Đông y Y học cổ truyền

Thảo luận trong 'Tủ sách Y học - Sức khỏe' bắt đầu bởi ntnquynhpro, 2/10/13.

Moderators: Zhiqiang
  1. ntnquynhpro

    ntnquynhpro Lớp 4

    Y Học Cổ Truyền
    Tôi sưu tầm được bài phú về mạch tượng, tôi thấy hay nên xin gửi đến Quý vị thay lời biết ơn về nhiều bài và sách tôi đã thu nhận được trên diễn đàn nầy. Kính chúc sức khỏe và hy vọng Quý vị vui khi đọc bài nầy.
    Lư sơn mạch phú
    Của Cụ Nguyễn Đình Chiểu
    (Bệnh cơ bát yếu tổng mạch)


    Từng nghe:
    Mạch lý nhiệm mầu,
    Bệnh cơ kỳ thú
    Dù muôn hình biểu hiện rối ren,
    Đem bát yếu tóm thâu đầy đủ.

    Xem mạch tượng Phù Trầm để phân biểu lý; có lực là thực, không lực đấy hư;
    Đếm nhịp đi Trì Sác để biết nhiệt hàn; dương chứng thì to, âm chứng ấy nhỏ.

    Mạch Sắc dáng đi ngưng trệ, hẳn tinh thương huyết kém chi đây
    Mạch Hoạt nhịp chạy trơn tru, chắc khí động đàm sinh chính đó.

    Loại mạch dương: Phù Đại Hoạt Sác, phải nén dương để bảo trợ cho âm;
    Loại mạch âm : Sác Tiểu Trầm Trì, nên chế hàn để bổ ích cho hỏa.
    Mạch ba bộ thấy đều Phù Đại mà kiêm Sác: chứng trùng dương thần khí loạn cuồng;
    Mạch sáu bộ thấy đều Trầm Tiểu lại kiêm Trì: chứng trùng âm chân tay lạnh giá.
    Ngôi dương thấy âm mạch biểu lộ, đó là âm lấn tới dương cơ;
    Ngôi âm mà dương mạch hiện hình, chính là dương tràn vào âm sở.

    Mạch Trầm Tiểu: tổn thương vì thấp; Trì: Hàn, Sác: Nhiệt, phải phân chia.
    Mạch Phù Đại: cảm mạo vì phong; Sắc: Huyết, Hoạt: Đàm, nên hiểu rõ.
    Hữu nơi Khí khẩu mạch phô trương: nội thương khí huyết hư hao.
    Tả chốn Nhân nghinh mạnh khác thường: ngoại tà bì phu cảm thụ.
    Hàn thì ôn, nhiệt phải dùng lương;
    Thực thì tả, hư thì phải bổ.

    Muốn tường mệnh sống chết ra sao,
    Phải biết mạch thực hư cho tỏ:

    Phàm Bệnh Nhiệt mà mạch Trì kiêm Tiểu: mệnh khôn thoát khỏi; đến chứng phát cuồng, ung độc cũng đáng hãi hùng;
    Các Chứng Hàn mà mạch Trầm kiêm Sắc: bệnh chẳng hề lo; dù tả lỵ lậu băng thảy đều thanh thản.
    Bệnh đã lâu, Phù, Đại đáng ngờ;
    Bệnh mới mắc, Tiểu, Trầm nên sợ.
    Trước khi đẻ mạch nên Hoạt Đại; nhược bằng Sắc Tiểu chẳng hay.
    Sau khi sinh mạch cốt Tiểu Trầm; nếu thấy Phù, Đại là dở.
    Người trai tráng phải cần Hoạt, Đại; nếu Sắc, Tiểu mệnh chẳng lâu dài;
    Cụ già nua đáng lẽ Tiểu, Trầm; nếu Phù, Đại: thọ gần hết số.

    Tiết Xuân, Hạ khí dương đương thịnh, mạch nên Hoạt, Đại; mà Tiểu, Sắc chính thực suy đồi;
    Mùa Thu, Đông âm khí đương sinh, mạch phải Tiểu, Trầm; thấy Hoạt, Đại mắc vào bệnh khó.
    Chứng sống thì thời với mạch thuận xuôi,
    Chứng chết thì mạch với thời trái trở.

    Chứng ngất bởi do đàm uất, mạch ba bộ tuy rằng ngừng tuyệt, có thể hồi sinh,
    Người gầy da thịt róc khô, mạch sáu bộ dẫu có điều hoà, không mong cứu gỡ.
    Đại Mạch hiện to là tà thịnh bệnh tiến: chứng tích tụ mạch này chẳng ngại, chứng hư lao thì mạch ấy chẳng lành.
    Tiểu Mạch đập nhỏ là khí huyết đương suy; chứng hư tổn mạch đó thì lành, chứng tích tụ mạch này thì dữ.

    Sắc với mạch thuận chiều, chính thực điềm vui,
    Sắc với mạch trái đường, đó là chuyện gở:

    Ngoài Phù Sác mà trong rỗng tuếch: âm lìa dương thoát dễ chừng,
    Thốn Trầm Trì mà xích tuyệt không: âm thoát dương cô biểu lộ.

    Tiết Xuân mộc khí can dương thịnh, Hồng Hoạt thì tốt, Đoản Sắc không hay,
    Buổi Thu kim khí phế hợp thời, Nhỏ Nhẹ thì ưa, Đại Hồng chẳng khá.
    Hạ: thuộc hỏa ứng vào tâm mạch, ghét Nhỏ Chìm mà thích Hồng Phù,
    Đông: hành thuỷ hợp với thận kinh, ghét Đoản Sắc mà ưa Chìm Nhỏ.
    Mạch Hoãn Đại hợp vào tứ quý, Hoạt Trường là mạch trái mùa;
    Mạch vượng sinh ứng với ngũ hành, thừa khắc là điều chẳng thú.

    Khi Trì khi Sác là mạch quỷ yêu;
    Lúc Đoản lúc Trường chính dòng ma cỏ.
    Cơ nguy dương thoát: mạch Thốn chẳng còn;
    Điềm dữ âm vong: mạch Xích không có.
    Quá trì hay quá sác: mạch Hà Du, ốc Lậu đều thuộc chứng nguy;
    Quá hoạt hoặc quá nhanh: mạch Tước Trác, Dũng tuyền cũng loài bệnh khó.

    Mạch tượng dù Trì Sác hay Đại Tiểu, nhưng không thái quá hay bất cập là vị khí hãy còn;
    Mặch tượng mà Êm Ái lại Điều Hòa, nếu không quá phù hay quá trầm là mạch bình chóng đỡ.

    Phải xem có lực hay không?
    Nên xét còn thần chăng chớ!

    Mạch và bệnh hợp tình, bệnh dù nguy nhưng chữa dễ dàng;
    Chứng với mạch trái chiều, chứng dầu dễ khó bề xoay xở.
    Hướng Nam Bắc năm nàokhông ứng, nên xét cho tường;
    Người béo gầy mạch hợp phù trầm, phải phân cho tỏ.

    Bát yếu đã rành,
    Muôn bệnh đều rõ.

    Chứng âm tuyệt chết ở buổi Thu Đông,
    Chứng dương tuyệt chết ở mùa Xuân Hạ;
    Dương tuyệt thì ban ngày tiêu vong,
    Âm tuyệt thì ban đêm tàn tạ.

    Thăng giáng chẳng đều, âm dương lìa thoát: chỉ trong một tháng qua đời,
    Đập ngừng có mức, nhịp độ rõ ràng: sẽ hưởng trăm năm tuổi thọ.
    Đã Phù Đại lại còn quá Sác: loại độc dương rất phải đề phòng;
    Đã Tiểu Trầm mà lại quá Trì: chứng có âm liệu mà lo giữ.

    Năm đáng ứng, mạch không tương ứng: tạng bị suy mà dương khí hư hao;
    Nhịp chẳng rành, mạch chạy lì rì: huyết bị hàn nên dương khí ngưng tụ.
    Phép mấu chốt do lòng lĩnh hội, hợp thâu chủ khách đôi đường,
    Óc quán thông lưu ý xét suy, rành mạch chính tà mọi chỗ.

    Sáu bộ mạch thảy đều rất Sác, có nhịp ngừng là hàn khí triền miên,
    Ba bộ mạch tuy thấy rất Trì, có nhịp động là nhiệt tà rực rỡ;
    Danh tuy chia gọi tám đường,
    Thực cũng quy về một ngả.

    Lẽ thực hư thông hiểu đã tinh vi,
    Cơ sinh tử quyết đoán không nghi sợ.


    Người sưu tầm nguyên bản bằng chữ Hán: Nguyễn Trung Hòa
    Người dịch: Nguyễn văn Bách
    xin lỗi bạn trucnhan bên TVE vì post mà chưa kịp xin phép bạn, mong bạn thông cảm nha
     
    thichankem and Zhiqiang like this.
Moderators: Zhiqiang

Chia sẻ trang này