikita ngồi cạnh nhau trên một chiếc ghế dài đã bị trũng một cách nguy hiểm ở giữa, đẩy họ sát vào nhau và tạo nên nguy cơ sập xuống bất kỳ lúc nào.

    “Không, không có bất kỳ cái gì tương tự cả. Không có dấu hiệu nào của việc làm giả hiện trường, không có dấu vết vật lộn. Ta đã nói chuyện với ông ấy vào tối đó,” Max nói, và để buột ra một tiếng thở dài. “Trước khi ông ấy làm việc đó. Nhớ cái hôm chiếc rương thời gian được chôn xuống không?”

    “Đại khái,” Knox nói với một tông giọng hờ hững.

    “Cháu nói cháu đã đếm thấy người ta cho 13 thứ vào, nhưng trên báo nói chỉ có 12 thứ đáng ra được bỏ vào thôi. Ta đã quay lại và kiểm tra, và chỉ thấy có 7 thứ có thể xác định được trên tổng số 12.”

    “Vâng, cháu biết; bọn cháu cũng đã kiểm tra.”

    “Ta đã đứng khá gần; cần phải làm vậy, để có thể chụp được ảnh. Nhưng tôi đang bận làm việc của mình nên không ghi chú về tất cả các vật đã được bỏ vào rương. Cháu đã làm ta tò mò, vì vậy đêm đó ta đã gọi cho ông huấn luyện viên và hỏi xem ông ấy có nhớ những gì đã được cho vào trong đó không. Ông ấy nói không, ông ấy ở đó chỉ để giúp với những công việc chân tay và ông ta chẳng bao giờ lắng nghe những bài phát biểu của ông thị trưởng nếu không bị ép buộc, vì vậy ông ấy đã nghĩ về những chiếc thuật mới cho hàng phòng vệ trong đợt huấn luyện mùa xuân.”

    “Chú có nhớ thời điểm chú đã gọi không?”

    “Có chứ. Ngay trước thời điểm trận đấu bóng bầu dục đầu tiên bắt đầu vào – mấy giờ nhỉ? Có lẽ là 8 giờ chăng? Đã 20 năm rồi. Nhưng chắc chắn là tôi đã gọi trước khi trận bóng bắt đầu.”


    “Ông ấy đang nghĩ về các chiến thuật mới cho đợt huấn luyện mùa xuân; và 4 tiếng sau ông ấy treo cổ tự sát à?” Đã có chuyện gì xảy ra trong 4 tiếng đó, tạo ra một sự thay đổi lớn đến vậy?

    “Vài người rất giỏi trong việc che giấu cảm xúc, tôi đoán vậy. Ông ấy đã li dị, không hạnh phúc; mọi chuyện chỉ đơn giản là xảy ra thôi.”

    “Cháu nghe nói ông ấy và vợ đang cố hòa giải.”


    “Ừ, ta cũng nghe nói vậy, nhưng có lẽ mọi việc xảy ra không theo chiều hướng tốt. Ta nhớ bà ấy đã đến đám tang, khóc lóc thảm thương. Khiến ta nổi giận. Xin lỗi cô. Nếu bà ấy quan tâm đến ông ấy nhiều đến vậy, bà ấy đáng lẽ nên trao cho lão già chết tiệt đó chút huy vọng – xin lỗi cô.”

    Đầu tiên là Troy, giờ là Max Browning. Tại sao mọi người cứ xin lỗi cô liên tục vậy? Nikita tự hỏi. Cô mấp máy không yên, nhưng một cái liếc nhanh của Knox nói với cô rằng anh sẽ giải thích sau. Cô tự hỏi từ khi nào anh đã bắt đầu đọc được ý nghĩ của cô – và từ khi nào mà cô đã bắt đầu đọc được ý nghĩ của anh.

    “Dù sao đi nữa” – Max lắc đầu – “đúng là một cách ấn tượng để bắt đầu một năm mới.”

    “Chú đã bao giờ hỏi ai khác về những thứ khác được bỏ vào rương chưa?”

    “Có nhiều đề tài quan trọng khác để viết. Vụ tự sát của ông huấn luyện viên khiến tôi quên khuấy về nó luôn.”

    “Huấn luyện viên Easley có bất kỳ ai thân thiết quanh đây mà bạn còn nhớ không?”
    Knox ngả người ra sau, thái độ của anh cho thấy anh không hề vội vã, chẳng có gì khẩn cấp cần anh làm bây giờ. Nikita cũng phải ngửa ra sau, nếu không cái ghế đệm cũ nát sẽ khiến cô ngồi hẳn vào lòng anh.

    “Ta không nghĩ vậy. Họ đã chuyển đến đây từ Cincinnati khi ông ấy nhận được việc.”

    “Chú có phải bạn thân của ông ấy không?”


    “Đủ thân, ta nghĩ. Nếu ta cần một câu chuyện, ôn ấy luôn luôn dành thời gian để ngồi xuống và nói chuyện với ta. Bọn ta không phải bạn hay chè chén với nhau, nếu đó là cái mà cháu đang hỏi.”

    “Ông ấy có người mà ông ấy hay uống rượu cùng sao? Ông ấy có nghiện rượu không?”


    “Thỉnh thoảng ông ấy có uống bia, theo như ta còn nhớ. Không phải một người nghiện nặng.”

    “Thế còn bạn bè ông ấy thì sao?”

    “Để xem nào. Ông ấy thân với ông hiệu trưởng nhất…Tên ông ấy là gì nhỉ?”


    “Dale Chantrell.”

    “Đúng rồi. Dale Chantrell. Chưa hề nghĩ đến ông ấy trong cả thiên niên kỷ rồi. Ông ấy đã chuyển đến một trường gần Louisville. Ông ấy và vợ, Arah Jean – nếu cháu có bao giờ nhìn thấy bà ấy cháu sẽ biết tại sao ta nhớ tên bà ấy mà không phải tên ông ấy – là bạn của Howard và Lynn. Lynn là vợ cũ của Howard.”


    Bà Browning bước vào cái văn phòng bé tí với một chiếc khay bạc có chứa một bình cà phê cách nhiệt, 3 cái cốc và đĩa, một hũ kem nhỏ và một vài lựa chọn để thêm ngọt vào cà phê – một trong số đó là đường thật. Bà đặt chiếc khay lên một chồng giấy tờ trên bàn của Max. “Howard và Dale là bạn thân,” bà nói một cách bình thản. “Lynn ghét cay ghét đắng Arah Jean.”

    “Cảm ơn,” Knox nói, cảm ơn về tách cà phê. “Tại sao bà Easley lại ghét bà Chantrell?”

    “Như Max đã nói đấy, nếu cháu có bao giờ nhìn thấy Arah Jean, cháu sẽ hiểu. Bà ấy là một trong những người phụ nữ xinh đẹp mà không thể ngăn bản thân phô trương nó. Tất cả những gì bà ấy mặc chỉ có thể là quá chật, hoặc quá ngắn, hoặc quá lộ liễu. Quá nhiều son môi, quá nhiều mascara. Kiểu người phụ nữ như vậy đấy.”

    “Và bà ấy cũng có nhiều điều để phô trương nữa,” Max nói, và vợ ông đập vào cánh tay ông thật mạnh. “Đúng là bà ấy có mà!”

    “Tôi chưa bao giờ nói là bà ấy không có. Tôi đập ông vì, trong khi tôi không hy vọng ông bị mù khi nhìn vào một người phụ nữ xinh đẹp phô ra một bộ ngực cỡ 38D ngay trước mũi ông, tôi có hy vọng ông giả vờ là ông bị mù.” Bà Browning nói với mức độ thô lỗ nhất định.

    Max mỉm cười với vợ ông, rõ ràng thấy vui khi bà vẫn còn ghen tuông vì ông.

    “38D cơ à?” Knox hỏi.

    Vì có vẻ như đó là một điều hợp lý, Nikita cũng đập một cú lên cánh tay anh. Thật mạnh.

    “Cái đó sẽ cho cháu một bài học,” Max trêu, cười với biểu hiện ngạc nhiên của Knox. Và Browning vẫn đang mỉm cười khi bà ra khỏi phòng.

    “Cháu chỉ mừng là cô ấy đánh vào cánh tay cháu chứ không phải cằm,” Knox nói. “Chú có nghĩ là có cái gì đó---“ anh lắc bàn tay qua lại – “xảy ra giữa Huấn luyện viên Easley và Arah Jean không?”

    “Không, bà ấy làm vậy với tất cả cái gì trong một chiếc quần. Không phải tôi có ý thù ghét gì đâu. Tôi nghi ngờ việc Arah Jean đã ngoại tình; bà ấy quá nhỏ bé để làm việc đó. Và Lynn không phải mẫu phụ nữ có thể chịu đựng được việc đó diễn ra ngay dưới mũi bà ấy; bà ấy có lẽ đã trả thù cả hai người họ. Họ đã lịch sự với nhau vì Howard và Dale là bạn của nhau, nhưng chỉ là đối xử lịch sự với nhau thôi.”

    “Chú có biết Lynn giờ sống ở đâu không?”

    “Không thể nói là ta có. Chưa bao giờ nhìn thấy hay nghe về bà ấy từ đám tang. Giờ nếu cháu có thể tìm thấy Dale Chantrell, ông ấy có thể nói cho cháu biết đấy. Hoặc Edie Proctor cũng được.”


    “Edie Proctor,” Knox nói. “Bà ấy là giáo vụ của trường vào lúc đó.”

    “Đúng rồi. Bà ấy là người đã thuê Howard để làm việc đó mà. Ủy ban giáo dục chắc vẫn giữ hồ sơ xin việc của ông ấy ở đâu đó, dù thực tế là nếu nó giống như những giấy tờ cũ kỹ được lưu trữ lại, nó sẽ được đóng hộp chất đống ở trong một tầng hầm nào đó. Hồ sơ của ông ấy có thể có danh sách những họ hàng gần, nhưng trong đó cũng có thể chỉ có tên Lynn, và cháu đã biết điều đó rồi.” Max dừng lại. “Vậy đấy. Cháu sẽ nói cho biết tại sao cháu lại có hứng thú với Howard Easley sau chừng ấy năm chứ?”

    “Nó là một phần trong cuộc điều tra về cái chết của Taylor Allen,” Knox nói một cách êm ru, “Cháu không thể đi vào chi tiết được, chú biết mà. Nó chỉ là một manh mối cháu đang lần theo thôi.”

    “Uh-huh” Max nói. “Nói một cách khác, cháu sẽ không tiết lộ chú gì. Được rồi, ta hiểu. Nhưng khi cháu tìm ra có chuyện gì đang xảy ra, ta sẽ là người viết về nó. Cháu tốt hơn hết là đừng có gọi cho ai khác.”

    “Thỏa thuận chú nhé. Nhân tiện, chú có biết Howard có bất kỳ sở thích nào không?”

    “Ông ấy là một huấn luyện viên bóng bầu dục; ông ấy không có thời gian cho các sở thích khác.”

    “Máy bay mô hình,” bà Browning cất tiếng khi bà lướt qua cửa.

    Knox quay sang để nhìn vào bà. “Máy bay mô hình ạ?”

    “Đúng vậy,” Max nói, “ta nhớ ra rồi. Ông ấy lắp chúng trong ga ra. Ông ấy cũng lắp cả những động cơ nhỏ cho chúng, và bộ điều khiển bằng sóng radio nữa. Điều chết tiệt nhất mà chúng ta từng nhìn thấy vào lúc đó. Ông ấy sẽ ra cánh đồng rộng sau nhà và cho những chiếc máy bay bé xíu đó cất cánh. Cũng có phá hỏng vài cái. Thật là một khoảng thời gian ý nghĩa với ông ấy, ông ấy luôn lãng phí thời gian với những thứ đó. Ông ấy và một vài người bạn đại học đã tụ tập lại và loay hoay với những thứ đó suốt, để xem họ có thể làm ra được cái gì.”

    “Chuyện gì xảy ra với đồ đạc của ông ấy khi ông ấy qua đời? Lynn đã nhận nó về sao?”

    “Cái đó thì ta không nhớ gì cả. Ngôi nhà đã bị bỏ không trong một thời gian, sau đó ai đó đã chuyển vào, sống một vài năm rồi lại bị bỏ không. Chuyện cứ diễn ra như vậy trong khoảng 10 năm; đến cuối cùng nó đã quá sập xệ đến mức không ai muốn sống ở đó nữa. Giờ chắc nó giống nhà hoang lắm rồi, cỏ phải mọc cao đến tận cằm xung quanh nhà ấy chứ. Cháu khó có thể nói được là ngôi nhà có còn tồn tại ở đó hay không, cây cối và bụi rậm mọc quá rậm rạp xung quanh nó.”


    “Chú có nhớ địa chỉ không?”

    “Không chính xác lắm. Nó nằm trên đường Beeson, qua ngã tư Turner. Qua đó khoảng 4 dặm, nó nằm phía bên tay trái ấy.”


    Khi họ bước đi dọc theo vỉa hè để đến chỗ để xe, Nikita nói, “Chúng ta có cần nói chuyện với Edie Proctor không?”

    “Anh e là vậy. Bà ấy vẫn ở trong thị trấn, nên anh nghĩ chúng ta cũng nên nói chuyện với bà ấy. Sau đó chúng ta sẽ đi săn lùng nơi Huấn luyện viên Easley đã từng sống. Anh biết khu vực đó; chúng ta chỉ phải tìm kiếm địa chỉ chính xác thôi.”


    “Anh nghĩ có cái gì vẫn còn ở đó sao?”

    “Có lẽ là không, nhưng em không bao giờ biết được. Người ta để lại đủ thứ linh tinh trong một ngôi nhà khi họ chuyển đi.”

    “Bất kỳ ai đã dọn đồ của ông ấy có lẽ đã dọn sạch ngôi nhà rồi.”

    “Chúng ta sẽ không biết được cho đến khi ào chúng ta tìm kiếm ở đó. Có lẽ có khu để đồ cũ, hoặc một phần tầng hầm.”


    Và Knox sẽ không ngồi yên cho đến khi nào anh kiểm tra được ngôi nhà. Thậm chí cả khi lý trí nói với anh rằng sẽ chẳng có gì còn lại, anh vẫn phải chứng kiến tận mắt.

    Bà Edie Proctor khá ngập ngừng khi mở cửa cho họ, thậm chí ngay cả khi Knox đã cho bà thấy phù hiệu qua cánh cửa kính có gia cố mắt cáo. “Làm sao tôi biết được đó là đồ thật?”

    “Bà có thể gọi sở cảnh sát và hỏi mà,” anh nói mà không có dấu hiệu nào của sự thiếu kiên nhẫn.

    “Humph,” bà nói, đứng yên tại chỗ. Từ những gì mà Nikita có thể thấy qua cánh cửa kính, miệng bà Proctor đã trễ xuống với những nếp nhăn cau có vĩnh viễn.

    “Cậu muốn hỏi gì?” cuối cùng bà nói. Bà không mở cánh cửa kính, nhưng bà cũng không sập cánh cửa gỗ vào mặt họ. Hơi lạnh tràn ra từ ngôi nhà, làm biến mất những giọt mồ hôi lấm tấm trên da cô. Hôm nay hứa hẹn là một ngày nóng khác.

    “Là về Huấn luyện viên Howard Easley. Ông ấy tự sát 20 năm trước-“

    “Tôi biết ông ấy đã chết,” bà ngắt lời anh một cách thô lỗ. “Cái đó thì có liên quan gì đến hiện tại?”

    “Bà đã tuyển ông ấy phải không?”

    “Ông ấy có đủ tư cách.”


    “Vâng, thưa bà, ông ấy có. Ông ấy có bằng thạc sỹ Vật lý từ Cal Tech. Bà có biết nguyên nhân tại sao ông ấy lại muốn ổn định ở một trường Trung học nhỏ tại phía Đông Kentucky như một huấn luyện viên bóng bầu dục không?”

    “Tôi đã không hỏi.”


    Nikita nghĩ cách hỏi đó đã không hiệu quả. Chắc Knox cũng nghĩ vậy, vì anh thay đổi cách hỏi một cách trơn tru. “Tôi muốn xem hồ sơ của ông ấy, nếu bà biết nó được lưu ở đâu sau nhiều năm như vậy.”

    “Tôi không giữ hồ sơ như thế ở nhà. Tôi không biết tại sao cậu lại làm phiền tôi với tất cả chuyện vớ vẩn này. Nếu cậu muốn biết chuyện gì, đến ủy ban giáo dục ấy. Có vẻ như tất cả những hồ sơ cũ đó được giữ ở tầng hầm.”

    Sau đó bà ta thật sự đóng sập cánh cửa gỗ, để lại họ đứng trên lề đường. Knox gãi gãi cằm. “Cuộc điều tra đó đã diễn ra suôn sẻ, em có nghĩ vậy không?”

    “Rõ ràng là vậy rồi. Chúng ta vẫn còn đủ tay chân mà. Chúng ta có đi đến ủy ban giáo dục bây giờ không?”

    “Để anh gọi điện đã. Giờ là mùa hè, có thể là chả có ai ở đó đâu.”


    Anh có một quyển niên giám điện thoại trong xe và anh có được số điện thoại trong tay một cách nhanh chóng. 30 giây sau, anh dập máy. “Vào mùa hè giờ làm việc của họ là 8 đến 12 giờ trưa, từ thứ Hai đến thứ Năm. Không có ai ở đó lúc này đâu.”

    “Anh thử gọi cho người giáo vụ hiện tại xem.”

    Anh thử việc đó, và kết thúc cuộc gọi mà không nói được lời nào. “Lại một máy trả lời tự động nưax. Được rồi, cho đến lúc này thì đó là một ngõ cụt rồi. Hãy đi và xem chúng ta có thể tìm được gì ở nhà Huấn luyện viên Easley nào.”
     
  2. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 29

    Ngôi nhà cũ của Huấn luyện viên Easley là một khu đổ nát, bị che phủ gần như hoàn toàn bởi các bụi cây rậm rạp và các cây thấp; một bên của ngôi nhà đã bị sập, và các cây leo đã ngự trị toàn bộ khu đổ nát đó, khiến người từ ngoài nhìn vào cũng không thể biết được phần đó của ngôi nhà có những phòng nào và thậm chí là phải đặt chân vào vị trí nào.

    Một cái sân không còn tồn tại nữa, chỉ là một không gian bằng phẳng khác để các cây bụi và cỏ dại phát triển. Nhà để xe nằm một bên của ngôi nhà, và phần đã từng là đường dành cho xe giờ đây đã phủ đầy các bụi cỏ dại cao đến eo, những dây leo họ kim ngân hoa chằng chịt, và những bụi mâm xôi rậm rạp. “Một thành phố cho bọn rận,” Knox tuyên bố khi họ ra khỏi xe để xem tận mắt những gì họ cần đối mặt. “Và đây chắc chắn là lãnh địa cho bọn rắn; rất nhiều chỗ để chúng ẩn nấp.”

    Em là gái thành phố; em không biết bọn rân trông như thế nào đâu.”

    “Là những tên khốn nhỏ bé làm tổ trong da em và chúng ngứa như quỷ ấy.”


    Điều đó nghe khiếp quá. “Đó là việc mà em phải chấp nhận để thực hiện công việc của mình thôi,” cô lẩm bẩm.

    Knox cởi áo khoán của anh ra và đặt nó lên ghế ngồi, sau đó mở cốp xe và lấy đôi ủng của anh ra. Hôm nay anh đi giày thể thao, giống cô. “Đây,” anh nói. “Em đi ủng vào đi.”

    Cô nhìn vào anh với vẻ khó tin. “Làm thế nào em đi lại trong chúng được? Làm sao em giữ chúng trên chân mình được ấy chứ? Anh đi chúng đi; anh sẽ phải là người dẫn đường, vì anh đủ to lớn để đánh bại khu rừng này.” Sự hào hiệp của anh làm cô cảm động; vì anh thực sự lo lắng về việc cô thiếu sự bảo vệ và sẵn sàng để cô đi đôi ủng của anh.

    Với sự nhẹ nhõm của cô, anh không hề phản đối, có lẽ vì anh thấy cô đúng về việc anh phải là người dẫn đường. Từ một cái hộp trong thùng xe anh lấy ra một cái chai màu xanh và quăng nó cho cô.

    Cô đọc hướng dẫn một cách nhanh chóng, xịt lên người cô và quăng cái chai trả lại anh để anh có thể làm tương tự. Trong khi anh đang đi ủng và lấy những dụng cụ khác ra khỏi thùng xe, cô đeo bao đựng súng vào em và cho chiếc bút la ze vào trong túi quần; cô có lẽ sẽ cần đến nó khi tìm đường đi xuyên qua khu rừng rậm rạp này. Trong một lúc, cô nghĩ có thể dùng chiếc bút la ze để hạ gục một cái cây chắn ngang đường nhưng sau đó sẽ có nguy cơ mọi thứ sẽ bắt lửa, thêm vào đó chiếc bút la ze không phải có nguồn năng lượng vô tận. Cô không muốn dùng nó nếu không phải trong trường hợp bất khả kháng. Tuy nhiên cô sẽ không do dự việc cho một con rắn đi đời.

    Khi Knox đóng thùng xe lại, cô thấy anh đang cầm một cái gậy mảnh, tròn đầu trong một tay và một chiếc rìu nhỏ trong tay kia. “Đây là gậy dò đường,” anh nói, nhìn thấy cô quan sát cây gậy. “Sẽ tốt hơn khi em chọc cây gậy vào những chỗ mà em không muốn khua tay vào.”

    Sau đó anh bắt đầu thám hiểm rừng hoang dã ngay trước mặt. Anh sử dụng cây gậy để chọc vào mặt đất trước mặt anh, và dùng cái rìu để chặt đứt các bụi cây quá dầy mà anh không thể vượt qua. Những cành cây dã tường vi móc vào quần áo của họ, chọc xuyên qua quần áo; gỡ chúng ra sẽ mất thời gian, nhưng cách còn lại đó là chỉ đơn giản dằng ra khỏi chúng, nhưng sẽ để lại những vệt xước đau nhói. Trong vài phút cả hai người họ đã toát đầy mồ hôi trong cái nóng ẩm ướt và đã vượt qua được khoảng nữa quãng đường đến nhà để xe.

    “Chết tiệt, anh có thể bỏ ra mọi thứ để đổi lấy một cơn mưa rào khiến mọi thứ trở nên mát mẻ hơn,” anh cằn nhằn. Anh dừng lại để xem xét bầu trời, dường như đang có màu vàng nhất trên nền xanh thẳm. “Có lẽ sẽ có một cơn vào chiều nay, từ cách mà bầu trời đang chuyển màu.”

    “Cái gì đã khiến anh dự đoán vậy?” cô hỏi. Nikita luôn luôn thấy khó chịu với những người nhìn lên một bầu trời đầy nắng và tuyên bố rằng cơn mưa sẽ đến. Trừ khi người đó đã sống trong sa mạc, một cơn mưa luôn đến, không sớm thì muộn. Cô không thể thấy được điều gì bất thường trên bầu trời; nó không trong như nó luôn thế, nhưng không hề có một gợn mây đen nào.

    “Cảm giác trong không khí. Nó quá ẩm, là yếu tố tạo nên mưa giông. Và sắc vàng của bầu trời là dấu hiệu cho thấy trước về điều đó.’

    Điều đó thì cô có thể hiểu được; những lời nhận xét của anh có một cơ sở khoa học, hơn là dựa vào những kinh nghiệm lâu đời. Không phải là những kinh nghiệm đó thường sai, nhưng cô thấy thoải mái hơn với những căn cứ khoa học.

    Cơ hội để họ có thể tìm được thứ gì đó giá trị khá nhỏ bé, nhưng nếu có gì đó còn được để lại đây sau 20 năm, nó có khả năng cao là được bỏ lại trong nhà để xe. Ngôi nhà dường như được dọn dẹp sạch sẽ trước khi ai đó vào ở, khi mà bất kỳ mảnh vụn nào còn lại cũng sẽ bị quét dọn lại và quẳng vào thùng rác. Nhưng một cái nhà để xe lại khác, và kể cả những thùng đựng những vật mọi người không dùng được nữa nhưng cũng không muốn bỏ đi cũng vậy. Cô cho rằng họ thử chỉ vì sự cứng đầu của cả hai không muốn họ bỏ cuộc, và đương nhiên phải kể đến việc Knox không thể để lại một hòn đá nào anh không lật tung lên hay một khu vực có liên quan nào không được khám phá.

    Họ đã chọc vào cả một bầy muỗi rĩn chi chít, một con chuột đồng chạy ngang qua giầy cô và gần như khiến cô lên cơn đau tim, và khi họ cuối cùng cũng đến được phần còn lại của cái nhà để xe, cô nhìn nó gần hơn và lắc đầu. “Nó là một cái bẫy chết người và em không vào đó đâu.”

    Phần còn lại của bức tường xập xệ lắc lư nghiêng ngả với cái chạm nhẹ nhất. Có những cái lỗ to đùng nằm trên mái có màu pho mát Thụy sỹ, rõ ràng là có cả một đàn chim đang làm tổ trong đó, vì chúng đang di chuyển một cách ồn ã khi Knox lắc thử cái khung nhà.

    “Anh không muốn em vào trong đó.” Anh nói một cách lơ đãng. “Việc có một người vào đó và di chuyển đồ đạc xung quanh đã đủ nguy hiểm rồi. Nhưng anh nghĩ anh sẽ đi chặt những cây con để chống bức tường lên và để làm nó vững chắc hơn, chỉ để đề phòng thôi.”

    “Nếu những bức tường đó đã quá xập xệ đến mức cần đến một vài cành cây để chống chúng lên, thì không ai còn tỉnh táo sẽ đi vào đó đâu. “Tỉnh táo” là từ nói lóng – đương nhiên rồi.”

    (“to be in someone’s right mind” là nói về việc suy nghĩ tỉnh táo, lý trí. Nhưng đồng thời “right mind” còn là não bên phải. Vậy nên Nikita đang đảm bảo Knox hiểu đúng ý cô.)

    Anh cười mỉm với cô. “Em chỉ phải coi đây là một cuộc phiêu lưu thôi.”

    “Anh coi đây là một cuộc phiêu lưu. Em coi đây là một việc nguy hiểm và ngu ngốc.”

    “Ai cũng có vai trò của mình trong cuộc đời mà.” Trong khi anh nói, anh tóm lấy một cây con và bẻ cong nó, chặt cho đến khi nó bị gẫy ngang gần gốc. Một vài cú phạt nữa để bỏ đi những cành cây và đám lá lùm xùm. Và giờ anh cầm trong tay một khúc cây khoảng 7 feet (khoảng 9m - @@ anh thật khỏe quá) tươi chắc chắn. Anh tìm thấy vài cây con khác mà anh thấy đủ khỏe, và chặt chúng.

    Nhận ra rằng cô sẽ không thể ngăn anh lại bằng những lời nói lý trí thông thường, Nikita bắt đầu giúp anh. Những cây con mà anh chặt xuống nặng một cách đáng ngạc nhiên, khiến cô cảm thấy khá hơn vì điều đó có nghĩa là chúng khỏe hơn cô tưởng. Cô giúp anh lôi chúng đến cái nhà để xe, và đứng thăng bằng để đẩy một cái cây chống vào bức tường nếu nó cho thấy dấu hiệu sẽ đổ xuống người anh trong khi anh đang loay hoay để chêm nó thanh gỗ đầu tiên vào chỗ của nó.

    Tìm ra một vị trí chưa bị mục nát trên bức tường chính là bí quyết; thậm chí cả một thanh xà bằng thép cũng chẳng thể làm gì được nếu một đầu của nó xuyên qua bức tường. Khung bên ngoài đủ chắc chắn, và anh đã đặt thanh chống đầu tiên ở đó.

    Trong khi anh đang tìm kiếm chỗ để đặt thanh chống thứ hai, Nikita bước lùi lại và nghiên cứu khối kiến trúc này. Nó đủ rộng để chứa một chiếc xe, và không có dấu hiệu nào của một cái cửa có thể dùng để đóng lại. Nó đủ rộng, được che chắn 3 mặt, với vài chỗ chứa đồ được thêm vào phía bên tay phải. Chỗ chứa đồ là một nơi được tạo ra sau này; thậm chí sau nhiều năm bị bỏ hoang, cô vẫn có thể thấy là những tấm gỗ bên tay phải có chất lượng tốt hơn, như thể nó mới hơn.

    Cô nhặt lấy cây gậy dò đường và tìm đường đi về phía bên tay phải, chọc và khua để xua đi bất kể cư dân thuộc loại bò sát nào đang chiếm cứ các bụi cây. Từ phía trước, nhìn như thể toàn bộ phía bên ngày của khu nhà đã bị chiếm cứ bởi các bụi cây, che đi bất kỳ một đường vào nào có thể tồn tại. Tuy vậy, một khi cô đã di chuyển sang bên chái nhà, cô có thể nhìn thấy vị trí một cái cửa đã từng tồn tại. Hiện tại cái cửa đó không còn, chỉ còn lại một cái lỗ đen ngòm của một lối ra vào.

    “Có một lối vào ở đây,” cô gọi to. “Nhìn nó như thể một cái kho ấy.”

    Knox xuất hiện ngay bên cạnh cô, gạt mồ hôi khỏi khuôn mặt đầy bụi bẩn của anh. “Nó cũng mới hơn nữa,” anh nói, chú ý đến những gì cô đã nhìn thấy trước đó. “Đây có lẽ là nơi ông ấy đã làm việc với các máy bay mô hình. Ở lại đây nhé---“

    “Còn khuya,” cô trả lời thẳng thắn. “Em sẽ không bước một ngón chân vào phần bên kia, nhưng phần này của ngôi nhà thì nhìn có vẻ không giống như thể em sẽ tự sát khi bước vào nó.”

    “Cô gái của anh phải thế chứ.” Anh chộp lấy cô và trao cho cô một nụ hôn nồng ấm và nhanh chóng, không đủ cho cả hai người họ. Cô xoắn bàn tay vào cái áo phông của anh và kéo anh lại, giữ anh cho một nụ hôn sâu hơn, từ tốn hơn. Anh đánh rơi cái rìu và siết cả hai bàn tay vào mông cô, nhấc cô lên và cọ xát cô vào phần sưng lên trong quần anh.

    “Thánh thần ơi,” anh nói, đột nhiên thả cô đứng trên chân mình. “Chúng ta không thể làm việc đó bây giờ, và đặc biệt là không thể làm ở đây được.”

    Cô thở một hơi dài run rẩy. “Em đồng ý. Anh không thể chạm đến em lần nữa trước đêm nay, thậm chí chỉ cho một nụ hôn.”

    “Anh không nghĩ em phải đi xa đến thế đâu.”

    “Em nghĩ là cần.” Cô nhìn xung quanh; nếu nụ hôn kéo dài hơn, cô có lẽ đã cởi quần áo ngay đây, được bao quanh bởi cả đàn chuột, rận, và chưa tính đến những sự bất tiện khác nữa. “Hãy xem xét xung quanh và ra khỏi đây nhanh lên nào. Em không thích khung cảnh rậm rạp vượt tầm kiểm soát ở đây. Rừng rú là một chuyện; nhưng ở đây hơi rợn người.”

    “Vì Howard đã treo cổ trên cái cây đằng kia à?”

    “Không, vì từng có người sống ở đây nhưng giờ nó đã bị bỏ hoang và mục ruỗng, và sớm thôi, sẽ chẳng còn dấu hiệu nào cho thấy họ đã từng ở đây. Thêm vào đó, em nghĩ là em đang chảy máu ở hàng chục vì lũ rận chết tiệt này---“ Cô dừng lại khi cảm thấy có cái gì đó bò lên cánh tay cô. Cô nhìn xuống và tạo ra một âm thanh thể hiện sự kinh tởm và đập cho một con bọ bay đi. “Em cũng không thích thú lũ bọ cho lắm, và em ghét chuột.”

    “Đã hiểu. Anh sẽ nhanh thôi.”


    Anh cúi xuống và nhặt chiếc rìu lên, và bắt đầu dọn những bụi cây và dây leo đã gần như che phủ lối vào. Anh thò đầu vào trong. “Trong này có nhiều thứ lắm.” Cuối cùng anh cũng cất tiếng.

    “Những thứ gì?”

    “Đầu tiên là những thùng các tông bị mục. Một ít kẹp được đính lên bảng; ông ấy chắc dùng chúng để giữ những mô hình khi ông ấy làm việc với chúng. Một chồng tạp chí Playboy mà anh sẽ không chạm vào dù là vì tình yêu hay tiền bạc; nhìn như thể lũ chuột đã sống trong chúng trong hàng năm trời vậy.”


    Cô biết những tờ tạp chí đó là gì, vì nó vẫn tồn tại trong gần 100 năm trước khi chính thức ngừng phát hành. Một vài tạp chí được bảo quản cẩn thận thỉnh thoảng được bán tại một buổi đấu giá, nơi những người sưu tập mua chúng với giá cao một cách nực cười. Họ sẽ bật khóc khi thấy những ấn bản này bị bỏ lại và mục nát. Cô nghĩ sẽ là vị tha khi không nói cho Knox biết chúng sẽ đáng giá đến mức nào ở thời của cô.

    “Chẳng phải là tất cả những thứ này đã bị xem xét qua khi ông ấy tự sát sao?”

    “Cũng không thể nói thế được. Chúng đáng ra nên được xem qua, nhưng từ những gì chúng ta được nghe hay đọc, không có dấu hiệu của việc dàn dựng hiện trường; vì vậy anh không nghĩ đã có một cuộc điều tra hiện trường được thực hiện. Trong các vụ tự sát, em cố giúp đỡ gia đình nạn nhân hết sức có thể.”


    Anh bước vào khu vực nhà kho, và Nikita cẩn thận bước theo, quan sát nơi cô đặt chân. Cái mùi nồng đậm, mốc meo của những thứ bị mục nát xộc vào mũi cô. Những thứ bỏ đi được chất đầy trong không gian nhỏ hẹp: những chiếc ghế ngồi phơi nắng bằng kim loại được gấp lại, quần áo cũ, hàng chồng báo và tạp chí, những chiếc thùng các tông Knox đã nói đến. Có 2 thùng, được chồng lên nhau và dán băng dính kín miệng, cái đó đã trở thành vô dụng vì bây giờ đáy thùng sẽ rời ra ngay khi chúng được di chuyển,

    “Tại sao ai đó lại phải bỏ thời gian để đóng hộp và dán cái gì đó lại, và sau đó lại chỉ để chúng vào trong này?” cô hỏi to.

    “Anh nhiều khi cũng tự hỏi tại sao người ta lại làm nhiều việc lắm,” anh càu nhàu và dùng chiếc ủng đẩy một chiếc ghế ra khỏi đường đi của mình.

    Cô không muốn động vào những chiếc thùng tả tơi đó, nhưng cô không thấy có cách nào khác. “Anh có một chiếc chăn hay tấm bạt nào trong thùng xe không? Những thứ đó sẽ rơi lả tả ngay khi chúng ta di chuyển chúng. Nếu chúng ta cho chúng vào một tấm bạt, chúng ta có thể kéo chúng ra khỏi đây.”

    Anh lấy chìa khóa ra khỏi túi quần. “Có một tấm bạt. Nó nằm ở đáy của chiếc hòm anh để trong thùng xe.”

    Cô tìm đường đi ra đến xe và mở khóa thùng xe, sau đó lục lọi trong một thùng dụng cụ và tìm thấy tấm bạt màu xanh. Cô còn lấy ra hai đôi găng tay cao su từ một cái túi cũng ở trong thùng.

    “Đây này,” cô nói khi bước chân vào cái nhà để xe lần nữa, đưa anh chùm chìa khóa sau đó là đôi găng tay.

    “Cảm ơn.” Anh đeo đôi găng tay vào như một bác sỹ phẫu thuật và cầm lấy tấm bạt từ cô. Cô cũng đeo đôi găng tay của mình vào, và một cách cẩn thận, cô trải tấm bạt ra trước những chiếc hộp. Knox sử dụng chiếc rìu để hất đi những tấm mạng nhện kinh khủng chăng ở gần những chiếc hộp, sau đó từng người di chuyển cẩn thận vào không gian chật hẹp ấy, mỗi người một bên.

    Một cách thận trọng nhất có thể, họ di chuyển chiếc hộp trên cùng, đẩy nó thay vì kéo và nhấc nó lên, trong khi cố gắng đỡ đáy thùng với tay họ. Điều đó là vô ích; ngay khi trọng lượng của chiếc hộp không được đỡ bởi chiếc hộp ở dưới, nó toạc ra và những gì bên trong rơi đầy lên tấm bạt.

    Điều tương tự xảy ra với chiếc hộp bên dưới. Ngay khi họ nhấc nó lên, phần đáy hộp toạc ra. Bằng cách thả và đẩy nó, họ cố gắng để đưa được nửa hộp lên tấm bạt. Những gì bên trong có vẻ như chủ yếu là sách, bị mục nát và dính vào nhau, nhưng ở trong tình trạng khá tốt. Họ bắt đầu chuyển những cuốn sách lên tấm bạt; chúng có lẽ thuộc về Howard Easley, trong trường họ đó có lẽ ông ta đã viết cái gì đó lên rìa cuốn sách, hay để lại giấy tờ gì đó kẹp trong chúng.

    Knox kêu khẽ, nhìn chằm chằm vào một chiếc hộp kim loại được đóng hộp cùng với các cuốn sách.

    “Cái gì vậy?” Nikita hỏi khi anh nhấc nó lên.

    Anh liếc về phía cô, biểu cảm của anh vừa ngạc nhiên vừa vui vẻ. “Anh không chắc lắm, nhưng anh nghĩ đây là chiếc rương thời gian.”
     
  3. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 30

    Nikita nhìn xuống chiếc hộp. Cô thật là ngớ ngẩn, nhưng cô đã trông chờ được nhìn thấy cái gì đó mang hình trụ, như một viên thuốc con nhộng vậy. Cụm từ “chiếc rương thời gian” (ở đây Linda dùng từ “time capsule” – “capsule” là một vật dùng để chứa đựng, nhưng đồng thời cũng là vỏ bọc của thuốc con nhộng. Nhưng từ đầu mình dùng “rương thời gian” cho nó văn thơ ^^ - sorry nếu có làm cả nhà hiểu nhầm) khiến cô liên tưởng đến một cái gì đó nhỏ gọn và có khả năng tồn tại với thời gian, không phải một chiếc hộp bằng kim loại to bè, rộng khoảng 8 – 12 inch (20 – 25 cm), hoặc có lẽ là cao khoảng 5 inch (11 cm). “Anh có chắc không?”

    “Không, cho đến khi chúng ta mở nó ra. Chiếc rương thời gian trước đây được bọc trong một tấm vải chống nước trước khi nó được chôn xuống. Nhưng nó có hình dạng như thế này; anh nghĩ nó được làm bằng tay tại một xưởng sắt thép địa phương.”

    Chiếc hộp ở trong một tình trạng tốt đến đáng ngạc nhiên, bị méo sau bao nhiêu nằm dưới đống sách nặng trịch. Cô nghiêng người vào gần nó, cẩn thận xem xét nhưng không chạm vào nó. “Nó đã nằm đây trong suốt những năm qua; sau cùng thì nó đã không được chôn dưới chân cột cờ.”

    “Anh đã xem người ta chôn nó. Ông huấn luyện viên chắc đã quay lại vào cùng đêm hôm đó, và đào nó lên. Đó là đêm Giao thừa, lạnh, có tuyết, đang có trận bóng bầu dục; anh nghĩ là chả có ai đi lại trong thị trấn vào lúc đó nếu ông ấy tính giờ chuẩn xác, chờ đến khi nhóm cảnh sát thứ ba đi tuần theo lệ thường.” Anh nghiêng người xuống gần cô. “Vậy là cái giả thuyết là đã có ai đó đã được gửi đến trước Hugh để lấy cái hộp và giữ nó an toàn thế là đi đời rồi.”

    “Vậy thì ánh sáng đã lóe lên lúc đó chắc là của Hugh dịch chuyển đến; với la ze, hắn ta có thể đào được cái lỗ đó mà chẳng mất chút thời gian nào cả, thấy chiếc hộp không ở đó, và rời đi trước khi những camera giám sát bắt được hình ảnh.”

    “Vậy thì anh ta phải chuyển dịch để rời đi ngay sau đó, vì tại đó không có dấu chân, hay bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy hắn đã làm việc này như thế nào. Anh nghĩ những chiếc vòng đó là một con đường cao tốc hai chiều, không có cửa ra cũng như điểm bắt đầu và kết thúc. Hắn ta không phải là sẽ quay trở lại thời đại của em sao?”

    “Về mặt lý thuyết là vậy, còn tùy thuộc vào cài đặt của những chiếc vòng,” cô nói một cách chậm rãi. “Em nghe đồn là Phòng thí nghiệm Du hành thời gian đang nghiên cứu để phát triển những chiếc vòng sao cho chúng có thể được cài đặt ngay tại thời điểm dịch chuyển, nhưng em chưa thấy có tin là chúng đã được sử dụng. Người du hành khởi động phần cài đặt cần thiết; một cho đích đến, và một cho điểm về. Nếu Hugh dịch chuyển những chuyến đi và về ngắn, vậy thì hắn đã phải ăn cắp vòng mẫu.”

    “Điều đó thú vị thật đấy,” Knox dài giọng. “Điều đó giải thích tại sao tên giết người lọt vào được nhà Taylor Allen và ra khỏi đó mà không chạm vào thứ gì. Anh nghĩ hắn ta đã lau sạch vân tay của hắn khỏi tay nắm cửa và rời đi qua cánh cửa tự động của nhà để xe, nhưng nếu Hugh chỉ đơn giản là dịch chuyển vào và ra, hắn có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu.”

    Tóc Nikita cảm giác như dựng đứng lên và cô tự động nhìn xung quanh, sau đó thở ra một hơi nhẹ nhõm. “Hắn ta phải biết chính xác nơi chúng ta ở và phải có hệ thống GPS dẫn đường trước khi hắn có thể dịch chuyển đến chỗ chúng ta. Hắn sẽ không làm điều đó trừ khi hắn hoàn toàn chắc chắn hắn sẽ đến một địa điểm mà chúng ta không thể thấy hắn. Có nhớ chuyện gì đã xảy ra với Luttrell không? Nhà du hành sẽ nằm ở thế bất lợi trừ khi quá trình dịch chuyển đã hoàn tất.”

    “Nếu chúng ta quay về nhà anh, hắn sẽ có được địa điểm chính xác,” Knox chỉ ra. “Anh không biết tại sao hắn lại tìm ra em ở đó.”

    “Em biết,” Nikita ngắt lời anh. “Bà Lacey.”

    Knox mở miệng, có lẽ định phản đối một cách tự động, sau đó đột ngột khép miệng lại. Một cái nhìn lạnh lẽo của sự tức giận đang len lỏi vào mắt anh. Cảnh sát không tin sự trùng hợp. Đầu tiên là bà Lacey đã nhìn thấy họ với nhau tại Wal-Mart, và rõ ràng là đã rất buồn vì sự có mặt của Nikita; và cùng đêm đó, bà đã trở nên mất lý trí một cách kinh khủng khi gọi điện liên tiếp, một điều mà Knox nghĩ quá bất thường với tính cách của bà. Và sau đó bà còn thực hiện một việc bất thường hơn khi đến nhà Knox và đập cửa. Đã có một người đàn ông ở với bà vào lúc đó; sau đó là sáng nay, một chiếc xe được thuê bởi Hugh Byron đã đỗ chỉ cách nhà Knox vài căn nhà. Không, điều đó còn lâu mới là ngẫu nhiên.

    “Hắn không biết chắc em là ai,” Knox nói, nói to suy nghĩ của mình. “Nếu không hắn đã giết em đêm qua khi em ở một mình.”

    “Hắn sẽ có cơ hội thành công cao hơn khi anh về nhà và chúng ta đang bận rộn,” cô nói khô khốc. “Lúc đó thì em cũng chẳng để ý kể cả khi hắn dịch chuyển đến ngay cạnh giường.”

    “Ý kiến hay đấy,” anh nói, và nháy mắt với cô.

    “Trước khi đó, em đã rất cảnh giác và quan sát mọi việc. Nếu em chỉ là ai đó với cái tên Tina, chẳng việc gì hắn phải giết em. Em nghĩ tất cả những gì hắn cố làm tối qua và tối nay chỉ là để nhin em rõ hơn.”

    “Em có nghĩ lớp cải trang của em lừa được hắn không?”

    Cô lắc đầu. “Em sẽ không cược mạng sống của mình vào điều đó đâu. Anh nhớ không, hắn đến từ thời đại của em; hắn biết để thay đổi màu tóc dễ đến thế nào. Và chúng em đã làm việc trong cùng một đơn vị được vài năm rồi, vì vậy hắn biết em. Sự cải trang chỉ để lừa các anh thôi, nhớ không? Để cho mọi người thấy là em đã rời khỏi thị trấn. Hugh sẽ biết rõ hơn, nhưng hắn không biết phải tìm em ở đâu cho đến cuộc gặp tình cờ với bà Lacey; sau đó có lẽ bà ấy đã nói với hắn ta và hắn có thể đơn giản là suy luận ra mà thôi.”

    “Bà ấy không thể biết chuyện gì đang thực sự diễn ra,” Knox nói. “Bà ấy không…” giọng anh nhỏ dần và anh nhìn chăm chăm vào khoảng không một lúc. “Chết tiệt,” cuối cùng anh cũng nói, rất nhỏ. “Chỉ có một điều khiến bà ấy có thể hợp tác với hắn trong chuyện này. Tên khốn ấy đã nói bà ấy có thể quay lại và cứu Rebecca. Bà ấy không còn ai nữa, chỉ có Rebecca mà thôi. Bà ấy sẽ làm bất kỳ điều gì để đem cô ấy quay lại.”

    Nikita khép mắt trong một khoảnh khắc khi cô lập tức chuyển từ trạng thái khó chịu với bà Lacey sang việc cảm thấy rất thông cảm với bà, gần như đến mức không thể chịu đựng được. Cô biết người mẹ thân yêu của cô đã phải chịu đựng việc mất đi đứa con thân yêu của mình như thế nào, thậm chí với một người chồng thương yêu mình và 3 đứa con khác để xoa dịu bà. Bà Lacey chỉ có một mình. Tên Hugh Byron đã là một tên khốn đáng chết khi máu lạnh đến vậy, lợi dụng sự đau thương và tuyệt vọng của một người mẹ.

    “Bà ấy chắc phải là người đã bắn em.” Nikita nói. “Anh có biết bà ấy có giữ vũ khí nào hợp pháp không?”

    “Anh không biết. Nhiều phụ nữ biết cách bắn súng, đặc biệt là khi họ lớn lên ở vùng nông thôn.” Anh nhìn xuống chiếc hộp kim loại, biểu cảm hung tợn. “Anh nghĩ chúng ta nên tìm ra cái khỉ gì ở trong này đã khiến cho tên khốn ấy giết chết 3 người vì nó.”

    Anh cầm cái hộp lên và mang nó ra khỏi ngôi nhà đổ nát. Nikita ngập ngừng, sau đó chộp lấy một phần tấm bạt và lôi nó ra ngoài cùng đống sách trên nó. Knox đã ngồi xổm xuống trên một khoảng đầy nắng giữa các lùm cỏ và dây leo dã tường vi, đang loay hoay với cái nắp hộp. Nó không có khóa ngoài nhưng sau hàng năm trời không được mở ra, cái chốt của nắp dường như trở nên chặt hơn rất nhiều. Cuối cùng anh chèn cạnh sắc của cái rìu xuống dưới cạnh của cái nắp và cậy mạnh lên; cái nắp hộp bật mở, cho thấy những gì chứa bên trong.

    Một cách cẩn thận, anh bắt đầu cầm ra từng thứ một, đưa chúng lần lượt cho Nikita, người đặt chúng lên tấm bạt. Chúng là:

    Một quyển niên giám

    Một tờ báo

    Một băng cát sét

    Một máy chạy cát sét

    Những bài báo về doanh nghiệp tại Pekesville

    Một cuốn sách về lịch sử thị trấn và của hạt

    Những bức ảnh được tuyển chọn


    Một bức thư viết tay từ thị trưởng, Harlan Forbes

    Niên giám điện thoại của Hạt Peke năm 1985

    Một danh sách những người của Hạt Peke đã hy sinh trong chiến tranh

    Một lá quốc kỳ Mỹ đã từng tung bay trước Trụ sở Tòa án của Hạt Peke được gấp lại cẩn thận

    Một danh mục hàng Sears

    Knox hít mạnh đột ngộ khi nhìn thấy quyển danh mục, sau đó ngã bệt xuống trên cỏ, vòng tay ôm bụng và cười rú lên. “Không thể tin được,” anh vừa cười vừa cố nói. “Một quyển danh mục hàng Sears! Tên mất trí nào lại bỏ cái đó vào một chiếc rương thời gian chứ? Hoặc là họ đang say khi nghĩ đến việc bỏ nó vào, hoặc ai đó đã cố đùa rồi.”

    Nikita nhấc quyển danh mục hàng và nhẹ nhàng lật giở từng trang. “Ồ, em không biết nữa. Em nghĩ nó sẽ thể hiện những hình ảnh khá rõ ràng về cuộc sống ở những năm 1985. Nhìn này, nó có giá cả, mô tả, và những bức ảnh. Đây có thể là một cuốn sách giá trị như cả một vật sưu tầm và những thông tin nó đưa ra.”

    “À, trừ khi nó cho chúng ta cách thức du hành thời gian, nếu không chúng ta hết đường rồi. Anh biết là đã có 13 thứ được bỏ vào cái rương, vậy vật thứ 13 đâu? Liệu Huấn luyện viên Easley có bỏ cái gì ra ngoài không?”

    “Vậy tại sao không chỉ lấy vật đó thôi và để lại cái hộp ở đây?”
    Nikita hỏi một cách lý trí. “Không cần thiết phải cầm cả cái hộp nếu trong đó chỉ có một vật chúng ta cần.”

    “Người đàn ông đó đã tự sát một khoảng thoài gian ngắn sau đó; ông ấy không phải hình ảnh tốt cho một lý trí tỉnh táo đâu.”

    Cô nhấc cuốn sách nặng nề lên và giở qua các trang một cách rất nhanh chóng. Trước sự sững sờ của cô, vì cô thật sự không nghĩ mình sẽ tìm thấy gì đó, một mảnh giấy trắng bay ra và hạ cánh xuống tấm bạt.

    Knox vươn người ra và nhặt nó lên, đọc nó.

    “Nó nói gì vậy?”

    “Anh đoán đây là thư tuyệt mệnh của ông ấy. ‘Chết tiệt. Tôi chán cái mớ hỗn độn này lắm rồi.’ trích dẫn lời ông ấy đấy nhé. Và vì cái chết tiệt gì mà ông ấy lại kẹp nó vào một cuốn danh mục hàng Sears chứ, lại còn cho vào một chiếc rương thời gian, sau đó đóng thùng chiếc rương trong một thùng sách, anh hoàn toàn chả có chút đầu mối nào cả. Anh nghĩ là ông ấy phát điên rồi.”


    “Chắc là một chứng khủng hoảng tinh thần nào đó. Việc như vậy vẫn xảy ra mà; những chất hóa học trong não thay đổi, và chúng ta vẫn không biết tại sao.”

    “Hãy xem ở đây có thêm gì nữa nào. Chúng ta có thể gặp may đấy.”

    Cô lắc quyển danh mục hàng lần nữa, nhưng chẳng có gì rơi ra. Thất vọng, cô ngồi lên tấm bạt và nhìn vào mọi thứ anh đã lấy ra khỏi chiếc hộp. Có lẽ là tờ báo chăng – một cách cẩn thận, cô kiểm tra nó, vì những trang giấy đã có cảm giác xốp mềm, nhưng chẳng có gì được thêm vào bên trong các trang tin. Các bài viết về doanh nghiệp cũng tương tự, không có trang nào được thêm vào.

    Knox đã xem qua cuốn niên giám, mà không có kết quả nào. Họ nhìn vào đằng sau của tất cả các bức ảnh, nhưng tất cả đều có những cái tên, ngày tháng và địa điểm. Lá thư của ngài thị trưởng chỉ có một trang giấy. Cuốn sách lịch sử cũng chỉ là một cuốn sách lịch sử. Chán nản nhưng cẩn thận không muốn làm hỏng những nếp gấp, Knox còn tìm kiếm trong lá cờ.

    “Khỉ thật, tất cả những gì mà chúng ta có thể làm bây giờ là nghe chiếc băng cát xét, để xem có cái gì ngoài âm nhạc không,” anh nói, nhặt cuốn băng cát xét lên và xem xét nó. “Dù sao thì chúng ta cũng không thể, pin sẽ cạn rồi – giả sử nếu họ có cho pin vào, có thể nghĩ rằng đó chỉ là sự lãng phí tiền bạc.” Thả cái băng rơi xuống, anh nhặt cái đài chạy băng nhỏ lên và chuẩn bị lật nó lại khi anh đột ngột dừng lại và nói khẽ, “Có một cái băng đã ở sẵn trong đài rồi.”


    Họ lái đến cửa hàng tạp hóa cần nhất và mua vài cục pin AA mà Knox dùng để đặt vào phía sau của chiếc đài. Ngồi trong xe, anh nhấn nút Play…. Và một bài hát từ năm 1984, “Thriller”, tràn ngập trong không gian. Nhăn nhó, anh dừng cuộn băng lại và lấy băng ra, “Anh luôn ghét bài hát đó,” anh cằn nhằn. “Bài hát của Michael Jackson mà anh thích nhất là ‘Ben’. Đó là bài về một con chuột cống.”

    “Kinh thật đấy.” cô nhận xét.

    “Em nên xem đoạn video của ‘Thriller’; đó mới là điều đáng sợ.”

    Anh đặt cuộn băng khác vào chiếc đài, và nhấn nút Play.

    Có vài tiếng nhiễu sóng, và sau đó một giọng nói trầm trầm cất lê. “Đây là đoạn băng dành cho David Li, Marjorie van Camp, và JoJo Netzer. Các bạn sẽ biết phải làm gì.” Giọng nói tiếp tục nói về điều chỉnh trọng lực, các lý thuyết toán học và công thức mà họ hoàn toàn không hiểu chút nào, nhưng gần như chắc chắn là cái mà họ đang tìm kiếm. Cuốn băng kết thúc với những lời, “Xin lỗi, tôi sẽ không có mặt ở đó để giúp các bạn. Tôi sẽ rời đi đây.”

    Knox quay lại đoạn băng, và rồi lấy nó ra. “Đây chính là vật thứ 13, và là cái mà Hugh đang tìm kiếm. Anh không nghĩ hắn thuộc về bất kỳ tổ chức cực đoan nào; hắn quá sẵn sàng để sử dụng công nghệ. Hắn muốn có cuốn băng này, nhưng không phải vì hắn muốn ngăn sự ra đời của du hành thời gian.”

    “Không,” Nikita đồng ý. “Em nghĩ – chúng ta đáng lý ra nên nghĩ – đó là lý do, nhưng em đồng ý là giả thuyết đó không phù hợp với Hugh. Hắn không phải một kẻ phản đối du hành thời gian; hắn là một trong những người nhiệt tình nhất với lý thuyết đó. Em không thực sự quan tâm tại sao hắn ta lại muốn nó. Chúng ta đã có nó trong tay, giờ thì cần giữ nó được an toàn, và chúng ta phải tóm được Hugh. Tất cả những thứ khác chỉ là thứ yếu.”

    “Em nói rằng hắn không có khả năng xuất hiện ngay trước mắt chúng ta. Vậy hắn có khả năng làm gì?”

    “Hắn có súng la ze trong tay. Tất cả những gì hắn cần là một lần ngắm rõ ràng.”


    “Vậy thì chúng ta sẽ phải trốn,” Knox nói. “Anh có khả năng sẽ bị đuổi việc, nhưng anh sẽ xin nghỉ phép một thời gian, bắt đầu ngay từ bây giờ. Chúng ta có lợi thế là đã biết hắn ta đang tìm kiếm em, vì vậy có thể khá chắc chắn hắn sẽ tìm ở đâu. Chúng ta chỉ cần chắc chắn là chúng ta nhìn thấy hắn trước.”


    “Anh có một món quà cho em,” Hugh Byron nói với Ruth khi họ nằm trên một tấm chăn nằm bên một dòng suối với nhiều khúc quanh. Hắn đang vui; hắn đã biết phải tìm Stover ở đâu, và trong vòng vài giờ tới hắn sẽ xóa sổ cái rắc rối bé nhỏ đó. Cô ta biết quá nhiều. Hắn không thể mạo hiểu để cô ta quay trở về và kể câu chuyện của mình. McElroy đáng lẽ phải chăm lo mọi việc từ phía bên kia, nhưng thỉnh thoảng lỗi lầm vẫn xảy ra; bằng chứng là sự hiện diện của Stover ở đây.

    Bà mỉm cười nhưng không mở mắt. Bà đang thiu thiu ngủ, mệt mỏi sau khi làm tình. “Cái gì vậy?”

    “Nhìn này,” hắn nói, và bà mở mắt. Ánh nhìn của bà khóa cứng vào vật mà hắn đang cho bà xem.

    “Em phải làm gì?” bà thì thầm, vẫn không nhìn đi chỗ khác.

    “Em đeo mỗi một vòng lên một cổ tay và cổ chân. Khi đến lúc, anh sẽ chỉ cho em cách kích hoạt chúng. Hãy hứa với anh em sẽ không thử sử dụng chúng mà không có anh; nó có thể rất nguy hiểm.”

    “Em hứa,” bà nói, nghiêng người ra để chạm vào những chiếc vòng với những ngón tay run rẩy. “Chúng trông rất…bình thường. Chúng là của anh sao? Làm thế nào anh quay lại được nếu không có chúng?”

    “Chúng không phải của anh, chúng là của Stover. Anh tìm thấy chúng ở nơi mà cô ta chôn chúng.” Ai đó đã làm sai lệch thời điểm của lần chuyển dịch của cô ta; McElroy đáng ra phải đảm bảo đặc vụ tiếp theo đến vào một thời gian và địa điểm nhất định để hắn có thể xử lý đặc vụ đó theo cách hắn đã xử lý Houseman, nhưng khi Hugh đang trên đường, hắn đã nhìn thấy những tia chớp sáng lên và hắn biết hắn đã quá muộn. Khi hắn đến nơi, Stover đã dịch chuyển và biến mất.

    Sự thỏa mãn duy nhất mà hắn có được là có thể xác định vị trí những chiếc vòng của cô ta và lấy chúng, đảm bảo chắc chắn cô ta không thể quay trở về. Tìm thấy chúng không khó cho lắm; sách hướng dẫn đã yêu cầu đặc vụ chôn chúng ở nơi họ dịch chuyển đến để họ biết chắc chắn chúng ở đâu, và Stover đã rất tuân thủ luật. Tất cả những gì hắn phải làm là xác định vị trí đất và lá đã bị xáo trộn, và đào chúng lên.

    “Em không thể chờ để được gặp con bé một lần nữa,” Ruth nói. “Em đã nhẩm đi nhẩm lại trong đầu những gì em sẽ nói với con bé, để khiến con bé phải đi đến bác sỹ và kiểm tra. Con bé quá—đôi khi con bé có thể quá cứng đầu. Con bé sẽ không muốn đi. Em sẽ phải bắt con bé lắng nghe.”

    “Em sẽ nghĩ ra cái gì đó thôi.” Hắn mỉm cười nhẹ. “Em có lẽ phải cho con bé thấy những gì em có thể làm với cái vòng trước khi con bé tin em.”

    “Anh sẽ hướng dẫn cho em cách làm chứ?”

    “Được rồi, nhưng em phải rất cẩn thận và làm chính xác như những gì anh hướng dẫn đấy.”

    “Em biết mà.” Bà ngập ngừng. “Khi nào em quay lại được?”

    “Khi Stover chết.”

    Nỗi đau đớn lướt qua khuôn mặt của Ruth. “Em ước gì cô ấy không phải chết.”

    “Cô ấy phải chết để nhiệm vụ của anh có thể hoàn thành. Anh không muốn giết cô ta, anh phải làm vậy. Và nếu anh không thành công, nếu cô ta giết được anh, hãy nhớ rằng cô ta sẽ săn tìm những chiếc vòng này và cô ta là một đặc vụ có những kỹ năng xuất sắc. Cô ta phải nghi ngờ việc em đã có chúng. Cô ta sẽ xem xét lại các hành động của anh, khám phá ra những nơi anh từng đến, và sau đó cô ta sẽ săn đuổi em. Nếu anh không giết được cô ta, Ruth ạ, em phải làm vậy. Đây là cách duy nhất để em cứu được Rebecca.”
     
  4. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Tuyet!!! May ngay cuoi tuan ngong ban dai ca co roai
     
    Dreami and linhhaman like this.
  5. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Hic, mấy ngày cuối tuần nhà không có mạng nên tớ không post gì được, chỉ tập trung dịch cho xong. Cả quyển đã sắp xong, chỉ còn 1 chương cuối và 1 epilogue nên trong tuần này sẽ kết thúc đấy, cả nhà chờ nhé ^^
     
  6. meocontb

    meocontb Lớp 2

    Cảm ơn Nguyễn Hằng.
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  7. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Chapter 31

    “Hắn sẽ đợi ở đó khi chúng ta về đến nhà,” Nikita nói. “Hắn sẽ thích lúc trời tối hơn, nhưng nếu hắn có tầm ngắm tốt, hắn sẽ thực hiện ngay, dù là ban ngày hay ban đêm.”

    “Vậy thì anh sẽ phải đưa ai đó về nhà cùng anh ngoài em ra.”


    Cô biết anh có ý gì. Anh cần một người phụ nữ, người mà khi ra khỏi xe, sẽ dễ dàng nhận ra không phải Nikita. Hugh sẽ ngồi trong chiếc xe thuê của hắn, Knox sẽ gọi vào máy di động của Nikita để cho cô biết vị trí chiếc xe. Trong lúc đó, cô có thể tiếp cận với hắn khi đi bộ. Khi Hugh đang quan sát ngôi nhà của Knox, cô có thể lẻn đến sau lưng hắn. Cô và Knox sẽ khiến hắn ta bị kẹt giữa hai gọng kìm của họ.

    Kế hoạch không phải là không có nguy hiểm, cho cả hai người bọn họ. Chưa từng có một loại giáp nào được thiết kế ra, dù là ở thời đại của cô hay thời đại này, có thể chịu được sức mạnh của vũ khí la ze. Nhưng cô cũng có vũ khí của mình, và nếu là vũ khí thì một viên đạn cũng có thể giết một người một cách dễ dàng. Họ có thể khiến Hugh bị áp đảo về mặt số lượng. Phần thắng đang nghiêng về phía họ, nhưng không gì là chắc chắn.

    Sau cuộc phiêu lưu của họ tại căn nhà cũ của Howard Easley, cả hai người họ đều đầy mồ hôi và bụi bẩn. Knox gọi điện cho bố anh và hỏi liệu họ có thể tắm và thay đồ tại nhà ông trong khi ông và Lynnette ở chỗ làm không. Như thường lệ, Kelvin không hỏi câu nao cả.

    Knox biết chìa khóa dự phòng để ở đâu, vì vậy họ lái xe thẳng đến đó. “Anh biết cách vận hành một cái máy giặt,” Nikita nói khi họ ra khỏi xe. Cô kéo cái áo phông qua đầu và ném nó cho anh. “Anh sẽ làm việc đó khi em tắm nhé.”

    Phụ nữ ở thời của cô đeo các dải băng bó ngực thay vì áo lót, vì chúng nâng đỡ tốt hơn và cũng thoải mái hơn. Chúng được giữ lại bằng cách ấn chặt hai đầu đè lên nhau của chúng lại với nhau, vì thế chúng hoàn toàn có thể điều chỉnh kích cỡ được. Từ cuộc phiêu lưu nhỏ của cô trong đám cỏ dại và cây bụi, cô cảm thấy những con bọ tí hon đang bò lổm ngổm khắp người cô, và cô đang sợ rằng cô đã gặp một ca vô phương cứu chữa liên quan đến những con rận. Và dải băng ngực cũng được tháo ra, và cô cũng quẳng cả cái đó cho Knox.

    Anh nhanh chóng tìm quanh để lấy chìa khóa, không dứt tia nhìn khỏi cô khi cô cúi xuống để tháo giầy. “Em sẽ cởi hết đồ của mình ở đây à?” anh hỏi với niềm thích thú tăng cao.

    “Nếu anh mất quá nhiều thời gian để mở cái cửa ra, thì phải.” Cô ném chiếc tất của mình về phía anh và cởi khóa quần jeans của mình, kéo chúng xuống dọc theo chân và bước ra khỏi nó. Những viên đá dăm cọ vào bàn chân trần của cô, khiến những ngón chân của cô co lại. Cuối cùng anh cũng tìm thấy chìa khóa nhưng đang rất khó khăn để khiến chìa khớp vào ổ. Cô ném cái quần của mình qua vai anh và kéo quần lót của cô xuống. “Nhanh lên!”

    “Anh không thể,” anh nói.

    “Anh có thể nếu anh chịu nhìn vào việc mà anh đang làm thay vì cứ nhìn chăm chăm vào em như thế!”

    “Anh không thể,” anh nói lại. “Chúa ơi!”

    Cô ném cái quần lót vào tay anh và dùng vai đẩy anh sang bên, và tự mở khóa cửa. Anh thả mọi thứ xuống và vươn tay ra ôm lấy cô ngay khi cánh cửa bật mở. Cô luồn qua, dừng lại trong bếp và nói, “Phòng tắm ở đâu?”

    “Cứ đi thẳng, rẽ phải, nó là cánh cửa thứ hai bên tay trái.”

    Cái cảm giác ngứa ngáy, râm ran khắp người quá kinh khủng đến nỗi cô đã nhảy ngay vào dưới vòi sen ngay khi nước chưa kịp nóng lên. Cô kêu khẽ vì nước lạnh, nhưng thận chí nếu nước có lạnh như nước đá, cô cũng thích nó hơn là lũ bọ.

    Cô đã xoa xà phòng lên người và dội nước trôi đi khi tấm rèm của khoang tắm bị kéo sang bên và một người đàn ông trần trường cao lớn bước vào bồn tắm với cô.

    “Anh đang làm cho sàn nhà bị ướt đấy,” cô nói.

    “Anh sẽ lau sạch nước sau.” Anh áp sát hơn, quấn lấy cô, và ấn cô vào bức tường đá hoa mát lạnh. Dương vật của anh quá cứng đến nỗi nó đang cong về phía trước, chọc vào bụng cô.

    Cô đặt tay lên vai anh và đẩy, khiến anh phải lùi ra. “Em sạch sẽ rồi, nhưng anh vẫn còn đầy mồ hôi bụi bẩn và có cả đống bọ trên người. Anh chỉ cần đứng đó thôi và em sẽ giải quyết vấn đề này.”

    Ánh mắt của anh đang nóng bỏng và nheo lại, nhưng anh vẫn làm như cô yêu cầu. Đầu anh hạ thấp xuống và tia nhìn của anh khóa chặt lấy cô khi cô xịt một lượng lớn sữa tắm vào tay và bắt đầu xoa chúng lên ngực và vai anh, tạo ra một lượng lớn bọt xà phòng. Cô làm sạch cánh tay, lưng, bụng anh , sau đó bắt đầu với chân anh và làm ngược lên trên. Cô liếc nhanh anh và nhìn thấy hàm anh đã siết lại và răng đang nghiến chặt, yết hầu anh chuyển động lên xuống khi anh nuốt mạnh, nỗ lực để khiến bản thân anh đứng yên tại chỗ. Cô không nhìn lên kể từ đó, tập trung vào những gì cô đang làm, vuốt ve bàn tay đầy bọt qua mông anh và luồn vào giữa chúng. Anh rên khẽ, giật mình, sau đó hoàn toàn yên lặng trừ tiếng hít ra thở vào đầy khó khăn.

    Cô dành nhiều thời gian để rửa dương vật của anh. Vào thời điểm mà cô làm xong, đầu anh đã gục hẳn xuống và cả cơ thể anh đang run rẩy, một cánh tay đặt chống vào tường trong khi tay kia của anh đang tóm chặt lấy mái tóc ướt rượt của cô. Cô chỉ đơn giản là nghiêng về phía trước và ngậm anh vào miệng, giữ lấy anh bằng tay phải và với tay trái, cô chụp lấy mông anh, siết lại và kéo anh về phía cô. Một âm thanh hoang dã thoát ra khỏi miệng anh và hông anh đẩy mạnh về phía trước; khi cô cảm thấy anh đã ở bờ vực cực khoái, cô thả ra và đứng dậy.

    Trước khi cô có thể vuốt nước ra khỏi mặt, anh đã ghim chặt cô vào tường, một bên đùi quặp lấy hông anh, và anh đâm quá mạnh vào cô khiến cô không thể ngăn được một tiếng thét nhỏ thoát ra. Anh không hề xin lỗi, chỉ rút ra và đâm vào lại, lần nữa, và lần nữa. Cô đã biết là có thể cô đã đẩy anh đi quá xa đến nổi cô gần như sẽ không có đủ thời gian lên đỉnh nhưng cô đã nghĩ phản ứng của anh quá xứng đáng với sự chờ đợi thời điểm lên đỉnh của cô; thật đáng ngạc nhiên, nhịp điệu mạnh mẽ, hoang dại liên tục đó đã đẩy cô đến đỉnh điểm của cực khoái hoang dã nhất từ trước đến giờ và nó đã khiến cô trở nên yếu đuối, phải bám vào anh để được nâng đỡ. Anh nhấc cô hoàn toàn khỏi mặt đất và đâm mạnh vào cô, đã quá lạc lối trong hoan lạc để thậm chí để ý đến việc vờ vĩnh quan tâm hay lịch sự, trong anh không còn lại gì ngoài sự khao khát đến mù quáng để vươn đến cực khoái.

    Dần dần cô chú ý đến việc nước đã trở nên lạnh lẽo. Cô sờ soạng xung quanh để tìm cần gạt và khóa vòi sen lại. Anh giữ nguyên tư thế đổ gục vào người cô, ngực anh chuyển động lên xuống một cách nhanh chóng, đầu anh nghỉ trên vai cô. Nếu cô không bị ghim chặt vào tường, bản thân cô cũng không thể đứng thẳng được. Cô không muốn chơi đùa hay trêu anh, nhưng vào một lúc nào đó, họ đã bị hút vào một vòng xoáy mạnh mẽ, quá mạnh để chối bỏ hay kiểm soát.

    “Quá sớm để nói rằng anh yêu em,” anh lẩm bẩm trên bờ vai cô. “Chúng ta mới biết nhau ba ngày. Vì thế anh sẽ không nói vậy.”

    “Em cũng không nói vậy,” cô thì thầm, như thể bằng sự im lặng của mình, cô có thể chối bỏ cơn bão cảm xúc đang ngự trị.


    “Em có ý này,” Ruth nói. Từ khi Byron trao cho bà những chiếc vòng, bà đã ngày càng không yên. Bà có thể cảm thấy chúng đang cháy bùng trên da bà, dù cho bà không hề đeo chúng. Trong tâm trí, những chiếc vòng đang được đeo quanh cổ tay và cổ chân bà; trong tâm trí bà, bà chỉ còn vài giây nữa là lại được ôm Rebecca vào vòng tay, giằng lấy cô từ bàn tay lạnh lẽo của thần chết. Tại sao bà lại phải đợi? Có khác biệt gì nếu người đàn bà tên Stover đó vẫn còn sống? Bà, Ruth, có những chiếc vòng. Bà đã có được phương thức chạm đến con gái mình. Byron đã lập ra những kế hoạch giết người của mình và kiên nhẫn như một con nhện chờ con mồi, nhưng người nằm trong mộ cũng không phải con gái anh ta.

    Bà đã say sưa với niềm đam mê, đắm đuối trong nhiều ngày, nhưng đột nhiên bà trở nên quá mất kiên nhẫn với anh ta, bà chỉ muốn tóm lấy anh ta mà lắc. Làm sao anh ta dám trao cho bà phương thức để có lại con gái mình sau đó bắt bà hứa không thực hiện cho đến khi anh ta quyết định thời điểm đã đến? Bà không thể chịu được điều đó.

    Anh ta muốn hạ Stover khi cô ta chỉ có một mình, lảm nhảm cái gì đó về việc không muốn giết một cảnh sát. Anh ta có ý chỉ Knox, đương nhiên, vì Stover cũng là một cảnh sát, nhưng rõ ràng là cô ta không được tính là một cảnh sát. Ruth luôn luôn yêu thích Knox, nhưng đột nhiên anh cũng trở nên không quan trọng. Nếu anh là người đang ngăn không cho bà gặp lại Rebecca, thì bà không quan tâm nếu anh rơi vào vòng nguy hiểm. Bên cạnh đó, khi bà quay lại cứu Rebecca, anh cũng vẫn còn sống, phải không nào? Khi bà đã cứu Rebecca, tất cả mọi thứ sẽ thay đổi, và chuyện này sẽ không xảy ra, vì vậy việc bà đang làm không phải là mạo hiểm với mạng sống của Knox.

    Anh đang ngủ với Stover. Anh đã ruồng bỏ Rebecca.

    Nhưng bà biết Knox, biết thói quen của anh, biết anh thân thiết với cha đến mức độ nào. Một suy nghĩ đột nhiên nảy ra, và đó là lúc bà nói. “Em có ý này.”

    Byron quay sang phía bà, đột nhiên trở nên chăm chú. Sự thiếu kiên nhẫn của bà với anh ta nhạt đi, vì anh ta luôn lắng nghe bà.

    “Em nghĩ em có thể tìm thấy Knox,” bà nói.

    “Bằng cách nào?”

    “Cha thằng bé.”

    “Làm thế nào? Anh tuyệt đối sẽ không bắt cóc cha anh ta để làm mồi cho một cái bẫy đâu. Càng nhiều người có liên quan, cơ hội thấy bại càng cao.”

    “Không, đương nhiên là em không muốn bắt cóc ông ta. Tất cả những gì em phải làm là gọi cho ông ta và hỏi xem ông ta có biết Knox ở đâu không. Ông ấy có thể không biết, nhưng cũng đáng để thử, vì họ khá gần gũi với nhau.”

    Hắn nghĩ về việc đó một lúc; bà có thể thấy hắn đang so sánh lợi và hại của vấn đề. Cuối cùng hắn nói, “Thông thường anh sẽ nói quá nguy hiểm khi khiến tên em gắn với tên anh ta, không cần biết ý định của chúng ta là gì, nhưng vì em chuẩn bị rời đi, anh không thấy việc đó có hại gì.”

    Dù sao cũng chẳng có vấn đề gì cả, bà nghĩ với sự thiếu kiên nhẫn tăng dần. Điều quan trọng là đến với Rebecca.

    Bà tìm kiếm số điện thoại của cửa hàng dụng cụ và gọi đến số đó bằng điện thoại di động. Kelvin đã nhấc máy, giọng của ông quá giống với Knox đến nỗi trong một lúc bà đã không thể nói được gì.

    “Kevin, tôi là Ruth Lacey. Tôi đã cố gắng liên lạc với Knox cả ngày nhưng không được. Ông có biết thằng bé ở đâu không?”

    “Đương nhiên rồi. Thằng bé đang ở nhà tôi, tắm rửa và giặt giũ. Tôi chẳng hỏi câu nào cả,” ông vừa nói vừa cười. “Tôi cho rằng tôi biết càng ít, tóc tôi bạc đi càng chậm.”

    Bà cũng cười và nói. “Cảm ơn. Tôi sẽ liên lạc với thằng bé ở đó,” bà gác máy và quay sang Byron với sự vui vẻ. “Thằng bé đang ở nhà Kelvin, tắm rửa và giặt giũ, theo Kelvin thì là vậy. Và nếu Knox đang ở đó, anh có thể chắc chắn là Stover cũng vậy.”


    Sau khi Ruth gác máy, Kelvin quay lại với công việc xếp hàng hóa và chờ đợi khách hàng, nhưng cái gì đó vẫn lấn cấn trong lòng ông. Khi Knox gọi để hỏi về việc sử dụng ngôi nhà, anh không nói phải giữ bí mật về việc anh ở đâu, nhưng có lẽ anh nghĩ việc đó là không cần thiết, Kelvin sẽ tự động biết phải giữ im lặng, việc giữ im lặng về việc gì thì không quan trọng. Kelvin không tự động nhận ra điều đó, và nó khiến ông lo lắng.

    15 phút sau ông đầu hàng trước sự lo lắng của mình và gọi vào máy di động của Knox.

    “Vâng, bố ạ, có chuyện gì vậy?”

    Điều kỳ diệu của màn hình hiện số gọi đến, Kelvin nghĩ. “Con tắm và giặt đồ xong rồi chứ?”

    “Con tắm xong rồi, và quần áo đang ở trong máy sấy. Đó là lý do bố gọi?”

    “Bố cho là không. Con không nói, nhưng bố cho rằng bố nên giữ im lặng và không nói với ai biết con ở đâu phải không?”

    “Có nghĩa là đã quá muộn cho việc dặn dò phải không ạ?”

    “Phải, bố e là vậy. Ruth Lacey đã gọi điện, và nói bà ấy đã cố liên lạc với con cả ngày nay. Bố không nghĩ nhiều lắm về chuyện đó, và đã nói với bà ấy là con đang ở chỗ bố. Bà ấy đã gọi điện chưa?”


    “Chưa, và cô ấy có số của con mà. Cô ấy vẫn chưa gọi đâu.”

    “Hmmm. Bố đoán đây có lẽ là một sự thăm dò rồi. Có lẽ con nên mặc quần vào đi.”

    “Con sẽ sẵn sàng,”
    Knox nói. Cảm ơn vì bố đã cảnh báo.”

    Ngắt máy xong, Knox xoay về phía Nikita và nói, “Ruth đã gọi cho bố anh và hỏi xem ông có biết anh ở đâu không. Ông đã nói cho bà ấy biết rồi. Chúng ta nên mặc quần áo nhanh lên.”

    Quần áo của họ vẫn chưa hề khô – trừ quần lót của Nikita, thứ dường như khô trong vòng vài phút – vì vậy họ đã lục tìm trong tủ quần áo của Kelvin và Lynnettte. Knox chỉ nhỉnh hơn một chút so với bố anh về chiều cao, vì vậy quần jean của Kelvin khá vừa vặn với anh. Anh chộp lấy cái áo sơ mi gần nhất và mặc vào, sau đó kéo một cái xuống khỏi móc và đưa nó cho Nikita. “Mặc nó vào đi, không quan trọng trông nó như thế nào. Chúng ta cần mặc quần áo vào đã.”

    Thứ đầu tiên mà cô mặc vào là một cái quần đùi, mà may là nó có chun, vì Lynnette to hơn cô khoảng 2 cỡ. Nikita kéo nó lên trong khi trí óc cô đang là việc hết công suất. “Hắn sẽ không chỉ đơn giản là lái lên đây đâu. Hắn sẽ dừng lại và tiếp cận bằng việc đi bộ, cố gắng khiến chúng ta bất ngờ. Chúng ta có thể giả định rằng vũ khí của hắn giống của em; hắn có lẽ sẽ có một khẩu như của Luttrell, với tầm bắn xa hơn nhiều. Hãy lấy khẩu súng của Luttrell ra khỏi thùng xe đi. Em có thể hướng dẫn anh cách sử dụng nó; quy tắc ngắm bắn cũng giống nhau cả thôi trừ việc anh không cần phải tính đến độ giật và sức gió. Chỉ cần ngắm một cách chính xác, và tia la ze sẽ chiếu chính xác vào chỗ đó.”

    “Em là mục tiêu hàng đầu của hắn. Em giữ khẩu đó, và đưa cho anh khẩu nhỏ của em.”

    “Nhưng hắn sẽ trông đợi việc em có nó. Hắn không biết em mang theo những gì, vì em là người chọn, chứ không phải McElroy. Anh có khả năng làm hắn bất ngờ hơn là em.”

    “Thế nào cũng được, chúng ta cần ra khỏi ngôi nhà này ngay.”


    Nikita trượt đôi chân không vào giày thể thao, không dừng lại để kịp buộc dây. Mỗi giây đều quan trọng. Đôi giày thể thao của Knox được để trong thùng xe anh, và anh không quan tâm đến đôi ủng ở cửa cũng như không dành thời gian để lấy giầy của Kelvin. Tha vào đó, anh chạy với đôi chân trần ra cửa sau, lấy bao đựng súng của anh trên đường ra ngoài. Nikita giật lấy ví của cô từ bàn bếp và đuổi theo ngay sau anh.

    Anh chỉ vừa mới mở thùng xe khi họ nghe thấy một tiếng động mỏng manh của một chiếc xe trên đường, đi chuyển chậm chạp. Đường lái xe của Kelvin quá dài đến nỗi trong mùa hè, khi những cái cây và bụi rậm đang trong giai đoạn xanh tốt nhất, từ ngôi nhà người ta không thể nhìn thấy con đường. Âm thanh dừng lại. Hugh đã đến.

    Không có thời gian để Nikita chỉ cho Knox biết cách dùng khẩu XT37; anh lấy nó ra từ thùng xe và quẳng cho cô. “Ở đằng kia,” anh nói trong tông giọng thấp và cấp bách, chỉ vào một hàng cây bụi rậm rạp phía bên phải. “Em hãy ra đằng sau những bụi cây và nắm xuống. Và vì Chúa, đừng có đi đâu đến gần bể chứa propane đằng kia.”

    “Cái gì cơ?” cô thì thầm.

    “Cái bể màu bạc to đùng kia kìa! Nó là khí đốt đấy.” Anh chỉ vào cái bể đang được nói đến, đóng sập thùng xe lại, sau đó chạy về bên trái. Với sự may mắn, họ sẽ tóm được Hugh trong làn đạn bắn đan xen. Ở đằng đó không có bụi cây nào để che chắn, và đó là lý do anh đã đẩy Nikita sang phía bên kia. Anh đứng nấp sau một gốc sồi, hy vọng nó đủ to để che chắn cho anh, và nâng vũ khí lên.

    Chiếc xe lại khởi động lần nữa. Anh lắng nghe âm thanh của động cơ tiến lại gần hơn và gần hơn; sau đó nó xuất hiện trong tầm nhìn khi đang leo lên một ngọn đồi nhỏ, uốn lượn. Knox lùi về phía sau chỉ vài cm, cố không tạo ra chuyện động đột ngột có thể thu hút sự chú ý nào, nhưng trong một phần của giây, anh nhận ra chiếc xe. Đó là Ruth Lacey.

    Bà đỗ xe đằng sau xe anh và ra ngoài. Anh liếc bà, mảnh mai và gọn gàng trong quần lanh màu bột yến mạch và một chiếc áo xanh sáng, sau đó quay sự chú ý của anh đến nơi mà có khả năng Hugh đang đi bộ lại gần ngọn đồi. Trái tim của anh tan vỡ khi Ruth bị dính đến tên giết người khốn kiếp đó. Bà gợi anh nhớ đến Rebecca quá nhiều, với cả ngoại hình và cử chỉ, nhưng vào khoảnh khắc đó anh cảm thấy khoảng mềm mại trong trái tim anh dành cho bà đã bị dày xéo và cứng lại. Vì bà, mạng sống của Nikita đang trong vòng nguy hiểm. Với những hành động của mình, bà đã đặt mình vào một vị trí không thể thay đổi được là ở phía đối địch với anh.

    Bà đi lên những bậc thềm và nhấn chuông cửa. Nếu Kelvin không cảnh báo anh, nếu họ chưa nhận ra Ruth đang trợ giúp Hugh, bất kỳ ai ra mở cửa cũng sẽ là một mục tiêu rõ ràng. Knox nghiên cứu để tìm nơi Hugh có khả năng trốn nhất, để Ruth tự chỉ ra vị trí của hắn cho anh. Có lẽ bà đã được chỉ dẫn để cho hắn ta một tầm bắn tốt.

    Nikita không đời nào lại ra mở cửa, Knox nghĩ; bản thân anh có lẽ sẽ làm điều đó. Vậy họ đã lập kế hoạch bắn anh ngay khi nhìn thấy, hay cố để kéo cả anh và Nikita ra ngoài?

    Không quan trọng. Dù thế nào đi nữa, Hugh đã có kế hoạch giết cả hai người họ và Ruth biết điều này.

    Anh nhìn thấy một chuyển động khẽ khàng trong những bụi cây. Có lẽ là gió, anh nghĩ, trừ việc nó là hợp lý cho Hugh trốn trong đó, không một nơi nào khác.

    Ruth nhấn chuông lần nữa, đợi, sau đó gõ cửa một cách hung hăng. “Knox!” bà gọi. “Knox Davis, ra mở cửa ngay! Xe của cháu đỗ ở ngoài, vì vậy đừng tưởng cháu có thể giả vờ là không ở trong đó.”

    Bà đợi và lắng nghe, càng ngày càng bứt rứt vì không nghe thấy tiếng động gì. Knox mạo hiểm liếc về phía bà lần nữa. Bà đang đi đi lại lại trên thềm, tay mân mê một cặp vòng bạc. Đột nhiên bà bật khóc – và làm một việc vô cùng ngu ngốc. Quay ngoắt người ra phía ngoài, bà hét lên – “Chúng không ở đây! Chẳng có tiếng động nào bên trong cả.”

    Ngay lập tức Knox biết Hugh sẽ làm gì, biết được cơn giận dữ sẽ lấn át mọi thứ khác, và hắn bước ra từ sau cái cây, đã bắt đầu bắn. Một tia la ze bắn thẳng vào trong nhà, ngay phía bên tay trái của Ruth, sau đó nhanh chóng lia sang một bên. Nikita tung người ra từ phía sau bụi cây, vừa chạy vừa bắn để tránh Hugh có thể nhắm vào Knox. Cả hai người họ nhảy gọn ra phía sau bụi cây vào cùng một lúc, và suýt nữa va vào một người đàn ông đang nằm nghiêng một bên sau bụi cây.

    Cú bắn cầu may của Knox không thể nhắm chuẩn hơn nếu anh không đứng cách khoảng 10 feet (20m). Viên đạn đã găm xiên vào, và vết đạn bay vào chỉ nằm dưới cánh tay phải của Hugh, và vết thương khi viên đạn bay ra đã cho thấy nó đã mang theo một đoạn xương sống của Hugh. Nếu hắn sống, hắn sẽ bị liệt, nhưng Knox biết ngay lập tức rằng Hugh sẽ không sống nổi. Sự tổn thương với phổi bên trái, và có lẽ một phần của tim là quá lớn.

    Tuy vậy, Knox vẫn đá vũ khí bay xa khỏi tầm tay hắn chỉ để đề phòng. Nikita quỳ trên xuống trên một bên đầu gối trần bên cạnh người đàn ông đang hấp hối. “Anh sẽ không sống nổi,” cô nói đều đều. “Mọi chuyện đã kết thúc rồi. Tại sao anh làm vậy? Anh muốn gì?”

    Ánh mắt Hugh đang nhìn nghiêng sang một bên, nội tạng của hắn đang chết dần. Tuy vậy, hắn vẫn cố nháy mắt, và một nụ cười khinh miệt hiện trên bờ môi hắn. “Tiền,” hắn hớp lấy không khí. “Làm chậm…quá trình. Luôn luôn là tiền.” Mắt hắn không nhắm lại, môi hắn không ngừng cười, nhưng trong giây tiếp theo hắn đã không còn tồn tại nữa. Không gì trống rỗng như mắt một người chết, Knox nghĩ.

    “Tiền,” Nikita nhắc lại một cách vô thức. “Tất cả những điều đó chỉ vì chúng muốn làm chậm lại quá trình và trở nên giàu có. Không phải về các vấn đề cần giải quyết hay các xung đột cá nhân, chỉ đơn giản là…tiền.”

    Một tiếng kêu kinh hãi tột độ, mỏng manh vang lên phía sau họ. Cả hai đều quay lại, vũ khí sẵn sàng, nhưng Ruth không được trang bị vũ khí. Bà đứng đó nhìn vào xác Hugh và sự đau đớn khiến khuôn mặt bà gần như không giống con người. bà đang khớp lấy không khí như thể phổi bà không còn hoạt động nữa, như thể trái tim bà đã ngừng đập, và não bà không thể xử lý nổi những gì bà đang thấy.

    “Khôngggggggggggggg,” bà rên lên, giọng của bà khô khốc như thể tiếng lạo xạo của những thân cây ngô đã khô lại.

    Nikita đột nhiên thẳng người lại, cơ thể cô cứng ngắc. “Bà đang đeo những chiếc vòng,” cô nói.

    Ruth đưa cả hai tay ra trước mặt bà, nhìn chằm chằm từ bên cổ tay này sang cổ tay bên kia như thể bà không nhận ra những chiếc vòng bà đang đeo. Sau đó, đột nhiên, bà bắt đầu lùi lại. “Chúng là những chiếc vòng của cô,” bà nói một cách hoảng loạn. “Byron đã tìm thấy chúng. Anh ấy đưa chúng cho tôi. Nếu cô chết đi, anh ấy nói vậy, tôi có thể quay lại cứu con bé. Cô ở đây để tìm ra du hành thời gian bắt đầu như thế nào, và đảm bảo rằng nó sẽ không xảy ra.”

    “Có phải đó là những gì hắn bảo bà không?” Nikita hỏi, nỗ lực đã giữ giọng cô bình thản, không mang âm điệu đe dọa.

    Đầu của Ruth lắc qua lắc lại trong khi bà tiếp tục lùi xa khỏi họ. “Tôi sẽ không để hai người ngăn tôi đâu. Tôi sẽ cứu được con bé lần này, con bé và Knox sẽ kết hôn và có những đứa bé xinh đẹp, và tôi sẽ không bao giờ nói cho nó biết là Knox đã phản bội. Nó sẽ là bí mật của chúng ta,” bà nói với Knox, dù ánh mắt bà đầy giận dữ.

    “Những chiếc vòng của tôi sẽ không đưa bà quay trở lại,” Nikita nói. “Chúng sẽ chỉ đưa bà đến thời đại của tôi. Nếu hắn nói với bà chúng sẽ đưa bà quay ngược thời gian, hắn nói dối đấy. Những chiếc vòng của hắn có thể cài đặt lại, nhưng của tôi thì không.”

    “Cô đang nói dối. Anh ấy đã cài đặt chúng cho tôi. Tôi sẽ ở đó rất lâu, đủ để khiến con bé đến bệnh viên kiểm tra và sẽ tìm ra những chỗ phình động mạch đó. Tôi sẽ cứu đứa con bé nhỏ của mình, và con bé sẽ còn sống lâu nữa và hạnh phúc.”

    “Không, mọi việc sẽ không diễn ra theo hướng đó—“

    “Cô đang nói dối!”
    Đột nhiên Ruth hét vào mặt cô. “Cô muốn lấy lại chúng, nhưng tôi sẽ không bao giờ đưa chúng cho cô, tôi sẽ không bao giờ--“ Bà bắt đầu lần sờ những chiếc vòng, và với một âm thanh tắc nghẹn của sợ hãi, Nikita bắt đầu lao về khía trước. Nhớ ra ánh sáng chói lóa của lần trước, Knox tóm lấy cô và xoay người cô về phía anh, che phủ khuôn mặt cô khi anh chúi người xuống để bảo vệ mắt mình.

    Thay vì một tia sáng yên tĩnh, một tiếng đứt gãy lớn nổ ra; sau đó một màn sương màu đỏ dường như tràn dần lên trước khi quay trở về mặt đất. Nikita thét lên hoang dại, và giật lùi về phía sau, kéo theo anh với cô. Họ không đi đủ xa, và làn sương màu đỏ dường như biến da và quần áo của họ thành màu đỏ.

    Trong yên lặng, họ nhìn chăm chăm vào nơi Ruth từng đứng.

    “Hắn đã giết bà,” Nikita nói khô khốc. “Hắn đã phá hỏng những chiếc vòng, và chắc chắn đã có ý định giết bà.” Cô nhìn lên Knox và một giọt nước mắt rơi xuống má cô, để lại một vệt trắng bàng bạc. “Em không thể về nhà được rồi.”

    Anh không muốn cô về nhà, nhưng anh vẫn nói. “Họ sẽ cử một đội Tìm kiếm Cứu nạn để cứu em, khi em không quay trở về sau một tháng phải không?”

    Từ từ cô lắc đầu. “Những chiếc vòng kết nối – về mặt nghĩa đen chúng chính là những kết nối. Miễn là chúng còn tồn tại, bảng điều khiển ở thời đại của em có thể cho thấy em vẫn ở đây. Nó được làm bằng kim loại, một loại kim loại đặc biệt. Chúng em không thể liên lạc với nhau xuyên thời gian, nhưng họ luôn có thể biết được khi nào có chuyện xảy ra. Họ……họ biết rằng những chiếc vòng của em đã gặp phải một tai nạn khủng khiếp.”

    Những gì cô đang nói bắt đầu khiến anh hiểu ra. “Họ nghĩ rằng em đã chết.”

    Môi cô run rẩy, và những giọt nước mắt làm mờ tầm nhìn của cô. “Phải. Họ nghĩ em dã chết rồi. Không ai đi tìm em đâu. Em sẽ không bao giờ được gặp gia đình mình lần nữa.”

    Nhẹ nhàng anh cầm lấy tay cô và bắt đầu dẫn cô vào nhà. Cả hai người họ đều cần tắm lại, và anh cần nghĩ đến lời giải thích nào có thể đưa ra về những gì đã xảy ra tại đây ngày hôm nay. Hugh Byron không có bất kỳ thứ gì để chúng minh nhân thân, và vân tay của hắn không có trong hệ thống AFIS. Ruth… không còn tồn tại nữa. Anh cảm thấy tê liệt, và anh biết khi sự tê liệt nhạt đi anh sẽ phát ốm, nhưng anh sẽ phải xử lý khi nó xảy ra.

    Ngay bây giờ, anh phải chăm sóc Nikita, người đang bị sốc và tổn thương với việc đột nhiên thấy bản thân đã bị kẹt lại vĩnh viễn, không còn đường về nhà.

    “Có lẽ em có thể vượt qua chuyện này với anh,” anh nói.


    Vào một đêm của bảy tháng sau, họ cắt hàng rào bao quanh một khu công trường xây dựng tại Miami và lẻn qua nơi nền móng của một tòa cao ốc đã được đặt xuống. 7 tháng vừa qua đã tràn đầy các sự kiện. Cuối cùng anh đã quyết định để tất cả các câu hỏi không được trả lời, và vứt xác của Hugh gần nơi họ làm tương tự với Luttrell. Họ vẫn chưa được tìm ra.

    Cho đến bây giờ bất kỳ ai ngoài gia đình của anh đều nghĩ rằng Ruth Lacey chỉ đơn giản là mất tích. Knox là một cảnh sát; anh biết làm thế nào để khiến một chiếc xe biến mất và không ai có thể tìm được nó. Anh đã trải qua 2 tuần trong trang trại của cha để tháo rời chiếc xe, phá hủy số khung và số máy, và biến chiếc xe thành phế liệu.

    Họ còn cùng nhau chôn lại chiếc rương thời gian xuống chân cột cờ để nó có thể được tìm thấy đúng lúc. Knox chỉ nói với mọi người là anh đã tìm thấy nó trong nhà để xe cũ của Huấn luyện viên Easley.

    Họ đã kể sự thật cho Kelvin và Lynnette. Họ đã phải giải thích sự tổn hại cho ngôi nhà mà Hugh gây ra với tia la ze của hắn, và túi dụng cụ của Nikita đã thuyết phục được họ rằng cả Knox và Nikita đều không phát điên. Đây sẽ là bí mật mà 4 người bọn họ sẽ mang theo xuống mồ.

    “Em có chắc đây là tòa nhà sẽ bị phá dỡ trong 200 năm tới không?” anh rít lên khi họ bước vòng quanh một chiếc xe cút kít bị lật nghiêng sang một bên. Anh đang mang theo một bọc dầy và nặng.

    “Em chắc mà,” cô rít trả lại. “Em không nhận ra bất kỳ cái gì, nhưng em biết tên của tòa nhà. Và đây chính là nó.”

    Anh không phản đối, chỉ đặt cái gói vào một trong những chiếc khuôn được đặt để làm nền móng cho những chiếc cột khổng lồ. Vào sáng mai, bê tông sẽ được đổ vào những chiếc khuôn đó. “Anh hy vọng việc này sẽ có hiệu quả.”

    “Nó phải thành công,” cô nói. Một cách mù quáng cô nắm lấy tay anh và níu vào nó, nắm tay của cô quá chặt đến nỗi anh cảm thấy những ngón tay của anh tê dại đi.

    “Có lẽ ngày nào đó họ sẽ đến thăm chúng ta,” anh nói.

    “Có lẽ. Khi du hành thời gian được thương mại hóa, nếu chuyện đó có xảy ra. Nếu họ có tiền.”

    “Thôi nào, em vừa góp phần khiến nó xảy ra đấy thôi.”
    Anh nâng bàn tay mình lên, bàn tay mà cô đang nắm lấy và hôn lên khớp ngón tay cô. “Hôm nay anh đã nói là anh yêu em chưa?”

    Một nụ cười bừng nở trên gương mặt cô, thay thế cho nước mắt. “Em tin là rồi,” cô nói, và tay trong tay, họ bước ra qua hàng rào, buộc những chiếc dây thép trở lại chỗ cũ và bước đi.
     
  8. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Epilogue

    Nicolette Stover cầm lấy bàn tay mũm mĩm nhỏ bé của đứa cháu trai và dẫn cậu bé tránh xa những chậu phong lữ trên ban công, nơi một chú ong béo múp đang vo ve quanh những bông hoa sáng màu. Jemi bị thu hút bởi cả hoa và ong, vì vậy tốt hơn hết đưa chú bé tránh xa khỏi sự cám dỗ đó. Chú phản đối một cách ồn ã và giật ra, chập chững quay lại phía những bông hoa một cách nhanh nhất mà đôi chân múp míp ngắn ngủn của chú cho phép. Bà bế thốc chú lên trước khi chú có thể chạm đến chúng, đung đưa chú lên cao và thổi vào bụng chú bé. Ngay lập tức những tiếng kêu la phản đối chuyển thành tiếng cười rúc rích.

    Bà luôn phải theo sát tên tiểu quỷ này; căn hộ của họ đã cũ, không có những phương tiện bảo hộ hiện đại, nhưng họ đã tiêu hết những gì họ có cho Annora, sau đó là cho Nikita. Với 2 đứa trẻ nhỏ hơn, họ đã luôn ngấp nghé bờ vực của sự nghèo đói, nhưng bà không bao giờ nuối tiếc một đồng được tiêu cho các con bà. Giờ mọi việc đã tốt hơn, nhưng họ vẫn chưa thể mua được một căn hộ mới.

    Từ khi đặc vụ McElroy mang đến tin tức về cái chết của Nikita, Jemi là điều duy nhất có thể khiến trái tim bà cảm thấy niềm vui sống. Bà đã trải qua điều này trước đây, và sống sót vì bà có Nikita. Bà sẽ làm gì nếu không có đứa con gái yêu quý, đứa trẻ kỳ diệu của bà đây? Làm thế nào bà có thể sống mà không có cô? Họ thậm chí còn không có được những di vật của cô; theo đặc vụ McElroy, không thứ gì còn lại. Những tai nạn về du hành thời gian không lưu lại thậm chí là một mảnh nhỏ nhất.

    Bà biết bà không phải người duy nhất phải chịu đựng sự thống khổ. Aidan thường tỉnh dậy lúc nửa đêm và đi lang thang quanh căn hộ như thể tìm kiếm đứa con gái không bao giờ trở lại được nữa. Fair quá buồn bã, cảm thấy lạc lõng khi không có chị gái. Thậm chí cả Connor cũng đã mất đi sự hăng hái vốn có. Chỉ có Jami là không bị ảnh hưởng bởi bầu không khí tang thương đang bao trùm bố mẹ và ông bà cậu bé, vẫn hào hứng từng ngày với sự hăng hái được thừa hưởng từ cha cậu bé, vì có Chúa biết, khi còn nhỏ Connor chưa bao giờ dừng lại đến một phút.

    Sự lạc quan vui vẻ của Jami đã là sự cứu rỗi đối với bà, là một ốc đảo trú chân nhỏ bé, bận rộn với bà. Cậu bé chơi đùa, bập bẹ, cậu kêu la và phá ra cười và luôn luôn lẻn đến những nơi cậu không nên, và bất kỳ ai cũng không dám dứt mắt ra khỏi cậu dù một chút nếu không cậu sẽ tìm gì đó để lao vào. Bà giữ cậu bé thường xuyên nhất có thể, không chỉ để Connor và Enya có thời gian để thư giãn, mà cũng vì cậu bé là liều thuốc tốt cho bà và Aidan. Cậu giữ bà và ông không chìm sâu vào nỗi đau của mình, nhắc nhở họ cuộc sống vẫn tiếp diễn và nó ở ngay trước mặt họ, trong hình hài của một chú bé chập chững biết đi.

    Tiếng chuông của hệ thống bảo an vang lên, cho thấy có ai đó muốn vào. Mang theo Jemi, Nicolette đi đến màn hình bảo an và nhấn nút. Hình ảnh một người vận chuyển mặc áo màu nâu xuất hiện trên màn hình. Bà nhấn vào nút đàm thoại. “Vâng?”

    “Ông bà là Nicolette và Aidan Stover?”

    “Tôi là Nicolette Stover.”


    “Có bưu kiện cho bà.” Anh ta dừng lại. “Nó vô tình được phát hiện trong một khu công trường tại Wilshire. Nó khá là-----cũ.”

    “Nó đến từ ai vậy?”

    “Nó không nói. Chúng tôi đã quét để đảm bảo nó an toàn.”
    Anh ta dừng lại, và lặp lại. “Nó đã cũ lắm rồi.”

    Vì dường như anh ta muốn bà hỏi, Nicolette nói, “Nó cũ đến mức nào?” và hy vọng sẽ nhận được cái gì đó mà bà đã đặt hàng từ trước nhưng chưa bao giờ nhận được.

    “Khoảng---200 năm tuổi. Phí vận chuyển đã được thanh toán đầy đủ nên chúng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi chỉ thắc mắc và hy vọng bà có thể cho tôi biết làm thế nào một bưu kiện cổ như vậy lại có địa chỉ của ông bà trên nó?”

    “Tôi cũng không biết.” Kể từ khi đặc vụ McElroy thông báo với họ về cái chết của Nikita, vấn đề về du hành thời gian đã khiến bà suy nghĩ rất nhiều. Rõ ràng ai đó đang đùa cợt họ, gửi một bưu kiện ngược thời gian để nó được gửi cho họ 200 năm sau. Nếu đây là trò đùa, bà sẽ cho tên độc ác ấy một trận vì dù phương thức tử vong của Nikita không rõ ràng, bà cũng không thấy thế buồn cười. “Tôi có phải ký nhận không?”

    “Bà không phải ký nhận.”


    Bà mở đường vận chuyển hàng theo kiểu cổ, và anh ta đặt gói hàng lên đó, sau đó chào theo kiểu lính hải quân qua camera và quay lại đường phố, tiếp tục hành trình điên cuồng hàng ngày của anh ta để vận chuyển hết tất cả những chuyến hàng được giao trong ngày.

    Một tiếng chuông nhỏ báo chuyến hàng đã tới nơi. Vẫn giữ chắc Jemi, người đang cố gắng hêt sức để giãy thoát, bà mở cửa nhận hàng và mang gói hàng ra. Nó nặng một cách đáng ngạc nhiên và bà đánh rơi nó; tiếng thụp khiến Jemi cười lớn.

    Rõ ràng là gói hàng nghe không có vẻ chứa đồ dễ vỡ. “Aidan?” bà gọi. “Anh có thể giúp em ôm Jemi một lát để em có thể mở bưu kiện này ra, hoặc anh có thể nhận lấy niềm vinh dự đó và em sẽ ôm thằng bé không?”

    Aidan ra khỏi văn phòng. Mái tóc dày của ông vẫn đen nhánh, đôi mắt ông mang một màu nâu ấm áp đã truyền lại cho tất cả những đứa con của ông. Sau 40 năm kết hôn, họ vẫn yêu nhau và bà hy vọng họ sẽ có ít nhất 40 hay hơn 50 năm nữa cùng nhau.

    “Cái gì vậy?” ông hỏi.

    “Em không biết. Người đưa hàng nói nó được tìm thấy ở một công trường xây dựng tại Wilshire, và nó được chuyển cho chúng ta từ 200 năm trước.”

    Gương mặt ông cứng lại. “Nó không buồn cười đâu.”

    “Em biết,”
    bà nói và thở dài. “Em cũng không hiểu chuyện gì đang diễn ra nữa.”

    Ông nhặt gói hàng lên, cân nhắc thử trọng lượng bằng tay. “Chắc ít nhất là vài pound,” ông lẩm bẩm. Chiếc bao ngoài dày uỵch, nặng nề được là bằng nhựa dẻo, nếu không nó đã không tồn tại được lâu như vậy. Địa chỉ chuyển hàng cũng được bao phủ bởi lớp nhựa trong.

    Ông cố xé lớp bao bên ngoài, nhưng mọi nỗ lực đều là vô ích. Ông lấy một cây kéo và cắt nó ra, làm rơi ra vài gói nhỏ hơn và 2 tờ giấy được ép nhựa dẻo màu trong hơn.

    Ông nhặt tờ đầu tiên lên, đọc vài từ đầu và tái nhợt. Ông lảo đảo, và ngồi phịch xuống.

    “Aidan!” cảm thấy lo lắng, Nicolette bắt đầu đặt Jemi xuống để có thể kiểm tra chồng mình. Cậu bé, người đã nỗ lực để được đứng xuống, đột nhiên kêu lên phản đối khi được trao cho những gì cậu muốn, và bám lấy bà như một chú khỉ với cả chân và tay.

    “Nó được gửi từ Nikita,” ông thì thầm, và lần này, đến lượt chân của Nicolette không đủ sức đỡ bà.

    “Con bé gửi trước khi nó qua đời.” Không cần biết thứ gì trong đó, lá thư nực cười này đã như một con dao cắt xuyên qua trái tim bà. Cùng lúc đó bà lại háo hức vươn đến nó. “Trong thư nói gì?”

    Thậm chí cả môi của Aidan cũng trắng bệch. “Nó nói, Bố mẹ yêu quý, con vẫn chưa chết.”

    “Ôi, Chúa tôi!” Nicolette bật khóc, trong sự vui mừng của mình bà ôm siêt lấy Jemi và đung đưa chú bé qua lại. “Chúa ơi.” Bà lặp lại. “Anh đọc hết lá thư đi!”

    Ông thấm ướt môi mình và với giọng run rẩy, bắt đầu đọc.


    Con cho là tại thời điểm bố mẹ đọc được lá thư này thì con đã chết rồi, nhưng nếu bố mẹ có cơ hội quay lại năm 2005 hay muộn hơn thì con sẽ ở đó. Con đang sống tại một thị trấn nhỏ ở phía Đông Kentucky được gọi là Pekesville, với chồng con, một người đàn ông tuyệt vời tên Knox Davis. Nhưng chiếc vòng của con đã bị phá hủy và con không thể quay lại. Đặc vụ McElroy là một phần trong kế hoạch ám sát, nhưng dù bố mẹ làm gì đi nữa đừng bao giờ đối chất với hắn. Nếu có công lý cho những gì hắn đã làm, nó sẽ đến từ bàn tay người khác. Con ghét việc hắn không bị ép nhận trách nhiệm cho những gì hắn làm, nhưng điều quan trọng bố mẹ phải nhớ là, hắn đã thất bại – và con thì không.

    Vì McElroy đã nói với mọi người con đã chết – nhân tiện, hắn thực sự nghĩ là con đã chết – không Đội Tìm kiếm Cứu nạn nào đến tìm con cả. Con thực sự tiếc khi không thể quay lại và khiến bố mẹ dịu đi nỗi đau mà bố mẹ đang chịu đựng, nhưng cuối cùng thì con cũng không thể ở lại. Đương nhiên là thời đại này không phát triển bằng, nhưng ở đây con không bị đối xử với sự nghi kỵ và sợ hãi. Người đàn ông con yêu ở đây, và anh ấy không quan tâm đến tình trạng pháp lý gây tranh cãi của con. Thậm chí, ở đây con không phải lo lắng về việc con sẽ bị giam giữ cả đời vì con người mà con trở thành.

    Và điều tuyệt vời nhất – Bố, mẹ - con đang mang thai. Con có thể xây dựng một gia đình ở đây. Con được tự do theo cách mà không đời nào con sẽ được ở thời đại của mình. Con vô cùng thương nhớ bố mẹ, và Fair, Connor và cả Enya, và con thực sự muốn được nhìn thấy Jemi. Hãy hôn tên khỉ con ấy cho con và nói với cậu bé rằng dì Nikita yêu cậu. Con hy vọng lá thư này sẽ giúp bố mẹ đỡ buồn bã, nhưng thậm chí việc con quay lại cũng không an toàn. Hãy chỉ cần biết là con đang hạnh phúc và khỏe mạnh, và bố mẹ sẽ được lưu giữ trong tâm trí và trái tim con mãi mãi.

    Con gái thương yêu của bố mẹ,
    Nikita.

    PS: Con hy vọng vật đính kèm sẽ có ích.



    Nicolette đang khóc quá nhiều đến nỗi bà gần như không thở được, nhưng bà cũng đang cười lớn, siết lấy Jemi và cố ôm Aidan cùng lúc. Jemi gây ra một làn sóng phản đối, và bà đặt chú bé xuống, rồi ngồi vào vòng tay của Aidan.

    “Con bé còn sống,” bà nức nở. “Con bé ở đó – thời điểm 200 năm trước. Em muốn con bé ở đây, nhưng chỉ cần biết rằng---“ bà dừng lại, không thể cất lên lời.

    “Anh biết. Anh biết.” Ông đang run rẩy dữ dội. “Con bé—chúng ta—Nic, chúng ta có một đứa cháu khác. Có lẽ nhiều hơn một. Anh không biết chúng ta có bao nhiêu đứa nữa.!”

    Bà cười khúc khích trong nước mắt. “Và tất cả những đứa cháu của chúng ta trừ Jemi đều lớn tuổi hơn chúng ta! Chúng ta sẽ phải tìm kiếm những hậu duệ của chúng ta. Nikita đã cho chúng ta thông tin mà chúng ta cần. Chúng ta biết phải tìm kiếm ở đâu. Em không biết chúng ta phải tốn bao nhiêu tiền, nhưng chúng ta sẽ xoay xở được”

    “Nic,” Aidan nói, giọng của ông kỳ lạ. Ông ngồi im một cách kỳ lạ, nhìn chăm chăm xuống sàn nhà.

    “Em biết, em đang lao vào mọi thứ một cách vội vã mà không kế hoạch gì cả, nhưng chúng ta---“

    “Nic,”
    ông lặp lại, to hơn. “Nhìn kìa.”

    Bà nhìn. Và cảm thấy căn phòng chao đảo, phải túm lấy Aidan để hỗ trợ.

    “Ôi, Chúa ơi.” Bà thì thầm. “Đó là---“

    Giấy. Hàng túi, hàng túi giấy, được hút chân không và bảo tồn một cách hoàn hảo. Nikita đã gửi cho họ giấy.
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/1/15
  9. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    *Tung hoa, tung hoa, tung hoa* Vậy là đã chính thức kết thúc, cảm ơn cả nhà đã luôn luôn ủng hộ ^^
     
    hoahuynh2011, thanhbt, Dreami and 6 others like this.
  10. meocontb

    meocontb Lớp 2

    Cảm ơn Nguyễn Hằng, tốc độ dịch truyện thật nhanh, truyện cứ post đều đều nên khi đọc không bị đứt mạch truyện. Chúc bạn sức khỏe, thành công hóng chờ dự án tiếp theo của bạn
     
  11. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    Cảm ơn bạn meocontb vì sự ủng hộ và động viên của bạn nhé :) Cũng nhờ có các bạn đọc đều và đóng góp thường xuyên mà tớ có động lực hơn để dịch nhanh ^^ Giờ tớ sẽ tiếp tục lang thang tìm hứng thú mới, và sẽ cố gắng quay lại với cả nhà sớm nhất có thể, tuy nhiên chắc phải sau Tết mới quyết định. Có gì mọi người đóng góp ý kiến thêm cho tớ nhé :D
     
  12. vqsvietnam

    vqsvietnam Leader 1000QSV1TVB Thành viên BQT

    Cám ơn @Nguyễn Hằng đã dịch truyện đều đặn và nhanh... giờ bắt đầu thưởng thức thôi!
     
    Nguyễn Hằng and NHTB like this.
  13. kimduyen

    kimduyen Lớp 1

    Thanks ban nhieu nhieu nha. Hy vong se dc gap ban o nhung tac pham khac.
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  14. Dreami

    Dreami Mầm non

    Nguyễn Hằng thích bài này.
  15. diepanh192

    diepanh192 Mầm non

    Lâu lắm rồi, phải 2 năm rồi mới được đọc một bộ truyện nữa của Linda, vẫn cảm xúc đấy , vẫn tâm trạng đâý mỗi khi đọc truyện của bà.Cảm ơn Nguyễn Hằng rất nhiều vì đã dịch bộ truyện này nhé!
     
    Motsach13 and Nguyễn Hằng like this.
  16. Ly Thy

    Ly Thy Mầm non

    ủng hộ bạn và hóng truyện;)
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  17. hoahuynh2011

    hoahuynh2011 Lớp 1

    Cảm ơn bạn Nguyễn Hằng nhiều. Mong sớm được theo dõi dự án mới của bạn.
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  18. My Nga Nguyen thi

    My Nga Nguyen thi Mầm non

    Cám ơn bạn đã dịch một truyện hay. Rất mong được đọc thêm những truyện mới. Thân.
     
    Nguyễn Hằng thích bài này.
  19. meodeochuong

    meodeochuong Lớp 2

    Hôm qua lục lại kho truyện của Linda thì mới phát hiện ra bộ này đã được dịch xong, cảm ơn bạn Nguyễn Hằng nhiều :D. Lâu rồi không được đọc 1 bộ romance kết hợp chút xíu gia vị trinh thám/ hình sự/ truy đuổi như này.
    Ps: bạn sẽ làm ebook chứ ^^?
     
    Motsach13 and Nguyễn Hằng like this.
  20. Nguyễn Hằng

    Nguyễn Hằng Lớp 5

    @meodeochuong tớ không biết làm ebook bạn ạ, đã thử mày mò, và đã thất bại, nên tạm thời đành để thế này thôi ^^ Cả nhà chịu khó đọc online cho đến khi nào tớ mò ra phương thức làm ebook vậy, hic.
     
    thichankem thích bài này.

Chia sẻ trang này